California thúc đẩy chấm dứt dùng hóa chất độc hại trong ngành nail

California thúc đẩy chấm dứt dùng hóa chất độc hại trong ngành nail

Nguoi-viet.com
SAN FRANCISCO, California (KTVU) – Mỹ viện Sophia’s Beauty Lounge là 1 trong số 30 tiệm làm móng tay trong thành phố San Francisco, California được công nhận là “tiệm nail an toàn cho sức khỏe,” với một giấy chứng nhận của thành phố được dán lên cửa sổ tiệm, chứng nhận rằng tiệm này không sử dụng loại sơn móng tay chứa các hóa chất có hại cho sức khỏe của cả nhân viên lẫn khách hàng.

Dân Biểu tiểu bang David Chiu. (Hình: Website của David Chiu)

Dân Biểu tiểu bang David Chiu (Dân Chủ-San Francisco), vào hôm Thứ Năm, lên tiếng ngợi khen mỹ viện Sophia’s Beauty Lounge và một số các tiệm nail khác tại San Francisco đã cộng tác chặt chẽ với Sở Môi Trường thành phố để bảo đảm rằng nhân viên tiệm nail không ai phải tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

Sophia Nguyễn, chủ nhân của tiệm này trên đại lộ Cesar Chavez Street gần Mission Street, nói rằng chuyện trở thành một tiệm nail đạt tiêu chuẩn an toàn cho sức khỏe cũng không có gì khó khăn lắm, nghĩa là người ta chỉ cần thực hiện một số nghiên cứu căn bản và có đôi chút sáng kiến là được.

Nữ chủ nhân cho biết bà luôn mua các loại nước sơn móng tay không hàm chứa các chất độc hại, như formaldehyde, dibutyl phthalate và toluene. Bà cũng tạo mọi cơ hội để bảo đảm rằng nhân viên của mình tập được thói quen làm việc trong môi trường lành mạnh.

Trong quá trình tiến đến việc chứng nhận một tiệm nail là an toàn cho sức khỏe, nhân viên Sở Môi Trường San Francisco đã đến quan sát các hoạt động của tiệm, chỉ bảo cách cải thiện môi trường làm việc sao cho lành mạnh, và rồi bất chợt đến kiểm tra kết quả. Giờ đây, mỹ viện Sophia’s Beauty Lounge đang treo một tấm lắc và một giấy chứng nhận của Chương Trình Tiệm Nail An Toàn Cho Sức Khỏe.

Từ Sophia’s Beauty Lounge, Dân Biểu Chiu cũng công bố việc thành lập một Đội Đặc Nhiệm Tiệm Nail An Toàn Cho Sức Khỏe (Healthy Nail Salon Task Force) ngay trong ngày mỹ viện này được tuyên dương, với lời khuyên các tiệm nail trên toàn tiểu bang hãy nên noi gương của nữ chủ nhân Nguyễn trong cố gắng bảo vệ sức khỏe cho nhân viên và khách hàng của tiệm. (V.P.)

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Posted on 01.08.2011 by hongoccan2015

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975) theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết rằng viết về những địa hình địa vật của một thời xưa cách nay năm, sáu chục năm bằng vào trí nhớ kém cỏi của cái tuổi gần thất thập cổ lai hi là cả một khó khăn trùng điệp nhưng lòng hoài cổ trong con người tôi vẫn cố vượt mọi trở ngại nhất là với sự góp ý bổ túc đầy nhiệt tình của quý niên trưởng và các bạn nên công việc đã hoàn thành cho dù chưa được hoàn hảo. Chỉ mong ước nhỏ nhoi là qua tài liệu nầy, chúng ta tìm lại hình ảnh ngày xưa của chính chúng ta trên khắp nẻo đường của Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi ! Và hơn nữa chúng ta có thể chỉ dẫn cho đàn con cháu nghe thấy về thủ đô Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi mà cha mẹ, ông bà chúng đã từng một thời sinh sống và biết đâu chừng cũng là nơi đã từng gặp gỡ của ba má sắp nhỏ qua mối tình đầu.

Cũng xin chân thành cảm tạ sự đóng góp quý báu của nhiều anh chị nhất là chị Đỗ Thanh Vân (Đức Quốc), niên trưởng Trương Thới Lai (Canada), anh Cao Thiếu Lang (Canada), anh Nguyễn Đình Phúc (Canada), anh Bùi văn Tâm (Canada), anh Trần Kiêu Bạc (Mỹ), anh Trương Thúy Hậu (Mỹ)… Chính nhờ những sự bổ túc đó mà hành trình tìm về con đường của dư hương ngày cũ bớt nhiều thiếu sót. Và chúng tôi hy vọng vẫn còn tiếp tục nhận được những góp ý của quý bằng hữu bảng sưu tầm chúng ta thêm hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành đa tạ.

Bây giờ mời các bạn cùng chúng tôi đi dạo một vòng quá khứ (back to the past) của một thời hoa mộng trên thủ đô yêu dấu từng đườc mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông.

Nguyên Trần

Tên thời Pháp thuộc – Tên thời Đệ II Cộng Hòa

Boulevard Bonard – Lê Lợi (Trụ sở Quốc Hội – Nhà Hát Lớn, bệnh viện Sài Gòn, nhà sách Khai Trí, nước mía bò bía Viễn Đông, rạp Vĩnh Lợi, quán cơm Thanh Bạch, quán giải khát Pôle Nord, Hà Nội ice cream, quán kem Mai Hương, Thư Viện Abraham Lincoln, Nhà hàng Kim Sơn, Bồng Lai)

Boulevard Chanson – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở xuống (Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công, Chợ Đủi, trụ sở Tòa Đại Sứ Miên, nơi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu góc Phan Đình Phùng, rạp Nam Quang – ngã tư Trần Quý Cáp, rạp Kinh Đô sau là văn phòng Usaid, trường trung học tư thục Trường Sơn, Câu Lạc Bộ Kỵ Mã Sài Gòn) – CMT8

Boulevard Charner – Nguyễn Huệ (rạp Rex, rạp Eden, passage Eden, Thương xá Tax, bánh mì pâté Đô Chính, phòng trà Queen Bee, Tổng Nha Ngân Khố, Kỹ Thương Ngân Hàng, Hôtel Palace,Hãng Charner)

Boulevard Galliéni – Trần Hưng Đạo (Bộ Lao Động, Nha Cảnh Sát Đô Thành, Sở Cứu Hỏa Đô Thành, rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo, rạp Đại Nam, vũ trường Tour d’Ivoire, Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Đại Hàn, Bộ Tổng Tham Mưu cũ, sân bóng rổ Tinh Võ, Khiêu vũ trường Vân Cảnh, Arc en Ciel, Đêm Màu Hồng, trường tiểu học Tôn Thọ Tường, Nhà thờ Tin Lành)

Boulevard Kitchener – Nguyễn Thái Học trường tiểu học Trương Minh Ký, trường tư thục Huỳnh Thúc Kháng, rạp Nam Tiến, rạp cải lương Thành Xương, Chợ Cầu Ông Lãnh)
– Boulevard Norodom – Thống Nhất (Toà Đại Sứ Mỹ, Phủ Thủ Tướng, Rạp Norodom-Thống Nhất – xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi – Trần văn Trạch, hãng nhập cảng xe Peugeot Jean Compte, Bộ Tư Pháp, hãng xăng Shell, Esso) – Lê Duẩn

Boulevard Paul Bert – Trần Quang Khải (Đình Nam Chơn, rạp Văn Hoa)

Boulevard de la Somme – Hàm Nghi (Đài Pháp Á, Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín,BanqueFranco-Indochinoise, Tổng Nha Thuế Vụ, chợ Chó,chợ Chim,trung tâm Cờ Tướng, tiệm incils quân đội Phước Hùng)

Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)- Nguyễn Hoàng (bến xe lục tỉnh, cư xá hỏa xa)– Trần Phú

– Abattoir – Hưng Phú (Lò Heo Chánh Hưng)

– d’Adran – Võ Di Nguy Phú Nhuận (Chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm, rạp Cẩm Vân, cư xá Phú Nhuận) – Phan Đình Phùng

– Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng (Sân vận động Hào Thành – Hoa Lư – Citadelle, Tổng Nha Thanh Niên, Asam Đakao, mì Cây Nhãn, Chè Hiển Khánh)

– Alexandre de Rhodes – Lục Tỉnh (trung tâm quân báo Cây Mai, bò 7 món Ngân Đình), đường Alexandre de Rhodes tới thời Cộng Hòa thay thế đường Paracels trước dinh Độc Lập – Alexandre de Rhodes

– Alexandre Frostin – Bà Lê Chân (hông chợ Tân Định, rạp Moderne sau đổi là Kinh Thành)

– Alsace Loraine – Phó Đức Chính (biệt thự chú Hỏa – Hui Bon Hoa)

– Amiral Dupré – Thái LậpThành (Phú Nhuận)Phan Xích Long

– Amiral Roze – Trương Công Định (Chùa Chà, chạy xuyên qua vườn Tao Đàn – Vườn Pelouse) – Trương Định

– d’Arfeuille – Nguyễn Đình Chiểu

– Armand Rousseau – Hùng Vương (Trường Trung Học Chu văn An,cư xá sinh viên Sài Gòn)

– d’Arras – Cống Quỳnh (Bệnh viện Từ Dũ, rạp Khải Hoàn, trường trung học tư thục Hưng Đạo-Giáo Sư Nguyễn văn Phú)

– Arroyo de l’Avalanche – Rạch Thị Nghè

– Audouit – Cao Thắng (rạp Việt Long, rạp Đại Đồng Sài Gòn, Chùa Tam Tông Miếu, bánh mì pâté Phò Mã, tư gia nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lâm Tuyền)

– d’Ayot – Nguyễn văn Sâm(rạp Kim Châu) – Nguyễn Thái Bình

– Ballande- Nguyễn Khắc Nhu

– Barbier – Lý Trần Quán (chả cá Thăng Long)

– Barbé – Lê Quý Đôn (Trung Học Lê Quý Đôn-Chasseloup Laubat) – Hồng Thập Tự Nguyễn Thị minh Khai

– Blan Subé – Duy Tân (Viện Đại Học Sài Gòn, Đại Học Luật Khoa, công trường Chiến Sĩ, Con Rùa, Vương Cung Thánh Đường) – Phạm Ngọc Thạch

– Bourdais – Calmette

– Catinat – Tự Do (Bộ Nội Vụ, bánh mì pâté Hương Lan, Nhà Hàng Caravelle, Nhà Hàng Continental Palace, La Pagode, Brodard, Vũ trường Maxim’s, Hotel Restaurant Majestic, rạp Majestic, Tiệm quý kim Đức Âm, nhà may Cát Phương, Adam,Tân Tân, Phòng Thông Tin cho các cuộc triễn lãm) – Đồng Khởi

– Chaigneau – Tôn Thất Đạm (khu Chợ Cũ, rạp Nam Việt)

– Champagne – Yên Đổ (Cư xá Đắc Lộ, trường Anh Ngữ Khải Minh) – Lý Chính Thằng

Charles de Coppe – Hoàng Diệu (hiệu giày Gia, quán nhậuTư Sanh Khánh Hội – cari dê)

– Charles Thomson – Hồng Bàng (bệnh biện Hồng Bàng, đại học Nha Khoa) – Hùng Vương

– Chasseloup Laubat – Hồng Thập Tự (Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Rạp Olympic, bàn ghế Phan văn Nhị, khu quán cháo vịt, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chánh, Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương, Hông vườn Tao Đàn – vườn Ông Thượng – vườn Bờ Rô-Pelouse, Hông Dinh Độc Lập, Hông Thảo Cầm Viên, trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ) – Nguyễn Thị minh Khai

– Colonel Budonnet- Lê Lai (Rạp Aristo – nhà hàng Lê Lai – tiệm bánh trung thu Tân Tân, cơm chay Vạn Lộc)

– Colonel Grimaud – Phạm ngũ Lão (Chợ Thái Bình, tòa soạn nhật báo SàiGòn Mới – bà Bút Trà, rạp Thanh Bình, ga xe lửa, quày bán vé Hàng Không Việt Nam)

– Cornulier – Thi Sách (nhà in Ideo)

– Danel – Phạm Đình Hổ – Denis Frères – Ngô Đức Kế (Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam)

– Dixmude – Đề Thám

Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thảo Cầm Viên, hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tổng Nha Trung Tiểu Học & Bình Dân GiáoDục, trường Trung Học Trưng Vương, Võ Trường Toản, Nha An Ninh Quân Đội)

– Docteur Yersin – Ký Con

– Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng (Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng, khu chợ Trời)

– Douaumont- Cô Giang (chợ, rạp hát Cầu Muối)

– Dumortier – Cô Bắc (hãng cao su Labbé)

– Duranton – Bùi thị Xuân (trường trung học Nguyễn Bá Tòng, trường Les Lauriers)

Eyriaud des Verges – Trương Minh Giảng (Chợ Trương Minh Giảng, rạp Văn Lang – Minh Châu -, cổng xe lửa số 6, Viện Đại học Vạn Hạnh) – Lê Văn Sĩ

– l’Église – Trần Bình Trọng( Hôtel Massage Hồng Tá)

– d’Espagne – Lê Thánh Tôn (Tòa Đô Chánh, Cửa Bắc Chợ Bến Thành, tiệm vàng Nguyễn Thế Tài -Thế Năng, tiệm incils quân đội An Thành, Rạp Lê Lợi, nhà may Văn Quân)

– Faucault – Trần Khắc Chân

– Frère Louis – Nguyễn Trãi từ Ngã Tư Cộng Hoà đổ vô Chợ Lớn (trung tâm đào tạo huấn luyện viên thanh niên thể thao, Nhà thờ Chợ quán)

– Frère Louis – Võ Tánh (Sài Gòn) từ Ngã Tư Cộng Hòa đổ xuống Ngã Sáu (cổng chính Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, rạp hát Quốc Thanh, phở 79, nhà mồ Á Thánh Matthew Gẫm, trường nữ trung học tư thục Đức Trí) – Nguyễn Trãi

Frère Guilleraut – Bùi Chu (Nhà thờ Huyện Sĩ) – Tôn Thất Tùng

Filippiny – Nguyễn Trung Trực (Nhà hàng Thanh Thế với tuyệt chiêu suôn, nhà hàng Quốc Tế, Bồng Lai, Kim Sơn, rạp Les Tropiques, Văn Khoa cũ, Pháp Đình Sài Gòn)

Fonck – Đoàn Nhữ Hài

– Gallimard – Nguyễn Huy Tự (Chợ Dakao, chùa Ngọc Hoàng)

Gaudot – Khổng Tử (Chợ Bình Tây)

Georges Guynomer – Võ Di Nguy Sài Gòn (Khu Chợ Cũ)

– Guillaume Martin – Đỗ Thành Nhân (Q4, cầu Calmette)

Hamelin – Hồ văn Ngà

Heurteaux – Nguyễn Trường Tộ

Hui Bon Hoa – Lý Thái Tổ (Phở Tàu Bay, quán Hạ Cờ Tây)

– Jaccaréo – Tản Đà (khu tiệm thuốc Bắc)

– Jauréguiberry – Hồ Xuân Hương (Bệnh viện da liễu – Bạc Hà)

Jean Eudel – Trình Minh Thế – Ng(thương cảng Sài Gòn, kho 5, kho 10) – Nguyễn Tất Thành

Lacaze – Nguyễn Tri Phương ( Mì vịt tiềm Lacaze, hủ tiếu Mỹ Tiên, hủ tiếu Cả Cần, bánh bao bà Năm Sa Đéc, quán sò huyết lề đường)

– Lacotte – Phạm Hồng Thái (toà soạn nhật báo Dân Ta – ông Nguyễn Vỹ)

– Lacaut – Trương Minh Ký (Lăng Cha Cả – Linh mục Bá Đa Lộc – Pigneau de Béhaines) – Hoàng Văn Thụ

– De Lagrandière – Gia Long (Dinh Gia Long, Bộ Quốc Phòng, Thư viện Quốc Gia, rạp Long Phụng – phim Ấn Độ, tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, tiệm Đồ da Cự Phú, tiệm quần áo trẻ em Au Printemps, tòa soạn nhật báo Tiếng Chuông – ông Đinh văn Khai, nhật báo Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long 1936, nhật báo Tiếng Dội, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền của ông Trần Tấn Quốc và nhiều nhật báo khác) – Lý Tự Trọng

– Larclause – Trần Cao Vân (bộ Thông Tin)

– Lefèbvre – Nguyễn công Trứ

– Legrand de la Liraye – Phan Thanh Giản (Bệnh viện Bình Dân, Chợ 20, Trường Nữ Trung Học Gia Long, bệnh viện St Paul, Trường tư thục Phan Sào Nam, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Hộ, cư xá Đô Thành, rạp Long Vân, bánh xèo Đinh Công Tráng) – Điện Biên Phủ

– Le Man – Cao Bá Nhạ

– Léon Combes – Sương Nguyệt Ánh (văn phòng bác sĩ quang tuyến Lý Hồng Chương, võ trường Hàn Bái Đường ở góc Sương Nguyệt Ánh – Lê văn Duyệt 1954)

– Lesèble – Lý văn Phức

– Loucien Lecouture – Lương Hữu Khánh (đường rầy xe lửa Mỹ Tho, miền Trung)

– Luro – Cường Để (thành Cộng Hòa, Trường Đại Học Y, Dược Khoa,Văn Khoa, Nông Lâm Súc) – Đinh Tiên Hoàng

– Mac Mahon – Công Lý (Dinh Độc Lập, Dinh Hoa Lan, Phủ Phó Tổng Thống, Chùa Vĩnh Nghiêm, trường tư thục Quốc Anh,Thương xá Crystal Palace – Tam Đa, rạp Hồng Bàng) – Nam kỳ Khởi Nghĩa

– Marchaise – Ký Con

– Maréchal Fox – Nguyễn văn Thoại ( trường đua ngựa Phú Thọ, bệnh viện Vì Dân) – Lý Thường Kiệt

– Maréchal Pétain – Thành Thái (trường trung học Bác Ái) – An Dương Vương

– de Marins – Đồng Khánh (tửu lầu Á Đông, Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel – Đại Thế Giới) – Trần Hưng Đạo B

– Martin des Pallières – Nguyễn văn Giai

Massiges – Mạc Đĩnh Chi (Hội Việt Mỹ, Ty Cảnh Quốc Gia Quận Nhứt, nhà hàng thịt rừng Trường Can, phở Cao Vân, trường trung học Les Lauriers, bộ Canh Nông)

Mayer – Hiền Vương (Nguyễn Chí Nhiều dược cuộc, trung tâm phở gà, giò chả Phú Hương, rạp Casino Đa Kao) – Võ Thị Sáu

– Miche Phùng – Phùng Khắc Khoan (tư dinh đại sứ Mỹ trước đó là tư dinh của tướng Năm Lửa Trần văn Soái)

Miss Cawell – Huyền Trân Công Chúa

– Nancy – Cộng Hoà (Trung Học Pétrus Ký, Đại Học Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, cửa hôngTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) – Nguyễn Văn Cừ

Nguyễn tấn Nghiệm – Phát Diệm – Trần Đình Xu

Noel – Trương Hán Siêu

Ohier – Tôn Thất Thiệp (hủ tiếu Thanh Xuân, Tài Nam Restaurant với món đuôn chà là chiên bơ rất mắc, Chùa Chà Và)

d’Ormay – Nguyễn văn Thinh (tòa soạn nhật báo Thần Chung – ông Nguyễn Kỳ Nam, Restaurant Admiral) – Mạc Thị Bưởi

– Paracels – Alexandre de Rhodes (Học ViệnQuốc Gia Hành Chánh cũ, Bộ Ngoại Giao)

Paris – Phùng Hưng (chợ thịt quay vịt quay)

– Pavie- Trần Quốc Toản (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Viện Hóa Đạo – Việt Nam QuốcTự, trường tư thục Hồng Lạc, cục Quân Cụ, chợ cá Trần Quốc Toản) – Đường 3 tháng 2

– Paul Blanchy – Hai Bà Trưng (Chợ Tân Định, Tổng Cuộc Điện Lực, BGI – Brasseries et Glacières de l’Indochine, Phở An Lợi, cà phê Quán Trúc, vũ trường Mỹ Phụng, công trường Mê Linh,nhà thờ Tân Định)

– Paulin Vial – Phan Liêm

Pellerin – Pasteur (Viện Pasteur, Khu Phở Gà, Phở Minh, Nhà sách Khai Trí, rạp Casino Sài Gòn sau đổi thành rạp Rạng Đông, nước mía bò bía Viễn Đông)

Pierre Flandin- Đoàn thị Điểm (hông trường Nữ Trung Học Gia Long, hông Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện)

– Laregnère – Bà Huyện Thanh Quan (Cư xá nữ sinh viên Thanh Quan, Chùa Xá Lợi)

– Renault – Hậu Giang

René Vigerie – Phan Kế Bính

– Résistance – Nguyễn Biểu (Cầu chữ Y)

Richaud – Phan Đình Phùng (Tổng Nha Kiến Thiết và Thiết Kế Đô Thị, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Bảo sanh viện Hồng Đức, Kỳ Viên Tự, Trường Rạng Đông, chợ Vườn Chuối, Restaurant Sing Sing, nhà hàng La Cigale, sân vận động PĐP) – Nguyễn Đình Chiểu

– Roland Garros – Thủ Khoa Huân

– Sabourain – Tạ Thu Thâu (cửa Đông chợ SàiGòn, Nhà thuốc tây Nguyễn văn Cao, nhà sách & xuất bản Phạm văn Tươi)

– Sohier – Tự Đức

– Taberd – Nguyễn Du (Sở xuất nhập di trú, Nhà thương Đồn Đất- bệnh viện Grall, trung tâm văn hóa Pháp – Centre Cul turel Francais) – Lý Tự Trọng

– Testard – Trần Quý Cáp (Vũ trường AuBaccara, Đại Học Y khoa cũ, Trường Âu Lạc) – Võ Văn Tần

– Tong-Kéou – Thuận Kiều (bệnh viện Chợ Rẫy)

– Turc – Võ Tánh (Phú Nhuận)  (Văn Phòng Quận Tân Bình, Phở Quyền, Lăng Cha Cả, bệnh viện Cơ Đốc) – Hoàng Văn Thụ

– Verdun – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở lên (Ngã Ba Chợ Ông Tạ, rạp Thanh Vân) – CMT8

Vassoigne – Trần văn Thạch

– Yunnam – Vạn Tượng (Q5) bên cầu Ba-Lê Cao

– Quai de Belgique – Bến Chương Dương (Thượng Nghị Viện- Hội Trường Diên Hồng,Tổng Nha Kế Hoạch) – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Marne – Bến Hàm Tử – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Myre de Vilers – Bến Bạch Đằng (Hotel Restaurant Majestic, Phủ Đặc Ủy Trung ƯơngTình Báo, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, bến đò Thủ Thiêm, Cột Cờ Thủ Ngữ – Point des BlagueurS, tư dinh Thủ Tướng, Sở Ba Son – Arsénal – Hải Quân Công Xưởng)

– Quai de Fou-Kien – Bến Trang Tử

Tài liệu tham khảo : – Đặc Trưng Net – Đa Kao trong tâm tưởng

MÀU NẮNG SÀI GÒN

(Cảm đề khi sưu tầm bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn)

Tôi nhớ Sài Gòn nắng chói chang

Những hàng cây ngả bóng bên đàng

Ngựa xe xuôi ngược về muôn nẻo

Tà áo thướt tha đưới gió ngàn

Cờ kéo (1) taxi bung rãi rác

Chuông reo (2) xe điện nhịp rình rang

Bồn Binh thổ mộ qua xe kéo

Hợp tấu rộn ràng vui ánh quang

Nguyên Trần (Toronto)

(1) Cờ kéo : khi lên taxi (hầu hết là chiếc Renault 4 có hai màu : xanh nửa phần dưới và vàng nhạt nửa phần trên), tài xế bẻ cờ đồng hồ tính tiền.

(2) Chuông reo : xe điện (tramway-street car) Sài Gòn reo chuông khi dừng lại ở các trạm. Nếu tôi nhớ không lầm thì thời bấy giờ có hai lộ trình chính :

– Thứ nhất là lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) chạy suốt con đuờng Trần Hưng Đạo từ Chợ Lớn vô Sài Gòn mà hai trạm chính là ga Nancy và ga Arras

– Thứ hai lộ trình Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) chạy trên đường Hàm Nghi ngừng ga Chợ Cũ rồi quẹo xuống bến Bạch Đằng rẽ vô Hai Bà Trưng chạy tới chợ Tân Định.

Hai bên thành xe điện có nhiều mẫu quảng cáo khác nhau nhưng nổi bật nhất là 4 hiệu : – Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân của ông bầu bóng tròn Võ văn Ứng – Thuốc dưỡng thai Nhành Mai – Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiến Tín – Kem Hynos anh Bảy Chà.

Lúc đó tôi rất thích nhìn cần câu điện trên nóc xe chạm vào hệ thống dây điện xẹt lửa màu xanh xanh tím tím rất lạ và đẹp mắt. Bây giờ ở Toronto xe điện cũng chạy đầy đường và cũng xẹt lửa sáng ngời nhưng tôi thấy nó vô vị làm sao, có lẽ tâm lý là cái gì đã mất đi, đã vào kỷ niệm thì đều quý cả.

SÀI GÒN CỦA TA ƠI !

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay

Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa

Niềm đau nói mấy cho vừa

Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

Đâu còn những buổi hoàng hôn

Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu

Tự Do rực rỡ muôn màu

Maxim dìu bước em vào thiên thai

Duy Tân bóng mát trải dài

Queen Bee vang tiếng hát ai dặt dìu

Đường Trần quốc Toản thân yêu

Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng

Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền

Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương

Đường về Gia Định muôn phương

Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều

Đa Kao xe cộ dập dìu

Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy

Lăng Ông Bà Chiểu giờ đây

Còn đâu hương khói những ngày đầu Xuân

Từ Cây Thị đã bao lần

Loanh quanh đưa lối mãi gần Cây Mai

Qua Cầu Khánh Hội chia hai

Lối đi Thương Cảng dấu hài còn in

Quán ăn Chợ Lớn linh đình

Phú Lâm ngả rẽ tâm tình từ lâu

Nguyên Trần (Toronto một ngày nhớ về Sài Gòn)

Bài “Tên đường phố Sài Gòn xưa và nay” của Nguyên Trần là một công trình nghiên cứu công phu và rất  thú vị. Bài đã được bổ sung nhiều lần cho thật hoàn chỉnh. Nhóm chủ trương xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc version mới nhất của anh. Kính.

Yên Huỳnh post

Tìm thấy đoàn tàu chở đầy vàng của Đức quốc xã ở Ba Lan

Tìm thấy đoàn tàu chở đầy vàng của Đức quốc xã ở Ba Lan

Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

22.08.2015

Hai người cho biết đã phát hiện ra một đoàn tàu mất tích bí hiểm của Đức quốc xã ở Ba Lan, chở đầy vàng, kim cương và súng đạn, từng biến mất trong Thế Chiến II, và hai người này muốn 10% giá trị hàng hóa thì mới chịu tiết lộ nơi tìm ra đoàn tàu.

Một công ty luật ở Walbrzych, tây nam Ba Lan, nói hai người đàn ông phát hiện ra đoàn tàu bọc thép với hàng hóa trị giá tới 1 tỷ đôla đã liên hệ với họ.

Trong khi đó, quan chức địa phương tỏ ra nghi ngờ về thông báo phát hiện đoàn tàu, nhưng sẽ theo dõi các diễn biến.

Các trang web địa phương nói rằng hai người tìm thấy tàu một người là công dân Ba Lan còn người còn lại mang quốc tịch Đức.

Hội đồng thành phố Walbrzych đã lập một ủy ban khẩn cấp do thị trưởng thành phố đứng đầu để điều tra thông tin trên. Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

Trong khi đó, sau khi tin trên loan đi, hiện những người săn tìm cổ vật đang từ khắp châu Âu đổ tới nơi nghi tìm thấy đoàn tàu ở Ba Lan.

Trong Thế Chiến II, các đoàn tàu của Đức quốc xã thường chở các đồ vật lấy được từ Đông Âu tới Berlin.

Đoàn tàu của Đức quốc xã đã mất tích gần nơi mà hiện là thành phố Wroclaw ở Ba Lan, khi các lực lượng của Xô Viết ập tới năm 1945.

Người ta từng tiến hành tìm kiếm đoàn tàu này, nhưng không phát hiện ra manh mối nào.

Theo Reuters, UPI, Guardian

Trung Quốc: Cá chết hàng loạt sau vụ nổ lớn ở Thiên Tân

Trung Quốc: Cá chết hàng loạt sau vụ nổ lớn ở Thiên Tân

Cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân, 20/8/2015.

Cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân, 20/8/2015.

Vụ nổ kinh hoàng ở Thiên Tân

22.08.2015

Một số lượng lớn cá chết được phát hiện gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân. Tuy nhiên, chính quyền thành phố Thiên Tân cho biết đã xét nghiệm và không có hợp chất xyanua trong cá.

Mặc dù vậy, mức độ xyanua trong vùng tâm vụ nổ cao gấp 356 lần so với tiêu chuẩn an toàn quốc gia.

Các khu vực bên ngoài được giám sát chất lượng không khí và nước nhưng cũng không tìm thấy dấu hiệu ô nhiễm tăng bất thường.

Chính quyền cũng đã gia tăng giám sát ô nhiễm đất.

Hình ảnh cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà lan truyền trên mạng trực tuyến và có suy đoán rằng chất độc từ vụ nổ đã gây ô nhiễm nguồn nước.

“Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì giống như vậy”, ông Vương Lôi, 47 tuổi, một người quản lý công ty vận chuyển hàng hóa đeo một chiếc mặt nạ khảo sát cá chết làm tắc nghẽn vùng nước nông của con sông nói. “Phải có một mối liên hệ giữa việc cá chết và vụ nổ. Có lý do nào khác để giải thích cho việc cá chết hàng loạt này? ”

Ông Nhan Siêu, một người dân sống ở Thiên Tân 15 năm, nói trước khi kết quả xét nghiệm nước được công bố, rằng ông thấy cá chết hàng năm nhưng không nhiều như năm nay. “Cũng dễ hiểu khi chúng tôi lo lắng về sự ô nhiễm sau vụ nổ. Tôi tin sẽ sớm có kết quả chính thức”, ông nói.

Ông Đặng Tiểu Văn, người đứng đầu bộ phận giám sát môi trường của Cục Bảo vệ Môi trường Thiên Tân, cho biết trong buổi họp báo hôm 20/8 rằng các chuyên gia đã đến khu vực trên thu thập mẫu nước để xét nghiệm.

8 giờ tối cùng ngày, chính quyền thành phố cho biết không có chất độc xyanua trong mẫu nước.

Ông Đặng nói các chuyên gia giám sát môi trường đã phát hiện một số hợp chất xyanua trong nước biển từ năm trạm quan trắc ở gần khu vực vụ nổ, nhưng vẫn trong giới hạn bình thường so với mức trung bình những năm qua.

Nhà chức trách đã thừa nhận rằng ít nhất 700 tấn natri xyanua được lưu trữ ở các kho trong vụ nổ ngày 12/8 ở Thiên Tân, giết chết hơn 100 người và làm bị thương hàng trăm người khác.

Ít nhất 65 người vẫn mất tích và được cho là đã chết. Hầu hết trong số họ là nhân viên cứu hỏa.

Theo China Daily, NYTimes

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

Alan Phan

image

Trung Quốc đối diện với biến động xã hội – VN Đồng mất hơn 10% giá trị – Suy thoái toàn cầu làm các dòng tiền lưu thông chậm lại.

(GNA: Sau đây là bản gốc của bài viết. Nhiều tờ báo khác đăng tải, nhưng đã biên tập kiểm duyệt nhiều ý chính)

Đầu năm nay, một người bạn cũ từ Thượng Hải ghé qua California thăm. Anh là đại gia có tiếng, liên quan đến nhiều dự án rầm rộ,  từ công nghệ cao, sản xuất hàng gia công đến bất động sản, chứng khoán. Dĩ nhiên, sự thành công của anh giống như các tư bản đỏ khác đều dựa vào một mạng lưới quan hệ rất chặt chẽ với chính quyền địa phương. Trong khi đó, chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình đang lan rộng khắp nước, nhất là từ khi Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang bị bắt.

Trong bữa ăn, hai vợ chồng tỏ vẻ lo âu, thiếu thần sắc. Dù tôi cũng đang bị cái bệnh suy thận hành hạ, nhưng ngoài việc sụt cân, tôi vẫn nghĩ mình may mắn hơn khi so với cặp tỷ phú đô la này. Sau những cập nhật về tin tức, bạn bè, cùng thời sự nóng bỏng của Trung Quốc, anh đi thẳng vào vấn đề…Anh đã chuyển ra khỏi Trung Quốc gần 40 triệu USD nhưng các tài sản khác còn kẹt lại trong nước vẫn lên đến cả chục tỷ (dĩ nhiên phải trừ đi số nợ nần và vốn góp từ nhiều người khác). Anh hỏi có cách gì để “internationalize” (quốc tế hóa) các tài sản này để đặt chúng ngoài tầm tay của chính quyền. Niêm yết sàn chứng khoán Âu, Mỹ…có khả thi?

Tôi không thể tiết lộ chi tiết những chiến lược và chiến thuật tái cấu trúc của một khách hàng; nhưng nói về vĩ mô, tôi nói với anh là “time is running out” cho anh, trong một bối cảnh Trung Quốc sẽ gặp nhiều hỗn loạn kinh tế và xã hội trong vài năm tới. Tôi nói đây chỉ là cảm nhận (perception) của một doanh nhân; không phải là một dự đoán (prediction) chính xác về bất cứ kịch bản nào. Nhưng chắc “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên cái miệng ăn mắm muối, nói bậy bạ của tôi, lại thể hiện một tiên tri “chó ngáp phải ruồi”, khá hiện thực, nhất là trong vài tháng qua, với sự sụp đổ của sàn chứng khoán Trung Quốc và sự phá giá của đồng nhân dân tệ.

Trước hết, xin nói rõ hơn về khác biệt giữa “dự đoán” và “cảm nhận”. Dự đoán từ các chuyên gia, giới hàn lâm…thường dựa vào số liệu, sự kiện, phân tích rồi dự phóng theo nguyên tắc khoa học (định lượng hay định phẩm- quantitative or qualitative). Cảm nhận cũng dựa trên vài yếu tố đó, nhưng pha trộn khá nhiều cái trực giác mà người làm ăn gọi là “gut feeling”, một may mắn hay rủi ro có thể đẩy bạn lên cao hay chôn bạn xuống bùn.

Và tôi giải thích với người bạn Thượng Hải của tôi những nguyên nhân tôi cho rằng time is running out cho anh ta và có lẽ cho khá nhiều nền kinh tế trên thế giới. Hôm nay, cập nhật thêm tình hình kinh tế Trung Quốc hiện nay, tôi có thể kết luận hơi “shocking” với cảm nhận của mình.

a. Tôi nghĩ rằng cái gọi là “cuộc chiến tiền tệ” chỉ là một thủ thuật mà các lãnh đạo kinh tế thế giới vẫn dùng hàng ngày, dưới nhiều hình thức khác nhau. Âu Mỹ Nhật…thường kết tội Trung Quốc là cố tình giữ tỷ giá nhân dân tệ quá thấp, rồi quá cao… để thu lợi cho cán cân thương mại. Nhưng chính các quốc gia này cũng đã hành xử tương tự khi cần.

Sự phá giá của tiền Trung Quốc trong tuần qua chỉ là một cú đánh bắt buộc của chính quyền để cứu những công ty xuất khẩu và tạo thế cạnh tranh về giá cả. Tuy vậy, tôi nghĩ là chính sách này sẽ bị giới hạn nhiều về hiệu quả vì các nước có mặt hàng xuất khẩu tương tự cũng biết phá giá bản tệ của mình để giữ thị phần.

Sự can thiệp của chính quyền Trung Quốc trong việc tỷ giá cũng giống như những can thiệp vào thị trường chứng khoán…nó có thể giúp ổn định trong một thời gian ngắn, không thể áp dụng lâu dài. Một hậu quả nghiêm trọng mà lãnh đạo Trung Quốc chịu hy sinh là niềm tin của nhà đầu tư, đối tác nước ngoài…về dài hạn. Đây sẽ là một “tử huyệt” , khó hồi phục, khi so với bong bóng tài sản (chứng khoán, bất động sản, hàng tồn kho…) hay so với nợ công địa phương, nợ xấu, tín dụng đen…

b. Ảnh hưởng lớn hơn có thể làm phần lớn dân số trên thế giới “nghèo” đi một chút là đồng USD sẽ tăng giá mà cơ quan Fed không cần phải hạ lãi suất. Tôi nghĩ rằng tỷ giá nhân dân tệ với Mỹ kim sẽ “xuống” thêm khoảng 12% cho đến cuối 2016. Các bản tệ khác của Châu Á cũng sẽ mất khoảng 7% giá trị trong thời gian này (so với USD). Riêng Việt Nam, vì một nền kinh tế quá buộc chặt vào Trung Quốc, VN đồng sẽ lao dốc xuống hơn 10%, mặc cho nỗ lực hay lời cam kết của Ngân Hàng Nhà Nước. Những số nợ thanh toán bằng USD sẽ chịu thêm phí tổn và nhiều doanh nghiệp sẽ lao đao với tình huống mới.

c. Có thể nói lần này Trung Quốc sẽ xuất khẩu “giảm phát” toàn cầu. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa sẽ không tăng trưởng dù giá có rẻ hơn chút đỉnh, vì người dân đã bị giảm thu nhập và nạn thất nghiệp sẽ gia tăng. Kỳ vọng vào đầu tàu Mỹ cũng sẽ không hiện thực vì hiện nay, kinh tế Mỹ đã có nhiều dấu hiệu mệt mỏi. Dow Jones và S&P indices đang chờ một điều chỉnh mạnh, có thể đến với việc “nổ bong bóng IT” của Silicon Valley.

Tuy không tệ hại và sâu đậm như cuộc khủng hoảng kinh tế của Châu Á năm 1997 hay thế giới năm 2007, kinh tế toàn cầu sẽ chuyển qua một chu kỳ suy thoái, rất khác biệt với những năm go-go của thập niên vừa rồi. Giống như các cuộc khủng khoảng trước đây, các dự án FDI và dòng tiền IDI sẽ ngưng chảy về các kinh tế mới nổi; mà tìm chỗ trú ẩn an toàn ở Âu, Mỹ, Nhật.

d. Khó tiên đoán hơn là những biến động xã hội và chính trị có thể xẩy ra ở Trung Quốc. Khế ước xã hội của Mỹ với người dân là một hệ thống pháp trị, tự do, bình đẳng với cơ hội thăng tiến cho mọi người, không kỳ thị chủng tộc, mầu da hay giàu nghèo. Khế ước xã hội của Trung Quốc (đảng cầm quyền) với người dân là nếu bạn được no cơm ấm cật thì phải tuyệt đối nghe lời chính quyền, cấm phê phán hay đòi hỏi dân chủ.

Nếu bây giờ chính quyền không có khả năng cung cấp phần cam kết của họ, thì việc gì sẽ xẩy ra? Chỉ những vụ cướp đất, ô nhiễm, thực phẩm độc hại, khoảng cách giàu nghèo… đã tạo nên những biểu tình phản kháng khắp nơi, thì chuyện mưu sinh đủ ăn đủ chơi…có thể là một ngòi thuốc súng để thay đổi toàn diện xã hội.

&&&&&

Sau bữa ăn tối đó, tôi và người bạn Thượng Hải tình cờ gặp một quản lý quỹ đầu tư Mỹ khi ra về. Sau phần nắng mưa rồi giới thiệu , ông Mỹ hỏi tôi,” hai anh thấy các khoản đầu tư ở Trung Quốc của tôi có an toàn không?” Tôi cười, nửa đùa nửa thật,” Stay out of China”….rồi nhớ là anh bạn Mỹ này có một cô bồ người Nga rất quyến rũ, tôi tiếp,” and Russia, too…”

Rồi quay lại anh bạn Trung Quốc,” Tiền chỉ là một công cụ. Nó sẽ đưa bạn đến chỗ nào bạn ước muốn; nhưng nó không thể thay bạn để lái xe ( Money is only a tool. It will take you wherever you wish, but it will not replace you as the driver – Ayn Rand) ….

Alan Phan

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-08-21

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ tị nạn thứ hai Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

site_197_Vietnamese_424689-700.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here ra mắt tại Úc năm 2015

Photo courtesy of sbs.com.au

Your browser does not support the audio element.

Nguyễn Cát Thảo, luật sư trẻ Australia gốc Việt, ra đời trong trại tị nạn Sikiew ở Thái Lan sau  khi ba mẹ cô vượt đường bộ từ Việt Nam sang Kampuchia rồi đến được Thái Lan năm 1979.

Ba tháng sau khi cô chào đời, gia đình Nguyễn Cát Thảo được Australia nhận cho định cư. Năm 2004, khi đang còn học Trung Học, Nguyễn Cát Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn được chọn làm đại diện giới trẻ Australia đến diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New York.

Năm 2015, kỷ niệm 40 năm người Việt bỏ xứ đi tị nạn, Nguyễn Cát Thảo ra mắt cuốn tự truyện We Are Here mà cô ấp ủ bao năm:

Đó là giọng đọc của Nguyễn Cát Thảo với đoạn văn mở đầu mà cô nghĩ có thể nói lên lý do thôi thúc cô phải viết tập truyện We Are Here bằng Anh ngữ này:

Gia đình Thảo định cư ở Sydney, tiểu bang  New South Wales. Hiện Thảo là một luật sư. Từ nhỏ tới lớn Thảo đã chứng kiến sự hy sinh của cha mẹ. Những khó khăn không phải thuộc  về gia đình Thảo thôi nhưng mà thuộc về rất nhiều gia đình Việt Nam ở bên Úc và  cả cộng đồng Việt Nam mình ở khắp nơi trên thế giới.

Thảo đã chứng kiến sự đau khổ của những người phải rời khỏi quê hương mình và đến một xứ lạ mà mình không biết ngôn ngữ. Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã  hội của một nước khác.

Lúc Thảo lớn lên rồi, tốt nghiệp cử nhân luật và cử nhân thương mại thì Thảo không biết bây giờ phải trả ơn cha mẹ như thế nào. Thế hệ sau này sinh ra  lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình? Thảo viết cuốn sách We Are Here,  dịch ra tiếng Việt là Chúng Ta Đã Đến, để giữ lại cho thế hệ sau.

Thanh Trúc: Thảo có thể nói rõ hơn không, vì Thanh Trúc nhận thấy sau chương đầu trở đi  hình như Thảo chú trọng khá nhiều  đến tâm trạng của người trẻ lớn lên giữa nền văn hóa Việt trong gia đình và văn hóa Úc ở học đường cũng như xã hội?

Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã hội của một nước khác.
Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Chương đầu tiên kể lại hành trình của cha mẹ Thảo đi vượt biên khỏi Việt Nam. Nhưng mà chủ để chính của cuốn sách We Are Here là về một thế hệ sau này chính là thế hệ của Thảo. Lớn lên ở Úc, ngôn ngữ Việt không rành bằng tiếng Anh, cái khó khăn cho thế hệ này là những giây phút cô đơn, là mình thấy tuy rằng mình đang lớn lên ở một môi trường rất tây phương nhưng mà những sự mâu thuẫn về văn hóa, những đòi hỏi bởi xã hội bởi gia đình, những giây phút mình không biết bản thân mình như thế nào. Thảo muốn chia sẻ với độc giả sự khó khăn của một đứa em là Thảo và lớn lên trong môi trường như vậy là như thế nào. Thảo hy vọng cuốn sách We Are Here có thể chia sẻ và là nguồn thảo luận thêm với gia đình mình.

Thanh Trúc: Năm 2007 Nguyễn Cát Thảo khởi sự cuốn tự truyện We Are Here, mãi đến 2014 mới hoàn tất, có thể cho biết vì sao phải mất những 7 năm như thế?

Nguyễn Cát Thảo: Tại vì thứ nhất viết lại tất cả, nói chung là những khó khăn của một gia đình, là có nhiều ký ức mà cha mẹ Thảo đã bỏ quên, đã không muốn nhớ, vì nó quá đau khổ. Cho nên, để tìm những ký ức đó, Thảo phải đi hỏi không những cha mẹ không nhưng cũng hỏi bà con, ông ngoại, bà nội và những người còn sống. Cái đó cũng mất rất nhiều thời gian.

Hình ảnh của cha mẹ, lúc mẹ may đồ đến 3 giờ sáng, những cái kim đâm vào ngón tay mẹ, mẹ ngủ gục tại máy may vì làm quá sức. Ba thì về từ nhà máy lúc 2, 3 giờ sáng, thì cũng rất khó  khăn cho Thảo để sống lại những hình ảnh đó trong quá trình viết cuốn sách này.

Nếu mà những ký ức đó đơn giản thì Thảo nghĩ Thảo có thể viết trong một thời gian  ngắn, nhưng vì phải sống lại là quá đau khổ đi nên nó mới kéo dài bảy năm trời.

Thanh Trúc: Trong cuốn We Are Here, viết lại cuộc sống của những người Việt Nam đến định cư bên Australia có khó như là đào bới trong ký ức của gia đình mình hay không?

Nguyễn Cát Thảo: Thảo nghĩ kinh nghiệm của gia đình Thảo cũng là kinh nghiệm của rất nhiều gia đình Việt Nam ở Úc nói riêng và cộng đồng Việt hải ngoại nói chung. Tuy rằng có nhiều khó khăn, như vậy mà ba mẹ Thảo và những gia đình Việt Nam lúc nào cũng giữ tư cách, tự trọng và minh bạch. Thảo thấy những quan điểm sống về  trách nhiệm bản thân, gia đình và xã hội,  hành động của mình là đại diện cho dân tộc của mình, thì Thảo thấy phải ghi lại. Thảo viết cuốn sách Chúng Ta Đã Đến là chúng ta đã đến nơi có tự do và mình có thể được yên bình.

site_197_Vietnamese_412363-400.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here

Thanh Trúc: Trong lúc viết tập tự truyện này, như Thảo nói, Thảo cũng phải nghiên cứu tìm tòi số liệu phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Xem lại thống kê của những người được sống sau hành trình vượt biên là không có nhiều, nhất là những người đi đường bộ. Sau khi nghiên cứu Thảo người đi vượt biên bằng thuyền cỡ 50% sống, vượt biên bằng đường bộ như cha mẹ Thảo là 10% sống, vậy là 90%  đã chết, Thảo  mới thấy  10% sống này mới là phép lạ, cái phép lạ là chúng ta đã đến nơi này.

Thanh Trúc: Cuốn sách We Are Here, Chúng Ta Đã Đến, được nhà xuất bản nào ở Australia phát hành cho Thảo?

Nguyễn Cát Thảo: Nhà xuất bản ALLEN&UNWIN,  cũng là nhà xuất bản rất uy tín đã xuất bản cuốn sách Harry Potter rất nổi tiếng. ALLEN&UNWIN   hợp tác với Thảo vì họ nhận xét câu chuyện này đáng để  kể và chia sẻ.

Thanh Trúc: Tập  truyện Anh ngữ về đời tị nạn và hội nhập của thế hệ thứ nhất, dưới ngòi bút của người thuộc thế hệ thứ hai như Thảo, được những bạn đồng trang lứa đón nhận ra sao?

Thế hệ sau này sinh ra lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình?
– Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Rất là nhiệt tình, Thảo thấy rất xúc động là những người thế hệ thứ nhì, thế hệ như Thảo, đã đọc đã viết email cho Thảo. Những email đầy cảm xúc nói với Thảo là sự khó khăn về ngôn ngữ đã tạo ra một bức tường giữa cha mẹ và con cái, và mối quan hệ  giữa cha mẹ với con cái trở thành một quan hệ về giao dịch, không có chiều sâu. Ví dụ “ăn  cơm chưa”, “đi học thế nào”  vậy thôi. Họ cũng chẳng hỏi cha mẹ về cái lai lịch của mình, về câu chuyện của mình ở Việt Nam, hồi thời trẻ cha  mẹ mình như thế nào như là Thảo kể trong cuốn sách We Are Here.

Thanh Trúc: Vậy là We Are Here đã đóng góp phần nào trong việc đưa hai thế hệ thứ nhất và thứ nhì lại gần nhau, hiểu nhau hơn, phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Thì sự đóng góp nhỏ của Thảo thông qua cuốn sách này là mới là đầy ý nghĩa và Thảo cũng rất là xúc động. Ở Úc thì Thảo đã nhận được rất nhiều email từ những người trẻ, sinh ra  và lớn lên ở Úc, nói với Thảo rằng  cuốn sách của Thảo thúc đẩy họ mong muốn, thúc đẩy họ tìm hiểu chính cái lịch sử của gia đình họ, tạo cách có thể gần gủi và hiểu cha mẹ của họ hơn.

Thanh Trúc: Thảo sinh ra trong trại tị nạn Thái Lan, lớn lên rồi đi học ở Úc, làm cách nào mà Thảo nói tiếng Việt giỏi như vậy?

Nguyễn Cát Thảo: Thứ nhất Thảo vô cùng cám ơn ba mẹ vì ba mẹ giáo dục Thảo là Uống Nước Nhớ Nguồn, tuy rằng sống ở hải ngoại mà luôn luôn mình phải nhớ nguồn của mình ở đâu. Mình là người Việt Nam nhưng cũng phải biết là mình đang sống ở Úc. Thảo là người Úc nhưng Thảo cũng là người Việt Nam, ba mẹ đã hướng dẫn cho Thảo biết những cái tốt đẹp của văn hóa Việt Nam như thế nào để mình luôn luôn tự hào về dân tộc Việt Nam của mình. Thảo giữ được ngôn ngữ và phong tục Việt Nam vì cha mẹ của Thảo.

Thanh Trúc: Hãy kể lại một chút về chuyện Nguyễn Cát Thảo từng đại diện giới trẻ Australia đến Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc ở New York 11 năm về trước, khi đó Thanh Trúc đã phỏng vấn em rồi, nhớ không?

Nguyễn Cát Thảo: Năm 2004 Thảo được chọn là người đại diện cho tuổi trẻ người Úc ở diễn đàn Liên Hiệp Quốc tại New York. Năm đó Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn và người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào vị trí này. Đó cũng là cơ hội rất đặc biệt và Thảo đã học hỏi  được rất nhiều lúc làm việc cho Liên Hiệp Quốc ở New York.

Thanh Trúc: Bây giờ Thảo là luật sư, Thảo có nghĩ mình đã thành công trong cuộc sống hay chưa, những chuyện gì Thảo sẽ làm trong những ngày tới?

Nguyễn Cát Thảo: Hiện tại Thảo cũng là thành viên tư vấn hoặc là giám đốc vài tổ chức từ thiện hoặc tổ chức phát triển cộng đồng. Nhưng cái điều ba mẹ dạy cho Thảo và Thảo muốn nhấn mạnh rằng một cuộc sống ý nghĩa và sự thành công là một cuộc sống mình có thể đóng góp cho xã hội.

Thảo nghĩ Thảo có tham vọng làm những chuyện lớn nhưng mà thật ra những việc Thảo muốn thực tập hàng ngày là phải luôn luôn có một tư tưởng giúp người khác, đóng góp cho xã hội và sống không phải cho riêng mình. Có thể một chuyện rất nhỏ nhưng mình phải thường xuyên làm, giống như cái consciousness (ý thức) cái practice (tập luyện) hàng ngày. Điều quan trọng là cách sống hàng ngày có trách nhiệm cho bản thân, cho  cộng đồng, cho xã hội hay không.

Thanh Trúc: Cảm ơn Nguyễn Cát Thảo về bài phỏng vấn nhân đề cập đến tập truyện We Are Here Chúng Ta Đã Đến mà Thảo mất 7 năm để viết xong.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org

Giải cứu binh nhì Ryan

Giải cứu binh nhì Ryan

ĐÀO HIẾU

01

Bà Lê Thị Nghê, hiện còn sống

Tất nhiên tôi không có ý định kể lại câu chuyện trong phim Giải Cứu Binh Nhì Ryan của đạo diễn Steven Spielberg, do diễn viên Tom Hanks thủ vai chính.

Và tôi cũng không muốn làm công việc của một người phê bình điện ảnh để phân tích xem phim hay, dở thế nào.

Nhưng từ lâu tôi vẫn ôm ấp ý định viết về bộ phim nổi tiếng này, bởi vì ở Việt Nam, thời chiến tranh chống Mỹ cũng từng có một câu chuyện mang một thứ triết lý nhân bản kiểu như vậy nhưng lại là một thứ nhân bản lộn đầu. Nó bị đẻ ngược, với hai chân ra trước. Nó là một thứ nhân bản màu máu, mang diện mạo của “chiến tranh nhân dân” trong khi thứ nhân bản trong phim Giải Cứu binh Nhì Ryan có màu xanh của biển cả và bầu trời.

Chuyện giải cứu binh nhì Ryan xảy ra vào giữa năm 1944 trong Thế chiến thứ 2 khi quân Mỹ đổ bộ lên vùng Normandy nước Pháp. Một biệt đội gồm 8 người do đại uý Miller chỉ huy được thành lập chỉ để đi giải cứu một anh binh nhì tên là Ryan theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa kỳ, tướng Marshall.

Ryan là đứa con cuối cùng còn sống sót của một bà mẹ đã có ba đứa con trai chết trận. Vì thế bằng mọi giá phải đem Ryan trở về với người mẹ đau khổ ấy.

Trong cuộc giải thoát này, sáu người trong số tám người của biệt đội do đại uý Miller chỉ huy đã chết, trong đó có Miller. Biệt đội chỉ còn lại 2 người nhưng họ đã đem được người chiến sĩ dũng cảm: binh nhì Ryan về với mẹ.

Câu chuyện ở Việt Nam thì ngược lại. Nó xảy ra trong một hang đá ở xã Quế Tân thuộc tỉnh Quang Nam mùa đông năm 1969.

Trong cái hang đá kinh hoàng ấy cũng có một người mẹ tên Lê Thị Nghê 32 tuổi và một đứa con trai tên Lê Tân, 3 tháng tuổi.

Lính Mỹ càn quét qua làng Quế Tân. Thông thường thì trong những trường hợp như thế người dân thường bồng bế nhau chạy về thành phố lánh nạn. Nhưng hôm đó những người du kích Việt cộng đã buộc dân cùng họ chạy trốn vào hang Hòn Kẽm ẩn núp. Bé Lê Tân (con của bà Lê Thị Nghê) đói sữa khóc liên tục không cách gì dỗ cho nín.

Sợ bị lộ, những người du kích đã gây áp lực để bà Nghê giết chết con mình.

Nếu những người lính Mỹ trong biệt đội của đại uý Miller đã hy sinh để bảo vệ đứa con trai của một bà mẹ đau khổ, thì ở cái hang Hòn Kẽm này, những người du kích đã buộc người mẹ phải giết con mình để cho họ được sống.

Đó là thứ đạo lý gì vậy? Sao nó lại từng được ca ngợi như một “huyền thoại mẹ”, được “cải biên” thành một sự hy sinh thần thánh của người mẹ Việt Nam anh hùng “vì đại nghĩa mà giết chết con mình”?

Báo Tuổi Trẻ Online số ra ngày 09/6/2008 đã viết lại vụ này ở góc độ là: Chính dân làng trốn trong hang đã khuyên bà Nghê hy sinh đứa con để cứu mọi người.

Nhưng đoạn văn sau đây đã để lộ sơ hở:

“Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”.

Bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m, mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.”

Sơ hở thứ nhất:

-Rõ ràng là bà Nghê không tự nguyện giết con mà là dân làng “đành nghe theo các anh du kích” làm áp lực buộc bà Nghê giết con.

Sơ hở thứ hai: ác

000-mat dat

Bà Nghê hoàn toàn có thể “ra khỏi hang 100 mét để dùng tay móc đất đào huyệt chôn con” điều đó chứng tỏ bà không sợ lính Mỹ giết (vì họ giết bà để làm gì?).

Từ khi bà Nghê bồng xác con ra khỏi hang, đi 100 mét, cho đến khi đào xong một cái huyệt bằng tay không xong, cũng mất ít nhất một tiếng đồng hồ. Điều đó chứng tỏ lính Mỹ còn ở xa. Và rõ ràng rằng lúc ấy, thay vì giết con, bà hoàn toàn có thể bế con đi ẩn náu một chỗ khác để tiếng khóc của cháu bé khỏi gây nguy hiểm cho mấy anh du kích. Hơn nữa, với đứa bé 3 tháng tuổi trên tay, bà hoàn toàn có thể đi về làng, chẳng những không bị ai giết mà có khi mẹ con bà còn được giúp đỡ.

Vậy thì tại sao bà phải giết con?

Đó chỉ có thể là do một quyết định man rợ.

Đó là một quyết định hèn nhát và phi nhân tính.

Và sự kiện ấy đã nói lên một chi tiết rất cay đắng, đó là: những người du kích không dám cho dân làng bỏ đi vì họ cần một đám đông quần chúng để trà trộn vào.

Người mẹ “huyền thoại” ấy đến nay vẫn còn sống: quắt queo, tàn héo và đói rách. Không một ai đoái hoài, không một chút tiền trợ cấp, không một lời xin lỗi.

Bài báo nêu trên cũng đã viết về gia đình người mẹ ấy hiện nay như sau:

“Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, có một con trai, bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng, miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.”

*

Câu chuyện “Giải cứu binh nhì Ryan” và câu chuyện “Đêm kinh hoàng ở Hòn Kẽm” là hai bi kịch chiến tranh rất thảm thương và khốc liệt. Nhưng triết lý nhân bản trong hai câu chuyện đã khác nhau như ánh sáng và bóng tối.

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên mặt đất này, trách nhiệm của người lính là bảo vệ dân chứ không phải là buộc dân giết con để bảo vệ mình.

Và tự cổ chí kim, người lớn luôn đùm bọc, bảo vệ trẻ em chứ không phải trẻ em phải chết để bảo vệ người lớn.

Những người “giải phóng” Việt Nam đã không hề thấy xấu hổ về câu chuyện ở Hòn Kẽm mà còn ca ngợi nó như một thứ “lương tâm của thời đại”.

Đó là thứ lương tâm của loài sinh vật nào vậy?

ĐÀO HIẾU

(Trích trong tập tiểu luận “MẶT ĐẤT VẪN RUNG CHUYỂN”)

6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN 21-8 (NV) .- Một hãng máy bay ở Việt Nam kêu rằng chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, có 1,515 hành khách của họ đã bị Singapore từ chối cho nhập cảnh, gây phiền phức và tốn kém.

Nhiều cô gái Việt Nam sang Singapore để bán dâm ‘chui’ là nguyên nhân khiến hải quan Singapore làm khó dễ phụ nữ Việt khi nhập cảnh nước này. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Giao Thông của Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN hôm Thứ Sáu 21/8/2015 cho hay Hãng hàng không Vietjet vừa có ‘văn bản khẩn’ gửi khắp nơi, gồm cả Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ GTVT, Cục Hàng không VN, Đại sứ quan VN tại Singapore “đề nghị hỗ trợ đối với hành khách quốc tịch Việt Nam bị từ chối nhập cảnh Singapore”.

Văn bản của hãng VietJet kêu rằng từ khi họ bắt đầu mở đường bay tới Singapore từ Tháng 5/2014 đến nay, hãng này đã “gặp phải khó khăn khách quan, nằm ngoài khả năng thu xếp và giải quyết của một hãng hàng không”.

Họ kể rằng chỉ từ trong vòng 6 tháng đầu năm 2015, đã có đến 1,515 hành khách người Việt Nam của Vietjet từ Việt Nam sang Singapore “bị từ chối nhập cảnh mà không được giải thích rõ ràng dù xuất trình được hộ chiếu và giấy tờ tùy thân hợp lệ do các cơ quan có thẩm quyền cấp.”

Hãng máy bay vừa kể kêu rằng “Thực tế này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh của Việt Nam, của Hãng hàng không Vietjet cũng như gây thiệt hại lớn cho hãng, khi phải chi trả các khoản chi phí phát sinh gồm chi phí phòng tạm giữ chờ xuất cảnh (17 SGD/giờ và chi phí cho nhân viên giám sát 32 SGD/giờ)”.

Vietjet cho hay đã phải chi trả hơn 1 triệu SGD cho các chi phí này kể từ khi chính thức khai thác đường bay Sài Gòn – Singapore. Riêng 6 tháng đầu năm, con số này là 450 nghìn SGD. Ngoài ra, Vietjet cũng phải chịu toàn bộ chi phí vé máy bay trở về Việt Nam cho những hành khách kể trên.

gái đang đưa tay che mặt là người mai mối cho nhiều cô gái trẻ Việt Nam sang Singapore tìm chồng. Họ đang ngồi chờ vài cô gái khác còn đang bị nhân viên ICA thẩm vấn bên trong. (Hình: Thanh Niên)

Việt Nam và Singapore đã thỏa thuận hai bên miễn chiếu khán nhập cảnh cho công dân hai nước từ lâu nên việc công dân Việt Nam bị Singapore cấm nhập cảnh những tháng gấn đây, phần lớn là phụ nữ, dấy lên những dấu hỏi.

Khi bị giữ ở cơ quan di trú, bị thẩm vấn và buộc quay trở lại Việt Nam, những du khách này còn bị bắt đóng tiền từ tạm giữ “lưu kho” đến tiền công cho nhân viên canh giữ. Phần lớn hành khách không chịu trả nên nhà cầm quyền Singapore ép hãng máy bay phải gánh chi phí phát sinh đó.

Hồi tháng trước, các hãng hàng không của Việt Nam kêu cứu với nhà cầm quyền Hà Nội về những rắc rối và thiệt hại vì số lượng hành khách đi từ Việt Nam tới Singapore bị từ chối nhập cảnh rất lớn. Họ đề nghị can thiệp với Singapore giải thích lý do và giải quyết.

Trước phản ứng của phía Việt Nam, Cục Quản Lý Cửa Khẩu và Nhập Cư Singapore (ICA) giải thích rằng “Nhiều công dân nữ Việt Nam sử dụng các hộ chiếu khác nhau, cá biệt có trường hợp dùng đến 3 hộ chiếu với nhân thân khác nhau để nhập cảnh Singapore làm chuyện bất hợp pháp” (tức làm gái mại dâm).

Giải thích thêm về những trường hợp bị từ chối nhập cảnh khác, cơ quan vừa kể nói những người đó không giải thích được lý do đến Singapore, chẳng hạn phụ nữ đi một mình, hoặc đến Singapore tìm việc làm chui.

Trong một bài viết trên tờ Thanh Niên ngày 26/7/2015, tác giả Lê Tư viết rằng “Hiện nay, số lượng các cô gái Việt Nam sang bán dâm tại quốc đảo này rất lớn. Tất cả họ đều đi theo diện du lịch và hoạt động một cách chui lủi. Theo luật pháp Singapore, hành vi tổ chức mua bán dâm “chui” là phạm pháp. Để ngăn chặn việc này, các nhà chức trách Singapore đã dựng lên hàng rào kỹ thuật nhằm giảm thiểu những người vi phạm pháp luật tiềm năng. Trong đó, cấm nhập cảnh là một biện pháp hợp lý.”(TN)

Tại sao chúng ta nghèo?

Tại sao chúng ta nghèo?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong cuộc gặp gỡ với 40 doanh nhân trẻ vào chiều 12 tháng 8 vừa qua, sau khi nghe những lời than thở về những bất cập trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại Việt Nam của họ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” Rồi ông nhấn mạnh: “Nhất định phải đổi mới mạnh mẽ hơn.”

Trong câu hỏi của Vũ Đức Đam có một nhận định chính xác: Việt Nam nghèo. Chúng ta không những nghèo hơn các nước phát triển trên thế giới mà còn nghèo hơn hầu hết các quốc gia trong khu vực. Trong khu vực, chỉ giới hạn trong khối ASEAN, chúng ta nghèo hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Miến Điện và Thái Lan, đã đành. Chúng ta còn có nguy cơ bị hai nước láng giềng vốn thường bị xem là nghèo hơn và yếu hơn, Campuchia và Lào, qua mặt.

Nhưng toàn bộ câu hỏi của Vũ Đức Đam, “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” lại sai.

Sai ở nhiều điểm.

Thứ nhất, cách đặt vấn đề sai. Chuyện tốt hay xấu không có quan hệ gì đến chuyện giàu nghèo. Để giàu, người ta cần óc sáng kiến, năng lực lao động, sự cần cù cùng với một số điều kiện thuận lợi và may mắn nữa chứ không dính líu gì đến tính cách hay đạo đức. Trên thế giới, không ai đặt vấn đề như vậy với các tỉ phú hay với các cường quốc kinh tế.

Thứ hai, sai ở mệnh đề “chúng ta tốt”. Cái gọi “chúng ta” ở đây là ai? Là những người tham dự cuộc hội thảo ư? Căn cứ vào đâu để khẳng định họ tốt? Rộng hơn, “chúng ta” đây là người Việt Nam nói chung chăng? Lại càng mơ hồ. Không có dân tộc nào là tốt cũng như không có dân tộc nào là xấu. Dân tộc nào cũng bao gồm những người tốt và những kẻ xấu. Một sự khái quát hoá, cho dân tộc này tốt hơn những dân tộc kia không những sai lầm về logic và thực tế mà còn dễ có nguy cơ dẫn đến những thái độ kỳ thị chủng tộc, điều mà giới học thuật Tây phương cho là cấm kỵ.

“Chúng ta” ở đây là đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền chăng? Khẳng định như thế không những sai mà còn là sai lầm một cách lố bịch. Từ sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, khi những sự tàn ác của các đảng Cộng sản ở những nơi ấy bị vạch trần, người ta thấy rõ là không có chế độ cộng sản nào là tốt cả. Tất cả đều giả dối, độc tài và tàn bạo. Số nạn nhân bị giết chết hoặc đoạ đày cho đến chết dưới tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhiều hơn tổng số người bị giết chết dưới tay phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Riêng ở Việt Nam, chế độ cộng sản cũng đã gây ra biết bao nhiêu tang thương, từ các chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc đến các phong trào đánh tư sản mại bản và xua người dân đi kinh tế mới ở miền Nam, từ các vụ thảm sát ở Huế trong Tết Mậu thân đến các trại cải tạo sau năm 1975. Đó là chưa kể đến cuộc chiến tranh kéo dài cả hai mươi năm mà họ gây ra đã khiến cho ít nhất ba triệu người bị mất mạng ở cả hai miền. Như vậy là tốt ư?

Nếu cái nghèo của Việt Nam hiện nay không xuất phát từ chuyện tốt hay xấu, nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời, thật ra, với đa số người dân Việt Nam, khá hiển nhiên: do chế độ Cộng sản. Điều này đúng không những chỉ ở Việt Nam mà còn ở phạm vi toàn thế giới: Có quốc gia cộng sản nào thực sự giàu có? Rõ nhất là ở những quốc gia bị chia đôi: Đông Đức nghèo hơn hẳn Tây Đức; Bắc Hàn thua xa Nam Hàn. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, điều kiện sinh sống ở miền Nam cũng bỏ xa miền Bắc.

Nhưng điều gì khiến chế độ Cộng sản làm kiềm hãm sự phát triển đất nước? Có ba lý do chính: các chính sách sai lầm, tham nhũng và độc tài.

Trước phong trào đổi mới, các chính sách sai lầm về kinh tế và xã hội, đặc biệt cái gọi là chính sách giá – lương – tiền, đã biến Việt Nam thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Lạm phát tăng cao. Dân chúng bị ngập chìm trong đói khổ, không có đủ cơm ăn; trong nhiều năm liền, phải ăn bột mì và bo bo do Nga viện trợ. Sau thời đổi mới, được ít nhiều cởi trói, kinh tế phát triển khá nhanh, nhưng không nhanh đủ để giúp Việt Nam tiến bộ so với các quốc gia láng giềng. Các đại công ty hay tập đoàn kinh tế quốc doanh liên tục thua lỗ, có khi bị phá sản, để lại những gánh nợ nặng nề kéo dài tận đến các thế hệ mai sau. Ngay trong cuộc gặp gỡ với các doanh nhân trẻ ngày 12 tháng 8 vừa qua, trước mặt Vũ Đức Đam, nhiều người cũng lên tiếng phê phán các chính sách sai lầm của chính phủ khiến công việc làm ăn của họ gặp rất nhiều khó khăn. Những sự sai lầm trong chính sách này khiến các nỗ lực gọi là đổi mới tại Việt Nam chỉ là những sự vá víu, lẩn quẩn, từ cái sai này đến cái sai khác theo kiểu tổng kết của dân gian: “Sửa sai rồi lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.”

Nguyên nhân thứ hai làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế tại Việt Nam là tham nhũng. Tham nhũng thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, mọi quyết định về kinh tế đều không xuất phát từ lợi ích chung mà chỉ tập trung vào quyền lợi của một số cá nhân. Phong trào xây tượng đài hoặc các công trình kiến trúc ào ạt ở Việt Nam là một ví dụ: Người ta xây dựng như vậy không phải vì công việc ấy thực sự cần thiết mà chỉ vì, với những công trình xây dựng ấy, người ta có thể kiếm chác để bỏ tiền vào túi mình. Lớn hơn, chính sách đề cao vai trò của các công ty quốc doanh mặc dù hiệu quả kinh tế của chúng rất kém cũng xuất phát từ cùng một lý do: để dễ chia chác quyền lợi. Hai là, với tệ nạn tham nhũng, người ta khai khống và rút ruột các công trình xây dựng để cuối cùng, tất cả các công trình xây dựng đều có kết quả cực kém: Nhiều con đường mới xây xong đã lún; nhiều công trình mới dựng xong đã bị đổ, v.v… Hậu quả của nạn tham nhũng tràn lan này là cán bộ càng lúc càng giàu trong khi đất nước thì càng lúc càng nghèo nàn và kiệt quệ.

Nguyên nhân thứ ba và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là độc tài. Giành độc quyền lãnh đạo, chế độ Cộng sản loại trừ hai yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Một là, loại trừ những trí tuệ và tài năng không nằm trong hệ thống đảng trị. Hai là, nó cũng loại trừ sự minh bạch và cùng với nó, sự phản biện của các trí thức độc lập. Hậu quả của cả hai sự loại trừ này là, một, chính quyền chỉ quy tụ được những kẻ bất tài, hoặc phần lớn là những kẻ bất tài; và hai là, nó mất khả năng tự điều chỉnh và đổi mới thực sự.

Nói một cách tóm tắt, để trả lời cho câu hỏi của ông Vũ Đức Đam, “tại sao chúng ta nghèo?”, chúng ta có thể khẳng định dứt khoát: Chúng ta nghèo, cứ nghèo mãi là vì sự thống trị độc tài và độc đoán của đảng Cộng sản. Biện pháp khắc phục, do đó, không phải là “đổi mới” mà là dân chủ hoá.

Một bài học hiển nhiên trên thế giới: Không có quốc gia dân chủ thực sự nào mà nghèo cả.

Cựu TT Jimmy Carter ‘không lo lắng’ khi chống chọi với ung thư

Cựu TT Jimmy Carter ‘không lo lắng’ khi chống chọi với ung thư

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.

Cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter cho hay những cuộc thử nghiệm một khối u ở gan của ông cho thấy ông bị chứng ‘ung thư hắc bào’ thường là một hình thức ung thư da, đã di căn từ gan lên đến não.

Ông Carter cho biết: “Thoạt đầu, tôi nghĩ nó chỉ giới hạn ở gan và phẫu thuật đã hoàn toàn cắt bỏ khối u, vì thế tôi rất an tâm.” Nhưng ông Carter nói sự lạc quan của ông đã thay đổi ngay sau đó trong ngày khi một cuộc thử nghiệm khác phát hiện những khối u trong não. “Tôi sực nghĩ tôi chỉ còn sống vài tuần nữa thôi, nhưng tôi cảm thấy thoải mái một cách không ngờ. Tôi đã sống một cuộc đời đầy đủ, tôi có hàng ngàn bạn bè…Vì thế mà tôi thoải mái không ngờ, thoải mái hơn nhiều so với vợ tôi.”

Báo chí khắp thế giới đã đồn đại nhiều về tình trạng sức khỏe của ông Caarter sau khi có thông báo ngày 12 tháng 8 là ông đang chống chọi với bệnh ung thư.

Người vợ đã chung sống 69 năm với ông, cựu đệ nhất phu nhân Rosalynn Carter, ngồi ở hàng ghế đầu hôm thứ năm tại thính đường Trung tâm Carter ở Atlanta khi vị tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ trả lời nhiều câu hỏi về sức khỏe của ông, và về quan điểm của ông khi bắt đầu một chương trình xạ trị, và hóa trị để chống chọi với căn bệnh ung thư.

“Rõ ràng là tôi thực sự không thể nói trước tôi sẽ cảm thấy ra sao, những tôi sẽ phải tùy thuộc rất nhiều vào các vị bác sĩ về vấn đề điều trị.”

Quyết định của ông Carter công khai thảo luận các vấn đề sức khỏe của ông là điều hiếm thấy nơi các vị cựu tổng thống. Nhưng ung thư đã từng là một chẩn đoán biết trước được đối với các thành viên khác trong gia đình ông.

Thân phụ ông, người anh em trai của ông và hai người chị em gái đã chết vì căn bệnh này, và chính thân mẫu ông cũng đã bị bệnh vào lúc cuối đời. Ông Carter viết về những cuộc chống chọi với căn bệnh này của gia đình ông trong cuốn sách mới nhất có tựa đề “Một cuộc sống toàn vẹn.” Ông đã hoàn thành một chuyến đi quảng bá cho cuốn sách vào tuần lễ ngay trước khi các bác sĩ cắt bỏ khối u ở gan của ông.

Cựu Tổng thống Carter nói ông biết về khối u này ngay sau khi ông phải cắt ngắn chuyến đi thanh sát bầu cử của Trung tâm Carter đến Guyana hồi tháng 5, sau khi bị cảm lạnh. Ông đã hoãn cuộc giải phẫu gan cho đến sau chuyến đi ra mắt sách.

Trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt với đài VOA nhân chuyến đi đó, Tổng thống Carter đã suy ngẫm về cuộc đời lâu dài của ông, và vì sao ông viết cuốn sách.

“Điều tôi cố gắng làm trong cuốn sách là nói lên những điều tôi chưa từng kể trước đây. Như việc tôi suýt chết trên một chiếc tàu ngầm, và cả những bài học tôi đã học được, một số có tính cách rất tiêu cực vào lúc đó, và một số rất tích cực.

Ông Carter nói một trong những nguyên tắc chỉ đạo của ông trong cuộc đời là một điều mà một giáo viên trung học của ông ở Plains, bà Julia Coleman đã dạy cho ông, mà cũng là điều ông nhắc đến trong bài diễn văn nhậm chức.

“Thích nghi với thời thế thay đổi, nhưng hãy suy nghĩ theo những nguyên tắc không thay đổi, đó là một thái độ cơ bản khác đã nhiều lần đem lại lợi ích cho tôi.”

Trước mặt các phóng viên tại Trung tâm Carter, Tổng thống Carter suy ngẫm thêm về “cuộc đời toàn vẹn” của ông và nói ông không hối tiếc gì về thời kỳ rất dài sau khi làm tổng thống của ông. 4 năm ông trải qua tại Tòa Bạch Ốc lại là một vấn đề khác.

“Tôi ước gì đã phái thêm một chiếc máy bay trực thăng để cứu các con tin.” Đó là lời ông Carter, người mà nhiệm kỳ tổng thống một phần đã gắn liền với vụ các con tin Mỹ bị giam giữ ở Iran, và sứ mạng đi giải cứu họ đã bị thất bại. “Tôi nghĩ có thể tôi sẽ tái đắc cử. Nhưng nếu tôi phải chọn phục vụ thêm 4 năm hay chọn Trung tâm Carter, tôi nghĩ tôi sẽ chọn Trung tâm Carter.”

Tuy Tổng thống Carter có nhiều hy vọng là chế độ điều trị của ông sẽ giúp kéo dài đời sống củ ông, căn bệnh của ông diễn ra vào một thời điểm mà Trung tâm Carter đang tích cực tham gia vào nhiều nỗ lực nổi bất trên khắp thế giới, trong đó có việc chuẩn bị cho một sứ mạng thanh tra bầu cử ở Myanmar, và nỗ lực xóa bệnh xán Guinea trên toàn cầu, mà hiện giờ chỉ còn chưa đầy một tá các ca bệnh, phần lớn là ở Chad và Nam Sudan.

Việc điều trị bệnh ung thư cho Tổng thống Carter cũng diễn ra trước dự án công tác thường niên “Jimmy and Rosalynn Carter về môi trường cho nhân loại, dự trù vào tháng 12 này ở Nepal đã hứng chịu nạn động đất. Các dự án thiện nguyện thường niên của ông với cơ quan xây dựng nhà từ thiện này được nhiều người chú ý và là một trong những phần được biết đến nhiều nhất về thời gian sau khi làm tổng thống của ông.

Cuộc điều trị theo kế hoạch của ông có thể khiến ông không tham gia được vào dự án đó và các công việc khác của Trung tâm Carter, nhưng ông vẫn tỏ ra lạc quan.

Ông nói, “Hãy hy vọng vào điều tốt nhất, chấp nhận những gì sắp đến. Tôi nghĩ tôi đã được hưởng nhiều ơn phước như bất cứ con người nào trên thế giới này.”

Tổng thống Carter bắt đầu tiến hành xạ trị vào chiều nay. Ông cho biết ông vẫn dự định tham gia buổi thuyết giảng ngày chủ nhật vào cuối tuần này tại giáo hội của ông ở thị trấn quê nhà là Plains.

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Nguoi-viet.com

Minh Văn/Người Việt

NGHỆ AN (NV) – Cánh cổng khép hờ hững, khu vườn đang tu sửa với những đất đai lổn nhổn, ngay cả ngôi nhà cũng còn sơn dở, mọi thứ dường như bê trễ, dở dang. Thấy có người đi vào trong sân, đàn chó xộc ra sủa nháo nhác.

Chúng tôi đến thăm nhà Nguyễn Viết Dũng sau hơn ba tháng anh bị bắt tại Hà Nội, với tội danh “gây rối trật tự công cộng.”


Một bức họa vẽ hình Nguyễn Viết Dũng được lan truyền trên Internet.

Thời gian không ngừng trôi, căn nhà của anh ở xã Hậu Thành, huyện Yên Thành vẫn yên bình và rợp bóng cây, nhưng tin tức về người anh hùng của chúng ta thì bặt vô âm tín. Vậy là cha mẹ xa con, anh em ly biệt trong nổi mong chờ mà chưa có lời giải đáp.

May quá, mẹ Dũng có ở nhà. Nhận ra khách quen, chị ra đón và mời chúng tôi vào chơi.

Rót mấy cốc nước chè xanh mời khách xong, mẹ Dũng ngồi xuống ghế trong tâm trạng lo lắng, đôi mắt quầng thâm bởi nhiều đêm mất ngủ vì thương nhớ con. Chị biết chúng tôi đến chơi là để hỏi thăm tin tức về Dũng và động viên gia đình như mọi lần.

Với một giọng buồn rầu, chị kể:

– Anh nhà (bố của Dũng) đã ba lần ra Hà Nội để thăm con nhưng vẫn không được gặp, cho nên không biết sự thể ra sao cả. Cảm thấy bất lực, anh tìm thuê luật sư nhưng khó khăn vất vả lắm, người ta đòi nhiều tiền, vả lại còn sợ vì không muốn tham gia vào những vụ án “nhạy cảm”…

Tôi cảm thông với chị:

– Thời buổi này, những người luật sư có tâm và vì công lý hiếm lắm, ngoài ra họ còn sợ bị chính quyền đàn áp nữa.

Rồi tôi kể tên những luật sư vì bào chữa cho các nhà đấu tranh dân chủ mà bị sách nhiễu và tước thẻ hành nghề.

Chị mỉm cười chua chát, tiếp lời:

– Nghe nói có Luật Sư Võ An Ðôn là người dám xả thân đấu tranh cho công lý, hôm nọ anh nhà đã lặn lội vào tận Phú Yên để tìm. Cũng may là gặp được ông tại nhà riêng. Luật sư có tác phong giản dị và nhiệt huyết lắm, ông hứa là sẽ ra Hà Nội để bào chữa miễn phí cho vụ án của Dũng…

Chị ngừng một lúc, vẻ mặt xúc động, rồi chắp tay như thể cầu nguyện:

– Ơn Trời! Vậy là cũng gặp được những người có tâm cứu giúp. Coi như số Dũng vẫn còn may mắn!…

Rồi chị nhìn ra ngoài sân, như mong ngóng một điều gì đó xa xăm. Dạo này sắp vào Thu, thời tiết xứ Nghệ đã trở nên mát mẻ, mây kéo về xám xịt bầu trời, những hạt mưa đang lắc rắc rơi trên vườn cây trước nhà. Người bạn gái đi cùng tôi, sau khi lắng nghe câu chuyện của chị, cũng tỏ ra cảm thông cho hoàn cảnh lắm, khuôn mặt cô luôn lộ vẻ xúc động.

Chân dung Nguyễn Viết Dũng

Còn nhớ năm ngoái – đúng ngày 30 tháng 4, 2014 – Nguyễn Viết Dũng là người đầu tiên ở Nghệ An treo cờ vàng ba sọc đỏ ngay trước nhà mình.


Bà Hồng, mẹ Nguyễn Viết Dũng. (Hình: Minh Văn)

Hành động đó nhắc nhở cho người dân không được quên lá cờ di sản của dân tộc, đồng thời phản đối cái gọi là ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” mà nhà cầm quyền vẫn hằng tuyên truyền bấy lâu nay.

Sau đó thì công an huyện đã phối hợp với địa phương đến nhà còng tay Dũng rồi giải ra ủy ban xã. Dũng và cô em gái của mình đã đấu tranh gay gắt, trước lý lẽ xác đáng của hai anh em, họ buộc phải thả Dũng về nhà sau đó.

Chị Hồng – mẹ Nguyễn Viết Dũng – cho biết, cả nhà lo lắng mong chờ tin tức từng ngày. Anh chị chỉ có mỗi Dũng là người con trai duy nhất, lại là anh cả trong gia đình. Dưới Dũng còn ba em gái nữa, cô thứ hai lấy chồng và đi dạy trong huyện. Hai con gái út thì một cô đang đi làm tận Thái Nguyên, một cô đang đi học ở Vinh (thành phố Vinh-Nghệ An).

Trong lúc trò chuyện, chị cố tươi cười để chúng tôi yên lòng, nhưng tôi hiểu đằng sau đó là nỗi buồn vô hạn của một người mẹ vô cớ bị người ta bắt đi đứa con trai yêu quý của mình.

Không giấu được nỗi bức xúc trong lòng, chị xua tay:

– Nói thật là gia đình chị không còn ai tin tưởng vào cái gọi là “tự do,” “dân chủ” ở cái đất nước này nữa cô chú ạ!

Nỗi lòng của một người mẹ, tôi hiểu lắm chứ, ai cũng thương, cũng yêu những đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra và nâng niu chăm sóc tháng ngày.

Rồi trong nỗi nhớ con, chị kể cho chúng tôi những kỷ niệm về Dũng khi còn đi học phổ thông.

“Dũng là một đứa ngoan và sáng dạ, nó sống tình cảm lắm. Còn nhớ hồi lớp 6 lớp 7 gì đó, có hôm đi học về, nó chào tôi rồi lại đạp xe vòng trở ra, lại đi vào và chào lần nữa, cứ như thế cho đến khi tôi phải phát cười lên mới thôi. Nó muốn trêu cho tôi cười, để động viên mẹ.

Cả nhà ai cũng hy vọng vào khả năng học tập của Dũng, mong sẽ có nhiều thành tựu, vì nó học rất giỏi. Cái lần nó bị trường Bách Khoa đuổi học (năm 2006) vì có tham gia các phong trào chính trị gì đó, anh và chị lo lắng lắm. Chị hỏi Dũng có muốn thi và học vào một trường nào khác không, nó suy nghĩ rất lung rồi nói rằng, tương lai của con sẽ do con quyết định. Từ đó nó lựa chọn con đường đấu tranh dân chủ cho đến nay. Gia đình thì cho rằng những việc Dũng làm là đúng, và cũng ủng hộ để nó vượt qua, dẫu biết rằng khó khăn nguy hiểm. Cũng phải có những người đấu tranh như vậy, nếu không thì đất nước này sẽ đi đến đâu, không lẽ lại phải chịu đựng bất công như vậy mãi hay sao?…”

Chị còn muốn kể nhiều nữa, vì những dòng hoài niệm về đứa con yêu của mình thì có bao giờ dứt. Tôi thực sự cảm thông cho tình cảm một người mẹ, và càng cảm phục hơn cái ý chí bảo vệ lẽ phải của chị.

Ngoài trời mưa vẫn rơi, ánh mắt chị lại hướng về chốn xa xăm, có lẽ là nơi mà đứa con trai yêu quý của mình đang bị người ta bắt giam một cách bất công vô cớ. Quả thực không một ai có thể hiểu Dũng bị bắt vì lý do gì, và tại sao người ta lại có thể bỏ tù một người vô tội mà không có bằng chứng nào cả?

Trong niềm thương nhớ con, chị Hồng nói như người mộng du:

– Dũng muốn có sách ngoại ngữ và những sách nó yêu thích để đọc trong tù, nhưng bên an ninh người ta chỉ cho đọc báo công an và báo đảng mà thôi. Gia đình đang nhờ bạn bè tìm giúp sách cho Dũng, không biết công an họ có cho gửi vào không nữa?…

Chuồng chim Bồ Câu trước nhà lúc này rộn lên những tiếng cúc cu gọi bạn. Người ta vẫn nói rằng, Bồ Câu là giống chim biểu tượng cho đoàn tự do và đoàn tụ. Ngay cả loài chim cũng được như vậy, nhưng cả hai thứ đó đều thiếu đối với những con người trong ngôi nhà mà chúng tôi đang ngồi đây.

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Blog RFA

Lê Diễn Đức

19-08-2015

H1

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, công chức Hà Nội được lệnh của Khâm Sai Phan Kế Toại tổ chức một cuộc mít tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Hàng ngàn người với lá cờ vàng ba sọc đỏ (có sọc giữa dứt quãng, cờ Quẻ Ly) xuống đường mừng ngày độc lập, sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam”.

Hoàng đế Bảo Đại trong ngày 11 ttháng 3 năm 1945 đã tuyên bố độc lập và thành lập chính quyền mới, với chính thể quân chủ lập hiến do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Tên nước được gọi là Đế quốc Việt Nam.

Bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ ban công của nhà hát xuống, một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh và hát bài Tiến Quân Ca. Cuộc biểu tình của công chức biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

Nhạc sĩ Tô Hải, một người còn sống ở Sài Gòn, nhân chứng sống cho sự kiện ấy, mô tả lại, như thế.

Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh lớn, cũng ở trước nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, đoàn người đến chiếm phủ Khâm sai đại thần. Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng, cờ quẻ Ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim ở Huế nộp đơn xin từ chức.

Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Bảo Đại chấp nhận và tuyên bố “Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban cách mạng, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban (Việt Minh) sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.

Hoàng đế Bảo Đại lúc bấy giờ đã nói một câu nổi tiếng: “Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị”.

Thế là cách mạng tháng 8 thành công! Một cuộc cách mạng không có xung đột vũ trang, chẳng có tên thực dân Pháp hay phát xít Nhật nào trên đường phố Hà Nội, không một người chết. Việt Minh đã cướp chính quyền dễ như trở bàn tay, bằng lợi dụng được tình thế giao thời hỗn loạn của lịch sử khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện và đang lúng túng chờ quân đồng minh tới giải giáp.

Và chỉ sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh cùng với các nhà lãnh đạo khác của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới từ Tân Trào trở về Hà Nội và ngày 2 tháng 9 độc tuyên ngôn độc lập. Nhà nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.

Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, mang tiếng là Chính phủ thân Nhật, bù nhìn, nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim đã làm được những quan trọng như :

– Thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó bao gồm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái quốc gia, đồng thời cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.

– Tuyên bố nước Việt Nam đôc lập, và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ 1884 (Hòa ước Patenôtre).

–  Thống nhất về mặt danh nghĩa, đưa đất Nam Kỳ trở lại với nguồn cội Việt Nam.

– Thay chương trình học bằng tiếng Pháp chuyển sang học bằng tiếng Việt. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ…

Việt Minh là tên gọi tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh, liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán để đối phó với chủ trương tiêu diệt đảng của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc và các đồng minh của họ, nhưng thực chất vẫn nắm vai trò lãnh đạo. Đến tháng 3 năm 1951 khi Việt Minh bị giải tán và Đảng Cộng Sản trở lại đúng với vị trí của họ.

Mục đích của Việt Minh trong sáng, rõ ràng đã đánh đúng vào lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, Nhật, nên tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo. Khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh tiếp tục cuộc vận động, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Theo Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam bị chia thành hai phần, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc Cộng Sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc Việt Nam Cộng Hoà.

Đảng Cộng Sản Việt Nam giành độc quyền cai quản trên toàn miền Bắc, thực hiện Cải cách Ruộng đất vô nhân đạo làm chết oan hàng trăm ngàn người, bắt nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, thực thi chính sách kiểm duyệt, quản lý hộ khẩu, phân phối lương thực, chất đốt, cải tạo công thương, v.v… Một nhà nước không được dân bầu ra thông qua bầu cử tự do như Cương lĩnh của Việt Minh đã xác định.

Một chế độ bạo lực và khủng bố ngự trị trên toàn miền Bắc. Tất cả những tiếng nói bất đồng chính kiến hay phản kháng chế độ đều bị vùi dập và đàn áp dã man. Một bộ máy tuyên truyền, giáo dục khổng lồ của chế độ sử dụng hết công suất nhồi sọ con người ngay từ khi còn bé.

Giờ đây người ta mới hiểu ra rằng, tại sao ngay từ cuộc cách mạng tháng Tám, Việt Minh đã lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Rõ ràng đây một cuộc khởi nghĩa cướp đoạt quyền lực và tiếm quyền có ý thức nhằm áp đặt hệ thống chinh trị cộng sản chuyên quyền.

Cũng với chế độ này, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhuộm đỏ toàn quốc. Với chiêu bài đánh đuổi ngoại xâm, họ đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến đẫm máu và dai dẳng và cưỡng chiếm miền Nam.

Cụ Lê Hiền Ðức, một người đi theo cách mạng từ lúc còn nhỏ, một công dân chống tham nhũng nổi tiếng, đã viết bài “Phản cách mạng đã rõ ràng” sau khi chứng kiến vụ cưỡng chế đất đai của nông dân Văn Giang, Hưng Yên:

“Cuộc cách mạng mà lớp người chúng tôi đã tham gia 60-70 năm trước nay đã bị phản bội một cách trắng trợn, triệt để. Công hữu, sở hữu toàn dân chỉ là chiêu bài để tư hữu hoá, tư nhân hoá, biến của chung thành của riêng”.

“Ðảng Cộng Sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam thừa nhận ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai rất tròng tréo, rắc rối, có nhiều thiếu sót và mâu thuẫn nhau. Nhưng ai là tác giả của chúng? Chính là họ. Ai được hưởng lợi từ chúng? Cũng chính là họ”.

Ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đã phải cay đắng nói: “Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay“.

Công nhân, giai cấp mà ĐCSVN gọi là đội quân tiên phong, trở thành lực lượng bần cùng của xã hội, bị các ông chủ tư bản bóc lột nặng nề, đồng lương không đủ sống, điều kiện làm việc khắc khổ.

Cuộc cách mạng tháng Tám trở nên vô nghĩa và mục đich của nó bị đảo ngược. Những kẻ cầm quyền mặc sức tham nhũng, ăn chặn. Bằng đồng tiền ăn cắp và ăn cướp, họ sống xa hoa trên sự nghèo đói của người lao động. Bất công, bất bình đẳng và suy thoái đạo đức xã hội nghiêm trọng, tệ hại còn hơn chế độ thực dân cũ.

Giống như đất nước Ba Lan sau Chiến tranh Thế giới II, thoát hiểm hoạ phát xít Đức thì bị hoạ cộng sản chụp xuống. Chế độ cộng sản dối trá, tàn nhẫn, tước đoạt quyền tự do của con người đến mức sau khi lật đổ nó vào năm 1989, Hiến pháp dân chủ cấm mọi hình thức tuyên truyền và hoạt động của chủ nghĩa Cộng sản.

Tất cả những điều tôi phân tích trên đây tương tự như nhận định của luật sư Nguyễn Văn Đài (trên trang Facebook), một nhà hoạt động dân chủ, đang sống ở Hà Nội:

“Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm”.