Mâu thuẫn vì hát karaoke ồn ào, ông Phú Quốc đâm chết bạn nhậu

Báo Người-việt

June 12, 2023

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV)  Không ngủ được vì bị ông bạn nhậu mở loa kẹo kéo hát karaoke, một ông ở Phú Quốc đâm chết bạn nhậu khi người này hẹn ra giải quyết mâu thuẫn.

Theo báo Zing, khoảng 7 giờ sáng 11 Tháng Sáu, ông Trần Văn Thuận, 40 tuổi, ở phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, đến nhà bạn tại khu phố 6, phường Dương Đông, để nhậu.

Nghi can Trần Văn Thuận tại cơ quan điều tra. (Hình: Dương Đông/VNExpress)

Đến khoảng 9 giờ sáng thì ông Võ Văn Quí, 41 tuổi, ở thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, gọi điện thoại hỏi ông Thuận đang ở đâu, ông Thuận báo địa điểm và rủ ông Quí đến nhậu cùng. Sau đó, ông Quí chở thêm thùng loa kẹo kéo để góp vui.

Khi ông Quí đến thì ông Thuận nói đã say rượu. Ông Thuận uống với ông Quí một ly rồi nằm ngủ tại chỗ nhậu.

Một lúc sau, ông Quí lấy thùng kẹo kéo ra hát karaoke và làm ông Thuận không ngủ được, dẫn đến mâu thuẫn.

Khoảng một tiếng sau, ông Thuận chở bạn là ông Danh Tài ở huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, đi nhậu tiếp.

Đến khoảng 6 giờ 15 phút tối cùng ngày, nghĩ đến chuyện lúc sáng, ông Quí bực tức gọi điện thoại hẹn ông Thuận đến phía trước khu vực tòa án thành phố Phú Quốc đánh nhau.

Nhận lời, ông Thuận lấy xe gắn máy chở ông Tài từ Hàm Ninh về Dương Đông để đánh nhau với ông Quí. Trên đường đi, ông Thuận ghé vào tiệm Bách Hóa Xanh mua hai cây dao mang theo.

Hiện trường vụ án. (Hình: Zing)

Khi đến điểm hẹn, ông Thuận đậu xe đối diện, hai tay cầm hai cây dao lao vào đánh nhau với ông Quí. Tương tự, ông Quí cũng cầm dao Thái Lan ứng chiến. Trong lúc xô xát, ông Thuận đâm chết bạn rồi đến công an trình diện.

Sáng 12 Tháng Sáu, nghi can Trần Văn Thuận, đã bị Công An Thành Phố Phú Quốc bắt giữ về tội “giết người.” (Tr.N)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ba O Hà Tĩnh

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cuối cùng, Miến Điện cũng đã mở cửa với thế giới bên ngoài. Họ hơi bị chậm nên thực đơn trong hàng quán ở đất nước này – phần lớn – vẫn chỉ cứ in những dòng chữ Miến (ngoằn nghoèo, bí hiểm) và tuyệt nhiên không hề có hình ảnh gì minh hoạ đi kèm ráo trọi.

Thực khách, bởi thế, thường rất cô đơn (và vô cùng hồi hộp) khi phải đối diện với những lựa chọn khó khăn. Gọi lầm thức ăn là chuyện tự nhiên, và cũng thường xuyên, y như… cơm bữa.

Dĩ thực vi tiên!

Và (chắc) vì vậy nên sân bay Mandalay và Yangon trông đìu hiu thấy rõ, so với sự tấp nập và ồn ào của phi trường Don Mueang hay Suvarnabhumi của Thái.

Thực phẩm của Thái Lan thì khó ai có thể phàn nàn, nhất là người Việt. Gừng, nghệ, sả, riềng, tiêu tỏi, ớt hành, mắm muối… đều là những gia vị thân thuộc đối với khẩu vị của cả hai dân tộc này. Nhiều tiệm ăn bình dân ở thủ đô Bangkok còn thuê người Việt nữa.

Loanh quanh Vọng Các, tôi thử óc quan sát (cùng trực giác) của mình nhiều lần, và rất ít khi bị trật:

– O là dân Hà Tĩnh, đúng không?

– Dạ!

Tiếng “dạ” rụt rè, với nụ cười hiền lành và niềm vui (không dấu) trên nét mặt người đối diện khiến cho kẻ tha hương chợt cảm thấy có cảm giác ấm lòng. Đôi khi, tôi cũng trật nhưng chưa bao giờ xa quá:

– Dạ không, con ở Diễn Châu mà.

Hoặc:

– Cháu người Quảng Bình, chú à.

Hay:

– Không phải mô, quê con ở Huế tề.

Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Lan (Học Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á – The Institute of Southeast Asian Studies) có hơn năm trăm ngàn lao động Việt Nam ở nước ngoài, trong số này khoảng 50 ngàn người đang làm việc tại Thái Lan. Tất nhiên, chưa kể số người “làm chui” được gọi một cách lịch sự là những công nhân không có giấy tờ – undocumented workers.

Tuy là một lực lượng lao động đáng kể và cần thiết cho nước Thái, người Việt đến xứ sở này chưa bao giờ được đón nhận một cách đàng hoàng tử tế. Không những thế “nhiều kẻ còn bị bạc đãi bởi giới chủ nhân với đồng lương bóc lột, đến mức gần như phải làm việc trong môi trường nô lệ, và thường bị bắt bớ bởi giới chức có thẩm quyền” (many workers are underpaid, even to the point of almost slave labour conditions, mistreated by employers and often arrested by authorities) theo như nhận xét (“Vietnamese workers in Thailand: lesser known but valuable labour source”) của Christopher F. Bruton – Executive Director of Dataconsult Ltd – đọc được trên Bangkok Post hôm 21 tháng 7 năm 2016.

Ở ngoại ô Vọng Các, trong khu chợ Yong Charoen, có một cái quán (không biết tên CHI) mà cả ba cô giúp việc đều là người Hà Tĩnh nên tôi gọi là “Quán Ba O.” Chúng tôi hay đến đây vì gần chỗ trọ, vì giá cả vừa phải, và vì được “cố vấn” về những món nhậu (ngon rẻ) cùng với thái độ thân thiện của những o đồng hương rất hiền ngoan và vô cùng chân chất.

Cứ nhìn thấy Ba O Hà Tĩnh, cùng nụ cười rất tươi tuy hơi bẽn lẽn là tôi lại nhớ đến bốn câu thơ của Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Quán mở cửa từ 11 giờ sáng đến tận khuya. Nhiều đêm không làm việc được, tà tà ra quán uống vài ly, chúng tôi vẫn thấy “Ba O Hà Tĩnh” đang tất bật với những công việc chả nhẹ nhàng gì: lau dọn, rửa chén, chạy bàn… Hỏi thăm mới biết là dù làm việc đủ bẩy ngày một tuần, mỗi ngày trên 12 tiếng, hàng tháng cả ba chỉ được trả số tiền vô cùng khiêm tốn (200 Mỹ Kim) chỉ bằng nửa số lương tối thiểu – theo qui định hiện thời của Bộ Lao Động Thái.

Điều an ủi là chủ quán cho ở trọ không phải trả tiền nhà, và chuyện ăn uống tại chỗ – tất nhiên – cũng hoàn toàn miễn phí. Nhờ vậy, tiền công của cả ba o đều gửi hết về quê để nuôi mấy đứa em và bố mẹ già. Ở Hà Tĩnh, theo lời của họ: “Biết làm chi cho ra tiền được!”

Hà Tĩnh Không chỉ nổi tiếng về đói nghèo, và “hầu như năm nào chính quyền cũng than thở là phải ‘còng lưng’ xin gạo.” Địa phương này còn được cả thế giới biết đến “về sự cố môi trường biển” và là nơi chôn lấp chất phế thải của công ty Formosa.

Tuy thế, Báo Hà Tĩnh (số ra ngày 24 tháng 10 năm 2016) vẫn hớn hở cho hay:

“Các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới, những nhân sự đứng đầu Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… đều là người Hà Tĩnh. Người Hà Tĩnh không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người.”

Giới tinh hoa của Hà Tĩnh, rõ ràng, hơi đông. Số người dân lưu lạc của tỉnh này cũng thế, cũng đông hơn rất nhiều nơi khác. Dường như có tỉ lệ thuận giữa con số “bộ trưởng, tư lệnh ngành, và ủy viên Trung ương trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng” của Hà Tĩnh với đám con dân của địa phương này đang phải sống đời lưu lạc.

Thảo nào mà dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận với hạn từ “tinh hoa” khi chuyển ngữ:

Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng. Ví dụ, người nước ngoài khi nói về giới viết lách ở VN có thể sẽ coi Đoàn Hương, Hữu Thỉnh, Hồng Thanh Quang, Tạ Bích Loan… là nhóm elite trong văn giới, hay Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng là nhóm elite trong chính trị…, nhưng nếu mình dịch lại thì mình chỉ viết “thuộc giới ăn trên ngồi trốc” mà thôi.

Dịch thuật như thế e hơi thiếu phần “thanh lịch” nhưng thực khó mà gọi đám người hiện đang cầm quyền ở Việt Nam (nói chung) và mười mấy vị Ủy Viên Trung Ương Đảng của Hà Tĩnh (nói riêng) bằng một hạn từ khác được. Tiểu luận (“Những Cơ Hội & Thách Đố Cho Lao Động Di Dân Việt Nam Tại Thái Lan”) của Linh Mục Antôn Lê Ngọc Đức, SVD, còn cho thấy rằng họ không chỉ là “bọn ăn trên ngồi trốc” mà còn là “đám ăn không ngồi rồi” nữa:

“ … hầu hết đến từ các tỉnh miền bắc và miền trung, trong đó Hà Tĩnh và Nghệ An chiếm phần đa số. Ngoại trừ một số trường hợp, hầu hết xuất thân từ những gia đình nông thôn…

Tính chất của một số công việc mà các lao động di dân Việt Nam làm tại Thái Lan lệ thuộc phần nào về tuổi tác và giới tính. Những công việc như xây dựng (cọ xang), trông bãi xe (rắp rốt), tẩm quất trong phòng vệ sinh nam (nuad hong nám) chỉ dành cho lao động nam. Các công việc giúp việc nhà (mae ban), chăm sóc người già trẻ con trong gia đình chủ thuê, bán hoa hồng dạo… thường dành cho lao động nữ.

Ngoài ra những công việc như may quần áo (yep pha), bán dạo (kem, trái cây, nước giải khát), mở quầy hàng (áo quần, thức ăn, hoa quả…), bán hàng trong các cửa tiệm bán lẻ… thì cả lao động nam và nữ đều tham gia…

Đối với lao động từ các nước như Lào và Miến Điện được đăng ký hợp pháp, mỗi người được cấp một thẻ bảo hiểm sức khỏe để được điều trị tại bệnh viện chính phủ với những quyền lợi tương đương với công dân Thái. Tuy nhiên đối với công nhân Việt Nam thì mỗi khi lâm bệnh hoặc gặp tai nạn và đi điều trị tại bệnh viện thì phải tự túc hoàn toàn.”

Hà Tĩnh có nhân sự đứng đầu Bộ Y Tế, Bộ Kế Hoạch/ Đầu Tư, Bộ Tài Nguyên/ Môi Trường, Ngân Hàng Nhà nước và cả đống Ủy Viên Trung Ương Đảng mà năm nào cũng ngửa tay đi xin gạo, và con dân địa phương thì phải tha phương cầu thực khắp nơi (làm việc như nô lệ ở xứ người) để có tiền gửi về nhà cứu đói thì có hãnh diện chi mà khoe khoang về cái “bọn ăn trên ngồi trốc” và cái “đám ăn không ngồi rồi” này!

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Nước mắt Tây Nguyên

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà báo Bùi Tín, khi vui, tâm sự: “Có người nói đùa một cách chua cay rằng trên báo Nhân dân chỉ có tin dự báo thời tiết là có thể tin cậy phần nào (vì vẫn có trường hợp dự báo sai), có thể tin tưởng được hoàn toàn là tin buồn, tin cáo phó.” (Bùi Tín, Hoa xuyên tuyết, 2nd ed. Turpin Press, 1994, 42)

Dù đã rào đón (trước) đây chỉ là một cách nói đùa, kiểu đùa cợt của ông – ngó bộ – hơi kỳ, và cũng hơi… quá đáng! Nói nào ngay, ngoài tin thời tiết và tin buồn, cơ quan ngôn luận (chính thức) của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – đôi lúc – cũng loan những tin tức khác, với độ khả tín và khả xác rất cao. Xin đơn cử một thí dụ:

Về số lượng học sinh sắc tộc được tuyển chọn vào đại học, nhật báo Nhân dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã ghi:“Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Đáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.”

Đã có lúc tôi cứ ngỡ đây là con số đại biểu quốc hội, của những nhóm đồng bào sắc tộc, chứ không phải là số lượng “học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào các trường đại học”. Vì nghi ngại có sự “lầm lỗi của ấn công”, tôi đã gửi điện thư đến toasoan@nhandan.org.vn (nhiều lần) để xin xác minh về vấn đề này. Thư cứ đi nhưng tin không lại.

Mãi cho đến mấy hôm gần đây, sau khi đọc bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc (www.diendan.org, ngày 20 tháng 8 năm 2008), tôi mới biết chắc rằng tin tức mà báo Nhân dân đã loan là (vô cùng) chính xác. Chuyện tôi yêu cầu tòa soạn xác nhận, đính chính, cáo lỗi, hay thanh minh (thanh nga) là việc – rõ ràng, và hoàn toàn – vớ vẩn.

Theo như cách nói của người dân Tây Nguyên thì Nguyên Ngọc là một già làng – trong làng văn và làng báo Việt Nam – với tất cả những đức tính mẫu mực, đáng quý của một người cầm viết: tài năng, uyên bác, đức độ, dũng cảm, và khả tín.

Ông viết: “Người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…” Thế mới biết các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng, Thổ Chỉ, Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí… còn may mắn chán. Dân số của họ chắc chắn phải còn hơn tám mươi người. Nếu không, làm sao còn có được một (hay hai) học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học!

Nếu có ai thắc mắc, sao giữa thời đại “bùng nổ nhân số”, nhân loại đẻ đái tùm lum mà ở Việt Nam lại có những sắc dân chỉ còn sót lại vài chục mạng (loe ngoe) như thế… thì xin thưa: đó lại là chuyện khác, dài dòng hơn chút đỉnh. Muốn biết thêm chi tiết, xin vui lòng đọc tiếp – vài đoạn trích dẫn (rút ngắn) từ bài viết rất thấu đáo và cô đọng, dài chừng 30 trang đánh máy khổ 8×11 – của nhà văn Nguyên Ngọc:
“Từ sau năm 1975, đối với Tây Nguyên chúng ta có hai chủ trương chiến lược:

  • Xây dựng Tây Nguyên thành một địa bàn vững chắc về an ninh và quốc phòng.
  • Xây dựng Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước.

Để thực hiện chủ trương chiến lược đó, đã :

  • Tăng cường lực lượng lao động lớn cho Tây Nguyên bằng cách tiến hành một cuộc đại di dân chưa từng có, chủ yếu từ đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên…
  • Tổ chức toàn bộ Tây Nguyên thành các đơn vị kinh tế lớn… Toàn bộ đất và rừng ở Tây Nguyên được quốc hữu hoá, được lấy giao cho các binh đoàn làm kinh tế, các LHXNLCN, các nông trường, lâm trường, và giao cho dân di cư từ đồng bằng lên. Người bản địa chỉ còn phần đất thổ cư và một ít đất làm rẫy.”

Hệ quả, hay nói đúng ra là hậu quả của “hai chủ trương chiến lược” này, vẫn theo nhận xét của Nguyên Ngọc – có những chữ in đậm, như nguyên bản – như sau:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.
  4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng có đề cập đến những “lời cảnh báo sớm của một nhóm nghiên cứu về tình hình Tây Nguyên”, cùng với lời giới thiệu trang trọng:
“Năm 1997, một nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam gồm các tác giả Vũ Đình Lợi (nay đã mất), Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng đã hoàn thành một công trình có tên là Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên, được giáo sư Đặng Nghiêm Vạn viết lời giới thiệu vào năm 1999, và ấn hành tại nhà xuất bản Khoa học Xã hội vào năm 2000. Sau khi đã trình bày các dữ liệu, phân tích toàn diện và tỉ mỉ tình hình đất và rừng ở Tây Nguyên từ sau năm 1975, các tác giả đã đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ như sau :

‘Sẽ là không quá sớm khi đưa ra lời cảnh báo rằng nếu không kịp thời có giải pháp khắc phục những khiếm khuyết của quá trình khai thác và sử dụng đất đai thì ‘vấn đề dân tộc’ sẽ rất có thể phát sinh trong thực tế nay mai ở Tây Nguyên, chí ít là mất ổn định, nghiêm trọng là máu lại đổ, với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.

Đây thật sự là một lời cảnh báo đầy trách nhiệm, trung thực, dũng cảm và đã được chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Rất tiếc là nó đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai, thậm chí cả sau khi những điều cảnh báo đã thành hiện thực!

Như vậy, sau hơn 30 năm triển khai, hai mục tiêu chiến lược được đề ra từ đầu đối với Tây Nguyên đã không thực hiện được. Tây Nguyên đã trở thành một vùng mất ổn định nhất trong cả nước; và việc xây dựng một vùng trọng điểm phát triển kinh tế trên một cơ sở mất ổn định như vậy chắc chắn không thể bền vững. Lãnh thổ tuy có được phát triển – cũng là một cách méo mó – nhưng chủ nhân của lãnh thổ thì bị bần cùng hoá và bế tắc. Tìm một con đường khắc phục những thực trạng đó hiện nay ở Tây Nguyên đã trở nên rất khó khăn.”

Ở góc nhìn của một kẻ hậu sinh (sinh trưởng nơi vùng cao nguyên Lâm Viên) tôi thành thực tin rằng chuyện “tìm một con đường khắc phục những thực trạng khó khăn ở Tây Nguyên” sẽ còn khó khăn hơn nữa, nếu vấn đề vẫn được nhìn theo nhãn quan của những nhà nghiên cứu thuộc Viện Dân Tộc Học – như nhà văn Nguyên Ngọc vừa trích dẫn: “Với sự can thiệp vừa kín đáo, vừa trắng trợn của kẽ thù dưới chiêu bài bảo vệ người dân tộc, bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Một khi vấn đề dân tộc và tôn giáo quyện vào nhau thì nguy cơ tới thật khó lường.”

Ủa, chớ quí vị nói đến “kẻ thù” nào vậy cà? Và “kẻ thù,” cũng như “nguy cơ, của ai mới được chớ? Của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của những nguời dân cùng khổ, bất hạnh ở Tây Nguyên?

Coi: đất đai thì mất trắng, môi trường bị tàn phá, văn hoá bị hủy hoại, xóm làng xơ xác tiêu điều, ngơ ngác đói khát trên mảnh đất quê hương ngàn đời của chính mình, không còn lối thoát nào khác nên cuối cùng người dân Tây Nguyên phải nổi dậy. Sau đó, họ bị đàn áp, săn đuổi (và săn đuổi đến cùng) như thú vật giữa rừng hoang – theo như tường thuật của đặc phái viên Nguyễn Khanh, thuộc đài tiếng nói Á châu Tự do, nghe được hôm 4 tháng 5 năm 2004:

“Hiện có một số người Thượng đang lẩn trốn trong rừng sâu ở tỉnh Mondulkiri nằm sát biên giới với Việt Nam. Những người này từ Tây Nguyên băng rừng sang đến Xứ Chùa Tháp hơm 16 tháng trước, tức sau cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo ở Dak Lak và Gia Lai…

Ðiều không mấy ai biết là trước đó vài ngày, công an địa phương cũng đã bắt giữ một số người Thượng, cáo buộc họ hoạt động chính trị, âm mưu lật đổ nhà cầm quyền. Một vài người trong số này may mắn trốn ra khỏi tù và nhanh chân chạy được vào rừng sâu chạy sang Kampuchea…

Ðiều này được chính các viên chức địa phương Cambodia xác nhận, đồng thời nói thêm là phía Hà Nội treo giải thưởng, cứ mỗi người Thượng trao trả lại cho Việt Nam sẽ được thưởng 125 đô la Mỹ. Với phần đông dân chúng Kampuchea thì đây là một số tiền lớn và khoản tiền thưởng này chính là động lực thúc đẩy binh sĩ, cảnh sát Mondulkiri truy lùng những người Thượng đang lẩn trốn trong địa phương của họ.”

Kẻ ở lại thì bị bị “đấu tố” bằng cách ép buộc phải đứng nhận tội trước làng, và những quan chức địa phương, thề phải ngưng liên lạc với người ngoài, và từ bỏ tôn giáo của mình (Villagers who had participated in the February 2001 demonstrations were forced to stand up in front of their entire village and local authorities to admit their wrongdoing, pledge to cease any contacts with outside groups, and renounce their religion. – “Vietnam’s Repression of Montagnard”, Human Rights Watch Press, New York, April 23, 2002)

Không lẽ trên đời này còn có loại “kẻ thù” nào khác, tàn ác và đáng sợ hơn thế nữa, hay sao?

Và vì quí vị đã nhắc đến hai chữ “kẻ thù”, tôi cũng xin phép được nói luôn: sống với những người cộng sản Việt Nam thì có bao giờ mà thiếu… kẻ thù, bất kể vào thời bình hay thời chiến. Chỉ có điều khác biệt là vào thời chiến thì họ động viên toàn dân xáp vào để đánh, chỉ còn cái khố cũng (phải) đánh, nhưng đến thời bình thì Đảng và Nhà Nước lại dành độc quyền bắt tay làm hoà (và… làm tiền) với kẻ thù!

Tôi xin lỗi vì nóng giận (và mất bình tĩnh) nên đã đi hơi xa vấn đề cần bàn, chút xíu. Xin được trở lại với bài viết “Phát triển bền vững ở Tây Nguyên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Nơi phần kết luận, ông đã trích dẫn một câu nói “ để đời” (của nhà dân tộc học Jacques Dournes) khi nghiên cứu về các dân tộc miền núi Nam Đông Dương: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.” (*)

Chính Nguyên Ngọc cũng viết thêm đôi dòng chữ ưu ái và thân ái chí tình, về mảnh đất này: “Đối với Tây Nguyên, cần một sự hiểu biết và một tình yêu đầy sự tôn trọng thật sự, một sự tôn kính chân thành và đầy ưu tư đối với một vùng đất và một vùng văn hoá vào loại độc đáo nhất còn lại trên đất nước ta và trên thế giới ngày nay.”

Thương yêu, hiểu biết, tôn kính, chân thành, tận tụy… – theo như quan niệm nhân bản của Jacques Dournes hay Nguyên Ngọc – đều là những thứ tình cảm (vô cùng) xa xỉ, chưa bao giờ thấy được ở Tây Nguyên, kể từ khi vùng đất này “được hoàn toàn giải phóng.” Xin lược thuật một vài sự kiện chính, để thấy lòng dạ “chân thành” hay “tôn kính” của những quan chức cộng sản nơi vùng sơn cước, cũng như tâm tình (chán ngán) của người dân bản địa đối với Nhà nước – ra sao?

Ngày 6 tháng 9 năm 2002, hãng thông tấn AFP loan tin nhà đương cuộc Hà Nội đã bắt giữ khoảng 30 người Thượng – sau khi họ tham dự vào một cuộc biểu tình phản đối chính phủ tại làng Sao, huyện Madrak, thuộc tỉnh Dac Lak. Tuy nhiên, khi được hỏi về biến cố này, ông Nguyễn Văn Lạng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Dac Lak – đã lắc đầu quầy quậy:” Làm gì có biểu tình, bất ổn hay bắt bớ những người dân thiểu số trong thời gian gần đây. Không, tuyệt đối là không có…” (There have been no demonstration, unrest or arrest of any ethnic minorities in recent days. No, absolute, not… – theo như tường thuật của AFP, vào ngày 6 tháng 9 năm 2002, “Demonstrators Arrested in Vietnam’s Central Highlands”.)

Tưởng ai xa lạ, chớ ông Lạng thì tôi đã có lần nhìn thấy hình trên tờ Việt Mercury (trang 44, số phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2001) khi ông ấy đang trả lời phỏng vấn, về những biến động xẩy ra ở Dac Lak – hồi tháng 2 năm 2001. Bữa đó ông Lạng cũng nhún vai, bầy tỏ một thái độ (thản nhiên) tương tự: “Ðấy chả qua chỉ là những vụ cãi vã giản dị về văn khế đất đai tại hai ngôi làng mà thôi… Con số của người biểu tình đã tăng lên là do sự thổi phồng của những tay cực đoan phản cách mạng!”

Cái được ông Nguyễn Văn Lạng mô tả là “những vụ cãi vã giản dị… giữa hai ngôi làng”, theo như những nguồn tin đáng tin cậy khác, gồm “nhiều ngàn nông dân đã xử dụng vũ khí – phần lớn là cuốc xẻng và dao rựa – để đấu tranh chống lại sự thối nát của của Ðảng Cộng sản và những chính sách của chính phủ về chuyện đất đai (Credible reports suggest that several thousand peasants took up arms – mostly shovels, hoes and machetes – to do battle over Communist Party corruption and government policies on land use, theo như tường thuật của Mark Mc Donald [từ Việt Nam] qua bài báo “Peasants Battling Hanoi Over Land In Central Highlands Fight Over Premier Coffee-Growing Region Taking On Political And Religious Overtones”, San Jose Mercury News, 26 Feb 2001, A10.)

Sau đó, ai cũng biết là Hà Nội phải huy động cả lực lượng công an cũng như bộ đội và đã xử dụng đến trực thăng để uy hiếp và truy lùng những kẻ đã tham dự vào “những vụ cãi vã giản dị” này. Hàng trăm người Thượng đã bị bắt giữ, hàng ngàn người khác đã bị truy nã. Họ đã chạy sang Cao Miên xin tị nạn.

Theo lời bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao, đọc được tên báo Nhân dân – số ra ngày 7 tháng 3 năm 2002 – đây là những kẻ “do bị kích động, lừa gạt nên đã vượt biên trái phép sang Cam-pu-chia”. Một tuần lễ sau, hôm 13 tháng 3 năm 2002, khi được hỏi về thái độ của chính phủ Việt Nam đối với những người này, bà Phan Thúy Thanh đã nói với phóng viên David Brunstrom của hãng thông tấn Reuters rằng “thật đáng tiếc là chỉ có 15 người dân thuộc sắc tộc thiểu số từ Cam Bốt đã được Cao uỷ Tị nạn giao trả lại cho Việt Nam, mặc dù hầu hết họ đều có ‘khát vọng nóng bỏng’ được hồi hương” (‘the burning desire’ of most of them to come back.).”

Bà Thanh, rõ ràng, nói láo! Sự thực, khi được cho phép định cư ở một quốc gia đệ tam, không một ai trong số 905 người Thượng tị nạn tại Cao Miên đã thực hiện “cái khát vọng nóng bỏng được hồi hương” – như bà Thanh đã bịa đặt ra như vậy. Tất cả đều đã xin tị nạn và đã được phép định cư ở Hoa Kỳ, từ tháng 6 năm 2002.

Mấy năm sau, vào ngày 10 tháng 4 năm 2004, một cuộc biểu tình vĩ đại khác diễn ra tại Tây Nguyên. Lại đàn áp, trốn chạy, thương tích, tử vong…, không khác gì lần trước. Và cũng như lần trước, khi bị chất vấn về con số thương vong của người thiểu số, ông Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao – người kế nhiệm bà Thanh – cũng đã lắc đầu nguây nguẩy là “hoàn toàn không có ai bị đánh chết ở Buôn Ma Thuột như tin của Human Rights Watch. Chúng tôi cực lực bác bỏ tin này.”

Theo truyền thống của Nhà nước CHXHCNVN thì (ta) cứ “cực lực bác bỏ” – nghĩa là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt, chối hết – là kể như… xong chuyện, và hết chuyện! Truyền thống này, tiếc thay, hơi khó giữ vào thời đại thông tin.

Bởi vậy, mấy bữa sau, ngày 17 tháng 4 năm 2004, ông Phạm Thế Duyệt – Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc – đành phải miễn cưỡng nhận rằng: “Chỉ có hai người trong số những người cố ý gây rối trật tự công cộng bị chết do chính họ ném đá vào nhau. Ngoài ra, còn có vài chục người bị thương trong các cuộc ẩu đả lẫn nhau.”

Ý, giàng ơi! Sao khi khổng khi không cái hàng chục ngàn người Thượng, bỏ buôn làng, kéo vô thành phố, chia làm hai phe, dàn hàng ngang rồi “ném đá vào nhau” và “ẩu đả lẫn nhau” cho… tới chết luôn – như vậy, hả trời? Nói (đại) như vậy mà nói được sao, cha nội? Cũng như bà Thanh, và ông Dũng, thằng chả – rõ ràng – cũng nói láo như… ranh. Thiệt là thầy chạy!

Mà người dân miền núi thì không quen dối trá. Họ không thể tiếp tục sống mãi với những kẻ (cứ mở mồm ra là) nói láo xoen xoét như thế. Bởi thế, sau khi trốn thoát được đến Cao Miên, theo tường thuật của BBC, nghe được vào hôm 21 tháng 7 năm 2004, ông Ralampee – một người tị nạn từ Tây Nguyên – đã nói với phóng viên của hãng tin Reuters rằng: “Tôi thà chết ở đây, chứ không trở lại Việt Nam và chết ở nơi đó (I would be happy to die right here, rather than go back to Vietnam and die there).”

Ông Ralampee không phải là người đầu tiên, cũng không phải là kẻ cuối cùng (hay duy nhất) đã bầy tỏ một thái độ quyết liệt như vậy. Có hàng trăm ngàn người dân miền núi, và hàng triệu đồng bào của họ ở miền xuôi, cũng đã dùng đến sinh mạng của mình để bỏ phiếu (bằng chân hoặc bằng thuyền) theo phương cách tương tự.

Tai hoạ mà cộng sản mang lại đâu chỉ giới hạn ở Tây Nguyên. Hãy đọc lại, một lần nữa, những vấn đề mà nhà văn Nguyên Ngọc vừa nêu xem. Xin vẫn được in đậm, theo nguyên bản:

  1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn;
  2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên;
  3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng;
  4. Người bản địa bị mất đất;
  5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một.

Chớ có cái làng quê nào ở miền Bắc mà không “tan vỡ”, sau Cải cách Ruộng đất? Có dòng sông nào, khu rừng nào – xuyên suốt cả hai miền đất nước – không bị ô nhiễm, tàn phá, hủy hoại chứ đâu có riêng chi môi trường ở Tây Nguyên?

Dù chính sách hợp tác xã nông nghiệp không được thực thi ở miền Nam, chủ trương xây dựng lâm trường và nông trường cũng khiến cho vô số người dân miền xuôi mất trắng đất hết đai. “Tiếng kêu giữa rừng U Minh Hạ” (được ghi lại bởi phóng viên Hoàng Trí Dũng, đọc được trên Tuổi trẻ Online, vào ngày 18 tháng 9 năm 2005) nghe cũng ai oán, và thảm thiết đâu có khác gì tiếng nấc của núi rừng ở Tây Nguyên:

Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tơi bị ‘sốc’ như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…

Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

[…]

Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện…”

Tương tự, “văn hóa bị mai một” hay suy đồi là “tình trạng chung của cả nước,” chớ đâu có riêng chi ở Tây Nguyên! Tôi cũng chả thấy có sự dị biệt nào giữa hai cuộc biểu tình của dân chúng ở Tây Nguyên, với những cuộc biểu tình ở các tỉnh đồng bằng: Thái Bình, Đông An, Nam Hà, Nghệ An, Trà Cổ… Tựu trung, đó chỉ là những phản ứng tự nhiên của những người dân chân chất – khi bị dồn đến chân tường, thế thôi.

Và tôi e rằng đa số người dân đã bị dồn đến chân tường rồi. Trước tình trạng này những đề nghị phát triển , hay “phát triển bền vững”, đều bất khả thi. Kinh nghiệm của nạn nhân cộng sản, ở những quốc gia khác, cho thấy là thể chế này chỉ có thể thay thế chứ không thể nào thay đổi được

Còn làm thế nào thay thế được nó thì (sorry) tôi không biết. Và đây, chắc chắn, cũng không phải là “chuyện riêng” của người dân miền núi chúng tôi. Tây Nguyên, nghĩ cho cùng, chỉ là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ, với những nét khắc khốc liệt và tàn bạo hơn (đôi chút) thế thôi.

K’ Tien
10/2008

(*) Jacques Dournes còn có bút danh là Dam Bo, tác giả công trình nghiên cứu Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương, được giới thiệu vào đầu năm 1950, trên Tạp chí Pháp – Á (France-Asie 49-50 Numero Special Consacre aux Populations Montagnardes du Sud-Indochinois: Saigon,1950) và đã được chuyển dịch là Miền đất huyền ảo, một cách hết sức gẫy gọn và tài hoa bởi nhà văn Nguyên Ngọc.


 

Công ty lính đánh thuê Wagner từ chối ký hợp đồng với bộ Quốc Phòng Nga

RFI

Thêm một rạn nứt giữa công ty lính đánh thuê Wagner và quân đội Nga : ông chủ của công ty, Evguéni Prigojine, hôm Chủ Nhật 11/06/2023, tuyên bố không một binh sĩ nào của Wagner « ký hợp đồng » với quân đội Nga.

Đăng ngày: 12/06/2023

Evgueni Prigojine (giữa) cùng với các lính đánh thuê của Wagner, tại một địa điểm không rõ trong mặt trận trận ở Ukraina. Hình cắt từ video của Wagner công bố ngày 05/05/2023. via REUTERS – PRESS SERVICE OF “CONCORD\

Thanh Hà

Phát biểu này được đưa ra một ngày sau khi bộ trưởng Quốc Phòng Nga Serguei Choigu ra lệnh cho tất cả « lính tình nguyện » từ nay đến cuối tháng 6/2023 phải trình diện và ký hợp đồng với bên quân đội.

Theo Reuters, giới quan sát cho rằng quyết định của bộ Quốc Phòng Nga chủ yếu nhắm vào lực lượng lính đánh thuê Wagner trong tay Evguéni Prigojine.

Bộ trưởng Quốc Phòng Serguei Choigu cách nay hai hôm giải thích, với hợp đồng này, lính của Wagner sẽ được hưởng những quyền lợi, được trả lương tương tự như lính chính quy. Đồng thời trong bối cảnh Ukraina đã bắt đầu « phản công », sự kết hợp với bên quân đội sẽ nhằm giúp nâng cao hiệu quả trong các hoạt động quân sự.

Thế nhưng lãnh đạo Wagner, ông Prigojine đã lập tức bác bỏ khả năng này khi cho rằng đội quân do ông lãnh đạo sẽ « mất hẳn tính tinh nhuệ » một khi được đặt dưới trướng của Serguei Choigu. Chủ nhân Wagner không còn che dấu hiềm khích với bộ trưởng Quốc Phòng của Vladimir Putin khi cho rằng Choigu bất tài và « không đủ khả năng lãnh đạo một cách đúng đắn » các đơn vị quân sự.

Hãng tin Reuters nhắc lại đây không là lần đầu tiên lãnh đạo Wagner trực tiếp nhắm vào ông Choigu và bộ Quốc Phòng Nga.

Ngày giỗ lần thứ 40 của anh Nguyễn Văn Hoàng

Tandaiviet.org

Ngày đất nước được Tự Do, thanh bình trở lại, Dân Tộc sẽ ghi công Anh Nguyễn Văn Hoàng và các liệt sĩ khác của Ðảng TÐV cùng tất cả các Tổ chức yêu nước khác đã hiên ngang nằm xuống vì Tự Do, Dân Chủ cho quê hương Việt Nam thân yêu. BBT

Lê Minh Nguyên

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 40 của anh Nguyễn Văn Hoàng, một người sếp kính quý của tôi ở Phòng Thuế Vụ Gò Vấp, một đồng chí can trường trong đảng Tân Đại Việt, một nhà ái quốc hiên ngang và dũng cảm.

Nguời chết chỉ thực sự chết đi khi không còn ai nhắc gì đến họ nữa. Trong ý nghĩa đó, anh vẫn sống cùng Anh Em và Dân Tộc.

Xin thắp một nén hương để tưởng nhớ anh – ngày anh bị CS sát hại 31/5/1983.

Tưởng Niệm Nhà Chí Sĩ Nguyễn Văn Hoàng
(18/10/1947 – 31/5/1983)

Anh Nguyễn Văn Hoàng tự Nguyễn Chính Nghĩa sinh tại Biên Hoà trong một gia đình nghèo có 8 anh em mà anh Hoàng là anh cả. Anh có một vợ ba con và cha mẹ già cần phụng dưỡng.

Khi còn học tiểu học, anh vừa đi học anh vừa đi bán quà vặt để giúp gia đình. Khi học trung học, anh là học sinh xuất sắc của trường Trung Học Ngô Quyền, Biên Hoà và được giải thưởng danh dự của Tổng Thống VNCH trao tặng. Khi xong tú tài toàn phần, anh học Đại Học Khoa Học Sài Gòn, đến năm thứ ba anh được học bổng chính phủ để đi học ngành hoá học ở Algeria. Nhưng vì có cha mẹ già cần phụng dưỡng, và các con trong gia đình cần cha dạy dỗ, nên anh bỏ dở chương trình du học này để thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Ban Tham Sự khoá 4. Trong khi học QGHC, anh còn học thêm tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn ban Tư Pháp. Anh tốt nghiệp QGHC năm 1969 và được bổ nhiệm làm việc ở Ty Thuế Vụ Quận I thuộc Tổng Nha Thuế Vụ.

Cuối năm 1969, thi hành lệnh động viên, anh nhập ngũ khoá 2/1969 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và sau đó về làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH. Hai năm sau, anh được biệt phái về Tổng Nha Thuế Vụ và làm Trưởng Phòng Thuế Vụ Quận Gò Vấp – Lê Minh Nguyên biết anh ở đây khi về làm việc dưới quyền anh. Ban đêm anh đi làm bán thời gian trong vai trò giáo sư phụ khảo cho trường Cao Đẳng Thương Mãi Minh Trí. Chức vụ sau cùng của anh là Trung Uý Quân Lực VNCH được biệt phái về Tổng Nha Thuế Vụ và được bổ nhiệm làm Phó Ty Thuế Vụ Tỉnh Gia Định.

Trong thời gian anh làm Trưởng Phòng Thuế Vụ Quận Gò Vấp, Lê Minh Nguyên có mời anh và hai nhân viên khác tham gia Đảng Tân Đại Việt do GS Nguyễn Ngọc Huy lãnh đạo. Anh trực thuộc Biệt Bộ Lê Trí Vị, một biệt bộ công chức của TĐV.

Anh tốt nghiệp cử nhân ban tư pháp trường Đại Học Luật Khoa SG năm 1973, GS Nguyễn Văn Ngôn làm Chánh Chủ Khảo. GS Ngôn là cố vấn của Tổng Đoàn Sinh Viên Cấp Tiến và là ca sĩ bài Đường Xưa Lối Cũ của Tổng Đoàn khi có sinh hoạt văn nghệ.

Sau ngày 30/4/1975 anh bị đi tù tại trại 15-NV ở Long Thành. Đến tháng 11/1975 vì CSVN bị lúng túng trong vấn đề thiếu chuyên viên thuế vụ phụ trách việc thu thuế ở Miền Nam nên anh được tha nhưng bị quản chế 6 tháng để làm việc cho họ trong lãnh vực chuyên môn này.

Sau 6 tháng anh xin nghỉ việc và đứng ra thành lập Tổ Hợp Nông Sản, nhưng đó chỉ là mặt nổi bên ngoài, bên trong là tổ chức chính trị có tên là Binh Đoàn Lê Văn Duyệt. Đến tháng 10/1977 anh bị bắt, nhưng đến tháng 3/1978 anh được thả ra vì CS không khai thác được gì.

Ra tù anh tiếp tục hoạt động ngấm ngầm cho đến ngày 4/2/1979 tức vào ngày mùng 4 Tết Kỷ Mùi, anh cùng một số bạn bè thành lập tổ chức kháng chiến có tên là Mặt Trận Tự Do Cứu Quốc Việt Nam, có cơ sở chính tại Sài Gòn và chính anh là chủ tịch. Mặt Trận này có địa bàn hoạt động từ miền Đông qua chiến hữu Trần Quang Mẫn, cho đến miền Tây qua chiến hữu Nguyễn Văn An ở vùng Long Xuyên, Rạch Giá.

Ngày 27/4/1979, trên đường về chiến khu miền Tây, anh và các chiến hữu bị bắt, do sự phản bội của một người trong tổ chức có tên là Nguyễn Hải Đăng chỉ điểm.

Ngày 11/8/1981 anh bị toà Sơ Thẩm Nhân Dân CSVN tại Sài Gòn kết án tù chung thân. Trước toà anh hiên ngang và dũng cảm đối đáp với chánh án, gọi họ và nhà cầm quyền Hà Nội là tay sai bán nước, đưa nhân dân vào cảnh bần cùng đói rách, bóp nghẹt tự do dân chủ. Lúc quá căm phẩn, anh đã bất thần hô to “Đả đảo Cộng Sản! Đả đảo Hồ Chí Minh!” ngay trước phiên toà. Bị sỉ nhục quá bất ngờ, CS liền dùng bán súng đánh anh quỵ ngay tại chỗ. Sau đó họ xin lệnh Hà Nội để lập phiên toà khác xử lại.

Ngày 27/5/1983 cả ba anh đều bị kết án tử hình. Trước đó, các bạn bè ở Âu Châu liên lạc với Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế tại Luân Đôn qua văn thư số UA234/82 ngày 7/10/1982 để can thiệp và xin ân xá, nhưng CSVN không đáp ứng.

Ngày 31/5/1983, chỉ 4 ngày sau khi kết án, lúc 9:00AM sáng, CSVN đem anh Hoàng và anh Mẫn ra xử bắn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, riêng anh An thì bị họ đánh chết trong tù.

Chị Trần Mỹ Hường, vợ anh Hoàng, phải vội vã chạy lo lót tiền cho bọn cai ngục để được nhìn mặt chồng lần cuối, nhờ đó mới biết được sự đánh đập anh Hoàng dã man trong lúc xử án, cũng như việc đánh chết anh An trong tù.

Khi biết mình bị án tử hình, anh đã xin lỗi người vợ hiền vì đã không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, và cũng tạ lỗi với cha mẹ già vì đã không còn dịp để phụng dưỡng!

Trước khi bắn, CS nhét hai quả chanh thật to vào miệng hai anh vì sợ hai anh nhục mạ chế độ và lãnh tụ của họ. Sau đó họ vùi xác hai anh và cắm lên mỗi mộ phần – được lấp đất sơ sài – một tấm bảng với hàng chữ ” Âm mưu lật đổ chính quyền”.

Chị Hoàng núp sau lùm cây xa xa để lén nhìn chồng đang bị hành huyết nhưng không dám kêu gào mà chỉ âm thầm rơi lệ vì sợ bị lộ nơi ẩn nấp!

Anh Hoàng đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ – 36 tuổi!

Khi tin anh bị bức hại được loan truyền ra hải ngoại vào khoảng tháng 11/1983, GS Nguyễn Ngọc Huy, người thầy khả kính của những sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, đã điếu học trò mình qua bài thơ “Điếu Một Môn Sinh” nói lên sự hy sinh anh hùng của anh cho quốc gia dân tộc.

Theo thư của chị Hoàng cho biết, năm 1993 hài cốt anh Hoàng đã được chị đưa về an táng nơi quê nhà của anh ở Biên Hoà để gia đình tiện việc hương khói. Các con của chị – con trai lớn Hiển và hai con gái Hân, Hạnh – cũng rất ngoan và chăm chỉ học hành. Tất cả đều tốt nghiệp đại học, có việc làm và đều đã lập gia đình.

Anh Hoàng mất cho đến nay – 2022 – là 39 năm. Xin thành kính dâng lên anh một nén hương lòng và luôn nhớ về anh, một nguời anh hùng đất Việt.

(Dựa theo bài viết của anh Nguyễn Văn Sáu, người bạn QGHC của anh Hoàng, trong Biên Khảo Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Tập II, trang 426-431)

Điếu Một Môn Sinh

    • Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy
      Houston, Texas 26/11/1983

Năm trước cùng chung một mái trường
Trong chương trình phục vụ quê hương
Thầy trao trò nhận truyền tri thức
Giúp nước trong thời đại nhiễu nhương

Đến lúc non sông cát bụi lầm
Thầy đi nơi hải ngoại xa xăm
Trò bên trong nước đầy tang tóc
Nhưng vẫn cùng chung một quyết tâm

Đập nát xiềng gông lũ bạo tàn
Làm cho toàn quốc được khương an
Trong niềm vui sống và no ấm
Cùng tự do về với quốc dân

Nhưng giữa phong ba nổi bất ngờ
Trên đường tranh đấu rủi sa cơ
Trò đà ngã gục ngày hôm ấy
Và chết hiên ngang dưới bóng cờ

Nghe tin trò đã phải hy sinh
Xao xuyến trong tâm mối nghĩa tình
Thầy thấp nén hương thờ liệt sĩ
Cho nhà ái quốc cựu môn sinh

Trên con đường giải phóng nhơn dân
Còn có bao người quyết dấn thân
Diệt lũ hung tàn, xây đất nước
Suối vàng trò hãy cứ an tâm


 

Xung đột sắc tộc ở Tây Nguyên

Báo Tiếng Dân

Dương Quốc Chính

11-6-2023

Ảnh chụp màn hình

Tây Nguyên, nguyên là hai nước Thuỷ Xá và Hoả Xá, đến thời Minh Mạng vẫn chỉ là thuộc quốc của Đại Nam. Có lẽ chúa rồi vua Nguyễn cũng không định xâm lược và sát nhập. Khi Pháp chiếm Đông Dương thì vùng này mới được nhập và An Nam (Trung Kỳ), vì người Pháp mới tận dụng được lợi thế về đất đai và tài nguyên ở đây, các đồn điền cafe, cao su… mới chỉ có từ khi người Pháp xâm lược. Có nghĩa là đây là vùng đất cuối cùng được nhập vào Việt Nam.

Đến giai đoạn Quốc gia Việt Nam, vùng này được quy chế tự trị dành riêng cho Hoàng gia, gọi là Hoàng triều cương thổ. Các lãnh đạo địa phương chỉ thần phục Quốc trưởng Bảo Đại. Đến thời VNCH, ông Diệm thống nhất quốc gia nên xoá bỏ Hoàng triều cương thổ, nhập vào VNCH.

Trong chiến tranh Việt Nam, dân Tây Nguyên vẫn có những nhóm chống quân cộng sản, chứ không phải trên dưới một lòng theo Việt cộng như sách báo chính thống viết đâu. Điển hình là vụ thảm sát Đắk Sơn, anh em Google để biết chi tiết, có cả ảnh. Đây là một vùng ở Đắk Lắk luôn. Tức là mầm mống xung đột nó có từ lâu đời rồi.

Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì tổ chức FULRO vẫn tồn tại ở Tây Nguyên đến 1992. Anh em Google tiếp để biết FULRO là tổ chức nào. Đại khái đây là tổ chức đấu tranh để giành độc lập cho các dân tộc Tây Nguyên, gồm cả người Chăm và Khmer. Có nghĩa là họ chống lại sự cai trị của người Kinh gồm cả VNCH lẫn Việt Nam cộng sản.

Năm 1999, nhà nước DEGAR được thành lập, đây là nhà nước tự xưng của người dân tộc ở Tây Nguyên. Thủ đô cũng ở Đắk Lắk. Google để biết chi tiết. Nhà nước này trên lý thuyết vẫn tồn tại, lãnh đạo lưu vong.

Mấy hôm trước, trùng hợp thay, có ông thày giáo cũng ở Đắk Lắk mới bị kết án vì kêu gọi dân chủ, nhân quyền trên Facebook. Nên mình mới bảo là vùng này rất nhạy cảm chính trị, nên dân mà ngo ngoe chống đối là bị dính án ngay. Hôm qua xảy ra vụ cũng ở Đắk Lắk, hiện chưa công bố nguyên nhân chính thức dẫn tới vụ khủng bô’. Nhưng nhiều người đồn đoán là tổ chức Degar đứng sau, cũng có người cho rằng chỉ là tranh chấp đất đai.

Mình tóm lược lại một số thông tin về sự nhạy cảm chính trị, nguy cơ ly khai của vùng này để mọi người hiểu bản chất của lịch sử xung đột ở vùng đất Tây Nguyên. Chuyện tương tự diễn ra khá phổ biến trên thế giới. Đặc biệt là ở các nước cộng sản hay độc tài thì nó diễn ra càng bạo lực hơn. Bên Tàu thì Tân Cương, Tây Tạng cũng không khác gì Tây Nguyên. Các vụ khủng bố rồi đàn áp đẫm máu diễn ra nhiều ở Nga, TQ vì nguyên nhân sắc tộc. Vùng Kosovo cũng vậy, đang tái diễn bạo lực.

Nói chung là việc cai trị những vùng đất mới có lịch sử, văn hoá, dân tộc quá khác biệt với các nơi khác là không hề đơn giản. Ở nhiều nước hay nhiều giai đoạn lịch sử thì các vùng đất này phải có quyền tự trị tương đối thoáng. Ngay ở TQ cũng có khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây giáp Việt Nam. Nga cũng có nước CH tự trị. Việt Nam hiện không có và đã từng có ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc (người Mèo).

Hiện tại chưa rõ nguyên nhân vụ vừa xong là gì, nhưng mâu thuẫn sắc tộc thường không được công bố là nguyên nhân chính thức, dễ bị lái thành mâu thuẫn thuần tuý hình sự.

Xem thêm chi tiết sự vụ tấn công 2 đồn Công An ở đây.


 

Đồng chí này là đồng chí nào?

Chau Trieu is with Kim Dao Lam

Đây là đồng chí Kim Ngọc Tuyến, Giám đốc kiêm Bí thư đảng ủy của Công ty Phát triển dịch vụ giá trị gia tăng (VNPT VAS), trực thuộc Tập đoàn Bưu Chính viễn thông Việt Nam (VNPT).

Đây là hình đồng chí giám đốc Tuyến và nhân viên của VNPT VAS về thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn ở Quảng Trị.

May be an image of 2 people, wrist watch, belt and text that says 'đồng hồ Patek Philippe Nautilus 5711 8,5 tý đồng dây lưng Hermes 20 triệu đông Đồng chí này LÀ CON ĐÔNG CHÍ NÀO?'

Người ta phát hiện đồng chí Tuyến đeo chiếc đồng hồ Patek Philippe Nautilus 5711 trị giá 338.898 euro, tương đương khoảng 8,5 tỷ đồng. Mang chiếc thắt lưng da Hermes trị giá hơn 20 triệu đồng.

Đây chỉ là những vật phụ kiện của đồng chí Tuyến thôi chứ chưa nói đến các tài sản khác. Là giám đốc của một công ty trực thuộc nhà nước, không biết lương bao nhiêu mà đồng chí Tuyến có số tiền lớn như vậy?

Có người sẽ hỏi, thế có biết “đồng chí này là con của đồng chí nào” không?

Xin thưa, đồng chí Tuyến có bố vợ là đồng chí Vũ Tuấn Hùng – Tổng giám đốc VNPT từ năm 2006 đến năm 2013. Có thể nhờ đó mà đồng chí Tuyến mới lên chức Giám đốc của VNPT VAS nhanh như vậy.

Mọi người hay nói, lương của một dư luận viên là 3 củ, tức là 3 triệu đồng/tháng. Thì chỉ tính riêng chiếc đồng hồ Patek Philippe Nautilus 5711 của đồng chí đảng viên Kim Ngọc Tuyến thôi, bằng lương của bạn dư luận viên “cào phím bảo vệ chế độ” trong 236 năm.

Các đồng chí đảng viên làm lãnh đạo đi đâu cũng rao giảng về đạo đức cách mạng, uống nước nhớ nguồn, tri ân thế hệ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc… Nhưng làm sao các lãnh đạo có nhiều tiền thì họ lại không nói.

Cái lò của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đốt bao giờ mới hết, hoặc không bao giờ hết được vì chính cái cơ chế của đảng cộng sản cầm quyền nó sinh ra như thế.

Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam, tham nhũng

NGUỒN HÌNH ẢNH,HOANG DINH NAM/GETTY IMAGES Chụp lại hình ảnh, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nổi tiếng với câu ‘Lò nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy’

Chỉ thương các bạn dư luận viên “cào phím” thối móng tay để bảo vệ chế độ, bảo vệ những lãnh đạo như đồng chí Kim Ngọc Tuyến.

No photo description available.

Đối phó Đốt Lò tranh của Fb La Thanh Hiền, 19-7-2022

Ps: Một số bài báo viết về các hoạt động đồng chí Kim Ngọc Tuyến đã bị gỡ bài. Tại sao?

Gia Minh


 

Liệu Phạm Bá Hiền cũng sẽ lại là Út Trọc, Vũ Nhôm?

Báo Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

11-6-2023

Tiếp theo phần đầu

Thiếu tướng Phạm Bá Hiền quê ở xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh có nhiều điểm tương đồng với ông Phạm Bá Hiền thứ ba – cùng sinh năm 1972, cùng buôn vải ở Sài Gòn, cùng… có “quan hệ thương mại” với một đơn vị do quân đội thành lập…

Việc “một lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh” thừa nhận ông Phạm Bá Hiền thứ nhất cũng là ông Phạm Bá Hiền thứ hai (1) chính là sự thừa nhận những tuyên bố của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam về sự “quyết liệt” trong phòng chống tham nhũng chỉ đơn thuần là “quyết” làm cho… “liệt”.

Bởi các hệ thống “quyết” làm cho… “liệt” nên mới có chuyện từ tỉnh đến huyện, xã nhất trí lờ đi việc thâu tóm đất đai, xây dựng lâu đài không phép ở xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, thậm chí còn công khai thú nhận với báo giới: “Không lập biên bản đình chỉ khi biết việc sai phạm là vì không ai dám ký vào biên bản sai phạm đó” (2).

Bởi hiểu các hệ thống “quyết” làm cho… “liệt” nên dù biết rất rõ lai lịch của ông Hiền – một người chỉ buôn vải ở Sài Gòn, do doanh nghiệp của ông ta sáp nhập với doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng mà trở thành sĩ quan quân đội rồi trở thành… tướng nhưng bởi ông Hiền đang… lên nên lãnh đạo Hà Tĩnh mới tổ chức đón rước trọng thể, mới thỏ thẻ mong ông Hiền… “tiếp tục theo dõi, dành nhiều tình cảm và luôn đồng hành cùng quê hương Hà Tĩnh, đặc biệt là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng địa phương” (3).

Không chỉ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ xã huyện đến tỉnh xem sự ngang ngược khi thâu tóm đất, xây dựng lâu đài của gia đình ông Hiền là bình thường, xem sự giàu có bất thường của gia đình ông Hiền là bình thường, xem con đường trở thành Thiếu tướng, Tư lệnh một binh đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam là đương nhiên mà ở thượng tầng cũng vậy. Không như vậy, giới lãnh đạo toàn quân không dọn đường để cất nhắc đồng chí Phạm Bá Hiền.

Thiếu tướng Phạm Bá Hiền quê ở xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh có nhiều điểm tương đồng với ông Phạm Bá Hiền thứ ba – cùng sinh năm 1972, cùng buôn vải ở Sài Gòn, cùng… có “quan hệ thương mại” với một đơn vị do quân đội thành lập để “làm kinh tế”, hết sức “liều lĩnh” nên cùng vi phạm pháp luật (một ông dính líu đến tự tiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, xây dựng lâu đài trái phép, một ông liên tục giả mạo giấy tờ để gian lận thương mại tới mức phải khởi tố [4]).

Thiếu tướng Phạm Bá Hiền – Tư lệnh Binh đoàn 16 và ông Phạm Bá Hiền – Phó Giám đốc Chi nhánh 3 của Công ty Thăng Long có phải là một chăng? Nếu phòng chống tham nhũng thật sự quyết liệt chứ không phải “quyết” làm cho… “liệt” thì các hệ thống đã phải vào cuộc để xác định thực – hư và công bố sớm để bảo vệ “niềm tin” của dân chúng, để làm rõ việc một “anh buôn vải ở Sài Gòn”, trở thành sĩ quan quân đội do doanh nghiệp sáp nhập với “đơn vị quân đội làm kinh tế” và gửi đi “đào tạo cơ bản qua các trường: Học viện Lục quân, Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị Hành chính Khu vực II,…” rồi phong tướng có phải là sắp đặt không? Những… “Huân chương Lao động hạng Ba, Bằng khen của chính phủ, Bộ Quốc phòng, danh hiệu ‘Chiến sĩ thi đua toàn quân’, ‘Chiến sĩ thi đua toàn quốc’ cùng nhiều phần thưởng cao quý của đảng, nhà nước” đã trao cho Đại tá Phạm Bá Hiền quan trọng hơn việc xem xét vì đồng chí đại tá giàu có bất minh và tai tiếng đến mức như vậy?

Làm sao có thể xem là “quyết liệt” phòng chống tham nhũng khi giới lãnh đạo toàn quân thản nhiên gạt bỏ tất cả những yếu tố lẽ ra phải xem là chính yếu để đề nghị chính phủ, quốc hội, nhà nước phong tướng cho một người có rất nhiều dấu hiệu đáng ngờ về mức độ trong sạch như đồng chí Đại tá Phạm Bá Hiền?

Chính phủ, quốc hội, nhà nước đã cũng như đang vận hành, giám sát thế nào mà giới lãnh đạo toàn quân dám qua mặt như thế? Về logic, giới lãnh đạo toàn quân chỉ có thể liều lĩnh như thế khi chính họ tin rằng “quyết liệt” chỉ là “quyết” làm cho… “liệt”. Sự… “quyết liệt” đã trưng bày khi xử lý những scandal như Đinh Ngọc Hệ (Út Trọc), Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm) không phải là quyết liệt theo đúng ngữ nghĩa của hai từ này. Sự “quyết liệt” đó chỉ có tác dụng khiến những cá nhân cảm thấy… trống lưng chùn tay, bất động làm cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tê liệt, kinh tế – xã hội hỗn loạn tới mức giới lãnh đạo các hệ thống phải vận động “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.

Kỷ luật Ủy viên Bộ Chính trị này, Ủy viên BCH TƯ đảng kia, tống giam Bí thư nọ, phạt tù Chủ tịch một số tỉnh,… đã cũng như đang được trưng bày để giới thiệu sự “quyết liệt” trong phòng chống tham nhũng. Tuy nhiên việc trao cho ông Phạm Bá Hiền hàm Thiếu tướng hay việc ông thản nhiên phô bày sự giàu có bất minh của gia đình ông qua tổ chức “vinh quy bái tổ” trong bối cảnh các hệ thống rất… “quyết liệt”, chứng tỏ “quyết liệt” chỉ dược dùng như… trang sức. Đâu phải tự nhiên mà thay vì “quyết liệt đấu tranh với những biểu hiện sai trái”, giới lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh lại hoan hỉ chia vui với “bạn” Hiền dù biết rõ “bạn” thế nào. Ông Hiền không phải là trường hợp cá biệt mà chỉ là ví dụ mới nhất.

***

Tháng trước, Ban Nội chính của BCH TƯ đảng khóa 13 tổ chức họp báo để “thông báo về kết quả cuộc họp Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng – chống tham nhũng, tiêu cực” (5). Người ta phát giác ông Nguyễn Văn Yên – một trong hai Phó Ban Nội chính mang đồng hồ hiệu Patek Philippe model World Time Mecca. Giá bán chiếc đồng hồ mà ông Yên sử dụng khoảng 260.000 Mỹ kim (6), nếu quy ra đồng Việt Nam thì chừng sáu… tỷ!

Sau khi phát giác vừa kể lan rộng trên mạng xã hội và bùng lên thành scandal (7), thay vì được thấy hệ thống chính trị, hệ thống công quyền – vốn không ngừng quảng cáo là đang… “phòng, chống tham nhũng một cách đồng bộ, quyết liệt” hành động… “kịp thời” hoặc ít ra, cũng hứa sẽ làm gì đó trước biểu hiện về sinh hoạt xa hoa đến mức khó tưởng của ông Yên để thêm một lần nữa… “khẳng định quyết tâm rất cao của đảng, nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” thì thiên hạ chỉ thấy các cơ quan truyền thông chính thức như Thanh Niên, VnExpress,… hoặc do thiếu kiến thức về xa xỉ phẩm, hoặc do… “thiếu cảnh giác cách mạng” khi lựa chọn hình ảnh, khiến ông Yên nói riêng và đảng nói chung bị… “xuyên tạc, bôi nhọ”, vội vàng cắt cụt cánh tay ông Yên mang đồng hồ trên tấm ảnh họ lỡ chọn đăng (8).

Ông Nguyễn Văn Yên vốn là Vụ trưởng Vụ Theo dõi xử lý các vụ án, vụ việc của Ban Nội chính BCH TƯ đảng. Ban Nội chính của BCH TƯ đảng là “cơ quan tham mưu, giúp việc cho BCH TƯ đảng và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính, phòng – chống tham nhũng, cải cách tư pháp, đồng thời là cơ quan chuyên về công tác nội chính của đảng, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương”. Đầu năm ngoái (1/2022), ông Yên được Ban Bí thư lựa chọn và bổ nhiệm làm Phó Ban Nội chính. Vào thời điểm đó, ông Phan Đình Trạc – vừa là Ủy viên Bộ Chính trị, vừa là thành viên Ban Bí thư – khẳng định, việc lựa chọn, bổ nhiệm ông Yên là “sự ghi nhận quá trình phấn đấu, rèn luyện lâu dài của ông Yên” (9).

Ai cũng biết, nếu thanh liêm, chẳng viên chức nào có thể dư giả tới mức không cần đắn đo về giá để sắm đồng hồ như vậy, song chuyện đó không quan trọng bằng việc lãnh đạo cơ quan chuyên trách “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” thản nhiên phô bày sự giàu có của ông ta trong sinh hoạt thường nhật. Tình huống này chỉ có thể xảy ra khi Tổng Bí thư, các thành viên trong Bộ Chính trị, các thành viên trong Ban Bí thư, các thành viên trong BCH TƯ đảng, các thành viên trong Ban Nội chính của BCH TƯ đảng cùng xem điều đó là bình thường. Khi giàu có bất thường được xem là đương nhiên thì chuyện điều tra người này, kỷ luật người kia, tống giam người nọ vì tham nhũng, tiêu cực làm sao có thể xem là… “quyết liệt”? Vẫn là “quyết liệt” nếu những người như ông Nguyễn Văn Yên sẽ điều tra những người như Thiếu tướng Phạm Bá Hiền và các “đối tượng có liên quan”?

Quyết liệt” nhưng vẫn từ chối công bố tờ khai tài sản của các viên chức trong diện mà luật buộc phải kê khai để dân chúng giám sát, góp ý,… “quyết liệt” nhưng vô hiệu hóa tất cả những nỗ lực đề nghị hình sự hóa việc giàu có bất minh, tịch thu sung công tài sản của những viên chức không thể giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản,… vừa “quyết liệt phòng chống tham nhũng”, vừa truy tìm và xử lý hình sự những cá nhân tố giác sự xa hoa bất thường của các viên chức, thậm chí điều động nhân sự sang cả Thái Lan để bắt cóc Đường Văn Thái, bởi một trong những “sai phạm nghiêm trọng” của Đường Văn Thái là tham gia thực hiện trang “Lều của đầy tớ” trên mạng xã hội nhằm “chống phá nhà nước” (10),… “quyết liệt” kiểu đó có khác gì dùng “quyết liệt” như bùa chú, một mặt, “quyết” làm cho các viên chức không cùng phe nhóm… “liệt”, mặt khác làm cho kinh tế – xã hội… “liệt” cả về hoạt động lẫn ý chí để tương lai xứ sở này, vận mệnh dân tộc này cho những cá nhân như ông Hiền, ông Yên và những kẻ “đồng hội, đồng thuyền” cùng… “quyết”!

Chú thích

(1) https://tienphong.vn/lanh-dao-tinh-ha-tinh-noi-gi-ve-bua-tiec-vinh-quy-bai-to-cua-thieu-tuong-pham-ba-hien-post1541249.tpo

(2) https://baovephapluat.vn/phap-luat-ban-doc/dieu-tra-theo-don-thu/cu-ba-78-tuoi-thinh-thoang-ra-cho-ban-rau-xay-biet-thu-khung-52840.html

(3) https://baohatinh.vn/luc-luong-vu-trang/lanh-dao-ha-tinh-chuc-mung-thieu-tuong-pham-ba-hien/249444.htm

(4) https://vnexpress.net/khoi-to-vu-tron-thue-tai-cong-ty-thang-long-2022845.html

(5) https://thanhnien.vn/pho-truong-ban-noi-chinh-tu-khong-co-chuyen-bat-duoc-ba-nguyen-thi-thanh-nhan-roi-giau-185230510174501541.htm

(6) https://www.chrono24.com/patekphilippe/patek-philippe-world-time-mecca–id20138658.htm

(7) https://www.facebook.com/photo/?fbid=643835531119791&set=p.643835531119791

(8) https://www.facebook.com/trung.lenghien/posts/pfbid023AXTK9Qf7Ke5ZMCm1PNJ6aTT1kCMXJ3HT6R3GoKTreYRJFfiWkaWUo3CSGQrAv7zl

(9) https://vnexpress.net/ban-noi-chinh-trung-uong-co-them-mot-pho-ban-4422308.html

(10) https://congthuong.vn/bo-mat-that-cua-doi-tuong-duong-van-thai-250542.html

Bài báo bị gỡ bỏ: Hai trụ sở công an ở Đăk Lăk bị tấn công

Báo Tiếng Dân

VnExpress

11-6-2023

LGT: Thông tin về vụ hai trụ sở công an ở Đăk Lăk bị tấn công hôm nay, được báo VnExpress đăng tải lúc 9h46′ sáng, nhưng chẳng bao lâu thì bị gỡ bỏ. Chúng tôi xin được đăng lại nội dung bài báo này, kèm theo bên dưới là văn bản của Bộ Công an và danh sách những người bị thương vong. Các tài liệu này chúng tôi có được từ một cộng tác viên gửi tới.

Cập nhật: Lúc 11h47′ cùng ngày, bài báo nói trên đã được đưa trở lại lên mạng. Dù tựa đề được giữ nguyên, nhưng nội dung đã bị thay đổi. Tác giả là “Xuân Hoa”, thay vì “Nhóm Phóng Viên” như ban đầu.

***

Hàng chục người bịt mặt, cầm vũ khí bất ngờ tấn công trụ sở Công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur khiến nhiều cán bộ hy sinh, một người tử vong và nhiều nạn nhân bị thương.

Bộ Công an dẫn báo cáo của Công an tỉnh Đăk Lăk, cho biết lúc 0h35′ ngày 11/6, khoảng 10 người đi xe máy kéo đến trụ sở Ủy ban và Công an xà Ea Tiêu. Sau khi sát hại hai cán bộ công an, chúng ra ngã ba Ea Sim, quốc lộ 27, chặn ô tô bán tải và bắn chết tài xế.

Cùng lúc, một nhóm khác tấn công trụ sở UBND và Công an xã Ea Ktur. Chúng dùng súng và dao sát hại 3 cán bộ. Gây án xong, chúng ra đường bắn tử vong 3 người.

Bước đầu ghi nhận 7 người tử vong, 3 người bị thương.

Bộ Công an đã huy động nhiều lực lượng, trong đó có Trung đoàn Cảnh sát Cơ động Tây Nguyên, phối hợp Công an và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đăk Lăk, truy bắt các hung thủ, kiểm soát nhiều tuyến đường qua lại.

Nhà chức trách cũng khuyến cáo người dân huyện Cư Kuin và các địa bàn lân cận bình tĩnh, không hoang mang và thực hiện theo yêu cầu của chính quyền cơ sở cùng các lực lượng chức năng. “Nếu ai có thông tin liên quan đến nhóm đối tượng trên đề nghị cung cấp ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất”, văn bản của Bộ Công an nêu.

Nhóm Phóng Viên

***

Video Player

00:00

00:48

Nguồn clip: Trần Lam Giang

EDM Phiêu: Trụ sở UBND 2 xã ở Đăk Lắc bị tấn công, nhiều người thương vong

Rạng sáng nay một vụ án đặc biệt nghiêm trọng đã xảy ra tại hai xã K’Tur và Ea Tiêu, huyện Cư Quin, Đăk Lắk.

Khoảng 30 tay súng chia làm hai nhóm đi trên xe máy đã tấn công trụ sở UBND hai xã trên lúc 1 giờ 30 sáng ngày 11/6/2023 và bắn vào cán bộ xã, chiến sĩ công an xã đang trực tại đây.

Tại trụ sở UBND xã Ea K’Tur, chúng bắn chết 2 CA xã đang ngủ trên giường. Chủ tịch xã (tên là Dũng) nghe tin, lái xe chạy đến cũng bị bắn gục trên ô tô. Do bị tấn công bất ngờ, những người khác vùng chạy cũng bị bắn, bị thương 2 công an.

Công an huyện Cư Quin nhận tin báo và triển khai lực lượng, trên đường chạy tới thì gặp nhóm tội phạm đang rút, chúng lập tức bắn vào đội hình nhưng súng hóc đạn, những tên này bỏ chạy trên xe máy.

Tại xã Ea Tiêu, bọn tội phạm bắn chết 2 Công an xã. Có thông tin cho biết bí thư xã cũng bị bắn chết.

Tại hiện trường ở UBND 2 xã , công an thu được nhiều vỏ đạn AK. Một nguồn tin cho hay cả hai nhóm gây án cùng một tổ chức và vụ án có dấu hiệu của tấn công khủng bố.

Hai xã Ea K’Tur và Ea Tiêu cách nhau khoảng 9 km, nằm hai bên đường Quốc lộ 27 và cách trung tâm Ban Mê Thuột 20 km.

______

Mời đọc thêm: Bộ Công an: Truy bắt nhóm người tấn công hai trụ sở công an ở Đắk Lắk (TT). – Truy bắt nhóm người dùng súng tấn công 2 trụ sở công an xã ở Đắk Lắk (TN). – Truy bắt nhóm dùng súng tấn công vào trụ sở công an xã ở Đắk Lắk (DT).

Vụ tấn công trụ sở công quyền xã tại Đắk Lắk

Báo Tiếng Dân

Luật Khoa

11-6-2023

Công an tại hiện trường – trụ sở UBND và Công an xã Ea Tiêu. Ảnh: Ngọc Oanh/VnExpress

Diễn ra tại điểm nóng liên quan đến đất đai, sắc tộc và tôn giáo.

Khi nhận được thư tin này, chắc bạn đã nghe nói tới vụ một nhóm người có vũ trang tấn công trụ sở công quyền tại hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Nếu bạn chưa nghe thì đây là một số thông tin tổng hợp cho đến thời điểm 15:30 ngày 11/6/2023:

– Theo Bộ Công an, vụ việc xảy ra sáng sớm ngày 11/6, với một nhóm người chưa xác định danh tính dùng súng tấn công trụ sở Công an xã Ea Tiêu và Ea Ktur, giết chết và làm bị thương một số cán bộ và thường dân. [1]

– Công an đã bắt được sáu nghi phạm và giải cứu được hai con tin, theo Thông tấn xã Việt Nam. [2]

Đây là vụ việc có tính chấn động quốc gia, nhưng thông tin được báo chí và chính quyền đưa ra rất ít, dựa hoàn toàn vào nguồn tin từ Bộ Công an và Thông tấn xã Việt Nam, chưa kể nhiều thông tin đã bị gỡ.

Những thông tin đã bị gỡ

Một bài trên VnExpress đã bị xóa hoặc sửa, trong đó có đưa thêm một số thông tin như sau:

– Vụ việc xảy ra lúc 0:35 sáng ngày 11/6.

– Khoảng 10 người đi xe máy đến tấn công trụ sở Ủy ban Nhân dân (UBND) và Công an xã Ea Tiêu, sát hại hai cán bộ công an, sau đó chặn ô-tô bán tải và bắn chết tài xế.

– Cùng lúc, một nhóm khác tấn công trụ sở UBND và Công an xã Ea Ktur, sát hại ba cán bộ, sau đó ra đường bắn chết ba người.

Bối cảnh

Những thông tin sau đây không nhất thiết liên quan tới vụ tấn công này, nhưng là bối cảnh chính trị – xã hội trên địa bàn hai xã kể trên, vốn là hai xã liền kề trong huyện Cư Kuin. Huyện này gần đây là điểm nóng liên quan tới đất đai và một vụ dọa giết phóng viên điều tra Nguyễn Văn Tuấn của báo Tiền Phong, bên cạnh vấn đề tôn giáo.

Trước hết, hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur liên quan trực tiếp tới hai dự án xây dựng lớn trong thời gian vừa qua:

– Dự án đường Hồ Chí Minh, đoạn đường tránh phía Đông TP. Buôn Ma Thuột, với chiều dài hơn 39km, có tổng kinh phí hơn 1.500 tỷ đồng, do Bộ Giao thông – Vận tải phê duyệt chủ trương đầu tư và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Giao thông và Nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk làm chủ đầu tư. Dự án này đi qua các thửa đất nông nghiệp do một số công ty cà phê đang quản lý. Các công ty cà phê này lại đang khoán đất cho các hộ nông dân canh tác. [3]

– Khu đô thị mới Trung Hòa, đã được quy hoạch, nằm gọn trong hai xã này. [4] Để xây dựng khu đô thị mới, chính quyền dự kiến sẽ phải thu hồi đất nông nghiệp từ các công ty cà phê dọc quốc lộ 27. Theo báo chí nhà nước, từ khi có quy hoạch khu đô thị này, tình trạng sốt đất gia tăng, nhiều hộ dân đang canh tác trên các phần đất nông nghiệp này đã sang tay một số thửa đất cho những người đầu tư, đầu cơ. Hiện có đến 500 trường hợp được cho là lấn chiếm, mua bán, sử dụng đất, xây dựng nhà trái phép trên đất nông nghiệp do các công ty cà phê quản lý, trong đó có nhiều hộ nằm gọn trong khu vực quy hoạch khu đô thị mới. [5]

Liên quan tới hai dự án nói trên, trong thời gian gần đây, hoạt động giải phóng mặt bằng và cưỡng chế thu hồi đất diễn ra liên tục.

– Từ ngày 27-31/5/2022, UBND huyện Cư Kuin cưỡng chế tháo dỡ 64 công trình của 58 hộ được cho là xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cà phê Việt Thắng quản lý tại xã Ea Tiêu. Theo quy hoạch, các công trình này nằm trong khu đô thị mới Trung Hòa. [6]

– Ngày 1/3/2023, có 29 hộ dân được cho là đã tự nguyện bàn giao đất nông nghiệp cho UBND huyện trước thời điểm cưỡng chế đất để giải phóng mặt bằng cho dự án đường tránh phía Đông, dự kiến diễn ra trong hai ngày 2-3/3. Trước đó, các hộ này không bàn giao vì chưa thỏa thuận được tiền đền bù với các công ty cà phê đang quản lý các thửa đất nông nghiệp này. [7]

Điều đáng chú ý là các thông tin liên quan tới hai vụ cưỡng chế trên đều không phỏng vấn các hộ dân bị cưỡng chế mà chỉ có thông tin từ phía chính quyền. Dựa trên các thông tin này, chúng ta không thể biết được lý do vì sao các hộ dân này không chịu bàn giao đất khi có quyết định thu hồi mà phải để chính quyền phải ra quyết định cưỡng chế.

Cũng liên quan tới dự án đường tránh phía Đông nói trên, tháng Năm vừa qua, báo Tiền Phong có đăng một phóng sự điều tra về nạn “đất tặc”, cụ thể như sau: [8]

– Phóng sự được thực hiện ngày 27-28/4/2023, ghi nhận hai chiếc máy xúc hoạt động trong khu vực đất của ông Hương ở thôn 8, xã Ea Ktur. Các máy xúc này liên tục cào đất từ quả đồi nằm trong thửa đất này, chất lên các xe tải lớn.

– Các xe tải này chở và đổ đất tại khu vực đang thi công công trình đường tránh phía Đông. Ước tính có hàng chục ngàn mét khối đất đã bị xúc mang đi.

– Ông Hương được cho là đã cho ông N.D.T. đào và xúc đất mang đi. Theo Luật Khoáng sản, đây là hành vi vi phạm pháp luật.

– Chính quyền xã Ea Ktur cho biết đã xử phạt ông Hương 4 triệu đồng, đồng thời nói rằng tình trạng đào đất quanh khu vực này để phục vụ cho “dự án khác” cũng đã xảy ra trước đó.

– Ngày 18/5, phóng viên Nguyễn Văn Tuấn – người thực hiện phóng sự điều tra này – nhận được các cuộc điện thoại dọa giết cả nhà nếu tiếp tục điều tra. [9]

Vấn đề tôn giáo ở huyện Cư Kuin cũng được báo chí nhà nước khắc họa như một điểm nóng, liên quan tới các nhóm Tin Lành và Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (FULRO). Tuy nhiên, không có nhiều thông tin trong vài năm gần đây liên quan tới hai xã Ea Ktur và Ea Tiêu – nơi xảy ra vụ tấn công.

– Trích theo báo Đắk Lắk (2017): “Tại buôn K’nia (xã Ea Tiêu) có Ama Chới, tín đồ đạo Tin Lành, trước đây do lầm lạc nghe lời các đối tượng phản động Fulrô làm điều xấu với buôn làng. Sau khi được chính quyền, cán bộ Công an các cấp giáo dục, cải tạo, Ama Chới đã hiểu ra sai trái của mình, hồi tâm, hối cải, vượt khó vươn lên, chăm lo làm ruộng rẫy để cải thiện cuộc sống.” [10]

– Trích theo VOV (2021): “Tại Mỹ, đầu năm 2019, Y Hin Niê đã tăng cường liên lạc, tiếp tục chỉ đạo số cốt cán trong nước mà đứng đầu là con trai hắn là Yjôl Bkrông ở buôn Ea Khít, xã Ea Bhôk, huyện Cư Kuin, Đăk Lăk phục hồi, phát triển lực lượng, kiện toàn lại cái gọi là ‘Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam – ECCV’.” [11]

– Trang thông tin điện tử của Công an tỉnh Đắk Lắk (2023) có bài nói về các nhân vật Y Pher Hdrue, Y Quynh Bđăp ở huyện Cư Kuin đã tham gia tổ chức FULRO, bị bắt và bị kết án tù giam vì tội “Phá hoại chính sách đoàn kết và hủy hoại tài sản”. Sau khi ra tù, họ đã vượt biên sang Thái Lan từ tháng 8/2018. [12]

Xin lưu ý lại một lần nữa: Thông tin bối cảnh trên đây không nhất thiết liên quan tới vụ tấn công vào các trụ sở công quyền ở Ea Tiêu và Ea Ktur.

Bình luận của Luật Khoa

Lưu ý: Đây chỉ là một quan điểm trong vô số quan điểm khác nhau. Nếu bạn có ý kiến phản hồi hoặc phản bác, bạn có thể hồi âm vào email này cho Luật Khoa.

– Trong tình hình khủng hoảng này, việc minh bạch thông tin là tối quan trọng. Tuy nhiên, báo chí chính thống đang đưa tin rất vắn tắt và nhỏ giọt theo Bộ Công an mà không có các nguồn tin độc lập từ các nhân chứng và người dân, khiến dư luận không có bức tranh đầy đủ (dù chỉ là tương đối) về vụ việc. Ngay cả thông tin chi tiết hơn về các nạn nhân của vụ tấn công này cũng chưa được công bố, dù là thông tin đã khử danh tính đi chăng nữa. Đây là cách kiểm soát thông tin điển hình của chính quyền trong các tình huống khủng hoảng, mà gần đây là cuộc khủng hoảng Đồng Tâm năm 2020. Và sau cùng, không có gì đảm bảo thông tin trên báo hiện nay là chính xác.

– Các nghi phạm bị bắt trong vụ việc này rất có khả năng sẽ bị tra tấn nặng nề để ép cung nhằm phục vụ mục tiêu phá án nhanh của cơ quan điều tra. Điều đáng quan ngại là do thông tin trên báo đang định hình họ là một nhóm khủng bố, nên dù họ có bị tra tấn đi chăng nữa cũng sẽ không được mấy ai quan tâm. Việc tra tấn cũng sẽ dễ dàng được biện minh bằng lý do an ninh, trong khi khía cạnh nhân quyền và động cơ gây án của các nghi phạm sẽ bị phớt lờ.

– Một số trang mạng thân chính quyền, chẳng hạn Tifosi, đã đăng bài ám chỉ vụ việc có thể liên quan tới vấn đề tôn giáo và FULRO. [13] Việc này có thể biến các hội nhóm tôn giáo ở huyện Cư Kuin và tỉnh Đắk Lắk nói chung trở thành “dê tế thần”, đặc biệt là các hội nhóm Tin Lành và một số nhóm mà chính quyền gọi là “tà đạo”. Các cáo buộc vô căn cứ nhắm vào các hội nhóm tôn giáo là chuyện thường thấy ở nước ta, mà điển hình là vụ Hội thánh Truyền giáo Phục hưng trong thời kỳ đại dịch COVID-19. [14]

Chú thích:

  1. Thông tin ban đầu về vụ việc mất an ninh, trật tự xảy ra tại Đắk Lắk. (n.d.). Bộ Công An. Retrieved June 11, 2023, from https://bocongan.gov.vn/tin-an-ninh-trat-tu/thong-tin-ban-dau-ve-vu-viec-mat-an-ninh-trat-tu-xay-ra-tai-dak-lak-t35381.html
  2. Vụ tấn công trụ sở Công an xã ở Đắk Lắk: Đã bắt được 6 đối tượng. (n.d.). TTXVN. Retrieved June 11, 2023, from https://www.vietnamplus.vn/vu-tan-cong-tru-so-cong-an-xa-o-dak-lak-da-bat-duoc-6-doi-tuong/867639.vnp
  3. Phan Tuấn. (2023, March 2). Người dân bàn giao mặt bằng trước giờ cưỡng chế ở dự án 1.500 tỉ đồng. Lao Động. https://laodong.vn/bat-dong-san/nguoi-dan-ban-giao-mat-bang-truoc-gio-cuong-che-o-du-an-1500-ti-dong-1153207.ldo
  4. Huỳnh Thủy. (2022, June 3). Cưỡng chế xong 64 công trình trái phép trên đất cà phê, hơn 500 điểm khác vào tầm ngắm. Báo Điện Tử Tiền Phonghttps://tienphong.vn/cuong-che-xong-64-cong-trinh-trai-phep-tren-dat-ca-phe-hon-500-diem-khac-vao-tam-ngam-post1442797.tpo
  5. Huyện Cư Kuin: Kiên quyết “dẹp loạn” xây dựng trái phép. (n.d.). Báo Đắk Lắk Điện Tử. https://baodaklak.vn/xa-hoi/202205/huyen-cu-kuin-kien-quyet-dep-loan-xay-dung-trai-phep-dee41c8/
  6. Xem [4]
  7. Huyện Cư Kuin: Kiên quyết “dẹp loạn” xây dựng trái phép. (n.d.). Báo Đắk Lắk Điện Tử. https://baodaklak.vn/xa-hoi/202205/huyen-cu-kuin-kien-quyet-dep-loan-xay-dung-trai-phep-dee41c8/
  8. Nhóm Pv Tây Nguyên. (2023, May 25). Mai phục “đất tặc.” Báo Điện Tử Tiền Phonghttps://tienphong.vn/mai-phuc-dat-tac-post1537428.tpo
  9. Nhóm Pv Tây Nguyên. (2023b, May 26). Vụ mai phục “đất tặc”: Phóng viên Báo Tiền Phong bị đe dọa “giết cả nhà.” Báo Điện Tử Tiền Phonghttps://tienphong.vn/vu-mai-phuc-dat-tac-phong-vien-bao-tien-phong-bi-de-doa-giet-ca-nha-post1537675.tpo
  10. Nỗ lực bảo đảm an ninh trật tự ở vùng tôn giáo. (n.d.). Báo Đắk Lắk Điện Tử. https://baodaklak.vn/channel/3606/201701/no-luc-bao-dam-an-ninh-trat-tu-o-vung-ton-giao-5516732/
  11. Sau Tin lành Đề ga, lại xuất hiện tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở Tây Nguyên. (2021, September 24). VOV.VNhttps://vov.vn/chinh-tri/sau-tin-lanh-de-ga-lai-xuat-hien-to-chuc-phan-dong-doi-lot-ton-giao-o-tay-nguyen-892373.vov
  12. Vạch trần bộ mặt thật của nhóm “Người Thượng vì Công lý – MSFJ.”(2023, June 7). Công an Tỉnh Đắk Lắk. https://congan.daklak.gov.vn/-/vach-tran-bo-mat-that-cua-nhom-nguoi-thuong-vi-cong-ly-msfj-
  13. Xem: https://www.facebook.com/tifosi.hpo/posts/pfbid02nsxgzaAXAh8W7qrEgK29AiHrFc2GJExt5p5DiWeQR4vSkW1goRaBT6B6Kr7H1V8Yl
  14. Một năm sau vụ án Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng, mục sư Võ Xuân Loan: “Chính quyền còn nợ tôi lời xin lỗi.” (2022). Luật Khoa Tạp Chíhttps://www.luatkhoa.com/2022/05/mot-nam-sau-vu-an-hoi-thanh-truyen-giao-phuc-hung-muc-su-vo-xuan-loan-chinh-quyen-con-no-toi-loi-xin-loi/

Sáu điều kỳ quặc thấy ở Việt Nam

Số Đỏ

Bà Mỹ này viết đúng y những thói hư tật xấu của người mình!

Li giới thiệu (của người dịch Trần Văn Giang)

– Bài viết này phổ biến trên trang “Blog” của cô Blossom O’Bradovich, một nữ y tá trẻ tuổi người Mỹ gốc Anh Quốc. Cô O’Bradovich là một tay du lịch loại “backpacking” (người trong nước gọi là “Tây Ba-lô”) không biết mệt mỏi. Cô ta ghi lại chi tiết các kinh nghiệm trong thời gian cô đi du lịch các nước Á châu; trong đó có Việt nam.

Tôi chỉ dịch lại phần kinh nghiệm về Việt Nam của cô O’Bradovich để chúng ta cùng nhau suy gẫm về vấn đề văn hóa và giáo dục của người Việt hiện sống trong xã hội Việt Nam qua cái nhìn của một người ngoại quốc – nhất là người Tây phương.

Trần Văn Giang

*

Đây là 6 điều kỳ quặc tôi thấy chỉ có ở Việt Nam:

1- Bóp còi xe liên tục

Người Việt Nam bóp còi xe liên tục với chủ ý muốn nói là “Ê, tôi đang đi tới đây…” khác hẳn với người Tây phương chỉ bóp còi khi tức giận người đi xe phía trước, hay tỏ ý muốn họ tránh ra ngay. Nói cách khác, người Việt bóp còi xe có kèm với nụ cười và một cái gật đầu có ý thông báo là “Tôi đang đi đàng sau bạn” hơn là “một dấu hiệu của sự tức giận, muốn chửi thề.”

Ngoài ra, sự việc người đi bộ lao đầu thẳng vào các dòng xe nhộn nhịp đang đi tới là chuyện hoàn toàn bình thường; bởi vì người lái xe sẽ không bao giờ dừng lại nhường cho bạn đi qua, mà họ sẽ tìm mọi cách tránh bạn. Thật ra, nếu không đi như vậy (lao thẳng vào) thì vô phương mà băng qua đường ở phố xá Việt Nam.

Chạy xe ở Việt Nam không phải là chuyện dễ dàng đâu. Dù đã biết bấm còi hoàn toàn không có hiệu quả gì cả nhưng người chạy xe vẫn cứ bấm túi bụi y như là muốn gọi phép lạ.

Có lần một anh xe ôm chở tôi, thình lình anh ta dừng xe ngay giữa đường lộ, tắt máy để… dùng “Google Translation” cấp tốc (trên điện thoại di động?) và gõ cho tôi biết bằng dòng chữ Anh ngữ là “Cô thật xinh đẹp!” trên màn hình trong khi hàng loạt xe vận tải phải chạy vòng quanh chúng tôi để tránh. Tôi hoảng hồn tưởng sắp có tai nạn xẩy đến; nhưng kỳ lạ vẫn chỉ thấy dòng xe đông đảo chạy tránh chúng tôi! Chuyện này không thể xảy ra ở Tây phương hay các nước phát triển. Nếu ở Mỹ, thì có lẽ chúng tôi đã bị xe cộ cán chết mất đất rồi!

2– Không có khái niệm về thời gian

Dường như Việt Nam không hề có chút khái niệm gì về thời gian. Mỗi khi tôi hỏi một người Việt Nam về thời gian cần để làm xong một chuyện gì đó thì không có một ai biết trả lời tôi như thế nào? Thời gian có một ý nghĩa khác biệt ở Việt Nam: Mọi người cho là “cứ khi nào xong là xong. Xem giờ giấc làm quái gì?” Ngược lại, đối với người Tây phương thời gian là vấn đề rất quan trọng đã ăn sâu vào tiềm thức từ bé chứ không thể xem là “sao cũng được!” Kể ra ở đây (VN) vì vấn đề thời gian khá cởi mở cũng làm đời sống thoải mái, dễ thở, đỡ căng thẳng hơn. Ngoại trừ trường hợp bạn đang bấn lên khi muốn bắt cho kịp chuyến tàu sắp rời bến, và sau khi hỏi người Việt khi nào tàu chạy thì được trả lời là “sắp rồi” hay “đừng quá lo lắng.”

Một trường hợp khác khi tôi dạy học ở một Trung tâm Anh Ngữ. Tôi nhận một bảng phân giờ mà thực ra chẳng có ý nghĩa gì cả. Chẳng hạn, một buổi sáng, tôi vào lớp lúc 7 giờ và bắt đầu công việc dạy học thì một nhân viên người Việt bước vào lớp, kéo tôi ra khỏi lớp và nói: “Buổi học đã bị hủy bỏ.” Nghĩa là tôi phải ngồi chờ loanh quanh đâu đó trong sân trường cho đến giờ của lớp kế tiếp (?)

Tôi chỉ được thông báo sự thay đổi quan trọng vào phút chót, hoặc đã quá muộn. Người đến thông báo thường nói với tôi là: “Đừng lo lắng. Mọi chuyện sẽ ổn thỏa. Bạn cứ ngồi chờ.” Rồi sau đó, mọi người tự nhiên xem như không có vấn đề gì phải quan tâm – Cứ kiên nhẫn và chấp nhận thôi. Trong khi đó họ lại không muốn thầy giáo nước ngoài có những thay đổi vì lý do riêng vào phút chót.

3- Thức ăn, thức uống quái đản

Người Việt nổi tiếng về các món ăn quái đản (bất bình thường) đối với khẩu vị người ngoại quốc, như là: xơi thịt chó, thịt mèo, hột vit lộn, thịt rùa, thịt chuột, và cả thịt nhím. Đối với người Việt đó là chuyện bình thường; nhưng với khẩu vị của người Tây phương thì lại quá rùng rợn (downright offensive). Bạn có thể nhìn thấy sâu bọ còn sống bò lổn nhổn cho đến đầu chó nhăn răng treo lủng lẳng; cà phê “cứt chồn” (weasel “poo” coffee) cho đến việc cắt cổ rắn sống lấy máu tươi, tim còn đập phì phọp để dân nhậu ăn tươi nuốt sống ngay giữa đường phố đông đảo (?) Từ dế (crickets), gián (cockroaches), bướm (butterflies) và sâu bọ chiên dòn được dân nhậu nhâm nhi với bia… Bạn cũng đừng có ngạc nhiên khi thấy thịt nhím (porcupines) với lông gai góc thấy mà hãi được liệt kê hàng đầu trên thực đơn các món nhậu. Họ cho biết, thịt nhím, sau khi bỏ bộ lông gai góc ghê sợ, ăn lại ngon như thịt vịt vậy(!)

4- Không có khái niệm về “đời tư” (personal space) của người khác

Thiệt tình! Hoàn toàn không có một tí nào cả! Thật muốn chửi thề hết sức bởi vì theo họ: Chuyện cá nhân của bạn cũng là chuyện cá nhân của tôi?! Mà thiệt không hà? Bất cứ người nào cũng tự nhiên, có quyền dí đầu vào nói lung tung với bạn khi bạn đang làm chuyện riêng tư. Đừng có ngạc nhiên khi thấy tôi mở điện thoại di động để đọc và gõ trả lời các tin nhắn của cá nhân tôi, sẽ có một anh bạn Việt Nam nào đó đứng lảng vảng quanh quẩn đang nhìn chằm chặp vào màn hình của tôi. Và cũng đừng ngạc nhiên nếu một người Việt Nam lại gần chào bạn bằng một câu đại khái như: “Ái chà! Trông bạn hôm nay khoẻ mạnh và béo tốt ghê.” Họ nghĩ đó là một lời khen.

5- Thuốc lào (Khói thuốc – Smoking)

Ở miền Bắc Việt Nam, rất thường tình khi sau mỗi bữa ăn, dân Việt chuyền tay nhau những cái điều cày (bamboo pipe). Họ hút thuốc lào sau bữa ăn vì tin là làm như thế (hút thuốc lào) giúp cho sự tiêu hóa được dễ dàng, tốt hơn (?) Hầu hết các nhà hàng ăn đều có thủ sẵn loại điếu cày này cùng với thuốc lào trong quán để “nicotin” có thể làm bạn ho sù sụ và tay chân run rẩy cả ngày.

6- Nhìn chăm chăm (Staring)

Ở Việt Nam, ngay cả tại thành phố lớn như Hà Nội, mỗi khi đi xuống phố thì y như rằng tôi bị người dân địa phương nhìn chằm chằm rất lâu – Điều này cũng thường thấy ở Ấn Độ, nhưng ít thấy ở các nước Á châu – Đối với văn hóa Tây phương, “nhìn chằm chằm” (staring) như vậy được xem là rất thô lỗ (rude); nhưng ở Việt Nam “nhìn chằm chằm” chỉ đơn giản là sự “tò mò.”

Tôi cảm thấy căng thẳng không phải chỉ riêng vì cái nhìn chăm chăm của đàn ông con trai mà ngay cả phụ nữ khi tôi tản bộ thể dục vào buổi sáng. Đôi khi ánh mắt nhìn chỉ có vẻ tó mò; đôi khi có vẻ “khám xét” (scrutinizing) làm tôi có cảm nghĩ là họ không muốn thấy tôi hiện diện ở đây! (I didn’t feel so welcome!)

Nhiều lần, có người đang đi xe gắn máy dừng lại bên đường rồi ngoái đầu hẳn về phía sau để nhìn tôi như thể tôi là một con thú vật hiếm trong sở thú (an animal in the zoo). Điều này (nhìn chăm chăm) đôi khi làm tôi không thấy thoải mái chút nào và không muốn đi ra ngoài phố.

Gia Nguyễn

chia sẻ từ Trần Văn Giang