Australia phát hành đồng hai đô la kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam có hình cờ Việt Nam Cộng Hòa 

Có gì hơi lạ nơi tôi tô xanh: giá chính phủ đưa ra: đồng bằng vàng lại rẻ hơn đồng bằng bạc?

2023.04.19

Posted by GLN

Đồng 2 đô la Úc có cờ VNCH được bán trên eBay với giá 1.360 đô la Úc

Đồng tiền hai đô la mới của Úc kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam hiện có giá hơn 1,200 đô la chỉ sau khoảng hơn một tuần phát hành.

Australia Mint (công ty độc quyền sản xuất tiền cho Australia) phát hành đồng bạc hai đô la lần đầu tiên hôm 6/4 với thiết kế màu sắc kỷ niệm 50 năm kết thúc sự tham gia của Úc vào cuộc chiến Việt Nam năm 1973.

Báo Daily Mail của Anh dẫn lời một người sưu tập tiền có tên Jeol Kandiah ở Perth, cho biết người này phải chờ đến 16 giờ đồng hồ để mua được một đồng trong khi nhiều người khác phải xếp hàng dài để mua.

Mint cho biết chỉ phát hành giới hạn 5.000 đồng bạc với giá 80 đô la trong khi bản vàng có 80.000 đồng và được bán với giá là 15 đô la.

Cả hai đồng tiền đều có hình máy bay trực thăng UH-1 bao quanh bởi đường tròn màu sắc giống như ba miếng ribbon trao cho các cựu binh Việt Nam. Trong hình ảnh của đồng tiền này  có hình cờ của Việt Nam Cộng Hòa.

Hiện giá của một đồng bạc được bán trên eBay là từ 1.200 đến 2.300 đô la và giá đồng vàng là khoảng 80 đô la.

RFA

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu.

(Dân trí) – Trải qua hơn 500 năm lịch sử, bộ tộc Kinh tại Trung Quốc vẫn giữ những nét văn hóa truyền thống, dùng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp hằng ngày.
 

“Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau. Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a qua cầu, tình tình tình gió bay” – giọng hát hòa vào tiếng gảy đàn bầu cổ khiến chúng tôi không khỏi xúc động khi được nghe ở bên kia biên giới nước bạn.

Thấy khách đến nhà, bà Tô Tiết – người phụ nữ thuộc bộ tộc Kinh – thì tay bắt mặt mừng khoe: “Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây này!”.

Dù đã 500 năm trôi qua, trong làng chài nhỏ Vạn Vĩ (thị trấn Giang Bình, TP Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nhiều người bà con như bà Tô Tiết vẫn dùng lời ca, tiếng hát để giữ gìn tiếng mẹ đẻ và văn hóa Việt Nam. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 1

Bà Tô Tiết là một trong những người thuộc dân tộc Kinh còn nói sõi tiếng Việt (Ảnh: Diệp Bình).

 

Bộ tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt

Cách cửa khẩu Móng Cái 30 km về hướng Bắc, thành phố Đông Hưng (Trung Quốc) hiện ra với những dãy nhà cao tầng, trung tâm thương mại sầm uất. Ở đây, vùng làng chài Tam Đảo là nơi sinh sống duy nhất của bộ tộc Kinh. Và hằng ngày họ vẫn dùng tiếng Việt giao tiếp, con em được giáo dục thông qua những cuốn sách giáo khoa bằng ngôn ngữ mẹ đẻ.

Theo gia phả ghi lại, vào thế kỷ thứ 17, một bộ phận người Việt từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đã sang Tam Đảo (Trung Quốc) định cư và hành nghề chài biển. Thời đó chữ quốc ngữ chưa ra đời nên tất cả sổ sách, chữ viết là chữ Nôm.

Ban đầu, vùng đất này có 3 thôn là Vạn Vĩ, Mu Đầu và Sơn Tâm, chưa đầy 100 người với 12 dòng họ: Tô, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Vũ, Bùi, Cao, Ngô, La, Cung, Khổng và Lương. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 2

Dù 500 năm, nhiều cư dân ở Tam Đảo vẫn giữ gìn những nét văn hóa của quê hương Việt Nam (Ảnh: Lê Phong).

Sau này, nhờ sự bù đắp phù sa nên 3 hòn đảo đã hợp thành đất liền và phát triển thêm một số thôn xóm khác. Thế nhưng, cái tên Tam Đảo vẫn còn giữ nguyên vẹn. Đồng thời, bộ tộc có nguồn gốc Việt Nam được ghi nhận là tộc Kinh cùng 56 dân tộc khác của Trung Hoa.

Trải qua 500 năm, Tam Đảo hiện nay ước tính có gần 20.000 người gốc Việt thuộc thế hệ thứ 9-10. Mặc dù đã không còn mối liên hệ với gốc gác tại Việt Nam, thế nhưng họ vẫn luôn giữ gìn bản sắc, ngôn ngữ mẹ đẻ thông qua việc sử dụng hằng ngày.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 3

Chiếc áo dài xuất hiện tại Trung Quốc (Ảnh: Lê Phong).

Nói tiếng Việt, biết đánh đàn bầu, ăn nước mắm

Dường như bỏ mặc thời gian, làng chài Vạn Vĩ hiện ra đầy đủ những nét bản địa với cây đa, bến nước, mái đình. Đặc biệt, ngay trước cổng làng, chính quyền địa phương đã cho xây dựng một bảo tàng, lưu giữ tất cả văn hóa của người Việt Nam để nhắc nhở cuội nguồn cho con cháu bộ tộc Kinh.

Hình ảnh tranh vẽ rước kiệu, áo dài, điếu cày, chum vại, vó đánh cá, truyện Thạch Sanh hay những món đặc sản nước mắm, bún, miến, đồ khô tẩm ướp gia vị… khiến chúng tôi không khỏi xúc động. 

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 4

Bảo tàng tại Tam Đảo nơi lưu giữ những văn hoa của người Việt (Ảnh: Diệp Bình).

Bước vào bên trong làng, thấy chúng tôi là khách phương xa, một cụ bà ngoài 80 đặt câu hỏi: “Người Việt Nam sang hả?”. Nhận sự gật đầu, cụ nở nụ cười niềm nở. Dù chưa từng nghe qua địa danh TPHCM, nhưng biết tôi là người Việt gốc, cụ vẫn rất tự hào.

Đón chúng tôi trước cửa nhà, cô Tô Tiết với giọng tiếng Việt sõi của mình đã khoe ngay với gia đình: “Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây”.

Cô Tiết chia sẻ, tổ tiên cô đã sang vùng biển này lập nghiệp được hơn 500 năm. Mặc dù từ đó chưa từng quay về Việt Nam tìm gốc gác, thế nhưng bằng việc cùng ba mẹ sử dụng tiếng Kinh nên bà đều có thể nghe và hiểu. Mãi đến đời con cháu hiện tại đã sinh sống với người Hán, nói tiếng phổ thông nên việc duy trì trở nên khó khăn.

Thế nhưng, dường như cái cảm giác thèm tiếng Việt khiến bà cứ tay bắt mặt mừng, hỏi đủ chuyện về phía bên kia biên giới.

“Hàng xóm ở đây chủ yếu là người Kinh, từ 12 đến 17 tuổi thì có thể nói tiếng Việt. Mặc dù đã không trở về quê hương, nhưng ai cũng có ý thức giữ nguyên văn hóa bản địa…” – bà Tiết nói.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 5

Bà Tô Tiết gảy đàn bầu cổ chiêu đãi khách phương xa (Ảnh: Lê Phong).

Bên cạnh ngôn ngữ, tộc Kinh ở Trung Quốc vẫn giữ gìn đầy đủ văn hóa lễ Tết của Việt Nam. Đặc biệt với ngư dân, ngày 6/9 hàng năm luôn là lễ hội lớn nhất để người dân cầu mưa thuận gió hòa.

“Từ thời mẹ nằm trong đoàn văn nghệ làng, nên tôi đã tiếp xúc với đàn bầu cổ, sáo trúc, và hát các làn điệu dân tộc. Cứ vào ngày cầu Hải Long Vương tôi sẽ đảm nhiệm đàn hát. Ba đảo làm lễ ba ngày khác nhau, giúp dân làng đổ về đó chung vui và cầu may” – cô Tiết chia sẻ thêm.

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 6

Người dân vẫn dùng tiếng Việt để giao tiếp hằng ngày (Ảnh: Lê Phong).

Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu - 7

Khung cảnh sống yên bình ở làng Vạn Vĩ (Ảnh: Lê Phong).

Chị Nương (hướng dẫn viên du lịch tại Trung Quốc) nói: “Tam Đảo hiện này là nơi duy nhất của còn sử dụng tiếng Việt. Thậm chí, trên các biển báo giao thông vẫn còn đề chữ quốc ngữ cho người dân sử dụng.

Ở đây lâu, mình đã gặp rất nhiều bà con Kinh. Họ rất tự hào dân tộc, mến khách và có lòng tự tôn lưu, giữ văn hóa cao”.

(Sưu tầm)

From: TRUONG LE

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Những bức ảnh lịch sử về ngày chiến thắng 30/4/1975

George Jay Veith: Ông Nguyễn Xuân Phong cho biết vào những ngày cuối của cuộc chiến, cả phía Bắc Việt và Trung Quốc đã liên lạc với ông.

Phía Bắc Việt bắn tin cho ông, cho đại diện của Pháp (tướng Paul Vanuxem,) và một số nhân vật khác, rằng nếu ông Dương Văn Minh không được đưa lên nắm quyền trước ngày 26/4/1975, họ sẽ san bằng Sài Gòn bằng hai mươi ngàn viên đạn pháo.

Còn phía Trung Quốc cũng cho người đến gặp ông để đưa ra một kế hoạch can thiệp quân sự nhằm ngăn chặn Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam. Mục đích của Trung Quốc là ngăn chặn một Việt Nam thống nhất.

Kế hoạch của Trung Quốc, theo lời kể của ông Phong, là trước hết xây dựng một liên minh giữa chính quyền VNCH và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN). Sau khi có liên minh này, Tổng thống Dương Văn Minh sẽ đưa ra lời thỉnh cầu quốc tế giúp đỡ. Nhân cơ hội đó, Pháp sẽ hồi đáp bằng cách đưa vào Miền Nam Việt Nam một “lực lượng quốc tế” với danh nghĩa bảo vệ chính phủ mới, nhưng trong cái gọi là “lực lượng quốc tế” này sẽ có “hai Sư đoàn lính Dù của Trung Cộng.” Hai sư đoàn Dù này sẽ được thả xuống Biên Hòa.

#RFAVietnamese #vietnamwar #VNCH #trungquoc #nguyenxuanphong

RFA.ORG

Bí mật lịch sử tháng 4 năm 1975: Trung Quốc định tung lính Dù nhảy xuống Biên Hòa chặn Bắc Việt?

Theo WilsonCenter.org

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một đồng minh lâu năm của Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập vào năm 1975 và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu.

Tiết lộ này được rút ra từ hơn một thập kỷ phỏng vấn và trao đổi email mà tôi đã thực hiện với Nguyễn Xuân Phong trước khi ông qua đời vào tháng 7 năm 2017. Phong từng là phó đoàn đàm phán của Việt Nam Cộng hòa tại Paris từ năm 1968 đến năm 1975, và ông tuyên bố đã tiếp xúc với Trung Cộng để cứu Miền Nam Việt Nam.

Hơn 30 năm qua, ông Phong không kể với ai về sứ mệnh cứu nước bí mật cuối cùng của mình. Mặc dù không có bằng chứng tài liệu trực tiếp nào được đưa ra để chứng minh cho tuyên bố của Phong, nhưng bằng chứng cấp ba đáng kể dường như chứng minh cho lời giải thích của anh ta. Nếu đúng, câu chuyện hấp dẫn này sẽ đảo ngược lịch sử được chấp nhận về những ngày cuối cùng của cuộc chiến.

Không lâu trước chuyến đi lịch sử của Henry Kissinger đến Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971, Phong đã được mời tham dự tiệc chiêu đãi tại đại sứ quán Miến Điện ở Paris. Ở đó, Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ văn phòng của Chu Ân Lai, người muốn gặp Phong. Người đàn ông kết thúc cuộc thảo luận của họ bằng nhận xét, “Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn và thù thực sự của mình không?”

Theo Phong, nhiều thông điệp từ phía Trung Quốc đã được chuyển cho ông để tìm cách thiết lập một cuộc đối thoại với Thiệu, nhưng tổng thống Nam Việt Nam đã không trả lời.

Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công khác vào tháng 3 năm 1975 và nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của Nam Việt Nam. Đến cuối tháng 4, quân đội Cộng sản áp sát Sài Gòn, và Thiệu từ chức để nhường quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Chính phủ Pháp mạnh mẽ đề nghị Hương từ chức để ủng hộ Dương Văn Minh, cựu tướng lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963. Pháp đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp với Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG), Mặt trận Cộng sản tổ chức ở miền Nam Việt Nam, và đứng đầu là Minh sẽ ngăn chặn cuộc tấn công của Hà Nội. Phong và Hương là bạn cũ, Hương triệu Phong vào Sài Gòn để bàn bạc xem lời đề nghị này có thật không.

Duong Van Minh Stock Photos and Pictures | Getty Images

Khi Phong bay vào Sài Gòn, anh ta tuyên bố đã mang theo một thông điệp bí mật từ người Trung Quốc. Đến nơi, Phong lập tức đến gặp Hương. Vì đã biết vị tổng thống ốm yếu trong nhiều năm, ông khẳng định không có hy vọng đàm phán khi ông vẫn còn tại vị. Ngày hôm sau, Hương triệu tập đại hội để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Minh. Phong không đề cập đến thông điệp mà anh ta mang theo, vì anh ta biết rằng sự kiện kích hoạt đề xuất này là để Minh lên nắm quyền và chấp nhận liên minh với PRG.

Vài ngày sau, Phong gặp bạn thân của Minh, cựu tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của PRG để thảo luận về khả năng thành lập chính phủ liên hiệp. Trần Ngọc Liêng, một điệp viên bí mật của Cộng sản, có mặt với tư cách là đại diện của Minh. Phong thông báo một cách tế nhị với quan chức PRG tại cuộc họp này rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới, nhưng anh ta cố tình mơ hồ về điều này có nghĩa là gì. Đây là nỗ lực duy nhất của Phong để chuyển giao tên lửa nổ của mình.

Phong đã mang thông điệp gì?

Ông nói, người Trung Quốc rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức của Pháp là liên minh với Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, Minh sẽ đưa ra lời kêu gọi giúp đỡ. Người Pháp sẽ đáp lại rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. “Sức mạnh” ban đầu, như Phong gọi, sẽ là “hai sư đoàn Dù Trung Quốc vào Biên Hòa.” Bắc Kinh yêu cầu bốn ngày để sắp xếp quân đội của họ và đưa họ đến căn cứ không quân. Phong giải thích suy nghĩ của họ:

“Bắc Kinh không thể trực tiếp đứng ra làm công việc này, nhưng họ cho mọi người biết rằng họ… để cho người Pháp làm việc này! Vì chính trị quốc tế… Bắc Kinh không thể trắng trợn can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kháng cáo lên một ít quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp đóng vai trò mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp. Một số vấn đề mà Bắc Kinh phải đối mặt vào thời điểm đó: Số lượng lực lượng quân sự Trung Quốc nên được triển khai, và thời gian sẽ là bao lâu? Họ phải ở lại miền Nam Việt Nam để ngăn chặn và đàn áp quân đội Bắc Việt?nhưng họ nghĩ rằng từ ba đến sáu tháng sẽ là khoảng thời gian tối đa mà họ có thể tham gia… vì họ không muốn bị buộc tội chiếm đóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự.”[Tôi]

Tại sao Trung Quốc lại can thiệp bằng quân sự để cản trở chiến thắng của Bắc Việt Nam, đặc biệt là sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để tránh bị bao vây bởi một hiệp ước Moscow-Hà Nội tiềm tàng. Nayan Chanda, phóng viên có uy tín cao của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông , đã trình bày chi tiết về nỗi khiếp sợ của Trung Quốc đối với một Việt Nam thống nhất. Ông viết rằng Bắc Kinh đã “kiên định tuân theo chính sách duy trì bằng tất cả các phương tiện có được một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn. Những phương tiện này bao gồm ngoại giao thầm lặng, thuyết phục trợ giúp kinh tế và tất nhiên là sử dụng sức mạnh quân sự”.

Nếu Phong là người đưa thư duy nhất mang thông điệp này, anh ta có thể dễ dàng bị sa thải. Anh ấy đã không. Tướng Pháp đã nghỉ hưu Paul Vanuxem mang một thông điệp tương tự như của Phong. Vanuxem đã biết Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội Việt Nam từ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Ông thỉnh thoảng đến thăm Thiệu trong nhiều năm và đã trở lại Việt Nam trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam với tư cách là phóng viên của tuần báo Pháp Carrefour .

Vanuxem đã xuất bản một cuốn sách mỏng vào năm 1976 kể chi tiết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Ông ghi rằng ông đã đến Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 để nói chuyện với Minh. Trong khi ám chỉ cuộc gặp gỡ của mình trong cuốn sách của mình, nói rằng “tất cả tâm trí đều tê liệt vì sợ hãi và không có khả năng tiếp nhận những lời đề nghị được đưa ra sau đó và lẽ ra có thể cứu vãn được mọi thứ,” ông đã bỏ qua những chi tiết quan trọng.

Có nhiều nhân chứng trực tiếp xác nhận rằng Vanuxem đã nói chuyện với Minh và chuyển một thông điệp tương tự như của Phong. Trong khi những người đàn ông này thuật lại những phiên bản khác nhau của cuộc trò chuyện, tất cả đều ở trong phòng, và một số là điệp viên Cộng sản bí mật. Chuẩn tướng QLVNCH Nguyễn Hữu Hạnh đã cung cấp tiết lộ đầu tiên vào năm 1981 trong một cuộc phỏng vấn được ghi lại cho loạt phim PBS Việt Nam: Lịch sử truyền hình . Hạnh, người mà Minh gọi là đã nghỉ hưu, là một điệp viên thâm nhập lâu năm của Cộng sản. Anh đã ở với Minh trong Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4. Hạnh kể lại rằng

“Điều đầu tiên Vanuxem nói là anh ấy vừa đến từ Paris. Trước khi anh ấy đến, anh ấy đã gặp nhiều nhân vật, bao gồm cả các thành viên của đại sứ quán [Bắc Kinh]. Anh ấy đề nghị Minh tuyên bố rằng anh ấy sẽ rời bỏ người Mỹ và sẽ đến phía Trung Quốc, theo ông, nếu ta làm như vậy, Trung Quốc sẽ gây sức ép lên Hà Nội để Hà Nội phải ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam, sau khi suy nghĩ kỹ, Minh đã từ chối đề nghị này và khi Vanuxem cầu xin Minh kéo dài thời gian ngừng bắn. toàn bộ sự việc trong 24 giờ nữa, người sau cũng bác bỏ ý kiến ​​đó. Sau khi Vanuxem rời đi, chúng tôi đã thông báo về việc chuyển giao quyền lực.” 

Nguyễn Văn Điệp, bộ trưởng kinh tế Nam Việt Nam và cũng là một tay gián điệp ngầm, tại cuộc họp, đồng ý rằng “Vanuxem đã đến gặp Minh để cố gắng động viên và thuyết phục Minh rằng tình hình vẫn chưa vô vọng. Vanuxem đến ngay sau khi Tướng Minh ghi âm xong lời tuyên bố đầu hàng.” Sau khi Minh nói với anh ta rằng tình hình là vô vọng, Vanuxem trả lời rằng “Không phải là vô vọng. Tôi đã sắp xếp cho việc này ở Paris. Tôi yêu cầu bạn công khai yêu cầu Quốc gia C [Trung Quốc] bảo vệ bạn.” Vanuxem yêu cầu Minh cầm cự trong ba ngày, nhưng Minh từ chối.

Lý Quí Chung, người được Minh bổ nhiệm làm bộ trưởng thông tin, xác nhận rằng:

“Vanuxem nói muốn hiến kế với Minh để cứu vãn tình thế vô vọng mà chế độ Sài Gòn đang gặp phải. Vanuxem nói rằng Minh nên lên tiếng để kêu gọi một nước hùng mạnh can thiệp, và rằng nếu chính quyền miền Nam Việt Nam đưa ra yêu cầu chính thức nước hùng mạnh này sẽ can thiệp ngay thôi, Minh cười chua xót và nói, tôi cám ơn ý tốt của ông, nhưng cả đời tôi đã làm tay sai cho Pháp rồi lại làm tay sai cho Mỹ, thế là đủ rồi. Tôi không muốn làm tay sai nữa.” 

Vanuxem có thể tự mình thực hiện nỗ lực này không? Gia đình của Vanuxem không tin rằng chính phủ Pháp sẽ sử dụng anh ta như một người đưa tin. Họ cho rằng việc ông tham gia vào cuộc đảo chính thất bại của quân đội Pháp vào tháng 4 năm 1961 đã khiến ông trở thành kẻ bị chính phủ Pháp coi thường. Giả sử rằng tình trạng bị coi thường của Vanuxem với chính phủ Pháp vẫn còn nguyên vẹn, thì có thể nghi ngờ rằng ông ta đang mang một thông điệp từ chính phủ Pháp, đặc biệt là khi chính phủ này có đại sứ riêng tại Sài Gòn.

Điều dường như có nhiều khả năng hơn là người Trung Quốc đã tìm kiếm một sứ giả khác ngoài Phong. Phong là một nhà ngoại giao dân sự, trong khi Vanuxem có quan hệ mật thiết với các tướng lĩnh QLVNCH, và ông ta có một lịch sử lâu dài ủng hộ nền cộng hòa. Ông sẽ là phái viên hoàn hảo để thuyết phục các tướng lĩnh chống cộng của QLVNCH chấp nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc và Pháp, đặc biệt là một đề nghị táo bạo như thế này. Hơn nữa, với tư cách là một người chuyển phát nhanh đơn độc, anh ta cũng có thể bị từ chối nếu cần thiết.

Nhờ có gián điệp trong cuộc gặp với Minh, Hà Nội biết được đề nghị của Vanuxem. Vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày Sài Gòn sụp đổ, Hà Nội cuối cùng đã thừa nhận nỗ lực can thiệp của Trung Quốc. Một quan chức tuyên bố rằng:

“Nhà cầm quyền Trung Quốc ấp ủ một âm mưu cực kỳ thâm độc. Như Dương Văn Minh, chủ tịch cuối cùng của chế độ bù nhìn đã tiết lộ: Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, qua trung gian của Vanuxem… Trung Quốc yêu cầu Minh tiếp tục chiến đấu ít nhất 24 giờ nữa để có đủ thời gian tuyên bố tách khỏi Mỹ và liên minh với Trung Quốc, sau đó Trung Quốc sẽ gây sức ép, kể cả việc đưa quân vào Việt Nam để chấm dứt các hành động thù địch có lợi cho Trung Quốc.” 

Người Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu phó tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line vào tháng 9 năm 1975, Kỳ tuyên bố rằng vào khoảng cuối năm 1972, các đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ở Sài Gòn. Kỳ cho biết họ yêu cầu ông lật đổ Thiệu và “tuyên bố Nam Việt Nam trung lập, không đứng về phía Nga hay Mỹ.” Nếu anh ấy làm vậy, “người Trung Quốc sẽ ủng hộ bạn vì chúng tôi đã gặp rắc rối ở biên giới phía bắc với người Nga. Chúng tôi không muốn thấy sườn phía nam của chúng tôi bị vệ tinh Nga chiếm đóng”.

Kỳ nhắc lại câu chuyện này trong một bài phát biểu vào tháng 12 năm 1975 tại Mỹ, tuyên bố rằng “một nhóm đặc vụ Trung Quốc đã đến nhà ông ta… và đề xuất một cuộc đảo chính do Trung Quốc hỗ trợ để lật đổ Thiệu.” Tuy nhiên, tại sao Kỳ không bao giờ đề cập đến sự cố này trong cả hai cuốn sách của mình, đó là điều đáng lo ngại.

Việc Vanuxem đưa ra tuyên bố dường như không thể chối cãi. Liệu thông tin của anh ấy hay của Phong có thực sự là ý định thực sự của Trung Quốc hay không vẫn chưa được giải quyết. Đây có thể là một màn khói ngoại giao khác? Thành lập một chính phủ liên hiệp để lật đổ Thiệu trong những ngày cuối cùng chắc chắn là mưu đồ của Hà Nội. Hoàng Đức Nhã, phụ tá thân cận của Thiệu, tin là như vậy. Ông xác nhận rằng đại sứ Pháp đã nói với ông, như một phần trong lời cầu xin để ông Nhạ trở thành thủ tướng mới, rằng “Trung Quốc sẽ đưa một số sư đoàn đến để ngăn chặn Bắc Việt.” Nha nghi ngờ đây là một mánh khóe của Trung Cộng để bán đứng họ trong một chính phủ liên hiệp. [x] Với tất cả các thủ đoạn ngoại giao để loại bỏ Thiệu, ý tưởng này không thể bị giảm giá trị.

Mai Thanh Hải: ĐỜI THƯỜNG TRONG DINH ĐỘC LẬP, NGÀY 30-4-1975

Vanuxem qua đời năm 1979, hành động của ông ta vẫn chưa được kiểm tra, trong khi Phong chưa bao giờ thảo luận về khả năng ông ta bị lợi dụng. Hơn nữa, trong khi Hà Nội rõ ràng đã chấp nhận câu chuyện về Vanuxem, nó không thể được xác nhận nếu không có bằng chứng tài liệu hoặc sự thừa nhận chính thức của chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp. Liệu Trung Quốc và Pháp, mỗi bên vì lợi ích quốc gia của mình, có thông đồng với nhau để tạo ra một miền Nam Việt Nam trung lập và phủ nhận chiến thắng mà Hà Nội đã tìm kiếm từ lâu hay không vẫn còn là một khả năng hấp dẫn, nhưng hiện tại, điều đó vẫn là bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.

Tin vui cộng đồng công giáo

Trong đêm Lễ Vọng Phục sinh năm nay, tối ngày 08 tháng 04 năm 2023, có tất cả 36 người được rửa tội và có 3 em thêm sức.

Trong số người được thanh tẩy đa số là học đạo để lập gia đình, có người vì con đã rửa tội, đang sinh hoạt trong đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, nên cũng đi học đạo, để mục đích hướng dẫn con cái sống theo tinh thần phúc âm.

Đặc biệt có anh Minh (David) Trần và vợ là Sương Trần là hai vợ chồng 78 tuổi và vợ 77 tuổi đã tham gia lớp này. Cùng có một người nữa anh Duy (Thomas) mới vừa về hưu, trên 70 tuổi cũng đã ghi danh học đạo năm nay. Chị Trần Lợi năm nay trên 70 tuổi cũng tham gia lớp Tân tòng này và cũng được rửa tội dịp lễ phục sinh vừa qua. Anh Đinh Sơn và vợ là chị Liên, niên khóa rồi (2021-2022) đã học hết khoá tân tòng, nhưng vì hoàn cảnh lo lập gia đình cho con ở tiểu bang khác, anh phải đi xa, nên không rửa tội được. Năm nay anh cũng đã trở về Houston và được rửa tội kỳ này.

Xin chúc mừng, chúc mừng.

Hình Cha Chánh Xứ, Cha Phó Xứ, hai thầy Phó Tế, các Giáo Lý Viên và các Tân Tòng chụp đêm vọng Phục Sinh 08-04-2023 tại Giáo Xứ Ngôi Lời Nhập Thể

Phùng Văn Phụng ghi nhận

Thế giới có thể đối mặt với nhiệt độ kỷ lục vào năm 2023 khi El Nino quay trở lại

Bởi Kate Abnett

BRUSSELS, ngày 20 tháng 4 (Reuters) – Thế giới có thể phá vỡ kỷ lục nhiệt độ trung bình mới vào năm 2023 hoặc 2024, do biến đổi khí hậu và sự trở lại dự kiến của hiện tượng thời tiết El Nino, các nhà khoa học khí hậu cho biết.

Các mô hình khí hậu cho thấy rằng sau ba năm của kiểu thời tiết La Nina ở Thái Bình Dương, thường làm giảm nhẹ nhiệt độ toàn cầu, thế giới sẽ trải qua sự quay trở lại của El Nino, hiện tượng nóng hơn, vào cuối năm nay.

Trong El Nino, gió thổi về phía tây dọc theo đường xích đạo chậm lại và nước ấm bị đẩy về phía đông, tạo ra nhiệt độ bề mặt đại dương ấm hơn.

“El Nino thường liên quan đến nhiệt độ phá vỡ kỷ lục ở cấp độ toàn cầu. Hiện vẫn chưa biết điều này sẽ xảy ra vào năm 2023 hay 2024, nhưng tôi nghĩ có nhiều khả năng xảy ra”, Carlo Buontempo, giám đốc Copernicus của EU cho biết. Dịch vụ biến đổi khí hậu.

Buontempo cho biết các mô hình khí hậu cho thấy tình trạng El Nino quay trở lại vào cuối mùa hè ở phương bắc và khả năng El Nino mạnh sẽ phát triển vào cuối năm, Buontempo cho biết.

Năm nóng nhất thế giới được ghi nhận cho đến nay là năm 2016, trùng với El Nino mạnh – mặc dù biến đổi khí hậu đã thúc đẩy nhiệt độ khắc nghiệt ngay cả trong những năm không có hiện tượng này.

Tám năm qua là tám năm nóng nhất được ghi nhận trên thế giới – phản ánh xu hướng nóng lên trong dài hạn do phát thải khí nhà kính.Friederike Otto, giảng viên cao cấp tại Viện Grantham của Đại học Hoàng gia Luân Đôn, cho biết nhiệt độ do El Nino gây ra có thể làm trầm trọng thêm các tác động của biến đổi khí hậu mà các quốc gia đang trải qua – bao gồm các đợt nắng nóng nghiêm trọng, hạn hán và cháy rừng.

How Global Warming Fueled Five Extreme Weather Events - The New York Times

Otto cho biết: “Nếu El Nino phát triển, rất có thể năm 2023 sẽ còn nóng hơn năm 2016 – xét đến việc thế giới tiếp tục ấm lên khi con người tiếp tục đốt nhiên liệu hóa thạch”.

Các nhà khoa học Copernicus của EU đã công bố một báo cáo vào thứ Năm đánh giá các điều kiện khí hậu khắc nghiệt mà thế giới đã trải qua vào năm ngoái, năm nóng thứ năm được ghi nhận.

Châu Âu đã trải qua mùa hè nóng kỷ lục vào năm 2022, trong khi mưa cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra lũ lụt thảm khốc ở Pakistan và vào tháng 2, mực nước biển ở Nam Cực xuống mức thấp kỷ lục.

 

Copernicus cho biết nhiệt độ trung bình toàn cầu của thế giới hiện cao hơn 1,2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp.

Mặc dù hầu hết các nhà phát thải lớn trên thế giới cam kết cuối cùng sẽ cắt giảm lượng khí thải ròng của họ xuống 0, lượng khí thải CO2 toàn cầu năm ngoái vẫn tiếp tục tăng.

(Câu chuyện này đã được chắt lọc để thêm từ ‘not’ đã bỏ vào đoạn 4)

Báo cáo của Kate Abnett, chỉnh sửa bởi Deepa Babington

Nguồn: World could face record temperatures in 2023 as El Nino returns

Trung Quốc và việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Theo South China Morning Post

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

China’s vice-commerce minister, Wang Shouwen, speaks at a press conference in Beijing on Sunday. Photo: Kyodo

Trung Quốc đang cố gắng đẩy nhanh việc gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong bối cảnh các nỗ lực mới của Mỹ đang đe dọa chuỗi công nghiệp của Trung Quốc.

“Trung Quốc sẵn sàng tham gia CPTPP và có khả năng thực hiện các nghĩa vụ liên quan”, ông Vương Thụ Văn (Wang Shouwen), Thứ trưởng Bộ Thương mại kiêm nhà đàm phán thương mại quốc tế của Trung Quốc, cho biết trong họp báo hôm 23.4.

“Chúng tôi hy vọng rằng tất cả 11 quốc gia thành viên có thể ủng hộ việc chúng tôi tham gia hiệp ước”, ông Vương nói thêm.

Các phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh đơn xin gia nhập CPTPP của Trung Quốc dường như đang gặp trục trặc.

Anh nộp đơn vào tháng 6.2021 và mới vào tháng trước đã đạt được thỏa thuận tham gia hiệp định thương mại gồm 11 thành viên. Tuy nhiên, quá trình đàm phán của Trung Quốc, nước nộp đơn sau Anh 3 tháng, dường như có rất ít tiến triển.

CPTPP có hiệu lực vào tháng 12.2018, bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Đây là thị trường rộng lớn mà Bắc Kinh rất muốn khai thác, đặc biệt là khi Mỹ đang thúc đẩy các nỗ lực đưa chuỗi cung ứng trở về nước.

Mỹ là một trong những nước đề xuất Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tiền thân của CPTPP. Tuy nhiên, Washington đã rút khỏi hiệp định này trong những ngày đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump.

Thay vào đó, Mỹ đang thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và quan hệ đối tác thương mại “dân chủ”. Điều này sẽ làm giảm vai trò của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng quốc tế.

Trung Quốc đang lo ngại về việc các đơn đặt hàng ở nước ngoài giảm và bị cô lập trong thương mại quốc tế, với việc nhiều nhà máy chuyển đến Đông Nam Á để tiết kiệm tiền và vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ. Các chuyến vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc đến Mỹ đã giảm trong 8 tháng liên tiếp so với cùng kỳ năm ngoái.

Vì vậy, gia nhập CPTPP được Trung Quốc coi là một bước quan trọng trong việc đảo ngược môi trường không thuận lợi bên ngoài, phá vỡ các nỗ lực ngăn chặn của Mỹ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với nhiều đơn đặt hàng ở nước ngoài.

Ngoài việc đáp ứng các tiêu chí cao như quyền sở hữu và tiêu chuẩn lao động, Trung Quốc sẽ cần có sự chấp thuận của tất cả các nước thành viên nếu muốn gia nhập CPTPP.

Là nhà xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, Trung Quốc trong nhiều năm đã nỗ lực tạo ra Khu vực Thương mại Tự do châu Á – Thái Bình Dương. Khu vực này sẽ được hỗ trợ bởi “hai bánh xe” là CPTPP và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 15 thành viên.

“Nếu Trung Quốc tham gia CPTPP, điều đó sẽ giúp hai bánh xe này tiến lên”, ông Vương nói, chỉ ra thị trường tiêu dùng khổng lồ và tiềm năng tiêu thụ của nước này.

“Điều đó sẽ có lợi cho hội nhập kinh tế khu vực và rất quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, an toàn và độ tin cậy của chuỗi cung ứng và công nghiệp trong khu vực”, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc nói thêm.

Phan Sinh Trần

Một nền giáo dục dối trá toàn diện-Trần Mạnh Hảo

Báo Tiếng Dân

Trần Mạnh Hảo

Một chế độ tốt đẹp bao giờ cũng có một nền giáo dục tốt đẹp và ngược lại. Hiện nay, nền giáo dục của nước ta là một nền giáo dục không hề tốt đẹp khi nó đã bỏ hẳn dạy môn Văn là môn dạy làm người.

Hầu hết cán bộ trong xã hội Việt Nam hiện nay từ huyện, tỉnh đến Trung Ương nếu chỉ có đồng lương, dù là lương chủ tịch nước cũng không thể cho con cái “tị nạn giáo dục” – tức là cho con du học ở các nước tư bản giàu có như Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc, Nhật, Singapore được… Thế mà lạ thay, hầu hết các vị lãnh đạo to nhất từ trung ương xuống tỉnh huyện đều cho con đi du học bên Mỹ, mua nhà bên Mỹ, hoặc du học bên Anh, bên Đức, bên Úc…Trong khi vẫn lớn tiếng lên án chủ nghĩa tư bản xấu xa đang giãy chết! Mặt khác, chưa thấy vị lãnh đạo nào, ông quan to nào ở nước ta cho con du học sang các thiên đường cộng sản như Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Venezuela là sao, thưa các vị?

Chính sự chọn lựa nền giáo dục của các nước tư bản giàu có cho con sang du học, rồi mua nhà cho con, chuyển dần tài sản sang các nước tư bản giãy chết của các ông to trong nước như ông cựu bí thư Hà Tĩnh tên Cự … đã mách bảo chúng ta rằng Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Úc, Nhật… có nền giáo dục tốt đẹp nhất thế giới! Và nói cho công bằng, xã hội của họ ưu việt hơn xã hội ta.

Nhìn vào nền giáo dục của xã hội ta hôm nay, trừ các ông to nhất ở cao quá không thấy, ai ai cũng biết nền giáo dục Việt Nam đã xuống cấp tới mức không còn có thể xấu xa hơn nữa.

Một nền giáo dục bỏ hẳn dạy môn văn hơn 20 năm nay để dạy một môn NGỮ VĂN đểu, một môn học thuần lý trí: Nghiên cứu quy luật khoa học khách quan của ngôn ngữ văn học. Bỏ dạy môn Văn – một môn học của tâm hồn, của tình cảm rung động trước cái đẹp tiếng nói và chữ viết con người, cho phép chủ quan được tham gia bằng xúc cảm, bằng rung động con tim trước cái hay cái đẹp của ngôn ngữ và hình tượng văn học. Bỏ hẳn tâm hồn con em ta ra ngoài nền giáo dục là bộ giáo dục, là nhà nước, là đảng cầm quyền đã bỏ hẳn tính nhân văn của giáo dục. Một nền giáo dục bị tha hóa tận cùng, xấu xa tận cùng mới bỏ, không dạy môn văn.

Một nền giáo dục mà ngay bộ trưởng giáo dục như Nguyễn Thiện Nhân, Phùng Xuân Nhạ… cũng khai gian, khai láo học vị tiến sĩ, có phải là nền giáo dục tốt không?

Một nền giáo dục mà hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì. Học hàm PGS và GS cũng là học hàm phong bì tức là học vị và học hàm mua bằng tiền, thì có xấu xa hay tốt đẹp thưa quý vị?

Một nền giáo dục dối trá toàn diện. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định nền giáo dục chỉ chạy theo thành tích của ta là nền giáo dục dối trá.

Một người ngọng, dứt khoát không được tuyển vào ngành giáo dục. Trong khi bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ là người ngọng, phỏng có nước nào như nước ta không?

Một nền giáo dục cho phép nữ sinh sư phạm chỉ được làm điếm ba lần, làm điếm lần thứ tư là bị đuổi học, đuổi dạy… như một chỉ thị của ông Phùng Xuân Nhạ, thì đó là nền giáo dục quá xấu xa.

Một nền giáo dục trao trọng trách soạn sách giáo khoa văn, chủ biên sách giáo khoa văn cho các vị giáo sư quá dốt nát như: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Trần Đình Sử, Nguyễn Minh Thuyết, Đỗ Ngọc Thống… chắc chắn không phải là nền giáo dục tốt đẹp.

Một nền giáo dục cho Nhà xuất bản GIÁO DỤC mỗi năm soạn lại SGK, in lại sách giáo khoa, in toàn các loại sách bậy bạ đi kèm sách giáo khoa, bắt cha mẹ học sinh nghèo phải sạt nghiệp vì mua quá nhiều sách đọc thêm, sách tham khảo… Nhà xuất bản Giáo Dục làm tiền một cách phi pháp, khiến các em bé từ mẫu giáo phải oằn lưng cõng cả núi sách giáo khoa, sách tham khảo trên lưng. Một bộ GD& ĐT dùng NXB của mình làm tiền như một bộ đi buôn, không có nước nào làm khổ nhân dân mình như Bộ Giáo dục Việt Nam!

Có thể kể ra vô vàn tội lỗi của nền giáo dục, của Bộ Giáo dục Việt Nam đã phạm với nhân dân của mình, có cảm tưởng như Bộ này lấy ngu dân làm mục đích giáo dục vậy!

GÓC NHÌN CỦA CỰU TỔNG THỐNG Nelson Mandela 

Học Giả Thái Bá Tân.

Trên cổng một trường nọ
Ở Nam Phi, người ta
Khắc câu nói nổi tiếng
Của Nelson Mandela.

“Muốn hủy diệt một nước,
Không cần bom hạt nhân.
Tên lửa và đại bác,
Tàu chiến cũng không cần.

Chỉ cần ngành giáo dục
Của nước ấy suy đồi.
Chuẩn thấp, chất lượng thấp
Gian lận điểm và rồi

Các bác sĩ nước ấy
Sẽ giết chết bệnh nhân,
Và các nhà chính trị
Hoang phí tiền của dân.

Mua bằng, gian lận điểm,
Kỹ sư, nhà mới xây
Nứt lún hoặc sụp đổ,
Hoặc thẩm thấu suốt ngày.

Cũng vì lý do ấy,
Trong tay các quan tòa
Công lý bị bóp méo,
Gây hậu quả xót xa.

Khi giáo dục xuống cấp,
Trí thức thành lưu manh.
Tôn giáo sẽ xung đột.
Đất nước sẽ chiến tranh.

Vì vậy, để sụp đổ
Ngành giáo dục nước nhà,
Tức là tự cho phép
Sụp đổ một quốc gia.

Bác sĩ gốc Việt ở Little Saigon bị tố gian lận $230 triệu tiền COVID-19, có thể bị 50 năm tù

Báo Nguoi-viet

April 23, 2023

WASHINGTON, DC (NV) – Bộ Tư Pháp Mỹ vừa truy tố 18 người, trong đó có một bác sĩ gốc Việt hành nghề ở Little Saigon, trong các cáo buộc liên quan đến khai gian trong việc chăm sóc bệnh nhân COVID-19, với số tiền lên đến $490 triệu, hôm Thứ Năm, 20 Tháng Tư.

Trong số này, Bác Sĩ Anthony Hào Đinh, 63 tuổi, cư dân Newport Coast, Orange County, California, có văn phòng ở Garden Grove, bị buộc tội khai gian khoảng $230 triệu đòi Bộ Y Tế trả tiền trong chương trình chăm sóc bệnh nhân COVID-19 không có bảo hiểm.

(Hình minh họa: Johan Ordonez/AFP via Getty Images)

Bác Sĩ Hào là người lập hóa đơn gian lận với trị giá cao đứng thứ nhì nước Mỹ trong chương trình chống dịch COVID-19 liên bang, theo Bộ Tư Pháp. Đây là chương trình nhằm cung cấp xét nghiệm và điều trị COVID-19 cho những bệnh nhân không có bảo hiểm. Chương trình này chấm dứt vào năm ngoái khi hết kinh phí.

Hồ sơ bộ tư pháp cho thấy, ông Hào nộp hóa đơn đòi tiền cho các dịch vụ ông không thực hiện hoặc không cần thiết về mặt y tế. Ông Hào cũng bị cáo buộc lập hóa đơn cho chương trình điều trị cho những bệnh nhân được bảo hiểm.

Bác sĩ gốc Việt này cũng bị tố cáo đã dùng hơn $100 triệu trong số tiền gian lận đầu tư vào các thương vụ tài chánh rủi ro cao.

Ngoài ra, ông Hào và hai cá nhân khác cũng bị buộc tội gian lận khi nộp hơn 70 đơn xin vay hơn $3 triệu trong chương trình trả lương nhân viên và cho vay theo kế hoạch cứu nguy kinh tế chống dịch COVID-19 của liên bang.

Hai người này là bà Hằng Trinh Đinh, 64 tuổi, cư dân Lake Forest, California, chị Bác Sĩ Hào, hiện bỏ trốn và đang bị truy nã. Người thứ nhì là ông Matthew Hoàng Hồ, 65 tuổi, cư dân Melbourne, Florida.

Bác Sĩ Anthony Hào Đinh và ông Matthew Hoàng Hồ bị bắt hôm 12 Tháng Tư.

Sau khi đóng tiền thế chân $7 triệu, Bác Sĩ Hào được tại ngoại hậu tra và sẽ ra tòa liên bang ngày 22 Tháng Năm, vẫn theo thông báo của Bộ Tư Pháp Mỹ.

Nếu bị kết tội, vị bác sĩ gốc Việt này có thể bị tối đa 50 năm tù trong nhà tù liên bang.

“Bác Sĩ Anthony Hào Đinh bị tố cáo ăn cắp tiền của chương trình y tế do người đóng thuế tài trợ để cung cấp dịch vụ chữa COVID-19 cho các bệnh nhân không có bảo hiểm,” ông Martin Estrada, công tố viên liên bang, được trích lời nói trong thông báo. “Chúng tôi sẽ không tha thứ hành động ăn cắp tiền của người dân Mỹ, và vụ truy tố ở mức độ lớn như vậy cho thấy chúng tôi đang cố gắng chấm dứt tất cả mọi hình thức gian lận.”

Vụ gian lận này còn có bà Lourdes Navarro, 64 tuổi, cư dân Glendale, cùng chồng, ông Imran Shams, điều hành phòng thí nghiệm Matias Clinical Laboratory, Baldwin Park, tính tiền hóa đơn COVID-19 với số tiền là $358 triệu. Ông này gửi những hóa đơn gian lận về về xét nghiệm COVID-19 cho các viện dưỡng lão và trường học.

Những người bị truy tố gian lận trong trường hợp này bị cáo buộc đã “tìm cách khai thác chương trình” chống dịch của chính phủ bằng cách liên tục cung cấp cho bệnh nhân hàng chục bộ xét nghiệm COVID-19 “mà họ không muốn hoặc không cần,” theo thông báo của Bộ Tư Pháp.

Ông Merrick Garland, bộ trưởng tư pháp, nghiêm khắc lên tiếng: “Bộ Tư Pháp sẽ không dung thứ cho những kẻ lợi dụng đại dịch để trục lợi và ăn cắp tiền của người đóng thuế.”

“Chúng tôi sử dụng mọi nguồn lực sẵn có để chống lại và ngăn chặn hành vi gian lận liên quan đến COVID-19 cũng như bảo vệ tính toàn vẹn của các chương trình do người thọ thuế tài trợ,” Bộ Trưởng Garland khẳng định. (MPL) [đ.d.]

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tiếp theo phần 1

Trong khi các lực lượng bộ binh Mỹ chưa ghi nhận thành tích chiến thắng nào, thì  Mặt trận GPMN liên tục chiếm được nhiều vùng tại nông thôn và chính phủ VNCH cho biết là chỉ còn khả năng kiểm soát tại Sài Gòn và nhiều thành phố lớn khác.

Gây lo âu cho Johnson trong giai đoạn này không phải chỉ có tiền tuyến Việt mà còn hậu phương Mỹ. Mike Mansfield và Goerg McGovern, hai tiếng nói quan trọng thuộc đảng Dân chủ, đòi hỏi phải tìm một giải pháp đàm phán.

Ngay cả Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant và Thủ tướng Canada Lester Pearson cũng lên tiếng Mỹ phải giải thích mục tiêu theo đuổi chiến tranh, kết thúc không chiến và kêu gọi đàm phán.

Giới truyền thông Washington trước đây nhiệt tình ủng hộ cho Johnson, nay cũng chuyển hướng khi số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ lên cao. New York Times, Boston Globe và Newsweeks đồng loạt nêu việc xem lại ý nghĩa tham chiến, nhưng không đòi hỏi triệt để là Mỹ phải rút quân.

Các phong trào phản chiến lần lượt ra đời cùng với lập luận là việc tham chiến không phản ảnh được ý nghĩa giá trị chiến lược hay dân chủ cho nước Mỹ.

Để đáp ứng tình thế  ngày càng sôi bỏng, trong một bài diễn văn đọc tại Đại học Johns Hopkins, Baltimore ngày 7 tháng 4, Johnson thông báo sẳn sàng thương thuyết với Hà Nội và đề ra một phương thức viện trợ kinh tế theo mô hình Great Society với ngân khoản 1 tỷ đô la cho các nước Đông Nam Á. Đến tháng 5, để bày tỏ thiện chí, Johnson ra lệnh ngưng oanh kích trong năm ngày để yêu cầu CSBV đàm phán.

Dù lòng thành tín muốn kết thúc chiến cuộc không thể nghi ngờ, nhưng thực ra, Johnson không có một chiến lược cụ thể cho tiến trình hay một tương nhượng cho đối phương. Giống như các bậc tiền nhiệm, Johnson chỉ đề cao việc tôn trọng quyền toàn vẹn lãnh thổ của VNCH và không chấp nhận sự hiện diện của MTGPMN tại miền Nam.

Ngược lại với mọi dự đoán của Johnson, tháng 5 năm 1965, để đáp trả, CSBV kiên quyết không chấp nhận hoà đàm, mà lý do chính là đang nhận được nhiều viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, vì tin là chiến thắng quân sự đã gần kề, nên cũng bác bỏ áp lực đàm phán của Liên Xô.

Để gây tiếng vang với công luận, Hà Nội cũng đề nghị bốn điểm đối nghịch: Mỹ rút quân khỏi miền Nam không điều kiện, chấm dứt oanh tạc miền Bắc, thành lập một chính phủ liên hiệp tại miền Nam với các thành phần yêu chuộng hoà bình và thống nhất đất nước.

Thái độ hiếu hoà của Johnson làm cho giới phản chiến dịu giọng, và đầu tháng 5, Quốc hội thuận chi 700 triệu đô la để yểm trợ cho các cuộc hành quân tại miền Nam.

Hầu hết chính giới tại Washington như Wheeler, McNamara, Rostow, Rush, Westmoreland và các tướng lãnh tại Ngũ Giác Đài cùng đi đến một nhận định chung là, đã đến lúc tình thế không thể đảo ngược; Mỹ phải quyết định táo bạo bằng cách mở rộng không kích, tăng cường quân số bộ binh và bổ sung nhiều chiến lược khác, cho dù phải chấp nhận nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.

Chỉ có Taylor đành im lặng và tìm cách thích ứng trong khi Ball tiếp tục cảnh cáo thiệt hại của Mỹ càng trở nên khó lường đoán.

Tháng 6 năm 1965, việc leo thang thực sự bắt đầu khi Johnson ra lệnh gởi thêm 50.000 quân. Cuối năm 1965, quân số Mỹ lên đến 184.000; cuối năm 1967 là 485.000.

Việc tăng quân liên tục làm cho công luận và Quốc hội phản ứng mạnh. Vô số các khuyến nghị của chính giới và truyền thông hay công luận đều bị Johnson bác bỏ. Điển hình là Henry Cabot Lodge (1902-1985) đã lên tiếng: “Tại sao gởi một số lượng lớn quân đến Việt Nam mà không một lời giải thích?”

Trong năm 1967, cục diện chiến trường thay đổi khi tương quan lực lượng của hai phía không còn cân xứng, nghiêng hẳn về phía Mỹ và VNCH.

Ngoài hơn nửa triệu quân Mỹ đang hiện diện, QLVNCH có trên 660.000 quân, miền Nam còn có 50.000 binh sĩ Nam Hàn và một số lượng của các quốc gia thân hữu khác là Philippines (2061), Úc (50.000) và Tân Tây Lan (356) hợp tác.

Có mặt trên chiến trường miền Nam ước khoảng trên 200.000 binh sĩ miền Bắc và 80.000 quân MTGPMN. Nhưng dị biệt về binh pháp là vấn đề chính.

CSBV chủ yếu vẫn dựa vào du kích chiến của Mao Trạch Đông và lấy nông dân tại nông thôn làm cơ sở. Thực ra, CSBV cũng không thể thay đổi chiến lược này trong toàn diện, trong khi các tỉnh đồng bằng miền Tây Nam bộ có nhiều thuận lợi về địa hình và nhân sự; ngược lại, các tỉnh miền Đông và ven biển miền Trung là không thích hợp.

Dù thất thế về quân số và hoả lực, nhưng tinh thần chiến đấu của cán binh Cộng sản lên cao độ với nhiều lý do.

Nhìn chung, bất chấp số lượng thương vong rất lớn là sức mạnh tinh thần. CSBV tin là nhiều người Việt sẽ chiến đấu kiên cường hơn người Mỹ và sẳn sàng chết nhiều hơn người Mỹ.

Hai “trận chiến long trời lở đất” Điện Biên Phủ và Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 là bằng chứng không ai quan tâm các con số tổn thất.

Tướng Westmoreland từng nhận định, thành công trong trận Điện Biên Phủ không phải là một bài học chiến lược quý giá để cho các tướng lãnh các nước phương Tây noi theo, kể cả ông cũng cho việc sát quân là không phù hợp. Cho đến nay, chưa có nơi nào trên thế giới áp dụng  kinh nghiệm này.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa có tổn thất của phe thắng trận nào mà nặng nề và thảm khốc hơn phe thua trận như tại Việt Nam (1 triệu 1 cho CSBV so với 330 ngàn của VNCH).

Không nêu cao vai trò đấu tranh giai cấp để bảo vệ quyền lợi công nhân như các xã hội công nghiệp phương Tây; ngược lại, Bắc Việt tuyên truyền rằng Mỹ xâm lược tàn bạo, làm cho nhân dân miền Nam nghèo đói tận cùng và đang rên xiết, và trông chờ Giải phóng quân miền Bắc đến giải cứu. Lập luận này trở thành dụng cụ tuyên truyền hữu hiệu; tấm gương hào hùng chống thực dân Pháp  là một chứng minh lịch sử, đấu tranh giải phóng dân tộc bắt đầu có lý do để biện minh, nhất là khi không quân Mỹ ném bom gây ra hình ảnh bi thương cho đất nước.

Hơn thế, lập luận chống Mỹ xâm lăng có thể thuyết phục được cả các thành phần trước đây thuộc loại lưng chừng: nông dân và một phần thị dân như sinh viên và trí thức, nhất là tự do đấu tranh ngoại vận của thành phần “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, lên tiếng hỗ trợ gây được nhiều tiếng vang nhờ có các phong trào phản chiến tại phương Tây tiếp sức.

Các tài liệu về sau hé lộ rằng, có khoảng 310.000 quân Trung Quốc lo bảo vệ miền Bắc, nhưng không có một cuộc thảo luận công khai hay hình thức chống đối nào trong chính giới hay dân chúng về sự hiện diện này, vì CSBV kiểm soát tuyệt đối lĩnh vực truyền thông ngoại vận và quốc nội, đó một lợi thế của miền Bắc; trong khi miền Nam không có và còn thất bại nặng nề trong đấu tranh phát huy chính nghĩa quốc gia, từ nông thôn cho đến hải ngoại, khi so với  hơn 485.000 lính Mỹ đồn trú tại miền Nam.

Đối sách của Mỹ là một thất bại thảm hại mà việc sử dụng vũ khí hoá học là điển hình. Phá huỷ các căn cứ quân sự của MTGPMN bằng bom Napalm và hoá học cũng có nghĩa là hủy diệt môi trường sống cho nông dân.

Nhiều khu vực rộng lớn được Mỹ quy định thành khu oanh kích tự do (free fire zones)  trong khi một số khu rừng rậm tại một số tỉnh được chính quyền xem là Indian country, nghĩa là trong các cuộc hành quân truy tìm và tận diệt (search and destroy) các binh sĩ Mỹ và VNCH có quyền bắn tự do những gì còn lay động.

Các binh pháp của Mỹ đã thành công trong Đệ nhị Thế chiến và tại Triều Tiên được Tướng Westmoreland đem ra áp dụng đều không kết quả như mong đợi mà sự khác biệt ở đây là phân công  Mỹ-Việt:

Sau khi binh sĩ Mỹ truy lùng, diệt dịch và tái chiếm, QLVNCH đảm trách công việc bình định nông thôn. Đại sứ Taylor đã cảnh báo là các binh sĩ VNCH không có khả năng đấu tranh chính trị để gây thiện cảm với nông dân trong lâu dài. Đó là nhiệm vụ mà về sau lực lượng Cán bộ Xây dựng Nông thôn thành hình và đảm trách.

Cuộc chiến không còn để thu phục nhân tâm, mà thành tích chiến thắng chỉ dựa trên việc đếm xác đối phương, một thất bại về tâm lý chiến, nhưng Mỹ và VNCH cần đến các thống kê để phô trương trước truyền thông và công luận hơn bao giờ hết.

Hậu quả

Việc Mỹ hoá chiến tranh gây nhiều bất mãn cho chính giới. Cuối năm 1965,  McNamara cho là chiến thắng quân sự khó khả thi và phải tìm cách đàm phán. Năm 1967, ông kiên quyết phải chấm dứt không kích để tránh các nguy cơ lan rộng. Mâu thuẩn với Johnson và Westmoreland không thể hoà giải; cuối cùng, đến tháng 12 năm 1967, ông chấp nhận chức vụ mới là lãnh đạo Ngân hàng Thế giới và Clark M. Clifford thay ông làm Bộ trưởng Quốc phòng. Cũng trong tâm trạng này, George Ball và McGeorg Bundy rời khỏi nội các Johnson.

Ngoài khó khăn về nhân sự, Johnson cũng cố tìm cách để thương thuyết với Hà Nội, không phải chỉ trong các cuộc vận động chính thức, mà còn qua các sáng kiến tư nhân của các nhà ngoại giao tên tuổi từ các nước Anh, Pháp, Ý, Ba Lan và Liên Xô. Tất cả đều không đem lại kết quả vì bị Hà Nội cự tuyệt.

Nhìn chung, các chiến thuật đàm phán trong ngắn hạn của Hà Nội cũng như Mỹ không khác nhau.

Hà Nội, dù là ngỏ ý đàm phán, nhưng không có thái độ nghiêm chỉnh, mục tiêu là kéo dài cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ VNCH.

Ngoài ra, Hà Nội cũng muốn lo giữ thể diện là chính. Kinh nghiệm lịch sử đàm phán lại có một lý do khác: hai lần thất bại thương thuyết, một trong năm 1946, lúc cuối Đệ nhất Thế chiến, và một trong năm 1954, lúc cuối chiến tranh Đông Dương. Đó là lý do tại sao Hà Nội không muốn thất bại lần thứ ba.

Lý do chọn giải pháp quân sự ưu tiên vì  viện trợ còn dồi dào và vẫn chờ tin vui chiến trường.

Còn Mỹ? Thái độ của Mỹ cũng không chân thành hơn. Trong cả hai trận tuyến đàm phán và chiến trường, tình hình chung là bế tắc.

Đến cuối tháng 9 năm 1967, Johnson quyết định chuyển hướng sang phương thức mới mang tên “San Antonio”, nghĩa là, Mỹ đề nghị ngưng ném bom và chấp nhận vai trò của MTGPMN trong việc tái thiết hậu chiến, nếu Hà Nội nghiêm chỉnh thương thuyết.

Thực ra, Mỹ ước tính rằng sẽ đánh bại MTGPMN cả về chính trị lẫn quân sự. Dù tôn trọng VNCH là một chính phủ độc lập về hình thức; Mỹ tìm cách để cho VNCH càng lệ thuộc nhiều hơn về mọi mặt.

Còn hai trận tuyến tại hậu phương Mỹ mà Johnson phải lo đối phó là Quốc Hội, truyền thông và công luận phản chiến.

Trước Quốc hội, Johnson phải tìm ngân sách bổ sung để tài trợ cho cuộc chiến được kéo dài. Trong năm 1967, kinh phí quốc phòng đã lên đến đỉnh là 20,3 tỷ đô la, tương đương với công chi cho chương trình Great Society.

Tình trạng khiếm hụt ngân sách khoảng 28 tỷ đô la bắt buộc Johnson phải lo tăng thuế và kiểm soát công chi nghiêm nhặt hơn. Johnson phải lo đương đầu là cán cân thanh toán bất quân bình, đồng đô la mất giá và lãi xuất tăng nhanh.

Cuối cùng, Johnson đạt được giải pháp thoả hiệp với Quốc hội, đồng ý tăng thuế và giảm chi cho chương trình Great Society khoảng 6 tỷ đô la.

Kết luận

Sau khi nhậm chức, Johnson tự hào là “bảo đảm vị trí của mình trong lịch sử Hoa Kỳ với tư cách là người thừa kế hàng đầu của Roosevelt“.

Trong chính sách đối nội, với Luật về Dân Quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, Johnson cải thiện được những sai lầm trong di sản của Roosevelt.

Ngược lại, các biện pháp để tạo ra một nhà nước lo phúc lợi cho dân chúng trong hoàn cảnh tham chiến tại Việt Nam là nghịch lý. Johnson cũng gặp thất bại qua biện pháp Medicare. Kết quả là cơ sở vững chắc của đảng Dân chủ tại miền Nam chạy theo đảng Cộng hòa.

Trong chính sách đối ngoại, Johnson quyết tâm tiếp nối truyền thống của Roosevelt khi cho cả hai tình hình thế giới trước đây và Việt Nam hiện nay là tương đồng. Khi Roosevelt lo đối đầu với Hitler thì phản ứng của Johnson trong việc CSBV xâm lăng miền Nam là khác hẳn. Thực ra, nhận định chung của Johnson là sai lầm: Việt Nam khác với Đức và đã kết thúc trong bi kịch khác.

Đến cuối năm 1967, chiến tranh Việt Nam còn kéo dài triền miên trong khi các giải pháp hoàn toàn lâm vào cảnh bế tắc. Chuyển biến quan trọng nhất là mặt trận truyền thông và công luận phản chiến đã không còn ủng hộ cho Mỹ tiếp tục tham chiến và việc kêu gọi rút quân trở nên khẩn thiết hơn.

Do hoạt động của các phong trào phản chiến lên cao điểm, năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho Johnson khi mọi sinh hoạt công quyền bị tê liệt và khi CSBV đồng loạt tiến hành cuộc chiến Tết Mậu Thân toàn dân miền Nam phải sống trong đau thương.

Cả hai tác động chiến lược này đã đưa đến việc Mỹ ký kết Hiệp định Paris 1973 và sự sụp đổ của VNCH vào năm 1975.

Johnson ra đi vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 nên không chứng kiến hồi kết cuộc của bi kịch Việt Nam.

______

Các diễn tiến từ năm 1968 xin xem tiếp các bài: Công luận và truyền thông phản chiến Mỹ làm miền Nam sụp đổ? Chiến cuộc Tết Mậu Thân,  Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự Sụp Đổ Của Miền Nam

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tổng thống Lyndon B. Johnson công du Việt Nam bên cạnh Tướng William Westmoreland, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nguồn: Yoichi Okamoto

Bối cảnh

Lyndon Baines Johnson (1908-1973) xuất thân là một nhà giáo ở Texas, tham gia đảng Dân chủ và lần lượt đảm nhận chức vụ dân biểu quốc hội (1937- 1949), Thượng nghị sĩ (1949-1961) và Phó tổng thống từ năm (1961-1963).

Khác với Kennedy, Johnson không toả sáng được một phong cách trí thức hay quý tộc hay một tài năng nổi bật nào gây thu hút được chính giới tại Washington. Ngay trong tiểu bang Texas, Johnson cũng không đứng về thành phần bảo thủ nồng cốt của đảng Dân chủ. Vì tự nhận mang nhiều ảnh hưởng của Franklin Delano Roosevelt (1881- 1945) trong chính sách New Deal, nên trước công luận, ông luôn tự hào là một “New Dealer” trong thời đại mới.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963 Tổng thống John F. Kennedy bị mưu sát tại Dallas là một cơ hội bất ngờ cho Johnson trong việc thăng tiến chính trị. Ngay trong ngày này, theo thủ tục khẩn cấp, Johnson tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ trên chuyến phi cơ Air Force One.

Sau khi nhậm chức tổng thống cho đến cuối năm 1964, ông quyết tâm tiếp tục thực hiện các chương trình cải cách xã hội của Kennedy.

Những thành công đáng kể nhất của Johnson là việc giảm thuế qua Johnson Tax Act và cải thiện được một phần nào tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, nhà hàng, khách sạn và điểm giao thông qua Civil Rights Act. Trong trận chiến chống nghèo đói (War on Poverty), Johnson được Quốc hội tài trợ 1 tỷ đô la để trợ cấp cho các nhà trẻ và trường học địa phương, đặc biệt giúp cho gia đình có lợi tức thấp; biện pháp này tạo thêm thanh danh cho ông.

Ngược lại, chính sách về vấn đề chiến tranh Việt Nam của hai bậc tiền nhiệm Kennedy và Eisenhower trở thành một di sản nặng nề cho Johnson.

Đến cuối năm 1963, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ làm việc bên cạnh Quân lực VNCH đã tăng lên đến 16.000 người.

Cũng trong thời gian này, đường mòn Hồ Chí Minh đã mở ra thành một trục lộ giao thông rộng lớn nên việc thâm nhập hàng ngàn binh sĩ và vận tải quân cụ cho miền Nam được an toàn và dễ dàng. Nhờ thế, Cộng sản Bắc Việt gia tăng hoạt động rõ rệt.

Các tướng lãnh tham gia đảo chánh năm 1963 xung đột nhau làm cho nội tình miền Nam bất đầu bất ổn. Tướng Dương văn Minh (1916-2001), người lãnh đạo quân đội, đã chủ trương ngấm ngầm đàm phán với Mặt trận GPMN. Khuynh hướng hiếu hoà này bị đa số tướng lãnh Việt và chính giới Mỹ phát hiện và phản đối.

Tháng Giêng năm 1964, trong một cuộc đảo chánh không đổ máu, mà báo giới miền Nam gọi là chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) lên nắm quyền và được Washington hỗ trợ đắc lực về chính trị và quân sự.

Hai khuôn mặt Mỹ mới bắt đầu xuất hiện trên chính trường Việt là Tướng Maxwell D. Taylor (1901- 1987), Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và Tướng William C. Westmorland (1914-2005), Chỉ huy trưởng Viện trợ Quân sự (Chef of Military Assistance Command). Lực lượng cố vấn Mỹ tăng lên 23.000 người lúc cuối năm 1964.

Nội tình của miền Nam không khả quan khi Tướng Khánh tự quyền soạn thảo Hiến pháp mang danh Hiến chương Vũng Tàu ngày 16 tháng 8 năm 1964 và tự phong cùng lúc hai chức vụ Quốc trưởng và Thủ tướng. Dù được Đại sứ Taylor hỗ trợ, nhưng các phong trào chống đối của sinh viên và Phật giáo gia tăng.

Tình thế càng hỗn loạn là cơ hội cho CSBV đưa binh sĩ thâm nhập miền Nam nhiều hơn. Mức độ gia tăng đáng ngại làm cho cơ quan CIA phải lên tiếng báo động cho Đại sứ Taylor và Tổng thống Johnson biết là nên cấp thời giải quyết. Nhưng Johnson chần chờ mà lý do là chính trường Mỹ đang bắt đầu mùa tranh cử.

Barry Goldwater (1909-1998), đối thủ thuộc đảng Cộng hoà, tiểu bang Arizona, là một thành phần chống cộng cực đoan, không phải vì muốn trực diện chống Liên Xô với tinh thần đối kháng ý thức hệ mà quyết tâm chiến thắng Cộng sản Việt Nam trên chiến trường và bất chấp mọi hậu quả, kể cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử.

Nhận ra khuyết điểm này của Goldwater, trước cử tri Johnson tỏ ra mềm dẻo khi đề ra một chính sách có nhiều ý thức trách nhiệm hơn. Ông hứa hẹn kiên quyết chống cộng, nhưng không thể phản ứng thái quá và vụng về như trong vụ Vịnh Bắc bộ xảy ra ngày 10 tháng 8 năm 1964 và cũng không bằng lòng việc gởi con em đến Việt Nam để chiến đấu, nơi mà giới trẻ địa phương phải tự lo bảo vệ cho chính mình.

Kết quả là ngày 3 tháng 11, Johnson thắng cử với tỷ lệ 61% hay 43, 1 triệu phiếu cử tri, trong khi Goldwater chỉ đạt được 38,5 % hay 27, 2 triệu phiếu cử tri.

Diễn biến

Ngay sau khi nhậm chức tổng thống, Johnson nhận thức rằng sẽ còn gặp nhiều trở ngại vì cục diện chiến tranh đang leo thang và chương trình cải cách xã hội (Great Society) khó được tiếp tục.

Nhìn chung, quan điểm của Johnson cũng giống như các bậc tiền nhiệm, chính sách ngăn chặn của Harry S. Truman (1884-1972) và thuyết Domino của Dwight D. Eisenhower (1890-1969) có giá trị thuyết phục nên cần theo đuổi. Khi CSBV xâm lăng và làm miền Nam sụp đổ, thì các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ sẽ lâm nguy. Ngoại trưởng Dean Rusk (1909- 1994) và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (1918-2009) cũng chia sẻ quan điểm này và ủng hộ chính sách phòng chống của Johnson.

Nhưng Johnson phải làm gì? Các giới am tường tình thế có nhiều đề xuất khác nhau. Theo Tướng Không quân Curtis LeMay (1906-1990), một giải pháp cực đoan nhất để sớm tận diệt CSBV là không quân Mỹ ném bom toàn diện và tối đa để đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá.

Một trong những ý kiến phản chiến quan trọng khác là Georg Ball (1909-1994), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Chứng kiến thảm bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương khi là nhân viên Toà Đại sứ Mỹ tại Paris, Ball cảnh báo Mỹ cần tránh các hậu quả mà Pháp đã gặp phải.

Trong một giác thư gởi cho Ngoại trưởng Rusk, Bộ truởng Quốc phòng McNamara và Cố vấn An ninh McGeorg Bundy (1919-1996), Ball cho rằng việc không kích Bắc Việt sẽ không giúp cho Miền Nam mạnh hơn hay làm cho Mặt trận GPMN yếu hơn, nhưng chắc chắn một điều là tình hình sẽ nghiêm trọng vì lòng căm thù Mỹ càng lên cao độ.

Tác hại ngoại giao khó lường đoán là uy tín của Mỹ đối với Đồng minh cũng vì thế sẽ suy giảm.

Hy vọng xây dựng cho VNCH thành một nước dân chủ, tự do và thịnh vượng, mà Eisenhower và Kennedy dày công theo đuổi, cũng chỉ thành vô vọng. Cho đến na,y tất cả sự sống còn của miền Nam lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ Mỹ.

Do đó, nếu để cho binh sĩ Mỹ càng tiến sâu vào rừng của Việt Nam để chiến đấu, thì chính giới Mỹ càng mất lối thoát trên chính trường. Diễn đạt theo lối người Việt, nghĩa là Mỹ đã leo lưng cọp và không còn biết tìm nơi nào an toàn để xuống lưng cọp. Để giữ thể diện, theo Ball, Mỹ phải triệt thoái là phương sách thích hợp.

Johnson phủ nhận cả hai giải pháp không kích toàn diện của LeMay và triệt thoái toàn bộ của Ball, vì không tin sẽ chấm dứt chiến cuộc, mà dung hoà bằng cách chia chiến lược tấn công CSBV qua hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu là không kích trên các đoạn đường tiếp vận trong lãnh thổ Lào khoảng một tháng. Tùy theo mức độ phản ứng của CSBV, giai đoạn hai sẽ ném bom trên lãnh thổ Bắc Việt, khoảng sáu tháng và khi cần thiết sẽ bổ sung bằng cách gài mìn phong toả các hải cảng và đường vận chuyển biển. Các sự kết hợp này sẽ kết thúc chỉ khi nào tình hình miền Nam thực sự ổn định.

Tuy nhiên, cho đến tháng 12 năm 1964, Johnson vẫn chưa chính thức ra lệnh cho việc không kích trong giai đoạn hai. Thái độ chần chờ này gây cho Bộ Tư lệnh Liên quân nhiều bất bình.

Khác với ý kiến của các cố vấn và tướng lãnh, Johnson tỏ ra không kiên quyết đối đầu quân sự với Hà Nội. Lý do chủ yếu là nếu leo thang chiến tranh, phải gia tăng kinh phí quốc phòng và cắt giảm các tài trợ cho chương trình Great Sociey, một tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Johnson cố tránh.

Johnson phải làm gì? Chờ đợi trong vô vọng hoặc theo chủ trương của Ball? Cho dù theo quyết định nào đi nữa, thì Johnson cũng sẽ phải chấp nhận các chỉ trích của các cố vấn và công luận việc VNCH và Đông Nam Á sẽ lâm nguy, trong khi đang mơ ước ưu tiên thực hiện dự án Great Society. Thay vào đó, cũng trong tiến trình này, Johnson cố tìm cách gây ảnh hưởng đến phía VNCH, một khó khăn mà các vị tổng thống tiền nhiệm đã không thực hiện được.

Cụ thể, Johnson đòi hỏi chính phủ VNCH phải cải cách thể chế chính trị, tạo nhiều điều kiện dân chủ hơn. Nhờ thế, may ra, miền Nam tạo được một chính quyền ổn định và đoàn kết hơn, làm cho công cuộc chiến đấu chống cộng có hiệu năng hơn. Để khuyến khích, Johnson chấp thuận cho Tướng Khánh tăng thêm 100.000 quân, đưa quân số Quân lực VNCH lên đến 660.000 quân nhằm tăng cường hoả lực chiến đấu.

Dù thoả thuận tăng quân, nhưng giới lãnh đạo VNCH không quan tâm nhiều đến các cải cách chính trị như Mỹ đòi hỏi. Khi mối quan hệ Mỹ-Việt lệ thuộc nhau càng sâu đậm thì chuyển biến càng phức tạp, cho dù nhìn chung, phía Mỹ luôn muốn gia tăng các hỗ trợ cho Việt Nam.

Tình hình an ninh của miền Nam biến chuyển tệ hại càng làm cho chính giới Mỹ lo âu nhiều hơn. Điển hình là trong đêm Giáng sinh năm 1964, Đội Biệt động thành đã tấn công khách sạn Brink ngay trung tâm thành phố, gây tử thương cho nhiều cố vấn Mỹ. Mấy ngày sau, tại Bình Giã, một địa điểm cách Sài Gòn 70 cây số về hướng Tây Nam, một trận đánh cấp tiểu đoàn diễn ra khốc liệt với kết quả 445 binh sĩ VNCH và 16 cố vấn Mỹ thương vong và phía Việt Cộng mất 132 sinh mạng.

Trước các thảm bại liên tiếp, chính giới Mỹ cho rằng không thể chờ đợi cho đến khi nào mà chính phủ VNCH được ổn định, trước mắt phải tiến hành việc không kích Bắc Việt, vì sẽ mang kết quả thiết thực: Khi CSBV không thể tiếp tục thâm nhập miền Nam, thì MTGPMN không nhận được yểm trợ, đương nhiên phải suy yếu.

Điểm quan trọng nhất trong chiến lược này là Mỹ không muốn có một chiến thắng cấp thời và toàn diện mà ưu tiên nhằm ngăn trở không để cho VNCH sụp đổ. McGeorg Bundy, Cố vấn An ninh, bi quan khi tiên đoán là miền Nam không sống quá một năm trong khi biện pháp ném bom bắt đầu đưa Johnson đi vào một cuộc phiêu lưu mới: Mỹ hoá cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng khi Johnson chưa kịp ra tay, thì MTGPMN lại phản ứng đầu tiên. Ngày 7 tháng 2 năm 1965 Việt Cộng đột kích một căn cứ không quân Mỹ tại Pleiku làm cho 8 cố vấn quân sự tử thương và 125 bị thương. Johnson ra lệnh phục thù mang tên chiến dịch Flamming Dart, 132 phi cơ của Thuỷ quân Lục chiến ném bom các căn cứ quân sự tại miền Bắc.

Ngày 10 tháng 2 năm 1965, MTGPMN tiếp tục tấn công một căn cứ quân sự Mỹ làm cho 20 binh sĩ Mỹ tử thương. Để phản ứng, Johnson ra tiếp một chiến dịch mới mang tên Rolling Thunder nhằm không kích miền Bắc vô thời hạn.

Điểm tác hại cho Johnson trong lúc này là không thông báo cho dân chúng biết đầy đủ về các diễn biến của tình hình, mà chỉ công bố là để trả thù trước các cuộc tấn công của Hà Nội, đặc biệt nhất là không đề cập đến yếu tố ném bom vô thời hạn.

Đến cuối tháng 2 năm 1965, cùng lúc với các viện trợ quân sự gia tăng, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ đã lên đến 23300. Dù tình hình an ninh xấu đi, buộc QLVNCH lâm vào thế thủ để bảo vệ các cơ sở hạ tầng, nhưng chiến dịch Rolling Thunder hứa hẹn mang lại nhiều sinh khí mới cho dân chúng miền Nam.

Từ tháng 12 năm 1964, Tướng Khánh liên lạc với MTGPMN và tìm một giải pháp đàm phán. Các tướng lãnh khác phản ứng mạnh và kết thúc bằng một cuộc đảo chính không đổ máu. Do sự thu xếp của Đại sứ Taylor, miền Nam thực sự có chuyển biến mới khi một chánh quyền dân sự thành hình vào ngày 18 tháng 2 năm 1965 và Tướng Khánh chấp thuận rời khỏi Việt Nam ngày 24 tháng 2 năm 1965 với chức danh Đại sứ lưu động.

Dù mang danh là Uỷ ban Hành pháp Trung ương và Uỷ Ban Lãnh đạo Quốc gia, nhưng tất cả thành phần lãnh đạo đều là các tướng lãnh: Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) và Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001). Chủ trương của chính quyền mới là kiên quyết không thoả hiệp với MTGPMN và hợp tác chặt chẽ với Mỹ để đưa cuộc chiến đến thành công.

Lại một lần nữa, các cuộc tấn công dồn dập của MTGPMN tại các căn cứ không quân Biên Hoà và Pleiku chứng tỏ khả năng phòng ngự của hai lực lượng Mỹ-Việt không tương xứng.

Tình thế đổi thay khiến cho Tướng Westmoreland phải khẩn cấp lên tiếng đòi gia tăng binh lực để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Yêu cầu này bị Đại sứ Taylor phản ứng kịch liệt với lý do là am tường tình thế Việt Nam toàn diện hơn Westmoreland, người chỉ chuyên về binh pháp.

Đại sứ Taylor lập luận rằng binh sĩ bộ binh Mỹ, cho dù trang bị vũ khí hiện đại và tinh thần chiến đấu cao độ, vẫn không phải là đối thủ tương xứng với các du kích quân tại khu vực rừng nhiệt đới. Kinh nghiệm Điện Biên Phủ cho thấy Pháp khi xưa đã thất bại, thì nay Mỹ không thể khá hơn. Điểm chủ yếu là binh sĩ Mỹ trong khi cận chiến không thể phân biệt được nông dân và Việt cộng.

Các ý kiến của Taylor không thuyết phục được Johnson. Do đó, ngày 8 tháng 3 năm 1965, Mỹ quyết định đưa hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến được trang bị với thiết giáp và pháo binh đến Đà Nẳng.

Được ưu thế tại Washington, Tướng Westmoreland càng đòi gởi quân nhiều và nhanh hơn. Đến cuối tháng 4, số lượng bộ binh Mỹ đổ bộ là 40.000. Theo nguyên tắc, các đơn vị này sẽ lập ra căn cứ quân sự và tổ chức các cuộc hành quân trong phạm vi 50 dặm chung quanh doanh trại.

Theo một tự sự sau này của Bùi Diễm (1923-2021), cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ, cho biết, trong tiến trình quyết định gởi quân đến Đà Nẵng, Mỹ không tham khảo ý kiến của chính phủ VNCH; sau đó, để hợp pháp hoá việc hợp tác quân sự Mỹ-Việt, VNCH mới ra một tuyên bố công nhận việc đóng quân. Cho đến nay, không có một tài liệu chính thức nào xác nhận tham vọng xâm chiếm lãnh thổ hay thu tóm quyền lợi kinh tế của Mỹ như thực dân Pháp.

(Còn tiếp)

Hoa Kỳ có bỏ qua yếu tố nhân quyền trong nâng cấp quan hệ với Việt Nam?

RFA

“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”

2023.04.17

Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội

Reuters

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.

Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.

Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.

Ý nghĩa của chuyến thăm

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:

“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.

Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặđó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”

Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:

“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.

Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.

Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.

Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”

Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:

“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếđể tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.

Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”

Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:

“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”

Ý nghĩa về nhân quyền

Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:

“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược. 

Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.

Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cậđến vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”

Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:

“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”

Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để  gây áp lực cho các nước khác.

Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.

Người Việt tị nạn ở Thái Lan cảm thấy bất an sau việc ông Đường Văn Thái bị bắt

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Người Việt tị nạn chính trị tại Thái Lan nói với VOA rằng họ rất “hoang mang, lo sợ” sau vụ nhà báo độc lập Đường Văn Thái bất ngờ mất tích ở Bangkok và sau đó được chính quyền Việt Nam loan rằng ông đã bị bắt vì “nhập cảnh trái phép”.

“Người tị nạn rất lo lắng, hoang mang bởi vì đây là trường hợp đầu tiên người đã có quy chế tị nạn và đã phỏng vấn tái định cư mà bị Cộng sản Việt Nam bắt cóc về”, ông Đoàn Huy Chương, cựu tù nhân chính trị Việt Nam, cho biết hôm 18/4.

Hôm 13/4, ông Đường Văn Thái, sử dụng mạng xã hội với tên Thái Văn Đường, đã biến mất tại phi trường Bangkok nơi ông chuẩn bị đón một người bạn.

Các nhà hoạt động cho biết vào buổi sáng ngày mất tích, ông Thái đã có một cuộc phỏng vấn tái định cư với Cao ủy Tị nạn LHQ (UNHCR), cơ quan đã cấp quy chế tị nạn cho ông từ năm 2020.

Đến ngày 16/4, truyền thông Việt Nam đồng loạt đưa tin rằng nhà chức trách Hà Tĩnh đã bắt giữ một “đối tượng” có tên Đường Văn Thái mà họ cho là “xâm nhập trái phép” vào Việt Nam.