Bà Aung San Suu Kyi được giảm án tù

Báo Nguoi-viet

August 1, 2023

BANGKOK, Thái Lan (NV) – Cựu lãnh tụ Myanmar, bà Aung San Suu Kyi được ân xá năm tội trong số 19 tội trạng mà bà đang thọ án do quân đội tuyên phạt, đài BBC đưa tin hôm Thứ Ba, 1 Tháng Tám.

Hành động tha tội trong mùa ân xá sẽ giảm 6 năm trong tổng số 33 năm tù cho vị cựu lãnh tụ.

Cựu Tổng Thống Win Myint, bị hạ bệ cùng bà Suu Kyi, cũng được giảm án sau khi được ân xá hai tội trạng.

Các lệnh ân xá thường kỳ đã được công bố trước đó, nhưng đây là lần đầu tiên ông Myint và bà Suu Kyi được liệt vào danh sách ân xá.

Nhà cầm quyền quân sự đã nhượng bộ nhằm cố gắng khôi phục các nỗ lực ngoại giao bị trì hoãn.

Hồi tuần trước, bà Suu Kyi đã bị di lý từ nhà tù sang quản thúc tại gia tại thủ đô Naypyitaw.

Người đoạt giải Nobel 78 tuổi bị quân đội cầm tù từ Tháng Hai, 2021 sau cuộc đảo chánh hòng lật đổ bà.

Cuộc đảo chánh đã châm ngòi cho cuộc nội chiến ở quốc gia này, tước đi mạng sống của hàng ngàn người.

Chính quyền quân sự cũng bị cáo buộc gây ra hành động bạo lực bất cân xứng nhằm vào những người chống đối.

Một số quốc gia khác, đáng chú ý phải kể đến Trung Quốc và Thái Lan, đã tiến hành đối thoại với chính quyền quân sự, nhưng những sáng kiến này bị chỉ trích vì loại bỏ đảng cầm quyền của bà Suu Kyi sau khi giành được đa số lá phiếu trong cuộc bầu cử năm 2020.

Chiến thắng áp đảo đã làm cho quân đội viện dẫn có gian lận bầu cử – sau đó lấy lý do này biện hộ cho cuộc đảo chánh.

Bất kỳ cuộc đàm phán nào nhằm thỏa hiệp với cộng đồng quốc tế đều gần như cần sự hiện diện của bà Suu Kyi. Tuy nhiên, bà đã bị cô lập từ lúc bị bắt giữ trong cuộc đảo chánh. Kể từ đó, bà gần như đã bặt vô âm tín trong hơn hai năm.

Bà Suu Kyi đang kháng lại các bản án của những tội trạng khác, từ gian lận bầu cử tới tham nhũng.

Tất cả những tội trạng mà bà phủ nhận, đều được quân đội tổ chức xét xử ngầm hòng chống lại bà. Các tổ chức nhân quyền đã đả kích các phiên tòa không công khai này.

Hôm Thứ Hai, 31 Tháng Bảy, chính quyền quân sự đã hoãn một cuộc bầu cử hứa hẹn tổ chức vào Tháng Tám năm nay, sau cuộc đảo chánh hai năm trước. (TTHN)

“Đời đời biết ơn”, một thứ đạo lý không tệ hại thành tệ hại

Báo Tiếng Dân

Chu Mộng Long

1-8-2023

Trước tòa, trừ số doanh nhân vì lẽ sinh tồn buộc phải tư duy “tiền trao cháo múc”, tất cả các quan chức và luật sư bào chữa cho quan tham hoặc bộc lộ trực tiếp hoặc nuôi trong đầu thứ đạo lý làm ơn và trả ơn. Sự “làm ơn” của chúng là cứu sinh mạng hàng vạn người bị mắc kẹt trong vùng tâm dịch. Ơn ấy to như núi Thái Sơn. Và “sự trả ơn” với trăm tỉ hay ngàn tỉ, theo chúng, “chẳng thấm vào đâu”. Với chúng, đạo lý này cao hơn mọi quy phạm của pháp luật.

Biết đâu chúng nghĩ, sự trả giá bằng tù tội và sự nguyền rủa của thiên hạ chẳng là gì so với việc làm “cứu nhân độ thế” của chúng? Nếu điều này còn thống trị trong suy nghĩ của giới quan chức chưa bị lộ, thì bất hạnh của dân tộc này còn kéo dài không dứt.

Để không bị chụp mũ, tôi phải rào trước là tôi không phủ nhận cái gọi là “đời đời biết ơn”. Người dân đói khổ đời đời biết ơn lãnh tụ đã giải phóng cho mình thoát khỏi đói nghèo. Học trò đời đời biết ơn thầy dạy dỗ mình thành người. Con cái đời đời biết ơn cha mẹ đã dưỡng dục từ bé cho đến khi trưởng thành. Đó là đạo lý tốt đẹp từ ngàn xưa truyền lại.

Nhưng lợi dụng và nhân danh đạo lý ấy để đòi kẻ hàm ơn phải trả ơn thì điều tốt đẹp ắt rơi vào tệ hại. Lãnh tụ và những người ăn theo lãnh tụ sau khi thực hiện công cuộc gọi là “giải phóng” bắt toàn dân phải khom lưng làm nô lệ để nuôi mình, ắt lãnh tụ và những kẻ ăn theo đó tự phủ nhận công lao của chính mình. Cho nên, gần cả ngàn năm trước, Nguyễn Trãi dứt khoát phủ nhận cái phương châm “Ăn cơm chúa múa tối ngày” mà bắt vua chúa phải làm ngược lại: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”.

Người thầy dạy dỗ học trò thành người mà tham lam, suốt ngày kêu “quà quà”, lợi dụng đạo lý “Sống tết, chết giỗ”, đến chết cũng còn nghiện phong bì, người thầy ắt bị học trò không xem là người mà chỉ xem như con quạ bẩn thỉu. Dân gian phủ nhận loại thầy như vậy mới sinh ra câu chuyện học trò nhặt xương cho thầy, cho thầy liếm mật như… chó.

Hiện nay, nhiều con cái ruồng bỏ, đánh chửi bố mẹ, theo tôi, trừ loại hư hỏng do nhiều nguyên nhân xã hội, trong đó có lỗi từ bố mẹ. Bố mẹ tự kiêu mình là “núi Thái Sơn”, là “nước trong nguồn” đòi con cái “đời đời biết ơn” bằng tiền, bằng rượu thịt để ăn chơi, những đứa con trong gia đình ấy không đào núi cha, lấp sông mẹ cho hả giận mới là chuyện lạ. Không ngẫu nhiên mà các cụ dạy “Phụ có từ thì tử mới hiếu”. Cha mẹ yêu thương, vun đắp cho con cái một cách vô tư, tôi dám chắc chẳng con cái nào dám phụ bạc, trừ nguyên nhân khác.

Không chỉ vụ Việt Á hay Chuyến bay giải cứu lộ ra chân tướng của các quan, mà hầu như các quan thời nay đều nhận thức chỉ một chiều đạo lý có lợi cho chúng. Rằng chúng có công làm cách mạng, giải phóng dân nghèo, làm người thầy dạy dân, và như cha mẹ nuôi dân, nên họ có quyền bất khả bàn luận là dân phải “đời đời biết ơn” và phải “trả ơn” họ bằng xương máu của mình.

Bao nhiêu người hy sinh trong chiến tranh là xương máu. Bao nhiêu người lao động vật vã, chết vùi trong các công trình như Sông Đà, Trị An… là xương máu. Bao nhiêu người nghèo đóng quỹ chống dịch và chết trong các trại cách ly khi xảy ra dịch bệnh là xương máu. Trả ơn bằng xương máu và quy ra tiền tỷ, các quan và các luật sư bào chữa tự cho là “chẳng thấm vào đâu”, thứ đạo lý ấy trở thành đạo lý của bầy lang sói. Không phải đạo làm người!

Điều đáng sợ là khi tuyên truyền, dạy dỗ một chiều đạo lý “đời đời biết ơn”, người ta đã nhồi vào sọ cả một thế hệ thứ tinh thần “hy sinh” vô điều kiện để cho họ thụ hưởng. Không ngẫu nhiên mà khi được hưởng bổng lộc, danh hiệu, các chế độ ưu đãi, trong các lời phát biểu, đám quan chức, thậm chí trí thức, văn nghệ sĩ, chỉ biết nói lời “biết ơn”, “cảm ơn” bề trên như một cái máy. Không ngẫu nhiên mà khi bảo vệ luận văn, luận án, làm lễ tốt nghiệp ra trường, nhận bằng cấp, các học viên, sinh viên, nghiên cứu sinh đều đồng loạt chỉ nói lời “biết ơn”, “cảm ơn” lãnh đạo. Trong khi số tiền, danh hiệu, bằng cấp họ nhận được đều lấy ra từ máu xương của nhân dân. Dân gian nói “lấy của làng làm ơn cho xã” là theo nghĩa ấy!

Nhớ khi bảo vệ luận án tiến sĩ, tôi phát biểu lời cảm ơn nhân dân, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn vợ tôi trước rồi mới cảm ơn hội đồng, nhiều người trố mắt xem tôi như là “quái nhân” bố láo!

Cứ so cách giáo dục của ta và phương Tây, đủ hiểu ta khác đến tệ hại thế nào. Nghi thức bảo vệ luận án tiến sĩ chẳng hạn. Ta đặt Hội đồng ngồi chễm chệ trên bục cao, nghiên cứu sinh đứng ở dưới thấp báo cáo và trả lời như quan hệ giữa quan tòa và bị cáo. Bảo vệ xong, nghiên cứu sinh tặng hoa, tặng quà và nói lời cảm ơn Đảng, Nhà nước và Hội đồng. Làm khoa học mà cứ như bị cáo bị tòa phán xét và phải đội ơn trời bể xin tòa nương tay và giảm án vậy.

Trong khi dự buổi bảo vệ luận án của con tôi, tôi hết sức ngạc nhiên khi nó lên bục báo cáo, Hội đồng ngồi ở dưới cùng với cử tọa, trao đổi bình đẳng. Kết thúc buổi bảo vệ, Chủ tịch Hội đồng thay mặt Hội đồng, thay mặt nhà trường và nhà nước Pháp, chúc mừng và cảm ơn nghiên cứu sinh đã đóng góp công sức và trí tuệ cho khoa học nhân loại. Hội đồng còn tặng hoa, tặng quà cho nghiên cứu sinh. Tiệc liên hoan cũng do nhà trường tổ chức và chi trả! Ngày nhận bằng Tiến sĩ, tân Tiến sĩ được mời cả bố mẹ đến dự để nhà trường cảm ơn bố mẹ tiến sĩ. Tiệc liên hoan cuối cùng này cũng do nhà trường tổ chức và chi trả luôn, các hoạt động chụp ảnh, áo mão cũng được nhà trường miễn phí và tặng luôn cho Tiến sĩ làm kỷ niệm!

Trong khi ở cái xứ sở của đạo lý “đời đời biết ơn” này, kẻ làm ơn bòn vét đến từ cái phong bì, ăn uống và chi trả cả tiền thu phí tấm giấy gọi là “bằng”, thu luôn tiền thuê mặc áo quần… Kệch cỡm nhất là người trao bằng mặc áo hoàng bào như ông vua, không thì vương miện, phương trượng như giáo hoàng, đứng trên bục cao trao bằng, còn tân tiến sĩ thì đứng ngang háng vua hay giáo hoàng, cúi đầu nhận bằng như đứa nô lệ nhận ơn trời bể của vua ban hay tội nhân nhận ân đức của giáo hoàng khi làm nghi thức rửa tội.

Viết ra điều này để các nhà giáo dục phản tỉnh. Vạn sự “do giáo dục mà nên”. Đừng chửi bới quan tham như thể mình là người ngoài cuộc!

SAIGON BÂY GIỜ – BS. Đỗ Hồng Ngọc

SAIGON BÂY GIỜ (BS. Đỗ Hồng Ngọc)

Cái đẹp của Saigon ngày xưa nay còn đâu! Nguồn internet.

Saigon bây giờ không thấy có người đẹp nữa! Xưa ra đường cứ thấy người ta vừa chạy xe vừa… ngoái đầu lại để nhìn gái đẹp , phụ nữ xinh đẹp ! Bây giờ hết rồi !!!

Bây giờ ra đường người con gái nào cũng trùm kín mặt, mang vớ dài tay, găng tay kín mít, áo khoác sùm sụp, đầu đội mũ bảo hiểm, chỉ chừa hai con mắt lom lom qua kính bảo hộ… ! Ở trên cao nhìn xuống người người dày đặc, từng luồng từng luồng cuồn cuộn trôi đi, lâu lâu cụng mũ bảo hiểm một cái rồi mạnh ai nấy đi, cứ như đàn kiến…..

Đi bộ trên đường nhiều khi gặp người chào hỏi thân thiện mà chẳng biết ai là ai, đến lúc như chợt nhớ ra họ mới gỡ khẩu trang cười lỏn lẻn. May thay, con gái Saigon bây giờ tuy che mặt mà lại hở đùi!

Họ mặc quần short thật ngắn ra đường bất kể sáng trưa chiều tối. Nhờ đó mà cũng có thể nhìn ra người đẹp! Có điều hơi nguy hiểm cho giao thông công cộng vì đường sá không thông thoáng như xưa.

Áo dài thì khó mà tìm thấy nữa rồi- trừ trên sân khấu và sàn diễn thời trang. Con gái vì thế mà không còn yểu điệu, dịu dàng, tha thướt nữa. Ngay cả những ngày lễ tết, ở đường hoa Nguyễn Huệ rực rỡ vậy mà cũng khó tìm thấy một tà áo dài.

Năm nay chợ Hoa Tết đã dời về đường Hàm Nghi , nhưng mà bị ế ẩm thê thảm.

Áo dài kiểu , áo dài thời trang chỉ thấy ở một số đền , chùa và mấy địa điểm chọn lựa để quay phim ảnh xã hội , thời trang , ca nhạc để lôi cuốn, dụ dỗ dân chúng.

Mọi người trở nên hấp tấp, vội vã, căng thằng hơn bao giờ hết. Cái lý do vì sao mất áo dài rồi phải trùm kín mít cả người như vậy thì ai cũng biết. Bụi khói mù trời. Không khí hừng hực, ô nhiễm …. Môi trường đô thị ngày càng xấu đi….. Cây xanh tàn rụi. Cao ốc vùn vụt bốc lên !!!!!!!!!!  Đến năm 2020 thì Cộng Sản Trung Quốc sẽ sang làm chủ, xâm chiếm, cai trị, đô hộ, điều khiển mọi thứ, mọi sự, mọi điều ở Việt – Nam theo như Mật Ước thành đô 1990 trong đó các lãnh đạo CSVN đã buôn bán toàn thể đất nước, sơn hà, xã tắc và biển đảo cho CS Trung Quốc …. Vậy mà một số Việt Kiều và các công ty ngoại quốc vẩn nhào vô, chạy về đầu tư xây các cơ sở và các cao ốc như điên ……. Cộng Sản Việt Nam đã dụ dỗ, lọc lừa, mưu chước tài giỏi thật ……. Không trách gì quỷ vương Satan, Lucifer và các quỷ con của hỏa ngục cũng thua các mưu mô, mưu chước gian trá, lọc lừa của họ !!!!!!!Các tiệm ăn fastfood, các quán ăn đủ loại mọc lên như nấm ……. Năm nay đã có khoảng chừng Một Triệu Việt Kiều theo lời dụ dỗ ngọt ngào, gian trá của nhà nước CSVN nên đã đua nhau về ăn Tết, hưởng xuân hoan lạc ở Việt Nam, nên họ đã đem tiền ngoại tệ về nuôi cho dân Sai-Gon được béo bổ, mập phì ra ……..

Ai cũng biết fastfood tới đâu thì các bệnh béo phì, tim mạch, tiểu đường, huyết áp… theo tới đó. Mà bệnh tật càng tăng nhiều thì… càng tốt chớ sao. Thuốc men, thực phẩm chức năng, quảng cáo ồn ào thì kinh tế càng phát triển. Thức ăn thức uống toàn là  hương liệu, hoá chất, bột nêm độc hại …. thế nhưng các thứ đó làm cho chuyện bếp núc trở nên đơn giản…… Có một số quán ăn , tiệm ăn bình dân , công cộng lại có các nàng tiếp viên , tiếp thị và các nàng phục vụ chạy bàn ….khỏa thân 100 % trần truồng như nhộng để câu khách ….  và họ được phép làm như vậy …… Thế là Việt Kiều và các du khách ngoại quốc rủ nhau , kéo nhau về VN để hưởng các cảnh hoan lạc , thú vui nhục dục của thiên đường hạ giới Sai-Gon !!!!!!!!! .

Cứ xem TV thì biết. Người nào người nấy già trẻ lớn bé mặt mũi bóng lưỡng, hí hửng chụp giựt nước uống thức ăn, nhảy nhót mừng vui tưng bừng mọi nơi mọi lúc!

Saigon bây giờ cận thị quá trời! Trẻ con nứt mắt đã cận thị. Mẫu giáo tiểu học cận thị tùm lum. Tiệm kiếng mở ra tràn ngập, góc nào cũng có……

“Chỗ nào rẻ hơn trả lại tiền!”. Ấy cũng nhờ vi tính, game online, TV… các thứ ngày càng hấp dẫn. Thế giới nhỏ trong lòng bàn tay. Trẻ con sướng như tiên. Đồ chơi trên trời dưới biển khắp hang cùng ngõ hẹp…..

Thỉnh thoảng kêu có hóa chất độc hại. Khi biết thì mọi thứ đã muộn rồi…. Kể cả thuốc “cam” nổi tiếng một thời nay gây ngộ độc chất chì không thuốc chữa. Lạ là người ta vẫn cứ tin và vẫn cứ nhắm mắt uống càn , uống ẩu tả , mặc kệ nó !

Các loại sữa “thông minh” dành cho trẻ con ngày càng nhiều, khiến các bà mẹ không muốn cho con bú sữa mình nữa. Rõ ràng các thế hệ trước đây không được uống sữa thông minh nên có vẻ kém… thông minh ??? !!!!!!

Saigon bây giờ loãng xương hơi nhiều. Đi ngoài đường thấy người ta lố nhố, tụ tập, tưởng gì, hóa ra đang túm tụm đo xương! Có người tử tế, vì sức khỏe cộng đồng, đem máy đo mật độ xương ra ngoài đường đo cho ông đi qua bà đi lại. Ai cũng loãng xương kẻ ít người nhiều! Sau đó ai cũng mua một vài hộp sữa, một vài loại thuốc chống loãng xương là xong.

Saigon bây giờ đua nhau sửa sắc đẹp. Ai cũng sửa được, không cần phải học. Ai cũng nên sửa, từ cô hoa hậu đến ca sĩ, người mẫu, cô hàng xén, anh doanh nhân.

Bơm vú bơm mông, cắt mắt, xẻ mũi, chẻ cằm rào rào…..

Ai cũng thành người mẫu , ca sĩ Hàn quốc. Nhan sắc rộ lên khiến các nhà thơ bí lối, bí nguồn cảm hứng, không còn làm thơ được nữa!

Saigon bây giờ trẻ con bỗng dậy thì sớm……

Không dậy thì sớm cũng uổng! Mọi thứ kích thích nhục dục , tình dục  cứ rần rật chung quanh. Phim ảnh, internet, sách báo , phim dâm , phim con heo 3-4x… các thứ đầy dẫy khắp nơi …… Thức ăn thức uống béo bổ các thứ. Khí hậu nóng lên , nhiệt khí cơ thể lúc nào cũng nóng sôi lên , đòi hỏi , thèm khát tình dục …..Bởi vậy tỷ lệ phá thai của các vị thành niên gia tăng một cách đáng lo ngại….. Các thanh thiếu niên phần nhiều đua nhau sống cuồng, sống vội, sống ẩu tả, bừa bãi, vô văn hoá, vô giáo dục, sống lăng loàn, ma túy, bất cần đời ……..

Tình trạng vô sinh cũng nhiều. Ly dị cũng gia tăng nhiều và mau. Người ta đua nhau mổ đẻ cho đúng giờ hoàng đạo. Các trẻ sanh non, suy hô hấp, thiếu dưỡng khí não, thiếu chăm nom, săn sóc tốt nên lớn lên bị các chứng bệnh tâm thần cả đống,  cũng bộn !!!!

Tóm lại, sức khỏe và các đường lối, các phương cách giáo dục cộng đồng ở Saigon bây giờ có nhiều điều đáng suy gẫm…… Sài Gòn đẹp lắm nay còn đâu !!!!

 Đỗ Hồng Ngọc

Việt Nam phải khẩn thiết “xóa bài làm lại”

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

31-7-2023

Nhiều người cứ lo ngại, giáo dục của Việt Nam thế nọ thế kia. Giáo viên bỏ dạy đăng ký đi lao động bên Hàn quốc. Nghe nói họ làm một năm bên Hàn quốc, bằng 10 năm đi dạy ở Việt Nam.

Hôm rồi tôi có đặt vấn đề rằng: Giả sử bây giờ dẹp hết nhân sự giáo dục Việt Nam và thế vào đó là nhân sự Harvard. Kiểu tất cả giáo viên Việt Nam đều đi lao động Hàn quốc và người của Harvard thay thế vào. Theo quý bà con, kết quả có khá hơn không?

Theo tôi là không. Tôi dám khẳng định rằng, với tình hình hiện thời, sinh viên được đào tạo và ra trường thì họ vẫn phải chạy xe grab để kiếm ăn.

Cái “nhà nước” này đã thúi nát từ trên tới dưới, từ trong ra ngoài hết rồi. “Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn nôn mửa” hết cả rồi.

Tạo ra công ăn việc làm cho mọi người là trách nhiệm đầu tiên của nhà nước.

Cải cách giáo dục, cải cách chỗ nọ chỗ kia, kiểu tăng tiền lương cho giáo viên. Theo tôi, không ăn thua.

Con bịnh ung thư thời kỳ thứ ba thì không còn thuốc thang gì nữa hết. Cái may mắn là “nhà nước Cộng hòa XHCN” không phải là con người. Nó cũng không phải là “tổ quốc”. Nó chỉ là một chế độ, một “nền cộng hòa” mà thôi.

Theo tôi, nên để cho cái “nhà nước Cộng hòa XHCN” này xuôi tay an nghỉ. Nó đã làm xong “sứ mạng lịch sử” của nó rồi. Thay vì cố gắng hà hơi nuôi sống nó bằng mồ hôi, nước mắt, sức lao động lẫn danh dự và khí tiết của cả dân tộc này. Phung phí một cách vô ích. Hãy giúp nó bình yên xuôi tay và mai táng nó tử tế.

Một nền cộng hòa mới cần được khai sinh, thí dụ Đệ nhị Cộng hòa Dân chủ Việt Nam. Hay gọn (và nhẹ) hơn là Đệ tứ Cộng hòa Việt Nam.

Hãy nhìn Nam Hàn, Đài Loan phát triển ra sao (từ năm 1975 đến nay) rồi mới thấy Việt Nam phải khẩn thiết “xóa bài làm lại”…

Hương Sài Gòn

Nuong M Lam

Em trót sinh ra sau ngày “giải phóng”

Và lớn lên khi đất nước “thanh bình”

Nhưng cuộc đời sao vất vả điêu linh

Mẹ buôn gánh bán bưng nuôi con dại

Em đi học, qua đồng khô cỏ cháy

Trời quê hương bàng bạc áng mây buồn

Đường chiều về leo lét ánh tà buông:

“Con đói quá, mẹ ơi trời sắp tối !”

Sáng đi học bụng em còn thấy đói

Cô dạy em phải yêu kính “bác” Hồ

Em hỏi:bác là ai vậy, hở Cô?

Cô bảo:Nhờ bác, đảng ta CHIẾN THẮNG!

Em không hiểu, nhưng cúi đầu im lặng

Mà trong lòng thắc mắc mãi không thôi

“CHIẾN THẮNG” gì? Sao khổ qúa đời tôi

Nhà, họ lấy, phải đi vùng kinh tế!

Bao nhiêu năm, lớn lên đời vẫn thế

Trời quê hương còn đó áng mây buồn

Vẫn từng ngày, vẫn kiếp sống đau thương

Em thay mẹ: Đời bán bưng buôn gánh !

Em tự hỏi nếu đảng không “CHIẾN THẮNG”

Nước Việt Nam có chậm tiến thế nầy?

Người dân hiền đâu ngậm đắng nuốt cay

Bị “xuất khẩu” sang xứ người lao dịch !

Em thầm hỏi: Ai đây là kẻ địch?

Mỹ, Ngụy, bác Hồ, hay cộng đảng ta?

Ngụy bây giờ là “khúc ruột phương xa”

Mỹ là thầy, là ân nhân kinh tế !

Nước Việt thụt lùi bao thế hệ

Từ môi sinh cho đến đạo làm người:

Chính phủ chỉ là một lũ đười ươi

Bọn ích kỷ, phường buôn dân bán nước!

Xã hội xuống dốc nhanh không tưởng được

Quan bạo tàn, tham nhũng đến vô lương

Chuyên hối lộ, cướp nhà, chiếm hết ruộng nương

Dân thấp cổ kêu trời cao chẳng thấu !

Đảng của “bác” biến nước ta lạc hậu

Dân Việt Nam nghèo nhất cõi năm châu

Những huy hoàng ngày cũ nay còn đâu

Phụ nữ Việt bán thân ngoài muôn dặm !

Ôi tổ quốc, ôi quê hương nhung gấm

Hỡi địa linh, nhân kiệt hãy vùng lên !

Giành TỰ DO, DÂN CHỦ với NHÂN QUYỀN

Quyết đập đổ NỘI THÙ: phường cộng sản

Hết cộng nô, trời Việt Nam lại sáng

Đàn con Hồng cháu Lạc đứng cao lên

Xây đấp non sông, bờ cõi vững bền

Đó là lúc toàn dân ta CHIẾN THẮNG !

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=200516006987717&id=100010879569530&pnref=story

Chuyện một ông gốc Việt thoát khỏi ma lực của sòng bài

Báo Nguoi-viet

Tâm An/Người Việt

ANAHEIM, California (NV) – “Tôi cứ nghĩ trong đầu, nếu mà tôi có tiền, tôi sẽ thuê giờ phát sóng, để tôi được nói với tất cả đồng hương mình trên đài radio rằng: Quý vị hãy tránh xa những trò đỏ đen, cờ bạc. Những ai đã lỡ dính vô, thì phải tìm mọi cách để thoát ra. Không bao giờ quý vị thắng được casino đâu, nên đừng cố gỡ lại, chỉ lãng phí tiền!”

Đây là lời cảnh tỉnh của ông Minh Trần, một hưu trí ở Garden Grove, đang làm thêm nghề lái taxi ở khu vực quanh Little Saigon.

“Tôi nói những lời này, là lời chân thành rút ra từ chính cuộc đời tôi, từ kinh nghiệm bản thân tôi. Đồng thời cũng từ những cảnh đau lòng mà tôi chứng kiến: Rất nhiều người Việt, đã đốt sạch tiền tài, danh vọng và cả hạnh phúc sự nghiệp bằng những lá bài,” ông Minh bộc bạch.

Từng là một sĩ quan quân đội VNCH, sau năm 1975, ông bị đi tù dưới chế độ hà khắc của nhà tù Cộng Sản sáu năm. Năm 1981, được ra tù, ông từng nhiều lần tìm cách vượt biên nhưng không thành. Trải qua bao phen sóng gió, có khi cận kề cái chết, đói khổ, bần cùng nhưng ông không hề sa ngã. Khi được sang Mỹ năm 1994, ông đã tự nhủ đây là cơ hội làm lại cuộc đời, ông nguyện sẽ không bao giờ vướng phải những thứ như cờ bạc, rượu chè, hút xách.

Và quả đúng như vậy, khi sang Mỹ, ông đã chăm chỉ làm việc để nuôi dạy con cái, chăm lo gia đình. Hai mươi năm, ngoài giờ làm hãng, ông còn tranh thủ kiếm thêm bằng vài “cuốc” taxi. Đến nay, con cái ông đều đã tốt nghiệp đại học thành tài. Cách đây mấy năm, ông bị bệnh nên phải nghỉ hưu sớm.

Kể từ đó, ông coi nghề chạy taxi là nghề kiếm cơm chính của mình. Các con đã có việc làm, vợ  ông cũng còn đi làm, nhà có nhiều nguồn thu nhập, không đến nỗi ông phải sống trong thiếu thốn. Nhưng vốn bản tính chăm chỉ, dù đã lớn tuổi, ông vẫn đăng báo kiếm khách đi taxi, đặng có thêm tiền tự trang trải cuộc sống.

Gần 25 năm ở Mỹ, ông chưa bao giờ ham muốn những trò đỏ đen, cờ bạc. Hơn 10 năm đi taxi, ông chở không biết bao nhiêu người lên sòng bài, nhưng ông không bao giờ màng tới nó.

Ma lực của sòng bài, thử một lần là dính!

Nhưng, một lần… vào casino để chờ một người khách chơi bài, ông cũng thử đánh một lần. Và chỉ lần duy nhất đó ông trở thành “con nghiện” cờ bạc lúc nào không hay.

Nhấp một ngụm cà phê, người tài xế ngoài 70 tuổi, với vẻ mặt hiền lành, phúc hậu, nói: “Nếu cô gặp tôi vào hai năm về trước, cô sẽ nhận không ra tôi đâu. Tôi trông bệ rạc, rã rời, chán chường lắm. Bây giờ, tôi đã lấy lại tinh thần, tâm hồn thanh thản nhẹ nhõm, không tham luyến gì nữa. Tôi đã trở lại là chính tôi như trước kia rồi.”

“Đến giờ, mỗi khi nghĩ lại quãng thời gian đó, tôi lại thấy kinh hãi. Tôi cảm giác tôi không còn là mình nữa. Tôi gọi đó là một con quỷ, chính xác là một con quỷ, nó chiếm hữu tôi, nó sai khiến tôi, thúc giục tôi làm đủ cách để có tiền, để tiếp tục ném vào trò đỏ đen, may rủi,” ông nói thêm.

Ông Minh nhớ lại: “Lần đó, có một bà khách gọi cho tôi, yêu cầu tôi chở bà ấy đi sòng bài nào gần đây nhất. Bà ấy nói mới từ Việt Nam qua nên muốn đi casino tham quan. Tôi nhìn bà ấy bộ dạng lơ ngơ, ăn mặc thì có vẻ quê mùa, nên tôi hỏi bà ấy rằng ‘Bà lên casino làm gì, ở đấy có gì hay đâu mà đi?’ thì bà ấy chống chế là ‘Tôi đi coi cho biết.’ Thế rồi tôi chở bà ấy tới một sòng bài cách Bolsa chừng 20 phút.”

Ông Minh Trần, một người đã nghỉ hưu ở Garden Grove, kể chuyện đã thoát khỏi ma lực của sòng bài như thế nào và luôn mong muốn đồng bào gốc Việt hãy tránh xa những trò đỏ đen, cờ bạc, vé số. (Hình: Tâm An/Người Việt)

“Thông thường chở khách tới nơi, nếu phải chờ tôi thường ra bãi xe hoặc ngồi ở ngoài hiên, chứ tôi không vào trong. Nhưng lần này, vì tôi nghĩ bà ấy còn lạ lẫm, nên tôi dẫn bà ấy vào bên trong sòng bài. Ngay khi mở cửa vô trong, thì bà ấy ngồi xuống một cái bàn, bà ấy đánh bài, chứ không phải là đi coi cho biết như bà ấy nói,” ông tiếp tục câu chuyện.

“Lần đó, tôi không ngờ là bà ấy thắng. Bà vui vẻ ‘tip’ cho tôi tới vài trăm đô la. Chỉ một chốc đã kiếm mấy trăm đô la trong khi tôi chạy xe cả ngày kiếm được mấy chục. Tôi thoáng nghĩ như vậy. Tôi mừng rỡ đem tiền về, đưa cho vợ một phần, còn khoe với bà ấy là hôm nay được khách ‘tip’ rất hậu hĩnh,” ông kể tiếp.

“Tới ngày hôm sau, bà ấy lại gọi tôi chở đi lên sòng bài tiếp. Bà ấy nói tôi chơi thử đi, dễ lắm. Lòng tham nổi lên, tôi dùng số tiền bà ấy cho đang còn trong túi, để thử vận may. Tôi không biết luật chơi như thế nào, nên thấy người ta đặt tiền làm sao, tôi làm theo y vậy. Tôi thua ngay ván đầu tiên. Tôi đánh tiếp vài ván nữa mong gỡ gạc lại. Nhưng tôi đã thua hết số tiền trong túi,” ông Minh kể thêm.

Giọng trầm xuống, ánh mắt suy tư, ông kể tiếp: “Ngẩn ngơ vì tiếc tiền, hôm sau tôi lẳng lặng lên sòng bài đánh nữa. Tôi lại thua sạch số tiền mặt mà tôi lái taxi mấy ngày mới có được. Tôi thẫn thờ ra về, như kẻ mất hồn.”

“Ngày tiếp theo, tôi lại mò lên sòng bài. Kiếm được bao nhiêu tiền lái taxi, tôi ném vào đó hết. Cũng chỉ vài ván bài là lại hết sạch tiền. Tức khí, tôi lấy luôn thẻ tín dụng ra cà, lấy tiền chơi tiếp. Và tôi lại thua…” ông tự trách mình.

Trong vài tháng liên tục đánh bài, con số nợ thẻ tín dụng của ông Minh đã lên tới hơn $10,000. Càng thua, ông lại càng muốn chơi tiếp để mong có tiền trả nợ thẻ tín dụng. Nhưng chưa bao giờ ông thắng một ván nào. Con số nợ đã vượt quá khả năng tự chi trả của ông.

Cuộc chiến giằng xé giữa “thiên thần” và “ác quỷ”

Nhớ lại khoảng thời gian hãi hùng, ông Minh chưa hết bàng hoàng. Ông tâm sự: “Lúc đó tôi vừa tiếc tiền, vừa cắn rứt lương tâm, vừa xấu hổ với vợ con, vừa lo lắng về khoản nợ tín dụng. Tôi trở nên bấn loạn. Tôi không còn cách nào khác là tự thú với vợ và các con tôi. Lúc đầu thì họ sốc và giận tôi. Nhưng sau thì mọi người thông cảm nên các con đã an ủi tôi rằng: ‘Thôi bố đừng tiếc tiền nữa, coi như số tiền này là ‘của đi thay người’ thôi mà.’ Rồi các con trả nợ hết cho tôi.”

Là một người theo đạo Thiên Chúa, ngày nào ông Minh cũng cầu nguyện Chúa giúp ông thoát khỏi thảm cảnh này. Nhưng hình như Chúa muốn tiếp tục thử thách ông.

Ông Minh kể tiếp: “Tôi đã cố gắng không lên casino nữa. Nhưng con quỷ tham lam trong tôi vẫn không chịu buông tha tôi. Nó luôn thôi thúc tôi thử vận may lần nữa bằng trò vé số cào. Hằng ngày có nhiêu tiền lái taxi, tôi lại mua vé cào. Cào cho tới khi nào không còn một đồng nào trong túi thì thôi, có khi hết cả tiền đổ xăng. Tôi phải đóng kịch, kiếm ra đủ lý do để nói dối vợ con, để biện minh, che giấu cho việc làm xấu xa đó của mình.”

Có quá nửa người chơi bài tại sòng bài gần khu vực Little Saigon, là người gốc Việt. (Hình: Tâm An/Người Việt)

“Càng ngày, tôi càng xuống tinh thần, giằng xé nội tâm ghê gớm. Vừa mắc cỡ với vợ con, vừa chán nản về bản thân. Càng ngày tôi càng rơi vào trạng thái mất kiểm soát. Tôi nói với vợ con là tôi không thể chiến thắng được con quỷ đó, hãy nhốt tôi trong nhà, để tôi khỏi ném tiền vào vé số,” ông nhớ lại.

“Gia đình tôi vội tìm trên mạng những phương cách để giúp tôi. Cuối cùng con tôi tìm được một khóa tu tại một nhà thờ ở một thị trấn nhỏ, được biết là có nhiều người đã được chữa khỏi các bệnh về tâm lý. Sau chín ngày thành tâm cầu nguyện, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, tôi tưởng mình đã thay đổi. Nhưng ngay khi vợ con tôi lên đón tôi về, tôi không thể nào cưỡng lại được ham muốn bài bạc. Tôi đã lẻn đi mua vé số cào ngay hôm đó,” ông nói thêm.

Ông Minh kể, đã có lúc ông tuyệt vọng đến mức muốn tìm đến cái chết. Có lúc nửa đêm, ông bỏ đi lang thang, ngủ trong công viên, tới sáng mới về. Cũng may, ông có một người vợ nhân hậu và hiền lành, những người con hiếu thảo và hiểu nỗi giày vò của cha. Họ tiếp tục tìm những cách chữa trị tâm lý khác để giúp ông thoát khỏi ma lực của cờ bạc, nhưng vẫn vô phương cứu chữa.

Cứ như vậy ròng rã hai năm trời…

Thoát nạn

Rồi đến một ngày, cách đây vài tháng. Ở nhà thờ Chính Tòa Chúa Kitô (Christ Cathedral), thường gọi là nhà thờ Kiếng, tại thành phố Garden Grove, có khóa tu chữa lành của Linh Mục Thanh Tâm chủ trì. Ông Minh đã đi cầu nguyện 10 ngày, ngày nào cũng từ 6 giờ chiều tới nửa đêm, vợ ông cũng đi cầu nguyện cùng ông.

Ông cho biết: “Tới ngày thứ 9, thứ 10 thì tôi bắt đầu thấy có sự chuyển biến. Người tôi nhẹ bẫng đi, trong lòng không còn tham muốn gì nữa. Tôi thử ra chỗ bán vé số, mua một vé cào $5 cào thử. Vẫn không trúng. Chỉ có điều là, tôi không tiếc nuối gì cả, tôi dửng dưng bước ra khỏi tiệm vé số. Con quỷ đó đã biến mất rồi. Lòng tôi thanh thản, nhẹ nhàng, vui sướng như vừa thoát ra khỏi một kiếp nạn.”

Mặc dù là ngày giữa tuần, giữa giờ làm việc tại các cửa tiệm, công xưởng, nhưng bãi đỗ xe của một sòng bài rộng cả chục hécta, vẫn chật ních không còn một chỗ trống. (Hình: Tâm An/Người Việt)

Có lẽ Chúa đã thử thách tôi, cho tới ngày hôm nay, Chúa mới dang tay cứu tôi,” ông cảm động nói.

Từ đó tới nay, đã ba tháng trôi qua, thi thoảng ông Minh vẫn thử đi vào cửa hàng vé số xem mình có còn bị con quỷ trong tâm xui khiến không. Ông vui mừng khi thấy mình không còn tham luyến gì nữa.  Ông đã lấy tinh thần trở lại. Gia đình ông, ai cùng mừng như ông đã đi chiến trận trở về.

Vẫn còn đó, nhiều cảnh khổ đau vì cờ bạc

Câu chuyện của ông Minh chỉ là một trường hợp “nghiện” cờ bạc nhẹ, thế nhưng đã ảnh hưởng tới cuộc sống của ông một cách tệ hại đến mức có thể đẩy ông vào bế tắc muốn tự vẫn.

Thế nhưng, có tới sòng bài mới thấy, nơi đó, có hàng trăm người gốc Việt, vẫn ngày đêm bị “con quỷ tham luyến tiền bạc” sai khiến, họ lao đầu vào như con thiêu thân, không biết đường thoát ra.

Là một người lái taxi bao năm nay, ông Minh cho hay: “Trong số những hành khách kêu tôi, đòi chở họ lên sòng bài, có những bà đã bán cả căn nhà của mình để đánh bạc. Có những cô có mấy cửa tiệm ở phố Bolsa, sáng nào cũng đến tiệm lo mọi cách để có tiền, chiều tối là gọi tôi chở đi sòng bài đốt hết số tiền cô có. Có những ông vừa lãnh lương ra, kêu tôi chở lên sòng bài, trong một tiếng, bay luôn cả tháng lương. Rất nhiều người đã không còn xu nào để trả tiền taxi cho tôi. Thậm chí có người còn năn nỉ mượn lại tiền tôi nữa.”

“Không chỉ người có tiền mới đánh bạc, mà cả những người không có tiền cũng đánh. Có một ông đã nghỉ hưu, sống bằng tiền trợ cấp thôi, nhưng cũng gọi tôi, đòi chở đi casino. Thế rồi chỉ nửa tiếng sau đã thất thểu đi ra, thua hết sạch số tiền trợ cấp,” ông kể.

“Những người đã thua bạc, trong đầu họ lúc nào cũng nghĩ tới làm sao có tiền để đánh tiếp. Họ sẽ nghĩ ra đủ lý lẽ gian dối với mọi người, kể cả người thân, chỉ cốt để lấy được tiền để đi đánh bài, bất chấp đạo lý, không hề thương tiếc,” ông cho hay.

Ông khẳng định: “Ở mấy sòng bài xung quanh đây, người chơi có tới quá nửa là người Việt mình. Chứng kiến bao nhiêu cảnh tiền bạc mồ hôi nước mắt cứ thế ra đi trong tích tắc. Tất cả đều tán gia bại sản, tan nát cửa nhà, tiêu tan hạnh phúc gia đình và sự nghiệp. Tôi đau lòng lắm.”

“Tôi muốn thông qua trải nghiệm thực tế của chính bản thân tôi, và thông qua những cảnh khổ mà tôi đã gặp trong hành trình làm nghề lái taxi của mình, để cầu xin quý vị hãy tránh xa cờ bạc, vé số, những trò may rủi, đỏ đen. Và hết sức cảnh giác để không bị vô tình dẫm chân vào vũng lầy, như tôi đã từng,” ông nhắn nhủ. (Tâm An)

—–
Liên lạc tác giả: pham.taman@nguoi-viet.com

Liên tiếp 2 vụ chồng đánh, tạt axit vợ ở Đồng Tháp, Thanh Hóa

Báo Nguoi-viet

July 30, 2023

ĐỒNG THÁP, Việt Nam (NV) – Nghi can Trần Văn Ung, 54 tuổi, ở huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, vừa bị bắt với cáo buộc đánh chết vợ do nghi ngờ bà này ngoại tình.

Theo báo Dân Trí hôm 30 Tháng Bảy, vào lúc nửa đêm, Công An Huyện Lấp Vò nhận được tin báo nghi can Ung đang đánh vợ, bà HTX, 52 tuổi, tại tư gia.

Nghi can Trần Văn Ung và hai thanh gỗ dùng để đánh chết vợ ở tỉnh Đồng Tháp. (Hình: Dân Trí)

Khi công an xuất hiện tại hiện trường thì bà X. đã nằm bất động trên sàn nhà, vùng đầu và mặt bê bết máu. Lúc này, nghi can vẫn đang cầm hai thanh gỗ dài khoảng 40 cm là công cụ gây án.

Nghi can Ung lập tức bị bắt trong lúc nạn nhân thiệt mạng do vết thương quá nặng.

Tại đồn công an, nghi can Ung khai rằng mình đánh vợ do nghi ngờ bà này ngoại tình.

Trong một vụ khác, theo báo Người Lao Động hôm 29 Tháng Bảy, nghi can Bùi Duy Khánh, 34 tuổi, ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, bị bắt với cáo buộc tạt axit vào mặt vợ, bà QTM, khiến nạn nhân tổn thương nặng cả hai mắt.

Điều tra sơ bộ của nhà chức trách cho hay đêm 26 Tháng Bảy, bố bà M. báo công an về chuyện con gái mình bị nghi can Khánh giam giữ ở nhà không cho ra ngoài. Công an xã đến nhà triệu tập hai vợ chồng nghi can Khánh về đồn.

Trong lúc bà M. đang dắt xe gắn máy ra cổng thì Khánh đi vào buồng, lấy một lọ đựng axit rồi tạt thẳng vào mặt vợ làm nạn nhân bị thương ở vùng mặt và hai mắt.

Tại bệnh viện, các bác sĩ xác nhận bà M có nguy cơ bị mù vĩnh viễn.

Trước khi xảy ra sự việc, hai vợ chồng nghi can Khánh bị cho là có mâu thuẫn tình cảm và nhà chức trách đã tiến hành hòa giải nhưng bất thành.

Thời gian qua, các báo ở Việt Nam liên tiếp đưa tin về các vụ chồng đánh, giết vợ xảy ra do mâu thuẫn, ghen tuông.

Trong một vụ xảy ra gần đầy, theo báo Tiền Phong hôm 28 Tháng Bảy, ông LVC, 32 tuổi, ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, bị xử phạt hành chính 15 triệu đồng ($633) về hành vi dùng đồ hốt rác để đánh vợ, khiến bà này bị thương.

Nghi can Bùi Duy Khánh ở tỉnh Thanh Hóa. (Hình: Người Lao Động)

Giới chức địa phương xác nhận ông C. “thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực với vợ, bị chính quyền nhiều lần nhắc nhở nhưng không sửa đổi.”

Sở dĩ ông C. chỉ bị phạt tiền mà không bị bắt là do Công An Tỉnh Nghệ An kết luận rằng vụ này “chưa đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.” (N.H.K)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ăn cướp

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

30/07/2023

Từ xứ Thái trở về, blogger Phạm Hồng Phong có mang theo một câu chuyện làm quà mà chỉ cần nghe qua cũng muốn ứa nước mắt:

Bay chuyến cuối cùng trong ngày, từ Don Muang về Tân Sơn Nhất. Gặp một nhóm hơn chục người đi tay không, quần áo nhàu nhĩ áo phông trắng thì thành cháo lòng, áo màu thì cáu bẩn, người đi tông, người đi chân đất, ồn ào, nhốn nháo lên máy bay tìm ghế ngồi. Tất cả đều rất trẻ, tuổi từ 20, đến 31.

Khá ngạc nhiên, hỏi ra mới biết anh em ngư dân Sông Đốc – Cà Mau bị cảnh sát biển Thái Lan bắt khi đang câu mực ở Vịnh Thái Lan, tịch thu thuyền, tài sản, án tù 3 tháng. Gia đình vay tiền chạy chọt, ngồi tù được 55 ngày, hôm nay được thả về.
Cầm vé trên tay nhưng không biết ghế của mình chỗ nào. Mình cùng mấy cô tiếp viên Air Asia hướng dẫn từng chỗ ngồi vì anh em đều lần đầu bị đi bằng máy bay.

Ngồi hỏi chuyện và nghe kể mới biết sự cơ cực từ ngày bị bắt đến khi được tha. Để được thả, gia đình phải tự tìm cò, qua Thái, liên hệ Đại sứ quán VN ở Bangkok, xuống Songkhla gặp cảnh sát, cai tù…Rổ giá để được tự do:

  • Thuyền viên 12 -20 triệu/người
  • Tài công 80 -120 triệu/người tùy tội nặng nhẹ, tùy hứng của cò và cảnh sát.

Tiền vé máy bay riêng, nghe anh em nói là mỗi người 8 triệu nộp cho đại sứ quán mua và làm thủ tục cho cả nhóm, ngồi xe tù, cảnh sát chở tuột ra sân bay, gọi tên từng thằng phát cho cuống vé. (Giá bình thường mua cận ngày thì tối đa cũng chỉ 150$~ 3 triệu ông cụ). Mình bảo anh em, có thể do tiền cò, lệ phí giấy thông hành ĐSQ cấp và xăng xe tù, xe áp tải của cảnh sát Thái nên mới hết 8 triệu, chứ vé mình mua trước đây 5 ngày có 1800 Bath ~ 1,2 triệu…

Câu chuyện làm quà của Phạm Hồng Phong khiến tôi nhớ đến bài viết (“Tình Đồng Hương Của Dũng Việt Nam”) của phóng viên Đình Dân, trên Tuổi Trẻ Online:

Ở Philippines ngư dân ta đi biển gặp nạn được Dũng giúp đỡ rất nhiều’, ‘Không chỉ những người Việt đi biển gặp nạn ở Philippines biết tới Dũng, mà thậm chí nhiều thân nhân của họ đang sống ở quê cũng lưu trong điện thoại cầm tay cái tên Dũng Việt Nam’…

Đó là những thông tin mà tôi nghe được từ nhiều người dân ở đảo Phú Quý. Và tôi đã có cơ hội gặp gỡ ‘Dũng Việt Nam’ nhân chuyến đi Philippines viết về vụ 122 ngư dân bị giam giữ tại đây…”

“Chiều 23-8, trời Palawan vẫn mưa suốt. Sáng mai là ngày diễn ra phiên tòa xét xử 122 ngư dân nên chiều hôm đó những người từ Việt Nam qua ai cũng bận rộn lo giấy tờ, thủ tục chuẩn bị hầu tòa. Anh Dũng cũng cuống cuồng vừa chạy xe vừa điện thoại liên tục để hẹn các luật sư ở Philippines nhằm thiết kế các buổi gặp gỡ với các luật sư từ Việt Nam qua.

Vừa gặp luật sư xong, anh Dũng lại cùng anh Thoại – chủ DNTN Long Hải Long – vào nhà tù để mang thuốc tây và một ít tiền bà con ở đảo Phú Quý gửi cho người nhà của họ trong trại giam. Mưa to ướt hết áo, anh Dũng phải mượn áo một thuyền trưởng mặc vào để chạy tiếp…

 Ngày diễn ra phiên điều trần, từ sáng sớm anh Dũng đã ngồi trong chiếc xe ba bánh chờ dưới đường. Anh bảo chờ đi cùng 115 ngư dân từ nhà tù ra tòa án. Nhìn những ánh mắt âu lo qua song sắt của chiếc xe màu vàng bóp chặt khóa, anh Dũng ngậm ngùi: ‘Đồng hương mình cả. Mà toàn là ngư dân chân chất. Vợ con họ ở nhà mà thấy hình ảnh này chắc không cầm lòng được…’

Một số ngư dân ở Quảng Ngãi và Bình Thuận kể rằng từ năm 2004 đến nay, anh Dũng đã giúp đỡ khoảng 30 nhóm ngư dân Việt Nam bị mắc nạn và trôi dạt vào vùng biển của nước bạn…  Anh Dũng nói có một câu chuyện mà anh sẽ chẳng bao giờ quên.

Đó là vào đầu tháng 8 vừa rồi. ‘Hôm đó đã 22g đêm. Trời mưa to gió lớn. Tôi đang cho mấy đứa con đi ngủ thì nhận được điện thoại từ Việt Nam. Người đầu dây là anh Sơn – một chủ ghe ở tỉnh Quảng Ngãi: Dũng ơi, làm ơn cứu nạn cứu khổ giùm.

12 ngư dân của tôi đang đánh bắt ở vùng biển nước mình thì bị bão đánh chìm ghe. Họ điện về nói đã trôi dạt mấy ngày nay theo hướng nam về vùng biển Philippines. Họ đang cố đu bám vào thuyền thúng trôi dạt giữa biển. Anh nhờ người ở đó cứu giùm, không để đến sáng mai lạnh quá họ chết hết. Ngay trong đêm, bằng tất cả mọi mối quen biết, anh Dũng xác định lại chính xác tọa độ nơi 12 ngư dân bị nạn rồi lập tức cầu cứu hải quân Philippines…

Ủa, cái ông Dũng này là ai mà sao rảnh rỗi và “bao la” dữ vậy cà? Xin hãy nán đọc thêm một đoạn ngắn nữa, về người đàn ông Việt Nam vô cùng nhân ái và tháo vát này:

Một lần khi anh Dũng đang mải miết phiên dịch cho các ngư dân ở tòa án đến nỗi quên đi đón vợ, thế là vợ anh tự thuê xe chở cả bao dép bán dở đến tòa án tỉnh để tìm. Lúc này tôi mới biết người đàn ông thông thạo ba thứ tiếng Việt, Anh, Philippines này là một người bán giày dép trên hè phố…

Coi: một người dân Việt lam lũ, vợ dại con thơ, đang lưu lạc nơi đất lạ xứ người mà chăm lo cho những đồng hương của mình từ A tới Z (cung cấp toạ độ nơi ngư dân bị bão đánh chìm thuyền cho hải quân Phi, tham vấn với luật sư bản sứ, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, vào tù thăm non tiếp tế cho đồng bào đang bị giam dữ, rồi cùng đi với họ ra toà …) như vậy thì các Toà Tổng Lãnh Sự và Đại Sứ Quán VN làm gì ?

Làm… tiền!

Chớ họ còn có lựa chọn nào khác nữa đâu, theo như nhận xét của blogger Hương Vũ: “Sống và làm việc cách công chính như nhân viên sứ quán các nước khác, nhân viên sứ quán VN chỉ còn cách cắn dép gặm không khí qua ngày.”

Có thực mới vực được đạo chớ, “phong cách và đạo đức cách mạng” mà. Đại Sứ Trần Việt Thái đã “khai” như thế, trước tòa, vào hôm 12/07 vừa qua: “Việc chi bồi dưỡng cho cán bộ Đại sứ quán là việc phổ biến ở Malaysia, nếu không chi thì không huy động được người đi làm việc.”

Ở đâu mà không vậy, chớ có riêng chi cái đám cán bộ ngoại giao ở Mã Lai. Không cho ăn thì ai mà làm. Vấn đề chỉ là các vị quan sứ ăn quá bẩn (và quá dầy) nên mắc nghẹn thôi:

Tưởng là nhiều lắm chớ chỉ có mười một tỷ thì nào có là bao, và đây chỉ là cơ hội ngàn năm một thuở của các ông bà quan sứ ở nước ngoài thôi. Ở một xứ sở mà “một quả trứng chịu 14 loại phí, một con lợn cõng 51 thuế phí” thì dân làng Ba Đình đã ăn bao nhiêu tỷ bạc mỗi ngày, và ăn ròng rã như thế từ bao thập niên qua ?

DÒNG NƯỚC DIỆU KỲ

Kim Dao Lam

Fb Lê Hạnh

DÒNG NƯỚC DIỆU KỲ

Nước chát mặn

Nhưng không là nước biển

Nước trong veo

Nhưng chẳng tự khe nguồn

Chảy thành dòng

Mà đâu phải mưa tuôn

Rơi thành giọt

Nhưng nào do sương đọng

Ấy là

Nước chắt từ lòng cuộc sống

Khi vui, buồn, xúc động tự trào tuôn

Dòng nước khơi

Từ cửa sổ tâm hồn

Chỉ duy nhất loài người thụ hưởng

Một giọt nước đủ chất đầy rung cảm

Một dòng rơi cũng thấu tận tim người

Ai chẳng từng qua sướng, khổ, buồn, vui

Ai chẳng thấm những giọt đời đậm nhạt

Cuộc đời chẳng bao giờ vơi nước mắt

Chẳng bao giờ héo quắt tựa cành khô

Chỉ khi nào nằm ” yên giấc ngàn thu ”

Khi khép mắt không bao giờ mở lại

Dòng nước ấy mới cạn khô mãi mãi

Mới hoà vào hoang dại của vô tri…

Dòng nước siêu nhiên

Dòng nước diệu kỳ.

30_07_2023

*******

Hình admin chôm trên mạng:

Một trong số 300 công nhân thu gom rác bị nợ lương từ tháng 8 đến tháng 12/2020 ở Hà Nội

Về Hoàng Phủ Ngọc Tường… (1937 – 2023)

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

26-7-2023

Bút ký của Bác Sĩ Alje Vannema, người gốc Hòa Lan, có mặt tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, sau 50 năm đã trở thành “tài liệu lịch sử”, nếu không nói là “bằng chứng lịch sử”. Thông lệ giới hàn lâm học thuật, cũng như qui ước quốc tế về những “hồ sơ mật quốc gia”, thời gian công bố các các hồ sơ xếp vào diện “mật” là 30 năm và 50 năm cho các hồ sơ ”tối mật”. Tức là, trên “nguyên tắc”, các “bí mật” về cuộc “tấn công và nổi dậy” tết Mậu Thân 1968 đã được phải “bạch hóa”.

Bác sĩ Alje Vannema không phải là “sử gia” thông thường, tức là những người chỉ viết lại (và phân tích) những sự kiện đã qua. Bác sĩ Alje Vannema vừa là nhân chứng trực tiếp, vừa là “sử gia” ghi chép lại (một cách tường tận và tỉ mỉ) chi tiết các vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế. Tài liệu vì vậy có tầm quan trọng, ngoài giá trị “lịch sử”, nó còn có giá trị của “bằng chứng”.

Tài liệu này được Vintage Press, New York công bố năm 1976, sau đó được báo chí Việt ngữ tại Mỹ trích dịch đăng lại dưới tựa đề: Thảm sát Huế Tết Mậu Thân.

Tài liệu ghi lại, hố chôn tập thể (được phát hiện cho tới thời điểm viết bút ký) gồm có 19 vùng. Căn cước một số nạn nhân, (những người còn nhận diện được), như tên tuổi, xuất xứ… được tác giả ghi chép tỉ mỉ. Đặc biệt tài liệu ghi tên 4 nhân vật có can dự vào cuộc thảm sát, gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh (tài liệu viết là Nguyễn Thị Đoan) và Nguyễn Đọc. Riêng hai ông Tường và Xuân, tác giả Alje Vannema khẳng định là mình “biết rõ”.

Theo bác sĩ Alje Vannema, Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách “tòa án” khu vực Tiểu chủng viện. Nguyễn Đắc Xuân phụ trách các “tòa án” khu Gia Hội:

“Tòa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây.”

Như vậy Hoàng Phủ Ngọc Tường có trách nhiệm ở hố chôn tập thể thứ tư, như đã viết trong tài liệu: “Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ: ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM; và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết vì lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác tìm thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng”.

Về Nguyễn Đắc Xuân, tài liệu viết: “Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện”.

Theo tài liệu của bác sĩ A. Vannema, hố chôn tập thể khu Gia Hội được khám phá đầu tiên:

“Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là vì họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở tòa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên tòa đầu tiên đã liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày tìm kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ”.

Nếu chỉ ngừng ở các chi tiết này, Nguyễn Đắc Xuân chịu trách nhiệm giết 203 người Việt, gồm “thanh niên, người già và phụ nữ”, trong đó có 18 sinh viên.

Tài liệu cũng ghi các Tòa án trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Nhưng theo tài liệu của các học giả người Việt, như các ông Liên Thành hay Lữ Giang, tất cả các phiên tòa trong nội thành đều do hai ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân đảm trách.

Tài liệu của ông Liên Thành đặc biệt có giá trị. Vì ông cũng là một “nhân chứng quan trọng”. Ông nguyên là Thiếu tá, giám đốc Ty Cảnh sát Huế thời đó. Tức là, ông Liên Thành là một người không chỉ “biết”, mà còn là người “trong cuộc”.

Theo tác giả A Vannema: “Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc”.

Theo tài liệu của nhân chứng, bác sĩ A. Vannema, Hoàng Phủ Ngọc Tường chịu trách nhiệm, ngoài cái chết những người Việt Nam, còn có (ít nhứt) cái chết của hai người Mỹ và một người Pháp, tại “tòa án” khu vực Tiểu chủng viện.

Ngày 9 tháng 2 năm 2018, Hoàng Phủ Ngọc Tường có công bố lá thơ “sám hối”, tựa đề “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn”, qua trang facebook nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Theo lá thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định “Mậu Thân 1968 tôi không về Huế”.

Điều ghi nhận đầu tiên, 50 năm sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn nhận thảm sát Huế “là có thật”. Dẫn: “Với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng” (Hết dẫn).

Việc này hết sức cần thiết, và là “điểm son” cho ông Tường. Lịch sử được minh oan: Cuộc “Thảm sát Tết Mậu Thân 1968” là có thật và tác giả vụ thảm sát này là “quân nổi dậy”.

Ông Tường “lên án” vụ thảm sát “là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Lời thú tội của ông Tường đã xóa bỏ tất cả những gì mà các thế hệ VN lớn lên sau này học ở học đường xã hội chủ nghĩa. Tội ác Mậu Thân 1968 là do “quân nổi dậy” gây ra, chớ không phải do Mỹ, Ngụy, như trường học thầy giáo lâu nay giảng dạy.

“Quân nổi dậy” ở đây là những ai? Ai chỉ huy đạo quân “nổi dậy” này?

Ta sẽ tìm ra câu trả lời trong Bút ký của Bác Sĩ Alje Vannema, Vintage Press, New York công bố năm 1976, sau đó được báo chí Việt ngữ tại Mỹ trích dịch đăng lại dưới tựa đề: Thảm sát Huế Tết Mậu Thân.

Chuyện khác, trong lá thư tháng 2 năm 2018 “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn”, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có “nói hết sự thật” hay không?

Về vụ “thảm sát Huế”: Nếu ta có đọc các tài liệu chính thức của đảng CSVN đã công bố, hay những nhân chứng thuộc “phe thắng cuộc”. Không ngoại lệ, tất cả đều cho rằng vụ thảm sát Huế 1968 là có thật. Tất cả đều biểu lộ sự hối tiếc, đồng thời qui trách nhiệm cho chính sách của “trung ương”.

Ta thấy là ông Tường, trong lá thư, chỉ nói “sự thật” ở cái mà mọi người đều biết: Thảm sát Mậu Thân là do phe “cách mạng” gây ra (chớ không phải do “Mỹ Ngụy” gây ra).

Trong lá thư tháng 2 năm 2018, ông Tường không đưa ra được bằng chứng nào để chứng minh rằng ông “không có mặt tại Huế” vào thời điểm cuộc thảm sát xảy ra.

Trong thơ, ông có nhắc lại vụ máy bay Mỹ bỏ bom ”thảm sát bịnh viện nhỏ ở Đông Ba”.

Dẫn: “Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: ‘Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu… Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…’. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi” (Hết dẫn).

Khi thú nhận, “tôi là kẻ mạo nhận”, “một sự việc đáng xấu hổ”, ông Tường đã nhìn nhận mình “nói láo” với dư luận từ 1981 đến nay.

Năm 1981, ông khẳng định qua bài phỏng vấn truyền hình của đạo diễn Burchett rằng, “chúng tôi”, tức gồm có ông Tường, có mặt ở Huế.

Lá thơ gọi là “lời cuối” của ông Tường thú thận rằng “chúng tôi” đó chỉ là “mạo nhận”. Dẫn: “Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi”. Mục đích việc thú nhận nhằm chứng minh ông ta không có mặt tại Huế.

Vấn đề là, chi tiết “bịnh viện nhỏ ở Đông Ba” được ông Tường nhắc lại. Bịnh viện này không hề hiện hữu. Vậy thì làm gì có việc “máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba, chết 200 người”?

Vụ Mỹ thảm sát 200 người ở bịnh viện Đông Ba, vụ này không khác vụ Mỹ Lai, lớn lao ở tầm “tội ác diệt chủng”, tại sao không có tài liệu, báo chí nào ở nước ngoài đề cập tới?

Qua lá thơ “lời cuối”, ông Tường vẫn không điều chỉnh lại những gì ông đã nói sai trước kia (trong cuộc phỏng vấn 1981). Ông tiếp tục khẳng định những sự kiện không có thật.

Làm gì có vụ Mỹ bỏ bom chết 200 người tại bịnh viện nhỏ ở Đông Ba?

Làm gì có chuyện “đường hẻm lầy lội toàn là máu”?

Ông Tường, qua lá thơ “lời cuối”, lại tiếp tục nói dối…

***

Bút ký “The Vietcong Massacre at Hue” của bác sĩ Alje Vannema, người gốc Hòa Lan, có mặt tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, một nguồn chứng cớ quan trọng vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế.

Xin phép tác giả và dịch giả được đăng lại, vì sự cần thiết “cung cấp” bằng chứng cho giới “trí thức Việt Nam”, những người tin vào sự “vô tội” Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hy vọng những người này sẽ đọc tài liệu này, để thấy rằng, thảm sát Mậu Thân 1968 là chuyện “có thật”. Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân là hai “đồ tể xứ Huế” là chuyện có thật. Thảm sát Mậu Thân 1968 đã diễn ra tại Huế ra sao, ai chịu trách nhiệm?

Bút ký:

Sớm tinh sương đã thấy quân Mặt Trận (Giải Phóng Miền Nam) hiện diện trong thành phố. Họ là những người lo mặt chính trị trong cuộc chiếm cứ. Ngày hôm trước, họ vào sổ gần hết mọi người, ghi tên, tuổi, phái tính. Họ quan tâm đặc biệt đối với phái nam, chia những người này ra thành nhiều nhóm: công chức, những người có liên hệ với quân đội cộng hòa, và những kẻ khác. Nhiều trường hợp họ ghi chú đầy đủ cả gia đình, cả tên con cái nữa. Mỗi nhóm họ chỉ định một người đại diện, mang trách nhiệm mọi mặt về tất cả thành viên trong nhóm. Nếu có người thoát thì người đại diện phải lãnh đủ. Dân chúng được lệnh không tụ họp đông người, trừ khi được kêu đi dự mít tinh, không được nghe đài, không được phao tin đồn đãi…

Ngày hôm sau, du kích và nằm vùng địa phương tỏa ra đi tìm những người có tên trong danh sách viết tay nguệch ngoạc. Họ được đưa về Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Một anh cựu sinh viên chủ tọa phiên tòa với sự hiện diện của một người Bắc Việt và hai sinh viên khác. Hai sinh viên này chúng tôi biết…

Các phiên tòa nhân dân mấy ngày trước đã chấm dứt. Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên tòa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Tòa án ở Tiểu chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Tòa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc.

Sau hai ngày phiên tòa kết thúc, nhường chỗ cho những công tác khủng bố dân chúng khác. Một người trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh thiên bạch nhật để làm gương. Một anh sinh viên không tới dự lớp học tập cũng bị bắn công khai. Nguyễn Đọc bắn nhiều người trong đó có người bạn thân đồng lớp là Mu Ty, chỉ vì bạn không chịu hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt đầu kiểm soát lương thực, thực phẩm.Ngày thứ bốn, vì không tuân hành lệnh cách mạng, một gia đình bị xử. Người chủ gia đình bị bắn tức khắc. Dưới áp lực khủng bố gia tăng nhiều người bỏ trốn, nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua sông sang làng Đập Đá. Thường bị bắn theo nhưng cố chèo.

Những người nằm vùng xuất đầu lộ diện, ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc Việt và quân chính quy Mặt Trận lo chuyện quân sự và chiến lược. Nằm vùng địa phương lo việc chính trị, hành chính, bình định, tuyên truyền, và tiêu diệt kẻ thù. Đám này bắt và giết người bất kể, nhiều khi chỉ vì hiềm thù cá nhân. Cán bộ miền Bắc có mặt ở tòa án nhân dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng vai trò ít quan trọng trong các bản án. Địa phương quyết định mọi chuyện. Trước khi lên danh sách, thường đám nằm vùng đã quyết định bắt ai rồi. Chỉ còn việc ra lệnh thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ họ lý luận rằng, thà giết lầm hơn bỏ sót, vì bỏ sót thì sau này mình sẽ bị nhận diện. Một cách hệ thống, công chức, quân nhân, sinh viên có tinh thần quốc gia, có khả năng lãnh đạo và có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia đối lập, tất thảy đều được đoái hoài. Danh sách bất tận.

Dân chúng tập trung ở nhà thờ chính tòa được lệnh vào bên trong, không ai được đứng bên ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh ngồi xuống. Đàn ông và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên đứng. Ở bệnh viện, trò tương tự cũng đã diễn ra. Dân quanh vùng, đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ, được lệnh tập trung vào bệnh viện vì cộng sản sợ giao tranh có thể xảy ra ở đó. Dân lúc này còn sợ súng máy và hỏa tiễn trực thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoãn làm theo lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con nít được lệnh ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên nằm vùng nhận diện, trước mặt hai cán bộ miền Bắc và hai bộ đội Mặt Trận. Hai người nằm vùng này mới được xổ tù khi Việt cộng chiếm thành phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu của Mặt Trận. Một số người, trẻ có, già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà thờ chính tòa.

Bên trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn bà trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính trẻ cộng hòa và Lương (nhân vật kể lại câu chuyện này). Ngày kế tiếp, cuộc hành trình kéo dài suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt bởi một câu hỏi của ai đó “Ta đi mô đây”. Có tiếng phụ họa “Lên núi hay tới chỗ chết?”.

Bộ đội Mặt Trận nói là họ được đưa đi học tập. Không ai biết mình đi đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin rằng có lẽ đời mình sắp kết thúc. Ông già đi bên cạnh Lương bổng ngã quỵ. Cho tới lúc đó anh không biết có ông già đi bên mình. “Bắt gió cho ông ta” tiếng ai đó vang lên… Lương ôm lấy ông cho tới khi người canh gác tới.

Mắt ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói lạc giọng thều thào. “Xin để tui đi, để tui ở lại đây”, ông van xin, bàn tay xương xẩu níu lấy cánh tay người gác. “Tui không đi xa hơn được nữa”.

“Đứng dậy”.

Ông già gượng dậy, cố thẳng người thêm được vài bước rồi lại ngã. Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn, đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi. Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để chắc ăn, không ai chứng kiến. Xác ông được dập vào một hố gần đó, hai tù nhân được lệnh lấp đất. Một tháng sau xác ông được đồng bào khám phá.

Vô vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng hối thúc. Rồi có tiếng hô “Dừng lại”. Lương thấy đám người phía trước được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi xuống. Họ đã tới đích. Đám canh gác phía sau miệng hét thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào sườn kẻ khác…

Sau này, Lương nhớ lại mình đã đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người đã bị kêu lên phía trước và bị quân Mặt Trận tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân bị lôi đi ngay. Chả ai biết gì về số phận họ vì chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Những người khác được lệnh đi về phía lăng Đồng Khánh.

Sau một giờ đi họ lại được lệnh dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu được lệnh đào hầm rãnh. Họ đào mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ thì chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi. Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma nào cả mà do chính con người tạo ra.

Thoạt tiên, Lương nghĩ chắc mình sẽ không qua khỏi. Dù vậy, anh và người lính trẻ vẫn cố tìm cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là tuyệt vọng. Hai người thất thần nhìn nhau, mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám người đói, lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay về nhìn thành phố thân yêu đổ nát đang chìm trong bóng tối sau lưng họ. Họ đào đã hai, ba tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ của mình. Hố đào là để trú ẩn và làm mương dẫn nước, người ta nói thế. Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên. Thần chết vây bủa không gian. Tại sao mình ở đây? Đa số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên khắp thế giới đến tuổi khác.

Sau khi đào xong một hố rãnh, đám đông được lệnh đi tới một đụn cát để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn đi. Một số la thét lên vì sợ. Lương thấy người bạn ở cùng phố mà anh quen từ mấy năm nay bật khóc nức nở. Một người hoảng lên chạy quẩn để rồi bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt. Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy, nhưng nếu lao vào được bóng tối thì có cơ thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương ở trong một đám khá đông đang bước đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới một con suối và chạy theo dòng nước hướng về phía Đông. Anh đi suốt đêm, thỉnh thoảng bị khuất động bởi trái sáng thả từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy mình băng qua một con đường sắt. Từ đó tiếp tục đi tới quốc lộ, lòng mong ngóng sớm thoát được vùng tử địa. Xế chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy dặm. Mãi tới ngày 16 tháng 2 Lương mới về lại được thành và kể cho chị Kim những gì đã xảy ra…

Người ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam, xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Mải tới trung tuần tháng 9.69 người ta mới tìm thấy xác họ trong một con suối nhỏ, khe Đá Mài, con suối chảy ra khe Đại đổ vào sông Hương… Trong số 428 bộ cốt tìm được ở đó, rất ít được nhận diện. Vì không tìm thấy ở đâu khác, gia đình họ Nguyễn (thân nhân người lính trẻ) tin rằng con mình đã chấm dứt cuộc đời nơi khe suối này…

Mồ Tập Thể

Mồ tập thể được khám phá đầu tiên ở trường trung học quận Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư. Sở dĩ cư dân gần đó biết được là vì họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở tòa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự phiên tòa đầu tiên đã liều trốn và may mắn thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử thi. Sau ba ngày tìm kiếm, người ta khám phá thêm một số hố rải rác trước, sau và bên hông trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác thanh niên, người già và phụ nữ.

Trong số xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là những sinh viên đã bỏ vô bưng theo Mặt Trận sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở về bắt các sinh viên khác theo họ. Khi Mặt Trận chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn ở lại bị giết và chôn tại trường. Những sinh viên khác của Gia Hội không theo Mặt Trận cũng chịu chung số phận. Có hố vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số còn lại rất mới. Những xác đầu tiên được lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Hòa khám phá ngày 26.02.1968.

Trong số nạn nhân có cô Hoàng Thị Tam Tuy (các tên riêng và địa danh nào không đoán được sẽ ghi lại đúng như tác giả đã ghi – Người dịch), 26 tuổi, rất xinh, bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân Mặt Trận, theo lời kể của chị/em gái (sister) cô, vào nhà bắt đi đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2, rồi chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số đó có bà con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà góa Dương Thi Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con. Bị bắt tại nhà ngày 22.02, đưa vào trường Gia Hội và bắn chết. Xác bà được các con nhận diện ngày 26.02. Người thứ ba là Lê Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn luyện ngày 14.02. Xác được gia đình phát hiện và nhận diện ngày 16.03, chung hố với hai nạn nhân khác trong khuôn viên trường.

Người thứ tư là Trần Đình Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới lập gia đình. Bị bắt ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong, cảnh sát 42 tuổi, bị bắt ngày 17.02 ở nhà một người quen và bị chôn sống, tay trói tại trường Gia Hội. Tìm thấy xác ngày 26.02. Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi, cảnh sát. Bị bắt tại gia ngày 08.02. Vợ con van xin Mặt Trận cho phép chồng ở lại nhà, nhưng tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào đầu, xác tìm thấy ngày 26.02, ở khuôn viên trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi Lao, buôn thúng bán bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường lộ. Xác tìm thấy ở trường học, tay bị trói, miệng nhét đầy giẻ; mình mẩy không bị một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn sống. Những xác khác tìm thấy gồm một đại úy cộng hòa, hai trung úy, ba trung sĩ và mấy viên chức hành chánh. Bốn xác người của Mặt Trận.Vùng mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12 hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada, thường gọi là Tăng Quang Tự.

Vùng thứ ba tại Bãi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số nạn nhân ở Chùa có ông Phan Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến Thành, có gia đình, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may, trước có tham gia vụ Phật giáo chống tổng thống Diệm. Năm 1961 bị bắt vì chống chính quyền, được thả năm 1967. Bị Việt cộng bắt đi tối 12.02 trên đường Chi Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông chôn xác chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị bắn xuyên đầu, dập cùng hố với 7 người khác.

Một người khác tìm thấy ở Chùa là ông Đặng Cơ, 46 tuổi, nghề thầu khoán, bị bắt tại gia ngày 06.02, tìm thấy xác ngày 26.02. Một người khác nữa là ông Ngô Thông, 66 tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày 08.02, xác dập chung với 10 người khác. Một số tử thi có vết thương, một số tay bị trói giật cánh khỉ bằng dây thép gai, và một số miệng bị nhét giẻ.

Lần đầu tiên nói chuyện với đồng bào trong vùng tôi tưởng chỉ có 16 xác ở Chùa và 3 xác khác ở Bãi Dâu. Nhưng bên hông và sau Bãi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả ở đây chết vì bị trả thù. Một vài người là thành viên Mặt Trận nhưng bị giết vì muốn ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội. Bốn tháng sau, tháng 08.68, tôi trở lại đây để tìm hiểu thêm uẩn khúc của những cái chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân địa phương đều xác nhận những điểm trên.Tiết lộ về “mồ chôn tập thể” đầu tiên của chính quyền miền Nam là vào ngày 28.02.1968, khi phát ngôn nhân chính phủ cho biết về một hầm “ghê gớm ở Cồn Hến gồm 100 xác công chức và quân nhân bị bắt khoảng đầu tháng”. Cũng theo phát ngôn viên, “các nạn nhân bị Việt cộng giết, thân xác họ không được lành lặn”. Cồn Hến nằm giữa sông Hương. Lúc đầu Mặt Trận không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó trở thành một vị trí chiến lược cho việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng cát Đông Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính quyền xác nhận có 101 xác trong hầm. Theo đồng bào chạy thoát từ Cồn thì trong số nạn nhân có nhiều người nam mang quân phục, một vài người bận đồ kaki của Mặt Trận, một số khác bận áo dòng ngắn, một vài người mang quân phục lính cộng hòa và một vài người bận thường phục. Tôi hỏi nhân viên chính quyền địa phương về tên tuổi các nạn nhân thì được trả lời là các tử thi không được nhận diện đầy đủ; họ xác nhận là không thể nào quả quyết tất cả đều bị hành quyết; một vài nạn nhân có thể đã chết trong khi giao tranh và vài xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.

Vùng chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu chủng viện, nơi dựng tòa án nhân dân. Hai hầm chứa xác ba người Việt làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ: ông Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM; và xác một giáo sư trung học người Pháp bị giết vì lầm là người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay. Xác tìm thấy và liệm ngày 09.02. Xác hai người Mỹ và người Pháp được đưa về Đà Nẵng.

Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một quân nhân người Úc khám phá ngày 10.03.1968. Ba hầm rãnh với 21 tử thi, tất cả đều nam giới, tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ. Một hầm khác, vùng thứ sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Đông, được khám phá ngày 14.03.1968 do một cố vấn quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác, tất cả đều bị bắn vào đầu, tay trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của một nạn nhân nhô ra khỏi mặt đất mà hầm được khám phá.

Phía Nam Huế qua hoàng thành ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự Đức và Đồng Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Đây đó trên dưới hai chục hầm, có cái giữa đất bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ suối. Bên cạnh hầm lớn, có những hố nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu tiên được khai quật ngày 19.03.1968, nhưng mãi cho tới tháng 6.69 vẫn còn xác được tiếp tục phát hiện. Ban đầu còn dễ nhận dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra còn lại thường phục. Đặc biệt ở đây không có xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc nhận diện trở nên khó khăn. Dù vậy, cuối hè 1969, người ta cũng nhận diện được xác bố của ông thôn trưởng thôn Than Duong. Vì con trai vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau con đi tìm cha mãi không gặp. Xác cha, đạn xuyên đầu và ót, được tìm thấy tháng 6.1969.

Cũng trên đường hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra trận chiến ác liệt trong thời gian cộng sản tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân chiếm đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26 năm, cách Huế 6 cây số hướng Nam, vào ngày 21.02. Lúc đó Tu viện đang là nơi lánh nạn cho hơn 3.000 người. Mặc cho các cha dòng van xin, cộng sản đã cho thần hỏa thiêu rụi tòa nhà chính trong vòng hai ngày. Các tòa nhà bên là chỗ sinh kế của nhà dòng cũng bị lửa đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho thư khố và thủ bút quý thời vua chúa cũng chung số phận.Cha Dom Romain Guillaume, một trong những linh mục của dòng, bị một lính Việt cộng bắn vào vai lúc rời khỏi tòa nhà cháy sau khi đã di tản hầu hết dân tỵ nạn. Một linh mục người Việt bị bắn vào chân. Khi rút khỏi đống gạch vụn Tu viện ngày 25.02, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó 2 linh mục người Pháp, cha Urbain, 52 tuổi, và cha Guy, 48 tuổi và một số tu sĩ linh mục, tập sinh và người giúp việc. Những người này bị lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà dòng và được dẫn đi về hướng Nam. Đa số bọn họ kết liễu cuộc đời gần chỗ lăng các vua. Tới tháng 6.1969, tổng cộng 203 xác được khai quật. Trong số nạn nhân ở lăng Tự Đức có Đoan Xuan Tong, 20 tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt Biểu, quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi nhà ngày 06.02.1968. Xác em được thân nhân tìm thấy bên cạnh lăng vua ngày 19.03.1968, chôn chung với năm người khác cùng làng. Tại lăng Đồng Khánh có xác linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10 người khác. Một người Việt khai quật xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, mình không có một vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn sống. Xác ông liệm ngày 23.03.68 và sau đó được một linh mục đồng dòng nhận diện. Vị linh mục này không thể xác nhận được là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự kiện không có xác đàn bà và con trẻ trong các hầm chứng tỏ các nạn nhân đã bị hành huyết dã man chứ không phải chết trong lúc giao chiến. Nếu bị pháo kích hoặc oanh tạc thì chắc chắn đã có người bị thương và sống sót, hoặc có người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ không phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong tục người chết luôn được mang về nhà mình để hồn họ khỏi phải vất vưởng muôn kiếp. Vì thế nguyên tắc của đối phương là phải dấu nạn nhân thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị khám phá thì cũng không nhận diện được là ai.

Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha Guy dòng Thiên An cũng được tìm thấy trong một hầm riêng ngày 27.03.1968 gần lăng Đồng Khánh, với vết đạn ở đầu và cổ.Vùng chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 01.03 với 20 xác. Trong số tử thi có ông Trương Văn Triệu, trung sĩ lính Cộng hòa. Trung sĩ Triệu có vợ và 5 con. Du kích cộng sản địa phương bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông ẩn trốn. Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người gần cầu nên vợ ông đã tìm được xác chồng sau đó.

Xác ông Tran Hy, thuộc lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con, cũng được lấp cùng hầm với ông Trieu. Ông bị bắt ngày 20.02 khi đang trốn trong nhà một láng giềng. Tay bị trói cánh khuỷu, người không có vết thương nào.Vùng chôn thứ chín ở cửa Đông Ba, nơi xảy ra giao tranh lớn. Đây chỉ có một hầm 7 người bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có ông Ton That Quyen, 42 tuổi. Có gia đình với 10 người con, bị bắt và dẫn đi hôm 08.02.1968. Gia đình tìm được xác ông ngày 05.05.1968.

Địa điểm thứ mười là trường tiểu học An Ninh Hạ, một hầm 4 xác, trong đó có cảnh sát Tran Trieu Tuc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt tại nhà và mang đi ngày 05.02.68. Xác tìm được ngày 17.03.1968 ở trường, mang vết thương ở đầu và cổ. Ba xác còn lại: một sinh viên, một quân nhân và một cảnh sát.

Địa điểm thứ mười một là trường Van Chi, một hầm 8 xác. Trong đó có anh Le Van Loang, thợ máy, 35 tuổi, có vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi dự lớp huấn luyện ngày 06.02. Khi bị dẫn đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay trở về. Xác anh được những gia đình đi tìm xác người thân tìm thấy ngày 10.03.1968 gần trường. Một vài xác bận quân phục, 4 xác chắc chắn là thường dân, trong đó có một sinh viên.

Địa điểm thứ mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây số về hướng Tây. Tìm được 102 xác. Trong đó có ông Nguyen Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có vợ 6 con. Bị bắt ngày 02.02.68 và có lẽ bị giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác. Tìm được xác ngày 01.03, tay bị trói, một viên đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều người khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều xác đàn bà nhưng không có trẻ con.

Địa điểm thứ mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây số hướng Nam và cách Đàn Nam Giao cỡ 13 cây số Tây Nam. Gần 200 xác được tìm thấy dưới các đám cây và bụi rậm, gồm học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ. 27 người thuộc làng lân cận. Sau khi an ninh tạm vãn hồi, các bà đi tìm chồng đã khám phá ra địa điểm này. Lúc đầu, họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau, 25.03.1968, họ đụng vào một miếng đất mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng nhỏ trong vùng. Xác người thân họ nằm nơi đây, tay bị trói cánh khủy, đạn bắn từ sau cổ xuyên qua miệng. Có nhiều rãnh hầm nối nhau với nhiều xác. Một số nạn nhân từ nội thành, những người khác từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ Huế về nhà ăn tết.Địa điểm thứ mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang và Tường Vân, 2,5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có xác 4 người Đức, 3 bác sĩ và một bà vợ, tìm thấy ngày 02.04.1968.

Địa điểm mười lăm ở Đông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên đường ra bờ biển, tìm thấy ngày 01.04.1968. 101 xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy giẻ. Tất cả đều nam giới,trong đó có15 sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn trẻ. Một vài xác không thể nhận diện được.

Tới tháng 05.68, tổng cộng có trên 900 xác người bị coi là mất tích đã được tìm thấy. Dĩ nhiên còn nhiều người chưa được tính… Đầu năm 1969 nhiều địa điểm khác được khám phá.

Điểm chôn thứ mười sáu: Đầu tiên ở làng Vinh Thái. Địa điểm thứ hai ở làng Phú Lương. Địa điểm thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận Phú Thứ. Tất cả được tìm thấy trong khoảng từ tháng 01 tới tháng 08.1969. Quận này với quận kế bên bị cộng sản chiếm nhiều năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không tập kéo dài nhiều tháng. Mải tới đầu năm 1969 quân Cộng hòa mới tiến vào được vùng này…

Ba làng này cách thị xã Huế chừng 15 cây số về các hướng Đông và Đông Nam, cách bờ biển từ 3 tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương trên 800 xác được tìm thấy trong các vùng trên trong vòng 6 tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác chôn lâu rồi, quần áo đã mục… Trong số nạn nhân người ta nhận diện được 16 học sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn ông, đàn bà, trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói, đa số đều chôn cùng một hố. Vùng làng Vinh Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và làng Phú Xuân đợt đầu 230, đợt sau, khám phá vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu, nhưng nhờ lượng muối cao của đất vùng này giữ, đa số tử thi hãy còn có thể nhận diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân, bị bắn ở cổ và đầu. Đa số nạn nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ em và một vài người mang nhiều loại vết thương. Có các linh mục, tu sĩ và chủng sinh của các làng lân cận mất tích từ hơn 20 tháng kể từ biến cố tháng 02.68. Trong số 357 xác có cha Bửu Đồng, một cha sở quận Phú Vang và 2 chủng sinh. Cha Đồng dấu được trong túi sau bộ đồ ngủ đen trên người một hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng Việt. Một trong ba lá thư này, có bản chụp trưng bày ở nhà thờ chính tòa Huế, ông viết cho bổn đạo mình (thư tìm thấy trên thi thể ngày 8.11.69).

Các con cái yêu dấu: Đây là bút tích cuối cùng để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô trên thuyền bão táp… (3 chữ đọc không ra) đức tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu xuân cho mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con, nhớ… (hai chữ đọc không ra) khi sự sống của Cha sắp kết liễu theo ý chúa.

Hãy mến Mẹ sốt sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của Cha, xin cám ơn Chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và tận tình thương nhớ cầu nguyện cho Cha được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn, trong khắc khổ để kiến tạo hòa bình của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha bình an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống cho Chúa qua tay Đức Mẹ.

Hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời.

Chúc lành cho chúng con.

(Chữ ký Cha Đồng)

***

Điểm chôn thứ mười bảy ở làng Thượng Hòa, quận Nam Hòa, bên bờ sông Tả Trạch, một phụ lưu sông Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được tìm thấy giữa các lùm cây trong tháng 07.69. Chỉ có ba xác nhận diện được là người của làng bên cạnh. Tất cả đều mang vết thương cổ và đầu, dấu chỉ của sự hành quyết.

Điểm thứ mười tám ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, tìm thấy tháng 04.69, và ở làng Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, tìm thấy tháng 07.69. Cả hai làng nằm trong vùng bị cộng sản chiếm từ lâu… Trên 70 xác, nhiều xác không còn nhận diện được nữa, đa số là đàn ông, vài đàn bà và trẻ con. Họ được nhận diện là người của các làng lân cận và vài người có thể bị chết vì chiến cuộc bởi mình họ mang nhiều vết thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị bắn ở cổ và đầu.

Điểm thứ mười chín tìm thấy vào tháng 09.69 ở Khe Đá Mài, quận Nam Hòa, một con suối nhỏ chảy vào Khe Đại, phụ lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương người, có xương đủ bộ, có chỗ xương nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả được nước suối mài trắng tinh. Dân đi cưa gỗ tìm thấy địa điểm này. Nạn nhân có lẽ đã được chôn bên bờ suối trong mùa mưa và nước suối đã dần soi mòn đất để lộ xác ra, cũng có thể là nạn nhân bị vứt xuống suối, chứng cớ là các mảnh quần áo được tìm thấy dọc bờ hoặc ngay dưới khe, thì việc chôn lấp nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa mưa (tháng hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân đã được dẫn thẳng tới đây hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa suối khô, thì sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06 tới 10.Có lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng đã thanh toán vội vàng các nạn nhân tại đây. Theo luật thông thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, kẻ thù thường chôn cất xác đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có thể đây là xương và sọ của lính Mặt Trận và Bắc Việt. Như vậy thì số phận nào cho những người Phú Cam bị mất tích?

Nghiên cứu các phúc trình quân sự Mỹ thì không thấy có một cuộc không tạc lớn hoặc của máy bay B52 nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần Lộc Sơn vào hạ tuần tháng 04.68, một địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây số. Vả lại lập luận mang người bị chết vì bom B52 băng qua vùng đất gập ghềnh để đưa về chôn ở suối này quả không vững. Đường lên núi dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu kẻ thù bị thiệt hại nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn có, đã mang xác 500 đồng đội đi thì hẳn lộ trình phải là hướng núi, gần và dễ di chuyển hơn nhiều, chứ làm sao mà chọn băng qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.

Trong thời gian cuộc tấn công của cộng sản có xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ Huế qua Bến Ngự, cầu Nam Giao tới gần và trong Nhà dòng Thiên An. Nhưng đã không có tiếp tục đánh nhau lớn về mạn Nam, khi quân thù chọn đường rút lui lên núi, hướng trái với Đá Mài. Khe Đá Mài nằm cách thành phố 40 cây số về hướng Nam, bên ngoài vùng lăng tẩm; nơi nầy được coi là vùng không người, chỉ có cộng quân lai vãng. Khe chứa 500 sọ. Địa thế cách trở, cách xa mọi văn minh bởi rừng đồi vách đá cho thấy người ta không muốn để số xác kia (xác của những người mang từ Huế ra) bị phát hiện, mà nếu có phát hiện thì cũng không nhận diện được. Nằm lẫn với xương là các mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải màu xanh bộ đội miền Bắc hoặc quân phục Mặt Trận. Các sọ vỡ xương trán, tất thảy cho thấy bị đánh bởi một vật gì nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích gì ở xương, đây có thể là nạn nhân chết trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài cốt được chuyển về thành phố, nơi họ ra đi và tống táng trong an bình…

Sau khi Đá Mài được khám phá, vẫn còn vài trăm người mất tích. Trong số đó có một số sinh viên, điển hình là các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích. Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam. Những người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính đảng, thanh niên công giáo, Phật giáo, tu sinh, giáo chức và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt tăm tin tức.Bên cạnh các hầm chôn tập thể, còn có các nạn nhân lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có khi cả gia đình bị tiêu diệt như gia đình ông Nam Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ và 5 con tại nhà. Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dã man trước rạp chiếu bóng địa phương và ông Phan Văn Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông cùng với bốn đứa con…

Alje VannemaThe Vietcong Massacre at Hue. Vintage Press, New York, 1976.


 

Vụ Chuyến bay giải cứu: ‘Tôi mong không bao giờ có những bản án tương tự’

BBC

Nhật Ánh (nhân vật trong bài) và con gái trên chuyến bay về từ Washington về Nội Bài tháng 7/2020

  • Tác giả,Thương Lê
  • Vai trò, BBC News Tiếng Việt
  • 29 tháng 7 2023

Vậy là đại án chuyến bay giải cứu đã khép lại với 4 án tù chung thân, 10 án tù treo và 30 án tù từ 18 tháng đến 16 năm. Dư luận bất bình vì cả một đại án với số tiền hối lộ khổng lồ mà không có một án tử để làm gương.

Riêng tôi không bất ngờ về kết quả này, vì đã tham khảo ý kiến của các luật sư và chuyên gia trong quá trình phỏng vấn viết bài.

Nhưng trong lòng tôi vẫn có những vướng mắc chưa được giải đáp, khi chính tôi cũng là một người bay từ nước ngoài về Việt Nam trong thời dịch bệnh.

Số tiền mà các bị cáo nộp lại sẽ được sung công quỹ nhà nước, nhưng theo bản án, hồ sơ không có thông tin, tài liệu về những người đã mua vé của các doanh nghiệp tổ chức chuyến bay combo, chuyến bay giải cứu.

Điều đó đồng nghĩa là tôi và khoảng 200,000 hành khách đã trả giá cao trong thời điểm dịch bệnh khó khăn trên 772 chuyến bay hồi hương sẽ tiếp tục mờ tịt về việc có được bồi thường hay không.

Ăn cả tiền “giải cứu” tù nhân

Khi viết bài này, những ký ức trong tôi về một “chuyến bay giải cứu” cách đây hơn hai năm hiện ra rõ mồn một như vừa mới hôm qua.

Sáng 6/4/2021, tôi cùng hơn 250 người Việt Nam nằm trong danh sách lên chuyến bay hồi hương từ Bangkok về Đà Nẵng sau khi đăng ký và thanh toán thành công với một công ty du lịch được Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan thông qua.

Đại án ‘chuyến bay giải cứu’: Hành khách có được bồi thường hay không?

Toà VN tuyên án vụ Chuyến bay giải cứu: ‘Không loại ai khỏi xã hội’

Tại sân bay quốc tế Suvarnabhumi ngày hôm đó, bên cạnh những gương mặt hân hoan vì sắp được về Việt Nam, nơi đang tự hào vì thành tựu kiềm chế số ca Covid, có những gương mặt mệt mỏi vì thiếu ngủ, chẳng ai lại muốn ngủ quên trước một chuyến bay quan trọng như vậy.

Đứng xếp hàng làm thủ tục có cô hoa hậu sang Thái đi thi rồi kẹt lại, có anh nhân viên văn phòng nghỉ việc không có thu nhập mấy tháng, có cô sinh viên đã tốt nghiệp muốn về xin việc… và có gần 100 người mãn hạn tù muốn trở về nước.

Họ xếp thành một hàng riêng để làm thủ tục cuối cùng, không ít người trong đó có giấy tờ không hợp lệ, mà họ hay gọi là họ chiếu chết.

Để hồi hương, mỗi người phải trả 28 triệu đồng cho vé máy bay và 14 ngày cách ly/ phòng đôi trong khách sạn tại Đà Nẵng, ai muốn ở một mình một phòng thì đóng thêm 8 triệu, tiền di chuyển đến Bangkok và xét nghiệm Covid tự lo.

Giá vé một chiều từ Thái Lan về Việt Nam ngày thường rơi vào khoảng trên dưới 2 triệu đồng, nhưng ai cũng cố gắng xoay sở đóng đủ số tiền cao hơn mười mấy lần để về nước.

Chúng tôi quyên góp cho những người mãn hạn tù bay từ Thái Lan về Việt Nam

Chuyến bay gần nhất trước đó là vào tháng 12/2020, bị kẹt lại đồng nghĩa với việc tốn thêm một vài tháng tiền nhà và sinh hoạt phí tại Thái Lan và mòn mỏi chờ thông báo từ Đại sứ quán.

Thời điểm dịch bệnh hầu như ai cũng khó khăn, chúng tôi chỉ có thể quyên góp ít tiền để mua chút đồ ăn cho những người tù mãn hạn. Có cô gái xung phong ở chung phòng cách ly với một chị có con nhỏ vì muốn giúp đỡ và cũng để nhận chút tiền bồi dưỡng.

“Xót lòng quá chị ơi, em làm cả năm không để được 28 triệu, phải kêu gia đình gửi tiền sang”, cô nói với tôi.

Tôi tự cảm thấy mình may mắn hơn họ và hơn nhiều người khi được công ty (khi đó tôi chưa làm việc cho BBC ở Bangkok) lúc đó ở Việt Nam hỗ trợ một phần tiền vé. Vì vậy, tôi không dám than vãn dù sau đó tôi thấy điều kiện cách ly không xứng đáng với số tiền bỏ ra.

Khách sạn ba sao mà tôi ở trong hai tuần cung cấp wifi “có cũng như không”, tôi phải bỏ tiền nhờ nhân viên mua giúp một chiếc sim 3G để có thể làm việc như bình thường, từ sáng đến tối là những âm thanh chát chúa từ những công trình đang xây dựng dọc bờ biển Đà Nẵng, và những tràng cười khả ố hay những câu nói đùa thô tục phát ra từ những cậu trai trong đoàn cách ly ở khách sạn đối diện bên đường mỗi lần tôi mở rèm để hứng chút ánh nắng và khí trời.

Đương nhiên, tôi vẫn thấy mình may mắn hơn rất nhiều người.

Đại án ‘Chuyến bay giải cứu’: Chi 2,65 triệu USD ‘chạy án’ không thành

Việc xét xử đại án ‘Chuyến bay giải cứu’ có tính chính trị?

Chuyến bay giải cứu là một kỷ niệm khó quên với nhiều người Việt Nam

“Sẽ là một câu chuyện đẹp nếu không có những người quá tham lam”

Một người bạn tôi, bay từ Mỹ về Việt Nam trên chuyến bay giải cứu, ban đầu cũng đắn đo không muốn tiết lộ danh tính, nhưng cuối cùng quyết định dùng tên thật nói ra cảm nghĩ của mình.

Từ TP HCM, Đặng Nhật Ánh kể lại với tôi cô và con gái nhỏ lên chuyến bay từ Washington về Việt Nam vào tháng 7/2020.

“Tôi nhớ đó là thời điểm những chuyến bay giải cứu đầu tiên từ Mỹ về Việt Nam. Để mua được vé, tôi phải trình bày với Lãnh sự Việt Nam tại Mỹ lý do vì sao cần về Việt Nam. Tôi đã liên lạc với họ nhiều lần bằng email và điện thoại, cũng như chờ đợi khoảng gần một tháng để tới lượt mình. Các chuyến bay đầu tiên có thể họ ưu tiên những người có bệnh nền, già yếu, trẻ em không có người thân…”, Nhật Ánh cho biết.

Cô nói thêm thời điểm đó thông tin rất mờ mịt, cô cũng kiểm tra các chuyến bay thương mại vì không thấy có thông tin chính thức nào là cấm nhập cảnh Việt Nam. Nhưng thực tế là không về được vì các hãng hàng không không thể bay đến các sân bay Việt Nam.

“Có lẽ cũng như tôi, phần lớn người Việt Nam lúc đó đều nghĩ rằng các chuyến bay giải cứu này là miễn phí. Nhưng tôi thấy đúng hơn đó là các chuyến bay hồi hương, chở người Việt về quê mà thôi. Những chuyến bay này xuất hiện là vì nước ta thời điểm đó cấm nhập cảnh kể cả với người Việt từ mọi nơi trên thế giới, điều mà tôi thấy rằng chỉ đôi ba quốc gia có chính sách này thôi”, Nhật Ánh nói.

Cô cho biết giá vé cho hai mẹ con, trong đó một vé cho em bé nhỏ là 6.000 USD bay một chiều từ Washington về Nội Bài, xe đưa về nơi cách ly là một cơ sở quân đội, 14 ngày ăn ở (phòng có máy lạnh). Ngoài ra, các hành khách tự túc vé máy bay từ bang khác đến Washington, vé bay từ Nội Bài về Tân Sơn Nhất, được Việt Nam Airlines giảm giá.

“Mức giá đó thời điểm đó tôi thấy khá cao so với khoảng chỉ hơn 1.000 đô la Mỹ là khứ hồi thông thường. Tuy nhiên tôi hiểu đây không phải là chuyến bay đơn giản mà tổ chức được. Do đó mặc dù cũng khó khăn xoay xở mua vé nhưng tôi cảm thấy cũng là hợp lý trong lúc dịch rất căng thẳng ở Mỹ”.

“Tôi không biết với những người khác ở các chuyến bay khác nhưng có người cách ly cùng tôi nói rằng đã trả 8.000 USD/ người, vì họ có gửi nhờ vả cơ quan Lãnh sự”.

NGUỒN HÌNH ẢNH,BỘ NGOẠI GIAO

Nhật Ánh và con gái nằm trong số 346 công dân Việt Nam từ Mỹ về Việt Nam trong chuyến bay tháng 7/2020

Dù trả một số tiền mà cô cho là xót lòng vì trong thời điểm dịch bệnh, doanh thu của công ty gần về không nhưng Nhật Ánh cho biết cô rất cảm kích những người Việt tham gia tổ chức chuyến bay, tiếp viên, bộ đội ở khu cách ly.

“Tôi thật lòng rất biết ơn họ. Tôi nhớ và thương những anh bộ đội mỗi ngày nuôi chúng tôi ăn uống cách ly 3 bữa, rất nhiệt tình và chu đáo”.

Tuy nhiên, cô chia sẻ rằng thấy tiếc cho một câu chuyện đẹp, tiếc cho những nỗ lực của rất nhiều con người trong đợt dịch.

“Tôi thấy buồn vì có lẽ không có quốc gia nào có câu chuyện những chuyến bay giải cứu như Việt Nam mình. Sự kiện mà rất nhiều người vay nóng, cầm cố, bán tài sản… để có được chuyến hồi hương trong khi một số người lại quá tham lam ngay đối với cả đồng bào”.

Nay án đã xử xong, nhưng những người trên chuyến bay của Nhật Ánh và của tôi có lẽ rất khó để nhận lại tiền.

“Nếu có một đơn chung để xin lại phần chênh lệch của vé đã mua tôi sẵn sàng tham gia. Số tiền nếu nhận được tôi sẽ gửi đến tổ chức thiện nguyện cộng đồng. Nếu có những ngôi trường được xây từ số tiền này thì chắc sẽ là một đoạn kết đỡ đau lòng”, Nhật Ánh nói.

Nhưng trên hết, Nhật Ánh mong một bản án thể hiện thượng tôn pháp luật, công bằng.

“Và tôi mong không bao giờ có những bản án tương tự ở đất nước mình!”

***Xem thêm:

Đại án ‘Chuyến bay giải cứu’ mới chỉ xử lý phần nổi của tảng băng chìm? (BBC)


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thái Lan

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

27/07/2023

Đôi khi, tôi cảm thấy hơi buồn rầu (cùng với đôi chút tủi thân) khi chợt nhớ ra rằng mình chưa bao giờ có dịp được đi khắp hết quê hương. Tôi chưa được đặt chân đến cố đô Huế hay thủ đô Hà Nội một lần nào cả.

Thế mà những nước láng giềng kề cận thì tôi lại lui tới đều đều. Tôi đã ngược xuôi nước Lào, nước Miên, nước Miến năm bẩy lượt. Tôi đâm ngang đâm dọc nước Thái (chắc) đâu cũng cỡ chừng chục bận rồi.

Ở Thái Lan, dù bạn quay bên trái hay bên phải (nhìn tới hay nhìn lui) cũng đều thấy chân dung đức vua Bhumibol Adulyadej – Rama IX – không sót một góc nào. Ngài có mặt mọi nơi, khắp các nẻo đường, trong tất cả những công trình kiến trúc (bất kể công tư) và trên tường nhà của thần dân (bất kể sang/hèn) dù đã băng hà.

Sau đó, sau một khoảng lặng khá dài, thiên hạ mới bắt đầu nhìn thấy ảnh của vị vua thừa kế (Thái Tử Vajiralongkorn – Rama X) ở những nơi công cộng. Tuy đăng quang khi đã ngoại lục tuần, ông vẫn không xuất hiện một mình mà có cả hình vua cha và mẫu hậu Sirikit cạnh bên.

Người biết chuyện của vương triều Chakri đều hiểu rằng tuy Rama X kế vị là chuyện tất nhiên nhưng vì ông là một playboy (với rất nhiều tai tiếng) nên ở ngôi thiên tử khó tránh được điều tiếng xầm xì. Bởi thế, Vajiralongkorn cần phải có song thân phụ mẫu cận kề cho bớt (chút) … eo sèo nhân thế!

Ngoài giai cấp tăng lữ, chế độ quân phiệt Thái còn cần phải có giới quí tộc làm liên minh chính thống, với một đấng quân vương – nhân từ khả kính – để an dân và để hòa giải những xung đột (thường xuyên) giữa đám tướng lãnh của xứ sở này. So với tiên vương, Rama X kém cả tài lẫn đức quá xa (hay nói chính xác hơn là vô tài bất đức) nên xã hội lâm vào cảnh bất an – như hiện cảnh – không phải là chuyện lạ :

  • RFA: Cảnh sát Thái Lan giải tán hàng chục ngàn người biểu tình ôn hòa
  • VOA: Thái Lan ban bố tình trạng khẩn cấp sau cuộc biểu tình chưa từng có
  • RFI: Hai phe chống chính quyền và phe bảo hoàng cùng biểu tình ở Bangkok
  • BBC: Hàng ngàn người biểu tình ở Bangkok đòi cải tổ chính trị.

Từ VN, bỉnh bút Du Uyên (Tuần Báo Trẻ – Dallas) có đôi ba nhận xét khá thú vị về sự kiện này :

Rất nhiều người Việt quan tâm đến một cuộc thi nhan sắc ở đất nước Thái Lan – Miss Grand Thailand… Lý do khiến cuộc thi này nhận được nhiều sự quan tâm từ dư luận Việt là vì những sự ‘ngược đời’.

Thứ nhất, ở vòng chung kết cuộc thi này, ban tổ chức đặt ra một câu hỏi được xem là không tưởng với ‘truyền thống’ thi hoa hậu ở Việt Nam – Một câu hỏi vô cùng ‘nhạy cảm’, đầy ‘động cơ chính trị’:

“Bạn nghĩ gì về cuộc biểu tình đang diễn ra ở Bangkok?”

Những tưởng sẽ không người đẹp nào dám trả lời câu hỏi dễ gây ‘mích lòng’ này. Nhưng thí sinh Pacharaporn ‘Nam’ Chantarapadit (22 tuổi, đại diện thành phố Rayong) đã có câu trả lời đi ngược lại với ‘truyền thống’ thi hoa hậu của nước bạn – Việt Nam. 

 Vì cổ không nói: ‘Tôi chọn đứng về phía nhân dân. Nhưng nhân dân phải sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, luôn luôn học tập theo gương nhà vua/triều đình Thái Lan vĩ đại.’ Hay ‘Bọn biểu tình là do thế lực kích động, thuê mướn.’ hoặc ‘Không thế lực nào có thể buộc tôi chọn bên’…

Mà cổ ‘dám’ trả lời:‘Từ đáy lòng mình, tôi chọn đứng về phía người biểu tình. Chúng tôi có quyền bày tỏ quan điểm cá nhân và chúng tôi muốn chọn những gì tốt nhất cho đất nước mình. Hơn thế nữa, tôi muốn nói với chính phủ. Nếu quý vị gọi đất nước này là Thái Lan thì chúng ta cần một nền dân chủ thực sự…

Và, bạn nghĩ xem, nếu là một hoa hậu (không ai đánh thuế ước mơ mà), bạn muốn làm hoa hậu ở đất nước ‘cộng hòa – xã hội – chủ nghĩa’ Việt Nam hay là hoa hậu ở đất nước có ‘nền dân chủ què quặt’, ‘bán độc tài’ Thái Lan hơn?

Hỏi gì mà lãng xẹt vậy Trời?

Ai thì cũng sẽ lựa chế độ bán độc tài hơn là cái thứ độc tài toàn trị chớ!

Tuy nhiên tưởng cũng cần phải nói thêm – cho hết lẽ – là sống ở VN khoẻ hơn ở Thái Lan nhiều, nếu chỉ xét về mặt ẩm thực. Thức ăn ở Thái chỉ có ưu điểm là an toàn – không bị nhiễm độc – và ăn thử chơi vài bữa thì cũng khá ngon, chớ ăn hoài (khao soi, green pap salad, tom yum, pad thai, tom kha …) là ớn thấy bà luôn.

Được cái là hệ thống Seven Eleven của Thái Lan vô cùng tiện lợi. Ở xứ sở này bạn nhìn đâu cũng thấy hình vua, và ngó đâu cũng thấy bảng hiệu của những tiệm bán lẻ tiện dụng này. Họ bán không thiếu một thứ gì (bia rượu đầy đủ cả) và đồ ăn liền thì vô cùng  phong phú, cho cả ba bữa: sáng, trưa, chiều tối.

Nếu so sánh thì 7/11 ở Singapore, Hong Kong, Manila, Jakarta, Kuala Lumpur Phnom Penh … (và ngay cả California nữa) đều thuộc vào hạng thứ. Đặc biệt nhất là cách phục vụ của những nhân viên bán hàng của hệ thống Seven Eleven ở Thái Lan. Trăm tiệm như một. Nơi đâu cũng bầy tỏ sự hiếu khách bằng những câu chào mời nồng nhiệt.

Nếu bạn là loại du khách có rất ít tiền nhưng muốn ở chơi tại Thái lâu thì chỉ nên ăn ở hàng quán mỗi ngày một bữa thôi. Bữa còn lại cứ vào 7/11 là hay nhất. Tiện lợi, nhanh chóng, giá cả nhẹ nhàng, và có thể đổi khẩu vị đều đều cho đỡ ngán: Italian Spagetti, Cantonese Dumpling, Brazilian Pizza, Hong Kong Congee, Korean Pork and Rice Porridge, Szechuan Noodles With Spicy Beef Sauce, Indian Green Chicken Curry With Coconut Milk, Crab Fried Rice Thai Style… Cơm trắng cá nục kho nước mắm (theo kiểu Việt Nam) cũng có luôn, chỉ thiếu vài trái ớt chỉ thiên để xuýt xoa cho nó đã thôi.

Tất cả – tất nhiên – đều đông lạnh và cần phải hâm lại nhưng nhân viên không bao giờ lấy đó làm phiền. Họ cũng chả bao giờ quên cho muỗng nĩa nhựa kèm theo, cùng với một lời cảm ơn, và nụ cười thân thiện. Thái độ tận tình và vui vẻ của họ luôn khiến tôi có đôi chút băn khoăn: phải chăng nền văn hóa khiêm cung và nhân bản của Thái Lan đã tạo ra được một thế hệ trẻ lành mạnh và có thể cậy trông như thế?

Bạn cứ nhìn chim trời cá nước (bay rợp những cánh đồng lúa chín, hay chen chúc lúc nhúc khắp nẻo sông hồ) nơi đất Thái rồi nhìn cung cách hoà nhã của những nhân viên trong hệ thống 7/11, ở khắp xứ sở này, để có thể đoán biết được rằng đất nước của họ vẫn còn có ngày mai – dù đang bị áp chế bởi một chế độ bán độc tài:

Thông tín viên Hoài Hương (VOA) cho biết thêm chi tiết :

“Cuộc biểu tình do nhiều nhóm sinh viên học sinh lãnh đạo hôm Chủ nhật 16/8, thu hút ước lượng 10.000 người, đám đông hô to ‘đả đảo nhà nước độc tài’, đòi Thủ Tướng Prayuth Chan-ocha từ chức, chấm dứt các hành động sách nhiễu và sửa đổi hiến pháp.”

Ở nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì giới sinh viên, tất nhiên, không bao giờ hô to (“đả đảo nhà nước độc tài”) như thế. Hô nhỏ cũng hổng dám đâu. Nghe họ than thân mà muốn ứa nước mắt :

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu…

Bàn chân trần không dám bước hiên ngang

Thế hệ tôi , nhận quá nhiều những di sản hoang mang

Đâu là tự do, đâu là lý tưởng

Đâu là vì mình, và đâu là vì nước?

Quí ông Thủ Tướng ở Việt Nam khỏi cần “quan ngại” và “đối thoại” với bất cứ ai. Họ chỉ “đối thụi,” nếu cần. So sánh với cái nền dân chủ què quặt của Thái Lan để thấy cho rõ thế nào là một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc!