Chú viết báo tếu quá dám mó chúng nó

Chú viết báo tếu quá dám mó chúng nó

Ngô Nhân Dụng

Nguoi-viet.com

Nhà báo Ðỗ Hùng vừa mới bị một thứ trưởng bộ Thông Tin Truyền Thông (4T) rút thẻ nhà báo vì viết trên trang facebook của mình một bài “tếu.” Tếu nghĩa là đùa cợt, nói chơi để cười cho vui. Chỉ viết tếu thôi mà bị mất chức phó tổng thư ký, mất thẻ là mất cả quyền làm nghề viết báo, cúi đầu nhận lỗi mất luôn cả danh dự.

Cái tội chính của nhà báo Ðỗ Hùng, tức Mít Tờ Đỗ, là tếu. Cái óc hài hước này rất quý, loài người mà không biết cười thì chẳng khác gì đười ươi. Mít Tờ Đỗ nghĩ ra một trò tếu, kể một chuyện toàn bằng dấu sắc. Thích quá nhịn không được, bèn đưa vào facebook cho bạn bè đọc chơi. Thế là mang vạ!

Điều tội nghiệp cho nhà báo này, là ngay trong lúc tếu anh ta vẫn cố giữ “đúng lập trường” của một đảng viên cộng sản! Anh không hề chỉ trích mà chỉ ca tụng Đảng! Nếu quý vị chưa đọc đủ chuyện này thì tôi xin dẫn ra mấy câu trong bài của Ðỗ Hùng để coi có thể nào gán cho anh ta là “chống cộng” hay không: “Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát xít. Phía Phát xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía Đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc. Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh phát xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bốt, cứ thế đánh tới bến.”

Đỗ Hùng làm đúng bổn phận một đảng viên, đã ca tụng những công trạng đảng, như “bác Ái Quốc, tướng Giáp” … “đánh Phát xít, đánh Pháp,” dù đó là những chuyện không có thật. Thực ra ai cũng biết trước ngày 19 tháng Tám năm 1945 Nhật đã đầu hàng rồi; còn quân lính, sĩ quan Pháp còn đang bị Nhật nhốt trong tù. Các bác ấy chỉ cướp lấy quyền trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam kể từ thời Pháp thuộc. Nhưng là một đảng viên nên Ðỗ Hùng vẫn cứ ca tụng “các bác” theo đúng sách lịch sử đảng. Đỗ Hùng “giữ lập trường” rất kỹ, tránh không nhắc cả đến tên nước Mỹ. Ai cũng biết Mỹ đã đánh thắng Nhật Bản, nhưng Hùng viết rằng “Phía Đế quốc thắng lớn,” làm như Nhật Bản không phải là một đế quốc. Đỗ Hùng khen đảng mà lại muốn tếu viết toàn dấu sắc, tưởng quá lắm cũng như làm Thơ Bút Tre mà thôi! Ấy thế mới chết!

Một độc giả Người Việt, ông hay bà ký tên ClassicalMood đã nhại lối văn tếu này để tỏ lòng thông cảm với Đỗ Hùng: “Chú bốc máu, thiếu lý trí nói quá gáy nó giáng chức…. Nếu đám hiếu chiến nó nuốt sống, chú hết hí hoáy. Nhớ đến chết tránh chiếu ánh sáng cái trái hướng tới cái tốt; chớ mó máy lý thuyết, giáo phái, gái gú chắc chắn chú sống tới lúc chết.” Một vị độc giả khác, DukeVan còn giải thích: “chính cách viết thấu cáy thách đố đó mới giết chết chú viết báo xấu số, dám chống đối đám dốt nát” Và nhân đó khen: “Các chú viết báo trí thức khá lắm, khí phách lắm. Các chú có chức, có tiếng thế chứ, dám quyết chí tố Bác lí nhí lấp liếm quốc khánh, “móc” chú Giáp thấp kém. Viết thế đám cán ngố Pác Bó dốt nát tức ói máu muốn chết.”

Cái kiếp nhà văn, nhà báo phải sách cặp đi hầu các “cán ngố” rất tội. Vì đám cán ngố không biết tếu! Cán Trương Minh Tuấn, thứ trưởng bộ 4T sung sướng công bố rằng Đỗ Hùng đã ăn năn hối lỗi: “Hùng thừa nhận và cam kết (từ nay) chỉ sử dụng facebook để từ thiện, nghiệp vụ báo chí và không đề cập các vấn đề nhạy cảm, đã thừa nhận những sai phạm từ 2014, chấp nhận mọi hình thức kỷ luật.” Nhờ thế còn giữ được một chỗ ngồi ké trong toà báo. Theo Bích Minh, trong bài “Cuộc đấu đá ngầm đằng sau vụ nhà báo Ðỗ Hùng bị tước thẻ” trên trang mạng Viet Studies, thì nhà báo Ðỗ Hùng gặp nạn chỉ vì Thứ Trưởng Trương Minh Tuấn muốn lập công đánh báo chí, hy vọng sẽ được cất nhắc. Anh bị dùng như “một ‘xác chết’ được đạp xuống để Tuấn 4T tiến lên cao hơn trên bậc thang quyền lực.”

Đỗ Hùng đã bị Quan 4T cấm không cho cười! Dù chỉ cười trong đám bạn bè. Đúng là cười trong đám bạn bè, không ra công chúng. Bởi vì facebook dù gọi là “mạng xã hội” nhưng vẫn là một cõi riêng tư; không phải nơi công cộng như trên một tờ báo bán ra, ai coi cũng được.

Facebook là một mạng lưới của những người quen biết nhau, một nhóm riêng, tự nguyện gia nhập, không phải của cả “xã hội.” Viết trên facebook, người ta chỉ cốt nói riêng với một số bạn bè có liên lạc với mình, không viết cho cả “xã hội,” cho bàn dân thiên hạ đọc.  Người nào dịch “social network” là “mạng xã hội” đã dịch sai nghĩa; rồi mọi người cứ nhắm mắt dùng theo, lâu ngày quên cả cái nghĩa “riêng tư.” Chữ “social” đứng trước chữ network chỉ có nghĩa là “giao du,” đem dịch là “xã hội” tức là làm sai nghĩa gốc. Như một “asocial event” có nghĩa là một cuộc tập họp, tiệc tùng, vân vân, không phải công việc của cả xã hội. Ai không hiểu đúng nghĩa đó, mở tự điển coi rồi ghép hai chữ lại, dịch đại là “biến cố xã hội” là … giết cả chữ nghĩa. Từ “civil society” mà dịch là “xã hội dân sự” cũng vậy, chỉ ghép hai nghĩa dễ thấy trong tự điển mà thôi; mất luôn nội dung quan trọng nhất của civil society là cách gọi chung những tổ chức của các công dân tự do, tự nguyện và độc lập.

Viết trên facebook cũng giống như ngồi uống cà phê với nhau, tha hồ nói tếu, tha hồ chọc ghẹo, có khi vui đùa chửi nhau, văng tục ra cũng chẳng ai “để bụng.” Vì ai cũng biết, đó là chỗ riêng tư, nghe rồi bỏ qua. Nếu có ai vào facebook của một người rồi đem chuyển cho người khác, thì cũng giống như người ta thuật lại một câu nói tếu trong quán cà phê, ai cũng biết nghe qua rồi nên bỏ!

Nhưng các quan cộng sản không có thói quen nghe qua rồi bỏ. Họ đã được đào tạo trong một xã hội mà người dân có bổn phận lén nghe hàng xóm nói, rình mò coi hàng xóm ăn món gì, để báo công an lập công! Ai lỡ nói gì là họ ghim lấy trong đầu để có dịp là “mách bu” cho nó chết. Ngày xưa mấy văn nô tố cáo Trần Dần đã dùng chữ “Người” để nói về con người chung chung, thế là đủ chết, vì “phạm húy.” Chế độ cộng sản không chấp nhận một “không gian tư nhân.”

Tội của Đỗ Hùng là do cái tính tếu. Nhưng trong một chế độ do các ông “Nghiêm Văn Túc” cầm quyền thì không được tếu tự do! Trong chế độ cộng sản, óc hài hước cũng bị hạn chế giống như khi mua gạo, phải có tem phiếu. Ai cũng vẫn có thể mất hộ khẩu trong “làng tếu.” Tếu trên lề bên phải thì được, bước chệch một bước là bị chúng nó thiến! Vua Hài Liên xô Yakov Smirnoff kể rằng mỗi năm một diễn viên hài hước phải nạp trước các đề tài và câu chuyện cho Sở Kiểm duyệt, rồi suốt năm chỉ được nói trong vòng cái “giáo án” đó mà thôi. Nếu trong lúc đang diễn trên sân khấu mà có khán giả la lối chê bai, anh chỉ có thể hẹn: “Yêu cầu sang năm đồng chí trở lại đây, tôi sẽ có câu trả lời được sở kiểm duyệt chuẩn y!” Vua hài Smirnoff cho biết ông có thể kể chuyện cười về loài vật, về tôm cá, hay về các bà mẹ chồng, mẹ vợ; nhưng không được đụng tới chuyện chính trị, nhà nước, tôn giáo, và tính dục.

Thí dụ, Smirnoff kể chuyện cô anh kiến kết hôn với một anh voi. Sau đêm động phòng, chú rể lăn ra chết. Cô dâu khóc: “Anh ơi, từ nay suốt đời em sẽ chỉ lo đào hố chôn anh!” Chuyện tếu về kiến với voi thì được, không cấm. Nhưng thử nghe một câu chuyện khác. Một khách hàng đi mua xe hơi Lada. Sau khi thu tiền, người bán hẹn: “Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có xe, mời ông tới lấy.” Khách hỏi: “Thưa đồng chí, lúc mấy giờ?” “Ông này lạ, 20 năm nữa kia mà? Hỏi giờ trước làm cái gì?” “Thưa đồng chí, vì sáng hôm đó tôi đã có hẹn. Ông thợ sửa ống nước hẹn tới lúc 10 giờ!” Câu chuyện này thì bị cấm. Nó thuộc về một “vấn đề nhạy cảm,” theo lối nói của các cán ngố ở Liên xô thời 1950 – 1990, và Cán ngố Trương Minh Tuấn bây giờ.

Nhưng không ai có thể đoán trước tất cả những gì là nhạy cảm, cái gì không nhạy! Có lúc cái máu tếu nổi lên, quên hết cả. Trong thời còn chế độ cộng sản, Đông Đức là nơi sung túc nhất Đông Âu, thực phẩm đủ no. Ba Lan thì dân được nói tếu nhiều hơn nhưng đói hơn (vì con bò sữa Ba Lan có cái vú rất dài, bên Nga vẫn vắt sữa). Có một con chó Ba Lan đi trên đường qua Đông Đức kiếm mẩu xương, thấy có con chó Đông Đức đang đi ngược chiều. Nó hỏi: Sang bên tớ làm gì? Có cái chó gì mà ăn đâu? Con chó Đông Đức đáp: Tớ no bụng! Nhưng lâu lâu cũng muốn sủa mấy tiếng cho nó sướng miệng chứ!

Đấy, cái nhu cầu muốn nói cho sướng miệng nó làm hại một nhà báo! Đỗ Hùng ngứa miệng quá, quên mất mình đang làm công chức được đảng trọng dụng, phạm ngay cái tội mà ngày xưa nhà văn Chu Tử (báo Sống, xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1966) gọi là “mó dế ngựa.” Sờ một cái sẽ bị ngựa nó đá cho. Mó dế chó thì chắc chắn bị nó cắn tay.

Đỗ Hùng đã “phấn đấu vào đảng,” đã đạp lên trên bao nhiêu đồng đảng khác để leo lên được cái ghế phó tổng thư ký, có cơ hội “thắt cà vạt đỏ, đi giầy da vàng, ăn tiệc nhồm nhoàm, bay đó bay đây,” theo cách mô tả của nhà văn Nguyễn Tuân, mà tại sao lại dại dột đi “mó dế chó” như vậy? Có thể giải thích do cái máu tếu nó mạnh quá, quên đi cả những quyền lợi phải vất vả mới được hưởng. Nhưng có một lý do quan trọng, là khung cảnh xã hội chung quanh đang thay đổi.

Xã hội Việt Nam đã thay đổi rất nhiều. Như Lưu Quang Vũ đã viết từ thời 1980: Dưới hạ giới chúng nó hết sợ từ lâu rồi! Dân gian đổi trước, đảng viên đổi sau, cán bộ cũng đổi nhưng đổi chậm hơn. Xã hội giờ hiện đang thay đổi với tốc độ gia tăng, mỗi ngày một nhanh hơn, một bạo hơn. Sống trong cảnh chung quanh ai cũng hết sợ, chính những công chức nhu mì ngoan ngoãn nhất cũng “sinh nhờn!”

Một thay đổi lớn trong xã hội là người ta nhìn thấy chế độ đang rạn nứt rõ ràng. Từ trên xuống, đấu đá nhau công khai, không thằng nào nể mặt thằng nào. Bộ mặt thật hiện ra, chính chúng nó không thấy cần phải che đậy nữa. Nhà văn, nhà báo ý thức cảnh phá sản của đảng cộng sản nhậy bén hơn dân thường. Những người còn muốn giữ phẩm tiết đã lánh xa chúng nó. Các nhà văn lập văn đoàn độc lập. Các nhà báo lập Câu lạc bộ nhà báo tự do. Những người còn phải lụy chúng vì miếng cơm manh áo thì ngoài miệng vâng vâng dạ dạ nhưng trong bụng chửi thầm. Ai cũng chờ tới khi nắm chắc cái sổ lương là viết những lời “ai điếu” cho chính mình, như Chế Lan Viên, như Nguyễn Khải.

Chú viết báo tếu quá. Với máu tếu chú dám mó dế chúng nó, chúng nó mới cắn chú. Chú không biết đám cán ngố bắt chước bác chúng nó thích nói thánh nói tướng chứ không biết tếu!

THƯ GỬI CÁC SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO DỊP ĐẦU NĂM HỌC 2015-2016

THƯ GỬI CÁC SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO DỊP ĐẦU NĂM HỌC 2015-2016

ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO

trực thuộc

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

_________________________________________________________________________

72/12 Trần Quốc Toản, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Email: uybangiaoduc@gmail.com; Đt: 098 250 4545

Các con rất thân mến,

Nhân dịp đầu năm học mới, Cha gửi đến các con lời chào thân thương và cầu chúc các con một năm học nhiều kết quả, thăng tiến và lớn lên về mọi mặt: kiến thức, nhân cách và lòng mến Chúa yêu người.

Nơi giảng đường và tại lớp học, các con sẽ được các Giảng viên và các Thầy Cô truyền đạt nhiều kiến thức theo chương trình đào tạo, thích hợp cho mỗi cấp, mỗi lớp các con theo học. Phần Cha, Cha muốn chia sẻ với các con một điều rất quan trọng đã được Đức Thánh Cha Phanxicô nói trong bài giảng Thánh Lễ bế mạc Đại hội giới trẻ Á Châu tại Hàn quốc ngày 17.8.2014. Ngài nói: “Là những người trẻ Á Châu, các con nhìn thấy và yêu mến từ bên trong tất cả những gì tốt đẹp, cao thượng và chân thật trong các nền văn hóa và truyền thống của các con. Đồng thời, trong tư cách là Kitô hữu, các con cũng biết rằng Tin Mừng có sức mạnh thanh luyện, nâng cao và làm cho hoàn hảo di sản này… Nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng được ban tặng cho các con trong bí tích Rửa Tội, được khắc ghi như một ấn tín nhờ bí tích Thêm Sức, và trong sự hiệp nhất với các vị Mục tử của các con, các con có khả năng nhận ra nhiều giá trị tích cực nơi các nền văn hóa khác nhau của Á Châu. Các con cũng sẽ có được khả năng để phân biệt điều gì không tương hợp với Đức Tin Công giáo của các con, điều gì trái ngược với đời sống ân sủng… và những khía cạnh nào của đời sống ngày nay là tội lỗi, là hủ hóa và dẫn đến sự chết”.

Lời nhắn nhủ trên đây của Vị Cha chung Giáo hội hoàn vũ củng cố những điều Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nói trong Thư Chung năm 1980: “(Chúng ta cần) gắn bó với Chúa Kitô và hợp nhất với Hội Thánh toàn cầu,…gắn bó với dân tộc và đất nước… Muốn thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh Kinh và Thần học để nắm vững những điều cốt yếu của đức tin, đàng khác, phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc. Rồi từ đó, chúng ta vận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hoá và xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp hơn với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên quê hương và trong cộng đồng Hội Thánh này” (Thư chung 1980, số 8, 9, 11).

Dõi theo các giáo huấn trên đây của Đức Thánh Cha Phanxicô và của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Cha mời gọi các con: các học sinh, nhất là các anh chị sinh viên, hãy khám phá và trân trọng những giá trị và những điều tốt đẹp trong các nền văn hóa của Quê hương Việt Nam chúng ta. Điều này không những cần thiết mà còn cấp bách, vì trong chiều hướng toàn cầu hóa của thế giới hôm nay, nhiều lối sống và nhiều giá trị, lắm khi chỉ là giá trị giả hay phản giá trị, đang được quảng bá rộng rãi, tràn ngập xã hội đến độ làm cho các giá trị và lối sống tốt đẹp trong văn hóa chúng ta có nguy cơ bị lấn át và xóa nhòa.

Văn hóa Việt Nam chúng ta chất chứa nhiều giá trị thiêng liêng và nhân bản, tạo nên một nếp sống đầy lòng nhân ái và tình nghĩa, đáng để cho chúng ta hãnh diện và nỗ lực vun đắp. Cha đã có dịp đi thăm nhiều cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại các nước Âu Mỹ; nơi nào Cha cũng được nghe các Chủ chăn và giáo dân địa phương tỏ lòng ngưỡng mộ nếp sống đầm ấm của gia đình Việt Nam và sức sống dồi dào của các cộng đoàn Công giáo Việt Nam. Thế nhưng, trong thời gian gần đây, các phương tiện truyền thông thuật lại nhiều sự kiện xấu trong học đường và tại xã hội Việt Nam, chẳng hạn, học sinh ẩu đả, đánh nhau hay có những thái độ vô lễ đối với giảng viên hoặc thầy cô; đáng lo ngại hơn nữa là sự kiện có những người con ngỗ nghịch đang tâm giết cha mẹ chỉ vì một chút tiền bạc hay vì bực tức.

Các con rất thân mến, là sinh viên, học sinh Công giáo, các con phải dẫn đầu trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của Dân Tộc. Với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và sức mạnh của Tin Mừng, các con hãy làm cho lòng nhân ái, tình thương yêu, sự hy sinh cho tha nhân lan tỏa tới mọi nơi, nhất là trong gia đình, tại giảng đường và trường học.

Nếu các con đón nhận sứ mệnh Cha vừa nói, các con cần phải nỗ lực thanh luyện cho lòng các con thoát khỏi các thú vui vô bổ, các đam mê không lành mạnh và những tính toán lợi lộc giả tạo mau qua. Những yếu tố đó, nếu không được uốn nắn, sẽ trở thành những sức mạnh hung hãn tàn phá chính các con và gây thiệt hại cho nhiều người, ngay cả gia đình, cộng đoàn giáo xứ và môi trường học tập của các con.

Trong cuốn sách “Hoa Đường Tùy Bút”, cụ Phạm Quỳnh ví những thú vui và đam mê thuộc bản năng tựa như con voi, còn các giáo lý và quy luật đạo đức của tôn giáo thì như sợi chỉ. Khi con voi được huấn luyện để kính trọng và đi theo sự hướng dẫn của sợi chỉ thì nó hiền lành và giúp ích cho con người. Nếu vì bất cứ lý do gi, con voi không còn biết kính sợ sợi chỉ, nó sẽ trở thành hung hãn, phá đổ nhà cửa và giết chết nhiều người. Các con đừng sợ! Giáo lý và quy luật đạo đức của Giáo Hội tuy mỏng manh như sợi chỉ, nhưng đàng sau giáo lý và quy luật ấy là chính Chúa Giêsu. Tình yêu của Ngài là sức mạnh, một sức mạnh vượt trên mọi sức mạnh. Sức mạnh đó đã giúp nhiều người, thuộc các dân tộc, mầu da, tiếng nói và thời đại khác nhau, vượt thắng được mọi thú vui, đam mê, lợi lộc và còn dám dâng hiến mạng sống vì Nước Trời và vì tha nhân. Các Thánh, nhất là các Thánh Tử Đạo là những minh chứng hùng hồn. Vì vậy, nếu các con sống hiệp nhất và khích lệ nhau sống mật thiết với Chúa Giêsu, các con sẽ tìm được sức mạnh để chiến thắng các đam mê và dục vọng. Các con sẽ trở nên những thiếu nhi, những bạn trẻ đáng cảm phục, đáng mến, đáng kính trọng; các con sẽ là niềm vui và ơn phúc cho xã hội và cho Giáo Hội.

Với lòng thương mến, Cha cầu nguyện cho các con và xin Chúa chúc lành cho các con trong năm học mới này. Xin Mẹ Maria giang rộng vòng tay Hiền Mẫu che chở và gìn giữ các con.

Cha thân ái chào các con!

Ngày 04 tháng 9  năm 2015

+ Giuse Đinh Đức Đạo

Giám mục Phó Gp Xuân Lộc

Chủ tịch Ủy Ban Giáo dục Công Giáo

Thượng nghị sĩ Mỹ gửi thư cho một tù nhân tại Việt Nam

Thượng nghị sĩ Mỹ gửi thư cho một tù nhân tại Việt Nam

Bà Bùi Thị Minh Hằng trước và sau 5 tháng tù đầu tiên. Thượng nghị sĩ Bill Cassidy đã gửi thư thẳng vào trại giam cho bà Minh Hằng vào ngày 9/9/2015.

Bà Bùi Thị Minh Hằng trước và sau 5 tháng tù đầu tiên. Thượng nghị sĩ Bill Cassidy đã gửi thư thẳng vào trại giam cho bà Minh Hằng vào ngày 9/9/2015.

Trà Mi-VOA

11.09.2015

Một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ gửi thư cho một nữ tù nhân lương tâm Việt Nam được nhiều người biết tiếng, chia sẻ cảm thông và bày tỏ ủng hộ đối với những gì bà đang gánh chịu vì hoạt động nhân quyền.

Thư của Thượng nghị sĩ Bill Cassidy gửi thẳng vào trại giam cho nhà hoạt động Bùi Thị Minh Hằng, người thọ án 3 năm tù từ năm ngoái với cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’ sau loạt các hoạt động cổ súy cho tự do tôn giáo và dân chủ trong nước.

Lá thư đề ngày 9/9 của nhà lập pháp Mỹ mở đầu với dòng chữ “Tôi viết thư cho bà với trái tim trĩu nặng lo lắng về tình cảnh bà bị lâm vào hiện nay”.

Thượng nghị sĩ Cassidy nhấn mạnh: “Dù bị tước quyền tự do và bị buộc phải sống trong điều kiện giam cầm tệ hại, bà vẫn tìm cách gìn giữ động lực cho những người cùng hoạt động xã hội với mình. Vì vậy, tôi xin hoan nghênh tinh thần can đảm và mạnh mẽ của bà”.

Ông nói bà Hằng dù bị giam cầm, nhưng thanh danh, câu chuyện, cùng những đóng góp không mệt mỏi của bà cho người dân Việt Nam không hề bị quên lãng.

Ông Bill Cassidy cho hay giới lập pháp Hoa Kỳ đang nỗ lực thúc đẩy Hà Nội phóng thích cho nhà hoạt động Minh Hằng để tiếp tục nhắc nhở các chính phủ như Việt Nam rằng “sẽ bất lợi cho chính họ khi họ bịt miệng những tiếng nói như tiếng nói của bà”.

Thượng nghị sĩ Mỹ Bill Cassidy nói chuyện điện thoại với gia đình bà Bùi Thị Minh Hằng.

Kết thư, Thượng nghị sĩ Cassidy viết: “Tôi nghĩ tới bà và cầu nguyện cho bà trong lúc bà đang tranh đấu để đòi hỏi các quyền cơ bản mà mọi con người đều phải được hưởng”.

Con gái bà Minh Hằng cho biết gia đình cô hết lòng cảm kích trước sự quan tâm của chính giới Hoa Kỳ dành cho các nhà hoạt động đang bị áp bức tại Việt Nam.

Cô Phạm Thị Quỳnh Anh:

“Đây là sự động viên rất lớn đối với mẹ em và gia đình em. Nếu may mắn bức thư tới được tay mẹ em thì nó sẽ là nguồn động lực lớn lao cho bà trong trại. Gia đình em cảm thấy rất vui. Không riêng với vị Thượng nghị sĩ này, bọn em còn phải cảm ơn rất nhiều người khác nữa đã tích cực vận động cho mẹ em”.

Cô Quỳnh Anh nói lẽ ra sự chia sẻ, động viên này phải đến từ các dân biểu của Việt Nam, những người được xem là tiếng nói đại diện cho nhân dân, thay vì là từ một nhà lập pháp của Mỹ:

“Đấy là sự khác nhau giữa thiên đường xã hội chủ nghĩa và tư bản, và mẹ em là người đang đi đòi những cái đó cho dân Việt Nam. Bởi vị sự độc đảng, tất cả các vị đại diện cho nhân dân dù mang tiếng là đại biểu nhân dân thay cho tiếng nói nhân dân, nhưng trên thực tế họ là những đảng viên cần giữ thẻ đảng. Đương nhiên nhân dân như bọn em là không có đảng, tiếng nói khác, nên họ không thể nói tiếng nói trung thực với tiếng nói của người dân khi mà họ còn lăng xăng vướng vào cái thẻ đảng”.

Dù bị tước quyền tự do và bị buộc phải sống trong điều kiện giam cầm tệ hại, bà vẫn tìm cách gìn giữ động lực cho những người cùng hoạt động xã hội với mình. Vì vậy, tôi xin hoan nghênh tinh thần can đảm và mạnh mẽ của bà.

Thượng nghị sĩ Mỹ Bill Cassidy nói chuyện điện thoại với gia đình bà Bùi Thị Minh Hằng.

Thượng nghị sĩ Bill Cassidy.

Cô Quỳnh Anh khẳng định mẹ cô, tiếng nói bênh vực cho công lý và người nghèo, không phải là thành phần ‘phạm pháp’ như định nghĩa của chính phủ Việt Nam. Theo cô, cái án hình sự bà Hằng đang phải nhận lãnh chỉ là cái cớ của Hà Nội để ghép tội và trả đũa cho các hoạt động nhân quyền của bà.

“Mẹ em lẽ ra không phải chịu cái án đó. Thế nhưng vì họ đã từng tuyên bố là ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm, không có tù nhân chính trị, cho nên họ đã không bắt những người như mẹ em, luật sư Lê Quốc Quân, hay chú Điếu Cày bằng những cái án chính trị bao giờ cả. Sự quan tâm của thế giới nói chung và của nước Mỹ nói riêng dành cho mẹ em, đối với bọn em, là quá sức lớn lao. Thế nhưng quan trọng nhất là phía chính phủ Việt Nam có biết lắng nghe hay không. Nguồn gốc nằm ở chỗ chính phủ Việt Nam vẫn chưa chịu hiểu điều đó”.

Con gái bà Minh Hằng cho hay hiện giờ tình trạng sức khỏe của bà trong trại giam không được tốt, nhưng ngoài việc được trạm y tế của trại khám bệnh, các nhu cầu về thuốc men của bà không được đáp ứng:

“Từ lúc chuyển trại từ Đồng Tháp qua Gia Lai, mẹ em đã có hiện tưởng thỉnh thoảng bị tê liệt nửa người. Gia đình có nhu cầu đưa bà đi khám nhưng trại Đồng Tháp một, hai hôm sau lập tức chuyển trại đưa mẹ em về Gia Trung. Sang đến trại Gia Trung, mẹ em vẫn tiếp tục bị đau nửa đầu và gần đây nhất là hay có hiện tượng bị hạ đường huyết. Bên trại họ chỉ thăm khám thôi chứ chưa thấy đưa ra được đơn thuốc về cho gia đình. Mẹ em có yêu cầu đưa đơn thuốc và kết quả khám bệnh về cho gia đình, nhưng chưa được đáp ứng”.

Bà Bùi Thị Minh Hằng trong phiên tòa phúc thẩm.

Bà Bùi Thị Minh Hằng trong phiên tòa phúc thẩm.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là nhà hoạt động được nhiều người biết đến từ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa – Trường Sa. Kể từ đó, bà trở thành mục tiêu thường xuyên bị hành hung, bắt bớ và giam cầm.

Tháng 9 này, bà cùng với nhà hoạt động đang bị giam cầm Tạ Phong Tần được Liên Hiệp Quốc vinh danh trong chiến dịch kêu gọi phóng thích 20 nhà hoạt động nữ nổi bật của nhiều nước từ châu Á tới châu Phi, những người đã can đảm dấn thân vì nhân quyền nhưng bị tù tội một cách bất công. Chiến dịch nhằm gửi thông điệp tới các chính phủ độc tài rằng nếu muốn tăng cường sức mạnh cho nữ giới như những gì cam kết với quốc tế, hãy thôi giam cầm những phụ nữ đi đầu cho nhân quyền.

Bà Minh Hằng từng tuyệt thực nhiều lần trong trại giam để phản đối các điều kiện đối xử khắc nghiệt và ngược đãi.

Con gái bà Hằng nói với tư cách là con của một tù nhân lương tâm, cô chỉ hy vọng một điều là Việt Nam không còn tù nhân lương tâm nữa vì họ là những người đáng ra phải được biết ơn, những người đi đầu cho tự do – dân chủ trong nước.

Hà Nội phủ nhận giam cầm tù nhân lương tâm và gọi đó là những người ‘phạm pháp’ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, khơi dậy những lời kêu gọi yêu cầu Việt Nam phải cải thiện luật nội địa phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền căn bản chung của quốc tế.

Hứa đi sông ơi…

Hứa đi sông ơi…

canhco

RFA

Người lãnh đạo vốn được xem là ngôi sao dẫn đường của đất nước. Bất kể quốc gia theo thể chế nào, sự tỏa sáng của ngôi sao dẫn đường luôn là yếu tố cần thiết đầu tiên để dân chúng tin vào và hợp tác, hay chí ít tin vào với sự yên tâm rằng đã có người lo phần ăn ngủ cho gia đình mình một cách đáng tin cậy. Lãnh đạo càng tỏa sáng, niềm tin càng lớn mạnh trong lòng người dân.

Putin là một ví dụ của nước Nga.

Dù ông ta độc tài và cách quản trị đất nước chuyên chế không khác mấy với thời ông còn trong tổ chức KGB trước đây: độc tài, quyết đoán và bè phái.

Độc tài làm Putin liên tục nắm chức vụ cao nhất trong chính phủ Nga trong nhiều năm. Quyết đoán khiến nhân dân Nga tin rằng mình có một tổng thống mạnh mẽ có thể đối phó với Mỹ và nguyên khối EU và bè phái làm cho chiếc ghế của ông tăng thêm sức chịu đựng của giông gió đến từ các thành phần đối lập. Mặc dù cơn hồng thủy cấm vận và các vấn đề khác làm cho Putin mất niềm tin ngày một nhiều nhưng dân Nga biết rằng sau Putin sẽ là một con số trắng, không ai đủ sức nắm một nước Nga từ suy yếu tới cường mạnh và lại suy yếu tiếp tục như một hình vẽ Parabol. Nga cần Putin và Putin biết rõ điều đó. Putin không cần lo chiếc ghế vì khác với Việt Nam, Putin không bị ai giành giật vị trí của mình.

Việt Nam khác Nga, tuy cũng độc tài, cũng quyết đoán và nhất là cũng bè đảng như Putin.

Độc tài thì không cần chứng minh, cả thế giới đều biết. Quyết đoán cũng đã rõ bởi các chính sách đưa ra mặc dù phần lớn đều nông nổi, mang tính đối phó hay nhiều khi chỉ để vỗ béo một nhóm nào đó nhằm bảo vệ chiếc ghế của mình. Còn phe đảng thì rõ ràng dữ dội, âm thầm và ghìm nhau từ động thái.

Tuy nhiên khác với Putin, một mình một chợ, nắm chắc dân Nga trong lòng bàn tay, lãnh đạo Việt Nam muốn ngồi yên phải thỏa hiệp với nhau, cân bằng thế và lực để ngồi trên chiếc thuyền quyền lực. Hơn quá cũng nguy mà yếu quá là chết…mọi cử động phải nhìn ngắm trái phải sau trước và cứ thế cùng nhau ngồi chung trên một con thuyền không người lái cũng chả ai chèo, cứ mặc cho giòng nước cuốn tới đâu thì tới.

Lãnh đạo ngồi trên thuyền còn nhân dân thì bơi dưới nước.

Muốn dân đừng lật thuyền lãnh đạo Việt Nam làm nhiều chuyện éo le và nhân dân trong lúc lo bị sặc nước đã không có thời giờ chú ý.

Một trong những éo le ấy là hứa. Hứa như bợm và nuốt lời như chơi.

Ông Nguyễn Tấn Dũng là một trong những lãnh đạo hứa nhiều nhất, mà éo le ở chỗ chưa lời hứa nào trọng đại của ông ấy được thực hiện, hay ít nhất được các cấp dưới quyền thực hiện.

Trước tiên khi bắt đầu nhậm chức, ông hứa sẽ quét sạch tham nhũng nếu không ông sẽ về vườn.

Và ông về vườn thật, vườn Thiên đàng, nơi ông không thiếu thứ gì ngoài Thượng đế.

Ông hứa với dân là sẽ tranh đấu để quyền biểu tình của dân được quốc hội chính thức làm thành luật. Quốc hội nghe rồi để đó. Ông nói rồi bỏ qua. Người dân đang bơi bên cạnh chiếc thuyền của các ông được vất một cành cây lời hứa xuống nhưng hỡi ơi lại là cành mục chưa rơi tới nước đã bị sóng đánh tan tành.

Ông còn hứa nữa, mỗi lần có sự cố xảy ra là ông hứa. Lời hứa không mất tiền mua, thế thì cứ hứa cho vừa lòng dân.

Khi anh nông dân Đoàn Văn Vươn bị bắt, bị chiếm ruộng đập nhà ông lại hứa. Lần này ông ra lệnh hẳn hoi, Thành phố Hải Phòng nhận được chỉ thị của ông và anh Đoàn Văn Vươn được ra khỏi tù sau…ba năm 6 tháng.

Lần ông hứa cuối cùng là vụ 1.400 tỷ xây tượng Bác tại Sơn La. Ông đập bàn đập ghế đòi Sơn La phải giải trình tại sao lại xử dụng vốn nhà nước một cách hoang phí như vậy. Sơn La bấm nhau cười, đâu đó đám trẻ chăn trâu ngoài đồng hát bài “giải trình, giải rút chắc là đồng môn”

Sơn La chính thức công bố dự án sẽ được thực hiện trong khi không đá động gì tới Thủ tướng. Của đáng tội, không phải Sơn La coi thường lệnh  Thủ tướng nhưng họ biết rằng Thủ tướng chỉ quát khẽ cho đám dân bơi dưới kia yên tâm rằng một chốc nữa ông sẽ quăng phao, những chiếc phao lời hứa ấy cho tới nay vẫn tỏ ra hiệu nghiệm đối với người dân, nhất là những người không bao giờ quên được cảm giác ngộp nước. Họ cần thở còn bơi dưới dước bao lâu thật không quan trọng lắm.

Thủ tướng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước… cả ba ngôi sao ấy không tỏa sáng bao giờ nhưng tại sao lại không chịu tắt? Người dân chăng? Trí thức chăng? Đảng viên tỉnh thức chăng? Không ai cả, đất nước loe hoe lạc loài trong sa mạc và bộ sậu trên chiếc thuyền đất nước ấy vẫn không ai là người thuyền trưởng. Thuyền cứ xoay và dân cứ bơi…..hình ảnh của Việt Nam hôm nay trên mọi trang báo trong hay ngoài nước đều lộ rõ tầm nhìn một thước sáu lăm của lãnh đạo.

Một thước sáu lăm vừa vặn với số đo của ba người cộng lại chia ba.

Và lời hứa của Thủ tướng tuy chưa thực hiện nhưng dân vẫn tin rằng một lúc nào đó cán bộ sẽ nghe ông. Cũng như bây giờ dân vẫn tin rằng mọi chính sách trên đưa xuống đều đúng chỉ có cán bộ làm sai.

Không thấy cái nón nào lại vừa vặn cho tất cả mọi vấn đề như thế. Thủ tướng làm đúng nhưng Tiên Lãng, Sơn La làm sai. Ngay cả vụ biểu tình thì lỗi của Quốc hội còn tham nhũng thì…một mình ông làm sao lo xuể?

Vậy thì còn chờ gì nữa mà chúng ta không tiếp tục…bơi bên cạnh Thủ tướng và chờ một ngày đẹp trời nào đó cán bộ cấp dưới của ông giật mình thức tỉnh làm đúng một lần cho đất nước được nhờ?

Nghĩ về tấm bia căm thù

Nghĩ về tấm bia căm thù

Uyên Vũ, thông tín viên RFA

45c61642-620

Bia căm thù trước tổng Lãnh Sự Quán Mỹ tại Sài Gòn.

RFA photo

Tròn 14 năm trước ngày 11/9/2001, Hoa Kỳ và thế giới tự do bàng hoàng rúng động bởi vụ đánh bom tòa tháp đôi World Trade Center. Vâng, thế giới tự do của những người yêu chuộng tự do mới bàng hoàng, còn tại các nước cộng sản và độc tài thì không hẳn như vậy, nếu không muốn nói là ngược lại.

Xin miễn bàn về các nước đang nuôi dưỡng và chứa chấp bọn khủng bố. Tại Trung Quốc, tướng Lưu Á Châu kể lại: “Nước ta (tức Trung Quốc) có một đoàn đại biểu, lúc đó đang ở thăm nước Mỹ, lúc xem tòa nhà thương mại thế giới bị máy bay bọn khủng bố đâm vào, những người trong đoàn tham quan liền không kìm được cảm xúc, đứng dậy vỗ tay hoan hô.” (!)

“Tôi ở Bộ tư lệnh Không quân đóng tại quân khu Bắc Kinh, vào những ngày đó có bộ đội tới thăm, tôi đều hỏi họ có cái nhìn như thế nào về vụ 11 tháng 9? Họ đều có một câu đáp án như nhau “Khủng bố đánh rất tốt”. Sau đó tôi nói “chuyện này rất bi thảm. Nếu như những người này yêu Trung Quốc, thì còn ai có thể cứu được Trung Quốc?”

Còn ở Việt Nam, khi sự kiện 11/9 vừa được các hãng thông tấn lớn loan tải, lúc đó muốn vào mạng xem tin tức chỉ có cách ra những quán cafe internet để theo dõi. Tại một diễn đàn online lớn nhất Việt Nam khi ấy là diễn đàn ttvnol (Trí Tuệ Việt Nam Online) mà thành viên đa số là những trí thức, sinh viên sống ở Hà Nội. Khi nhìn qua màn hình computer thấy cảnh tòa nhà World Trade Center bị đổ sụm do chiếc phi cơ đâm vào nhiều sinh viên đã rú lên vì sung sướng, thế rồi họ truyền tin cho nhau với thái độ đắc chí. Họ đua nhau bình phẩm và chờ đợi sự “giãy chết” của Hoa Kỳ. Lạ một điều, những sinh viên ấy hầu hết lớn lên khi chiến tranh đã chấm dứt. Hàng ngày họ vẫn uống Coke, vẫn chuộng những chiếc quần Jeans hiệu Levi’s và săn lùng những hàng hóa “made in USA” từ chiếc computer cho đến đôi giày thể thao.

camthu.jpg

Một trong những tấm bia căm thù. RFA photo

Vậy tại sao họ có thái độ khó hiểu như vậy? Thực ra, nếu sống trong lòng một đất nước cộng sản thì cũng không thấy điều đó có gì khó hiểu. Những sinh viên này đều đã trải qua nhiều năm tháng học một thứ giáo dục nhồi sọ. Ở đó, trong sách giáo khoa lẫn trên bục giảng, từ một trẻ nhỏ chập chững bước vào trường tiểu học cho đến một tân khoa cử nhân đều phải học những bài học lịch sử được viết lại cho thuận ý nhà cầm quyền. Những bài học lịch sử bịa đặt, thêm thắt và tràn ngập những căm thù. Nước Mỹ là kẻ thù mà họ huênh hoang là đã “chiến thắng vinh quang”, Hồ Chí Minh còn chơi chữ: “Mỹ nhưng mà xấu”, những bài toán cộng của học sinh tiểu học đã là những bài toán cộng của những xác lính Mỹ chết.

Giới trẻ Việt Nam chuộng hàng hóa Mỹ nhưng thâm tâm vẫn cứ nghĩ “của bọn tư bản xấu xa bóc lột”. Cũng không khó kiếm những tượng đài to lớn kỷ niệm cái gọi là “chiến thắng 30/4” cũng như thật dễ nhìn thấy những tấm “bia căm thù”. Tại Sài Gòn, ngay trên đoạn vỉa hè phía trước tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ là một tấm “bia căm thù” như thế và khói hương, hoa đèn vẫn được cung kính tưởng niệm tại tấm bia này. Chính vì thế, những người trẻ lớn lên, mũi chưa từng ngửi thấy mùi thuốc súng, mắt chưa từng thấy những tử thi không nguyên vẹn trông những bộ quân phục… Họ vẫn âm ỉ sâu kín trong lòng mối căm thù.

Tôi không biết các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ nghĩ gì khi nhìn thấy tấm “bia căm thù” án ngữ cơ quan ngoại giao của họ, họ nghĩ gì khi vào những dịp lễ lạt, từng đoàn người mang hoa nến, nhang đèn đến công khai bày tỏ lòng căm thù đối với đất nước Hoa Kỳ của họ. Có lẽ họ sẽ cảnh giác với một dân tộc luôn nuôi dưỡng ý chí căm thù, nhưng cũng có lẽ họ sẽ tặc lưỡi bỏ qua. Tôi nhớ, nhà thơ Phan Nhiên Hạo đã viết lại cảm nghĩ khi đứng trước cảnh đỗ vỡ hoang tàn của tòa nhà World Trade Center, ông viết: “Tôi tìm mãi không thấy một tấm “bia căm thù” nào được dựng lên để lên án bọn khủng bố. Thay vào đó, tôi thấy một trái tim màu xanh thật lớn được vẽ trên tường của tòa cao ốc sát bên”.

Hoa Kỳ đã trải qua nhiều cuộc chiến, số người chết vì chiến tranh luôn được tưởng niệm và vinh danh nhưng với các địch thủ. họ không hề được dạy là phải căm thù. Có lẽ chính vì thế mà Hoa Kỳ cứ lớn mạnh. Một dân tộc lớn bởi vì không nuôi dưỡng những thù hằn nhỏ. Mới đây, tôi có hỏi một trí thức người Việt sống lâu năm tại Nhật Bản là dân Nhật có căm thù nước Mỹ vì đã thả hai trái bom nguyên tử làm hàng trăm ngàn người Nhật chết hay không, ví dụ về dịp kỷ niệm 70 năm tại Hiroshima vừa qua. Câu trả lời là nước Nhật vẫn tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chết vì bom nguyên tử nhưng không hề căm thù Hoa Kỳ. Nhật Bản đã vươn lên từ đống tro tàn phát xít để trở thành cường quốc thế giới, phải chăng vì họ biết quên đi thù hận mà chỉ dồn nỗ lực vào việc tái thiết quốc gia?

Hoa Kỳ cũng sẽ tưởng niệm biến cố 911, vì biến cố ấy đã làm thay đổi đất nước họ. Các gia đình có người thiệt mạng trong sự kiện bi thảm ấy chắc sẽ chẳng bao giờ quên. Nhưng ngay chính nơi tòa tháp World Trade Center đã mọc lên một tòa tháp mới, lộng lẫy, tráng lệ hơn. Trong tòa tháp ấy có lẽ cũng chẳng dành một chỗ nào cho tấm bia căm thù, dù nhỏ nhoi.

Không uống bia ‘hỏa tốc,’ 7 cán bộ phải viết tường trình

Không uống bia ‘hỏa tốc,’ 7 cán bộ phải viết tường trình

Nguoi-viet.com

HÀ TĨNH (NV) – Cán bộ thuộc Sở Giáo Dục bị nhắc nhở và phải viết tường trình trong một cuộc họp nội bộ sau khi từ chối không tham gia uống và sử dụng bia được sản xuất tại tỉnh nhà.

Sở Giáo Dục và Đào Tạo Hà Tĩnh, nơi 7 cán bộ bị nhắc nhở vì không
uống một loại bia sản xuất tại tỉnh nhà. (Hình: VnExpress)

VnExpress loan tin, ngày 11 Tháng Chín, 2015, ông Dư Lý Trí, phó chánh văn phòng Sở Giáo Dục Hà Tĩnh cho biết, sau hội nghị “điển hình tiên tiến” vào cuối Tháng Sáu, một số cán bộ trong cơ quan đã tổ chức bữa tiệc tại một nhà hàng ở thành phố Hà Tĩnh. Tại đây, khi gọi đồ uống, nhiều người đã không dùng bia Sài Gòn.

“Mấy người làm tiếp thị, kinh doanh tại nhà hàng thấy cán bộ Sở Giáo dục không uống bia của hãng nên nhắn tin cho lãnh đạo tỉnh, vị này sau đó trao đổi với giám đốc sở”, ông Trí nói.

Tin cho hay, sau đó trong một cuộc họp nội bộ, 7 cán bộ liên quan đã phải viết bản tường trình sự việc và bị nhắc nhở.

Trước đó, ngày 1 Tháng Chín, trong khuôn khổ tổ chức lễ hội “Tôi yêu bia Sài Gòn,” ông Lê Minh Đạo, chánh văn phòng tỉnh Hà Tĩnh đã ký giấy mời đóng dấu “hỏa tốc” gởi tới các lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, thủ trưởng sở ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh, chủ tịch các hội, hiệp hội trong tỉnh, lãnh đạo huyện của tỉnh… tới tham gia.

Giấy mời của chánh văn phòng ủy ban tỉnh Hà Tĩnh dùng dấu hỏa tốc
yêu cầu lãnh đạo tham dự lễ hội bia. (Hình: VnExpress)

Theo một lãnh đạo Sở Công Thương Hà Tĩnh, tính đến ngày 15 Tháng Sáu, tổng thu ngân sách nội địa 6 tháng đầu năm của Hà Tĩnh đạt 2,511 tỷ đồng, trong đó dự kiến thu ngân sách từ phía Chi nhánh bia Sài Gòn đóng trên địa bàn là 380 tỷ đồng.

Theo Bộ Y Tế, Việt Nam là nước tiêu thụ bia cao thứ 3 tại Châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc, với khoảng 3 tỷ lít bia trong năm 2013. Trong 10 năm gần đây, tốc độ tiêu thụ bia của người Việt Nam đã tăng hơn 200%. Rượu, bia đứng trong số 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở Việt Nam. (Tr.N)

Âu Châu Là Nạn Nhân Của Nạn Di Dân

Âu Châu Là Nạn Nhân Của Nạn Di Dân

Vụ khủng hoảng có nguyên nhân kinh tế, nhưng hậu quả chính trị…

Âu Châu đang gặp một vụ khủng hoảng di dân nghiêm trọng nhất từ Thế chiến II. Khối Liên hiệp Âu châu cố giải quyết bằng cách phân phối di dân cho các thành viên, với nước Đức được coi là ân nhân. Hậu quả lâu dài lại thúc đẩy nhiều sức ly tâm gây thêm phân hóa trong nội bộ Âu Châu….

Âu Châu có trào lưu chung của các nước công nghiệp hóa tiên tiến là có tỷ lệ sinh sản thấp hơn và tuổi thọ trung bình cao hơn. Dân số hay nhân khẩu là định mệnh trong ý nghĩa đó.

Sau Thế chiến II, Âu Châu áp dụng chiến lược phát triển với niềm tin rằng lực lượng lao động đông đảo sẽ góp đủ thuế để chu cấp cho thành phần ở ngoài tuổi lao động – dưới 15 và trên 64 tuổi. Khi thấy tỷ lệ sinh sản giảm dần, một số quốc gia có tăn trợ cấp cho gia đình đông con nhằm khuyến khích việc sinh đẻ – đứa con thứ ba là “miễn phí” – với kết quả thật ra cũng giới hạn trước một chiều hướng văn hóa phổ biến và khó cưỡng.

Vì vậy, Âu Châu mới có giải pháp di dân, là nhập cảng sức lao động từ bên ngoài.

Di dân sẽ nâng sức lao động và mức cầu kinh tế để tạo thêm việc làm và sự thịnh vượng. Thành phần di dân có tay nghề cao thì giúp kinh tế phát triển các ngành sản xuất chuyên biệt để khai thác lợi thế tương đối của từng quốc gia. Thành phần thiếu chuyên môn thì lao động trong những ngành cực nhọc mà dân bản xứ không muốn làm. Đã vậy, lực lượng lao động càng đông thì thành phần thọ thuế càng nhiều sẽ tăng mức thu cho ngân sách để nhà nước lo toan cho những người ở ngoài tuổi lao động.

Nhưng lý luận kinh tế lạc quan ấy lại đụng vào thực tế cứng đầu. Và Âu Châu đang bị khủng hoảng với làn sóng di dân thứ ba, dữ dội nhất, kể từ 10 năm qua. Xin hãy nói về ba làn sóng đó trước.

Sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, các nước Âu Châu lạc quan thúc đẩy việc hội nhập để thành lập Liên hiệp Âu châu. Từ đó, Liên Âu đã “Đông tiến”, kết hợp dân số đông đảo của các nước Đông Âu, nhất là các quốc gia có mật độ dân số cao như Ba Lan hay Romania (Lỗ Ma Ni là cách gọi ngày xưa). Lao động Đông Âu đã “Tây tiến” và góp phần giải quyết vấn đề thiếu hụt dân số của các nước tân tiến hơn ở miền Tây. Đấy là đợt di dân đầu tiên, vào thời 2004-2007.

Nối tiếp là đợt thứ nhì vào các năm 2009-2010, khi khủng hoảng tài chánh tại các nước miền Nam mở ra phong trào “Bắc tiến”. Dân cư của các nước lâm nạn ở miền Nam đi tìm việc làm trong các quốc gia giàu mạnh hơn ở “vùng cốt lõi” là miền Bắc, từ Pháp qua Đức và các lân bang.

Trong hai đợt ấy, hiện tượng di dân vẫn có tính chất nội bộ Âu Châu và dù có gây va chạm, kể cả phản ứng chống di dân, thì cũng chẳng dẫn tới khủng hoảng khi 22 thành viên trong số 28 nước Liên Âu đã ký Hiệp ước Schengen về quyền tự do lưu thông người và vật từ năm 1995.

Đợt thứ ba là ngày nay thì khác.

Làm sóng di dân bùng lên từ Trung Đông và một số quốc gia bị nội loạn ở nơi khác đã dập vào bến bờ Âu Châu để xin tỵ nạn. Di dân là nạn dân và gây vấn đề trước tiên cho các nước lâm nạn kinh tế tại miền Nam, như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, rồi lan qua nước khác, với cao điểm là Hungary.

Trong đợt trước (2009-2010), nếu làn sóng “Bắc tiến” có nhất thời hạ giảm thất nghiệp thì cũng gây ra nạn “xuất não” là thành phần có chuyên môn và tốt nghiệp đại học bỏ xứ đi làm trong các doanh nghiệp Đức Pháp. Các nước lâm nạn chưa kịp phục hồi thì lại bị làn sóng nạn dân đập vào bờ. Thành phần di dân tỵ nạn này không có thông hành Âu Châu nên vừa khó kiếm việc ở tại chỗ lại cũng chẳng thể tạm “quá quan” để đi vào các nước Âu Châu khác. Làn sóng đó bị ứ tại miền Nam và chờ đợi quyết định thu nhận hay phân bố di dân của Liên Âu.

Sự kiện đa số của thành phần này lại theo Hồi giáo, đã chẳng phù hợp với văn hóa hay tôn giáo Âu Châu mà chưa chắc là đã muốn hội nhập, càng dễ gây phản ứng ngược từ phong trào quốc gia dân tộc cực đoan hoặc tinh thần chống di dân tại Âu Châu. Thí dụ như nhiều trại tạm trú di dân tại miền Đông nước Đức đã bị cư dân đập phá, hay đảng Mặt trận Quốc gia theo xu hướng cực hữu đã lên như diều tại Pháp, và đảng Dân Chủ chống di dân đang thắng thế tại Thụy Điển.

Một thí dụ khác là Ba Lan sẽ có bầu cử vào tháng tới và đảng bảo thủ đang cầm quyền lại mất phiếu vào phe đối lập theo khuynh hướng quốc gia. Chính quyền Hung Gia Lợi cũng gặp bài toán tương tự trước sức ép của phong trào quốc gia bên cánh hữu, trong khi Chính quyền Đức chưa kịp mở cửa biên giới để nhận thêm nạn dân ứ đọng tại các trại tạm trú của Hung.

Vì thế, khi thương thuyết việc phân bố hay nhận “hạn ngạch” (định mức di dân) do Liên Âu quyết định, mỗi chính quyền lại cân nhắc lợi hại chính trị trong nội bộ, và đối chiếu với yêu cầu hội nhập và tinh thần liên đới của Âu Châu. Vốn dĩ đã có quá nhiều dị biệt về thực tế kinh tế và lập trường chính trị, Liên Âu lại bị thêm một sức ly tâm mới.

Nhìn về dài, “định mệnh” của một quốc gia là cơ cấu dân số hay nhân khẩu cũng có nhiều khác biệt.

Thí dụ như có nền kinh tế mạnh nhất và tinh thần rộng lượng nhất với nạn dân nên đã quyết định đón nhận 800 ngàn người một năm, nước Đức là một nạn nhân của nạn lão hóa dân số. Theo dự phóng của Liên Âu, từ năm 2020 đến 2060, dân số Đức sẽ mất 10 triệu người. Và “tỷ số lệ thuộc” của thành phần cao niên sống nhờ hưu bổng và trợ cấp y tế do lực lượng lao động (ở tuổi 15-64) tạo ra lại từ 36% trong hiện tại tăng đến mức 59%, cao nhất của Âu Châu. Nhìn cách khác, lực lượng lao động tại Đức sẽ mất một phần tư. Bài toán ngân sách của đệ nhất cường quốc kinh tế Âu Châu là thiếu tiền. Người đi làm ít hơn mà phải gánh vác một loại chi phí chỉ có tăng chứ khó giảm (sống lâu hơn và càng lớn tuổi thì càng lắm bệnh!)

Vì lẽ đó, Đức mới hào phóng với di dân: để nhập cảng sức lao động. Hai năm trước, Đức còn có luật lệ quy định rằng một nạn dân chỉ được phép đi làm 12 tháng sau khi được nhập cư. Thời hạn này vừa được giảm xuống ba tháng. Thà như vậy còn hơn là gặp hiện tượng lao động chui và trốn thuế khá phổ biền trong thành phần di dân nhập lậu vào Mỹ!

Bên kia biển Bắc, Anh quốc (United Kingdom) thì bị tiếng ích kỷ vì có chủ trương hạn chế di dân.

Là quốc gia hải đảo đã chẳng ký Hiệp ước Schengen, nước Anh cũng đứng ngoài vòng tranh luận – dù bị đả kích – vì không gặp bài toán nhân khẩu như Đức. Anh quốc sẽ là nước đông dân nhất Âu Châu: từ 67 triệu vào năm 2020 dân số Anh sẽ lên tới 80 triệu vào năm 2060. Nhìn cách khác, tỷ lệ sinh sản tại Anh thuộc loại cao nhất Liên Âu: trung bình một phụ nữ đẻ được 1,9 trong quãng đời sinh sản của mình. Nhờ các bà lạc quan yêu đời như vậy, tỷ số lệ thuộc tại Anh sẽ chỉ tăng từ 30% đến 43% trong khoảng thời gian dự phóng của Liên Âu (2020-2060).

Cho nên sự chuyển động chậm rãi của dân số trong trường kỳ có thể giải thích nhiều khác biệt về đối sách với di dân.

Nhưng trước mắt thì vụ khủng hoảng đang gây nhiều thách đố cho Liên Âu. Các nước nghèo, hoặc lâm nạn như mấy quốc gia miền Nam, thì không đủ công quỹ giải tỏa sức ép của làn sóng nạn dân. Họ cần tiền. Nhiều nước khác, giàu như Bắc Âu hoặc nghèo như Nam Âu, thì hoài nghi chủ trương hội nhập loại di dân không muốn làm công dân và chẳng muốn tự hội nhập vào xã hội mới. Họ cũng sợ khủng bố Hồi giáo, là điều không phải là vô lý. Vì vậy, họ chỉ muốn cứu nạn dân theo Thiên Chúa giáo mà thôi.

Các nước Đông Âu (nhìn theo trục Đông-Tây) hay Trung Âu (nhìn theo trục Nam-Bắc) thì có quan niệm khác. Sau khi xuất cảng dân công về phía Tây từ đợt sóng trước, các quốc gia này, như Ba Lan, Romania và Bulgaria, lại cần di dân vì cuộc sống cải thiện cũng dẫn tới trào lưu ít đẻ con. Nhưng hậu quả chính trị của nỗ lực kinh tế là các quốc gia ấy trở thành “hành lang quá quan”. Họ phải nhận di dân từ các nước nghèo hơn mà lại mất dần thành phần có chuyên môn và sức lao động cho các nước giàu hơn ở phía Tây, hay thậm chí cho Hoa Kỳ. Khi đả kích các quốc gia này là vội quên việc các nước khác đã giúp họ khi Liên Xô tan rã, người ta chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề mà thôi.

* * *
Chúng ta thấy gì từ những vấn đề quá đỗi phức tạp như vậy?

Bản chất bài toán di dân thành rõ nét hơn từ vụ khủng hoảng hiện nay: không có giải đáp ổn thỏa để đảo ngược trào lưu dân số của Âu Châu: không muốn có con nữa. Mọi thử nghiệm cấp thời chỉ gây thêm phân hóa trong nội bộ Âu Châu sau này. Lý tưởng Âu Châu về một thế giới vô cương, không biên giới, thật ra chỉ phản ảnh nhu cầu thực tế về dân số của từng xã hội và đặt ra nhiều vấn đề khác.

Ngược lại, khi lạc quan ca tụng giá trị đạo đức của mô hình Âu Châu vì thu nhận người Hồi giáo từ các quốc gia có lập trường chống Âu Châu, Thiên Chúa giáo hay nguyên tắc dân chủ thì ta cũng nên hỏi rằng những người Hồi giáo ấy có muốn là dân Âu Châu không? Hay chỉ muốn có một đất tạm dung mà họ không cho là quê hương vì nhiều người còn nín thinh khi trong cộng đồng của họ có những kẻ mưu đồ việc khủng bố để làm sáng danh Thượng Đế. Trong làn sóng nạn dân từ Syria, chúng ta thấy vắng bóng các giáo sĩ của đạo Hồi. Tại sao vậy?

Thế giới đa đoan!

Món quà của người đàn bà bán ve chai

Món quà của người đàn bà bán ve chai

Người đàn bà bán ve chai vô danh ấy, có lẽ chẳng bao giờ hình dung ra những con số dài dằng dặc để ghi lại số tiền đã hóa hơi trong những đại án tham nhũng đang làm nghèo đất nước. Càng không bao giờ biết đến chuyện, để chạy chức và chạy án, các quan chức ngày nay xách đến nhà nhau hàng vali tiền mà người nghèo có đếm cả đời cũng không hết.

Tôi cứ nghĩ mãi về một bức ảnh được lan truyền trên mạng xã hội facebook mấy ngày nay khiến cộng đồng mạng xôn xao, xúc động. Bức ảnh chụp một người đàn bà với khuôn mặt đen sạm, nghèo khổ, trước mặt chị là một bao gạo và chai dầu ăn.

Bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội Facebook.

Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13/01/2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, Phường 16, Quận 11 (TP.HCM). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Biết được câu chuyện này, chẳng phải chúng ta đang cảm thấy trái tim mình ấm áp, tâm hồn mình thư thái và hạnh phúc hay sao? Bởi người đàn bà bán ve chai ấy, chẳng ai biết tên chị là gì, giờ đang tá túc ở đâu, nhưng hành động của chị đã cho chúng ta có thêm niềm tin, rằng những người tốt và những tấm lòng cao cả ở đời còn nhiều lắm. Họ là con người đúng nghĩa với những điều tốt đẹp nhất của danh từ này.

Tôi tin những người như chị, nếu làm người bán hàng sẽ không bao giờ gian tham dối trá hay bớt xén của ai một đồng một hào nào. Nếu làm người công nhân, sẽ có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình. Nếu làm một công chức, sẽ cống hiến tận tâm cho xã hội.

Một cộng đồng muốn tốt đẹp thì không thể không dựa vào từng cá nhân tốt đẹp, một cái cây muốn tươi tốt, bền chắc thì phải có bộ rễ khỏe mạnh. Đạo đức là gốc rễ của mọi vấn đề. Tiếc là ngày nay, xã hội vì quá coi trọng đồng tiền nên đã xem thường nó, coi rẻ nó, khiến cho mọi thứ lộn xộn, đảo điên.

Chị chỉ quanh quẩn sáng tối với cái vỏ chai, mảnh giấy vụn. Hạnh phúc của chị chỉ là sau một năm làm ăn cần mẫn, mua được bao gạo, chai dầu đến cảm ơn quán cơm đã cứu đói chị và san sẻ tình thương cho những người đồng cảnh ngộ. Nhưng cuộc đời của chị, thanh sạch và đáng kính trọng biết bao nhiêu.

Những bài học lý thuyết về đạo đức, tình người sẽ không bao giờ khiến chúng ta thấm thía bằng hành động của người đàn bà bán ve chai ấy.

Cầu mong cho những tấm lòng cao cả ấy sẽ được tiếp nối, sẽ lan rộng ra để duy trì sự tốt đẹp và làm sáng thêm hai chữ “đạo nghĩa” trong đời sống này.

Tưởng nhớ người mang 219 cô nhi ra khỏi Sài Gòn

Tưởng nhớ người mang 219 cô nhi ra khỏi Sài Gòn

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-09-03

09032015-betty-tisdale-A.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hàng trăm người Việt đã đón mừng bà Betty Tisdale tại phòng sinh hoạt của nhật báo Người Việt ở Westminster chiều 30 tháng Tư năm 2010.

Hàng trăm người Việt đã đón mừng bà Betty Tisdale tại phòng sinh hoạt của nhật báo Người Việt ở Westminster chiều 30 tháng Tư năm 2010.

Photo courtesy Namvietnews

Tưởng nhớ người mang 219 cô nhi ra khỏi Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư 1975

Đó là bản tin buổi chiều trên đài truyền hình Hoa Kỳ, nói về bà Betty Tisdale, vừa qua đời ngày 19 tháng Tám năm 2015, hưởng thọ 92 tuổi.

Trong cuộc chiến Việt Nam, bà Betty Tisdale đã cố vận động bằng mọi cách để mang cho được 219 trẻ mồ côi từ cô nhi viện An Lạc ra khỏi Việt Nam trong những giờ phút hấp hối sau cùng của Sài Gòn.

Từ mối duyên nợ gắn bó với cô nhi Việt Nam, điển hình là 5 em gái mồ côi bà nhận làm con nuôi từ năm 1970, trở về Hoa Kỳ bà Betty Tisdale đã sáng lập tổ chức H.A.L.O Helping And Loving Orphans, Giúp Đỡ Và Yêu Thương Trẻ Mồi Côi.

Đó là cách sống của tôi. Bạn phải nghĩ đến kết quả sau cùng của việc bạn đang làm, hãy thực hiện điều gì đó khiến cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn…

Khi loan báo về cái chết của bà Betty Tisdale hôm 19 tháng Tám, bản tin của đài truyền hình tôn vinh bà là một phụ nữ can trường đã cứu vớt biến đổi thật tốt đẹp bao nhiêu cuộc đời bơ vơ non trẻ trên thế giới.

Câu chuyện bà Betty Tisdale và trẻ mồi côi Việt ở cô nhi viện An Lạc sống lại trong trí nhớ người di tản khi bà, năm đó 87 tuổi, xuất hiện trong một buổi tri ân do nhật báo Người Việt tổ chức ở California chiều 30 tháng Tư năm 2010:

Đó là cách sống của tôi. Bạn phải nghĩ đến kết quả sau cùng của việc bạn đang làm, hãy thực hiện điều gì đó khiến cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn…

Bà Betty Tisdale gặp cộng đồng người Việt

Khoảng 300 người đã đến phòng sinh hoạt của nhật báo Người Việt để gặp gỡ và cảm ơn bà Betty Tisdale mà câu chuyện của bà đăng trên báo người Việt khiến mọi người cảm kích, thán phục.

Tại sao phải đến những 35 năm người Việt ở Hoa Kỳ mới gặp người phụ nữ Mỹ có tấm lòng nhân hậu đối với trẻ mồ côi Việt Nam này. Chủ bút Phạm Phú Thiện Giao của báo người Việt giải thích rằng câu chuyện bà Betty Tisdale thì truyền thông Hoa Kỳ nói rất nhiều mà người Việt thế hệ lớn tuổi cũng biết nhưng trước giờ chưa có một cuộc gặp gỡ nào giữa bà Betty Tisdale với cộng đồng Việt Nam cả:

Một lần, một cô nhi ngày xưa bây giờ đã 35 tuổi tên Vũ Tiến Kinh hiện đang sống ở miền Đông Hoa Kỳ, về lại bệnh viên UCLA để tìm lại người bác sĩ đã cứu mình 35 năm trước. Vũ Tiến Kinh là một trong 219 cô nhi được bà Betty Tisdale đưa sang Hoa Kỳ năm 1975.

Tiếp đó, nhật báo Người Việt đưa tin về buổi gặp gỡ giữa Vũ Tiến Kinh và vị bác sĩ ân nhân đã chăm sóc, cứu sống anh khi anh được bốc qua Hoa Kỳ lúc 4 tháng tuổi:

Và chúng tôi tự hỏi như vậy thì người đưa Vũ Tiến Kinh qua đây là ai. Qua tìm hiểu thì chúng rôi biết đó là bà Betty Tisdale, chúng tôi gởi phóng viên qua tận nhà của bà ở Seattle, Washington, để viết lại những gì đã xảy ra 35 năm trước. Có nhiều người khi đọc về câu chuyện của bà Betty Tisdale thì mới hỏi thêm rất nhiều câu hỏi mà chúng tôi không thể trả lời được nên chúng tôi nghĩ rằng tốt nhất là nên tổ chức một cuộc gặp gỡ với cộng đồng. Đây là cuộc gặp gỡ tại báo người Việt nhưng ban tổ chức gồm nhiều cơ quan truyền thông khác như TV, báo, đài phát thanh Việt ngữ ở Quận Cam.

Cùng đi với bà Betty Tisdale khi đó là cô Liên, một trong 5 em bé mồ côi của cô nhi viện An Lạc, được bà nhận làm con nuôi từ năm 1970, cùng với anh Vũ Tiến Kinh là người đã dẫn đến với câu chuyện Betty Tisdale bốc trẻ mồ côi Việt sang Mỹ

Thật lạ, tôi cũng nghĩ tôi gắn bó với Việt Nam và người Việt biết chừng nào. Những việc tôi đã làm cho trẻ mồi côi Việt Nam, tình cảm và sự khâm phục của tôi đối với bà Vũ Thị Ngải, người sáng lập và giám đốc cô nhi viện An Lạc,có thể chứng tỏ điều đó.

Kể lại những giây phút khó khăn mà có lúc tưởng chừng như bế tắc khi cố vận động với Cơ Quan Di Trú Hoa Kỳ cũng như với chính phủ miền Nam lúc đó hầu có thể đưa một lúc 400 em mồ côi và bà Vũ Thị Ngải, người mà bà Betty Tisdale gọi là bà mẹ nhân ái của trẻ mồi côi ở cô nhi viện An Lạc.

Tiếc thay, bà Betty Tisdale kể tiếp lúc ấy chỉ mang được 219 em sơ sinh và dưới 10 tuổi thay vì hết cả 400 như dự tính.

Ngày 12 tháng Tư 1975, chiếc phi cơ vận tải quân sự chở 219 cô nhi Việt Nam phải đáp khẩn cấp xuống phi trường Los Angeles vì một số em nhỏ quá yếu không thể bay tiếp đến Fort Benning ở Georgia là nơi mà bà Betty Tisdale muốn đưa hết về đó để tìm cha mẹ nuôi cho các em.

Bà Betty Tisdale

Bà Betty Tisdale

Một trong những bé được đưa ra khỏi máy bay lúc ấy, thẳng đến bệnh viện UCLA, chính là Vũ Tiến Kinh mà bây giờ đã lớn và trở thành một giáo viên:

Tôi luôn nhớ ơn và coi bà như một bà mẹ đã ôm tôi trong tay, mang tôi đến một cuộc đời mới 35 năm về trước, khi mà tôi chưa đủ trí khôn để cảm nhận điều gì xảy ra.

Cách đây mấy tuần tôi đi dự một buổi họp mặt của khoảng 60 đứa trẻ An Lạc tôi mang qua Hoa Kỳ mà nay đều đã lớn. Những đứa con ấy gần như không biết gì về Việt Nam, chúng không nói được tiếng Việt trong lúc tôi biết chúng là người Việt

bà Betty Tisdale

Trước một cử tọa đang xúc động lắng nghe từng lời kể của mình, bà Betty Tisdale Tisdale luôn miệng nhắc nhở Madame Ngải, tức bà Vũ Thị Ngải, giám đốc viện mồ côi An Lạc, đã phải ở lại cùng những em nhỏ không đi được.

Bà nói như tâm sự:

Cách đây mấy tuần tôi đi dự một buổi họp mặt của khoảng 60 đứa trẻ An Lạc tôi mang qua Hoa Kỳ mà nay đều đã lớn. Những đứa con ấy gần như không biết gì về Việt Nam, chúng không nói được tiếng Việt trong lúc tôi biết chúng là người Việt

Và rồi bổng dưng như hôm nay, nhờ cuộc gặp gỡ này, bản thân tôi bỗng nhận ra có một cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ biết về tôi và rất gần với tôi mà bao lâu tôi không hề nghĩ tới.

Cuốn phim The Children Of An Lac

Năm 1980, câu chuyện 219 ở cô nhi viện An Lạc và bà Betty Tisdale, được quay thành phim với tựa đề The Children Of An Lac. Nữ nghệ sĩ Kiều Chinh, cũng có mặt trong buổi đón tiếp bà Betty Tisdale hồi 2010 ở phóng sinh hoạt báo Người Việt, nói về cuốn phim mà bà được mời giữ một vai trong đó:

Năm 1980 bà tài tử Ina Bailing, cũng là người đi tới đi lui giúp các trẻ mồ côi và chính bà cũng nuôi một số trẻ mồ côi, bà có viết một script để quay thành phim The Children Of An Lac, nói về cuộc đời bà Ngải và bà Betty Tisdale.

Lúc đó cả bà Ina Bailing lẫn nhà sản xuất là Jay Benson đề rất muốn vai bà Ngải phải là  Kiều Chinh đóng. Nhưng lúc đó Kiều Chinh hãy còn trẻ quá để đóng vai bà Ngải. Bà Ngải thì dáng người nhỏ thấp hơn Kiều Chinh, vì thế sau này họ mời một tài tử Tàu, bà Beulah Ko, đóng vai bà Ngãi, còn Kiều Chinh thì đóng vai người phụ tá của bà Ngải tức là bà Thục. Ngoài ra Kiều Chinh còn đóng một vai trò khác phia sau máy quay phim, tức là người cố vấn về kỹ thuật . The Children Of An Lac sau nay trở thành một cuốn phim mà các trường tiểu học thường chiếu cho trẻ em coi.

Hôm nay Kiều Chính tới đây mục đích để gặp những nhân vậy thật trong chuyện mà mình có cơ duyên đóng về cuộc đời của họ. Điều thứ hai mình cũng tới để cám ơn ân nhân của một số các em đã được họ trông nom bảo trợ.

Tại buổi gặp gỡ và tri ân bà Betty Tisdale ở nhật báo Người Việt 5 năm về trước, rất nhiều người đã xếp hàng để tặng hoa và nói lời cảm tạ đến bà Betty Tisdale. Nhiều người còn tự động đóng góp vào ngân quĩ của H.A.L.O Help And Love Orphans do bà sáng lập để giúp vào công việc thiện nguyện đầy ý nghĩa của bà .

Chị Trâm Anh, mong muốn được ngỏ lời chào ân nhân của những trẻ mồ côi An Lạc ngày trước, bày tỏ:

Tôi cảm kích khi thấy một người đàn bà Mỹ nhỏ thó, trông có vẻ bình thường nhưng đã làm một việc đối với tôi quá sức phi thường.

Cả đời bà giúp và cứu được 219 em mồ côi sang Mỹ, tất cả các em đã thanh tài và thành nhân. Trong buổi này một câu bà nói tôi nhớ nhất là cả đời bà tất cả cho Việt Nam. Khi bà nói như vậy thì tôi nghĩ bà nói tới những trẻ mồ côi bất hạnh bên Việt Nam. Bên nước mình bây giờ trẻ mồ côi rất đông, cho nên đến giờ này đã 87 tuổi bà vẫn tiếp tục công việc từ thiện, đến những vùng sâu vùng xa để giúp để giúp các em đó. Tôi rất hoan nghênh bào người Việt đã tổ chức buổi họp hôm nay.

Thời gian và sự sống không dành đặc quyền cho bất cứ ai, những người tốt lành cả đời như bà Betty Tisdale rồi cũng đến lúc xuôi tay nhắm mắt trong nỗi tiếc thương của 5 con nuôi Việt Nam của bà.

Có thể nỗi ưu tư mà bà Betty Tisdale mang theo về bên kia thế giới, là những trẻ Việt Nam vì sang Mỹ lúc còn quá nhỏ và không hiểu biết gì về cội nguồn của mình khi lớn lên, sẽ tan biến đi nếu bà có thể nghe lại cảm nghĩ của anh Vũ Tiến Kinh rằng

Bây giờ niềm hạnh phúc là khi bước xuống thành phố Westminster, nơi có nhiều người Việt như mình, chấp nhận mình dù như còn phải học hỏi rất nhiều nữa về cội nguồn của mình.

Hoặc là cảm nghĩ của cô con gái tên Liên mà bà nhận nuôi khi còn ở Việt Nam năm 1970, không ngần ngại thú nhận chừng như cô quá bị Mỹ hóa, không bận tâm đến nguồn gốc và có lúc đã không thỏa hiệp được với bản thân rằng cô là một đứa bé mồ côi người Việt:

Thế nhưng khi cùng mẹ bước ra khỏi máy bay và được ân cần đón tiếp, tôi chợt thấy xúc động vì tình cảm họ dành cho mẹ tôi.

Thật khó diễn tả cảm xúc trong lần đầu gặp gỡ với cộng đồng người Việt, cô Liên nói, vì đã quá nhiều lần cô không chịu nhận mình là Việt Nam dù trong thâm tâm cô vẫn nghĩ không nên nuôi cảm giác như thế. Càng nói chuyện thì càng thấy gần gũi hơn, nhất là sau buổi ăn tối với một số người trong cộng đồng thì cô nghĩ:

Tôi mới tìm thấy một cái gì đó hoặc vừa tìm về một nơi nào đó mà có thể gọi là nhà, tiếng nhà đích thực tôi chưa bao giờ biết đến trước kia.

Thanh Trúc tạm chấm dứt chuyện kể về bà Betty Tisdale và những trẻ em mồ côi An Lạc ở phút này. Hẹn các bạn trong chương trình kỳ tới.

Aylan Kurdi ơi: Em đã chết cho mọi người được sống!

Aylan Kurdi ơi: Em đã chết cho mọi người được sống!

Nguoi-viet.com

Nam Lộc

Hình ảnh của em bé thuyền nhân tỵ nạn Syrian 3 tuổi tên là Aylan Kurdi nằm gục mặt chết trên bãi cát khi xác của em trôi dạt vào bờ biển Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ tuần qua đã làm thức tỉnh lương tâm nhân loại trong lúc các con đường dẫn những người phải bỏ nước ra đi vì chế độ độc tài và diệt chủng để tìm đến một nơi an toàn tại các quốc gia Âu Châu lánh nạn đã bị chặn lại và cánh cửa nhân đạo hầu như đều khép kín.


Một nghệ sĩ Ấn Ðộ làm mô hình cát em bé người Syria bị chết trôi dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. (Hình minh họa: Asit Kumar/AFP/Getty Images)

Aylan đã chết đuối cùng với người anh lớn hơn em 2 tuổi và người mẹ của mình cùng hàng chục người khác khi chiếc xuồng của họ bị chìm đắm trên vùng biển Bắc Ðại Tây Dương. Hoàn cảnh của hàng trăm ngàn người tỵ nạn từ các nước Iraq, Afghanistan và đặc biệt là từ Syria tràn vào Âu Châu bằng đường bộ hay bằng đường thuyền cùng với sự xua đuổi của những người lính Hung Gia Lợi trong tuần qua đã gợi lại cho đồng bào tỵ nạn Việt Nam chúng ta cơn ác mộng vượt biên 30 năm về trước. Âm thanh của bài hát Xác Em Nay Ở Phương Nào hoặc câu “tự do ơi, tự do, em đổi bằng thân xác…” bỗng dưng vọng lại bên tai như những Lời Kinh Ðêm quen thuộc mà thuyền nhân đã cầu nguyện thuở nào! Thì ra người Việt chúng ta đã trải qua những nỗi gian truân đó từ lâu, khủng khiếp hơn, khổ đau hơn và bất hạnh hơn. Chỉ khác là vào thời điểm đó phương tiện truyền thông chưa phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng như hiện nay để thế giới biết rằng có đến gần nửa triệu người VN đã chết trên biển Ðông như số phận cùng hoàn cảnh của cậu bé Aylan.

Nhưng cũng chính vì sự tiến bộ kỹ thuật bây giờ mà hình ảnh của cậu bé Aylan chết tức tưởi, oan khiên trên biển cả, đã như một phép lạ từ từ mở rộng những cánh cửa đã bị loài người ích kỷ khóa lại từ suốt gần một tuần qua. Chính phủ Hung Gia Lợi đã phải làm những hành động tối thiểu, dù không tiếp nhận, nhưng cũng đã cung cấp xe bus để đưa người tỵ nạn đến biên giới của những quốc gia nhân đạo hơn, Phần Lan đã mở rộng cánh tay, Ðức đã quyết định tiếp nhận và sẵn sàng cung cấp công ăn, việc làm cho hàng trăm ngàn người tỵ nạn, sau đó là Áo, Anh, Bỉ, Pháp, v.v… và dĩ nhiên là cả Hoa Kỳ, đất nước được xem là có một trách nhiệm lớn trong cuộc khủng hoảng ở Trung Ðông, đặc biệt là chính sách bị nhiều người chỉ trích là “bất nhất” của chính phủ Obama từ suốt 3 năm qua về vấn đề Syria cùng nhà lãnh đạo độc tài và tham quyền, cố vị: Bashar ai-Assad.

Nhưng tình hình đã có phần nào thay đổi theo chiều hướng tích cực trong mấy ngày qua, phải chăng nỗi bất hạnh của Aylan Kurdi cùng gia đình em đã được đổi lại bằng sự may mắn và hạnh phúc của hàng trăm ngàn nạn nhân của bọn độc tài, khủng bố, đã quyết định vượt biên và có thể cũng sẽ là niềm hy vọng cho hàng triệu người khác đang sống nhục nhằn trong các trại tỵ nạn ở Lebanese, tại Thổ Nhĩ Kỳ hay ngay tại đất nước Syria hiện nay? Các nhà lãnh đạo ở trên thế giới kể cả tay cựu trùm KGB, Vladimir Putin, đang là tổng thống nước Nga dù cứng đầu đến đâu cũng phải quyết định ngồi xuống để tìm ra một giải pháp hầu giải quyết cơn khủng hoảng trầm trọng này hầu cho người dân Syria có một cuộc sống ổn định ngay trên quê hương của họ thay vì phải mang đời lưu vong. Và nếu đúng như vậy thì Aylan Kurdi ơi, em đã chết cho mọi người được sống!

Nhìn hình ảnh bé Aylan nằm chết như mơ, như thiên thần đang gục đầu ngủ yên trên bãi cát, nó cũng thảm thương như thân phận của những đứa trẻ VN bất hạnh thuở nào, lòng tôi trùng xuống một nỗi buồn vô hạn. Trước đó một tuần, khi xem được đoạn phim chiếu cảnh người đàn ông Syrian gò lưng đi bán từng cây bút nắp xanh để kiếm được miếng ăn cho đứa con gái nằm ngủ trên vai trong cơn nóng thiêu đốt trên đường phố ở Beirut, bỗng dưng tôi nhớ lại tình cảnh của hơn 2000 “Người Việt Còn Lại” ở Phi Luật Tân vào những năm đầu thập niên 2000, những người đã bị thế giới lãng quên qua gần 20 năm trời khổ hạnh với mẫu “căn cước” được đóng dấu là dân “vô tổ quốc” (Stateless)! Và ở đó, tôi cũng đã thấy hình ảnh người đàn ông tỵ nạn VN cõng trên vai đứa con gái chưa đầy 2 tuổi trong cơn nóng thiêu đốt ở Palawan để bán từng đôi dép cho những người dân làng hầu may ra mua được cho con mình một khúc bánh mì hay một bình sữa lạnh!

Tiếng reo của chuông điện thoại làm tôi tỉnh lại, sờ lên mắt, không biết là mình đã khóc từ lúc nào, và tự nhủ lòng, có lẽ mình sẽ phải làm một điều gì để cùng đồng hương chúng ta xoa dịu được một phần nào vết thương đang nhỏ máu của nhân loại dù chỉ là một điều nhỏ nhoi như hạt cát trong sa mạc.

Bên kia đầu dây là giọng nói của một người bạn trẻ tên là James ở Toronto, Canada, em ngỏ ý muốn mời tôi làm MC cho một buổi “sinh hoạt” tại đây, sau khi thỏa thuận thù lao xong, tôi hỏi em về nội dung chương trình, lúc đó James mới cho biết mục đích của ngày sinh hoạt này là để phát động chiến dịch gây quỹ cho dự án có tên là “Lifeline Syria Project” ngõ hầu tìm phương tiện để bảo trợ cho các gia đình người tỵ nạn Syrian đang phải đối phó với những nỗi khốn cùng trên đường tìm tự do! Lòng tôi chợt bùng sáng lên như một kẻ đang đói khát được người ta ban phát cho một khúc bánh mì cùng ly nước lạnh! Tôi hân hoan nói với James, em ơi, tôi sẵn sàng nhận lời tham dự và xin phép cho tôi được đóng góp toàn bộ số tiền thù lao của tôi vào buổi gây quỹ trong ngày hôm đó để tiếp tay với ban tổ chức. James thoạt đầu hơi ngạc nhiên và ngần ngại, nhưng sau đôi lời trao đổi em đã hiểu lòng tôi và vui vẻ đồng ý. Tuy nhiên khi James đề cập đến thời điểm của buổi tổ chức sẽ rơi vào một ngày cuối tuần trong Tháng Mười sắp tới thì tôi vô cùng lo lắng và hơi thất vọng, vì lịch trình diễn đã đầy ắp, không còn rảnh một weekend nào trong Tháng Mười cả, đấy là chưa kể đến chuyến đi Úc Châu kéo dài hơn một tuần lễ vào giữa Tháng Mười, 2015! Nhưng khi mở lịch ra xem, thì tôi thấy còn trống một ngày Thứ Bẩy duy nhất đó là October 3rd, nhưng đã dự định mua vé để bay sang Washington DC cho một event khác diễn ra vào buổi trưa Chủ Nhật October 4th. Và như một “phép lạ,” James cho tôi biết, vì tính cách cấp bách của sự việc cho nên BTC đã quyết định tổ chức vào ngày Thứ Bảy, mùng 3 Tháng Mười, 2015. Nghe em nói lòng tôi như mở hội, như vậy thì xem như “giấc mơ” ấp ủ “được làm một điều gì để cùng đồng hương chúng ta xoa dịu phần nào vết thương đang nhỏ máu của nhân loại” đã thành sự thật. Hai anh em chúng tôi cùng vui, và sau khi James email cho tôi thêm chi tiết cùng tấm ảnh chúng tôi chụp chung với nhau trong lần tiếp đón và bảo trợ những người Việt tỵ nạn cuối cùng từ Thái Lan đến Vancouver vài tháng trước đây, tôi mới biết đó là James Nguyễn, cựu chủ tịch Hội Người Việt Toronto, và buổi gây quỹ lần này sẽ phối hợp cùng tổ chức VOICE Canada và một số cơ quan, đoàn thể người Việt tại đất nước giầu lòng nhân đạo này. VOICE Canada cũng không xa lạ gì với tôi, vì ngoài nỗ lực tranh đấu, vận động cũng như định cư những người Việt tỵ nạn muộn màng, vào Tháng Tư 2015 vừa qua, họ còn gây quỹ được $100 ngàn để tiếp tay cho Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh VNCH và Quả Phụ Tử Sĩ do bà Hạnh Nhơn làm chủ tịch.

Tôi tin rằng điều may mắn được góp mặt cùng “Lifeline Syria Project” lần này là do sự sắp đặt của Thượng Ðế như một “ơn gọi” của Bề Trên, của Trời Phật dù lời cầu xin của tôi chỉ mới là những tiếng nhủ thầm trong bụng. Tôi đem chuyện này chia sẻ với các gia đình tỵ nạn VN từ Palawan, Phi Luật Tân, những người cũng đã từng bị thế giời lãng quên. Họ đang tổ chức ngày “Tri Ân và Hội Ngộ” để kỷ niệm 10 năm định cư, đồng thời để cảm tạ những người đã giúp họ được làm lại cuộc đời nơi đất khách. Trong đêm họp mặt gọi là “tiền hội ngộ,” Thứ Bảy, mùng 5 Tháng Chín, 2015 vừa qua, sau khi nghe tôi trình bày có người đã rơi nước mắt, hồi tưởng lại thân phận mình và so sánh với hoàn cảnh của người tỵ nạn Syrian cùng thân xác của vị “Thánh Tí Hon” tên là Aylan Kurdi, đã hy sinh cuộc đời để cho đồng bào mình được cứu sống! Và kết quả là trong đêm họp mặt ngày hôm sau, mùng 6 Tháng Chín, trước sự hiện diện của các quan khách cùng ân nhân Việt, Mỹ và đặc biệt là đại diện của chính phủ Phi Luật Tân, quốc gia duy nhất đã không trục xuất thuyền nhân VN. Luật Sư Trịnh Hội đã đại diện các gia đình tỵ nạn VN từ Palawan chính thức loan báo rằng những thuyền nhân người Việt muộn màng này sẽ bảo lãnh 4 gia đình người tỵ nạn Syrian, và họ nhờ tôi liên lạc với các cơ quan thiện nguyện để bắt đầu thủ tục định cư tại thành phố Houston. Anh Trung Ðình Nguyễn, trưởng ban tổ chức đã cho các ân nhân và quan khách Việt, Mỹ cũng như Phi Luật Tân hiện diện trong ngày hôm đó biết rằng: “Cách duy nhất mà chúng tôi có thể làm được bây giờ để trả ơn quý vị là đưa tay ra để cứu giúp những người bất hạnh khác, như quý vị đã cứu giúp chúng tôi”! Thật là một hành động dấn thân mang đầy ý nghĩa.

Nhân đây chúng tôi cũng xin cám ơn quý vị đồng hương ở khắp mọi nơi đã đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi để đóng góp vào quỹ “Thank You America” của cơ quan thiện nguyện USCC hầu giúp đỡ và tiếp tay cho tổ chức đã từng bảo trợ chúng ta để định cư những người tỵ nạn Syrian bất hạnh nói trên. Tính đến cuối Tháng Bảy, 2015, sau 4 tháng phát động, hội USCCLA cho biết là họ đã nhận được khoảng 60 ngàn dollars từ cộng đồng người Việt, và cơ quan này cũng đã gởi thơ cám ơn đến từng quý vị ân nhân đã đóng góp.

Qua nghĩa cử cao đẹp trước hết là của “Lifeline Syrian Project” ở Toronto, Canada, theo sau là anh chị em trong nhóm “Người Việt Còn Lại” tại Houston, Texas, chúng tôi mong mỏi sẽ có những tổ chức hoặc các hội đoàn hay cá nhân ở những địa phương khác cũng sẽ tiếp tay đóng góp, đón nhận hoặc bảo trợ các gia đình tỵ nạn đang sống vất vưởng tại các trại tỵ nạn ở nhiều nơi trên thế giới. Nếu muốn tìm hiểu thêm chi tiết hoặc tin tức, xin quý vị cứ email về địa chỉ của chúng tôi là: namloc@sbtn.tv

Đại Hội Đảng: Tranh Quyền

Đại Hội Đảng: Tranh Quyền

Việt Báo

Trần Khải

10-9-2015

Những gì đang diễn tiến ở Ba Đình đều là bí mật. Đối với dân chúng: Đó là một trận đô vật trong đêm, được tắt hết đèn đuốc. Nơi đó, có những ông tướng công an như dường bị bóp mũi chết trong đêm: như Tướng Công An Phạm Quý Ngọ… Nơi đó, tình tiền tù tội đều có liên hệ bí ẩn. Nơi đó, một Nguyễn Bá Thanh đã “chuyển sang từ trần” và một Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh lùi vào bóng tối.

Bây giờ, câu hỏi ai sẽ lên nắm chức Tổng Bí Thư CSVN sắp tới? Nguyễn Tấn Dũng được xem như thân Mỹ? Hay sẽ là một ai xuất hiện, sau khi Tập Cận Bình tới thăm VN vào tháng 10 hay 11 tới? Chúng ta sẽ tổng hợp các thông tin sau để may ra, suy đoán xem trong sàn đô vật giữa đêm đó, ai có dư sức trở thành bất bại trong đaị hội này.
Bản tin VOA ghi nhận:

“Bộ Chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đang bị chia rẽ sâu sắc và chưa đạt được đồng thuận về một số vấn đề, trong đó có biển Đông, quan hệ với Trung Quốc cũng như việc lựa chọn ban lãnh đạo tương lai, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam nhận định.

Giáo sư Carl Thayer nói thêm từ Australia rằng việc bất đồng như vậy có thể dẫn tới việc hoãn Đại hội 12 và dời sang một ngày khác muộn hơn.

Việt Nam tổ chức Đại hội đảng 5 năm một lần, và đại hội lần thứ 12 dự kiến sẽ diễn ra vào đầu năm 2016, nhưng ngày giờ cụ thể tới nay vẫn chưa được công bố.

Theo giáo sư kỳ cựu, chuyên nghiên cứu về Việt Nam, việc chuẩn bị cho đại hội quan trọng lần này nhằm bầu chọn đội ngũ lãnh đạo mới cho Việt Nam đã diễn ra “rất thầm lặng so với 8 đại hội trước đó tính từ khi thống nhất đất nước”.

Về các động thái đó, giáo sư Carl Thayer nhận định: “Điều gì giải thích cho các diễn biến, như sự chuẩn bị lặng lẽ một cách bất thường cho Đại hội Đảng, chậm trễ trong việc tổ chức hội nghị tiếp theo của Ban chấp hành Trung ương và việc hoãn công bố Sách trắng Quốc phòng? Lời giải thích khả dĩ nhất là sự chồng chéo của hai vấn đề gây tranh cãi – yếu tố Trung Quốc (Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình được cho là sẽ thăm Hà Nội vào tháng 10 hoặc tháng 11) và việc lựa chọn ban lãnh đạo mới của Việt Nam”…”(ngưng trích)

Trong khi đó, bản tin BBC nhắc tới lời bình luận của Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp, đang là nghiên cứu viên khách mời tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, trích:

“Về vấn đề chuyển đổi lãnh đạo, nếu Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng được bầu làm Tổng Bí thư mới của Đảng thì mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ có thể trải qua một bước tiến mới. Ông Dũng, người thường xuyên thể hiện mình như một nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa, đã nhiều lần công khai lên tiếng phản đối sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có tuyên bố nổi tiếng rằng Việt Nam sẽ không đánh đổi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước để lấy “hữu nghị viễn vông” [với Trung Quốc].

“Chương trình nghị sự tương đối tự do trong nước dưới sự lãnh đạo của ông Dũng cũng gần gũi với Washington hơn là Bắc Kinh. Hơn nữa, mối quan hệ cá nhân của các thành viên trong gia đình ông với phương Tây nói chung và với Mỹ nói riêng cũng có thể có ảnh hưởng tích cực lên cách nhìn của ông về Mỹ cũng như về mối quan hệ giữa Hà Nội với Washington…”(hết trích)

Thân Mỹ lộ như ông Dũng, rồi Tập Cận Bình sẽ nghĩ gì, tính gì, âm mưu gì?

Một bản tin trên Dân Làm Báo tựa đề “Vụ lô súng ‘khủng’ ở Tân Sơn Nhất: Chỉ thủ tướng mới được đưa vào Việt Nam” đã phân tích rằng:

“…vụ vận chuyển vũ khí lớn nhất từ trước đến nay, với số lượng lên đến 94 khẩu súng ngắn hiệu CZ P-07 – loại súng chuyên dụng cho các đội đặc nhiệm bảo vệ nguyên thủ quốc gia…”

Như thế, thực ra lô súng là của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bản tin này cũng cho 1 link tới tin Kyodo bằng Anh ngữ ngày 18-3-2007, cho biết tư dinh của Nguyễn Tấn Dũng tại Sài Gòn cũng từng bị cho nổ bom ngoaì cổng vào ngày 10 tháng 2-2007.

Nghĩa là, bắn trật thì chết, bắn chậm cũng chết… Ba Đình là thế.

Có vẻ như nô bộ Ba Đình chia rẽ lớn, khó hàn gắn… Thế cho nên, tác giả Nguyễn Quang Dy trong bài viết “Tranh giành Quyền lực và Hòa giải Dân tộc” trên mạng Viet-studies cảnh giác về tình hình chia rẽ có thể dẫn tới cơ nguy Bắc thuộc mới:

“…những gì đang diễn ra hiện nay có thể là “hệ quả không định trước” của lịch sử, và có thể được lặp lại. Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể làm gì đó để sắp xếp lại tương lai, để tránh lặp lại những sai lầm ngu ngốc.

Thứ ba, chúng ta không thể thoát khỏi nghiệp chướng đánh lộn lẫn nhau một cách cực đoan và bạo lực, để rồi trở thành nạn nhân của Bắc thuộc (nếu không xem lại lịch sử bất ổn để học bài học nghiêm túc). Chúng ta không thể lấy lại lòng tự hào và tử tế, đứng trên đôi chân của mình để xây dựng lại đất nước hùng mạnh và độc lập (nếu không hòa giải dân tộc).”

Trong khi đó, một bài khác cùng ở mạng này có ghi chú “Bài này do một độc giả gửi cho viet-studies. Viet-studies hoàn toàn không có khả năng kiểm chứng những thông tin trong bài, nhưng xin đăng để bạn đọc xem xét.”

Bài này tựa đề “Cuộc đấu đá ngầm đằng sau vụ nhà báo Đỗ Hùng bị tước thẻ” của tác giả Bích Minh, trong đó nêu ra rằng:

“Việc nhà báo Đỗ Hùng của báo Thanh Niên đột ngột bị cách chức, tước thẻ gây ồn ào những ngày qua thực tế là chỉ là bề nổi của cuộc chạy đua quyền lực nhắm tới kỳ Đại hội Đảng XII đang đến rất gần…”

Bài viết này nêu rằng: Thứ trưởng Bộ TTTT Trương Minh Tuấn muốn lên chức Bộ Trưởng, nên làm một màn chơi nổi, tước thẻ nhà báo của Đỗ Hùng bất kể có thể làm xấu mặt VN trong các cuộc thương thuyết về hiệp định thương mại TPP vì hình ảnh nhân quyền và tự do ngôn luận vi phạm thê thảm quá.

Đặc biệt, ông Thứ Trưởng cũng hứa rằng lột thẻ nhà báo chỉ là màn trình diễn, bài Bích?Minh viết:

“Nguồn tin cũng tiết lộ rằng Thứ trưởng Tuấn cũng có hứa hẹn với lãnh đạo Báo Thanh Niên rằng Đỗ Hùng sẽ được cấp lại thẻ trong thời gian sớm nhất. Điều này càng cho thấy quyết định xử lý thực ra không nhắm vào nhà báo Đỗ Hùng hay báo Thanh Niên mà chỉ nhằm “làm màu” cho người đã ban hành quyết định đó.”

Bài viết cũng cho biết rằng

Ông Trương Minh Tuấn (sinh năm 1960) đột nhiên nổi lên từ khoảng giữa năm 2014 như một hiện tượng “kinh hoàng” của báo giới Việt Nam sau một loạt các động thái khá mạnh tay nhắm vào báo chí ngay sau khi được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ TTTT (1/2004) phụ trách lĩnh vực báo chí.

Bài viết nói rằng riêng xử lý báo chí năm 2014 của Thứ trưởng Trương Minh Tuấn:

— Bộ này đã xử phạt vi phạm hành chính một số cơ quan báo chí, xuất bản, thông tin điện tử với tổng số tiền 2,522 tỷ đồng.

Riêng trong lĩnh vực báo chí có tổng số 68 trường hợp bị xử phạt với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng; xuất bản có 9 trường hợp với 166 triệu đồng; thông tin điện tử là 31 trường hợp với hơn 850 triệu đồng.

— Số lượt vi phạm hành chính của cơ quan báo chí trong năm 2014 bị xử lý tăng hơn gấp đôi so năm 2013 (năm 2013 có 27 lượt vi phạm, năm 2014 là 57 lượt vi phạm)…

— Ngoài việc phạt nặng, đã có một mạng xã hội bị thu hồi giấy phép vĩnh viễn, một tờ báo và một trang thông tin điện tử bị đình bản ba tháng, tịch thu bảy tên miền…

Tuấn là người thuộc phe của ai?

Bài viết nói:

“Trước đó ông Tuấn là Vụ trưởng, Trưởng cơ quan thường trực Ban Tuyên giáo TW tại Đà Nẵng và sau đó là Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo thuộc Ban Tuyên giáo TW.”

Có phải phe Nguyễn Bá Thanh? Không rõ, nhưng có vẻ như không cùng phe với Nguyễn Tấn Dũng.

Vì hiện nay có 3 người tranh ghế Bộ Trưởng TTTT:

“Các nguồn tin thân cận với Bộ TTTT cho biết chiếc ghế Bộ trưởng Bộ TTTT sẽ là cuộc cạnh tranh khốc liệt của 3 ứng cử viên gồm: Thứ trưởng Bộ TTTT Trương Minh Tuấn; Tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) Nguyễn Mạnh Hùng và Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) Trần Bình Minh.”

Đặc biệt, Trần Bình Minh đươc xem là thân với Nguyễn Tấn Dũng.

Bài viết kể:

“…ông Trần Bình Minh, Tổng Giám đốc VTV được cho là có quan hệ thân thiết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Trong vụ Đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga bị bắt giữ, khởi tố hồi 1/2015 đích thân ông Trần Bình Minh đã chỉ đạo các thuộc cấp của mình làm đậm vụ này một cách bất thường.

Theo những người am hiểu đó thực chất là một cách ông Minh tấn công gián tiếp Bí thư thành uỷ Phạm Quang Nghị, người bảo kê cho bà Châu Thị Thu Nga. Ông Phạm Quang Nghị được coi là ứng viên nặng ký cạnh tranh chiếc ghế Tổng Bí thư nhiệm kỳ tới với đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng….”

Nghĩa là, từ ghế Tổng Bí Thư, ghế Chủ Tịch Nước, ghế Thủ Tướng, cho tới ghế Bộ Trưởng… cũng đều đang sôi động chiến trường phi tiêu.

Không rõ bàn tay Tập Cận Bình sẽ thò tới thế nào…

SÀIGÒN ƠI, NẮNG VẪN CÓ CÒN VƯƠNG TRÊN ĐƯỜNG

SÀIGÒN ƠI, NẮNG VẪN CÓ CÒN VƯƠNG TRÊN ĐƯỜNG

( Bài hát “Vĩnh biệt Sàigòn” của Nam Lộc )

Trích EPHATA 658

Mấy hôm nay trời mưa nặng hạt, sáng mưa, trưa mưa và chiều cũng mưa, Sàigòn ướt dầm dề, ngập lụt khắp nơi. Trên mặt báo, các con đường ngập đầy nước, người ta dắt xe chết máy đi trong nước như đang bơi giữa những dòng sông. Những con phố, những khúc đường biến thành sông !

Sàigòn vẫn diện tích ấy, vẫn những con đường ấy, vẫn hệ thống tiêu thoát ấy, phải gánh trên mình gần 10 triệu dân, làm sao chịu nổi khi các hạ tầng kỹ thuật chỉ dành cho một thành phố 4 triệu dân. Mất thật rồi khi không còn những “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, những dòng kinh trong xanh uốn lượn, những khu phố nối tiếp mùi Ngọc Lan thơm nồng. Mất thật rồi những tà áo trắng tan trường ngây thơ của một thời “Hoàng Thị”, không còn tiếng cười khúc khích của học trò dàn hàng ngang xe đạp, mất cả quán cà phê thân quen đậm chất sương mờ của buổi sáng Sàigòn tinh khôi.

Có những người đã dũ áo bỏ Sàigòn ra đi vào những ngày tháng mệt mỏi, buồn phiền. Thập niêm 80, lịch sử Sàigòn được ghi nhận tràn ngập kinh hoàng của những chuyến vượt biên, những cuộc chia tay không bao giờ nghĩ có ngày gặp lại, những cuộc tình đành tan vỡ vì những chọn lựa sinh tử cuộc đời. Sàigòn ngày ấy âm thầm gánh chịu nhiều đau khổ là vậy. Quyết định tập trung cải tạo xé nát hàng trăm ngàn gia đình, dở dang hàng chục ngàn tình nghĩa, bơ vơ hàng triệu trẻ thơ. Cũng vẫn rất lặng thinh, Sàigòn chứng kiến những cuộc chia tay âm thầm thật kín đáo, kẻ ở lại, người ra đi đến bến bờ xa xăm nào đó đầy rủi ro bất trắc, họ vẫn đi. Biển cả, nguồn sinh lực sự sống bỗng dưng trở nên hung thần, và trở thành biểu tượng của chia ly, những cụm mây lòa xòa trên đầu núi không còn là những bài thơ gởi gắm của thời mộng mơ nữa.

Những năm gần đây, rất nhiều bài báo, rất nhiều ký sự ghi lại những khó khăn, những khổ ải, những mất mát của những người vượt biên, kể cả đường biển và đường bộ, những đau khổ ấy khó mà nguôi ngoai, khó mà quên đươc trong cuộc đời, ít là của những người chứng kiến. Cách này cách khác, nhiều người đã cố tìm cách lưu giữ các kỷ niệm còn lại của những người thân yêu, để nhớ một thời, để yêu một đời…

Những hình ảnh tràn ngập trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác về cuộc di dân ồ ạt từ các nước Trung Đông vượt Địa Trung Hải sang các nước Châu Âu trong những ngày qua. Hình ảnh một em bé chết trôi xác vào bờ biển làm rúng động cả thế giới, em chết như ngủ trong chuyến hành trình tìm đất sống. Châu Âu rúng động, Đức Thánh Cha lên tiếng mạnh mẽ, ngài kêu gọi mở cửa Nhà Thờ, mở cửa Tu Viện để đón người tỵ nạn, ngài nói hãy mở cửa ra, đừng để Nhà Thờ, Giáo Xứ trở nên viện bảo tàng.

http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2015/09/07/
http://www.tinmungchonguoingheo.com/blog/2015/09/10/

Mẹ tôi năm nay đã 95 tuổi, bà sống với ký ức và những câu chuyện ngày xa xưa, một trong những câu chuyện bà hay kể cho tôi nghe đó là câu chuyện của những ngày năm 54, bà đã phải gian khổ thế nào để tay bồng tay bế 4 đứa con lên đường vào Nam theo quyết định của cha tôi. Khi ấy cha tôi đóng lính ở Hà Nội, ông biết sẽ di chuyển vào Nam nên tìm mọi cách nhắn tin về quê cho mẹ tôi, bằng mọi giá phải đưa các con vào Nam, gia đình sẽ đoàn tụ trong đó. Mẹ tôi đã phải thoát khỏi những con mắt rình mò của cán bộ du kích, những kẻ chỉ lắm le bắt người thủ tiêu không thương tiếc. Sau này tôi còn nghe cha tôi kể lại tên của một vài người bạn của cha tôi đã bị thủ tiêu ở quê khi không kịp thoát đi. Mẹ tôi còn phải tìm cách thoát khỏi cả ông nội tôi nữa, ông nhất quyết bắt một cháu trai phải ở lại nhà để lo nhang khói, mồ mả tổ tiên. Lên thành rồi, vì thương nhớ đứa con trai còn lại, mẹ tôi buộc lòng tìm về quê nhà trong đêm tối, núp ở bãi tha ma nơi không ai dám tới, rồi tìm cách “bắt cóc” con mình đi trong đêm. Hai mẹ con chạy dưới ruộng suốt đêm vì nếu đi trên mặt lộ sẽ bị bắt lại. Chẳng lâu sau, ông nội tôi bị đấu tố chết trong cuộc cải cách ruộng đất, chết lạnh giữa sân đình ngay trong đêm trước khi bị đấu tố sáng hôm sau, cô tôi đem nắm cơm bò vào tiếp tế thì thấy ông tôi đã chết cứng rồi !

Sự lên tiếng mạnh mẽ của Đức Thánh Cha có thể sẽ làm cho Châu Âu thay đổi, người nhập cư sẽ đông hơn người bản xứ. Thật ra, không có cuộc di cư ồ ạt này thì Châu Âu người nhập cư đã chiếm một vị trí lớn, cứ xem các đội bóng Châu Âu thì biết, có mấy cầu thủ da trắng đâu. Ngày xưa, khi các dân rợ ở các khu rừng bên bìa Châu Âu tiến chiếm làm tan rã nước Cộng Hòa La Mã, người ta rầu rĩ tiếc thương nền văn minh rực rỡ của La Mã sẽ bị vùi dập bởi người man di, nhưng không phải thế, các sắc dân rợ đã xây dựng Châu Âu qua nhiều thế kỷ, tiến lên với một nền văn minh rực rỡ và tốt đẹp hơn.

Các nước văn minh có xuất xứ “rợ” ngày xưa nay đang “được” tràn ngập bởi các sắc dân hoàn toàn xa lạ khác. Lịch sử lại sang trang…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 10.9.2015