Tìm thấy “tình yêu đích thực” trong bãi rác

Sinh ra tại Edinburgh (Scotland) nhưng Scott Neeson đã chuyển tới Australia định cư khi mới 5 tuổi. Ông là con trai của một lao công và một quân nhân. Năm 17 tuổi, Scott quyết định bỏ học và sống dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp. Nhờ chương trình hỗ trợ của chính phủ, ông được nhận vào làm việc trong một rạp chiếu phim là nhân viên kỹ thuật phòng chiếu.

Câu chuyện nhẽ ra sẽ kết thúc tại đây nếu không phải Scott là người khá tham vọng và tràn đầy nhiệt huyết. Người đàn ông này kiên trì leo lên từng bậc thang trong ngành điện ảnh, từ một nhân viên phát hành phim đến nhân viên kinh doanh phim. Cuối cùng, mọi công sức của Scott cũng được đền đáp khi ông được bổ nhiệm là Giám đốc Chi nhánh Australia của hãng 20th Century Fox (nay là 20th Century Studios thuộc Disney).

Bước ngoặt đến với Scott vào năm 2000 khi ông chuyển tới Los Angeles để tiếp quản vị trí trong mơ – Chủ tịch của 20th Century Fox International. Ông có thu nhập hơn 1,5 triệu USD/năm, sánh vai cùng với những tài tử hạng A của Hollywood trên thảm đỏ.

Chuyến đi định mệnh tới bãi rác nghèo nhất Campuchia

Trong 10 năm tại Fox, Scott đã có một sự nghiệp thành công rực rỡ, giám sát nhiều bộ phim có doanh thu cao nhất thời đại như Titanic, Star Wars, and X-Men. Đối với nhiều người, vị Chủ tịch sở hữu mọi thứ trong tay: một vị trí quyền lực trong ngành phim, những người bạn nổi tiếng, một căn biệt thự nguy nga, siêu xe và du thuyền.

Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy thiếu điều gì đó. “Tôi nghĩ là mình có vấn đề. Càng kiếm được nhiều, tôi càng không hạnh phúc”, ông tâm sự.

Năm 2003, chỉ vài tuần trước khi nhận vị trí mới ở Sony Pictures, Scott tới Phnom Penh (Campuchia) để du lịch. Chuyến đi 6 tuần này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.

“Tôi muốn xem nơi nghèo nhất đất nước”, Scott nói. “Họ đưa tôi đến Stung Meanchey – một bãi rác sâu hơn 90m và rộng hơn 100.000 m2”. 

Tại đây, Scott chứng kiến hơn 1.500 đứa trẻ đang nhặt nhạnh giữa cái nóng hơn 50 độ C, xung quanh là đống rác đang phân hủy đầy và thải khí mê-tan, còn mặt đất như bị nung chảy. Ông còn bị bỏng ở chân do không để ý nơi mình giẫm lên. Khắp nơi nồng nặc mùi hôi thối.

Nhiều đứa trẻ ở đây bị cha mẹ bỏ rơi vì nợ nần, ốm đau, nghiện rượu hoặc tái hôn. Chúng buộc phải tìm phế liệu ở bãi rác này để đam bán, hôm nào may mắn thì được khoảng 1 USD (khoảng 23.000 VNĐ).

Scott muốn giúp những đứa trẻ này, nhưng ông có thành kiến với các tổ chức từ thiện. Cựu Chủ tịch 20th Century Fox sợ tiền không đến tay các em, lại lo “một cây chẳng làm nên non”.

“Lý do thứ ba: Đây vốn không phải là chuyện của tôi”, ông nói. “Tại Mỹ, bạn như đang sống ở bên kia thế giới. Bạn trả tiền thuế và chính phủ có quyền quyết định các khoản viện trợ nước ngoài”. 

Tuy nhiên, bản chất lương thiện khiến Scott không thể lờ đi hoàn cảnh của lũ trẻ.

“Tôi biết chúng sẽ không bao giờ rời khỏi bãi rác nà. Chúng sống ở đây, chết cũng ở đây. Chúng có thể trở thành nạn nhân buôn người. Những bà mẹ sẽ sinh con tại đây. Điều này chẳng khác nào tận thế. Thật kinh khủng”, ông nói.

Khi thấy một đứa trẻ 9 tuổi đi ngang qua mình trong bộ dạng rách rưới, Scott đau lòng khôn xiết. Bụi bẩn, rác thải bám đầy người đứa trẻ, khiến ông còn chẳng thể nhận ra em là trai hay gái. Chỉ mất 90 phút và 35 USD tiền phí dịch vụ, Scott đã giúp đứa trẻ đó được tới trường và có tiền trang trải sinh hoạt hàng tháng.

Đây cũng là lúc mọi hoài nghi về từ thiện biến mất trong lòng ông.

“Là một con người, là một sinh vật đang sống trên Trái đất này, đây là nghĩa vụ của tôi. Tôi không ngờ rằng việc thay đổi số phận của đứa trẻ đó lại dễ như vậy“, ông cho biết.

Cuộc sống giằng xé giữa hai thế giới giàu – nghèo

Khi quay về Mỹ để bắt đầu công việc mới, Scott Neeson tự hứa sẽ không để bản thân rơi vào cảnh khủng hoảng tuổi trung niên thường thấy tại Los Angeles.

“Tôi đã làm việc hơn 26 năm trong ngành điện ảnh. Từ một nhân viên kỹ thuật chiếu bóng tại rạp phim lưu động, tôi đã nỗ lực hết mình để có ngày hôm nay. Tôi sẽ không vứt bỏ mọi thứ đi như vậy”, ông thuyết phục chính mình.

Tuy nhiên, khao khát được giúp đỡ lũ trẻ khiến Scott suy nghĩ rất nhiều. Trong một năm sau đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox vừa làm việc tại Hollywood, vừa tới Campuchia để làm thiện nguyện.

Có hai thế giới song song tồn tại trong cuộc sống của ông: Mỗi tháng, ông sẽ dành 3 tuần để giải quyết công việc, ngồi ghế hạng nhất trên máy bay, tham dự giải Oscars, gặp gỡ các ngôi sao điện ảnh, kiếm cả triệu USD/năm. Sau đó, ông sẽ gửi số tiền này đến Campuchia.

“Điều tôi không tính tới là những sang chấn tâm lý do phải liên tục chuyển đổi giữa hai thế giới khác nhau trong vòng 24 tiếng. Một bên là lối sống buông thả và xa hoa, một bên là bãi rác nghèo nàn và tồi tệ – nơi lũ trẻ có thể chết trước mặt bạn chỉ vì thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản”, ông nói.

“Tôi không thể sống giữa hai thế giới như vậy được”.

Dù vậy, phải đến khi chứng kiến một khoảnh khắc sinh tử khó quên, Scott Neeson mới hạ quyết tâm buông bỏ tất cả.

Vào thời điểm đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox đang đàm phán với một diễn viên nổi tiếng cho bộ phim sắp công bố. Xong việc, ông bay tới Campuchia, còn ngôi sao kia đến Tokyo (Nhật Bản).

Scott tới thẳng bãi rác và gặp bốn đứa trẻ mồ côi dưới 10 tuổi. Các em đang hấp hối và không ai có thể đưa các em tới bệnh viện. Ông hoảng sợ và không biết mình nên làm gì.

Đúng lúc ấy, nam diễn viên vừa bay tới Tokyo kia gọi điện cho Scott. Anh ta khá bực mình vì công ty ông đã cung cấp sai tiện nghi trên chuyên cơ. “Tôi không nên bị làm khó như vậy”, ngôi sao đó phàn nàn.

“Đó là điều anh ta đã nói với tôi, khi tôi đang đứng trước mặt những đứa trẻ hấp hối”, ông nhớ lại. “Chính giây phút ấy đã thức tỉnh tôi; mọi nỗi lo lắng về việc bỏ Hollywood để tới sống ở Campuchia đều biến mất. Đó là tín hiệu rõ ràng nhất cho thấy tôi đang đi đúng hướng”.

Ngay lập tức, Scott trở về Los Angeles và xin từ chức vào ngày thứ Hai.

Không phải ai cũng nghĩ quyết định của Scott là đúng đắn. “Cả thế giới đều cho rằng tôi bị điên khi từ bỏ công việc trong mơ đó”, cựu Chủ tịch 20th Century Fox nhớ lại. “Nhưng tôi không cần nó nữa”.

Năm 2004, Scott chuyển hẳn tới Campuchia và thành lập Quỹ Trẻ em Campuchia (CCF). Tổ chức này giúp đỡ các cộng đồng nghèo đang sống nhờ bãi rác ở Steung Meanchey, cung cấp các chương trình giáo dục, lãnh đạo, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em và hướng nghiệp.

Để có tiền, Scott không ngần ngại từ bỏ mọi thứ mình sở hữu. Ông bán biệt thự sang trọng ở Los Angeles, tổ chức một buổi garage sale (bán đồ cũ) để loại bớt “những thứ vô dụng” trong nhà. Kể cả siêu xe Porsche và du thuyền ông cũng không cần tới.

Vứt bỏ hào quang Hollywood để tới bãi rác làm từ thiện

Khi mới bắt đầu, mục tiêu của Scott chỉ là đưa 80 trẻ em ở bãi rác Stung Meanchey đến trường. Năm 2007, khi con số này lên tới 200 em, CCF đã thành lập một trung tâm cộng đồng, xây dựng các trường học lưu động, cung cấp nước sạch, lương thực và các dịch vụ cơ bản cho người dân nơi đây.

Năm 2009, bãi rác khổng lồ này chính thức đóng cửa. Số học sinh tại CCF cũng đã đạt số lượng 500 em. Tổ chức này mở thêm nhiều phòng khám tại địa phương, cung cấp dịch vụ y tế và tư vấn miễn phí cho người dân ở mọi lứa tuổi.

“Tôi khiến nhân viên phát điên”, Scott nói về 300 cấp dưới của mình, nhiều người trong số họ cũng từng lớn lên ở bãi rác. “Nếu nghĩ ra một kế hoạch nào đó, tôi muốn nó được thực hiện trong vòng 48 tiếng. Bạn không muốn mọi người phải chịu khổ quá lâu”. 

Điều khiến Scott ấn tượng nhất về lũ trẻ là dù sống trong cảnh khốn cùng, chúng không bao giờ vòi tiền.

“Mỗi lần tôi đến bãi rác, các em sẽ chạy theo tôi và nói: ‘Som tov rien’ (Xin hãy cho cháu đi học)”, ông nhớ lại. “Thật khó để nói không, bởi đơn giản là chúng chỉ hỏi xin một cơ hội”.

Trong vòng 16 năm qua, Scott Neeson đã thay đổi hoàn toàn số phận của hơn 3.300 mảnh đời bất hạnh ở đây. Sreyoun – cô bé 9 tuổi năm xưa được ông cứu giúp – đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính và kinh tế vào năm 2019. 80% số trẻ được CCF hỗ trợ đều vào được đại học, theo đuổi các chuyên ngành như luật, kỹ sư xây dựng dân dụng, tâm lý học…

Vị doanh nhân này cũng chia sẻ rằng ông nhớ mặt, nhớ tên của từng đứa trẻ mà mình đã cứu, bởi “mỗi em là một cuộc hành trình”.

Bên cạnh đó, Scott cũng có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh tại Stung Meanchey. Ông còn cùng người cao tuổi ở đây khôi phục lại những giá trị truyền thống đã mai một tại Campuchia, để thế hệ trẻ có thể hiểu hơn về văn hóa nước mình.

Giờ đây, Scott Neeson vẫn sống một cuộc đời giản dị ở Phnom Penh, tiếp tục theo đuổi sứ mệnh cứu người của mình. Ông thường mặc áo phông và quần canvas trắng, chân đi đất, nhìn như dân Campuchia thứ thiệt.

Trên bức tường trong văn phòng ông, bên cạnh những chiếc poster phim có chữ ký người nổi tiếng là hàng trăm tấm ảnh trước-và-sau của từng đứa trẻ được cứu giúp.

*** 

Sống quá lâu ở Campuchia, Scott Neeson đã thấm nhuần không ít tư tưởng Phật giáo. Ông hiểu rằng mình phải thay đổi bản thân trước khi thay đổi những số phận ngoài kia.

“Bạn phải bỏ đi cái tôi của mình”, ông nói. Đây chính là lý mà vị doanh nhân này cố gắng rèn luyện để vượt qua sự phán xét của chính mình và người khác, kiên trì với lý tưởng của mình.

Phải bỏ lại cuộc sống hào nhoáng ở Hollywood sau lưng nhưng chưa một giây nào Scott Neeson cảm thấy hối hận.

“Tôi chưa từng cảm thấy vừa không có gì, vừa có tất cả như lúc này”, Scott bày tỏ. “Về mặt vật chất, tôi không còn gì. Nhưng lạ thay, tôi cũng không cần chúng. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Nó đem lại sự tự do tuyệt đối”. 

“Sống ở Hollywood có nhiều lợi ích – những chiếc xe limo hiện đại, những chuyên cơ đắt tiền, những cô bạn gái xinh đẹp, được tham dự Oscars. Tuy nhiên, đó không còn là lối sống mà tôi theo đuổi nữa, khi tôi có thể thay đổi cuộc sống của hàng trăm đứa trẻ theo hướng tốt hơn”.

Scott Neeson tâm niệm rằng ông chính là người may mắn nhất thế gian này.

“Có những người sống cả một đời mà chưa từng trải qua giây phút giác ngộ như khi tôi gặp lũ trẻ ngày ấy tại bãi rác Stung Meanchey. Tôi cảm thấy thật may mắn”, vị doanh nhân mỉm cười nói.

(Theo CCF, Csmonitor, Lion’s Roar)

From: Hồ Công Hưng

First Republic Bank phá sản có gây ảnh hưởng dây chuyền?

Báo Nguoi-viet

May 2, 2023

SAN FRANCISCO, California (NV) – First Republic Bank, ngân hàng thứ hai với tài sản hơn $200 tỷ bị phá sản chỉ trong vài tuần, bị sụp đổ nhanh chóng vì mô hình kinh doanh phục vụ cho một nhóm khách hàng giàu có rất dễ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tăng đột ngột, theo AP.

Trước đó ngân hàng Silicon Valley Bank và Signature Bank cũng phá sản trong cùng một tuần. Các nhà đầu tư tự hỏi liệu nhà băng nào vào vị trí kế tiếp.

Bên ngoài một chi nhánh của ngân hàng First Republic Bank ở San Francisco. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

First Republic Bank là trường hợp được nhắc đến hàng đầu, ngoài ra còn có Comerica và KeyCorp, những ngân hàng có nhiều tài khoản với số tiền ký thác trên $250,000, mức nhận được bảo hiểm liên bang.

Dưới đây là một số điều cần biết về sự sụp đổ của First Republic Bank.

Tại sao First Republic Bank phá sản?

Ngân hàng này phát triển nhanh chóng nhờ tiền gửi vào tài khoản của những cá nhân và công ty giàu có. First Republic Bank sử dụng số tiền này để thực hiện các khoản vay lớn khi lãi suất đang ở mức thấp lịch sử với hy vọng thuyết phục khách hàng dùng thêm những sản phẩm khác, chẳng hạn dịch vụ quản trị tài sản.

Rất nhiều tài khoản tiền gửi tại First Republic lớn hơn con số $250,000, trong khi đây là mức cao nhất được nhận bảo hiểm liên bang. Khi ngân hàng Silicon Valley Bank phá sản, khách hàng rút tiền ồ ạt vì sợ khoản tiền trong tài khoản của họ gặp nguy hiểm. Hồi tuần trước, First Republic cho biết khách hàng rút hơn $100 tỷ, đa số diễn ra trong vài ngày giữa Tháng Ba.

Không chỉ vậy, nhiều khoản vay lớn từ First Republic bị giảm giá trị khi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang (FED) tăng lãi suất chóng mặt hồi năm ngoái. Nếu ngân hàng cố gắng bán các khoản vay để huy động vốn, thì họ sẽ thua lỗ. Chính Silicon Valley cũng sụp đổ trong hoàn cảnh tương tự.

First Republic lên kế hoạch bán các tài sản không sinh lời, sa thải 25% lực lượng lao động năm 2022. Tuy nhiên giới chuyên gia đánh giá rằng các biện pháp này là không đủ và quá trễ.

Giữa tuần trước, chính phủ can thiệp vào First Republic, với việc giới chức Bộ Tài Chính yêu cầu các ngân hàng nộp hồ sơ đấu thầu mua lại First Republic.

Ngân hàng nào sẽ vỡ nợ kế tiếp 

Cho đến bây giờ, các nhà phân tích kỳ vọng rằng sẽ không có thêm ngân hàng nào gặp chuyện nữa, khẳng định các vấn đề của Silicon Valley, Signature Bank hay First Republic chỉ là hy hữu.

Một số ngân hàng hạng trung khác cũng gặp cảnh bị khách hàng rút tiền gửi, do đó phải vay từ các chương trình liên bang. Tuy nhiên không có ngân hàng nào bị ảnh hưởng nặng nề như First Republic.

Cổ phiếu của đa số các ngân hàng hạng trung đều giảm hôm Thứ Hai, 1 Tháng Năm. Tuy nhiên mức giảm khá khiêm tốn so với mức thua lỗ hai con số của nhiều ngân hàng ngày 13 Tháng Ba.

Điều gì xảy ra với cổ đông của First Republic Bank?

Ngày 8 Tháng Ba, cổ phiếu First Republic giao dịch với mức giá $115, tuy nhiên sau đó giảm mạnh. Đến hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Tư, giá chỉ còn $3.15. Tức là khoảng $20 tỷ giá trị thị trường bị bốc hơi. Giao dịch cổ phiếu tạm dừng trước khi thị trường Mỹ mở cửa trở lại vào Thứ Hai, 1 Tháng Năm.

JPMorgan Chase, đơn vị đồng ý mua các khoản tiền gửi và đa số tài sản của First Republic, nhấn mạnh rằng họ không thừa nhận bất kỳ khoản nợ doanh nghiệp hoặc ưu đãi cổ phiếu vào của First Republic.

Khi một ngân hàng phá sản, thì những người nắm giữ trái phiếu là người được trả tiền cuối cùng, còn cổ đông thì cũng thuộc diện gần cuối.

Cơ Quan Bảo Hiểm Tiền Gửi Liên Bang (FDIC) không đưa ra bất kỳ ước tính nào về khả năng các chủ nợ được trả tiền. Tuy nhiên quỹ bảo hiểm tiền gửi của FDIC có thể tổn thất $13 tỷ vì First Republic phá sản.

Mặc dù các điều kiện có thể thay đổi theo thời gian, nhưng nguy cơ các nhà đầu tư không thu hồi lại được gì vẫn hiện diện ở đó. (MPL)

Tự do báo chí toàn cầu: Việt Nam tụt bốn bậc xuống nhóm ba quốc gia cuối bảng

RFA

2023.05.03

Việt Nam nằm trong khu vực đỏ (không có tự do báo chí) trong bản đồ của RSF 2023

Ảnh chụp màn hình báo cáo của RSF

Tự do báo chí toàn cầu: Việt Nam tụt bốn bậc xuống nhóm ba quốc gia cuối bảng

Báo cáo toàn cầu về tự do báo chí năm 2023 của tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) xếp Việt Nam vào nhóm ba quốc gia đứng cuối  bảng. Hai nước còn lại là Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Trong báo cáo được RSF công bố nhân ngày Báo chí Toàn cầu 03/5, Việt Nam tụt bốn hạng kể từ năm ngoái và hiện đứng thứ 178 trên tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát, chỉ trên Trung Quốc (179) và Bắc Triều Tiên (180).

Trong năm tiêu chí đánh giá của RSF, Việt Nam có ba tiêu chí bị suy giảm so với năm 2022. Cụ thể, chỉ số chính trị giảm từ hạng 173 xuống 179, chỉ số kinh tế giảm từ 176 xuống 180, và chỉ số lập pháp từ 172 xuống 177.

Tuy nhiên, Việt Nam có hai tiêu chí chỉ số xã hội và chỉ số an ninh tăng trong năm 2023: đều từ vị trí 170 của năm 2022 lên vị trí 163 năm 2023.

Thứ hạng 178 năm nay là vị trí thấp nhất của Việt Nam kể từ khi RSF đưa ra bảng xếp hạng hồi năm 2002. Năm 2020 Việt Nam có thứ hạng 172, năm 2021- 175, và 174 trong năm 2022. Điều này cho thấy tự do báo chí của Việt Nam ngày càng suy giảm.

Báo chí truyền thống của Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ bởi một đảng. Các nhà báo tự do và blogger thường xuyên bị cầm tù, biến Việt Nam thành nhà tù lớn thứ ba trên thế giới đối với nhà báo,” RSF nói về Việt Nam trong báo cáo năm 2023, kèm theo con số 42 nhà báo hiện đang bị bỏ tù ở quốc gia độc đảng này.

Trong số các nhà báo đang bị giam cầm có bốn blogger và cộng tác viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA), đó là các ông Nguyễn Tường Thuỵ, Trương Duy Nhất, Nguyễn Lân Thắng, và Nguyễn Văn Hoá.

Bình luận về tự do báo chí ở Việt Nam, một nhà báo đề nghị giấu danh tính vì lý do an ninh, nói với RFA trong ngày thứ tư 03/5 rằng ông đồng tình với báo cáo của RSF:

Có thể nói, chưa bao giờ giới bất đồng chính kiến, mà đại diện là các nhà báo độc lập ở Việt Nam rơi vào cảnh bị đàn áp khốc liệt như bây giờ.”

RSF chỉ trích bản án 8 năm tù cho cựu nhà báo Trần Thị Tuyết Diệu - Xa ...

Người này cho rằng đàn áp tự do báo chí trở nên khốc liệt hơn từ khi Luật An ninh Mạng ra đời (2019), cùng với việc nhà cầm quyền sử dụng các điều khoản 117 và 331 của Bộ luật Hình sự 2015 trong việc kết án người đấu tranh. Thậm chí, Điều khoản 331 còn được sử dụng để giải quyết những tranh chấp dân sự.

Dường như nhà cầm quyền Việt Nam bất chấp các chỉ trích quốc tế về vi phạm nhân quyền. Các cường quốc cần áp dụng các chế tài cụ thể về kinh tế, chính trị và văn hoá để buộc Hà Nội phải cải thiện hồ sơ nhân quyền, trong đó có quyền tự do báo chí và thông tin,” người này nói.

Bức tranh về truyền thông

Theo RSF, ở Việt Nam, các blogger và nhà báo độc lập là những nguồn tin tức và thông tin được đưa tin tự do duy nhất ở một đất nước mà tất cả các phương tiện truyền thông đều tuân theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản vốn toàn quyền cai trị quốc gia từ năm 1975.

-Việt Nam: Lại một đợt đàn áp các blogger và nhà hoạt động nhân quyền ...

Với 64 triệu người dùng – con số cao thứ bảy trên thế giới – Facebook là mạng xã hội lớn nhất, nền tảng trực tuyến phổ biến và phục vụ như một công cụ chính để lưu hành tin tức và thông tin ở Việt Nam. Ứng dụng nhắn tin Zalo của Việt Nam cũng được sử dụng rộng rãi để chia sẻ thông tin.

Bối cảnh chính trị

Nhà nước độc đảng đặt mục tiêu kiểm soát mọi thứ và để đạt được mục tiêu này, quân đội đã phát triển Lực lượng 47, một đơn vị với 10.000 binh sĩ mạng có nhiệm vụ bảo vệ đường lối của đảng và tấn công tất cả những người bất đồng chính kiến trên mạng.

Luật An ninh Mạng 2019 yêu cầu các nền tảng lưu trữ dữ liệu người dùng ở Việt Nam và chuyển giao cho cơ quan chức năng khi có yêu cầu.

Khuôn khổ pháp lý

Quyền tự do báo chí được ghi trong Điều 19 của Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ pháp lý để bỏ tù bất kỳ người nào đưa tin tức và thông tin gây hại cho chế độ.

Đó là các Điều 109 “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền,” Điều 117 “Tuyên truyền chống nhà nước,” và Điều 331 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” với mức án cao nhất có thể lên đến 20 năm tù giam.

Bối cảnh văn hóa xã hội

Nhiều chủ đề bị kiểm duyệt bao gồm các nhà bất đồng chính kiến, các vụ tham nhũng liên quan đến các quan chức cấp cao, tính hợp pháp của Đảng, quan hệ với Trung Quốc và, tất nhiên, các vấn đề nhân quyền.

Các chủ đề được coi là ít nhạy cảm hơn, chẳng hạn như các vấn đề môi trường hoặc quyền của người đồng tính và người chuyển giới (LGBT), đang được xã hội quan tâm.

Sự năng động của cộng đồng người Việt hải ngoại đóng vai trò cơ bản trong việc trợ giúp và chuyển tiếp tiếng nói độc lập của đất nước, RSF nói trong báo cáo.

Sự an toàn của nhà báo

Theo RSF, Nhà nước Việt Nam gia tăng trấn áp đối với các nhà báo độc lập từ khi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng áp đặt một đường lối bảo thủ hơn vào năm 2016. Bộ máy này đàn áp tất cả các sáng kiến báo chí xuất phát từ xã hội dân sự, chẳng hạn như Báo Sạch và Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Bà Phạm Đoan Trang, người được trao Giải thưởng Tự do Báo chí của RSF năm 2019, đã bị kết án chín năm tù, RFS nhấn mạnh.

Vietnam: Immediately release independent journalist and human… | OMCT

Phóng viên RFA gọi điện và gửi email cho Bộ Ngoại giao Việt Nam để đề nghị bình luận về báo cáo của RSF nhưng không nhận được phản hồi.

RSF thường xuyên lên tiếng khi Việt Nam đàn áp báo chí tự do. Gần đây nhất là lời kêu gọi Hà Nội công khai tình trạng của blogger Đường Văn Thái và phóng thích ông trở lại Thái Lan, nơi ông tị nạn chính trị từ đầu năm 2019.

Blogger này mất tích ở Thái Lan vào ngày 13/4 vừa qua, ba ngày sau, báo chí Nhà nước loan tin ông bị bắt khi “nhập cảnh bất hợp pháp” từ Lào vào Việt Nam ngày 14/4.

Từ đó đến nay, công an và truyền thông Nhà nước hoàn toàn im lặng, không công bố bất cứ thông tin nào liên quan đến nhà báo tự do chuyên đưa tin “nội bộ” về tham nhũng và tranh giành quyền lực của quan chức chế độ.

Tháng trước, sau khi toà án Hà Nội kết án nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, blogger của RFA, với bản án sáu năm tù giam và hai năm quản chế, RSF cũng chỉ trích Việt Nam và yêu cầu trả tự do cho ông ngay lập tức và vô điều kiện.

Trên bình diện quốc tế, RSF nhận định tự do báo chí rơi vào tình trạng “rất nghiêm trọng” tại 31 quốc gia, “khó khăn” tại 42 quốc gia khác, “có vấn đề” tại 55 nước, và “tốt” hoặc “đạt yêu cầu” tại 52 quốc gia còn lại.

TƯỢNG ĐỨC MẸ KHỔNG LỒ LÀM TỪ THÂN MÁY BAY

Niềm Vui Tin Mừng

TƯỢNG ĐỨC MẸ KHỔNG LỒ LÀM TỪ THÂN MÁY BAY

Đây là Pho tượng Đức Mẹ Nữ Vương Hòa Bình ‘Blessed Virgin Mary’ tại Nhà thờ Công Giáo ‘Our Lady of Peace’ tại Santa Clara, California.

Nhìn pho tượng, ít ai có thể tưởng tượng và biết rằng pho tượng đã được ghép bởi hàng chục vạn mảnh thép trắng bạc, không hoen rỉ (stainless steel) được cắt ra từ thân các máy bay Mỹ đã từng tham chiến tại Việt Nam trong suốt thời gian 10 năm, từ 1965 đến 1975.

Đó là những chiếc máy bay Skyhawk, F-100 Thunderbird, F-105 Thunderchief, F-4 Phantom, F-111 Aardvark… một thời xoải cánh tung bay ngang dọc trên bầu trời Việt Nam..

Pho tượng Đức Mẹ là một sáng kiến vô cùng độc đáo và là tác phẩm tuyệt hảo của nhà điêu khắc lừng danh thế giới Charles C. Parks.

Pho tượng có chiều cao hơn 11m, nặng gần 3,3 tấn.

Pho tượng vươn lên giữa trời xanh với vòng tay Đức Mẹ mở ra ân cần, ánh mắt buồn da diết và một trái tim lộ ra bên ngoài đầy những vết thương.

(St)

Chuẩn mực đạo đức thời cũ và cán bộ, đảng viên thời nay!

Đài Á Châu Tự Do 

Cựu Trung tá Vũ Minh Trí, từng công tác tại Tổng cục II, hôm 2/5/2023, cho rằng:

“Càng hô hào nhiều thì tư cách cán bộ ngày càng đi xuống, phẩm chất của cán bộ ngày càng hủ bại. Ta có thể thấy điều này rất rõ qua số lượng cán bộ bị kỷ luật, bị truy tố xét xử và bị bắt bỏ tù theo từng năm. Nếu trước kia chỉ ở những cán bộ cấp thấp, thì bây giờ đã khá phổ biến ở những cán bộ cấp rất cao. Cho nên đảng càng hô hào, càng tán dương, càng có cuộc vận động nọ kia, thì phẩm chất cán bộ ngày càng đi xuống.”

Theo ông Trí, tiêu chuẩn của cán bộ hiện hoàn toàn xa rời với thực tế, vẫn lấy những tiêu chuẩn cũ từ thời kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, cách nay 50-60 năm áp dụng cho bây giờ, trong đó đòi hỏi cán bộ phải không có tham vọng quyền lực. Ông Trí nói tiếp:

“Trong khi lòng tham, động cơ cá nhân là một trong những động lực mạnh nhất giúp cho con người ta tiến bộ, phấn đấu. Nếu cán bộ không có tham vọng quyền lực, không có tham tiền thì chẳng ai đi làm cán bộ, người ta đi tu hết. Tôi nhớ đã có một câu nói ‘không chọn những người có tham vọng quyền lực’… theo tôi rất là vô duyên. Cho nên thời buổi này tư tưởng phải khác hẳn cách đây 50-60 năm. Ví dụ như vừa rồi có cuộc vận động hoàn toàn thất bại là ‘học tập và làm việc theo gương đạo đức Hồ Chí Minh’… Khi tổng kết có 3 bí thư tỉnh ủy và một số tổng giám đốc được khen thưởng toàn quốc. Về sau thì một Tổng giám đốc đi tù, một Bí thư tỉnh ủy Huế là Hồ Xuân Mãn bị phát hiện gian trá và bị tước danh hiệu anh hùng.”

Vì thế Ông Trí cho rằng, đem áp dụng một tiêu chuẩn của thời cũ vào thời mới này thì hoàn toàn không đúng, nhưng vì đã phát động nên cán bộ đua nhau hót theo. Ông Trí cho biết thêm:

“Nhưng tôi nghĩ, kể cả ông Hồ sống lại thì cũng không được bổ nhiệm, thậm chí bị đi tù vì có những phát ngôn hoàn toàn sai với thực tế bây giờ. Ví dụ ông Hồ nói nếu chính phủ hư hỏng thì nhân dân có quyền đuổi chính phủ đi. Ông mà nói câu đấy bây giờ thì có thể ông bị can tội tuyên truyền chống chế độ, hay âm mưu lật đổ chính quyền. Hay ông Hồ nói ‘nước độc lập mà dân chưa có tự do, thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì’… nhưng rõ ràng dân bây giờ đâu có được tự do. Nếu so với bản yêu sách của nhân dân Đông Dương mà ông Hồ gửi đến Hội nghị Versaille năm 1919 thì đa số những quyền tự do trong đấy, đến bây giờ dân Việt Nam vẫn chưa có.”

Nên ông Trí cho rằng, đem một cái tiêu chuẩn cũ để xây dựng cho một cán bộ mới là hoàn toàn không đúng.

(Photo by Nhac NGUYEN / AFP)

RFA.ORG

Chuẩn mực đạo đức thời cũ và cán bộ, đảng viên thời nay!

Vận động ngoại giao cuối cùng trước ngày 30-04-1975

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Trần Gia Phụng

Bản đồ từ Google (Internet)

Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam.  Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.

Nguyên sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, nhà cầm quyền CHND Trung Hoa chẳng những bang giao với nhà cầm quyền cộng sản ở Bắc Việt Nam, mà còn đề nghị bang giao với chế độ tương lai thân tây phương ở Nam Việt Nam.  Tuy nhiên Nam Việt Nam đã từ chối. (Stanley Karnov, Vietnam A History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 204.  Nguyễn Văn Duệ, Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm, California, 2003, tt. 33-34.)

Sự kiện nầy cho thấy tuy Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chủ trương mở rộng ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt học thuyết hay chủ nghĩa chính trị, dù cộng sản hay tư bản, miễn sao có lợi cho CHND Trung Hoa.

Ngày 8-3-1965, ở Nam Việt Nam, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng để giúp quân đội Nam Việt Nam chống quân đội cộng sản từ bắc vào nam.

Hai tháng sau (5-1965) CHND Trung Hoa bắt đầu gởi quân qua giúp Bắc Việt Nam, nói rằng để giúp Bắc Việt Nam xây dựng hạ tầng cơ sở, đường sá, thiết lộ, cầu cống. Số quân nầy tăng dần lên tối đa trên 310,000 quân.  Quân đội CHND Trung Hoa chẳng những chỉ giúp Bắc Việt Nam, mà còn để bảo vệ mặt nam CHND Trung Hoa.  Lực lượng CHND Trung Hoa đóng rãi rác khắp các tỉnh thành ở phía bắc sông Hồng.

Nguồn ảnh: The Blade, Toledo, Ohio: Thứ Ba 16-5-1989. (Trích lại từ DCVOnline.net, ngày 13-8-2012.)

Trong nội bộ khối cộng sản quốc tế, sau khi Stalin chết năm 1953, hai bên CHND Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu tranh chấp nhau, rồi sau đó vào tháng 3-1969, quân đội hai nước thực sự đánh nhau tại vùng sông Ussuri (Ô Tô Lý), một phụ lưu của sông Amur, ở biên giới phía đông bắc Trung Hoa, nên hai bên càng thêm đố kỵ nhau.

Vị trí đóng quân của quân đội CHND Trung Hoa ở Bắc Việt Nam
Chú thích: PLA = People Liberation
Army = Nhân Dân Giải Phóng Quân.
Nguồn: Xiaobing Li, A History of the Modern Chinese Army,
The University Press of Kentucky, 2007, tr.2

Trong khi tranh chấp với CHND Trung Hoa, Liên Xô tăng viện mạnh mẽ cho Bắc Việt Nam vừa để Bắc Việt Nam cầm chân Hoa Kỳ tại Á Châu, vừa để lôi cuốn Bắc Việt Nam về phía Liên Xô trong khối cộng sản quốc tế.

Điều nầy khiến cho CHND Trung Hoa quan ngại rằng một khi Bắc Việt Nam chiến thắng Nam Việt Nam, làm chủ toàn bộ Việt Nam, thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ rảnh tay phía nam, có thể liên kết với Liên Xô chống CHND Trung Hoa.

Trong trường hợp Bắc Việt Nam thành công ở Việt Nam, CHND Trung Hoa có thể sẽ lâm vào thế hai đầu gặp địch: Liên Xô ở phía bắc, cộng sản Việt Nam ở phía nam.  Vì vậy CHND Trung Hoa ra sức vận động nhằm giữ cho Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam khỏi sụp đổ, để cầm chân Bắc Việt Nam.  Đồng thời CHND Trung Hoa bắt đầu thay đổi thái độ đối với Hoa Kỳ. (George J. Veith, sđd. tt. 555-556.)

Về phía Hoa Kỳ, vào cuối thập niên 60, học thuyết địa lý chính trị (geopolitics) mới thịnh hành, cho rằng Bắc Việt Nam không nguy hiểm đối với Hoa Kỳ bằng Liên Xô và CHND Trung Hoa, là hai nước cộng sản thủ đắc võ khí nguyên tử, có thể bất ngờ tấn công hủy diệt Hoa Kỳ.  Học thuyết nầy khuyến khích Hoa Kỳ hòa hoãn với Liên Xô và CHND Trung Hoa, đồng thời rút quân ra khỏi Nam Việt Nam để tránh khiêu khích CHND Trung Hoa.

Thêm vào đó, lúc bấy giờ lại diễn ra những cuộc biểu tình phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam rầm rộ khắp thế giới và tại nội địa Hoa Kỳ.  Sự kiện nầy ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào đầu tháng 11-1968.  Trong cuộc bầu cử năm nầy, dân chúng Hoa Kỳ chọn Richard Nixon làm tổng thống.  Khi tranh cử, Nixon hứa hẹn với dân chúng sẽ đem lại “hòa bình trong danh dự” cho Hoa Kỳ.

Như thế, trước đây tuy đối địch nhau, nhưng nay Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa đều có nhu cầu xích lại gần nhau.  Dấu hiệu thân thiện công khai đầu tiên của cả hai bên là: CHND Trung Hoa mời đoàn tuyển thủ bóng bàn Hoa Kỳ sang thi đấu giao hữu tại Bắc Kinh ngày 14-4-1971; và cũng trong ngày nầy, Hoa Kỳ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận CHND Trung Hoa, mà Hoa Kỳ đã thiết lập từ năm 1949.

Cũng trong năm 1971, trong một cuộc tiếp tân tại tòa đại sứ Miến Điện ở Paris, đại diện của thủ tướng CHND Trung Hoa gặp gỡ và đàm đạo với tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong, một thành viên trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang tham dự hội nghị Paris.  Ông Phong đã từng cầm đầu phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc họp tại Paris ngày 18-1-1969 giữa bốn bên Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, để bàn về thủ tục hội nghị Paris sắp bắt đầu.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong không công bố nội dung cuộc gặp gỡ với đại diện của CHND Trung Hoa.  Về sau, ông cho biết sơ lược rằng đại diện của CHND Trung Hoa tỏ ý tìm cách liên lạc với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng tổng thống Thiệu không trả lời. (George J. Veith: “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022: History and Public Policy Program.)

Vào đầu năm 1972, khi gặp Alexander Haig (lúc đó là Deputy National Security Advisor của tổng thống Hoa Kỳ) đến Bắc Kinh để bàn thảo chương trình thăm viếng CHND Trung Hoa của tổng thống Richard Nixon, thủ tướng CHND Trung Hoa là Châu Ân Lai đã dặn dò Haig rằng: “Do not lose in Vietnam.” (“Đừng để thua ở Việt Nam.”)  Theo Haig, CHND Trung Hoa quan ngại rằng Hoa Kỳ rút lui khỏi Đông Nam Á là điều nguy hiểm cho CHND Trung Hoa. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Ngoài ra, cựu phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Cao Kỳ (nhiệm kỳ 1967-1971), còn cho biết rằng CHND Trung Hoa đã cử đại diện tiếp xúc với ông tại Sài Gòn vào cuối năm 1972, đề nghị ông Kỳ đảo chánh lật đổ tổng thống Thiệu, rồi tuyên bố Nam Viêt Nam trung lập, không theo Hoa Kỳ, cũng không theo Liên Xô, thì CHND Trung Hoa sẽ ủng hộ ông Kỳ giữ cho Việt Nam Cộng Hòa khỏi sụp đổ. Tuy nhiên ông Kỳ đã từ chối đề nghị nầy. (George J. Veith, sđd. tr. 557.).

Sau trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974, khi trả tù binh Việt Nam Cộng Hòa về nước, CHND Trung Hoa đề nghị với Việt Nam Cộng Hòa mở một cuộc họp giữa hai bên.  Việt Nam Cộng Hòa không trả lời.  Vào mùa hè năm đó (1974), CHND Trung Hoa nhờ người nói chuyện lần nữa với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng người nầy lại trình bày với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Graham Martin, và đại sứ Martin cũng im lặng luôn. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Tất cả những sự kiện trên đây cho thấy ngay từ trước hiệp định Paris (27-01-1973) và trước khi CHND Trung Hoa rút hết quân ra khỏi Bắc Việt Nam (1973), CHND Trung Hoa muốn duy trì nguyên trạng miền Nam Việt Nam, không để Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

Xin đừng quên lúc đó người Việt gốc Hoa chẳng những tập trung khá đông ở Chợ Lớn (Sài Gòn), Biên Hòa, mà còn sống rãi rác tại các thành phố dọc duyên hải Nam Việt Nam và các thành phố miền tây nam Việt Nam, qua tận Cambodia, hoạt động thương mại rất nhộn nhịp.

Bên cạnh những vận động của CHND Trung Hoa, một người Pháp cũng góp sức nhằm duy trì Nam Việt Nam tránh sụp đổ năm 1975 là Paul Vanuxem.

Paul Vanuxem đã từng tham chiến ở Việt Nam trước năm 1954 khi còn cấp bậc đại tá.  Về Pháp, ông thăng dần lên cấp trung tướng, rồi xuất ngũ vào giữa thập niên 60 và hoạt động trong ngành báo chí.  Tháng 4-1975, Paul Vanuxem đến Nam Việt Nam với tư cách là đặc phái viên của tuần báo Carrefour.

Sáng ngày 30-4-1975, Paul Vanuxem đến dinh Độc Lập, gặp cựu đại tướng Dương Văn Minh, vừa nhận chức tổng thống chiều ngày 28-4-1975.  Hai bên có thể đã từng quen biết nhau từ thời còn là sĩ quan trong quân đội Liên Hiệp Pháp trước 1954.  Trong lúc Paul Vanuxem và Dương Văn Minh đàm luận, có ba người chứng kiến là Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Võ Diệp và Lý Quý Chung.

Nguyễn Hữu Hạnh nguyên là chuẩn tướng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, giải ngũ tháng 4-1974, được tân tổng thống Dương Văn Minh giao chức phó tổng tham mưu trưởng quân đội. Sau ngày 30-4-1975, người ta mới biết Nguyễn Hữu Hạnh là kẻ “nằm vùng”, bí mật hợp tác với cộng sản khi còn tại ngũ.  Trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình PBS (Hoa Kỳ) năm 1981, Nguyễn Hữu Hạnh tiết lộ chi tiết cuộc gặp gỡ trên đây giữa hai cựu tướng Pháp-Việt. (George J. Veith, Drawn Swords in a Distant Land, New York: Encounter Books, 2021, tr. 559.)  (PBS = Public Broadcasting Service – Series Vietnam: A Television History.)

Nguyễn Võ Diệp đã từng giữ chức tổng trưởng bộ thương mại và kinh tế chính phủ Nguyễn Bá Cẩn ngày 14-4-1975, tức chính phủ cuối cùng thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Lý Quý Chung là dân biểu nền Đệ Nhị Cộng Hòa, được cựu đại tướng Dương Văn Minh mời làm tổng trưởng thông tin.  Lý Quý Chung cho biết:  Trong cuộc nói chuyện tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, khi Paul Vanuxem đưa ra đề nghị với cưu đại tướng Dương Văn Minh hãy kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ để cứu vãn tình hình, thì cựu đại tướng Minh cười lớn và trả lời Vanuxem rằng: “…Tôi xin cảm ơn các ý định tốt đẹp của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã phục vụ như kẻ tay sai của Pháp, rồi kẻ tay sai của Mỹ.  Đủ rồi, tôi không muốn làm tay sai lần nữa...” (“… I thank you for your good intentions, but during my life I have already served as a lackey for the French and then as a lackey for the Americans.  That is enough, I do not want to be a lackey again…” (George J. Veith, sđd. tr. 560.)  [Lý Quý Chung sau năm 1975 là nhà báo Chánh Trinh, chuyên viết về thể thao.]

Chính phủ Pháp không lên tiếng về việc nầy vì nguyên tắc ngoại giao quốc tế là không can thiệp vào nội tình nước khác.  Trong khi đó, theo gia đình Paul Vanuxem, không thể có chuyện chính phủ Pháp giao cho ông việc liên lạc với cựu đại tướng Dương Văn Minh, vì Paul Vanuxem từng bị chính phủ Pháp khiển trách do ông đã liên hệ đến biến động ngày 21-4-1961 về vấn đề Algérie. Hơn nữa, vào năm 1975, chính phủ Pháp có sẵn tòa đại sứ tại Sài Gòn, thì chính phủ Pháp đâu cần đến Vanuxem. (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022.)

Ngang đây, một câu hỏi được đặt ra là nếu Paul Vanuxem tự mình đứng ra vận động, thì ông vận động để làm gì? Vận động cho ai?  Thêm nữa, trước khi đề nghị với cựu đại tướng Minh kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ, phải chăng Paul Vanuxem đã liên lac trước với các giới chức CHND Trung Hoa nên ông mới biết dự tính của nước nầy, hay Vanuxem chỉ tiên đoán ý định của CHND Trung Hoa?  Vẫn chưa có câu trả lời.

Lúc đó, Pháp còn nhiều quyền lợi ở Nam Việt Nam, nhứt là việc giao thương và các đồn điền Pháp ở Nam Việt Nam. Việt Nam còn được Pháp sắp vào nhóm “francophonie” (cộng đồng Pháp ngữ).

Vào năm 1975, sau khi quân đội Bắc Việt Nam chiếm quân khu I ngày 29-3-1975, chiếm quân khu II ngày 18-4-1975, và tiến xuống phía nam, đe dọa Sài Gòn, thì đại sứ Pháp là Jean Marie Mérillon cố gắng thuyết phục đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin áp lực tổng thống Thiệu từ chức. (Chính Đạo, 55 ngày đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 309-312.)

Lúc đó tại Sài Gòn lan truyền những tin đồn rằng cộng sản sẵn sàng thương thuyết nếu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi, nhưng tin tình báo của Hoa Kỳ từ Tây Ninh ngày 8-4 cho biết Bắc Việt Nam quyết đánh sập Việt Nam Cộng Hòa dầu tổng thống Thiệu từ chức. (Thomas L. Ahern Jr., CIA and the Generals,1998, Center for the Study of Intelligence, tr. 175.)

Cuối cùng, do tình hình biến chuyển mau lẹ, Graham Martin gởi điện văn tối mật ngày 17-4 về Washington DC, xin chính phủ Hoa Kỳ cho ông thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.  Ông được ngoại trưởng lúc đó là Henry Kissinger đồng ý. (Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C&K Promotions, INC. 1987, tt. 554-556.)

Tối thứ Bảy 19-4-1975, Graham Martin cử Charles Timmes, một nhân viên CIA (Central Intelligence Agency) trong phái bộ DAO (Decentralized Autonomous Organization) đến thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.

Hôm sau, 20-4-1975, đích thân đại sứ Martin đến gặp tổng thống Thiệu.  Đại sứ Hoa Kỳ nói với tổng thống Thiệu rằng ông không yêu cầu tổng thống từ chức, nhưng chỉ còn một ít thời gian để tránh việc cộng sản tấn công Sài Gòn, nếu tổng thống không từ chức thì các tướng lãnh sẽ có thể yêu cầu điều đó. (Thomas L. Ahern, Jr., sđd. tr. 189.)

Cuối cùng, tối 21-4-1975, tại phủ tổng thống (dinh Độc Lập), tổng thống Nguyễn Văn Thiệu loan báo quyết định từ chức và theo hiến định, giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Trước khi nhận chức, giáo sư Trần Văn Hương mời cựu đại tướng Dương Văn Minh cộng tác và làm thủ tướng chính phủ, nhưng cựu đại tướng Minh từ chối và nói rằng: “Thầy [chỉ ông Hương] đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” (Nguyên văn lời trong diễn văn nhận chức của tổng thống Trần Văn Hương.) (Internet).

Giáo sư Trần Văn Hương cho rằng làm như thế là trái với hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa, nên ông không đồng ý đề nghị của cựu đại tướng Minh.

Sau khi ông Hương nhận chức ngày 21-4-1975, CHND Trung Hoa cử đại diện đến gặp và đề nghị tiếp viện cho Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông Hương từ chối.  Ông nói với giới thân cận: “Cho Trung Cộng vào, chiến cuộc tiếp diễn trên lãnh thổ ta, ngay cả nếu chiến thắng thì khi nào mới đuổi Trung Cộng ra được…” (Đoàn Kim Định ghi lại trong “Lời tâm sự thay cho lời tựa” thi tập Bó Hoa Cuối Mùa của Trần Văn Hương, tái bản tại Hoa Kỳ, 2023, trang X.)

Tân tổng thống Hương mời gặp một người bạn cũ để tham khảo ý kiến là tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong.  (Đã viết về hoạt động của ông Phong ở trên.).  Khi gặp nhau, tiến sĩ Phong nói với tổng thống Hương rằng nếu ông Hương còn cầm quyền, thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ không thương thuyết với Nam Việt Nam.  (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam…” Internet: 9-2-2022.)

Sau cuộc gặp gỡ nầy, tổng thống Hương quyết định từ chức chiều 28-4-1975 và giao cho quốc hội tùy nghi quyết định người thay thế.  Tuy không được hiến pháp quy định, nhưng do thời cuộc đột biến cấp bách, cuối cùng quốc hội suy cử cựu đại tướng Dương Văn Minh lên thay.

Lúc đó, Pháp đề nghị thêm rằng cựu đại tướng Minh nên liên lạc với Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ liên hiệp do cựu đại tướng Minh đứng đầu để thương thuyết với Bắc Việt Nam, nhưng cựu đại tướng Minh không theo kế sách nầy. (George J. Veith, bài đã dẫn: “China and the Fall of South Vietnam…”),

Vì quá cấp bách, không vận động đủ nhân sự, nên khi nhận chức chiều 28-4-1975, chính phủ của tân tổng thống Dương Văn Minh chỉ gồm bốn thành viên là Dương Văn Minh (tổng thống), Nguyễn Văn Huyền (phó tổng thống), Vũ Văn Mẫu (thủ tướng), Lý Quý Chung (tổng trưởng thông tin).

Hôm sau bổ sung thêm các ông Hồ Văn Minh (phó thủ tướng), Bùi Tường Huân (tổng trưởng quốc phòng), Nguyễn Võ Diệu (tổng trưởng kinh tế), trung tướng Vĩnh Lộc (tổng tham mưu trưởng quân đội), Nguyễn Hữu Hạnh (phó tổng tham mưu trưởng quân đội), Triệu Quốc Mạnh (giám đốc nha Cảnh sát Đô thành).  (Lý Quý Chung, Hồi ký không tên, Nxb. Trẻ, 2004, ch. 12.)

Điều đáng chú ý là tại Hà Nội, cuộc họp của bộ chính trị đảng Lao Động từ 30-9 đến 8-10-1974 đưa ra kế hoạch quân sự tại miền Nam năm 1975 là tiếp tục lấn đất giành dân, chỉ sử dụng 10% võ khí dự trữ; đến cuối năm 1976, khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ tổng tấn công để chiếm toàn bộ Nam Việt Nam.  (Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 1995, tr. 648.)  Như thế có nghĩa là Bắc Việt Nam chưa dự tính đánh chiếm Nam Việt Nam trong năm 1975, nhưng do hoàn cảnh thuận lợi, Bắc Việt Nam mới thay đổi kế hoạch.

Nguyên vào lúc đó, tại Hoa Kỳ, quốc hội thông qua “tu chính án Jackson – Vanik”, sửa đổi điều 301 của “Đạo luật Thương mại năm 1974”, đưa ra những điều kiện khó khăn, nhằm hạn chế việc giao thương với các nước cộng sản, mà chính yếu là Liên Xô và CHND Trung Hoa, và được tổng thống Gerald Ford ban hành ngày 3-1-1975. (Wikipedia)

Để trả đũa Hoa Kỳ, Liên Xô gởi đại tướng Viktor Kulikov, thứ trưởng bộ Quốc phòng, đến Hà Nội ngày 22-12-1974, nói là để chào mừng lễ kỷ niệm 30 năm thành lập quân đội Bắc Việt Nam (1944-1974), nhưng thực tế là để nghiên cứu tình hình tại chỗ, tìm cách chống lại Hoa Kỳ.

Khi Viktor Kulikov về nước, Liên Xô tăng viện gấp bốn lần cho Bắc Việt Nam. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tt. 27-28, 481.  Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 29-30.)   Nhờ số viện trợ lớn lao của Liên Xô, Bắc Việt Nam tung quân tấn công mạnh mẽ ở Nam Việt Nam từ đầu năm 1975.

Trong khi đó, quốc hội Hoa Kỳ cắt gỉảm tất cả những chi phí quân sự ở Đông Dương từ tháng 01-1973. (Richard Nixon, No more Vietnam, London: W.H.Allen, 1986, tt. 169-170.)  Viện trợ Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng Hòa xuống đến độ chỉ đủ cung ứng một nửa nhu cầu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa (Nguyên bản: The final Collapse, Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnambibliography, 2003, tr. 83-85.)  Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thiếu phương tiện chiến đấu, nhứt là xăng dầu, đạn dược…, nên  cuối cùng đành phải buông súng.

Tóm lại, trước ngày 30-4-1975, hai nước CHND Trung Hoa và Pháp vì những quyền lợi riêng tư, đã mở những cuộc vận động ngoại giao quốc tế để tránh sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những cố gắng của hai nước nầy đã quá trễ, nên cuối cùng đều thất bại.

Hy vọng trong tương lai sẽ còn có nhiều tài liệu khác dần dần được bạch hóa, để có thể làm sáng tỏ hơn nữa lịch sử hiện đại của đất nước chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG

(Đã trình bày tại Viện Việt Học, California, 26-3-2023)

(California, 26-3-2023)

Tin người làm vườn, nữ Việt kiều Mỹ bị ‘dàn cảnh’ lấy trộm $60,000

Báo Nguoi-viet

May 2, 2023

HẬU GIANG, Việt Nam (NV)  Chiều 2 Tháng Năm, Phòng Cảnh Sát Hình Sự Công An tỉnh Hậu Giang đã bắt giữ nghi can Lê Minh Trang, 54 tuổi, ngụ tỉnh Cà Mau, để điều tra về tội “trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”

Theo báo Tuổi Trẻ, hôm 1 Tháng Năm, một nữ Việt kiều Mỹ, 50 tuổi, đến Công An xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, trình báo bị mất trộm $60,000, cùng 5 triệu đồng ($213), một điện thoại di động và một số giấy tờ tại nhà ở ấp Phú Lợi, xã Đông Phú.

Nghi can Lê Minh Trang cùng tang vật vụ trộm. (Hình: Huy Phách/Tuổi Trẻ)

Qua điều tra, công an nghi ngờ ông Trang, người làm vườn thuê cho nữ Việt kiều, có nhiều biểu hiện nghi vấn nên mời lên làm việc.

Chiều cùng ngày, nghi can Trang thừa nhận mình lấy trộm tài sản. Kiểm tra hiện trường nơi ông ta cất giấu tài sản, công an thu được nhiều tiền đô la và khoảng 300 triệu đồng ($12,785), cùng giấy tờ của nạn nhân.

Khai với cơ quan điều tra, ông Trang cho biết mình được bà chủ Việt kiều tin tưởng gửi về nhờ giữ dùm $47,000 từ đầu năm đến nay. Nổi lòng tham, ông Trang chiếm đoạt tiêu xài. Gần đây, khi bà chủ từ Mỹ về Việt Nam, sợ bại lộ ông ta lên kế hoạch đối phó.

Sáng 1 Tháng Năm, ông Trang lén lấy hơn $13,000, điện thoại và giấy tờ của bà chủ đem giấu trong bụi cây gần nhà. Sau đó ông ta dàn cảnh hiện trường giả là bị trộm đột nhập lấy tài sản của bà chủ, kể cả số tiền $47,000 mà mình đang giữ dùm. Tá hỏa, nạn nhân trình báo công an.

Bản tin của báo Tuổi Trẻ không tiết lộ danh tính của nữ Việt kiều Mỹ này. (Tr.N) [kn]

Không chấp nhận ‘đa nguyên, đa đảng’ nhưng có thể đa… vương (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

2-5-2023

Ở những quốc gia văn minh, không bao giờ xảy ra tình trạng, dẫu đã phát giác tội phạm nhưng hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự phải ngừng lại vì nghi can làm việc cho… Bộ Quốc phòng. Ảnh minh họa. Nguồn: Reuters

Hai nhóm – một đại diện cho… “công an nhân dân”, một đại diện cho… “quân đội nhân dân” – cùng thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” đã tranh cãi kịch liệt về… “trách nhiệm, quyền hạn” của mỗi bên suốt từ 21 giờ 30 đến sau 23:00…

Sắp tròn hai tuần kể từ ngày công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đối đầu với Biên phòng tỉnh Quảng Trị nhưng các viên chức hữu trách từ địa phương đến trung ương vẫn án binh, bất động.

Cuộc đối đầu vừa kể xảy ra hôm 22/4/2023 ở xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là bằng chứng mới nhất về tình trạng sau khi… thống nhất, Việt Nam có rất nhiều lãnh chúa chia nhau làm chủ các lãnh địa và nắm trong tay đủ loại kiêu binh…

***

Cách nay mươi ngày, gần như tất cả các cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam cùng tường thuật về chuyện biên phòng vây công an ở Quảng Trị… Theo đó, khoảng 8 giờ 30 tối 22/4/2023, một tổ tuần tra của Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã lập chốt, chặn những người đang di chuyển trên quốc lộ 49C đoạn chạy qua xã Triệu An để kiểm tra mức độ cồn trong máu của họ. Bởi một trong những người bị chặn lại từ chối thực hiện yêu cầu đo mức độ cồn trong máu nên công an quyết định tạm giữ phương tiện mà người này đang điều khiển với lý do… “không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ”.

Ngay sau đó một viên trung tá là Đồn trưởng Đồn Biên phòng Triệu Vân dẫn một đoàn xe chở sĩ quan và lính trong đồn đến hiện trường. Lúc đầu nhóm sĩ quan và lính biên phòng yêu cầu công an trả lại phương tiện cho người từ chối “kiểm tra về nồng độ cồn” vì đó là sĩ quan đang làm việc tại đồn. Do công an không đáp ứng, nhóm sĩ quan và lính biên phòng đã vây nhóm công an rồi đòi các cá nhân trong nhóm công an… “xuất trình giấy tờ”. Hai nhóm – một đại diện cho… “công an nhân dân”, một đại diện cho… “quân đội nhân dân” – cùng thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” đã tranh cãi kịch liệt về… “trách nhiệm, quyền hạn” của mỗi bên suốt từ 21 giờ 30 đến sau 23:00…

Nhiều người chứng kiến đã ghi lại cảnh các bên thuộc… “lực lượng vũ trang nhân dân” thóa mạ, hăm dọa nhau rồi đưa lên Internet. Các cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam thông tin thêm: Cả Công an huyện Triệu Phong lẫn Đồn Biên phòng Triệu Vân đều đã gửi báo cáo cho các cơ quan hữu trách cấp trên. Công an huyện Triệu Phong tố giác biên phòng “cản trở công an thi hành nhiệm vụ”. Đồn Biên phòng Triệu Vân thì báo cáo, trên đường tuần tra đã phát giác sáu kẻ mặc cảnh phục đang hiện diện trong khu vực mà đồn có trách nhiệm bảo vệ nên đã kiểm tra giấy tờ của cả sáu nhưng các đương sự không chấp hành, do vậy biên phòng đã… lập biên bản (1)!

Nếu gạch bỏ các từ “công an” và “biên phòng” ra khỏi những tin, bài tường thuật về sự kiện vừa đề cập thì diễn biến của sự kiện đó chẳng khác gì tin, bài tường thuật về các nhóm du đãng đang tranh giành quyền kiểm soát khu vực nào đó! Tuy chiến tranh đã chấm dứt cách nay 48 năm song cung cách quản trị, điều hành xã hội Việt Nam vẫn như thời chiến, công an và quân đội – những thực thể cấu thành “lực lượng vũ trang nhân dân” vẫn là các lãnh địa riêng, hoạt động theo kiểu “nước sông không được phạm vào… nước giếng”, do vậy khi điều tra về tham nhũng trong quá trình thực hiện các chuyến bay “giải cứu”, Bộ Công an không thể đụng đến những cá nhân thuộc Bộ Quốc phòng (2).

Cần lưu ý, cho dù quân đội có sự khác biệt với dân sự nhưng chắc chắn không thể tìm thấy bất kỳ quốc gia văn minh nào chấp nhận quân đội là một thực thể độc lập trong điều tra và xử lý các vi phạm pháp luật, đặc biệt là những vi phạm pháp luật liên quan đến sinh hoạt dân sự như Việt Nam. Chẳng hạn hồi tháng 2 vừa qua, sau khi bị cảnh sát thành phố Shalimar, quận Okaloosa, tiểu bang Florida tạm giữ vì “lái xe khi đang say rượu”, Trung tá Collin Charlie Christopherson – Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo trì phương tiện phục vụ hoạt động của Không đoàn 1 chuyên thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt thuộc Không quân Mỹ – đã bị cách chức ngay lập tức.

Vào thời điểm đó, đại diện Không đoàn 1 lặp lại điều mà quân đội Mỹ luôn luôn khẳng định: Không bao giờ dung thứ cho bất kỳ vi phạm pháp luật nào ở cả bên trong lẫn bên ngoài căn cứ quân sự và cấp bậc, chức vụ càng cao thì việc xử lý càng nghiêm khắcKhông đoàn 1 cam kết hỗ trợ cảnh sát địa phương điều tra và xử lý Trung tá Christopherson (3). Khác với Việt Nam, nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, buộc quân đội phải tôn trọng thẩm quyền của hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự. Nếu quân nhân vi phạm pháp luật trong sinh hoạt bên ngoài căn cứ quân sự, thẩm quyền điều tra – truy tố – xét xử sẽ thuộc về hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự.

Ở những quốc gia văn minh, không bao giờ xảy ra tình trạng, dẫu đã phát giác tội phạm nhưng hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự phải ngừng lại vì nghi can làm việc cho… Bộ Quốc phòng và ngoài việc… “đề nghị” Bộ Quốc phòng… điều tra, hệ thống bảo vệ và thực thi pháp luật dân sự không thể làm gì khác hơn. Còn tại Việt Nam, hoạt động điều tra những hành vi trái pháp luật liên quan đến việc tổ chức – thực hiện các chuyến bay “giải cứu” đã kết thúc, phía công tố đã hoàn tất cáo trạng nhưng chỉ có những cá nhân không khoác áo quân nhân bị truy tố, còn Bộ Quốc phòng có làm gì đối với những cá nhân là quân nhân đã nhận hối lộ hay không thì không ai có quyền được biết!

(Còn tiếp)

Chú thích

(1) https://vtc.vn/quang-tri-tranh-cai-khi-mot-can-bo-bien-phong-bi-csgt-bat-do-nong-do-con-ar769357.html

(2) https://thanhnien.vn/vu-chuyen-bay-giai-cuu-co-dau-hieu-nhan-hoi-lo-tai-bo-quoc-phong-185230404165154679.htm

(3) https://www.military.com/daily-news/2023/02/21/special-operations-commander-fired-after-being-arrested-alleged-drunk-driving-hit-and-run.html

CÂU CHUYỆN NGÀY 30 THÁNG 4: AI LÀ KẺ THÙ?

Xuyên Sơn

Sách Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện sau:

[Trích dẫn]

Tựa:

QUÝ LỜI NÓI PHẢI

Vua nước Tấn đi chơi thuyền.

Các quan đi hầu đông đủ cả.

Vua hỏi:

– Loan Doanh ta đã cấm cố một nơi,

con là Loan Phường trốn chạy ra ngoại quốc. Có ai biết Loan Phường bây giờ ở đâu không?

Các quan yên lặng, không ai nói gì cả.

Người lái thuyền tên là Thanh Quyên buông tay chèo đứng dậy thưa rằng: -Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?

Vua nói:

– Từ khi ta đánh được họ Loan đến nay, nghe họ Loan người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, cho nên ta mới hỏi.

Thanh Quyên:

– Nếu nhà vua khéo sửa sang chính sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì dù cho còn con họ nhà Loan mà làm gì được nhà vua. Nhưng nếu nhà vua không sửa sang chính sách nước Tấn, trong mất lòng quan, ngoài mất lòng dân thì ngay cả những người ngồi trong thuyền này ai cũng là con nhà họ Loan cả.

Vua khen:

– Ngươi nói phải lắm.

Rồi sáng hôm sau cho đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng.

Thanh Quyên từ không nhận.

Vua nói:

– Lấy một vạn mẫu ruộng ấy đổi lấy một lời nói kia, kể ra nhà người còn thiệt mà quả nhân còn lợi nhiều, nhà ngươi cứ lấy.

Ấy người đời cổ quý lời nói phải như thế đấy.

[Hết trích dẫn]

Vua Tấn trong câu chuyện trên là

Tấn Bình Công thời Xuân Thu ở Trung Quốc.

Loan Doanh là bầy tôi của vua Tấn.

Vì bị gièm pha mưu hại nên ông ta chạy sang nước Tề.

Vua Tề muốn dùng Loan Doanh chống Tấn nên cấp quân cho họ Loan quay về đánh Tấn.

Loan Doanh đánh úp kinh thành Giáng Đô, khiến Tấn Bình Công phải bỏ chạy. Nhờ có Phạm Mang giúp,

quân Tấn sau đánh bại được Loan Doanh.

Cả họ Loan sau đó bị diệt tộc,

chỉ còn Loan Phường trốn thoát sang nước Tống.

Vua Tấn tuy diệt được cả họ Loan, nhưng vẫn còn Loan Phường sống sót nên thâm tâm ông ta vẫn lo sợ có ngày họ Loan báo thù, vì vậy mà có câu chuyện trên.

Chuyện xưa đã trên hai ngàn năm, tưởng chỉ kể cho vui, nhưng ai biết được rằng đời nay có câu chuyện giống như vậy đang xảy ra?

****

Năm xưa, quân Cộng Sản miền Bắc tiến chiếm miền Nam, cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng Tư 1975.

Sau khi chiến thắng,

Cộng Sản hứa sẽ “khoan hồng” cho tất cả người đã từng chiến đấu trong quân đội miền Nam hoặc làm việc cho chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa giải dân tộc, cùng tái thiết đất nước.

* Nhưng những gì CS nói và CS làm khác xa nhau.

CS đã lùa hàng triệu quân cán chính của chế độ miền Nam cũ vào các trại gọi là để “học tập cải tạo”,

kỳ thực là các trại lao động khổ sai,

để cho họ chết lần mòn vì lao động quá sức, thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Ai trốn trại bị xử bắn không thương tiếc.

Vợ con những người này cũng không được buông tha, họ bị ép đi các vùng gọi là “kinh tế mới”, là những nơi đất hoang chưa được khai thác.

Họ phải bỏ nhà cửa ở thành phố lên những vùng đất hoang đó,

được cấp lương thực chỉ đủ vài tháng, với nhiệm vụ khai khẩn đất đai.

Nhiều người sau khi hết lương thực phải mò về lại thành phố kiếm sống,

nhưng nhà cửa đã bị chính quyền CS chiếm, họ trở thành những kẻ vô gia cư, sống lây lất đầu đường xó chợ.

Ai may mắn còn giữ được nhà thì trở thành những công dân hạng hai trong chế độ mới. Họ bị liệt vào thành phần “ngụy”, không được nhận vào các cơ quan nhà nước, không được vào làm các công ty quốc doanh

(thời đó hầu hết các công ty đều là quốc doanh),

không được kết nạp vào Đảng CS hay Đoàn Thanh Niên CS,

thi vào đại học bị xếp cuối bảng thứ tự ưu tiên, phải được điểm thật cao thì may ra mới đậu.

Không sống được với CS, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi bằng cách đào thoát trên những chiếc thuyền mong manh.

Hàng trăm ngàn người đã bỏ xác trên biển cả, vì bão tố, vì thiếu xăng dầu, vì thiếu lương thực, vì lạc hướng, vì hải tặc, và nhiều lý do khác nữa.

Có những người vượt biên bằng đường bộ qua Campuchia định đến Thái Lan thì gặp phải quân kháng chiến Cộng Sản Khmer Đỏ.

Vốn thù hận CS Việt Nam nên họ trút giận lên những người Việt nào rơi vào tay họ.

Họ hãm hiếp phụ nữ, giết chết nam giới, trấn lột, hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc mạng.

CS đã gọi những người bỏ nước ra đi là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”.

Những người ở lại cũng không được yên. CS đã mở các chiến dịch gọi là

“đánh tư sản mại bản” nhằm vào những người có chút ít của cải.

CS lập ra những đội kiểm tra, bất cứ nhà nào có chút của cải là các đội kiểm tra ập vào kiểm kê. Họ xáo tung đồ đạc để tìm tiền, vàng bạc hoặc các đồ quý giá.

Nhà nào bị kiểm kê là coi như tan hoang, dù không giàu có, của cải vẫn bị tịch thu.

Không có luật lệ, quy định nào về việc kiểm kê này, đội kiểm kê muốn lấy gì thì tùy thích.

Thời đó, ai chống đối thì bị ghép vào tội “phản cách mạng” là coi như đi tù rục xương.

Tất cả những của cải thu được không ai biết nó đi đâu.

Trên danh nghĩa nó được thu về cho “chính quyền cách mạng”

để “xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nhưng thực tế nó vào túi các cán bộ kiểm kê và những người lãnh đạo.

Năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới phía bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì Việt Nam đã đưa quân sang xâm lăng Campuchia mấy tháng trước đó.

Cuộc chiến chỉ kéo dài gần một tháng và kẻ được học “bài học” không phải là Việt Nam mà là Trung Quốc.

Trong cuộc chiến này quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề về nhân mạng.

Sau khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính quyền CS Việt Nam coi người Việt gốc Hoa là những đối tượng bị nghi ngờ.

Đa số người gốc Hoa đã sinh sống lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người sinh trưởng ở Việt Nam, chưa từng về Trung Quốc.

Có người không còn liên hệ gì với Trung Quốc, dù vẫn còn nói được tiếng Hoa. Nay họ bỗng trở thành đối tượng bị nghi kỵ.

Chính quyền CSVN đã ép họ phải hồi hương, tức là quay về lại Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã phải bỏ nhà cửa, tài sản, cơ nghiệp xây dựng từ mấy đời, để đi qua biên giới Trung-Việt.

Trung Quốc thì lại không muốn nhận những người này, cho nên rốt cuộc họ bị kẹt ở biên giới (phía bên Trung Quốc).

Sự kiện này được gọi là “Nạn Kiều” hay “Hoa Kiều Hồi Hương”.

CSVN luôn đổ lỗi cho Trung Quốc xúi giục người gốc Hoa hồi hương,

sự thực là chính CSVN đã ép họ đi.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, những người mà CS gọi là

“ngụy quân ngụy quyền” phần lớn đã qua đời, hoặc ra đi nước ngoài.

Những người còn sống thì đã già nua. Thế nhưng bất cứ ai trong lý lịch 3 đời còn dính tới “ngụy” là vẫn bị phân biệt đối xử.

Sách giáo khoa dạy cho trẻ em vẫn đầy những từ ngữ hằn học, cay cú về cái chế độ từ lâu đã không còn tồn tại, tựa như nó vẫn còn là mối đe dọa với chế độ CS vậy.

Nếu như sau gần 50 năm, CSVN xây dựng được một chế độ dân chủ, tiến bộ, xã hội công bằng, thì cho dù cái đám con cái “ngụy” còn đông đúc đi nữa, thì họ có làm được gì để xoay chuyển tình thế?

Nhưng rõ ràng là CSVN đã không làm được điều đó.

Họ không xây dựng được chế độ dân chủ, không đem lại công bằng cho xã hội.

Chính quyền đầy những quan chức tham nhũng, thối nát.

Xã hội đầy dẫy bất công, giàu nghèo cách biệt.

Công an, cảnh sát sách nhiễu dân. Nhà cửa, đất đai của dân bị cưỡng chế vô cớ, tòa án xét xử bất công. Đâu đâu cũng có dân oan.

Chính sự thối nát của chính quyền CSVN là điều kiện tốt để giúp cho bọn “ngụy”, bọn “ba que” ngóc đầu lên, vì khi dân chúng oán giận thì họ phải tìm ai đó đồng cảm với mình để ta thán, và những người đồng cảm đó không ai khác hơn là bọn “ngụy”.

Nếu như chính quyền CSVN mà tốt đẹp, trong sạch, thì những trang facebook, những kênh Youtube của bọn “phản động”, “ba que” trong và ngoài nước như Anh Chỉ Râu Đen, Trương Quốc Huy, Lisa Phạm, v.v… chẳng có mấy ai thèm đọc hay nghe, vì bọn họ đâu có chuyện gì để nói!

Năm 1861, nước Mỹ xảy ra nội chiến, liên bang miền Bắc và liên minh miền Nam đánh nhau vì bất đồng về chế độ nô lệ.

Miền Bắc muốn xóa bỏ chế độ nô lệ trong khi miền Nam muốn duy trì.

Vì kinh tế miền Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên họ muốn có nô lệ người da đen để làm công việc đồng áng.

Kết quả miền Bắc chiến thắng vào năm 1865.

Sau khi chiến thắng, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau trong chính quyền liên bang miền Bắc, một phe thì muốn trừng phạt miền Nam,

một phe chủ trương xóa bỏ hận thù, cùng chung tay tái thiết đất nước.

Cuối cùng phe xóa bỏ hận thù thắng thế.

Chính quyền liên bang đã chú tâm vào việc xóa bỏ chế độ nô lệ và tái thiết kinh tế miền Nam.

Không có trả thù, không có sự phân biệt đối xử với người miền Nam.

Chỉ sau vài thập niên, Hoa Kỳ là một quốc gia hoàn toàn thống nhất, không chỉ về địa lý, chính trị, mà thống nhất cả lòng người.

CSVN đã bỏ lỡ cơ hội thu phục nhân tâm, thống nhất lòng người sau năm 1975.

Nhưng họ có …. cả gần nửa thế kỷ để làm chuyện đó, mà có vẻ như họ không muốn làm.

Cái mà họ quan tâm là làm sao tận diệt được bọn “ngụy, ba que”,

không cho chúng ngóc đầu lên, làm sao để bảo vệ chế độ CS đến cùng.

Họ vẫn tiếp tục bóp méo lịch sử, nhồi nhét vô đầu thế hệ trẻ những lời tuyên truyền dối trá mà họ gọi đó là lịch sử.

Chả trách sao bây giờ các nhà giáo vẫn thường hay kêu ca là học sinh bây giờ dốt sử.

Viết sử, dạy sử không nhằm mục đích nâng cao kiến thức mà chỉ nhằm mục đích tuyên truyền nhồi sọ thì làm sao học sinh thích học được.

Trở lại chuyện nước Tấn. Sau đời vua Tấn Bỉnh Công, nước Tấn còn tồn tại thêm hơn 100 năm nữa.

Đến đời vua Tấn Tĩnh Công, ba gia tộc Hàn, Triệu, Ngụy vốn là bầy tôi của nhà Tấn, đã có âm mưu cướp nước từ lâu, truất phế vua Tấn.

Nước Tấn bị diệt vong, lãnh thổ bị chia thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy.

Rốt cuộc nước Tấn không bị con cháu họ Loan tiêu diệt như Tấn Bình Công lo sợ, mà bị chính những gia tộc được coi là “công thần” tiêu diệt.

Như người chèo thuyền Thanh Quyên đã nói:

nếu không sửa sang chính sự,

thì chính những người đang ở bên cạnh mình sẽ là kẻ thù tiêu diệt mình.

******

Ghi chú:

Sách “Cổ học tinh hoa” do hai học giả Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân biên soạn năm 1926.

Sách này gom góp những câu chuyện hay trong lịch sử và văn chương Trung Quốc với ý nghĩa răn đời.

Sách có thể được xem miễn phí trên mạng

(dùng Google tìm kiếm).

Blogger: Người Vá Trời

https://nguoivatroi.blogspot.com/

Việt Nam: Gần 800 người chết, hơn 45.000 người nhập viện dịp lễ 30/4

VOA Tiếng Việt

Có đến 786 ca tử vong, hơn 45.000 người nhập viện trong hai ngày nghỉ lễ dịp 30/4 – 1/5 tại Việt Nam, truyền thông Việt Nam dẫn thông tin từ Bộ Y tế cho biết.

Số liệu thống kê được Cục Quản lý khám chữa bệnh tổng hợp từ các cơ sở y tế ở 63 tỉnh thành cho biết tổng số người bệnh đi khám, cấp cứu tại các cơ sở y tế trong 2 ngày là 110.443 người.

Trong số các ca tử vong, có 34 nạn nhân tai nạn giao thông và 7 ca liên quan đến Covid-19. Số người bệnh tử vong bao gồm cả tử vong tại cơ sở khám chữa bệnh, trên đường đến cơ sở khám chữa bệnh và tiên lượng tử vong xin về.

Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông hàng đầu thế giới. Trong năm 2022, toàn quốc xảy ra hơn 11.000 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 6.000 người, bị thương hơn 7.000 người, theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an Việt Nam.

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ tai nạn giao thông cao tại Việt Nam là tình trạng uống rượu bia.

Việt Nam xếp thứ hai trong các nước khu vực Đông Nam Á, xếp thứ 3 châu Á về mức tiêu thụ bình quân rượu bia/người.

Báo cáo toàn cầu năm 2018 cho thấy mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người trưởng thành quy đổi ra cồn nguyên chất là 8,3 lít/năm (cao hơn mức trung bình của thế giới là 6,4 lít/năm).

Ước tính chi phí trực tiếp cho tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam năm 2017 là 4 tỷ USD, gần bằng 7% số thu ngân sách của nhà nước, chưa tính đến chi phí gián tiếp.

Ngoài ra, ngộ độc thực phẩm, hỏa hoạn… cũng là những nguyên nhân khiến tỉ lệ nhập viện, tử vong tại Việt Nam tăng rất cao vào các dịp lễ tết.

Thông tin của Bộ Y tế Việt Nam cũng cho biết riêng về khám chữa bệnh liên quan đến Covid-19, trong hai ngày nghỉ lễ, có hơn 2.000 ca tới khám, hơn 1.100 ca nhập viện điều trị nội trú, số ca tử vong là 7 người. Hiện còn 78 ca Covid-19 ở mức độ nặng, nguy kịch đang được điều trị.

DDPZUAZ44QX0T.CLOUDFRONT.NET

Việt Nam: Gần 800 người chết, hơn 45.000 người nhập viện dịp lễ 30/4

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chết không nhắm mắt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Báo Đàn Chim Việt

Tôi tình cờ “nhặt” trên FB một tác phẩm khá độc đáo của Marc Riboud. Ông “chớp” được cảnh một anh bộ đội (với con búp bê nằm dưới nắp ba lô, và cái sắc cầm tay) đang trên đường trở về quê cũ.

Cùng với bức ảnh là lời bình, cũng độc đáo không kém, của FB Nguyễn Hoàng : “Thằng này coi vậy mà hiền, chỉ lấy con búp bê cho con và cái bóp đầm cho vợ mà thôi.”

Thằng chả hiền thiệt chớ. Cái ba lô xẹp lép hà. Ngó thấy mà thương. Là kẻ cầm súng, thuộc phe thắng trận, đương sự có thể thu góp được chiến lợi phẩm nhiều hơn thế.

Bên thua cuộc, rõ ràng, không mất mát chi nhiều mà Bắc/Nam đã được “nối vòng tay lớn” – theo như cách nói của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Rồi ra, tác giả còn dự tưởng, sẽ có những đoàn tầu thống nhất “toả khói trắng hai bên đường,” những đám “trẻ thơ đi hát đồng dao” khắp ngõ, và “mọi người ra phố mời rao nụ cười.”

Họ Trịnh, có lẽ, thực lòng tin tưởng như thế. Niềm tin của ông cũng được không ít người cùng thời chia sẻ. Sự thực, tiếc thay, khác thế. Sau ngày “Nam/Bắc hoà lời ca” thì nụ cười gần như biến mất trên môi của mọi người dân Việt.

Dù thuộc bên thắng cuộc, những bộ đội phục viên cũng không hề được hân hoan cười đón khi họ trở về :

“Tôi đã được chứng kiến cảnh hẫng hụt của nhiều người khi họ … ngơ ngác tìm kế sinh nhai, đã không ít người đòi đảng, chính quyền cơ sở phải chia ruộng đất cho họ, và tất nhiên đảng, chính quyền không thể moi đâu ra ruộng đất để cho họ cày, cực chẳng đã, nhiều người đã trực tiếp đòi ruộng cha ông mà ngày trước họ đã góp vào hợp tác xã, không ít người đã tự ý đi cày ruộng cha ông của mình, thế là … họ được quy là công thần gây rối, chống lại đường lối của đảng, nhà nước, kết cục có người bị đuổi ra khỏi đảng, có người bị bắt lên xã, lên huyện tạm giam để xử lý vì đã ngang nhiên lấn chiếm đất đai của nhà nước đã giao cho người khác.” (Vi Đức Hồi – Đối Mặt, Chương II).

Đoạn hồi ký thượng dẫn giúp cho độc giả hiểu tại sao vỉa hè Hà Nội lại đông đảo những người làm nghề cửu vạn. Họ sống ra sao?

“Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường.” (Tô Hoài. Chiều Chiều. Phương Nam, Hà Nội: 2014).

Giữa Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại mà trải chiếu “đéo nhau huỳnh huỵch” thì (ngó) cũng hơi khó coi. Tuy thế – và được thế – vẫn hơn hẳn nhiều bạn đồng đội (không may) khác, đang “nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng.”

Hạnh phúc hay đau khổ (nghĩ cho cùng) chỉ là sự so chiếu, và mọi so chiếu đều tương đối cả. Nói chi đến những người lính vô danh, ngay cả một nhân vật tiếng tăm cỡ như thi sĩ Tế Hanh (“từng là ủy viên ban chấp hành hoặc thường vụ Hội Nhà Văn VN, từng mười năm liền phụ trách đối ngoại của hội, từng có chân trong ban phụ trách nhà xuất bản Văn học”) đến cuối đời cũng đành chép miệng : “Trải qua hai cuộc chiến tranh mình còn được sống, được làm thơ, còn may mắn hơn khối người khác, thế là được rồi.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Phương Nam, Hà Nội: 2002).

Vâng, đúng thế. Còn sống là “may mắn hơn khối người” rồi!

Theo thống kê (chắc không khả tín) của Tổng Cục Chính Trị thì đến năm 2012, toàn quốc chỉ có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Wikipedia tiếng Việt cho biết thêm :

“Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý cho 44.253 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.”

Có bà bị lọt sổ vì không đủ “kiên trinh” nên đã (lỡ) đi thêm bước nữa – theo như tường trình của Tuổi Trẻ Online :

“Chúng tôi đến khi bà Trần Thị M. đang ăn tối ngay trên giường. Bà đã ở trên giường như vậy gần ba năm rồi, kể từ khi đôi chân không còn tự đứng lên được nữa. Ấy thế nhưng khi hỏi đến chuyện xưa, đôi mắt bà sáng lên.

Bà say sưa kể về những ngày hoạt động cách mạng, những ngày tù ngục đòn roi tra tấn, thương tích tới 75% (thương binh hạng 2/4)… Vượt qua được hết, chỉ không chịu nổi mỗi lúc nghe tin chồng, tin con thôi” – bà chợt trầm giọng. Ba lần ‘không chịu nổi’ ấy là vào năm 1962, ông Võ Mười, chồng bà, hi sinh khi bà mới 30 tuổi; năm 1964, con trai út Võ Danh của bà bị bắn chết khi vừa 6 tuổi, đang được giao việc cảnh giới cho các chú cán bộ họp; năm 1971, con trai lớn Võ Thái làm giao liên cho ban binh vận Khu ủy Khu V hi sinh ở tuổi 16.

Còn lại một mình giữa đạn bom, hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà gá nghĩa với một người đồng đội, ông Thái Văn Thới. Chiến tranh vẫn ác liệt, đâu biết mai này sống chết thế nào. Thương nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau thì về với nhau thôi” – bà kể. Ngày 21-2-2014, UBND P.12, Q.Bình Thạnh đã tổ chức cuộc họp để xét duyệt và đề nghị Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng cho bà. Phường đã có tờ trình về trường hợp của bà gửi Phòng Lao động – thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) Q.Bình Thạnh, Sở LĐ-TB&XH TP.HCM. Tuy nhiên, sau đó gia đình bà nhận được thông báo bà chưa được lập hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng do đã… tái giá.”

Phải chi cái hồi giao “công tác cách mạng” cho hai đứa nhỏ (6 tuổi và 16 tuổi) mà Nhà Nước cũng xét (nét) kỹ càng như vậy thì đỡ cho mẹ Trần Thị M. biết mấy. Dù sao, vẫn còn có điều an ủi là nhờ đang sống ở thành phố mang tên Bác nên tờ trình về trường hợp của bà cũng đã được gửi tới Sở LĐ -TB&XH TP.HCM và đã được cứu xét (rồi) từ chối!

Có mẹ không nhận được danh hiệu anh hùng chỉ vì lỡ “chui rúc” ở những nơi hoang vu quá. Bên Kia Đèo Bá Thở là một nơi như thế :

“Trên bản đồ quân sự cũng như bản đồ của nha Ðịa Dư không bao giờ có địa danh ‘Ðèo Bá Thở’. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn… Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng qua bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu rừng toàn thị là tre, nứa, giang…

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã sập. Người chủ căn nhà lấy vài thân tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất. Tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam.

Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi ‘bá thở’. Chúng tôi nghe lục đục trong cái chòi bỏ hoang, và phát giác đuợc một cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày.

Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp. Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện, song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù ‘Ngụy’ nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Ðược vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều, chúng tôi để hai người lại sửa còn tám người vào rừng đốn tre cho đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt tranh về để dậm lại những chỗ quá mục nát. Căn nhà sửa xong, có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi :

– Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì hoà bình lâu rồi, nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả vào đâu.” (Hoàng Khởi Phong. “Bên Kia Ðèo Bá Thở.” Cây Tùng Trước Bão. Thời Văn, Hoa Kỳ: 2001).

Bà lão hẳn đã qua đời từ lâu. Những người lính thắng trận trên đường về quê (với con búp bê cầm tay) hơn 40 năm trước e cũng không còn mấy ai sống sót. Đám mẹ ngụy và lũ con thua cuộc cũng thế, cũng đều đã lần lượt đi vào lòng đất.

Kẻ Bắc/người Nam, bên thua/bên thắng nên họ đã phải trải qua những hoàn cảnh và kinh nghiệm sống khác nhau. Duy có điều này thì chắc chắc là hoàn toàn không khác: khi họ chết không ai nhắm mắt!

Nhà nước CSVN có chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc hay không?

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

1-5-2023

Đọc một số bài viết trên các trang mạng BBC, VOA, RFA… nhân nói về biến cố 30 tháng 4 năm 1975, ta thấy một số bài có nội dung phê bình việc nhà nước CSVN “nói mà không làm” về chủ trương “hòa giải dân tộc”. Năm nào cũng cũng có những bài viết tương tự như vậy chớ không phải đặc biệt năm nay.

Chuyện này không mới. Trong cộng đồng người Việt tị nạn thì mỗi khi có ai nói về “hòa giải hòa hợp dân tộc” tức khắc người đó bị chụp cho cái mũ “thằng đó Việt cộng”.

Điều này có thể thông cảm vì không thiếu tình trạng những người VNCH cũ quay đầu phục vụ cho CSVN. Những người này tuyên truyền trong cộng đồng người Việt nước ngoài về “chủ trương hòa giảỉ hòa hợp dân tộc” của đảng và nhà nước CSVN.

Sự thật ra sao? Sự thật theo tôi là nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương “hòa giải” (hay hòa giải hòa hợp dân tộc) với bất kỳ một đối tượng nào.

Cá nhân tôi nhiều lần rà tới rà lui, “đỏ mắt” đọc toàn bộ 70 năm “văn kiện đảng” cùng với “cả đống” các nghị định, các bộ luật của nhà nước CSVN mà không hề thấy bất cứ một văn kiện nào dính dáng, hay nói về vấn đề “hòa giải”.

Ngoại trừ diễn văn 15-5-1975 của Lê Duẩn – đăng trên báo Nhân Dân ngày 16-5-1975 có nói về “tinh thần” hòa giải hòa hợp dân tộc, nguyên văn như sau:

Với tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhân dân đã tỏ rõ lượng khoan hồng đối với tất cả những ai đã lầm đường lối, bất kể quá khứ của họ như thế nào, nay trở về với dân tộc. Miễn là họ thành tâm hối cải, thành tâm mang hết tài năng ra phục vụ Tổ quốc thì vị trí của họ trong lòng dân tộc sẽ được bảo đảm, mọi sự ô nhục mà kẻ tội phạm gây ra là đế quốc Mỹ sẽ được rửa sạch“.

Tôi nhấn mạnh chữ “tinh thần” trong câu “tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc”. “Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” khác với “chủ trương” HG&HHDT.

Những gì thuộc “chủ trương của nhà nước” (thí dụ chủ trương của nhà nước về HG&HHDT) thì chủ trương này luôn đi kèm với một hệ thống văn bản, hay một bộ luật (như Luật về Hòa giải quốc gia), để việc thi hành “có giá trị pháp lý ràng buộc”.

Còn “tinh thần” thì diễn giải sao cũng được, không có gì bó buộc hết cả.Tinh thần HG&HHDT của Lê Duẩn là sự khoan hồng đối với những người phục tùng đảng CSVN.

Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT).

“Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh.

Những động tác tuyên truyền của ban kiều vận, thông qua các cá nhân VNCH cũ, có mục đích khoác lên chủ trương “chiêu dụ” của CSVN bộ áo nhân văn mang tên “hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

Cá nhân tôi có đặt câu hỏi đến một số tác giả các bài viết liên quan. Không một ai đưa được bằng chứng về sự hiện hữu “chủ trương” hòa giải dân tộc của đảng, hay của nhà nước CSVN.

Một số người đưa bằng chứng là Nghị quyết 36. Theo tôi thấy có sự ngộ nhận.

Nghị quyền 36 về “Công tác đối với người Việt ở nước ngoài”, toàn bộ văn bản không hề có có chữ “hòa giải”. Ngay cả nội dung của nghị quyết 36 cũng không có đoạn nào có nội dung mang ý nghĩa “hòa giải” hết cả.

Bởi vì nội dung Nghị quyết 36 nói về chủ trương “Đại đoàn kết dân tộc”, hiện hữu từ thời Hồ Chí Minh.

Phần II, đoạn 1 Nghị quyết 36: “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Truyền thống “đại đoàn kết dân tộc” được áp dụng trong thời kỳ mới là gì? Đó là: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc“.

Vô số người miền Nam bị mất nhà, mất tài sản, thân bị tù tội hàng chục năm … Người bị qui vào tội “ngụy quân ngụy quyền”, người bị qui vào “tư sản”… Họ bị tước đoạt mọi của cải, tài sản mà không thông qua môt bản án nào.

Bây giờ thì nhà nước có chủ trương “kinh tế thị trường”, cho phép dân làm ăn như thời VNCH. “Làm chủ tài sản” ngày trước là môt trọng tội. Nay lại là một “quyền”. Chính sách của nhà nước phải nhứt quán. Không thể “lúc này lúc khác” được.

Vấn đề là những nạn nhân bị mất tài sản, mất đất đai, nhà cửa trước kia… không được nhà nước bồi thường thiệt hại.

Làm sao người ta có thể “xóa bỏ mặc cảm, định kiến để hướng tới tương lai”?

Không hòa giải, tức nhà nước CSVN không nhìn nhận sai lầm và sửa sai qua hình thức trả lại tài sản, hay đền bồi cho nạn nhân, thì làm sao người ta có thể “xóa bỏ định kiến”? Mà sự thật không phải là “định kiến”.

Chuyện “đánh tư sản” chỉ là một hạt cát trong sa mạc sai lầm của đảng và nhà nước CSVN.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà báo, các sử gia, học giả v.v… lại luôn nói rằng “chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc” là của nhà nước CSVN?

Còn trong “quần chúng nhân dân”, phe “cờ vàng” luôn qui kết những người bàn về “hòa giải hòa hợp dân tộc” là cộng sản.

Cá nhân tôi nhiều năm trước có chủ trương yêu cầu nhà nước CSVN phải ra một bộ luật về Hòa giải quốc gia. Mục đích “kế thừa danh nghĩa VNCH” để củng cố hồ sơ chủ quyền Hoàng sa và Trường Sa.

Ý kiến này đến với tôi sau khi tôi tham khảo tài liệu (La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées) của học giả Joele Duy Tân Nguyen, một giáo sư về Luật quốc tế ở Pháp. Những dòng cuối tập tài liệu, bà đặt câu hỏi (đại ý): Nhà nước CSVN hôm nay lấy tư cách nào để kế thừa di sản VNCH trong khi họ vẫn luôn gọi thực thể này là “ngụy”?

Không lẽ tôi cũng là VC?

Tôi không nghĩ tác giả các bài báo (nói chủ trương HG&HHDT là của nhà nước CSVN) có nhiệm vụ sơn son thiếp vàng chính sách “đại đoàn kết dân tộc” của CSVN.

Vấn đề là các tác giả, cũng như phe “cờ vàng”, có cùng mục đích với đảng và nhà nước CSVN.