Yevgeny Prigozhin đã tới Belarus theo lời mời của nhà đ.ộ.c t.à.i Lukashenko, nhưng đơn vị Wagner “phải tự sống và không được tuyển quân”. Lukashenko cũng nói rằng thủ lĩnh tập đoàn đánh thuê sẽ “có một căn nhà thuộc trại lĩnh cũ, nhưng phải tự chi tiêu”, đồng thời Prigozhin sẽ không được sở hữu súng vì theo luật Belarus, chỉ quân chính quy và cảnh sát mới được phép mang súng và tiếp cận nguồn đạn dược.
Tin tức cũng nói rằng Nga sẽ dừng điều tra Prigozhin. Nhưng có gì bảo đảm mọi thứ sẽ được giữ đúng như lời hứa khi nó được thốt ra từ miệng của những tên độc tài. Putin rất ghét sự phản bội, và ông ta sẽ không thể bỏ qua. Prigozhin là một tên đánh thuê khát máu, giết người không ghê tay.
Biết bao dân thường ở nhiều quốc gia như Syria, Libya, Cộng hòa Trung Phi, Mali và bây giờ là Ukraine đã bị sát hại bởi Wagner – tập đoàn đánh thuê do hắn sáng lập và điều hành.
Kết cục cho Prigozhin có thế nào cũng không tương xứng với tội ác quá khủng khiếp mà tên đồ tể khát máu này gây ra. Hắn được Putin phong các danh hiệu :
– Anh hùng Liên bang Nga
– Anh hùng Cộng hòa Nhân dân Donetsk,
– Anh hùng Cộng hòa Nhân dân Luhansk sau hàng loạt thành tích giết chóc ở Ukraine. Và sau sự kiện “lật đổ bất thành” thì cũng chính Putin phong danh hiệu “kẻ phản quốc” cho Prigozhin.
Chung quy, sát nhân sẽ bị giết trong tay sát nhân thôi. Không khéo, vài ngày nữa thế giới lại nhận tin giật gân, ông chủ Tập đoàn đánh thuê Prigozhin chết trong tư thế treo cổ nghi do tự tử ở một căn hộ nào đó trên lãnh thổ Belarus cũng nên. Đ.ộ.c t.à.i xứ nào chả giống nhau.
À, ông chủ tiệm Cà-rem-ly nói quân Wagner “nhận 1 tỷ USD” từ nhà nước Nga trong năm 2022/23. Không biết tên đầu bếp kiêm đồ tể Prigozhin có giắt được xu nào vào cạp quần đi mà tiêu không.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra (Công an TP Phan Rang – Tháp Chàm), tỉnh Ninh Thuận hôm 28/6 tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam một người dân ở TP Phan Rang với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự.
Báo Nhà nước dẫn nguồn tin từ Công an TP Phan Rang vào cùng ngày cho biết, người bị bắt là ông Lê Thạch Giang (66 tuổi).
Ông Giang bị công an cáo buộc lập tài khoản trên mạng xã hội có tên “Bọn cường quyền” từ tháng 8/2022 để livestream và đăng cá bài viết có liên quan đến cưỡng chế, thu hồi đất của các cơ quan chức năng.
Ngoài ra, ông Giang còn bị công an cáo buộc kêu gọi người dân xem các trang mạng xấu, độc, chia sẻ những thông tin chưa kiểm chứng, xuyên tạc, nói xấu Đảng.
Chính quyền Việt Nam thường dùng Điều 331 Bộ luật Hình sự để kết tội những người lên tiếng chỉ trích chính quyền ôn hòa. Đây là điều luật đã bị quốc tế chỉ trích là mù mờ và đề nghị Việt Nam xóa bỏ.
Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã bắt giữ ít nhất 10 người với cáo buộc vi phạm Điều 331, theo số liệu thống kê của Đài Á Châu Tự Do.
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sài Gòn hôm 29 Tháng Sáu có ngày thứ hai liên tiếp ngập nặng, nhiều tuyến đường biến thành sông, do “mưa lớn” và cống tắc nghẽn trầm trọng.
Theo ghi nhận của báo VNExpress, nước ngập gần lút bánh xe gắn máy trên các tuyến đường Lê Văn Việt, Đinh Bộ Lĩnh, Hồ Học Lãm…
Ngườ dân trên đường Hồ Ngọc Lãm (quận Bình Tân) dùng 2 máy bơm đê bơm nước từ trong nhà ra ngoài. Ảnh: Văn Điệp
Một căn nhà trên đường Hồ Học Lãm, quận Bình Tân, Sài Gòn, phải dùng hai máy bơm để hút nước ngập từ trong nhà ra ngoài. (Hình: VNExpress)
Mỗi khi có xe hơi chạy qua tạo thành sóng nước, đẩy người đi đường chao đảo trên biển nước. Tài xế nhiều xe hơi bị ngập nước phải thuê xe cẩu để đi sửa chữa.
Trên đoạn đường Ung Văn Khiêm, quận Bình Thạnh, xảy ra kẹt xe nghiêm trọng. Hàng ngàn xe gắn máy, xe hơi phải nhích từng chút một để về nhà.
Cùng thời điểm, báo Dân Trí cho hay cơn mưa như trút nước vào chiều 29 Tháng Sáu khiến nhiều tuyến đường ở quận Gò Vấp ngập sâu. Nhiều người phải đứng chờ hơn một giờ vẫn chưa được về nhà.
Tình cảnh tương tự diễn ra một ngày trước tại Sài Gòn cũng vì “mưa lớn.”
Theo báo Zing, mưa dông lớn trong chiều 28 Tháng Sáu khiến 65 chuyến bay bị ảnh hưởng khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.
Bản tin cho biết thêm, Tháng Sáu và Tháng Bảy hằng năm là thời kỳ phát triển của gió mùa mùa Hè, với sự khơi sâu của áp thấp nóng Ấn Độ-Miến Điện và mở rộng phạm vi hoạt động về phía Đông, chi phối thời tiết trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Theo Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Quốc Gia, trong hai ngày 29 và 30 Tháng Sáu, tùy khu vực Nam Bộ mà có mưa rào và dông rải rác, mưa vừa, mưa to với lượng mưa 20-40 mm, có nơi trên 60 mm. Thời gian xảy ra mưa dông tập trung vào chiều và tối.
Biển nước trên đường Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, Sài Gòn, hôm 29 Tháng Sáu. (Hình: VNExpress)
Hồi tuần trước, báo VTC News cho hay “siêu dự án” chống ngập do triều cường khu vực Sài Gòn, có mức đầu tư 10,000 tỷ đồng ($424.2 triệu), khởi công từ hồi năm 2016 nhưng đến nay vẫn “chưa thể đưa vào sử dụng.”
Bản tin cho biết, theo kế hoạch ban đầu, lẽ ra dự án chống ngập phải vận hành trong năm nay nhưng hiện tại, tất cả các hạng mục vẫn đang “án binh bất động.”
Công ty Trungnam Group, chủ đầu tư dự án, cho biết họ đang chờ Ngân Hàng Nhà Nước và ngân hàng BIDV cấp vốn và giải ngân thì dự án “ngay lập tức được tái khởi động, hoàn thành đúng tiến độ.” (N.H.K)
LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Đi làm về nhà ở xã N’Thol Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, bà Cil Ju Ka Tuyên hốt hoảng khi thấy chồng cùng ba con nhỏ chết trong tư thế treo cổ.
Báo Thanh Niên dẫn tin từ ông Nông Văn Hợi, chủ tịch xã N’Thol Hạ, huyện Đức Trọng, cho biết sự việc xảy ra vào khoảng 3 giờ chiều 27 Tháng Sáu. Những người chết gồm ông Lương Đức Chiến, 33 tuổi; cháu Cil Ju Ha M., 8 tuổi; Lương Đức T., 4 tuổi; và Lương Đức Th., 6 tuổi, trong đó cháu Cil Ju Ha M. là con riêng của bà Cil Ju Ka Tuyên với chồng trước.
Lối vào nhà bà Ka Tuyên ở xã N’Thol Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, nơi xảy ra sự việc. (Hình: N.X/VietNamNet)
“Vụ việc quá thương tâm và đau lòng xảy ra lúc trời đang mưa to. Khi chúng tôi đến hiện trường, người nhà đã đưa bốn nạn nhân xuống đất,” ông Hợi cho biết thêm.
Kể với báo Thanh Niên, chị Cil Ju Ka Th., người nhà bà Ka Tuyên, cho biết bà Ka Tuyên có ba đứa con với chồng trước gồm một gái và hai trai. Sau khi chồng trước bị tai nạn giao thông qua đời, bà Ka Tuyên lấy ông Chiến và sinh được hai đứa con trai là cháu Th. và cháu T.
Nhà bà Ka Tuyên ngay sát nhà cha mẹ đẻ, do được họ cho đất, hỗ trợ xây nhà. Bà Tuyên hằng ngày đi làm thuê cho họ hàng, bà con trong xã, còn ông Chiến làm thợ xây.
Sự việc xảy ra khi bà Ka Tuyên đang đi làm, còn bé gái và bé trai, con riêng của bà Ka Tuyên, đang đi chăn bò.
Chiều 27 Tháng Sáu, khi bé gái đi chăn bò về phát hiện sự việc nên báo cho mẹ biết.
Chị Th. cho biết thêm: “Gia đình hết sức bất ngờ khi nghe tin anh Chiến và ba cháu nhỏ tử vong. Thực sự gia đình không biết lý do gì dẫn đến vụ việc đau lòng như vậy. Cách đây khoảng ba ngày, hai vợ chồng anh Chiến và chị Ka Tuyên có chuyện xích mích nhưng đã giảng hòa rồi.”
Nói với báo Công An TP.HCM, bà Ka Tuyên cho biết cách đây ít ngày, hai vợ chồng có tranh luận về chuyện con cái. Ngoài ra, vợ chồng bà còn nợ khoảng vài chục triệu đồng của người quen khi xây nhà nhưng không bị áp lực, vì người này đã nói khi nào có thì trả nợ cũng được.
Chuyện tưởng như chẳng có gì và sáng 27 Tháng Sáu, bà Ka Tuyên đi làm bình thường, còn ông Chiến nói với vợ sẽ đi làm sau. Tuy nhiên, không ngờ lại xảy ra sự việc đau lòng trên.
Đám tang các nạn nhân. (Hình: Lâm Viên/Thanh Niên)
Đến trưa 28 Tháng Sáu, việc giảo nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường của các cơ quan hữu trách kết thúc.
Hiện Công An Tỉnh Lâm Đồng đang điều tra nguyên nhân. Bước đầu nhận định ông Chiến sát hại ba con rồi tự tử. (Tr.N)
Những năm sinh viên, tôi và bạn bè gốc quê của mình đi làm thuê, thường thì đi theo nhóm, một nhóm chừng năm đứa, rủ nhau đi làm, có nhóm đi dạy thêm, có nhóm đi làm bồi bàn, có nhóm đi làm thêm những việc có tính chất “thợ đụng”, ai kêu gì làm nấy.
Nhóm tôi ngoài việc đi dạy thêm còn đi làm bồi bàn trong những ngày cuối tuần mới đủ tiền thuê trọ, tiền ăn. Thời gian đi làm thêm cũng là khi tôi nhận ra sự khủng khiếp của thế hệ tôi từ nền giáo dục, một sự khủng khiếp tôi còn mơ hồ khi ở giảng đường và nó hiển hiện rất rõ khi đi làm. Càng về sau, tôi càng thấy rằng với nền giáo dục này, sẽ cho ra những con người trộm cắp toàn diện, ai may mắn lắm mới thoát được nó nhờ vào giáo dục gia đình.
Tôi còn nhớ như in, hình ảnh một thằng bạn chuyên ăn cắp vặt trong lúc bưng thức ăn, khi bưng dĩa chả chiên hoặc món ăn gì đó có thể bốc được, ngang qua đoạn không có ai quan sát, hắn lén bốc một cục bỏ vào mồm, sau đó, miệng thì nhai nhanh, tay thì sửa cho dĩa thức ăn tròn, đều trở lại, hắn làm trong tích tắc.
Nhưng, chuyện ăn cắp thức ăn vì quá đói, dần thành thói quen vẫn chưa có gì đáng kể. Trong một lần nói chuyện với nhau, sau khi nghe một tay giám đốc ngân hàng trò chuyện trên bàn rượu, rằng ông ta tuyển nhân viên toàn nữ, phải đẹp mới tuyển, khi phỏng vấn để nhận người, ông ta chỉ hỏi đúng một câu “em uống được mấy chai?”, nếu trả lời không biết uống và không biết hát karaoke thì ông sẽ không nhận.
Những đứa sinh viên giàu mộng mơ như tụi tôi sẽ rất sốc khi nghe chuyện, nhưng có vài đứa không những không sốc mà lại nhìn thấy cơ hội của mình. Tôi nhớ một đứa bạn đố tôi “giả sử sếp của mi hỏi năm cộng năm bằng mười một đúng hay sai, mi trả lời sao?”. Tôi nói: “Theo toán học thì rõ ràng sai!”. Nó bảo “Mi ngu quá, như vậy là mất việc đó con, mi phải nói lại là nếu sếp nói đúng, thì đó là đúng”. Mấy đứa còn lại vỗ tay khen thằng đó khôn, thông minh. Riêng tôi lúc ấy chỉ thấy ớn lạnh và chán nản, bởi mọi thứ tôi chưa bao giờ hình dung nó tệ mạt như vậy.
Nhưng rồi, khi đi làm việc, tiếp xúc với đủ hạng người, tôi lại thấy thằng kia khôn và đúng, chí ít là nó khôn với tình thế xã hội nó sống và nó đúng cho tương lai của nó, còn mình thì quá ngu, mình luôn tâm đắc với quan niệm “ghét thì nói ghét, thương thì nói thương, đúng sai rõ ràng” nên mình đụng đâu cũng thấy khó, đụng đâu cũng thấy thất bại, đụng đâu cũng gặp toàn oan khiên gai độc. Như vậy là tôi sai sao? Như vậy thì xã hội này trở thành cái nồi lẩu lộn xộn, chẳng còn đúng sai, chẳng còn công lý hay thiên lương sao?
Tôi nghĩ không đến nỗi như vậy, chí ít, vẫn còn rất nhiều người từng thụ đắc một nền giáo dục tốt, và cả những người tuy sống trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng bản thân họ được thụ đắc nền giáo dục gia đình chỉn chu, họ may mắn học được những làn gió tư tưởng cởi mở, họ biết tự trọng và tin vào sự chân thành, sự thật… Họ vẫn tồn tại đâu đó, không phải ít trong xã hội này. Nhưng tiếng nói của họ trở nên nhỏ nhoi hoặc họ không buồn nói ra tiếng lòng của mình, bởi giữa cái xã hội hổ lốn, họ biết có nói ra cũng bằng thừa, bởi đó là sự hỏng hóc từ kiến trúc thượng tầng, sự hỏng hóc từ nền giáo dục, thì họ nói ra để mà làm gì?!
Một nền giáo dục mà ngay từ nhỏ, cả nhà trường và học sinh đều phải gồng lưng để vừa chạy đua vừa nuốt những chương trình vô bổ, những giáo án , giáo trình vừa xa rời thực tế vừa vặn vẹo dối trá, một mặt ca ngợi chiến công hiển hách cũng như sự lãnh đạo thiên tài của đảng cầm quyền, mặt khác chì chiết, bêu riếu với giọng điệu đầy thù hận đối với bên thua cuộc. Với một nền giáo dục mà khởi sự là một thái độ phi khoa học, phi nhân đạo như vậy, tâm hồn của học trò không thể khai mở một cách bình thường, nếu không muốn nói là tổn thương, méo mó và dị dạng.
Một nền giáo dục mà ở đó, cuộc chạy đua về thành tích gần như bất tận, chạ mẹ phải vã mồ hôi để chạy đua với thành tích của con, còn con thì lao đầu như thiêu thân vào việc học, từ học chính khóa đến học thêm, học kèm và các loại phấn đấu, nỗ lực để có giấy khen, có khen thưởng từ thành tích học tập cũng như thành tích sinh hoạt đội, đoàn, thành tích noi gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Tất cả những thứ vớ vẩn ấy chi phối toàn bộ thời gian và khiến cho bất kì gia đình cha mẹ học sinh nào đều phải xoắn chân, vắt chân mà chạy theo. Nếu chạy theo bằng đường chính không kịp thì chạy theo bằng đường băng. Tức cố gắng cho con học thêm, học kèm, học bồi dưỡng… mà con vẫn chưa đạt được thành tích mong muốn thì mua thành tích. Thời đại thành tích là sản phẩm đặc trưng của nhà trường nên với sản phẩm, người ta mua được nó bằng mọi giá, nếu mua bằng nhiều tiền không được thì mua bằng thật nhiều tiền.
Ngay cả những tấm bằng đại học, cao học của các quan chức lãnh đạo, những thứ mà phải trầy vi tróc vảy mài đũng quần suốt mười hai năm học để thì vào đại học, thì đậu đại học rồi lại mài đũng quần suốt gần năm năm dài để lại thức khuya dậy sớm mà luyện, ôn, thi mới có nó… nhưng người ta có thể dễ dàng nhấc một cuộc điện thoại, chuyển một dãy số trong tài khoản hoặc giả chuyển một cái phong bì thì có tất tần tật, hàng thật, từ chữ ký Hiệu trưởng cho đến con dấu đỏ, có hết. Trong một bầu khí quyển giáo dục mang tính chợ búa và mua bán như vậy, thì lòng thật thà có còn không?
Một khi lòng thật thà không còn, giá thành hàng hóa ngày càng đắt đỏ, người không mua nổi sẽ nghĩ đến chuyện ăn cắp. Bởi bản thân những người làm giáo dục cũng đang ăn cắp, từ ăn cắp lương tâm đến ăn cắp danh dự, ăn cắp sản phẩm giáo dục, ăn cắp thành tích, ăn cắp tài sản quốc gia… thì câu chuyện ăn cắp đâu chỉ dừng ở những người làm công tác giáo dục. Sự ăn cắp nhanh chóng chuyển sang những đứa học trò, những đứa có khả năng học và tiếp thu rất nhanh so với người lớn, chúng có thể phát huy, người lớn biết ăn cắp một thì chúng biết ăn cắp mười.
Chúng không những ăn cắp cây viết của bạn bè, ăn cắp cuốn tập, ăn cắp trái bắp, trái dưa mà chúng sẽ nuôi mộng ăn cắp rừng, ăn cắp biển, ăn cắp khoáng sản, ăn cắp luôn cả thành tựu, thánh tích của người khác, thậm chí ăn cắp cả ý nghĩ của người khác nếu có thể. Bởi ăn cắp đã trở thành sinh quyển của chúng, luật chơi của xã hội và là đường hướng đi đến tương lai.
Trong một xã hội đầy rẫy kẻ cắp, từ nhà trường đã nuôi ý chí ăn cắp, khi đi làm việc, nếu là thầy thuốc, chúng sẽ ăn cắp từng viên thuốc, từng chút dụng cụ, vật tư y tế, nếu làm nhà giáo, chúng sẽ ăn cắp thời gian của học trò bằng cách ém nhẹm, kéo dài bài vở để dạy thêm, dạy kèm, thậm chí toa rập để chạy đua thành tích, đó là chưa nói đến việc ăn cắp giờ giấc để hẹn hò, ngoại tình khi đã có gia đình, nếu làm quan, làm cán bộ thì chúng sẽ ăn cắp tài sản quốc gia, ăn cắp tài nguyên đất nước… Có cả một ngàn lẻ một đường để chúng ăn cắp.
Và hệ lụy của việc ăn cắp đồng loạt này là các quan chức giàu nứt đố đổ vách, công chức giàu sụ, viên chức giàu kếch xù và tất cả đều lấy của ăn cắp để nuôi tham vọng. Tài nguyên quốc gia ngày càng cạn kiệt, kể cả tài nguyên con người. Tài sản quốc dân bị bòn rút đến tận cùng, xã hội trở nên rối ren và đầy rẫy trộm cắp.
***
Chuyện ba công an viên vừa bị bắt ở Hà Nội do bắn trộm dê của dân, làm dấy động dư luận hai ngày nay, thiết nghĩ đó chỉ là chuyện hổ ngươi và đen đủi trong thói quen trộm cắp của công an mà thôi. Bởi công an cũng từng là học sinh xã hội chủ nghĩa, công an cũng là công chức nhà nước, công an cũng là công dân xã hội chủ nghĩa, cũng đều chung một nền giáo dục và thiên hướng chính trị cũng như khuynh hướng tính cách.
Ảnh: Ba cán bộ Công an Thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội bắn trộm dê của dân. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ
Thử hỏi: Nếu tất cả cán bộ Việt Nam sống một cách lương thiện, không có thói quen trộm cắp, thì tiền lương của họ có đủ để xa hoa, sa đọa như đang thấy? Và giả sử họ giỏi kinh doanh, thì với những đồng tiền chảy mồ hôi, sôi nước mắt do kinh doanh mà có được, những đồng tiền sạch, họ có dám vứt qua cửa sổ sau một đêm ăn chơi?
Chỉ có tiền ăn cắp, chỉ có thứ tiền có được bởi “một đêm ăn trộm bằng ba năm làm” mới giúp cho cán bộ, công chức, viên chức sẵn sàng vứt nó qua cửa sổ, ăn chơi sa đọa, bất chấp như vậy mà thôi!
Đừng ngạc nhiên khi nghe tin công an hay cán bộ ăn cắp, bởi hằng ngày, họ vẫn công khai ăn chặn, ăn trấn lột bằng hình thức “giữ trật tự an toàn giao thông” với áo vàng, trang phục ngành và lực lượng hỗ trợ, họ vẫn nói năng với dân giống như quân cướp, hỗn hào, vô lễ, mất dạy… Họ có tất! Hằng ngày, họ vẫn ăn cắp, buôn lậu, buôn hàng quốc cấm qua cửa khẩu một cách ngang nhiên, thậm chí rạch vali của hành khách mà lấy trộm đồ đó thôi, họ là những người ưu tú của chế độ đấy!
Đừng ngạc nhiên khi cán bộ ăn cắp, bởi lúc này, việc thụt két nhà nước đã khó hơn rồi, nên chuyện họ sổng ra ngoài, ăn cắp một thứ gì đó của dân mà bị bắt, là do họ xui rủi. Còn ngay từ nền giáo dục, ngay từ tấm bé, họ đã sống trong bầu khí quyển trộm cắp, bởi vậy: đừng ngạc nhiên!
Hồ sơ tỵ nạn người Việt thuộc chế độ VNCH trên bàn làm việc của nhân viên Sở di trú Hoa Kỳ tại Sài Gòn, thập niên 1990 (ảnh: Peter Charlesworth/LightRocket via Getty Images)
Sau sáu năm tù phờ phạc ở trại Xuyên Mộc, tôi thất thểu trở về làm phó thường dân nơi một xã hẻo lánh vùng Bến Tre – chỗ chôn nhau cắt rốn của mụ vợ thân yêu. Nói phó thường dân cho oai, chứ thật sự chỉ là thằng tù giam lỏng, đi đâu cũng có kẻ rình người rập bất kể ngày hay đêm.
Mỗi tuần, theo chỉ thị, tôi còn phải cuốc bộ gần năm cây số đường vườn để tới công an xã, khệ nệ trình cuốn sổ tay dày cộm có ghi rõ từng chi tiết sinh hoạt hàng giờ, để báo cáo với tên công an trưởng (dường như chưa một lần cắp sách tới trường).
Ở ấp, tôi vâng lệnh chi bộ ấp như vâng lệnh ông vua, lao động xã hội chủ nghĩa mút mùa, vì sợ phải trở lại trại tù nhai tới nhai lui nắm mì lát chua như bã rượu. Làm nhiều ăn ít, riết rồi tôi co lại như một con tép riu, lom khom như tên tiều phu già nua trước tuổi. Vì vậy, khi có chương trình Hát Ô (Humanitarian Operation – HO) ban ra, tôi vội vã lên tỉnh, hồi hộp dò la ở những nơi chốn có bạn tù. Hồi hộp, dò la là điều tất nhiên ở một xã hội theo chế độ cộng sản. Họ thường nói một đàng, nhưng làm một nẻo.
Họ bảo các thành phần chế độ cũ trình diện “học tập cải tạo” một tháng, thì sau khi “gom bi”, các thành phần đó ở tù mút chỉ cà tha. Họ bảo lao động là vinh quang, xây dựng xã hội ấm no – thì sau một thời gian cuốc đất trồng khoai, nhân dân chỉ còn trơ lại cái quần tà lỏn. Khi HO một chuẩn bị lên đường, chúng tôi mới tin đây là một chính sách đúng đắn, do áp lực từ Mỹ.
Lúc đó, Sở Công an tỉnh Bến Tre, ngày nào như ngày nấy, đầy nhóc những người chế độ cũ chen chân nhau để mua hồ sơ xuất cảnh. Hồ sơ xuất cảnh được các tay công an “kinh doanh” một cách tận tình. Giá của một bộ hồ sơ quá đắt, so với túi tiền còm cõi của một tên tù lưu đày vừa mãn hạn. Vậy mà, chúng tôi cố chạy chọt khắp nơi, vay mượn đầu này đầu kia để mong sao sớm thoát khỏi cái chế độ “thầy chạy” này.
Điền đơn, viết hồ sơ… đó là nghề của tôi, dễ ợt như ăn cơm bữa. Nhưng chứng thực hồ sơ mới là chuyện khó. Khó đến nỗi tôi luôn nhớ suốt đời, như vết thương để lại trên thịt da một vết sẹo hằn sâu. Hồ sơ được luân chuyển đến tay các “đại ca” từ: Ấp, đến huyện, rồi qua tỉnh, về thành phố, ngược xuôi ra Bắc…, lao đao trôi nổi, lận đận trăm chiều. Hồ sơ đi tới đâu, tôi phải thiết tha khẩn cầu, ỉ ôi năn nỉ. Nhưng rốt cuộc rồi cũng chẳng qua “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”.
Tôi muốn bắt đầu câu chuyện từ ấp – Ấp Phú Ninh, nơi tôi dung thân sau những năm tháng mãn tù. Sau 1975, ấp này có nhiều tay cách mạng ba mươi ra nắm chính quyền. Cách mạng ba mươi là thành phần làm ăn sinh sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng sau ba mươi Tháng Tư, lúc cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, thành phần này bỗng trở cờ, ra thờ ma, làm việc cho cộng sản. Trưởng ấp Phú Ninh thuộc thành phần này. Lúc trước, hắn chỉ là một cậu học sinh tầm thường, nương cậy vào nhà chùa để trốn quân dịch. Sau này, vì bọn Việt Cộng quá dốt nát, một chữ lận lưng cũng không có, nên mới đề cử tên này ra đảm nhận chức ấp trưởng.
Vừa thấy tôi cầm xấp hồ sơ lấp ló trước cửa, hắn thao thao lên lớp ngay.
-Giờ này mà anh chưa chịu từ bỏ, dứt khoát với tư tưởng cũ. Anh vẫn tin vào bọn đế quốc Mỹ. Tôi cho anh biết, anh qua bên đó chỉ làm cu-li cho bọn chúng mà thôi. Sức mấy mà cái lon sĩ quan của anh được chúng phục hồi?
Tôi nhẹ nhàng giúi vào tay hắn cây thuốc ba số 5 mà tôi phải vác mía mướn đến “bá thở” mới mua được.
-Luyến tiếc gì nữa ba cái lon lá cà chớn ngày trước làm chi anh. Tôi muốn qua Mỹ vì tương lai thằng con. Qua bển, học hành thành tài, nó trở về phục vụ cho đất nước. Quê hương mình, làm sao bỏ được anh?
-Anh nói nghe chí lí, tôi phục đó nha! Thôi, đưa hồ sơ tôi chứng cho. Nhưng nhớ, trước khi lên máy bay, cho anh em chúng tôi một chầu rượu nhe!
-Chuyện nhỏ. Anh giúp tôi, làm sao quên ơn anh được?
Cái cửa đầu tiên trót lọt, tôi vừa mừng thầm, vừa chưởi thề nho nhỏ. Ngày mai, đem hồ sơ lên huyện, tôi phải đạp xe gần 20 cây số tiểu lộ. Nói tiểu lộ để phân biệt với các con lộ có đá, tráng nhựa. Nó chỉ là một con đường đất gập ghềnh.
Trời nắng, gặp chiếc Honda nào rồ máy chạy ngang, tôi đành tấp vào lề, hít đống bụi bặm đang bay loạn xà ngầu trước mặt. Còn trời mưa, xe đạp không còn cõng mình, mà mình phải cõng xe đạp, lò dò từng bước trên con đường sình lầy trơn trợt như thoa mỡ bò. Nhưng dù gian nan cách mấy, sáng sớm, tôi phải quyết định đi. Người ta nói, nếu cái cột đèn biết đi, nó cũng bỏ nước ra đi trong thời gian này kia mà! Tôi sắm sẵn một sợi dây lòng thòng, phòng hờ trời mưa, tôi sẽ quàng xe đạp lên vai, an toàn trở về.
Sài Gòn, 1983 (ảnh: Alex Bowie/Getty Images)
Huyện Châu Thành nằm trên con lộ độc đạo, dẫn vô thị xã Bến Tre. Huyện đang xây dựng dở dang. Gạch đá ngổn ngang. Công trình dường như qui mô, lớn rộng. Bên cạnh đó, một dãy nhà dân lụp xụp nghèo nàn, tương phản nhau một cách kỳ cục. Căn nhà lá khang trang dựng lên, kế bên công trình, tạm thời làm ban trị sự của huyện. Tôi chuẩn bị sẵn thuốc lá, gói ghém cẩn thận để khi cần, lót tay một cách nhẹ nhàng.
Nhưng tôi vỡ mộng, người tiếp tôi hôm đó là một thiếu nữ tuổi độ tròn trăng. Cô bé có vóc dáng của cô học trò thùy mị. Vóc dáng này, hình ảnh này, trong quá khứ, đối với tôi – rất dễ thuyết phục. Nhưng, tôi lại vỡ mộng thêm lần nữa, khi nghe giọng nói sành đời của cô cứng rắn thốt lên:
-Ông về đi. Cứ để hồ sơ ở đây. Tháng sau tới… sẽ biết tin.
Tôi luống cuống, mân mê hộp thuốc lá cứu tinh, giờ đây đã trở thành vô dụng.
-Xin cô vui lòng chứng sớm dùm. Tháng sau… lâu quá!
Cô bé bỏ viết xuống, nhìn tôi đăm đăm, dường như có hận thù với tôi từ kiếp nào. Xong, cô lạnh lùng nói:
-Lâu hả? Nhiều người còn lâu hơn ông kìa. Có khi họ phải đợi một năm, hai năm… vẫn chưa xong đó!
-Cô làm ơn giúp dùm. Nhà tôi ở xa, đi lên đi xuống rất khó khăn. Cô bé bực dọc, hầm hầm đẩy hồ sơ tôi sang một bên:
-Khó khăn quá thì ông cầm hồ sơ về đi. Tôi không có thì giờ.
Tôi tiu nghỉu trở về. Nằm chờ tháng sau, khăn gói lên huyện thêm lần nữa. Lần này, tôi chuẩn bị một phong thư tiền, cẩn thận gói ghém kín đáo. Người ra tiếp tôi, hôm nay, cũng vẫn cô bé tròn trăng, vóc dáng quê mùa. Chưa kịp chào hỏi, cô bé đã gầm gầm:
-Hồ sơ ông chưa xong. Chủ tịch huyện bận công tác. Tháng sau tới gặp.
Tôi chán nản, định xổ một tràng cho bớt tức tối. Nhưng tôi kịp nén lại, nở nụ cười duyên gượng gạo với cô bé.
-Tôi có chút quà tặng cô. Xin cô vui lòng nhận và giúp dùm.
Phong thư đặt nhẹ nhàng lên bàn, và nhẹ nhàng hơn nữa là ngăn tủ được kéo ra cho phong thư rớt xuống một cách êm đềm. Hành động này rất nhanh nhẹn và điêu luyện, chứng tỏ người nhận rất quen thuộc với trường hợp này.
-Được rồi. Ông ngồi chờ chút. Tôi lên gặp phó chủ tịch, xem hồ sơ của ông đã ký xong chưa?
Tôi đặt đít xuống ghế, nhấp nha nhấp nhổm gần cả tiếng đồng hồ, mới thấy cô bé yểu điệu bước ra.
-Ông hên lắm! Hồ sơ đã ký rồi. Lên tỉnh ngày hôm nay đi. Nộp luôn cho xong.
Thế là hồ sơ xuất cảnh của tôi được lên tỉnh. Và không biết nó chu du nơi nào mà cả một năm sau… vẫn bặt vô âm tín. Buồn tình, tôi đi tìm các bạn tù hỏi ý kiến. Thì ra các HO phải lên Sài Gòn mướn dịch vụ xuất cảnh, cũng do công an Việt Cộng quản lý và kinh doanh. Tôi chạy ngược chạy xuôi vay mượn thêm hai chỉ vàng, vội vã lên Sài Gòn tìm kiếm dịch vụ.
Dịch vụ nằm trong một ngôi nhà to lớn, thênh thang những hàng ghế lớn nhỏ dành cho khách ngồi đợi. Tôi chen vào đám đông, định tiến tới phía trước tìm người hỏi thăm, thì có một bàn tay nắm vai tôi kéo ngược lại. Tôi ngó xuống bàn tay. Cánh tay liễu yếu đào tơ của một cô gái có chút nhan sắc.
-Anh ra ngoài này, em có chuyện muốn nói với anh.
-Chuyện gì? Tôi phải vào lo dịch vụ. Còn về Bến Tre nữa, kẻo trễ xe.
Cô gái nũng nịu:
-Ít phút thôi! Làm ơn giúp em!
Tôi ra ngoài với cô gái. Ánh nắng ban trưa nhấp nha làm đôi má cô gái hồng lên, một cách gợi cảm.
-Em muốn ghép hồ sơ với anh. Qua Mỹ, chúng mình sẽ thanh toán sòng phẳng. Tôi ngắm cô gái từ đầu đến chân, rồi cuối cùng chối từ, nhưng trong lòng thật tình rất tiếc.
-Xin lỗi, tôi còn vợ con. Vô phương giúp cô được.
Nhờ hai chỉ vàng, hồ sơ xuất cảnh của tôi được hoàn tất một cách nhanh chóng. Gia đình tôi thuộc HO 20 và khoảng tháng sau sẽ có “Hộ Chiếu”.
Tôi trở về căn chòi xiêu vẹo, nằm mơ tưởng đến tương lai diệu vợi. Rồi đây vợ tôi sẽ không còn cảnh lội ruộng, móc mương. Con tôi sẽ ung dung cắp sách đến trường, miệt mài cho đến khi thành đạt. Tôi sẽ an hưởng thanh nhàn, bù lại những năm tháng tuổi trẻ bất hạnh trong chiến tranh và lao tù. Nhưng khi cầm sổ “hộ chiếu” trên tay, tôi lại phải đối đầu với những gian nan gai góc khác.
Muốn định cư ở Mỹ, gia đình HO phải trải qua hai giai đoạn: Sơ vấn và phỏng vấn. Giai đoạn sơ vấn là giai đoạn gặp công an Việt Cộng để khai báo quá khứ và thiết lập hồ sơ, xong rồi, đưa qua phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Khi gặp phái đoàn Mỹ, số phận HO mới được định đoạt.
Ngày sơ vấn, tôi đeo xe đò lên Sài Gòn trước một ngày, để hôm sau đi thẳng đến chỗ xuất cảnh sớm nhất. Như lần trước, tôi chuẩn bị một số phong thư. Thằng em út của tôi nhìn thấy, liền kề tai nói nho nhỏ:
-Tụi công an ăn hối lộ nhiều quá, tai tiếng tùm lum. Nên lúc này, cấp trên tụi nó ra lệnh thi hành chính sách trong-sạch-hóa. Anh coi chừng việc đi Mỹ của anh có thể bị trở ngại, vì tụi nó đang thi hành chính sách này một cách nghiêm chỉnh.
Quả đúng như lời thằng em nói, chỗ xuất cảnh thênh thang, bốn bức tường chung quanh đều treo đỏ các khẩu hiệu bề thế, đại loại như: Chống hối lộ, trong sạch hàng ngũ, đạo đức cách mạng, noi gương bác Hồ…
Tôi xé vội các phong thư, rồi xếp hàng nghiêm chỉnh, đàng hoàng như các khẩu hiệu treo trên tường. Ngồi chờ từ sáng sớm đến gần xế chiều, tên tôi vẫn chưa nghe gọi lên. Ồ! Thật lạ quá! Tôi là người ghi danh đầu tiên kia mà. Sáng tờ mờ, tôi đã đến đây trước, lúc cánh cổng chỗ xuất cảnh chưa mở kia mà.
Nóng lòng, tôi đi tới đi lui, đi xuôi đi ngược. Cuối cùng, tôi chạy vội đến tên công an ngồi ghi danh trước cổng:
-Anh ơi! Tôi là người đến đây đầu tiên, sao mãi tới bây giờ vẫn chưa được gọi tên?
Tên công an cộc lốc:
-Cứ ngồi chờ đi.
Có một người bạn tù thấy vậy, khều tôi ra ngoài hành lang:
-Anh “lót tay” cho tụi nó chưa?
-Hả? Anh không thấy những khẩu hiệu to bề bề trên tường sao?
Người bạn tù lắc đầu:
-Anh ngây thơ quá! Nó nói vậy mà không phải vậy. Anh phải hiểu ngược lại chứ!
Tôi chạy vội vào nhà vệ sinh, sau khi xin người bạn tù tốt bụng vài mảnh phong bì. Rồi, tôi lại chạy vội về phía tên công an gác cổng. Vài phút sau, tên tôi được gọi lên ngay. Cuộc sơ vấn cũng vậy, y chang như những lần gặp gỡ trước. Cũng phong bì đặt nhẹ nhàng trên bàn. Cũng ngăn tủ được kéo ra, phong bì thong dong rớt xuống.
Cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ thì khỏi cần lo, vì gia đình tôi có đủ giấy tờ chứng minh một cách hợp lệ. Được phái đoàn Mỹ chấp thuận, gia đình tôi rất mừng, mừng đến rưng rưng nước mắt. Nhưng công an Việt Cộng vẫn chưa chịu tha, họ bắt chúng tôi xác nhận một số giấy tờ, và lại tiếp tục đi lòng vòng để xin chữ ký từng người.
Sài Gòn, thập niên 1980 (ảnh: Christopher Pillitz/Getty Images)
Trước khi rời Việt Nam, gia đình tôi phải hoàn tất cấp tốc các đơn từ khôi hài như sau:
Đơn xin xác nhận không thiếu nợ của nhân dân ở địa phương; chứng chỉ hợp lệ tình trạng thuế vụ; chứng nhận về nhà ở của người đi “nước ngoài”; giấy xác nhận không thiếu nợ ngân hàng thuộc chế độ cũ trong phạm vi tỉnh Bến Tre; giấy xác nhận đã trả thuế đất và thuế nhà năm 1973…
Năm 1982, khi thả ra từ trại tù Xuyên Mộc, tôi về quê vợ đốn cây sua đũa làm cột kèo, chẻ tre và cau làm nẹp, dựng tạm một căn chòi cho gia đình tôi dung thân. Buồn cười thay, lúc được phái đoàn Mỹ chấp thuận, căn chòi này đã xiêu vẹo mục nát, sắp sửa đổ lăn ra. Tôi có làm đơn xin dỡ chòi, nhưng chính quyền địa phương không cho phép, họ bảo phải định giá căn chòi để đóng thuế nhà. Và muốn hợp pháp, tôi phải làm đơn xin tặng căn chòi mục nát cho ông anh vợ, trước khi ra đi.
10 năm ở quê vợ, tôi đã miệt mài biến những mảnh đất hoang vu đầy lùm bụi thành những miếng vườn phì nhiêu, cây trái xum xuê. Cảm tạ công lao đó, ông anh vợ đã đền bồi cho gia đình tôi ba cây vàng làm vốn về xứ người. Ngày ra đi, tôi trích 5 chỉ để trả tiền dịch vụ sắp xếp chuyến bay, và sắm một số hành lý cho vợ và con. Còn lại, tôi gói ghém tất cả cho vào túi xách tay, mang theo bên người.
Từ Phú Ninh (quê vợ), gia đình tôi phải đi nhiều chặng đường mới lên tới Sài Gòn. Bôn ba qua vài ải, từ tàu đò, đến xe đò, rồi xe lam… Khi đặt chân tới Tân Định, mới hay túi xách tay bị kẻ gian rọc rách, và cuỗm mất toàn bộ tài sản của tôi! Đau quá, tôi định đi báo công an, nhưng nghĩ lại, sáng mai lên máy bay rồi. Đành nuốt lệ, tự an ủi: Của mất thay người vậy.
Vào đến phi trường, ngồi ngay cổng để chờ giờ lên máy bay, gia đình tôi cũng vẫn chưa yên ổn. Tên công an lảng vảng phía sau, theo tôi bén gót. Hắn ngoắc tôi ra ngoài hành lang, lạnh lùng nói:
-Này, còn bao nhiêu tiền móc hết ra đi. Qua Mỹ rồi, tiền Việt Nam chỉ có nước vứt đi.
Tôi gom mớ tiền tống khứ cho hắn, như tống khứ tất cả vận xui ra khỏi cuộc đời mình.
Cám ơn Thượng Đế. Cám ơn cuộc đời. Cám ơn tấm lòng nhân hậu của các vị hảo tâm. 17 năm qua, nơi xứ người, từ bàn tay trắng lao lung, gia đình tôi đã có nghề nghiệp vững chắc. Những đứa cháu nội xinh đẹp, khôn ngoan lần lượt ra đời. Những niềm vui tràn trề xuất hiện xua tan đi những nỗi đau thống thiết của quá khứ bất hạnh.
HO chỉ là danh sách, chỉ là ngôn từ được đặt ra để nói đến diện tù nhân chính trị. Nhưng HO là nhân chứng, một biến động lịch sử to lớn xảy ra năm 1975. Có HO, dùng danh từ HO, người ta mới phân biệt được tù nhân chính trị thuộc giai đoạn nào trong lịch sử. Từ đó, về sau, khi lật lại từng trang sử Việt, thế giới và hậu duệ chúng ta mới xác nhận được ngày 30 Tháng Tư 1975 chính là ngày quốc hận của Việt Nam Cộng Hòa.
Tóm tắt: Thông tin chi tiết cung cấp manh mối về lý do tại sao Tập đoàn Wagner từ bỏ âm mưu đảo chính, đã làm lộ ra ‘những rạn nứt thực sự’ trong chính quyền Putin.
Các cơ quan tình báo Nga đã đe dọa sẽ làm hại gia đình của các lãnh đạo Wagner trước khi Yevgeny Prigozhin ngừng tiến công Matxcơva, theo các nguồn tin an ninh của Anh.
Người ta cũng đánh giá rằng, lực lượng lính đánh thuê chỉ có 8.000 chiến binh thay vì 25.000 như đã được tuyên bố, và quân Wagner có khả năng phải đối mặt với thất bại nếu cố gắng tấn công thủ đô Nga.
Vladimir Putin hiện cố gắng sáp nhập các binh sĩ của Tập đoàn Wagner vào quân đội Nga và loại bỏ các cựu lãnh đạo của tổ chức này, theo thông tin chi tiết được chia sẻ với báo Telegraph.
Phân tích đưa ra manh mối về bí ẩn tại sao Prigozhin, lãnh đạo Tập đoàn Wagner, đã hủy bỏ cuộc tuần hành nổi loạn của mình ở Matxcơva hôm thứ Bảy, chỉ vài giờ trước khi đến thủ đô.
Vẫn còn suy đoán về nội dung thỏa thuận chính thức đã được ký kết, nếu có. Điện Kremlin cho biết hôm thứ Bảy, rằng Prigozhin sẽ tới Belarus để đổi lấy sự tha thứ cho tội phản quốc.
Prigozhin không có bình luận nào về đề xuất này. Hiện vẫn chưa rõ liệu Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu sẽ bị giáng chức hay sa thải như Prigozhin yêu cầu.
Hôm Chủ Nhật, nghị sĩ Nga Andrey Gurulyov, một nhà tuyên truyền nổi tiếng của Điện Kremlin, cho biết, “không có lựa chọn nào” ngoài việc xử tử Prigozhin và một nhân vật cấp cao khác của Wagner.
Putin đã không xuất hiện trước công chúng kể từ khi phát biểu trước toàn quốc hôm sáng thứ Bảy 24/6, nhưng một cuộc phỏng vấn được ghi âm trước được quay vào đầu tuần, đã được phát trên truyền hình nhà nước Nga vào ngày Chủ nhật 25/6.
Trong cuộc phỏng vấn, Putin bày tỏ sự tin tưởng vào việc thực hiện các kế hoạch mà ông vẫn gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ukraine.
Các báo cáo cho biết, rằng Hoa Kỳ đã biết về một cuộc binh biến có thể xảy ra của Wagner vài ngày trước khi nó xảy ra, báo Washington Post trích dẫn lời một quan chức nói rằng, họ biết “có điều gì đó xảy ra”.
Các nhân vật ở Washington DC được cho là đã lo ngại rằng Putin có thể mất quyền kiểm soát kho vũ khí hạt nhân của mình, nếu có một cuộc đảo chính toàn diện chống lại Điện Kremlin.
Bộ Quốc phòng Nga cho biết, Ukraine lợi dụng sự hỗn loạn do nỗ lực đảo chính của Prigozhin để đẩy mạnh các cuộc tấn công xung quanh Bakhmut ở vùng Donbas. Hôm Chủ nhật, quân đội Ukraine cho biết họ đã tấn công.
Ngoại trưởng Ukraine Dmytro Kuleba nói: “Bất kỳ sự hỗn loạn nào đằng sau chiến tuyến của kẻ thù đều có lợi cho chúng tôi“.
Bộ Quốc phòng Anh cũng cho biết, Ukraine đã gia tăng các cuộc tấn công trong vài ngày qua và đã tinh chỉnh chiến thuật của họ trước các tuyến phòng thủ “được chuẩn bị kỹ lưỡng” của Nga.
“Các đơn vị Ukraine đang đạt được các tiến bộ chiến thuật chậm rãi nhưng ổn định ở các khu vực quan trọng”, cơ quan này cho biết trong cuộc họp báo tình báo buổi sáng.
Ukraine đã phát động cuộc phản công nhằm vào tiền tuyến của Nga vào khoảng ba tuần trước, nhưng bước tiến còn rất chậm.
Các nhà phân tích nói rằng, sự xao nhãng do âm mưu đảo chính của Prigozhin có thể đã làm suy yếu tiền tuyến của Nga.
Điện Kremlin không rút bất kỳ đơn vị nào về để bảo vệ Matxcơva trước các chiến binh Wagner, nhưng Prigozhin đã kêu gọi các binh sĩ quân đội chính quy Nga đào ngũ.
‘Vì vậy, điều này đặt ra câu hỏi sâu sắc’
Hôm Chủ nhật, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken nói rằng, cuộc nổi dậy vũ trang ở Nga đã bộc lộ “những rạn nứt thực sự” trong chính quyền của Putin sau khi Putin buộc phải ký một thỏa thuận ân xá.
Ông Blinken nói với CBS News rằng, diễn biến này đánh dấu “một thách thức trực tiếp đối với chính quyền của Putin. Vì vậy, điều này đặt ra những câu hỏi sâu sắc, nó cho thấy những rạn nứt thực sự”.
Tác động của cuộc binh biến Wagner trên chiến trường ở Ukraine vẫn còn chưa rõ ràng. Ukraine cho biết, cuộc phản công của họ được thực hiện vào cuối tuần qua, đã có được một số kết quả.
Điện Kremlin cho biết, những binh sĩ Wagner không tham gia binh biến sẽ được đưa vào lực lượng phòng vệ Nga, đồng thời tuyên bố rằng, những người lính không tham gia binh biến sẽ không bị truy tố.
Trong khi đó, các thành viên của đội quân cựu tù nhân Nga đưa ra những lời đe dọa chống lại Prigozhin, cho rằng ông ta đã phản bội họ bằng cách từ bỏ âm mưu đảo chính Điện Kremlin.
Một đoạn video do các chiến binh cựu tù nhân đăng tải trực tuyến, cáo buộc Prigozhin là “hèn nhát”, nói rằng những người ủng hộ ông đã “bị lật kèo” và hiện đang phải đối mặt với sự trừng phạt.
Các chiến binh Wagner giận dữ cáo buộc Prigozhin là hèn nhát và đã phản bội họ. Ảnh chụp màn hình
Trong đoạn video trên có thể nghe thấy một trong những người lính Storm-Z nói rằng, Prigozhin “đã hứa hẹn mọi thứ” với họ và sau đó “đã bẻ lái sang hướng khác”.
Nước New Zealand ( Tân Tây Lan) nơi tôi đang sống là một quốc gia hải đảo ở vùng Nam Bán Cầu, rất gần với Nam Cực. Mùa Đông ở đây bắt đầu từ tháng 6 cho tới tháng 10. Vì ở gần Nam Cực nên mùa đông xứ này rất lạnh. Đặc biệt năm nay thời tiết bất thường, mới vào mùa đông mà đã có những ngày rất lạnh như hôm nay.
Tự nhiên tôi hồi tưởng lại “CÁI LẠNH CHẾT NGƯỜI” ở trại Cổng Trời năm xưa và ghi ra đây để chia sẻ với các bạn. ( Phần này tôi có viết trong Chương 9 : “Trại Cổng Trời”của Bút ký TÔI PHẢI SỐNG)
Thân ái
Lm NHL
***
CHUYỂN TRẠI
Chiều tối ngày 24 tháng 12 năm 1977, nhóm 20 người tù chúng tôi từ trại Nam Hà bị còng tay từng đôi một và tống lên chiếc xe khách tồi tàn cũ kỹ. Trên xe có một cán bộ cấp thiếu uý và 4 cán bộ mang súng dài theo áp tải. Chúng tôi qua cầu Long Biên ở Hà Nội lúc nữa đêm Lễ Chúa Giáng Sinh 1977.
Sau khi băng rừng leo núi suốt một ngày một đêm, cuối cùng chiếc xe dừng lại trong sân một trại tù xa lạ. Lúc ấy có lẽ đã qua nửa đêm, hoặc đã 1, 2 giờ sáng ngày 27 tháng 12 năm 1977. Trời lạnh như cắt da cắt thịt. Ngồi trong xe nhìn ra màn đêm bên ngoài bị sương mù phủ mờ những cảnh tượng chung quanh làm tôi chẳng thấy được gì nhiều.
Lúc nãy, khi xe chạy qua khu nhà cán bộ và dừng lại một chập, sau đó chạy vào qua cổng trại thì tôi biết đã tới nơi. Bên ngoài, tôi thấy có quãng 5, 6 cán bộ đứng gần bên xe. Họ mặc áo bông, đầu đội mũ có che tai và cột lại dưới cằm giống như lính Liên Xô, họ mang bao tay và cầm đèn bấm, có người cầm quyển sổ. Một lúc sau nhóm tù chúng tôi được lệnh xuống xe, tay vẫn còn bị cùm dính nhau từng đôi một.
Vừa bước ra khỏi xe, tôi chạm ngay với cái lạnh khủng khiếp! Lúc còn trên xe nhìn ra thấy cách ăn mặc của các cán bộ và nhất là khi thấy hơi khói ở miệng thoát ra ngùn ngụt mỗi khi họ nói, tôi biết là bên ngoài trời rất lạnh nên đã cẩn thận cài khuy áo, quấn thêm lên cổ chiếc khăn lông, nhưng đầu và chân vẫn để trần vì lúc đó tôi không có mũ và giày, chỉ mang đôi dép râu do trại Nam Hà phát.
Cái lạnh làm tôi nghe choáng váng và có cảm tưởng như bị một cú đấm thẳng vào mặt làm tôi bật ngược về phía sau.Tôi chưa kịp hoàn hồn để nhận biết hết tính cách kinh khủng của cái lạnh, bỗng chốc tôi cảm thấy mình như đang trần truồng! Ô, kìa! Sao lạ kỳ thế này? Tôi nhớ là mình có mặc áo quần cẩn thận, có mặc thêm cái áo vệ sinh bên ngoài bộ đồ xanh của trại phát, có khăn lông quấn cổ nữa, nhưng tự nhiên các thứ vải vóc trên thân thể tôi biến đi đâu hết để tôi đứng trần truồng giữa cái lạnh khủng khiếp này? Nhìn lại, tôi vẫn thấy còn quần áo dính trên người, nhưng lạ một điều là trong khoảnh khắc toàn thân tôi trở nên tê dại, không còn cảm giác nữa. Áo quần còn trên cơ thể, nhưng dường như không còn, chỉ nhìn thấy nó còn đó.
Trong lúc đó tôi cố mở miệng ra định nói vài câu với người bạn đang bị còng chung, nhưng hàm tôi cứng lại như bị khóa! Hai đầu gối tôi tự nhiên biến đi đâu để đôi chân tôi cứng lại như hai khúc gỗ thẳng tắp. Thì ra cái lạnh không được đề phòng trước đã đánh tôi ngã gục, đã làm tê dại hết các tế bào xúc giác và làm hệ thần kinh tôi hoạt động bấn loạn. Ngày xưa khi đọc sách báo, tôi có thấy nói đến “cái lạnh chết người”, nhưng lúc đó tôi không hiểu, chỉ nghĩ đó là cách nói trong văn chương chữ nghĩa. Nhưng chỉ trong mấy phút vừa qua, tôi đã hiểu và có lẽ tôi còn hiểu rõ ràng hơn tác giả đã viết lên câu “cái lạnh chết người”!
Lúc rời trại Nam Hà ra đi thời tiết ở đó cũng đã khá lạnh nên tôi lấy cái áo vệ sinh do trại phát mặc thêm bên ngoài bộ đồ xanh của trại. Mặc như thế cũng đủ với cái lạnh vào quãng 8 độ C của mùa đông dất Bắc ở vùng núi đá vôi Nam Hà.
Trong suốt 24 giờ qua, chúng tôi vật vã lăn lộn trên chiếc xe già nua bò lết leo lên những dốc núi cao. Có lúc xe chạy giữa vách đá cheo leo, một bên là núi, bên kia là thung lũng sâu, nhìn xuống phát chóng mặt. Trên đường đi, vì bị dằn vật nhiều quá nên tôi cảm thấy nóng và có lần đã phải cởi áo vệ sinh ra cho dễ chịu, nhưng khi xe lên tới độ cao và nhất là càng về chiều càng lạnh, nên tôi mặc áo ngoài cẩn thận.
Lúc trời về khuya, cơn lạnh dữ dội ập đến, tôi chỉ còn biết co ro ngồi dựa vào những gì có thể, để tìm chút hơi ấm. Dĩ nhiên lúc đó tất cả cửa gió trên xe đều đóng lại. Hơn nữa, nhờ có đông người, 20 người tù và 5 cán bộ áp tải, nên hơi người cũng làm tôi cảm thấy ấm hơn đôi chút. Lúc ở trên xe, ai có muốn mặc thêm quần áo cũng không có, vì đi đường mỗi người chỉ có một túi xách nhỏ, còn tất cả “nội vụ” đều cho vào bao bị chất đống trong xe, khi tới nơi mới lấy ra được.
Thì ra cái lạnh của trại Nam Hà không thấm vào đâu so với cái lạnh khủng khiếp nơi tôi vừa đặt chân tới, mà tôi đoán là dưới 0 độ khá xa. Lúc đó tôi chẳng biết mình đang ở đâu và trại mà chúng tôi vừa tới tên là gì.
ÐÊM GIÁ BĂNG
Lúc này trời đã quá muộn về sáng, vả lại thời tiết lạnh khủng khiếp nên vừa xuống xe là chúng tôi được tháo còng ngay và nhận lại “nội vụ”, sau đó được đưa vào một buồng kế bên nghỉ qua đêm. Mặc dù mới đứng trong sân chừng 15 phút nhưng mặt tôi cứng như tảng nước đá, đầu nhức như muốn vỡ đôi ra, hai tai đang dính vào đầu cứng như hai miếng bánh đa mỏng giòn, tôi nghĩ nếu dùng tay búng mạnh sẽ bị vỡ tan và rơi xuống đất. Ðôi chân cứng đờ và thẳng tắp không còn bước đi được nên một anh bạn trẻ phải giúp dìu tôi vào buồng.
Ðó là một buồng giam nhỏ và rất tồi tàn, có lối đi ở giữa và hai bên có sàn ván để nằm, có tầng bên trên. Vào buồng xong việc đầu tiên là chúng tôi xổ hết bao bị ra tìm thứ gì có thể mặc được thì mặc và quấn hết vào người. Ðêm đó tôi không tài nào ngủ được vì quá lạnh, mặc dù sau một ngày đường lăn lộn mệt nhọc. Tôi cố thu người lại càng nhỏ càng tốt, nhưng nằm co thế nào đi nữa vẫn thấy da thịt mình còn quá nhiều chỗ phải đụng chạm với khí lạnh bên ngoài. Lúc nằm yên tôi hình dung ra “con rét” là một loài côn trùng bé tí ti nhưng có răng thật sắc, đang bò trong cơ thể tôi, chui vào các lỗ chân lông, đi vào hơi thở, chui vào các mạch máu và đang gặm nhắm từng tế bào bên trong cơ thể tê dại của tôi đang cuộn tròn như con sâu.
Lúc đó tôi mới nhớ lại là các cán bộ ở đây ai cũng mặc áo bông dày cộm, đầu đội mũ có rèm che tai gần kín mặt, tay mang găng len hoặc da. Với cái lạnh khủng khiếp này, các loại quần áo bằng vải hoặc bằng len, cho dù có mặc bao nhiêu lớp trên người cũng không hề thấm vào đâu. Phải mặc đồ bông mới chống lạnh được. Nằm một chập, không ai chịu thấu cái lạnh bất ngờ này, nên cả đám chúng tôi tự động ôm nhau, người này rúc đầu vào người kia như lứa chó con con nằm trong ổ. Nếu biết trước, ít ra chúng tôi cũng đã chuẩn bị thứ gì đó để chống lạnh trong hoàn cảnh có thể chuẩn bị được.
Sáng hôm sau, cả đám chúng tôi trỗi dậy trong trạng thái mệt nhọc rã rời. Một phần vì bao nhiêu nhiệt lượng trong người đã được đưa ra để chống lại cái lạnh khủng khiếp bên ngoài, phần nữa lại vừa mất ngủ sau một ngày bị dằn xốc suốt 24 tiếng đồng hồ trên xe. Lúc này, bên ngoài sương mù đã phủ dày đặc, nên chúng tôi không nhìn thấy gì, chỉ loáng thoáng thấy có bức tường bao bọc trước sân, có cánh cổng mở vào sân và một nóc nhà lợp lá thật bệ rạc nằm phía sau. Sáng ngày tôi cảm thấy bớt lạnh, có lẽ nhờ số chăn màn và hơi ấm thân thể của 20 con người trong phòng đóng kín đêm qua. Mãi một lúc rất lâu mới nghe có tiếng động bên ngoài làm chúng tôi giật mình nhìn ra, nhưng chưa thấy ai.
Thình lình trong màn sương hiện ra một người bước rất nhanh vào sân. Người mới xuất hiện này vóc dáng to cao, mặc áo bông che kín cả cổ, đội mũ có vải che tai như kiểu của quân đội Liên Xô, mang găng tay và cầm một chùm chìa khóa khá to có đến mấy chục chiếc. Người này tới bên cửa sổ nhìn vào, hai tay đang xoa vào nhau làm chùm chìa khóa kêu rổn rảng. Người lạ mặt này có thân hình đã to, lại mặc áo quần dày cộm trên người, càng làm cho con người ấy to như một anh khổng lồ.
TRẠI QUYẾT TIẾN “CỔNG TRỜI’!”
Khi người đó đứng bên ngoài nhìn vào, chúng tôi bên trong cửa sổ lên tiếng:
-Chào cán bộ.
Người bên ngoài lên tiếng đáp lại:
-Tôi không phải là cán bộ, tôi là “Trật Tự”!
Khi nói, miệng anh nhả khói um tùm như người đang hút thuốc lá. Ðó là lần đầu tiên tôi nghe hai tiếng “Trật Tự”, vì ở trại Nam Hà không có anh tù làm ‘trật tự’ như ở đây. Khi biết anh cũng là tù, chúng tôi dạn dĩ hơn nên bắt đầu tìm hiểu những điều chúng tôi thắc mắc suốt đêm qua. Chúng tôi thay nhau hỏi, nhưng câu hỏi đầu tiên mà hình như ai cũng nói ra cùng lúc là:
-Trại này là trại gì, ở tỉnh nào?.
Anh tù Trật Tự này mặc dù không phải là con người vui vẻ, nhưng tỏ ra là một người dễ chịu, anh đáp nhanh:
– Các anh đang ở trại “Quyết Tiến Cổng Trời” trong tỉnh Hà Tuyên.
Vì chúng tôi là người miền Nam chưa biết vị trí các tỉnh miền Bắc nên có anh hỏi:
– Vậy tỉnh Hà Tuyên nằm ở đâu hả anh?
– Nằm giáp ranh Trung Quốc và trại này cách biên giới Trung Quốc 10 cây số!
Lúc đó 20 người chúng tôi bu quanh cửa sổ và thi nhau đặt câu hỏi hỏi làm anh Trật Tự bên ngoài không biết trả lời ai. Tôi hỏi to:
– Thế trại này có tù chính trị miền Nam không anh?
Anh chưa kịp trả lời thì có một số cán bộ bước vào sân và anh ta làm thinh. Tôi nhận ra trong số cán bộ vừa bước vào có Thiếu úy Lạc ở trại Nam Hà, người có mặt trên xe áp tải chúng tôi. Sau khi đứng ngoài sân nói gì với nhau một lúc, anh Trật Tự tới mở cửa buồng, một cán bộ cấp thiếu úy, người khá nhỏ bước vào buồng ra lệnh cho chúng tôi mang hết “nội vụ” ra sân để khám xét. Việc kiểm tra này là thủ tục thông thường khi tù nhân chuyển tới một trại mới.
Chúng tôi khệ nệ tay xách nách mang tất cả những gì mình có và theo một hành lang hẹp dẫn ra sân trại trong làn sương mù dày đặc. Thời tiết bên ngoài lạnh hơn tôi tưởng. Tôi bước đi vừa rét vừa run, mặc dù tôi đã mặc vào người thêm mấy lớp quần áo, nhưng với cái lạnh ở đây, quần áo vải chẳng thấm vào đâu. Ra tới nơi mới thấy bày sẵn một bàn nhỏ và một số khá đông cán bộ đang chờ sẵn. Tất cả đều mặc áo bông và đội mũ “Liên Xô”. Cuộc khám xét bắt đầu.
Theo quy luật trại, tiền bạc và các đồ quý giá đều phải gửi lưu ký. Riêng áo quần có thể gửi lưu ký hoặc giữ lại dùng trong trại tùy ý, nhưng nếu giữ lại đưa vào trại phải bị đóng dấu “CẢI TẠO” bằng hắc ín thật to sau lưng áo và trên ống quần. Ðóng dấu như vậy coi như bộ đồ ấy đã bỏ đi, nên nhiều người tiếc rẻ và muốn gửi lưu ký để khi ra về có đồ mới mà mặc.
ÐỘNG LÒNG TRẮC ẨN
Trong lúc đang kiểm tra và có mấy anh định gửi lưu ký quần áo, Cán bộ Lạc bước tới gần nói nhỏ, giọng khá xúc động: “Ở đây rét lắm, các anh giữ lại quần áo mà dùng, đừng gửi lưu ký làm gì!” Một lúc sau, khi đã khám xét và bàn giao xong, anh ta tiến lại nhóm chúng tôi nói nhỏ, không để cho cán bộ trại Quyết Tiến nghe thấy: “Ở trại Nam Hà sướng như thế mà các anh không chịu, bây giờ phải lên đây, tôi chẳng biết nói sao!? Thôi các anh ở lại, cố gắng cải tạo và nhớ giữ gìn sức khỏe”. Nói xong anh quay đi thật nhanh.
Tôi rất cảm động khi nghe Cán bộ Lạc nói những lời đó. Sau 2 năm ở tù, đó là lần đầu tiên tôi nhận thấy được lòng nhân nơi một người cán bộ. Anh cảm thấy ái ngại cho số phận chúng tôi, những con người mà anh biết là đang đi vào cõi chết. Qua câu nói bảo đừng gửi lưu ký áo quần, người cán bộ có ý nhắn là không bao giờ có dịp nhận lại nữa, và câu nói sau cùng trước lúc chia tay đã cho chúng tôi biết phần nào về số phận của mình. Sau khi khám xét xong, nhóm 20 người chúng tôi được chia ra làm hai, 14 người nhập vào đội lao động và 6 người bị lên khu kiên giam, trong đó có tôi.
KHU KIÊN GIAM TRẠI CỔNG TRỜI
Khu kiên giam là một nhà dài bằng đá tối om, có hành lang nhỏ ở giữa, chia ra mỗi bên 5 buồng hẹp, mỗi buồng khoảng 3 thước bề ngang và có sạp nằm bằng ván hai bên cho 2 người. Trong góc phòng có cầu tiêu và phía ngoài có cửa sổ nhỏ trông ra đường. Hằng ngày có anh tù đến gánh phân nơi hầm nhà cầu thông ra phía ngoài. Lúc tôi tới đó đã có sẵn mấy người trong khu kiên giam.
Mấy ngày sau nhờ liên lạc hỏi thăm anh em các buồng bên cạnh và hỏi chuyện anh tù gánh phân, chúng tôi được biết thêm về trại này.Trại Quyết Tiến nằm sát ngay biên giới Trung Quốc, thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Tuyên, tức là hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang gọi nhập lại. Trại này có biệt danh là trại “Cổng Trời” vì 2 lý do. Thứ nhất theo nghĩa đen, đây là trại tù nằm ở cao độ 2,500 thước trên mặt biển, (cao gần đụng trời!) Lý do thứ hai, vì đây là trại trừng giới dành cho các tù chính trị thuộc diện bất trị, lên đây một thời gian rồi sẽ về… trời! Do đó, trại này được coi như một phòng chờ đợi trước khi bước qua bên kia thế giới.
Trong trại cũng có một số tù hình sự có án nặng như tử hình giảm xuống chung thân, hoặc nhẹ hơn thì 20 năm, 18 năm, 15 năm v.v… Những người bị kêu án dưới 10 năm không phải lên đây. Số tù hình sự còn có hy vọng được tha sau khi mãn án, nhưng không mấy người sống sót vì sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự ác độc của con người trong trại trừng giới này. Cuối cùng rồi phần đông họ cũng đã bỏ xác ở đây trước khi mãn án.
Khi chúng tôi tới, trong trại đang có khoảng 350 tù hình sự với một số tù Biệt Kích và 5 người tù miền Nam từ các trại khác mới đưa lên, đó là các anh Ðặng Văn Tiếp, một cựu Dân biểu từ trại Hà Tây đưa lên trước chúng tôi 1 tháng cùng với các anh Nguyễn Thái Quân và Hoàng Trọng Hanh. Hai anh Nguyễn Văn Phước và Nguyễn Văn Trình là sĩ quan cấp Tá từ đảo Guam trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín, về tới Việt Nam tất cả bị đưa thẳng vô
tù.
Anh tù làm Trật Tự mà chúng tôi gặp trong ngày đầu tên là Tuấn, nguyên là bộ đội. Anh là một người hiền từ, ít nói. Sau khi nhóm Nam Hà chúng tôi lên một thời gian, có một số tù chính trị từ các trại khác lần lượt tới đây, trong đó có 7 linh mục, nâng tổng số lên 48 người, mà về sau này chúng tôi gọi là “Nhóm 48 Quyết Tiến”. Theo cách hiểu lúc bấy giờ, đây là những người bị liệt vào đội trừng giới và bị kết án tử hình, được lựa ra từ nhiều trại khác nhau ở miền Bắc. Trong thực tế số người này có xứng đáng chịu số phận đó hay không, và sự lựa chọn có đúng “tiêu chuẩn” hoặc chính xác tới mức nào còn là vấn đề khác.
CƠN ĐÓI TRONG CẢNH RÉT
Lúc ở kiên giam, chúng tôi bị nhốt rong buồng cả ngày lẫn đêm nhưng không bị cùm như ở khu kỷ luật. Hai thứ ĐÓI và RÉT là hai tên hung thần hành hạ chúng tôi nặng nhất. Nhà kiên giam xây bằng đá, về đêm hơi lạnh của đá tỏa ra biến buồng giam thành một tủ lạnh và tù nhân phải nằm co ro trong cái “tủ lạnh” đó cả ngày lẫn đêm.
Tệ hại hơn nữa, cái lạnh hành hạ chưa đủ, lại còn thêm cái đói. Ở đây không có gì để ăn cho tạm gọi là no. Ðói và Rét như cặp bài trùng của bộ máy tiêu diệt con người. Khi hai yếu tố Ðói và Rét gặp nhau và hỗ trợ cho nhau thì sức tàn phá được nhân lên gấp bội. Thân thể con người càng đói thì càng rét; và hễ càng rét lại càng đói. Trong khu nhà kiên giam của trại “Cổng Trời” này, hai tên hung thần Đói và Rét đó cứ mải mê tranh tài “ai thắng ai” ngay trên da thịt xanh xao như tàu lá chuối và trong dạ dày xẹp lép của đám tù khốn khổ chúng tôi!
Mỗi ngày, tù ở khu kiên giam được cho ăn 2 lần, trưa và chiều, mỗi lần một chiếc bánh mì nướng to bằng cổ tay và dài chừng một gang. Trong khi các đội bên ngoài có thêm bữa ăn sáng vì phải đi lao động. Với hai chiếc bánh mì nướng khiêm tốn đó mà tôi nghiệm được câu nói trong tù: “Không ăn thì đói; ăn vào đói hơn!” Mà thật đúng như vậy, sau khi “nuốt” cái bánh mì từ 5 giờ chiều hôm trước, tôi nằm đắp chăn chịu trận cái rét dưới độ âm và chờ tới 17 tiếng đồng hồ nữa mới có cái gì cho vào dạ dày. Suốt thời gian dài đằng đẵng đó, tôi thường lịm đi hoặc nằm yên bất động như con sóc trong mùa đông.
Cữ ăn 10 giờ sáng hôm sau quấy động dạ dày thức giấc. Nó cồn cào và đòi hỏi thức ăn một cách dữ dội! Nó đòi ăn thêm để khỏa lấp chỗ trống còn rộng thênh thang của dạ dầy, nhưng nào có được! Sau khi ăn xong, tôi chỉ còn biết nằm im lìm chờ đợi, lắng tai nghe và mong tiếng động then gài cổng bên ngoài báo hiệu lúc anh Trật Tự lên cho ăn chiều.
Prigojine, thủ lĩnh của Wagner, kẻ hăm doạ đưa quân về Moscow nhưng nửa chừng rút lui để tránh “đổ máu giữa người Nga” vẫn đang bị điều tra bởi Kremlin, dẫu Putin đã hứa “tha lỗi” cho hắn ta!
Nói dối đã trở thành thói quen, nằm trong DNA của Putin từ khi chỉ là một nhân viên xoàng của KGB. Nếu không xảo quyệt và mưu mô cũng như tàn bạo, thì Putin khó lòng nắm quyền và củng cố quyền lực tối cao trong gần một phần tư thế kỷ!
Ra tay đàn áp, khủng bố và lạnh lùng ám sát, đầu độc bất cứ ai dám đối đầu với ông ta. Từ nhà báo, chính trị gia đối lập, đến cả những nhà tài phiệt giàu có nhưng không tuân phục Putin, tất cả đều có một mẫu số chung: Bị tù với những bản án cực nặng hay đơn giản, bị thủ tiêu, nguỵ trang bởi những “tại nạn” khó hiểu!
Bối cảnh nước Nga hậu cộng sản, kể từ khi Vladimir Putin lên nắm quyền vào tháng 12 năm 1999, cần phải có một sự can đảm nhất định mới dám bày tỏ công khai sự bất đồng của mình với chính phủ dân chủ-độc tài theo mô hình của Putin.
Trong khi nền kinh tế Nga đã phục hồi kể từ khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, thì tình hình nhân quyền ngày càng xấu đi trong mười lăm năm. Tổ chức Ân xá Quốc tế tin rằng, những hạn chế đối với quyền tự do ngôn luận, lập hội và hội họp đã trở nên tồi tệ hơn kể từ năm 2010.
Sự khủng bố, đàn áp, đối với những người bất đồng chính kiến dẫn đến sự sách nhiễu của nền tư pháp vốn không khác mấy thời kỳ cộng sản. Chính phủ Nga bỏ tù và đày ải tùy tiện, không toà án công tâm. Đỉnh điểm là các vụ ám sát những khuôn mặt bất đồng chính kiến. Trong hầu hết các trường hợp, các cuộc điều tra của nền tư pháp Nga không thể chỉ định những kẻ cầm đầu thực sự cho những vụ giết người tàn bạo này.
Phóng viên báo chí: những cái chết dằn mặt
Theo Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, kể từ khi Putin được bầu làm tổng thống, ít nhất 40 nhà báo đã bị sát hại ở Nga. Một con số kinh khủng, chứng tỏ thái độ độc tài và bản tính tàn ác của một thứ sản phẩm tội ác của thời cộng sản. Những ai dám lên tiếng chỉ trích hay điều tra Putin qua báo chí đều bị sát hại.
Nạn nhân “nổi tiếng nhất” là Anna Politkovskaya. Bà là nhà báo điều tra và nhà hoạt động nhân quyền. Bà bị bắn chết vào ngày 7 tháng 10 năm 2006, tại sảnh tòa nhà của bà ở Moscow. Trên tờ Novaya Gazeta, nhà báo 48 tuổi này đã tố cáo chế độ độc tài của Vladimir Putin và những vi phạm nhân quyền ở Chechnya. Năm nghi phạm, trong đó có 4 người Chechnya, đã bị xét xử và kết án về tội giết người vào năm 2014, nhưng kẻ chủ mưu đằng sau vụ ám sát vẫn đang lẩn trốn và tên của hắn chưa bao giờ được nhắc đến công khai.
USPECIFIED, RUSSIA – UNDATED: (FILE PHOTO) In this undated file photo, Independent Russian journalist Anna Politkovskaya, a highly respected and tireless investigative reporter and author is pictured at work. Politkovskaya, who was murdered in an execution-style slaying October 7, 2006, devoted much of her career to shining a light on human rights abuses and other atrocities of the war in Chechnya as well as the plight of Chechen refugees. (Photo by Novaya Gazeta/Epsilon/Getty Images)
Bức ảnh nhà báo Anna Politkovskaïa, không rõ ngày chụp. Nguồn Novaya Gazeta/ Epsilon/ Getty Images
Anna Politkovskaïa từng viết trong cuốn “Nước Nga của Putin” rằng: “Putin không thích con người. Ông ấy chỉ coi chúng tôi đơn giản như một phương tiện”. Anna Politkovskaïa trở thành biểu tượng của sự can đảm, khí phách, không chùn bước trước bạo quyền mà Putin là kẻ hiện thân hoàn hảo nhất.
Sáu nhà báo hoặc cộng tác viên khác của báo Novaya Gazeta đã bị giết từ năm 2000 đến 2009, trong đó có Natalia Estemirova, 50 tuổi, người đã thay thế Anna Politkovskaya trong tờ báo.
Cũng là một nhà hoạt động nhân quyền và đại diện tại Chechnya của Tổ chức phi chính phủ Memorial, Natalia Estemirova bị bắt cóc vào ngày 15 tháng 7 năm 2009 tại Grozny và được tìm thấy thi thể vài giờ sau đó tại Ingushetia, một nước cộng hòa láng giềng của Caucasus thuộc Nga. “Tội” của bà là đã dám tố cáo sự lạm quyền của chính quyền địa phương.
Nhà báo Natalia Estemirova. Nguồn: Guardian
Nữ nhà báo người Ukraina làm việc tại Nga cho tờ Novaya Gazeta, Anastassia Baburova, 25 tuổi, bị bắn chết ngay giữa đường phố ở Moscow vào ngày 19/1/2009 khi cô đang bước ra khỏi cuộc họp báo với Stanislas Markelov, 34 tuổi. Stanislas Makelov, luật sư chuyên bào chữa cho các nạn nhân bị lạm dụng ở Chechnya cũng bị giết vào ngày hôm đó.
Stanislav Markelov đã công khai lên án việc trả tự do sớm, một tuần trước đó, cho đại tá quân đội Nga Yuri Budanov. Viên chức này bị kết án 10 năm tù vào năm 2003 vì tội cưỡng hiếp và sau đó bóp cổ một cô gái Chechnya 18 tuổi, ba năm trước đó.
Một khuôn mặt nổi tiếng trong giới báo chí ở Ukraina, Pavel Sheremet, người Nga gốc Belarus, đã bị chết trong một vụ nổ bom đặt dưới gầm ô tô của ông, ở trung tâm Kiev, vào ngày 20/7/2016. Ông từng làm việc lâu năm ở Nga, tham gia hoạt động chính trị tự do và điều đáng chú ý là Pavel Sheremet là bạn của lãnh đạo phe đối lập Boris Nemtsov, người đã bị ám sát vào tháng 2/2015.
Không chỉ những nhà báo, luật sư hay nhà hoạt động dân sự người Nga hoặc thuộc Liên Xô cũ bị ám sát, thậm chí các phóng viên phương Tây cũng chịu chung số phận khi dám điều tra những gì xảy ra dưới bàn tay thép của Putin. Nhà báo người Mỹ gốc Nga, Paul Klebnikov đã bị bắn chết vào ngày 9/7/2004. Tổng biên tập ấn bản tiếng Nga của tạp chí Forbes của Mỹ, ông đang rời văn phòng ở Moscow thì bị những người đàn ông trên ô tô nổ súng về phía ông. Bị trúng đạn bốn lần, ông ta chết trong bệnh viện.
Ông Klebnikov là nhà báo nước ngoài đầu tiên bị sát hại ở nước Nga thời hậu Xô Viết. Sau khi quy kết vụ giết người cho một phần tử ly khai Chechnya, chính quyền Nga cuối cùng đã mở lại cuộc điều tra tư pháp vào năm 2009, nhưng đến nay sự thật về vụ án này vẫn chưa được phơi bày ra ánh sáng!
Bất đồng chính kiến: Đàn áp sự đối lập chính trị
Những nhà bất đồng chính kiến, chống đối Putin cũng bị cầm tù hoặc lưu đày. Nổi bật trong số đó là Alexei Navalny.
Đối thủ quyền lực số một của Vladimir Putin, Alexei Navalny đã bị bắt vào tháng 3/2017 khi tuần hành chống tham nhũng với gần một ngàn người biểu tình. Là một blogger chống tham nhũng, Navalny có ý định đối đầu với Putin trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2018. Nhưng ông chủ Điện Kremlin và bộ máy Tư pháp của Nga đã ngăn cản nhà đối lập ra tranh cử khi kết án hình sự Navalny. Một bản án mà Navalny cũng như giới đối lập cho là do Putin dàn dựng. “Phán quyết này là một bức điện tín được gởi từ Điện Kremlin“, Alexei Navalny tố cáo Putin vào tháng 2/2017.
Nhà vô địch cờ vua thế giới từ 1985 đến 2000, Garry Kasparov tham gia chính trị vào năm 2005 để chống lại quyền lực độc tài của Putin. Ông đã bị bắt nhiều lần vì tham gia biểu tình. Năm 2008, ông đồng sáng lập đảng Đoàn Kết, tập hợp các lực lượng cánh hữu.
Biết rằng luôn bị đe dọa, Kasparov luôn được bảo vệ bởi 5 vệ sĩ và không bao giờ di chuyển với công ty quốc gia hàng không Nga Aeroflot. Năm 2013, Kasparov chọn sống lưu vong ở Thụy Sĩ, sau đó ở Hoa Kỳ, vì sợ các thủ tục pháp lý. Ông từng mỉa mai tuyên bố “KGB đang điều hành đất nước. Putin là cựu quan chức KGB và chúng tôi đã quay lại điểm xuất phát, như thể sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản chưa từng xảy ra”.
Sergueï Ouldatsov, gương mặt lãnh đạo trẻ tuổi của Mặt trận Cánh tả đã bị kết án 4 năm rưỡi tù giam trong trại quân sự vào năm 2014, chính thức vì tội “âm mưu đảo chính”. Chính quyền chỉ trích anh ta đóng vai trò là kẻ kích động trong các cuộc biểu tình năm 2012. Tổ chức Ân xá Quốc tế gọi Ouldatsov là tù nhân chính trị. Từng là đảng viên Đảng Cộng sản, giờ đây anh ủng hộ “sự phát triển dân chủ-xã hội của nước Nga”.
Trong danh sách những nạn nhân của Putin, không thể không nhắc đến những nhà tài phiệt, tỷ phú, làm giàu thời hậu Xô Viết. Điển hình là Mikhail Khodorkovsky, cựu CEO của tập đoàn dầu mỏ Yukos và là đại gia đầu tiên của Nga vào đầu những năm 2000, đã bị bỏ tù 10 năm, từ 2003 đến 2013. Bị buộc tội biển thủ tài chính, ông lọt vào tầm ngắm của Putin. Ông chủ nước Nga nghi ngờ Khodorkovsky mang nhiều tham vọng chính trị và lo ngại ảnh hưởng của ông này đối với thế giới kinh doanh. Khodorkovsky được Putin ân xá vào tháng 12/2013, đổi lại ông đã phải thừa nhận lỗi lầm của mình và cam kết không tham gia hoạt động chính trị.
Ra tay sát hại các đối thủ chính trị:
Vào ngày 27/2/2015, Boris Nemstov, 55 tuổi, bị bắn 4 phát vào lưng khi đang đi bộ gần điện Kremlin. Theo thông tin chính thức, vụ giết người này được quy cho một đội biệt kích người Chechnya. Từng đảm nhiệm chức Bộ trưởng Năng lượng và Phó Thủ tướng dưới thời Boris Yeltsin (1999), Boris Nemtsov trở thành một nhân vật quan trọng, cái gai trong những cuộc biểu tình chống Putin. Vài ngày trước khi qua đời, ông đã kêu gọi một cuộc tuần hành lớn chống lại các hoạt động quân sự của Nga ở Ukraina. Luôn bị theo dõi, nghe lén và bị đe dọa tính mạnh, Nemstov đã từng bày tỏ trên báo chí nỗi lo sợ bị ám sát.
Cựu điệp viên, nhân vật phản kháng Putin, Alexander Litvinenko, đã chết vào ngày 23/11/2006 tại London. Ba tuần trước khi qua đời, ông được các doanh nhân và cựu điệp viên KGB mời dùng trà. Litvinenko bị đầu độc khi nước uống có chứa chất phóng xạ cao, polonium 10. Cái chết của Litvinenko, được Scotland Yard mô tả là vụ giết người, rõ ràng đã được Điện Kremlin “phê chuẩn”, theo lời của thẩm phán Robert Owen cho biết vào năm 2016. Cần nhắc lại, vào năm 2000, Litvinenko từng có liên hệ với nhà tài phiệt Boris Berezovski, được tìm thấy đã chết tại nhà riêng vào năm 2013!
Nhà tài phiệt Boris Berezovski từng ẩn náu ở Vương quốc Anh, được phát hiện đã chết vào tháng 3 năm 2013 trong cơ ngơi sang trọng của mình ở Ascot (tây nam London). Ông ta nằm trong phòng tắm với một mảnh vải quanh cổ. Các nhà điều tra tin rằng, Berezovski có thể chết bằng cách treo cổ. Từng là bạn thân của Boris Yeltsin, ông ta có liên quan đến các nhóm tội phạm có tổ chức và giới tài phiệt. Gần gũi với Putin khi Putin lên nắm quyền vào năm 2000, tuy nhiên sau đó Berezovski không còn được ưu ái và được xem như một biểu tượng của “những kẻ cướp bóc nước Nga” thời hậu Xô Viết.
Trong số những cái chết bí ẩn, được cho là dàn dựng một cách khéo léo bởi mật vụ Nga, theo lệnh của Putin, có vụ án liên quan đến Sergueï Magnitski. Là một luật sư thuế trẻ tuổi, Magnitski bị bắt trong một vụ án trốn thuế. Gần gũi với Putin trong mười năm, nhưng sau đó Magnitski đã tố cáo những lạm dụng và tham nhũng của giới thân cận Putin. Magnitsky chết trong một nhà tù ở Moscow vào tháng 11/2009 do không có thuốc điều trị cho căn bệnh tuyến tụy của mình. Cái chết của ông ta đã gây ra một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa Nga và Hoa Kỳ, vốn đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với 11 người Nga “chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”.
Điểm lại vài vụ án nổi bật trong suốt thời gian cầm quyền của Putin để thấy được sự tàn bạo đến mức lạnh lùng và vô cảm của ông ta. Bằng mọi giá, để duy trì quyền lực tối cao, Putin sẵn sàng chà đạp tất cả, từ các giá trị đạo đức đến quyền con người, để ra tay đàn áp, ám sát những ai dám đương đầu, thách thức và chống đối ông ta.
Cho nên một tên như Prigozhin, là một sản phẩm của chính Putin, từng bị kết tội “phản bội”, khó lòng thoát thân khỏi sự trả thù của Putin. Dẫu chạy đằng trời, e cũng không thoát nỗi bàn tay của điệp vụ của Putin.
Putin đã không đưa nước Nga qua khỏi những lạc hậu của thời hậu Xô Viết. Ông ta lại đưa Nga quay về thời kỳ đen tối của chủ nghĩa cộng sản độc tài toàn trị, thậm chí sa lầy trong những cuộc chiến phi nhân và sát hại những nhà bất đồng chính kiến một cách man rợ nhất.
Như những gì Joseph Stalin đã ra tay với Léon Trotski vào ngày 21/8/1940 tận Mexico xa xôi!
Tôi xin chia sẻ với các bạn một kinh nghiệm “không đẹp cho lắm!” trong một giai đoạn cuộc đời tôi. Dù vậy, khả năng thích ứng của con người rất lạ lùng. Câu chuyện “CÁI GÌ RỒI CŨNG QUEN ĐI!”dưới đây chứng minh cho khả năng thích nghi đó của con người.
Mời các bạn dành ra vài phút theo dõi nhé.
Thân ái
Lm NHL
***
CHUYỂN TRẠI
Ngày 19 tháng 2 năm 1977, từ trại Phan Đăng Lưu ở Gia Định, tôi bị đưa lên trại Gia Ray trong tỉnh Long Khánh, còn gọi là trại Z 30D, nhìn ra núi Chứa Chan cao to sừng sững, cách ngã ba Ông Đồn không xa. Trại tù nằm trên một đồi cao, có cái tên khá thơ mộng là “Đồi Phượng Vĩ”. Thời chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trại này là hậu cứ của Trung đoàn 54.
Vì là một trại lính và nay biến thành nhà tù, nên nó không có một thứ gì cả, ngoài mấy dãy nhà tôn vách ván, cất trên nền đất đỏ đầy bụi bặm và hang chuột dọc ngang. Khi chúng tôi chuyển tới đây thì trong trại đã có sẵn khoảng một ngàn người. Chừng vài tuần lễ sau, có một số tù quân đội từ trại Cà Tum, Tỉnh Tây Ninh chuyển về nữa, nâng tổng số tù lên 1.200 người.
Trại không có nước máy, cũng không có giếng hoặc suối để lấy nước. Hàng ngày xe bồn chở nước tới cung cấp cho cơ quan, cho nhà bếp và hơn một ngàn tù nhân. Vì lượng nước cung cấp rất hạn chế nên nước trở thành hiếm và dĩ nhiên cái gì hiếm thì quý. Các tù nhân chỉ được chia tiêu chuẩn nước uống mỗi ngày hai lon Guigoz trong hai bữa ăn trưa và chiều. Lon Guigoz là lon nhôm của hãng sửa bột Hoà Lan Guigoz có sức chứa 750 ml nước.
Vì phần nước quá ít so với nhu cầu nên hầu như không có ngày nào là không có cãi nhau về “việc nước”. Có nhiều trận đánh nhau bưu đầu sứt trán “vì nước”. Có mấy lần, hàng trăm tù nhân hè nhau tấn công nhà bếp để… “cướp nước”! Những lúc đó thôi thì gậy gộc, gạch đá, có khi cả dao mác đều được dùng để ẩu đả nhau“vì nước!”
Khi vừa tới, chúng tôi được phân tán vào các đội và ở các buồng khác nhau, mỗi buồng chứa khảng 60 người. Hai ngày đầu bị nhốt cả ngày lẫn đêm. Buồng giam trống trơn từ đầu tới cuối, ở giữa là lối đi, hai bên có hai dãy sàn nằm bằng gỗ. Trong buồng không có cầu tiêu, nhưng thay vào đó là 3 cái ống vỏ đạn pháo binh 155 ly, được dựng trong phòng nhỏ ở góc phía trong cùng. Tất cả mọi nhu cầu vệ sinh của chừng ấy con người trong buồng được giải quyết gọn trong ba cái vỏ đạn đó, sáng ngày mới được mang đi đổ ở hố cầu tiêu công cộng.
Tuy tôi chỉ ở trại này thời gian ngắn, nhưng có mấy việc gây ấn tượng mạnh làm tôi không sao quên được. Trước hết là chuyện về cái hố cầu tiêu công cộng, cũng được coi là “vương quốc” của ruồi xanh.
VƯƠNG QUỐC “RUỒI XANH”
Qua ngày thứ ba chúng tôi được mở cửa ra ngoài. Tôi còn nhớ mãi buổi sáng đầu tiên được ra ngoài, tôi có nhu cầu ra cầu tiêu công cộng. Muốn tới đó phải đi qua vài ba dãy nhà, kể cả khu vực nhà bếp, rồi từ đó theo con đường nhỏ đi giữa hai hàng rào kẽm gai dọc theo đường cống lộ thiên rộng chừng 1 thước, dẫn ra hàng rào kẽm gai bao bọc. Khu vực cầu tiêu công cộng nằm kế bên nhà bếp và sát bờ rào trại.
Khi vừa tới gần nhà bếp, tôi đã “đánh mùi” được cái nơi tôi cần tới, đồng thời cũng nghe âm thanh ồn ào của bầy ruồi xanh đang bận rộn với hàng đống cải muối dưa được trải phơi trên mái tôn của nhà bếp.
Trời ơi, ruồi xanh ở đâu ra mà lắm thế! Thì ra mùi dưa cải muối chua, mùi thức ăn của nhà bếp, mùi thối của đường cống lộ thiên, cộng với mùi xú uế từ cầu tiêu công cộng cách đó không xa đã lôi cuốn không biết cơ man nào là ruồi xanh. Chúng bay thành từng đàn, từng mảng trên nền trời đông như giải trấu. Một số đông đang giành ăn cấu xé nhau trên đám cải chua trên nóc nhà bếp. Số khác bay lượn vo ve trên miệng đường cống, đậu vào những nơi nào có thể đậu được trong khu nhà bếp và tạo nên một cảnh tượng ồn ào náo nhiệt khác thường.
Ðây là lần đầu tiên trong đời tôi được thấy ruồi xanh nhiều như thế. Con nào con nấy to bằng đầu đủa. Nhìn cảnh đó tôi thầm nghĩ, có lẽ toàn thể ruồi xanh trên thế giới hôm nay tập trung về Tỉnh Xuân Lộc này để họp bạn; hoặc có một “Đại Hội Ruồi Xanh Thế Giới” được tổ chức ngay trong trại tù Gia Ray!
Khi tới nhà bếp tôi phải dừng lại, ráp vào hàng, vì đã có chừng vài ba chục người đang đứng xếp hàng trên lối đi, trên tay mỗi người cầm một tờ giấy. Phía sau có độ mươi anh tù khác cũng đang lục đục kéo ra và hàng người càng lúc càng dài hơn. Những người tù bất đắc dĩ phải đứng xếp hàng đó, đa số còn xa lạ nên tôi cũng chẳng nói chuyện với ai. Có người mặt nhăn mày nhó trông rất khổ sở, mà tôi đoán là họ đang bị “đuổi” rất gấp, như thế còn tâm trí đâu để mà chuyện với trò?
Nhìn về phía xa trước mặt, tôi thấy cái hố hình chữ nhật chiều dài phải có tới 15 thước, chiều ngang khoảng chừng 10 thước. Trên mặt hố được dựng tạm bợ một dãy cầu tiêu chừng 15 hay 20 cái dính liền nhau, cái nọ cách cái kia bằng một tấm phên nứa cao chừng 40 cm. Trong mỗi cái ô nho nhỏ đó có một con người đang ngồi giống như một hàng nhộng nằm trong tổ ong ló đầu ra ngoài. Dãy cầu tiêu nằm cách bờ đất chừng 2 thước và trước mỗi ô có một miếng ván bìa bắt từ mép bờ đi ra.
Trên nóc cầu tiêu có tấm cót che mưa che nắng một cách sơ sài. Phía trước có tấm chắn bằng nứa, cao chừng một gang tay. Tấm chắn này chỉ che được những nơi “cần che” của con người đang ngồi chồm hổm phía sau, đối diện với một người đang đứng dàn hàng ngang trên bờ. Những người đứng hàng ngang này thuộc diện ưu tiên, trong khi những người ra muộn như tôi, phải đứng thành hàng dọc trên lối đi.
ÐỢI CHỜ TRONG ĐAU KHỔ!
Một lúc sau tôi mới chợt để ý là hầu hết những người đang xếp hàng đều cởi trần chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Ðiều này làm tôi ngạc nhiên vì lúc đó là tiết xuân, sáng sớm trời khá lạnh, tại sao họ lại cởi trần, mặc quần đùi, trong khi tôi lại ‘diện’ khá chỉnh tề. Lúc đó tôi nghĩ bụng: “Mấy tướng này đã ở đây lâu nên quen chịu rét, còn mình làm gì dám cởi trần buổi sáng sớm lạnh cóng thế này!” Tôi quay lại phía sau, thấy có vài anh cũng ăn mặc chững chạc như tôi, coi lại toàn là đám lính mới trong nhóm mới nhập trại 2 ngày qua.
Hàng người nhích bước tới rất chậm, chẳng khác gì cảnh kẹt xe trên đường Hai Bà Trưng vào giờ tan sở. Có mấy tay đứng cạnh tôi, chắc là trong tình trạng rất “khẩn trương”, đang đứng khoanh tay, mặt mày nhăn nhó, bứt rứt trông rất thảm hại. Cặp mắt lúc nào cũng đăm đăm nhìn cái hàng “nhộng” đang ngồi yên bất động, giương mắt lờ đờ nhìn ra, trong trạng thái “đê mê” nhẹ nhàng thoải mái.
Có một anh chàng đứng sau lưng tôi có vẻ đang bị “Tào Tháo” đuổi gấp, nhưng lại gặp đèn đỏ phía trước nên tức khí quát to: “ Ðụ Mẹ! Ỉa cái đéo gì mà lâu thế mấy cha nội? Bộ muốn ngủ trong đó à? Mau ra cho bà con nhờ với chớ!” Cả đám cười ồ sau câu nói của anh chàng lỗ mãng vui tính này. Vài người phụ họa pha trò thêm vài câu gì đó để quên cảnh khổ lúc bấy giờ đang hành hạ từng người. Chẳng ai buồn trả lời, nhưng một lúc sau có tiếng nói của một trong những “con nhộng” đùa trả lại. Nghe cách nói, tôi biết là chỗ bạn bè thân thiết: “Cái thằng ăn nói vô duyên, chuyện gì chớ chuyện này thì nhanh cái chó gì được? Ngồi đây thối bỏ mẹ, có sướng ích gì đâu mà mầy ở đó la với hét?” Cả bọn chúng tôi lại được một trận cười cho quên cảnh “sầu trong bụng” được giây lát.
Có mấy anh xong việc, kéo quần đứng lên, bước vội ra như bị ma đuổi. Mỗi lần như vậy chúng tôi nhích thêm được vài bước. Chợt có một anh bạn đi ngược chiều, khi ngang qua chỗ tôi, dừng lại nói: “Cậu Bảy, cởi đồ dài ra, mặc quần cụt thôi!” Tôi ngạc niên hỏi: “Sao vậy?” Anh ta trả lời: “ Trời ơi! Vô đó nó thối không thể chịu nổi. Cậu mặc quần áo dài, mùi thối ám vô mấy ngày còn chưa hết mùi. Ở đây làm gì có nước mà giặt. Cậu cởi quần áo dài ra đi, con mang về buồng cho!”
Thì ra tôi mới hiểu tại sao gần như tất cả đều cởi trần mặc quần đùi, chỉ có bọn lính mới chúng tôi là ngây thơ trong việc này. Sau khi cởi trần tôi bắt đầu rét run, nhưng dù sao tôi cũng phải bám trụ ở đây, không thể nào rời bỏ vị trí được.
Kẻ ra người vào, rốt cùng tôi cũng trở thành dạng ưu tiên, đứng đối diện với một người xa lạ đang ngồi chồm hổm bên trong “tổ ong”. Hai người chúng tôi, một đứng một ngồi, cách nhau chừng hai thước, nhưng hai người tránh ánh mắt của nhau, vì đây là một cuộc “hội kiến” hoàn toàn bất đắc dĩ.
Lúc đứng chờ, tôi nhìn xuống hố phân và cảnh tượng ở đây thật là kinh khủng! Cái hố sâu chừng quá đầu người. Bên dưới mỗi ô nhà cầu có một thùng chứa phân bằng sắt, trước kia là thùng phuy 200 lít chứa dầu xăng, được cắt đôi ra làm thùng chứa phân, có 2 quai bằng dây sắt. Nhưng vì thùng thì nhỏ mà người dùng thì quá đông, nên phân tràn be bét ra ngoài, lấp đầy gần một phần ba cái hố. Các thùng chứa phân này là “tài sản” của đội rau xanh, mỗi ngày có mấy anh tù vào khiêng ra, bón cho vườn rau cải của trại. Vườn rau cải này là nguồn cung cấp thức ăn chính cho hơn ngàn tù nhân trong trại.
Lúc đó, mùi hôi thối xông lên làm tôi gần ngạt thở. Ðám ruồi nhặng ở đây còn nhiều gấp mấy lần hơn nhóm ở nhà bếp. Chúng đông như trấu và đang quần thảo, cào cấu, nhào lộn, đẩy con này, hất con kia, đạp con nọ, bay lên, đáp xuống, ẩu đả nhau giành ăn trên mặt hố. Tiếng bay của chúng tạo thành âm thanh “ù… ù…” như tiếng máy bay trực thăng đến từ xa! Trên lớp mặt nhầy nhụa, từng mảng dòi bọ lúc nhúc đang lăn lộn, uốn éo, bò lết, trườn đạp lên nhau không khoan nhượng!
Tôi không dám nhìn cảnh này lâu và ngước nhìn lên cái chòi gác khá cao nằm ở một góc cách đó không xa. Có một anh công an ngồi gác trên chòi, anh ta đang yên lặng nhìn chòng chọc xuống đám tù nhân đang nối đuôi nhau làm cái công việc thuộc bản năng. Tự nhiên tôi đâm ra thương hại cho anh ta và nghĩ thầm:“Mình mới đứng ở đây một chốc đã muốn điên người, còn anh ta ngồi đó hàng giờ làm sao chịu cho thấu!” Nhưng tôi lại nghĩ, cái gì cũng vậy, mãi rồi nó cũng quen đi.
Một lúc sau, tới lượt tôi bước vào cái “tổ ong” để làm “con nhộng” và một người bạn tù khác đứng đối diện chờ tôi. Chúng tôi cách nhau chừng 2 thước, ngồi bên trong liếc nhìn ra tôi thấy cặp mắt anh ta lúc nào cũng hướng về phương trời xa xăm!
CÁI GÌ RỒI CŨNG QUEN ĐI
Về sau này mỗi buổi sáng tôi lại phải đến đây, dĩ nhiên là cởi trần mặc quần đùi, lại đứng xếp hàng dọc, lúc sau lại dàn hàng ngang đối diện với hai người bạn tù nào đó, một người tôi đứng chờ, và sau đó một người khác đứng chờ tôi! Một anh công an vẫn ngồi trên chòi gác, mắt vẫn đăm đăm nhìn xuống đám tù xếp hàng đi là công việc thuộc bản năng. Cái hố vẫn là cái hố cũ, vẫn là “vương quốc” ồn ào của ruồi xanh với tất cả sự nhơ nhớp và thối tha kinh khủng của nó, nhưng tôi không cảm thấy kinh tởm gớm ghê như lần đầu tôi phải tới đây. Lúc đó tôi tự nhũ: “Cái gì cũng vậy, mãi rồi nó cũng quen đi.”
Có những ngày mưa gió tơi bời làm cho việc giải quyết nhu cầu tự nhiên của cơ thể trở nên khổ nhọc hơn. Đám tù nhân phải xếp hàng dưới cơn mưa và cái hố kia ngập nước trở nên lõng bõng nhầy nhụa. Ðám giòi bọ bị ngập lụt, trôi lều bều. Chúng giãy giụa như hành khách bị chìm tàu đang vẫy vùng quơ quào kêu cứu! Nhưng trời mưa lại giúp bầu khí đỡ hôi thối và đàn ruồi xanh cũng hoạt động bớt hăng say, có lẽ chúng sợ bị ướt cánh.
Những ngày tháng về sau, tôi vẫn phải tới nơi này và tự nói với mình: “Đây là một phần trong giai đoạn mới của cuộc đời tôi!”
Người ta bảo sông có khúc, người có lúc. Thế mà, khúc đời nào của Việt Kiều Cambodia cũng nhiêu khê. Thời nào của họ cũng là thời mạt vận.
NgyThanh
Thông tín viên Võ Thành Nhân (SBTN) vừa buồn bã loan tin: nhà báo Lê Văn Phúc đã từ trần vào hôm 7 tháng 8 năm 2020, tại Reston – Virginia. Tác phẩm (Tôi Làm Tôi Mất Nước) đầu tay của ông do Văn Hữu xuất bản năm 1985, và Thế Giới Ấn Quán tái bản – lần thứ 5 – vào năm 1989. Với thị trường sách báo hải ngoại thì đây là một hiện tượng hiếm hoi.
Lê Văn Phúc được nhiều người tìm đọc vì không ít độc giả đã cùng chia sẻ với ông cái cái tâm cảm, hay mặc cảm (mất nước) bàng bạc trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản từ nhiều thập niên qua. Gần đây, tác giả Thụy Khuê vừa gửi đến mọi người một cách tư duy khác, mới mẻ và khoáng đạt hơn, qua tập bút ký (Quê Hương Ngày Trở Lại) xuất bản vào tháng 6 năm 2019:
“Khi miền Nam thua trận năm 1975, nhiều người Việt phải bỏ nước ra đi, không ít người kêu than ‘mất nước’. Kêu như thế là chưa hiểu gì về đất nước: đất nước ta là một tập hợp sông núi, con người, văn hoá và lịch sử ngàn năm, nó có cái vinh quang cũng có cái ô nhục, bởi nó là tổ tiên ta, ta phải gánh tất cả, bởi nó đã ở trong ta, trong dòng máu.
Sinh con, ta tưởng nó là của ta, nhưng không, con ta là của nó. Duy chỉ có đứng trên đất nước, chỗ nào, ta cũng cảm thấy đó là của mình, đất nước là cái sở hữu duy nhất mà con người có được. Đi du lịch, biết bao nhiêu cảnh đẹp thế gian bầy ra trước mắt, nhưng cảnh đó không phải của ta, nó là của người Tầu, của người Pháp, của người Nhật… chỉ có nước Việt là của ta, của mình, miên viễn là của mình, xuyên qua các thể chế, thắng bại, được thua…
Vì thế, nước không bao giờ mất, chỉ thay đổi chế độ. Nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn không phải là chủ đất nước, họ là những người cai trị đất nước trong một thời đại. Nhìn như thế, ta sẽ thấy lòng an nhiên tự tại, một niềm hãnh diện mở ra tới vô cùng, bóp chết những thương đau, thù hận.”
“Năm 1993, Yến chết thảm ở tuổi 21. Đám tang của Yến diễn ra trong một ngày mùa đông buồn thảm. Cái buồn thảm không giống những nỗi buồn tôi từng chứng kiến trong các đám tang khác khi còn ở Việt Nam.
Lần cuối cùng người ta thấy Yến đi với một gã người Campuchia khoảng một tuần trước. Khách đã thỏa thuận và chi tiền trước với chủ chứa để ‘bao’ Yến trong hai ngày. Nhưng ba, rồi bốn ngày vẫn không thấy Yến về.
Linh tính có điều gì chẳng lành xảy ra với cô nên hai người chị kết nghĩa là Hương và Trầm bỏ tiền nhờ người đi tìm. Để có thêm tiền chi trả việc tìm bạn, tất nhiên Hương và Trầm phải ‘làm thêm’, tức là tiếp khách nhiều hơn ngày thường.
Người ta tìm thấy xác của Yến (khi ấy đã không còn nguyên vẹn do thương tích, do côn trùng bâu kín thân thể) bị vứt ở chân núi Mô Păng. Vì chủ chứa – một mụ đàn bà người Việt có nước da bợt như xác chết, không cho làm tang ở đấy, thành ra mấy người thợ mộc hàng xóm phải đi kiếm gỗ, dựng tạm cho cái chòi tại khu đất trống để có chỗ kê quan tài. Đám tang lèo tèo vài ba người hàng xóm thất nghiệp trong đó có tôi, ngồi dự cho đỡ tủi. Yến có thằng con trai lên bốn tuổi, tên là Hên. Thấy mẹ chết, nó gào khóc, tiếng khóc tôi chưa từng nghe thấy bao giờ:
Ụ má mày, mày xí gạt Mày hứa đưa tao về quại mà mày hổng đưa. Mày bỏ tao mày đi. Choi me hặn…hặn tau na… cùm ngợp. (Đù má mày…mày đi đâu… đừng chết.) … Dậy đưa tao về quại!” (Phạm Thanh Nghiên. Chuyện Kể Của Chồng) .
Báo Công An Nhân Dân vừa, số ra ngày 31 tháng 7 năm 2020, vừa đăng tải một bản tin (ngắn ngủi) đọc mà muốn nát lòng:
“Lúc 6h30’ cùng ngày, Tổ công tác của Trạm kiểm soát thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương phối hợp với Chi cục Hải Quan Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương phát hiện hàng chục đối tượng (gồm người lớn và trẻ em), di chuyển từ phía Campuchia qua tuyến biên giới tỉnh An Giang, trên 8 thuyền máy.
Tổ công tác tiến hành dừng phương tiện, dẫn giải người, phương tiện về Trạm kiểm soát Biên phòng cửa khẩu quốc tế xác minh, điều tra, làm rõ.
Qua lấy lời khai, được biết có 7 hộ gia đình với 41 khẩu (20 người lớn, 21 trẻ em) sống tại tỉnh Siem Reap và tỉnh Pur Sát (Campuchia). Do hoàn cảnh sống khó khăn nên có ý định trốn về Việt Nam sinh sống tại tỉnh Đồng Tháp và Tây Ninh. Tất cả đều không có giấy tờ hợp pháp, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc Việt Nam.
Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương đã tiến hành lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xuất, nhập cảnh trái phép bằng hình thức cảnh cáo đối với 14 đối tượng là chủ hộ gia đình, cho làm cam kết không tái phạm.”
Hoá ra đất nước chỉ “miên viễn là của mình, xuyên qua các thể chế, thắng bại, được thua…”, nếu kẻ tha hương vẫn có một nơi anh lành (nào khác) để tạm cư và có thể về thăm chơi – đôi ngày – bất cứ lúc nào với passport cùng một mớ ngoại tệ bên mình. Chứ với những kẻ lâm vào bước đường cùng (không có một đồng xu dính túi) thì đất nước và quê hương không có chỗ dành cho họ.