Đến lúc ‘nước tắm cũng không còn, đừng nói lũ’

Đến lúc ‘nước tắm cũng không còn, đừng nói lũ’

TuanVietNam

Trần Văn Tuấn

16-9-2015

“Nếu các bạn quan tâm đến những gì các nước trên thượng lưu đang làm đối với sông Mekong, thì khoảng chục năm nữa chúng ta muốn có nước tắm đã khó chứ đừng nói đến “nước chìm, nước nổi”

LTS: Đầu tháng 9 vừa qua, Chính phủ Lào đã chính thức thông qua dự án thủy điện gây tranh cãi Don Sahong trên sông Mekong, đoạn chảy qua nước này. Có nghĩa rằng vùng hạ lưu Mekong như Đồng bằng sông Cửu Long của VN sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Chúng tôi giới thiệu bài viết của chuyên gia phát triển Trần Văn Tuấn.

‘Bình ắc quy’ đã phớt lờ mọi cảnh báo

Trong một hội nghị gần đây, bàn về các giải pháp “sống chung với lũ” cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa nước nổi, một đại biểu đã nhận định: “nếu các bạn quan tâm đến những gì các nước trên thượng lưu đang làm đối với sông Mekong, tôi đoán rằng chỉ khoảng chục năm nữa chúng ta muốn có nước tắm đã là khó rồi chứ đừng nói chi đến “nước chìm, nước nổi”!

Đến lúc đó chỉ sợ không còn lũ để được ngắm chứ chưa muốn nói là chung sống.

Từ lâu, sông Mekong không chỉ đem lại phù sa, nguồn nước và nguồn sống cho hàng triệu con người trong phạm vi gần 800 ngàn km2 lưu vực (trong đó khoảng 606 ngàn km2 thuộc hạ lưu vực) mà còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc liên thông, kết nối và gắn kết các nền văn hóa khác nhau. Những cộng đồng được hưởng lợi từ nước và các tài nguyên liên quan của một dòng sông vốn được người dân các nước Campuchia, Lào và Thái Lan trân trọng gọi là “Mẹ” (Me) này.

Trong suốt hàng ngàn năm qua, sông Mẹ đã cần mẫn chuyên chở phù sa bồi đắp nên một vùng châu thổ rộng lớn; là vựa cá của khu vực và trên thế giới.

Với chiều dài khoảng 4900 km (nguồn MRC), Mekong được xem là một trong số 10 con sông dài nhất thế giới. Bên cạnh việc cung cấp nước và các nguồn tài nguyên liên quan phục vụ hơn 60 triệu người  trong lưu vực, Mekong còn được xem là dòng sông có tiềm năng thủy điện vô cùng to lớn.

Sông Cửu Long. Ảnh: blogspot.com

Sông Cửu Long. Ảnh: blogspot.com

Chính bởi tiềm năng này, hiện nay, lưu vực sông Mekong trên thượng nguồn đang bị các nước ven sông tàn phá nham nhở. Trong số đó có 8 con đập thủy điện trên thượng lưu do TQ đã và đang xây dựng, 70 con đập lớn nhỏ đã, đang và sẽ được dựng lên trên dòng nhánh Mekong thuộc lãnh thổ Lào (chưa kể đến Thailand và Việt Nam) và 11 con đập lớn trên dòng chính (9 thuộc Lào và 2 thuộc Campuchia) đang được gấp rút triển khai.

Kể từ năm 2012 – khi các quốc gia thành viên Ủy hội Sông Mekong (MRC) thất bại trong việc đàm phán với chính phủ Lào trì hoãn xây dựng đập thủy điện Xayaburi với lý do “cần có các nghiên cứu đánh giá sâu, rộng hơn về những tác động mà con đập có thể gây ra cho khu vực hạ lưu trên các Phương diện môi trường, kinh tế và xã hôị”.

Với định hướng đưa Lào trở thành “bình ắc quy” của Đông Nam Á, chính phủ nước này đã và đang có bước đi nhằm khai thác tối đa nguồn thủy năng dồi dào trên lãnh thổ. Tiềm năng to lớn của 9 (trên tổng số 11) con đập trên dòng chính, hạ lưu vực Mekong, vốn đã được các chuyên gia thuộc Ủy Ban Mekong (tiền thân của MRC) chỉ ra từ những năm 1960s không dễ gì bị bỏ qua.

Hiệp định Mekong (ký kết năm 1995 – nền tảng của MRC) đòi hỏi mỗi nước thành viên phải thông báo và tham vấn các nước còn lại khi có bất kỳ dự án hay kế hoạch nào can thiệp trên dòng chính của sông Mekong.

Nguyên tắc này được cụ thể hóa bởi một trong số năm thủ tục quản lý tài nguyên nước mà các nước thành viên của MRC cam kết – thủ tục thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận (PNPCA).

Do chưa từng có tiền lệ nên có thể nói đập Xayaburi được xem như phép thử  đầu tiên của Lào đối với phản ứng của Chính phủ và người dân của 3 nước ven sông còn lại trên con đường ắc quy hóa của mình

Trước tiên, Thailand thực sự không bị ảnh hưởng đáng kể gì do tác động của con đập cộng với việc con đập này được công ty SEAN & Ch. Karnchang Public Co Ltd của nước này đầu tư xây dựng, nên phản ứng của nước này có chăng chỉ dừng lại ở hình thức “cần nghiên cứu thêm…”.

 

Campuchia tuy được đánh giá là sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều đến chế độ thủy văn, phù sa, và nguồn cá, nhưng vì nước này cũng có kế hoạch xây dựng hai đập thủy điện trên dòng chính là Stung Treng và Sambor,  nên cuối cùng họ cũng chỉ phản ứng kiểu chiếu lệ.

Đầu xuôi, đuôi lọt?

Thông tin Quốc hội Lào chính thức phê chuẩn cho phép triển khai dự án thủy điện Don Sahong trên dòng chính Mekong – vốn đang có nhiều tranh cãi, đã củng cố thêm nhận định và lo ngai của nhiều người về tương lai dòng chảy Mekong sau phép thử Xayaburi.

Như vậy câu nói “đầu xuôi, đuôi lọt” đang được các nước thượng lưu vận dụng rất linh hoạt. Điều này có nghĩa rằng sẽ rất nhanh thôi, vì quyền lợi quốc gia của mình, nhiều nước ven sông đang đi ngược lại với tinh thần của “Hiệp định Mekong, 1995”-  “thúc đẩy, phối hợp quản lý và phát triển tài nguyên nước cũng như tài nguyên có liên quan một cách bền vững vì lợi ích chung của các quốc gia và an sinh của cộng đồng”.

Các nước đã cố tình lờ đi những tác động mang tính xâu chuỗi và cộng hưởng đối với khu vực hạ lưu.

Thay vào đó, các báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ được xây dựng cho từng con đập riêng lẻ.

Vấn đề sẽ trở nên rất khác nếu sau Don Sahong, có thêm nhiều con đập nữa được dựng lên trên dòng chính, và vào mùa khô, nếu mỗi con đập chỉ cần tích nước trong 3 ngày thì độ trễ thủy văn có thể lên đến cả tháng trời. Khi đó rất khó có thể lường hết các tác động tiêu cực cho khu vực ĐBSCL trên nhiều phương diện.

Vựa lúa của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do chế  độ thủy văn làm thay đổ cơ cấu mùa vụ. Đói phù sa sẽ khiến cho các cù lao bị xói lở cũng như mất đi một nguồn dinh dưỡng quan trọng cho cây trồng do bị cắt lũ.

Đặc biệt vào mùa khô khi các đập thủy điện đồng loạt tích nước, ĐBSCL sẽ thiếu nước ngọt để có thể ém phèn hiệu quả như cách lâu nay chúng ta vẫn làm. Kết hợp với xâm nhập mặn gia tăng, một diện tích lớn đất nông nghiệp hiện nay có thể không còn sử dụng được nữa.

Ngoài ra, phù sa ít đi sẽ làm giảm dinh dưỡng, năng suất sinh học sơ cấp và qua đó làm  giảm sản lượng, chất lượng cá và các loại thủy sản khác. Chức năng cắt lũ của các con đập cũng làm giảm năng suất sinh trưởng của cá, do dòng lũ bị thấp đi và thời gian lũ ngắn lạ. Đặc biêt ngành nuôi trồng thủy sản và khai thác ven bờ trong khu vực sẽ bị giảm sút đáng kể do nguồn nước đổ về xanh hơn và cũng đói phù sa hơn.

Còn rất nhiều các tác động và ảnh hưởng khác trên phương diện môi trường, xã hội, và kinh tế phải cần đến những báo cáo chuyên môn mới có thể truyền tải hết.

Câu hỏi đặt ra ở đây là với vị trí địa lý nằm ở cuối nguồn và phải chịu nhiều thiệt thòi, liệu VN đã có những hành động cần thiết cũng như lên tiếng đủ mạnh để bảo vệ sông Mekong mà cụ thể là vựa lúa, vựa cá ĐBSCL của chúng ta hay chưa?

Thiết nghĩ, trong bất kỳ cuộc đàm phán thỏa thuận song phương hay đa phương nào, các tính toán mang tính ngoại giao là cần thiết, nhưng trên tất cả, quyền lợi quốc gia – ở đây là vận mệnh của khu vực ĐBSCL phải được đặt làm ưu tiên số một.

Đất Nước Nhìn Từ Phi Trường Changi

Đất Nước Nhìn Từ Phi Trường Changi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Con gái Việt Nam đẹp lắm!

Nguyễn Minh Triết

Dân Việt – khi giận – họ mắng nhau hơi kỹ, và hơi quá. Ít nhất thì cũng kỹ hơn, và quá hơn vài ba dân tộc khác mà tôi đã có dịp “chung đụng” qua ngôn ngữ thường ngày. Người Anh, người Mễ, người Pháp không chửi “đối phương” là đồ mặt mo, đồ mặt mẹt, đồ mặt dầy, hay đồ mặt thớt …   Người Tiệp, người Tầu, người Nga, người Lào, người Miên, người Miến – tôi đoán – chắc cũng không luôn.

Chúng ta, qua cách chửi, đã biểu lộ một tâm lý chung của dân tộc mình: rất sĩ diện. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên khi chuyện lùm xùm (làm “mất mặt” dân Việt) ở phi trường Changi đã khiến cho những người cầm viết Việt Nam – trong cũng như ngoài nước – đều nóng như hơ. Riêng nhà văn Huy Phương thì nóng như lửa:

“Những người Việt này bị đối xử như tội phạm, bị đưa vào phòng riêng, kiểm soát chặt chẽ giấy tờ, bị phỏng vấn và bắt tự đếm số tiền mang theo trước mặt nhân viên sân bay. Những người khách này buộc phải trở lại Việt Nam trên các chuyến bay đưa họ đến, hay lưu lại những khách sạn gần phi trường mà hãng hàng không Việt Nam phải đài thọ chi phí…

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể ‘khúc ruột ngàn dặm’ trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng…

Geyleng là một con lộ dài, cắt ngang bởi vài chục con hẻm lớn, ở Singapore. Nó được mệnh danh là Phố Đèn Đỏ Quốc Tế, với hàng ngàn người hành nghề bán dâm thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Riêng hai con hẻm 20 và 21 (Lorong 20 & 21) hiện nay thì gần như là giang sơn của những cô gái Việt. Ảnh: Nguyễn Công Bằng, chụp khuya 19 tháng 10 năm 2014.

Chuyện không phải bây giờ mà cách đây vài năm Singapore đã loan tin cảnh sát tổng càn quét vào khu mại dâm Việt ở Geylang và Joo Chiat, bắt giữ hàng chục gái mại dâm người Việt lẫn bảo kê. Liên tục trong vòng một tuần, chỉ riêng tại khu Joo Chiat, 52 cô gái Việt đã bị bắt giữ. Các cô trang điểm diêm dúa, ăn mặc hở hang đón xe buýt hoặc xe taxi đến quán karaoke, vô từng bàn khách, ăn uống, rượu bia, lả lơi, ôm ấp, bán dâm tại bàn rượu hoặc đi ngủ đêm với khách, cố moi tiền bằng đủ mọi cách…

Nếu danh dự phụ nữ Việt Nam bị coi thường hay chà đạp là danh dự của cả dân tộc cũng bị coi thường. Ai có trách nhiệm trong việc đàn bà con gái Việt Nam bị cấm cửa và cái mặt Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể nói xa hơn là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị lấm lem đến mức tồi tệ.”

Bài báo (“Cái Mặt Việt Nam”) của Huy Phương được phổ biến trên nhiều trang web, cùng với không ít những lời tán thưởng. Nhân tiện, tôi cũng xin mạn phép được giới thiệu một cách nhìn khác (có thể là chính xác và thấu đáo hơn) của nhà thơ Trangđài Glassey-Trầnguyễn. Theo tác giả này thì vấn đề không phải là cái mặt Việt Nam” mà là “cái khác” cơ:

chém cha cái kiếp dâm nô

đã đau đô hộ, xuống mồ càng đau

 

ai bảo chế độ thực dân chấm dứt

khi Pháp rút khỏi Việt Nam 1954?

nếu bạn Google Search, hôm nay, 2013

tìm “lịch sử nhân linh Việt”

bạn sẽ thấy

đường Trường Sơn

là ngõ tắt gần nhất

tới đường âm-đạo-bị-đô-hộ

thuộc địa của chế độ “đô hộ trắng”

tên gọi hết sức nhẹ nhàng: “white slavery”

 

trắng nỗi gì?

nó đen đặc!

khi những con cặc của bọn mua dâm toàn cầu

chen nhau lao vào

xé rách âm hộ

hùng hục

cày xới

giày xéo

giẫm nát

âm đạo nôn thốc tháo

âm đạo chết ngất

âm đạo túa máu

âm đạo ung thư

âm đạo đau lòng

công nghệ mua dâm

đã vạc hết nạc ở Đông Âu, ở Thái, ở Phi,

và ở tất tần tật những “đệ tam quốc gia”

và đây, Việt Nam, miền đất mới

độc lập, tự do, hạnh phúc!

tự do khủng,

rất hoàn cảnh,

nên bạn có thể vô tư lấy trinh của một đứa bé lên ba

(để mua vui, hay xã xui như vị Đảng viên cấp cao kia)

có thể cưới bốn (hoặc nhiều hơn) cô vợ còn trinh ở tuổi vị thành niên cùng một lúc

và có thể thản nhiên hiếp dâm hàng loạt nữ sinh trung học

mà vẫn nghênh nghênh giữ chức Hiệu Trưởng

đô hộ từ ngoài

đô hộ từ trong

cái âm đạo của phụ nữ Việt

trong thiên niên kỷ thứ ba

là nơi gánh chịu nhiều oan khiên đàn áp khổ nhục nhất

trong cả lịch sử cộng lại

cái nắng thực dân đổ dài trên âm đạo

thấm vào từng thớ thịt

đốt rụi đường về

Thúy Kiều của Nguyễn Du được hóa kiếp

nhưng Thúy Kiều ở ngoài đời thì vẫn còn lênh đênh

truyền kiếp lầu xanh

Ngô Tất Tố đưa Chị Dậu

trốn chạy con quỷ râu xanh

chống cự cái tham dâm của quan anh, quan cụ

mà cả một thế kỷ sau

Chị Dậu vẫn còn chạy

chạy đi khắp thế giới

tiền đồ vẫn tối đen

không phải mãi đến thế kỷ 21

mới có gái quê ra tỉnh đi làm nuôi gia đình

người ta gọi “đô thị hóa” nông thôn

Chị Dậu (và có lẽ nhiều cô gái quê trước cả Chị nữa)

đã đứt ruột bỏ quê, bỏ con, bỏ chồng, bỏ nhà lên tỉnh

đi ở, làm vú sữa cho quan cụ 80 thừa tiền, chuộng uống sữa người,

ngại uống sữa bò, sợ nóng

cụ chuộng luôn đôi ngực đang đau nhói của người đàn bà con mọn

xót con thơ

cái tiền đồ tối đen như mực của Chị Dậu

truyền đời

truyền kiếp

truyền lại đến hôm nay

mà vẫn tối đen như mực!

lính Mỹ đổ bộ lên âm đạo

lập những quán trắng da

phát triển ‘nền kinh tế về đêm’

âm đạo chèn giữa súng và đạn

từ trên đe dưới búa của phong kiến và đô hộ

đến dưới búa trên đe của Đảng và áp lực hiện đại hóa

đô hộ âm đạo

đó là cách giết chết một dân tộc nhanh nhất

một cách bỉ nhục nhất

một cách rốt ráo nhất

trên đe

dưới búa

âm đạo Việt Nam 2013

nát như tương

lưu lạc tứ phương

lầu xanh khắp cõi

ngay cả ở những quốc gia nghèo nhất thế giới

cũng có âm đạo Việt Nam bị đưa đến

và bị đô hộ

những đứa bé gái lên năm, lên bảy

khi được cứu ra khỏi nhà chứa

đã dùng gòn và thuốc đỏ chà nát cơ thể mình

hết ngày này sang ngày khác

để tẩy uế

thuốc đỏ cùng màu với máu

chỗ nào là máu đổ, chỗ nào không?

những đứa bé chưa kịp tuổi đến trường

bị công an Cambốt bắt giam khi soát nhà chứa

và bị tòa án Cambốt kết án là nhập cư trái phép

ôi, mỉa mai!

chẳng lẽ những đứa trẻ này tự dắt mình

từ một miền quê hẻo lánh nào đó ở Việt Nam

để vượt biên giới sang nhà chứa ở Cambốt hay sao?

hay tại ông quan tòa mù mắt và mù lương tâm?

Việt Nam đã từng bị đô hộ

bởi láng giềng phương Bắc

bởi mẫu quốc Phú Lãng Sa

nhưng mỗi lần là một quốc gia

bây giờ

Việt Nam bị đô hộ

bởi cả thế giới

và tự đô hộ mình

đô hộ ở ngay cái nơi tế nhị nhất,

riêng tư nhất,

cái nơi thiêng liêng nhất

để đón nhận yêu thương

để hòa hợp âm dương

để đưa con vào đời

để duy trì sự sống

nơi ấy bây giờ

đã thành cánh đồng chết

đã thành cửa tử

đã thành bãi tha ma

đã bị đô hộ bởi những hạng người tồi tệ nhất

từ khắp nơi đổ về

và ở khắp nơi mà người phụ nữ Việt bị đưa đến

bị bán

bị nô lệ hóa

bị chôn sống từng ngày mấy chục lượt

bị biến mất mà không có ai đi tìm

Công an V.N. đang tác nghiệp. Ảnh: banvannghe.com

ai có thể đếm được

bao nhiêu triệu cái màng trinh

đã bị chọc thủng trong tức tưởi

–         với một cái giá rẻ mạt

để trả tiền thuốc cho mẹ, tiền cơm cho cha, tiền học cho em?
mà cuối cùng vẫn không thoát ra được cái ngõ cụt mang tên “bần cùng”

–         hay không cả một xu

khi kẻ cưỡng trinh có búa liềm và cờ đỏ?
và những hứa hẹn không cần thực hiện…

trong những cái phòng lạnh bị cấm khẩu…

vì cái mạng nhện dày kệch

đói nghèo, tiền kiếp đô hộ, hiện kiếp dâm nô

tham nhũng, bóc lột, những chính sách ngu dốt sai lệch

cái cán cân lệch giữa nước đang (chưa) phát triển và những nước công nghiệp

sự bần cùng hóa nữ giới trên toàn cầu từ thời con người săn bắn và thu nhặt

vân vân và vân vân

 

cố đấm ăn xôi

xôi bị cúp

cầm bằng làm điếm

điếm không lương

quê-hương-âm-đạo

tràn đô hộ

biết đến bao giờ

tỏa được cương?

 

kẻ đô hộ chỉ có thể đô hộ

khi kẻ bị đô hộ chịu để bị đô hộ

 

hãy xoá sổ đô hộ

chặt đứt lối mòn của suy nghĩ nhược tiểu

dẹp những kềm hãm của nhịn chịu bất công

đứng lên phá đổ thành trì đô hộ

đưa ù lì trì trệ vào gông

 

đã đến lúc những âm đạo vùng lên!

Vùng lên là phải!

Tuy nhiên, viển ảnh của một cuộc nổi dậy (hay nói theo nhà văn Phạm Thị Hoài là “nổi loạn”) của âm hộ Việt Nam e còn xa xăm lắm – như Luận Văn Nghiên Cứu Về Khu Kinh Tế Mại Dâm tại Thành Phố Hồ Chí Minh (*) của tiến sĩ Kimberly Kay Hoang:

“Khách của số lớn trong nhóm phụ nữ này là những đàn ông Việt Nam nghèo với thể xác làm họ buồn nôn. Nếu thủ dâm và khẩu dâm không làm khách đạt thỏa mãn, thì giao cấu là biện pháp cuối cùng những người đàn bà này sẽ làm. Chín trong số mười hai phụ nữ mại dâm đã cho tác giả biết họ đều nôn mửa khi mới vào nghề sau khi cảm thấy tinh dịch của khách hàng trên tay hay trong miệng vì họ tởm lợm thể xác của những khách mua dâm…

Mỗi bao cao su giá khoảng 40 xu, một giá quá đắt đối với những phụ nữ mại dâm bậc thấp. Vì thế, họ thường cố gắng làm cho khách xuất tinh bằng những cách khác hơn là giao cấu…”

Khi còn rất nhiều phụ nữ Việt Nam vẫn chưa sắm nổi một cái bao cao su (“giá khoảng 40 xu”) để tự bảo vệ lấy thân, và không ít người còn phải “bán trôn rồi, lại bán cả mồ hôi” (“mà đói rách vẫn quần cho sớm tối”) thì chúng ta sẽ còn “mất mặt” đều đều – ở rất nhiều nơi khác nữa – chứ chả riêng gì ở phi  trường Changi.

Tưởng Năng Tiến

(*) Hai luận văn, “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City’s Sex Industry”(1) và “She’s Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” (2) là những công trình đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác cuả ASA và giải Cheryl Allyn Miller, Những nhà Xã hội học cho Phụ nữ trong Xã hội (2011). Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara và theo học Xã hội học tại đại học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley. [Theo Trần Giao Thủy (dcvonline.net)].

Chỉ có ở Việt Nam: Một gia tộc ‘phục vụ’ cả huyện

Chỉ có ở Việt Nam: Một gia tộc ‘phục vụ’ cả huyện

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Cả chục thành viên trong một gia tộc họ Lê đang cùng “phục vụ” dân chúng huyện Mỹ Ðức, thành phố Hà Nội.

Ngoài một người là ông Lê Văn Sang, vừa tái đắc cử để tiếp tục “phục vụ” ở vị trí bí thư cho đến năm… 2020, những người còn lại chia nhau “phục vụ” tại các phòng, ban trong hệ thống công quyền ở huyện Mỹ Ðức.


Chùa Hương ở huyện Mỹ Ðức, thành phố Hà Nội, có một “trạm trung chuyển” thân nhân cán bộ thành lãnh đạo. (Hình: VietNamNet)

Theo thống kê của tờ Người Lao Ðộng thì huyện Mỹ Ðức có 13 phòng, ban và hơn 10 người trong số này là thành viên trong gia tộc của ông Sang.

Chẳng hạn bà Lê Thị Vĩnh, trưởng phòng Tài Chính-Kế Hoạch, là cô ông Sang. Bà Ðỗ Thị Lê Hương, phó văn phòng Huyện Ủy là con của thông gia với ông Sang. Ông Lê Văn Nhiệm, phó ban quản lý các dự án là em họ ông Sang. Bà Lê Hải Hồng, phó Phòng Kinh Tế là chị họ ông Sang. Ông Lê Văn Sức, trưởng Phòng Dân Tộc Học là cháu gọi ông Sang bằng chú. Vài người khác tuy không cùng họ nhưng cũng thuộc gia tộc của ông Sang như bà Nguyễn Thị Hòa, Phó Ban Dân số-Kế Hoạch Hóa Gia Ðình là em vợ ông Sang. Còn bà Nguyễn Thị Duyên, Phòng Quản Lý Ðô Thị thì là… con dâu ông Sang…

Khi tờ Người Lao Ðộng đem thắc mắc về chuyện gia tộc “phục vụ” cả huyện trao đổi với trưởng Ban Tổ Chức Huyện Ủy thì ông Lê Văn Sơn – chú ông Sang, thừa nhận, việc gia tộc của ông ta cùng “phục vụ” dân chúng huyện Mỹ Ðức là có thật nhưng vẫn bảo đảm đúng quy hoạch, quá trình tuyển chọn bảo đảm “đúng quy trình.” Thậm chí vì là “người trong nhà” nên trình độ phải trội hơn người khác mới chọn.

Ông Sơn dẫn chứng trường hợp Lê Văn Trang, 33 tuổi, là… con trai ông Sang. Trang từng là viên chức Chi Cục Thuế, bỏ Chi Cục Thuế để về “phục vụ” ở Phòng Tài Chính huyện Mỹ Ðức. Dẫu đã được “quy hoạch” làm phó chủ tịch huyện Mỹ Ðức nhưng vẫn phải gửi xuống xã An Phú làm bí thư xã để “đào tạo.”

Hoặc Nguyễn Thị Hương, một người bà con khác của ông Sang, trước đây làm việc tại Phòng Nội Vụ nhưng do “rất có năng lực” nên phải “dỗ” mãi mới chịu qua làm… phó chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra của Huyện Ủy.

Bà Nguyễn Lan Hương, phó bí thư huyện Mỹ Ðức thì cho rằng, việc so sánh quan hệ gia tộc của bí thư huyện Mỹ Ðức với hệ thống công quyền ở huyện này là không hợp lý vì hơn một chục thành viên trong gia tộc của ông Sang đã là… cán bộ lãnh đạo huyện Mỹ Ðức trước khi ông Sang làm bí thư huyện!

Nhiều người trong gia tộc của ông Sang cùng “phục vụ” huyện Mỹ Ðức được bà Hương giải thích là do thiếu cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Giống như ông Sơn, bà Hương khẳng định việc tuyển chọn, cất nhắc là đúng qui trình. Nếu sai thì Ủy Ban Kiểm Tra của Thành ?y Hà Nội đã xử lý rồi!

Tờ Người Lao Ðộng dẫn dư luận cho biết thêm, huyện Mỹ Ðức có thắng cảnh chùa Hương. Chính quyền huyện Mỹ Ðức lập ra Ban Quản Lý Di Tích Thắng Cảnh Hương Sơn. Giới lãnh đạo huyện Mỹ Ðức đã dùng Ban Quản Lý Di Tích Thắng Cảnh Hương Sơn như một “trạm trung chuyển” thân nhân vào bộ máy công quyền làm công chức.

Chẳng hạn sau một thời gian ngắn ở Ban Quản Lý Di Tích Thắng Cảnh Hương Sơn, Lê Ðức Anh – con trai ông Sang được tuyển vào làm công chức của ban quản lý các dự án.

Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Hưng cùng là con của ông Nguyễn Văn Hậu – Phó Chủ tịch huyện Mỹ Ðức được tuyển vào làm công chức Phòng Tài Chính-Kế Hoạch và Phòng Nội Vụ.

Lê Quang Hưng, con ông Lê Văn Cành, phó chủ tịch huyện thì được tuyển làm công chức Phòng Nội Vụ.

Nguyễn Minh Hoành, con bà Lê Thị Vĩnh, trưởng Phòng Tài Chính-Kế Hoạch thì được tuyển vào làm công chức ngay tại phòng của mẹ mình!

Chuyện vừa kể thật ra cũng chỉ để… thở dài bởi hệ thống thượng tầng tại Việt Nam cũng y hệt như vậy!

Ví dụ hai con trai ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng Việt Nam là Nguyễn Thanh Nghị và Nguyễn Minh Triết thì anh từng nhảy một phát lên làm thứ trưởng Bộ Xây Dựng còn em thì làm ủy viên Ban Chấp Hành, kiêm phó Ban Trường Học của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (Ðoàn TNCS HCM), kiêm giám đốc Trung Tâm Hỗ Trợ và Phát Triển Sinh Viên Việt Nam. Kế đó, Nghị được đưa vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN rồi được “luân chuyển” về làm… phó bí thư tỉnh Kiên Giang, còn Triết thì được đưa về làm phó bí thư Tỉnh Ðoàn Bình Ðịnh để “đào tạo” trước khi được sắp đặt vào vị trí cao hơn.

Hoặc trường hợp của Lê Trương Hải Hiếu, con ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính Trị kiêm bí thư Thành Ủy Sài Gòn, vừa được “bầu” làm chủ tịch Quận 12, Sài Gòn…

Nếu như huyện Mỹ Ðức, thành phố Hà Nội có Ban Quản Lý Di Tích Thắng Cảnh Hương Sơn làm “trạm trung chuyển” để đưa thân nhân vào hệ thống “phục vụ” dân chúng thì giới lãnh đạo thượng tầng ở Việt Nam có Ðoàn TNCS HCM. (G.Ð)

 

Sài Gòn tê liệt vì mưa, phố biến thành sông

Sài Gòn tê liệt vì mưa, phố biến thành sông

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV)Giao thông Sài Gòn hỗn loạn vào buổi sáng khi mặt đường cầu vượt “triệu đô” nằm ngay cửa ngõ bị sạt lở. Chiều cùng ngày, sau cơn mưa trắng trời cả thành phố “ngập chưa từng thấy” và gần như tê liệt.


Hiện trạng đoạn đường sạt lở nằm ngay dưới chân dốc cầu vượt. (Hình: Tuổi Trẻ)

Truyền thông Việt Nam loan tin, khoảng 7 giờ ngày 15 tháng 9, nhiều người dân đi trên quốc lộ 1 hướng từ Ðồng Nai vào trung tâm thành phố Sài Gòn phát hiện mặt đường dẫn lên nhánh cầu vượt Thủ Ðức (cầu vượt Trạm 2), được xây dựng khoảng 120 tỷ đồng, bị nứt tạo rãnh lớn và ngay sau đó thì sạt lở, với nhiều vết rạn nứt kéo dài, khiến nhiều người hoảng sợ.

Theo Tuổi Trẻ, tại hiện trường nhiều mảng đất đá ở độ cao 10 mét đổ xuống công viên phía dưới cầu. Ðoạn đường rộng hơn 2 mét, dài gần 20 mét bị kéo sập, hở hàm ếch, taluy biến dạng. Phần đường sạt lở làm hở một phần mố cầu Thủ Ðức.

Tình trạng khá nghiêm trọng, song ông Vũ Kiến Thiết, giám đốc Khu Quản Lý Giao Thông Ðô Thị số 2, nơi quản lý cầu vượt này cho rằng, do ảnh hưởng của cơn mưa lớn kéo dài làm đất đá mất độ kết dính cộng với rung chấn của các xe cơ giới qua cầu gây sạt lở.

Cũng theo Tuổi Trẻ, cơn mưa trắng trời chiều cùng ngày đã khiến hàng loạt đường tại thành phố Sài Gòn ngập nặng.


Nước ngập tới yên xe trên đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh. (Hình: Tuổi Trẻ)

Cụ thể, đường Nguyễn Hữu Cảnh từ chân cầu Sài Gòn cho tới cầu Thủ Thiêm ngập sâu khoảng 1 mét tính từ mặt đường. Nhiều xe máy ngập đến yên xe khi đi vào mép đường.

Cảnh kẹt xe cục bộ cũng diễn ra trên con đường này do người dân đứng ở hai đầu điểm ngập để chờ nước rút và sửa xe. Nhiều xe hơi và xe máy chết máy được người dân giúp đưa ra khỏi điểm ngập.

Do mưa ngập, kẹt xe nặng xảy ra tại nhiều tuyến đường, giao lộ vào giờ cao điểm. Tại cầu vượt Hàng Xanh, hàng nghìn xe kẹt cứng kéo dài từ chân cầu sài Gòn dọc theo đường Xô Viết Nghệ Tĩnh đến bến xe miền Ðông. Do kẹt xe trầm trọng, nên người dân cho xe máy chạy luôn qua cầu vượt Hàng Xanh bất chấp lệnh cấm.

Nhiều tuyến đường khác như Kha Vạn Cân, quốc lộ 13, Linh Ðông, quận Thủ Ðức; Phan Văn Hớn, huyện Hóc Môn; đường Ấp Chiến Lược, quận Bình Tân; Bạch Ðằng, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Chu Văn An, quận Bình Thạnh; xa lộ Hà Nội đoạn ở cầu Rạch Chiếc, quận 2… ngập nặng, khiến người dân phải dắt bộ xe máy trong dòng nước đen ngòm, hôi thối. (Tr.N)

Kết quả phiên tòa xét xử 12 người chống cưỡng chế đất ở Long An

Kết quả phiên tòa xét xử 12 người chống cưỡng chế đất ở Long An

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-16

Do bị CA chặn đường không thể về Thạnh Hóa (Long An) tham dự phiên tòa, chị Trần Ngọc Anh cùng nhiều dân oan khác đã bất ngờ xuất hiện tại trung tâm Sài Gòn để tuần hành và giơ cao những biểu ngữ đòi trả tự do cho 12 Dân Oan

Do bị CA chặn đường không thể về Thạnh Hóa (Long An) tham dự phiên tòa, chị Trần Ngọc Anh cùng nhiều dân oan khác đã bất ngờ xuất hiện tại trung tâm Sài Gòn để tuần hành và giơ cao những biểu ngữ đòi trả tự do cho 12 Dân Oan

Nguyentuongthuy

Mười hai người chống cưỡng chế đất tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An bị tòa án đưa ra xét xử sơ thẩm và kết án tù trong phiên xử kéo dài từ ngày hôm qua 15 tháng 9 đến trưa nay 16 tháng 9.

Bản án

Kết quả phiên xử được thông báo cụ thể như sau: bà Mai Kim Hương: 3 năm 6 tháng tù, ông Nguyễn Trung Can ( chồng bà Mai Kim Hương) 3 năm, ông Nguyễn Trung Tài 3 năm; ông Mai Văn Tưng 3 năm; bà Phùng Thị Ly 3 năm; ông Phùng Văn Tuân 2 năm; ông Mai Văn Đạt  2 năm; ông Mai Quốc Hẹn 2 năm tù treo, 4 năm thử thách; ông Nguyễn Văn Tôi 2 năm tù treo, 4 năm thử thách; bà Nguyễn Thị Thắng 2 năm 6 tháng tù treo, 5 năm thử thách. Những người này bị kết tội ‘chống người thi hành công vụ’. Còn hai ông Mai Văn Phong 3 năm 6 tháng tù ; ông  Nguyễn Trung Linh 3 năm 6 tháng, buộc bồi thường 17 triệu đồng cho người bị thương tích vì bị kết án ‘cố ý gây thương tích’.

Ngay sau khi phiên xử kết thúc, cháu Nguyễn Mai Thảo Vy, con gái của hai ông bà Nguyễn Trung Can và Mai Kim Hương cho biết:

“Mẹ cháu bị 3 năm 6 tháng và ba cháu 3 năm tù giam. Mới đầu mọi người trong gia đình cháu không ai nhận tội nhưng sau một buổi nghỉ trưa không biết họ dùng thủ đoạn gì mà đến chiều mọi người đều nhận tội hết.

Luật sư bào chữa đúng thực tế, nêu lên việc cưỡng chế hôm đó sai, có xịt pháo cay làm mọi người trong nhà bị tổn hại đến sức khỏe. Nhưng tòa không đề cập gì đến chuyện đó, họ chỉ giải quyết theo họ là gia đình cháu sai, chứ họ không sai. Cháu thấy bản án này oan cho gia đình.”

“Bản án của mẹ là 3 năm tù ở. Theo cháu là quá nặng vì luật sư nói mẹ có thể trắng án, vì khi phát loa để nói lên tâm tư, suy nghĩ của mình cho mọi người biết thì không cấu thành tội ‘chống người thi hành công vụ’. Bản thân cháu thấy rất vô lý vì trong Hiến pháp Việt Nam điều 25 qui định người dân có quyền tự do biểu tình, quay phim…

Cháu Dương thị Ngọc Châu”

Con gái của bà Phùng Thị Ly, cháu Dương thị Ngọc Châu cũng trình bày ý kiến về bản án và phiên xử được nói là công khai nhưng bản thân cháu không được vào tham dự tòa:

“ Bản án của mẹ là 3 năm tù ở. Theo cháu là quá nặng vì luật sư nói mẹ có thể trắng án, vì khi phát loa để nói lên tâm tư, suy nghĩ của mình cho mọi người biết thì không cấu thành tội ‘chống người thi hành công vụ’. Bản thân cháu thấy rất vô lý vì trong Hiến pháp Việt Nam điều 25 qui định người dân có quyền tự do biểu tình, quay phim, theo dõi chính quyền làm đúng hay sai; nhưng họ ép buộc mình không cho nói; vậy qui định để làm gì!

Mẹ cháu mong có được bản án nhẹ nhàng, thế thôi!”

Theo các luật sư bào chữa cho biết thì 12 dân oan sẽ tiếp tục kháng cáo lên tòa phúc thẩm.

Cưỡng chế lấy đất

Vụ việc được người trong cuộc cho biết diễn ra bảy, tám năm nay rồi. Chính quyền địa phương thu hồi đất của hai gia đình nhưng bồi thường không thỏa đáng. Gia đình đi kiện nhưng vẫn không được giải quyết. Trước lần cưỡng chế vào ngày 14 tháng 4 vừa qua, gia đình của hai ông bà Nguyễn Trung Can- Mai Kim Hương giăng biểu ngữ tuyên bố sẽ ‘quyết tử’ để giữ đất. Thế nhưng lực lượng cưỡng chế vẫn tràn vào và người trong cuộc đã đốt lều tạm giữ đất, ném bom xăng, tạt axit và nổ bình hàn gió đá khiến chừng 20 người trong lực lượng cưỡng chế bị thương từ nặng đến nhẹ.

Tại Hà Nội, do không có điều kiện về địa điểm xử án nên dân oan Cấn Thị Thêu đã cùng dân oan ba miền tập trung tại trụ sở Bộ công an đưa biểu ngữ kêu gọi trả tự do cho các bị cáo biểu thị sự hiệp thông.

Tại Hà Nội, do không có điều kiện về địa điểm xử án nên dân oan Cấn Thị Thêu đã cùng dân oan ba miền tập trung tại trụ sở Bộ công an đưa biểu ngữ kêu gọi trả tự do cho các bị cáo biểu thị sự hiệp thông.

Cháu Dương thị Ngọc Châu cho biết lại tình hình đất đai của gia đình như sau:

“ Gia đình khiếu kiện đất vì họ nói gia đình cháu lấn sông, lấn lộ; nhưng thực tế gia đình sống ở đây đã rất lâu, từ trước chiến tranh, trước năm 65. Họ nói lấn sông, lấn lộ nên chỉ bồi thường cho gia đình 30 ngàn một mét vuông đất thôi. Sau này do mẹ con tranh đấu, kiện tụng họ tăng lên được 45 ngàn một mét vuông, sau này lên được 300 ngàn một mét vuông. Trong khi đó miếng đất đối diện nhà cháu được qui hoạch thành khu đô thị mới, bây giờ lên đến 22 triệu một mét vuông. Một mét vuông đất nhà con không mua được một phần ngàn miếng đất kia nữa! “

“ Họ nói lấn sông, lấn lộ nên chỉ bồi thường cho gia đình 30 ngàn một mét vuông đất thôi…sau này lên được 300 ngàn một mét vuông. Trong khi đó miếng đất đối diện nhà cháu được qui hoạch thành khu đô thị mới, bây giờ lên đến 22 triệu một mét vuông

Cháu Dương thị Ngọc Châu”

Chuyện dài đất đai

Vụ việc của hai gia đình ông Nguyễn Trung Can- Mai Kim Hương và bà Phùng thị Ly như vừa nêu cũng tương tự rất nhiều trường hợp khác tại các tỉnh thành của Việt Nam lâu nay.

Hiện nay rất nhiều người dân bị chính quyền địa phương thu hồi đất đai, ruộng vườn mà theo họ không đúng luật và bất công. Những người trong cuộc cho biết khoản tiền bồi thường cho họ rất thấp, trong khi đất thu hồi lại được rao bán với giá gấp rất nhiều lần. Điều này khiến họ phẩn nộ và khiếu kiện bao lâu nay vẫn không được cơ quan nào giải quyết.

Một vụ việc gây chấn động dư luận tại Việt Nam là trường hợp cho nổ súng hoa cải và bình ga của gia đình Đoàn Văn Vươn tại Cống Rộc, Tiên Lãng, Hải Phòng vào tháng giêng năm 2012. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận biện pháp cưỡng chế của cơ quan chức năng địa phương là sai; tuy nhiên sau đó hai anh em ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý vẫn bị bắt, bị tuyên án tù 5 năm mỗi người.

Vào ngày 31 tháng 8 hai anh em ông này được cho ra tù trước thời hạn; tuy nhiên sau khi ra tù ông Đoàn Văn Vươn tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi những vụ kiện chưa được giải quyết lâu nay về vấn đề đất đầm nuôi thủy sản của gia đình ông.

Một người đấu tranh vì đất đai kiên cường khác là bà Cấn Thị Thêu tại phường Dương Nội, quận Hà Đông. Mới vào tối ngày 15 tháng 9, bà cùng nhiều người dân khác phải ngủ ngay ngoài cổng cơ quan Thanh Tra Bộ Công an để ngày hôm sau được gặp người phụ trách vì ngày trước đó khi đến Bộ Công an họ bị xua đuổi.

Ngay sau khi mãn án 15 tháng tù vào tháng 7 vừa qua, bà Cấn Thị Thêu cũng thẳng thắn cho biết:

“ Đối với tôi từ khi bị bắt cho đến nay và kể từ khi ra tòa, lúc họ cho tôi nói lời cuối cùng, tôi cũng đã nói với họ rằng tôi thề còn hơi thở nào tôi vẫn còn tiếp tục đấu tranh để đòi lại đất đai, tài sản của gia đình tôi và của nhân dân chúng tôi. Tôi quyết tâm đấu tranh chống lại quân cướp đất đến cùng. Khi họ gây ra quá nhiều tội ác, đàn áp, đánh đập chúng tôi, chính họ mới là người thúc đẩy lòng căm thù, đấu tranh của chúng tôi vùng lên đấu tranh chống lại họ. Với hiện tại bây giờ không còn gì để sống, nhân dân chúng tôi như nước vỡ bờ quyết vùng lên để đòi lại những gì chúng tôi đã mất.”

Thực tế cho thấy số người bị cưỡng chiếm đất đai phải đi khiếu kiện lên đến các cơ quan trung ương tại Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh ngày một đông.

Nhiều người trong số họ chưa bị đi tù như trường hợp bà Cấn Thị Thêu hay anh em bà con nhà Đoàn Văn Vươn. Tuy nhiên có những người bị bắt đi một cách bất minh và sẽ phải ra tòa rồi bị tuyên án tù như 12 người ở Thạnh Hóa, Long An vào ngày 15 và 16 tháng 9 vừa qua chỉ vì dám chống lại lực lượng cưỡng chế bằng lời nói và hành động mạnh mẽ.

Vụ xử 12 dân oan: Phóng viên bị khống chế khi chụp hình ngoài khu vực tòa

Vụ xử 12 dân oan: Phóng viên bị khống chế khi chụp hình ngoài khu vực tòa

Tuổi Trẻ

An Long

15-9-2015

Phóng viên Hoàng Nam bị khống chế – Ảnh: AN LONG

TTO – Anh Nam cho biết bị khóa tay, tước điện thoại, máy ảnh rồi đưa lên ôtô, giải vào căn phòng trống tại một cơ quan nhà nước. Anh yêu cầu lập biên bản nhưng những người bắt giữ anh không đồng ý.

Khoảng 9g sáng 15-9, trong lúc ra ngoài khu vực Tòa án huyện Thạnh Hóa (Long An) để tác nghiệp liên quan đến vụ xét xử tội chống người thi hành công vụ, phóng viên Nguyễn Hoàng Nam (bút danh Hoàng Nam, báo Pháp Luật TP.HCM) bị hai dân phòng cùng một số người mặc sắc phục công an khóa tay chở đi.

Phóng viên Hoàng Nam bị khống chế - Ảnh: AN LONG

Trao đổi với Tuổi Trẻ, anh Hoàng Nam cho biết khi anh vừa đưa máy ảnh định chụp một số cảnh cơ quan chức năng đang làm công tác giữ gìn trật tự xung quanh khu vực tòa án thì hai người mặc đồng phục dân phòng và một cán bộ mặc sắc phục công an đến nói phóng viên không được chụp ảnh lực lượng này và yêu cầu xóa ảnh.

“Dù tôi đã nói là phóng viên báo Pháp Luật TP.HCM, có giấy giới thiệu, khu vực này không có bảng cấm quay phim chụp ảnh, phóng viên tác nghiệp theo luật báo chí, trong trường hợp này tôi không đồng ý xóa hình, nhưng một người đàn ông mặc thường phục đến chỉ mặt tôi bảo phải xóa ảnh ngay. Tôi yêu cầu vị này xuất trình thẻ ngành thì vị này chỉ đưa ra một tờ giấy nhỏ có một mặt màu đỏ giống như thẻ ngành công an nên tôi đề nghị cho xem mặt còn lại của tờ giấy này nhưng vị này không đồng ý và yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ. Tôi vừa định lấy giấy tờ đang để trong balô thì người mặc thường phục này bất ngờ xông vào khóa tay tôi trước sự chứng kiến của nhiều cán bộ công an đang làm nhiệm vụ tại khu vực”, Hoàng Nam kể lại.

Hoàng Nam tiếp tục bảo rằng mình không vi phạm pháp luật, sao lại giữ người thì hai dân phòng, công an và người mặc áo trắng nói trên tiếp tục khống chế, tước điện thoại, máy ảnh rồi đưa lên ôtô, giải vào căn phòng trống tại một cơ quan nhà nước gần đó.

Tại đây, dù Hoàng Nam yêu cầu lập biên bản nhưng những người bắt giữ trên không đồng ý, cho đến khi một cán bộ công an khác đến yêu cầu thả Hoàng Nam ra. Theo Hoàng Nam, khi đã được thả ra, người đàn ông mặc áo trắng trên vẫn tiếp tục chỉ mặt Hoàng Nam đe dọa “sẽ xử đẹp”.

Vụ việc khiến Hoàng Nam bị trầy xước ở cẳng tay.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Văn Nhớ – trưởng Công an huyện Thạnh Hóa – cho biết đúng là có xảy ra sự việc trên.

“Theo báo cáo về vụ việc, một số anh em dân phòng trong lúc làm nhiệm vụ đã nóng vội khi mời Hoàng Nam về nơi có người tiếp chính thức nên đã để xảy ra sự việc đáng tiếc trên. Tôi đã liên hệ với Hoàng Nam để hỏi thêm tình hình đồng thời cũng đã góp ý cho những anh em đang làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự quanh phiên tòa”, ông Nhớ nói.

Chiều cùng ngày, ông Nguyễn Hòa Nhã – phó giám đốc Sở Thông tin truyền thông Long An – cho biết đã nhận được thông tin vụ việc trên và cũng đã liên hệ với Hoàng Nam để nắm thông tin, đồng thời báo cáo vụ việc về UBND tỉnh Long An.

Khi lòng dân hết chịu nổi!

Khi lòng dân hết chịu nổi!

Bùi Tín

Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc Khánh 2/9 , các bài diễn văn của những nhà lãnh đạo đầy những danh từ sáo rỗng, trái hẳn với thực tế. Nào là thành quả vĩ đại, sự nghiệp vẻ vang, chiến thắng lịch sử, thời đại vinh quang, tương lai đầy hứa hẹn…

Nhưng tình hình đúng vào dịp này, đảng CS hình như cố tình trình diễn bộ mặt thật của mình. Nhà báo Đỗ Trường chỉ đùa cợt giải trí tinh thần với bài viết gồm toàn các chữ dấu sắc trên mạng cá nhân đã bị rút thẻ và sa thải, bất chấp hiến pháp và luật pháp. Sinh viên Phạm Lê Vương Các của trường Kinh Doanh và Công Nghệ bị buộc phải viết đơn xin thôi học chỉ vì em có tinh thần dân chủ và thật sự dấn thân cho dân chủ. Nghiêm trọng hơn, khi các bạn chiến đấu của tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật đến thăm, chúc mừng anh, gồm có giáo sư Phạm Minh Hoàng, các bạn Trần Thị Nga, Đặng Xuân Hoà, Trương Minh Tâm, Chu Mạnh Sơn, khi ra về đã bị một bọn côn đồ lưu manh hành hung rất táo tợn, gây thương tích. Bà con địa phương nhận diện bọn hung thủ là tay chân cộng tác viên của công an Lâm Đồng, chúng được CA thuê đi đâm thuê chém mướn, có tên là tội phạm hình sự đang thụ án sẽ được giảm án và thưởng tiền, cho về thăm nhà (theo mạng Dân luận cuối tháng 8/2015).

Theo nhà báo Đoan Trang kể lại trên mạng Dân Luận, khi cô và các bạn lên sân bay để đón anh Nguyễn Quang A từ Hoa Kỳ về  bị công an giữ lại 15 tiếng, trong khi ngồi chờ, cả nhóm bị bọn du côn cũng do công an thuê đánh đập tàn bạo, một tên rất to lớn đã bẻ tay cô, chửi rủa cô; tên này đã được chụp hình.

Lẽ ra tất cả mọi cấp công an cần phải học thuộc lòng Điều 20 của Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm thân thể, được pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.  Điều 23 còn ghi: “Công dân có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”.  Anh Nguyễn Quang A và cô Đoan Trang có quyền kiện ngành công an, những kẻ tự nhận là công bộc, đầy tớ của dân!

Với hàng chục vụ như trên xẩy ra hàng ngày, cuộc sống xã hội thật ngột ngạt, không có bình an cho mọi công dân. Bộ Chính trị đã tỏ ra vô cảm, bất động trước cuộc sống lam lũ, bất an của nhân dân. Không những vậy, cuộc sống còn ngột ngạt , đầy uất hận tăng thêm hàng ngày. Nền thống trị của một đảng tự nhận là cách mạng vì dân, đã phá sản hoàn toàn trong cuộc sống, lại còn tệ hại cay nghiệt hơn trước.

Sức chịu đựng của người dân là có hạn. Sự kiên nhẫn của toàn dân là có hạn.

Cuộc “xoay trục” để thoát Trung và gắn bó với các nước dân chủ mà nhiều đảng viên cấp cao hy vọng, toàn dân trông chờ có vẻ chỉ là đóng kịch, động tác giả. Đúng vào lúc Hoa Kỳ là nước hùng mạnh nhất khẩn thiết dang tay kết bạn, đúng vào lúc anh láng giềng lớn giở trò trở mặt có hành động xâm lược tạo điều kiện cho ta dứt tình, thì Bộ Chính trị run tay không dám bẻ lái vào con đường sáng sủa đầy triển vọng, vẫn cứ theo con đường mòn cũ kỹ, đầy ải dân tộc không biết đến bao giờ. Dân tộc Việt Nam ta với truyền thống giữ nước và dựng nước vẻ vang không thể cam chịu sự thống trị độc đoán kéo dài thêm nữa, để bất công lan rộng, người thật lòng yêu nước thương dân đòi tự do cho mọi người thì vẫn bị đầy đọa trong nhà tù.

Dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống một cuộc sống khác hẳn thực tế hiện nay, một xã hội dân chủ, công dân được tự do, bình đẳng, sự phân phối thành quả lao động và đổi mới công bằng hợp lý, một xã hội an bình, thân ái, phồn vinh, có hạnh phúc thật sự cho mỗi gia đình, cho toàn xã hội, nghĩa là một cuộc sống đáng sống, một cuộc sống hạnh phúc. Nếu không có Đảng CS, xã hội ta ắt sẽ được như thế.

Thái độ bảo thủ giáo điều, vô trách nhiệm với đất nước lâm nguy của Bộ Chính trị hiện tại chỉ làm  cho nhân dân thức tỉnh thêm, như cố tình đổ dầu vào ngọn lửa phẫn nộ đến căm giận của quần chúng mong chờ một sự đổi thay rõ rệt.

Tinh thần các chiến sỹ dân chủ đối lập trong các tổ chức xã hội dân sự lên cao thêm với số lượng hơn hẳn trước. Anh chị em rủ nhau lên tận cổng nhà tù để đón mừng công khai những người tù lương tâm được trả tự do, còn rủ nhau ra sân bay đón bạn chiến đấu từ xa về, còn tranh luận tay đôi với các viên chức chính quyền, vạch mặt bọn du côn ác ôn tay sai của công an gây sự, hành hung, với lý lẽ chặt chẽ và tư thế người giảng giải lẽ phải cho họ.

Anh em anh Đoàn Văn Vươn ra tù, tuyên bố vô tội và tiếp tục đấu tranh đòi công lý và quyền làm ăn trên đất vườn ao hồ do các anh lấn biển khai phá; bạn bè người thân đón chào các anh như những anh hùng trong các vòng tay thân thiết. Nhà các anh luôn nhộn nhịp đón các bạn xa gần trong tình thương yêu đùm bọc nhau trong cơn hoạn nạn. Đại tá đối lập Nguyễn Đăng Quang, anh Hoàng Xuân Phú và các bạn trẻ cũng về Tiên Lãng để thăm 2 anh và đặc biệt ca ngợi 2 chị Báu và Thương, vợ của hai anh.

Cũng với tinh thần cao như thế, nhà báo Trương Duy Nhất ra tù lập tức tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh vẫn với “Blog Một Góc Nhìn khác”, không mảy may e ngại sau những ngày tháng gian nan trong tù CS. Nhà tù CS đã vô tình tôi luyện anh.

Đông đảo bà con dân oan mất đất đã liên kết lại trong từng tỉnh, từng vùng, với tình nghĩa keo sơn cùng cảnh ngộ, chung lòng thương yêu đùm bọc nhau.

Thái độ ngang ngược của Bộ Chính trị, hứa hẹn hão với thế giới “sẽ giải quyết các vấn đề nhân quyền”  cũng làm dấy lên sự giận dữ và bực bội của thế giới. Nhiều nghị sỹ Hoa Kỳ, Úc, Thuỵ điển … lên tiếng đòi tự do cho các tù lương tâm, kết nghĩa với một số anh chị em, nêu đích danh các tù nhân họ đỡ đầu, như nhà báo Tạ Phong Tần, cô Bùi Minh Hằng, anh Trần Huỳnh Duy Thức. Một thượng nghị sỹ Hoa Kỳ còn công bố thư riêng gửi cho cô Hằng ở trong tù để ca ngợi, khích lệ an ủi cô.

Tất cả những sự việc trên đây trước kia là rất hiếm. Nay tình hình đối với một bộ phận lớn nhân dân là hết chịu nổi. Ai gây nên cảnh bất công, lạc hậu triền miên của đất nước? Bao nhiêu ý kiến kiến nghị tâm huyết chân thành đã bị bỏ qua, những người yêu nước, thương dân nhất thì bị cầm tù, trong khi ngành công an chà đạp Hiến pháp, luật pháp tha hồ hoành hành kết hợp với bọn con đồ lưu manh.

Lãnh đạo đảng CS hãy dành thì giờ đọc những bài tâm huyết đầy sức thuyết phục của nhà nghiên cứu – nhà ngoại giao Nguyễn Trung về Đại hội đảng XII sắp đến. Các bạn hãy đọc tiểu thuyết chính trị của Nguyễn Trung với đầu đề ngắn gọn: . Tác giả dùng hình ảnh để cảnh báo rằng Đảng CS đã phạm quá nhiều sai lầm, là nguyên nhân chính của tình trạng lạc hậu bất công kinh hoàng của đất nước trong 70 năm cầm quyền, 40 năm thống nhất đất nước. Tốt nhất là lãnh đạo đảng tỉnh ngộ sáng suốt giữ cho đảng CS tồn tại bằng cách tự thay đổi, vượt lên chính mình, chủ động cùng giới trí thức và giới kinh doanh lương thiện thỏa thuận một sự thay đổi triệt để mang tính chất cách mạng, cùng toàn dân phấn chấn đi vào kỷ nguyên Dân chủ. Đó cũng là con đường sáng, khôn ngoan sống còn duy nhất của Đảng CS.  Nếu như Bộ Chính trị vẫn giữ con đường toàn trị quay lưng lại với nhân dân, một mực mù quáng coi dân như cỏ rác thì nhân dân hết chịu nổi và tất yếu phải cùng nhau đứng dậy dành quyền sống cho mình, cho gia đình, cho quê hương, tổ quốc.

Lòng kiên nhẫn, sức chịu đựng của nhân dân là có giới hạn. Đến quá “ngưỡng” của kiên nhẫn, chịu đựng thì sẽ xảy ra, cuốn phăng mọi rác rưởi không ai chống lại nổi. Đó là lũ của lòng dân, được giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự cảnh báo trước, đã từng diễn ra tại nhiều nước bị gông cùm toàn trị đè nén quá lâu.

Mong rằng Bộ Chính trị ghi nhớ chân lý  “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.

Hungary đóng cửa biên giới, chặn làn sóng di dân

Hungary đóng cửa biên giới, chặn làn sóng di dân

Nguoi-viet.com

BUDADPEST, Hungary (AFP) Chính phủ Hungary hôm Thứ Ba ra lệnh đóng cửa biên giới với Serbia để ngăn chặn làn sóng người di dân đang cuồn cuộn kéo vào, trong khi chính phủ Ðức lên tiếng đả kích các quốc gia khác trong khối EU, gọi là điều “đáng xấu hổ” vì không nhận thêm di dân sau khi có thêm 22 người chết trên biển.


Hungary nay đóng cửa biên giới hoàn toàn với di dân. (Hình: Getty Images)

Quyết định của Budapest được đưa ra sau khi giới chức Áo và Slovakia khởi sự việc tạm thời kiểm soát biên giới, như Ðức đã làm từ ngày hôm trước.

Ðây là điều đi ngược lại với thỏa thuận Schengeng có từ nhiều năm nay giữa các quốc gia EU, nhằm đối phó với hơn nửa triệu người di dân đang kéo đến biên giới của khối này từ đầu năm tới nay.

Phó Thủ Tướng Ðức Sigmar Gabriel nói rằng Âu Châu “tự làm xấu hổ chính mình” sau khi các bộ trưởng EU không đạt được thỏa thuận hôm Thứ Hai về việc san sẻ gánh nặng đón nhận người di dân.

Cảnh sát Hungary dùng hàng rào kẽm gai khóa lại khoảng trống rộng chừng 40m, vốn cho đến khuya ngày Thứ Hai vẫn được người di dân dùng để vượt qua biên giới.

Tuy nhiên đến sáng Thứ Ba, cổng qua biên giới tại Roskzke và Asothalom đều bị đóng, khiến hàng trăm người bị kẹt trên lãnh thổ Serbia, không biết khi nào sẽ vào được quốc gia thành viên EU này để tiếp tục đi tới Ðức hay Áo như những người di dân trước đó.

Việc đóng cửa được thực hiện sau khi Hungary ban hành luật mới, theo đó coi việc vượt biên giới bất hợp pháp là một tội có thể bị phạt tới ba năm tù. (V.Giang)

Một vài kỷ niệm nho nhỏ với Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Một  vài  kỷ  niệm  nho  nhỏ  với  Thi  sĩ  Nguyễn  Chí  Thiện

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Thi sĩ, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện (1939 – 2012) là một nhân vật được nhiều người quý trọng mến phục vì tinh thần kiên cường bất khuất của ông chống lại chế độ độc tài tàn bạo của đảng cộng sản tại Việt nam. Đã có rất nhiều người viết về ông, đặc biệt kể từ ngày ông lìa trần tại California vào tháng 10 năm 2012. Nay nhân ngày giỗ đọan tang của ông, tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm thật dễ thương và đáng nhớ với một người bạn đã từng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQ) có trụ sở chính đặt tại miền Nam California.

Từ hồi năm 2001, khi dọn về cư ngụ tại California, anh Thiện đã thường xuyên sinh họat với MLNQ chúng tôi. Anh được mời tham gia với tư cách là một thanh viên trong Ban Cố vấn của MLNQ – trong đó có những nhân vật có tên tuổi như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách là bào đệ của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Luật sư Trần Thanh Hiệp, Giáo sư Đoàn Viết Họat v.v…

Trong các phiên họp định kỳ mỗi tháng, anh Thiện thường có mặt và anh luôn đóng góp những ý kiến thật là xây dựng tích cực và quý báu cho Ban Điều hành chúng tôi.

Với sự hiểu biết sâu sắc về tình hình chính trị xã hội ở trong nước và nhất là qua những thông tin chính xác mà anh thu thập được từ nơi các bạn bè thân tín của anh tại quốc nội – anh Thiện đã góp ý hướng dẫn rất tận tình cho anh chị em chúng tôi trong MLNQ trước những vấn đề quan trọng tinh tế liên quan đến công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt nam. Anh luôn biểu lộ một lập trường kiên định dứt khóat đối với chế độ độc tài thâm độc của người cộng sản từ xưa đến nay. Mà anh cũng được tất cả anh chị em chúng tôi quý mến vì cái phong cách điềm đạm nhân ái của một sĩ  phu quân tử, theo đúng với truyền thống xưa nay của dân tộc chúng ta.

Và qua anh Thiện, chúng tôi còn được biết thêm về cái tư cách đáng quý của những người bạn tù chính trị thân thiết lâu năm với anh, cụ thể như các anh Kiều Duy Vĩnh, Phan Hữu Văn v.v…

Anh Thiện không lái xe, nên nhiều người trong số anh chị em chúng tôi thay phiên nhau đến đón anh và chở anh về mỗi khi có các buổi họp của MLNQ. Và mỗi lần đi chung xe với anh Thiện, chúng tôi lại còn được anh chuyện trò tâm sự về nhiều khía cạnh trong cuộc sống riêng tư ở Việt nam, cũng như ở nhiều quốc gia trên thế giới mà anh đã có dịp đi qua. Còn ngòai ra, thì anh Trần Phong Vũ mới là người tài xế thường xuyên lo chuyên chở anh Thiện đi khắp nơi.

Vào khỏang năm 2008, trong lần đi chung xe với anh sau một phiên họp của MLNQ, thì anh Thiện có than thở tâm sự riêng với tôi đại để như thế này: “Ở vào cái giai đọan già yếu bệnh tật như lúc này, sao tôi thấy chán nản bi quan quá đối với cuộc đời tại thế này đấy, anh ạ…” Nghe vậy, tôi không khỏi thắc mắc, vì đối với một con người chiến sĩ kiên cường sắt đá như “Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện” vốn đã từng vượt qua được bao nhiêu đày đọa áp bức trong nhà tù cộng sản suốt gần 30 năm ròng rã – ấy thế mà lúc này đang sinh sống tại một nơi có đày đủ tự do và tiện nghi thỏai mái như ở nước Mỹ, anh lại đâm ra chán chường yếm thế đến như vậy!

Và tôi nhớ mình đã trả lời anh như sau: “ Thông thường vào lúc cuối đời, sau khi đã trải qua bao nhiêu sóng gió đọan trường trong cuộc sống, thì các cụ xưa hay nói đến chuyện “Tu Thân Tích Đức” để rồi chuẩn bị “về với ông bà tổ tiên” thôi. Nói cách khác, người lớn tuổi thì tìm cách nâng cao tâm hồn mình lên một bình diện tâm linh và tôn giáo – như trong tiếng Pháp người ta gọi đó là một thứ “dimension spirituelle/religieuse” vậy mà… Nghe tôi nói như vậy, anh Thiện tỏ vẻ trầm ngâm và không nói gì thêm nữa cho đến lúc chúng tôi chia tay nhau ở một địa điểm mà anh phải đến để tham dự một phiên họp khác nữa.

Vào năm 2013, nhân dịp Đại Hội lần thứ XI của MLNQ được tổ chức tại miền Nam California, Bác sĩ Lâm Thu Vân, một đại biểu đến từ Canada đã phát biểu trong phần Tưởng niệm hai vị Cố vấn vừa mới qua đời mới đây, đó là Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện và Bác sĩ Nguyễn Tường Bách. Bằng một giọng thật xúc động Bác sĩ ThuVân nói :”Đây là hai người chiến sĩ mà tôi luôn kính trọng như là thần tượng gương mẫu cho công cuộc tranh đấu gian khổ vì lý tưởng Tự do, Dân chủ và Nhân quyền của dân tộc Việt nam chúng ta vậy…”

Như dân gian vẫn thường nói: “Cọp chết thì để lại bộ da, người ta chết thì để lại cái nết”. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã đi xa, lìa khỏi cõi tạm này. Nhưng cái nết na, đạo hạnh và cái chí khí kiên cường bất khuất của anh thì vẫn còn lại mãi như là một tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau vậy./

Westminster California, tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Tôi đã gặp lại Chị Lài tại Ba lan

Tôi đã gặp lại Chị Lài tại Ba lan

Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tháng 6 năm 2012 vừa rồi, trong chuyến đi Âu châu, tôi đã có dịp đến thăm gia đình chị Trần Thị Lài tại thành phố Cracovie là cố đô của nước Ba lan. Chị Lài theo học Ban Cử nhân Văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài gòn vào giữa thập niên 1950. Hồi đó, chúng tôi cùng sinh họat chung với nhau trong Nhóm Sinh viên Công giáo do cha Nguyễn Huy Lịch làm Tuyên úy hướng dẫn.

Nhóm chúng tôi có chừng 30 thành viên là sinh viên thuộc nhiều phân khoa khác nhau và thường gặp gỡ trao đổi với nhau sau khi cùng tham dự Thánh lễ ngày Chủ nhật tại nhà nguyện thuộc Tu viện Mai Khôi trên đường Nguyễn Thông gần với Bệnh viện Saint Paul. Ở độ tuổi 20 – 25, chúng tôi sinh sống thật hồn nhiên, vô tư lạc quan yêu đời giữa lòng một xã hội tương đối thanh bình và thịnh vượng ở miển Nam Việt nam thời đó.

Sau khi tốt nghiệp đại học, chị Lài đi dậy môn Pháp văn mấy năm tại Nữ Trung học Gia Long. Rồi chị đi qua Pháp để học thêm lên bậc cao học. Vào khỏang năm 1964, chúng tôi được tin là chị Lài thành hôn với anh Stefan Wilkanowicz và theo chồng về sinh sống tại Ba lan. Có thể đây là trường hợp đầu tiên mà một người từ miền Nam Việt nam lập gia đình với người Ba lan và đến sinh sống tại quốc gia dưới chế độ cộng sản này.

Mùa hè năm 1970, chị Lài về thăm gia đình tại Việt nam nhân dịp Lễ Giỗ Đầu của thân phụ là Cụ Trần Văn Lý – người đã từng giữ chức vụ Thủ Hiến Trung Việt dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại vào năm 1950. Và các bạn chúng tôi đã thật vui mừng được gặp lại chị Lài sau mấy năm xa cách. Buổi hội ngộ thân tình ấm cúng này cũng diễn ra như xưa tại văn phòng của cha Lịch trong Tu viện Mai Khôi.

Chị kể cho chúng tôi về nhiều chuyện khó khăn phức tạp dưới chế độ cộng sản ở Ba lan, đặc biệt là nếp sinh họat của người công giáo thời đó. Chị cho tôi địa chỉ của anh Stefan Wilkanowicz là phu quân của chị lúc đó đang làm cho văn phòng của Pax Romana quốc tế có trụ sở tại thành phố Fribourg Thụy Sĩ. Thế mà vào cuối năm 1970, khi tôi có việc qua Genève thì cũng tìm đến Fribourg để thăm anh Stefan luôn thể, nhưng vì đúng vào dịp nghỉ lễ Noel, nên tôi đã không gặp được anh.

Từ ngày qua định cư ở Mỹ năm 1996, tôi đã dò hỏi nhiều nơi, nhưng cũng không làm sao liên lạc được với chị Lài, kể cả qua địa chỉ e-mail do một anh bạn gửi cho. Mãi đến khi tôi qua Paris vào mùa Xuân năm 2012, thì nhờ được bà con ở Ba lan cho biết số điện thọai chính xác của gia đình chị ở thành phố Cracovie, nên tôi mới liên lạc nói chuyện được với chị Lài. Qua điện thọai, tôi nghe được giọng nói của chị thật rõ ràng và mạnh mẽ, biểu lộ nỗi vui mừng được tin về một số bạn bè thân thiết từ cái thời còn đi học đã trên 50 năm xưa ở quê nhà Việt nam.

Và vào đầu tháng 6, tôi đã bay từ thành phố Frankfurt nước Đức để tới thăm anh chị Lài & Stefan Wilkanowicz tại cái thành phố là cố đô của Ba lan. Như vậy là kể từ ngày gặp nhau lần cuối ở Saigon vào năm 1970 cho đến năm 2012 này – tức là sau 42 năm thì chị Lài và tôi mới lại có cơ hội gặp nhau ở Ba lan là quê hương của chồng chị. Rõ ràng đây là một cuộc hội ngộ trùng phùng rất mực kỳ thú đối với cả hai phía chúng tôi.

Trong dịp này, tôi đã đến sinh sống vài ngày với gia đình anh chị tại một căn hộ trên lầu ba của một chung cư tọa lạc trong khu trung tâm thành phố Cracovie. Anh chị có hai cháu gái đều đã trưởng thành và có gia đình ở riêng, nên hiện trong nhà chỉ còn có hai vợ chồng già sống chung với nhau mà thôi. Mỗi ngày thì có người đến giúp dọn dẹp nhà cửa bếp núc và đi chợ mua sắm thực phẩm cho gia đình.

Ở vào tuổi 83, chị Lài đã bắt đầu có dấu hiệu suy thóai về mặt trí nhớ, nên khi chuyện trò trao đổi với tôi, thì có nhiều câu hỏi chị cứ nhắc đi nhắc lại hòai. Trái lại, anh Stefan ông xã của chị, thì dầu đã ở tuổi 87 mà anh vẫn còn rất sáng suốt tinh tường. Anh nói tiếng Pháp khá trôi chảy lưu lóat và ra tay lo lắng chăm sóc cho tôi thật là chu đáo tươm tất.

Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện của ”một gia đình Việt – Ba lan” này, tôi xin lần lượt ghi lại chi tiết hơn về chị Lài, anh Stefan và cháu gái tên Việt nam là Lan.

1 – Câu chuyện của chị Lài.

Gặp lại chị Lài lần này, tôi được nghe chị kể lại nhiều kỷ niệm xa xưa ở Việt nam mà chị nhớ rất kỹ. Cụ thể như chị nói về chuyện ông cụ hồi làm Quản Đạo ở Đà lạt hồi trước năm 1940, thì đứng ra tổ chức cho một số bà con từ miền Bắc vào làm nghề trồng rau ở vùng cao nguyên này. Chị còn nhớ lúc đi theo thân phụ ra bến xe để đón lớp người này mang theo cả gia đình cùng với mọi thứ gồng gánh nồi niêu chén bát từ mãi xứ Hà Đông Nam Định vào lập nghiệp ở địa phương.

Chị cũng kể lại những năm tháng theo học nội trú tại trường của mấy ma soeur người Pháp với kỷ luật khá nghiêm khắc – mà nhờ vậy chị tiếp thu được số vốn kiến thức vững chắc, nhất là với môn Pháp văn và cổ ngữ La tinh – khiến cho chị có thể tiến xa trên đường học vấn sau này.

Chị vẫn còn nhớ cái thời tham gia viết báo Thông Cảm với Nhóm Sinh viên Công giáo chúng tôi năm xưa ở Saigon. Chị gọi các bạn thời đó đều có tinh thần của người chiến sĩ dấn thân phục vụ xã hội và là những người đồng điệu với chị nữa (militants – âmes soeurs). Khi nghe tôi nhắc đến tên những người đã ra đi – điển hình như cha Nguyễn Huy Lịch, anh Dược sĩ Trần Quý Thái v. v…, thì chị đều nhớ đến và bày tỏ lòng thương tiếc đối với những nhân vật mà chị đã từng sát cánh gắn bó thân thiết trong thời gian cùng sinh họat chung với nhau đã đến trên nửa thế kỷ trước đây.

Trên Internet, tôi còn được đọc một bài phỏng vấn khá nhiều chi tiết do chị Lài trả lời cho một nhà báo người Ba lan tên là Malgorzata Dzieduszycka vào khỏang năm 1994. Bài báo có nhan đề tiếng Anh là : ” An interview with Lai Wilkanowicz, a Vietnamese woman who has been living in Poland for 30 years “ (Bài Phỏng vấn với bà Lài Wilkanowicz, người phụ nữ Việt nam đã sống ở Ba lan suốt 30 năm). Chị Lài kể lại về mối tình của chị với anh Stefan mà chị gặp gỡ lần đầu tiên khi cùng tham dự một Hội nghị quốc tế của Pax Romana được tổ chức vào năm 1957 tại San Salvador ở Nam Mỹ.Và mãi đến năm 1964, sau khi vượt qua bao khó khăn trở ngại, thì chị mới có thể đến Ba lan để cùng chung sống với anh được.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, chị Lài còn cho biết chị đã dịch nhiều tài liệu từ tiếng Ba lan sang tiếng Pháp – đặc biệt là các sách của Tổng Giám Mục Karol Wojtyla. Nhờ vậy mà chị mới có đủ phương tiện tài chánh để lo giúp trang trải mọi phí tổn rất nặng nề cho người em ở Việt nam có thể qua định cư bên nước Pháp. Chị cũng còn dịch cả cuốn tiểu sử của nữ tu Faustyna là người được coi như một “Sứ giả rao truyền về sự sùng kính Lòng Thương Xót Chúa” (Divine Mercy) nữa.

Và mới đây vào tháng 10/2012, báo Đàn Chim Việt còn giới thiệu cuốn Tự truyện của cháu Lan là con gái đầu lòng của anh chị, thì bài báo còn ghi là chị Lài đã cho xuất bản vào năm 2004 một cuốn Hồi ký bằng tiếng Ba lan với nhan đề : “ Từ Việt nam đến Ba lan : truyện của một người con gái quan huyện”. Các chi tiết này, quý bạn đọc đều có thể đọc trên Internet, nên tôi khỏi cần ghi thêm ở đây nữa.

2 – Câu chuyện của anh Stefan.

Anh Stefan năm nay đã ngòai 87 tuổi mà vẫn còn làm việc đi đứng vững vàng. Stefan là một trí thức Công giáo có tên tuổi ở Ba lan, anh đã từng làm Tổng Biên tập trong nhiều năm cho nhà xuất bản có tiếng Znak và cả cho một tờ tuần báo nữa. Anh là một thành viên của tổ chức “Bảo tàng Khu Thiêu người Auschwitz” xưa kia của Đức Quốc Xã. Và Stefan cũng có chân trong Hội Đồng Giáo Hòang về Giáo Dân (Pope’s Council for Lay Catholics).

Anh dẫn tôi đi khắp nơi trong thành phố bằng xe taxi hay xe bus để làm việc này chuyện nọ một cách dễ dàng. Chị Lài có nhắc anh dẫn tôi đến thăm nhà xuất bản Znak là cơ sở anh đã gắn bó cộng tác từ nhiều năm, nhưng đúng lúc đó thì cơ sở này đang đóng cửa để sửa chữa lại, nên tôi đã không có dịp đến thăm viếng nhà xuất bản có danh tiếng này.

Stefan cho tôi biết : Bản luận văn tốt nghiệp đại học của anh lấy chủ đề là : “L’émancipation ouvrìere selon Emmanuel Mounier” (Sự Giải phóng giới Lao động theo chủ trương của Emmanuel Mounier là người khởi xướng ra chủ thuyết Nhân vị (Personnalisme) ở Pháp từ sau Đệ Nhất Thế chiến và cũng là sáng lập viên của tạp chí Esprit mà hiện vẫn còn tiếp tục ấn hành). Và chúng tôi có dịp trao đổi về các tác giả thuộc trường phái Nhân bản Thiên chúa giáo ở Pháp vào giữa thế kỷ XX như Jacques Maritain, Gabriel Marcel – mà từ hồi còn là sinh viên chúng tôi đã say mê theo dõi học hỏi. Trong nhà anh, tôi thấy vẫn còn các số báo mới nhất của tạp chí Esprit từ Pháp gửi cho anh – báo này từ sau 1975 thì tôi không hề thấy xuất hiện tại Việt nam nữa.

Stefan còn kể lại cho tôi cái kỷ niệm sinh họat sôi nổi với các “Công nghị cấp giáo phận” (synode diocésain) dười thời Giám mục Karol Wojtyla cai quản giáo phận Cracovie (mà sau này đó chính là vị Giáo hòang nổi danh Jean Paul II của Giáo Hội Công giáo La mã). Anh nói : Phải có đến 500 đơn vị các synode này với khí thế nô nức của mọi giới công giáo hội họp thảo luận về các khía cạnh đổi mời của Giáo hội Công giáo tại địa phương. Đó là một phong trào tự phát của quần chúng công giáo mà chính quyền cộng sản không thể làm cách nào mà cấm cản hay dẹp bỏ được. Tuy vậy, lên đến cấp quốc gia (synode national), thì các công nghị này lại không thể nào đạt kết quả mong muốn được.

Trả lời câu hỏi của tôi là : “Liệu bây giờ có thể gây lại phong trào quần chúng tôn giáo như vậy nữa chăng?”, thì Stefan cho biết : “Bây giờ nhờ có Internet, thì giới trẻ có nhiều điều kiện thuận tiện để phát động phong trào canh tân như đã khởi sự từ khỏang 40 năm trước ngay tại giáo phận Cracovie này.” Cuộc trao đổi giữa anh và tôi kéo dài trong nhiều giờ với nhiều chi tiết lý thú về quá trình xây dựng và phát triển phong trào canh tân của giới Công giáo Ba lan  –  mà tôi sẽ có dịp ghi lại đày đủ hơn trong một bài riêng biệt khác.

Mà ở đây, tôi muốn ghi ra sự nhận xét của mình về sự bền vững của tình yêu giữa hai anh chị Lài & Stefan – đó là cả hai người đều ôm ấp theo đuổi cùng một lý tưởng của người chiến sĩ – như chính chị Lài đã nói với tôi :  Chúng ta đều là những “militants”, là “âmes-soeurs” với nhau. Và cả hai anh chị suốt cuộc đời đều họat động trong lãnh vực văn hóa của Giáo hội Công giáo Ba lan – cụ thể là sát cánh chặt chẽ với Tổng Giám mục Karol Wojtyla ở Cracovie là người sau này trở thành Giáo Hòang Jean Paul II nổi tiếng.

Hồi ký của chị Lài cũng như Tự truyện của cháu Lan đã ghi chi tiết về mối tình này. Kể cả trong bài phỏng vấn vào năm 1994 đã nêu ở trên, thì chị Lài cũng đã nói nhiều về mối tình keo sơn tuyệt vời này nữa.

Và tôi cũng còn chứng kiến việc anh Stefan chăm sóc tận tụy và trìu mến đối với người bạn đời hiện đang có triệu chứng của bệnh Alzheimer nữa.

3 – Câu chuyện của cháu Lan, trưởng nữ của anh chị Lài – Stefan.

(tên đày đủ là : Lan Marzena Wilkanowicz – Devoud)

Tôi chưa có dịp gặp cháu Lan, vì anh Stefan cho biết cháu sống tại Paris với người chồng là dân Pháp. Tôi đóan cái chữ Devoud ở cuối cái tên dài như được ghi ở trên, thì đó là tên họ của chồng cháu. Lan là tiếng Việt như Hoa Lan (Orchidea), Marzena mới là tên tiếng Ba lan. Còn Wilkanowicz là tên họ nội của cháu. (Tên mẹ là Lài (Jasmine) – em gái chị Lài có tên là Huệ (Lily), thì cũng lại là một thứ Hoa nữa)

Cuối tháng 10 năm 2012, cháu Lan có cho ấn hành cuốn Tự truyện bằng tiếng Ba lan tại thủ đô Varsovie và đã có nhiều bà con người Việt tại Ba lan đến dự buổi ra mắt. Cuốn sách này đã được giới thiệu trên báo điện tử Đàn Chim Việt và được nhiều độc giả chú ý theo dõi. Vì không đọc được nguyên tác bằng tiếng Ba lan – mà cũng chưa thấy có bản tiếng Anh hay tiếng Pháp – nên tôi xin phép được trích dẫn một vài đọan trong bài báo của Đàn Chim Việt như sau đây để giới thiệu với quý bạn đọc câu chuyện của cháu Lan :

…”Lan Marzena là kết quả của mối tình “không tưởng vô cùng lãng mạn của người trí thức Ba lan với cô gái Việt Nam dòng dõi – trong khi chiến tranh, chính trị và khỏang cách địa lý là những rào cản thách thức tưởng như không thể vượt qua.”

“Mẹ cô, Maria Teresa Trần Thị Lài là con gái của quan Trần Văn Lý, người từng giữ chức cai quản tại Đà lạt thời Pháp thuộc. 28 tuổi, bà gặp người chồng tương lai trong cuộc Họp mặt Thanh niên Công giáo Pax Romana tại San Salvador (Nam Mỹ) và … sau 7 năm xa cách, bà quyết định lấy ông Stefan Wilkanowicz khi đó là ký giả của tuần báo Công giáo Tygodnik Pawzechny…”

“… Mối tình của ông bà Wilkanowicz “ly kỳ và có khi còn hay hơn cả phim Hollywood, vì là chuyện có thật” (theo lời ghi của cô Lan)”.

“… Lan Marzena dẫn ta tới gặp các nhân vật lịch sử cận đại của Ba lan mà chị gặp, kết thân và học hỏi – trong đó có Thủ Tướng đầu tiên của Ba lan dân chủ Tadeusz Mazowiecki, các nghệ sĩ, nhà văn, các tên tuổi tạo mode Anh, Pháp mà chị từng làm việc cùng trong 13 năm làm Tổng biên tập đầu tiên của nguyệt san “Elle” Ba lan…”

4 – Để tóm lược lại.

Khi tìm đến thăm gia đình chị Lài ở Ba lan, tôi chỉ nhắm mục đích thật đơn giản là gặp lại người bạn thân thiết từ thuở còn đi học ở Saigon trên nửa thế kỷ trước. Nhưng sau cuộc viếng thăm này, tôi thật không ngờ là chị bạn của mình đã trải qua một cuộc sống cam go mà thật sôi động giữa lòng một đất nước xa lạ dưới sự kềm kẹp ngặt nghèo của chính quyền cộng sản. Và tôi thật vui mừng thấy được anh chị Lài – Stefan đã vượt qua được bao nhiêu nghịch cảnh sóng gió và giữ vững được niềm tin son sắt của mình đối với Đạo Công giáo – mà cả hai dòng họ của anh chị ở Việt nam cũng như ở Balan đã gắn bó vững chãi từ bao nhiêu thế hệ trước.

Bài viết này chỉ nhằm ghi lại một cách sơ lược về chuyến thăm viếng của tôi đến với gia đình anh chị. Do vậy, nó chỉ có tính cách riêng tư về tình cảm bạn hữu giữa chúng tôi – kể cả giữa một số bằng hữu quen biết trong thế hệ sinh viên chúng tôi ở Saigon thời trước mà thôi.

* Vì thế, tôi hy vọng sẽ có bà con hiện sinh sống ở Ba lan có điều kiện tham khảo trực tiếp từ các tài liệu viết bằng tiếng Ba lan – để rồi trình bày cho công chúng độc giả người Việt hiểu biết tường tận hơn về một gia đình “Việt – Balan” với nhiều tình tiết thật là ly kỳ sinh động này. Mong lắm thay!

Costa Mesa California, Tháng 11 năm 2012

Đòan Thanh Liêm

Ghi chú: Chị Teresa Maria Trần Thị Lài đã qua đời tại Cracovie vào đúng ngày 15 tháng Tám năm 2014.

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!


Bài phát biểu của ông Nguyên Ngọc
tại lể khai giảng Trường Đại học Phan Châu Trinh

Hôm nay, mồng 9 tháng 9 năm 2015, kỷ niệm ngày sinh của nhà chí sĩ, nhà văn hóa và nhà giáo dục kiệt xuất Phan Châu Trinh, cũng là ngày truyền thống của trường ta, trường Đại Học Phan Châu Trinh làm lễ Khai giảng khóa K 15, khóa học 2015-2019.

Thay mặt lãnh đạo nhà trường, tôi xin chào mừng và chân thành cám ơn các vị đại biểu đã đến chia vui cùng thầy trò chúng tôi. Xin chào mừng tất cả các thầy cô, các cán bộ nhân viên, các sinh viên và cựu sinh viên của trường. Và đương nhiên, lời chào nồng nhiệt nhất hôm nay của tất cả chúng ta là dành cho các tân sinh viên, chào mừng các em nữ và nam từ khắp nơi, có em từ tận Thái Bình cuối Đồng bằng sông Hồng, có em từ tận Thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, đã đến với không gian Phan Châu Trinh thân yêu của chúng ta. Tôi xin phép, và tôi tin chắc tất cả quý vị đều đồng ý cho phép tôi hôm nay dành diễn từ khai giảng này để chủ yếu nói với các tân sinh viên, những thành viên mới mẻ và trẻ trung của gia đình Phan Châu Trinh.

Các em thân yêu,

Như các em đều biết, trường của chúng ta có tên là trường Đại học Phan Châu Trinh. Và tôi xin nói: Những người sáng lập ngôi trường này đã chọn cái tên ấy với tất cả tâm huyết và với một ý tứ sâu xa. Bởi vì đấy là tên của một con người rất đặc biệt, cũng có thể nói rất kỳ lạ, hết sức độc đáo và là người sáng suốt nhất trong lịch sử cận đại và hiện đại của nước ta. Sự sáng suốt của ông còn soi đường cho chúng ta đến tận ngày nay.

Phan Châu Trinh sinh ra khi đất nước chìm đắm trong vòng nô lệ tối tăm và thảm khốc. Và khi ông bước vào đời, nghĩa là đến tuổi như tuổi các em hôm nay, thì tất cả các cuộc nổi dậy cứu nước của tất cả những người anh hùng dũng cảm và tài năng nhất để chống ngoại xâm giải phóng dân tộc bấy giờ đều thất bại đau đớn. Cha của Phan Châu Trinh là một vị tướng anh hùng đã chết trong một cuộc khởi nghĩa anh hùng, tuyệt vọng và thất bại cay đắng như thế … Trước tình hình bức thiết đó, nảy sinh câu hỏi nóng bỏng: Vì sao? Và làm thế nào? Tất cả bấy giờ đều chỉ có một câu trả lời: Phải anh hùng hơn nữa! Dám hy sinh nhiều hơn nữa ! Tất cả. Trừ một người. Người đó là Phan Châu Trinh. Ông nói: Không, không phải như vậy, không thể đi con đường ấy nữa. Ông là người duy nhất đi tìm và đã tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc bị đày đọa vào vòng nô lệ thảm khốc, không phải trong sự thiếu anh hùng của nhân dân, mà là ở trong văn hóa, trong sự lạc hậu nguy hiểm về văn hóa của đất nước, so với thế giới, một thế giới đã đổi khác về căn bản – ngày nay ta gọi là thế giới toàn cầu hóa – mà ông cũng là người duy nhất hồi bấy giờ nhận ra. Ông nói chính sự tăm tối và ngu dốt, sự lạc hậu quá xa so với thế giới hiện đại là nguyên nhân khiến Việt Nam mất nước. Ông khẳng định căn bệnh chết người của dân tộc là căn bệnh về văn hóa, ngu dốt và lạc hậu về văn hóa. Và để chữa trị một căn bệnh về văn hóa thì chỉ có một phương thuốc duy nhất, đó là Giáo dục. Phan Châu Trinh chủ trương một cuộc cải cách giáo dục căn bản, hiện đại, triệt để, toàn diện, rộng lớn, đưa Việt Nam thành một nước văn minh, tiên tiến, cùng nhân loại năm châu. Có như vậy thì nền độc lập đươc dành lại dù bằng cách nào mới là độc lập thật sự, độc lập mới bền vững, nhân dân mới thật sự có hạnh phúc …

Tiếc thay, những điều kiện éo le của lịch sử đã khiến cho chương trình vĩ đại của Phan Châu Trinh bị dở dang. Lịch sử đã đi theo con đường khác. Độc lập và thống nhất đã được dành lại. Nhưng, tôi nghĩ hôm nay chúng ta cần dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau, chúng tôi có trách nhiệm thẳng thắn nói với các bạn trẻ sự thật này: nay chúng ta đã có độc lập rồi, nhưng căn bệnh chết người Phan Châu Trinh đã thấy và thống thiết muốn chạy chữa cho dân tộc hơn một trăm năm trước thì về cơ bản vẫn còn nguyên đấy. Vẫn là nguy hiểm chết người. Việt Nam vẫn là nước lạc hậu, đứng ở hàng cuối không chỉ của thế giới, mà ngay của khu vực, của châu Á và Đông Nam Á. Chúng ta phải dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau sự thật ấy. Chính vì vậy mà ngôi trường này mang tên là trường Phan Châu Trinh. Ngôi trường này được thành lập, tất cả chúng ta có mặt ở đây, các thầy cô giáo, các cán bộ nhân viên của trường, và các em sinh viên trẻ trung, quan trọng và chủ yếu nhất là các em, chúng ta có mặt ở đây là để góp phần, dù là nhỏ nhoi, tiếp tục chương trình sống còn do nhà giáo dục vĩ đại Phan Châu Trinh khởi xướng và còn bị dở dang. Trường của chúng ta nhỏ, còn non trẻ và nghèo, sức của mỗi chúng ta hạn chế, nhưng chúng ta có một lý tưởng lớn, chúng ta, người dạy, người học, chúng ta biết chúng ta tham gia vào một chương trình to lớn và có ý nghĩa sinh tử đối với đất nước này, hôm nay và ngày mai.

Thưa quý vị,

Các em thân yêu,

Ở trên tôi có gọi Phan Châu Trinh là một nhà giáo dục lớn, có lẽ điều ấy hơi lạ, xưa nay người ta thường vẫn coi và vẫn gọi ông là một chí sĩ yêu nước, hoặc có nhiều hơn nữa, là một nhà văn hóa. Song như ta vừa thấy, một trong những đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh là ở chỗ ông đồng nhất giáo dục với giải phóng, theo ông chỉ có giáo dục mới thật sự giải phóng được con người, thật sự giải phóng được dân tộc. Ông quan niệm giáo dục tức là giải phóng. Ở đây có một ý tứ rất thâm sâu, mà hôm nay tôi muốn được nói với các em vì trường chúng ta thiết tha đi theo quan niệm này, sẽ cố gắng tối đa thực hiện nó trong mọi hoạt động của mình, đến cả trong “khí quyển’’ của không gian Phan Châu Trinh mà thầy trò chúng ta cố gắng cùng nhau xây dựng nên, cùng sống và làm việc trong đó. Suốt 4 năm. Và rồi các em sẽ mang theo ra đời, suốt đời.

Nhà thơ lớn của nước Anh John Keats có một câu nói thâm thúy về giáo dục, Keats nói: ‘’Giáo dục không phải là chất cho đầy, mà là đốt lên ngọn lửa’’. Chất cho đầy (kiến thức) tức là rót từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống, đổ cho đầy vào đầu con người được coi là một cái thùng ù lì, bị động. Đốt lên ngọn lửa là khêu cháy từ bên trong. Giáo dục khêu cháy từ bên trong, vì giáo dục bắt đầu bằng lòng tin rằng trong mỗi con người đều có, tiềm ẩn, mầm mống của một ngọn lửa, tức những năng lực có thể và cần được đánh thức dậy để phát triển. Giáo dục là giải phóng, là đánh thức. Đánh thức cái vốn đã có sẵn trong từng con người, từng người học, từng sinh viên. Hôm nay, trong ngày đầu tiên các em bước chân vào trường, tôi muốn nói với các em điều này: ở trường này có một phương châm, một niềm tin: không có sinh viên kém. Em nào cũng giỏi, tất cả, không trừ một ai, tạo hóa rất công bằng, mọi người đều giỏi, mỗi người giỏi một cái, một cách, người giỏi toán, người giỏi văn, người giỏi ngoại ngữ, người giỏi tin học, người giỏi nhạc, người giỏi đá bóng, người hát hay, người vẽ đẹp, người năng nổ trong giao tiếp, người thâm trầm trong suy nghĩ …, đều quý, xã hội đều cần vì xã hội có những nhu cầu hết sức đa dạng. Sở dĩ ta coi người này hay người kia là kém, dốt, vì ta thường có lối đòi hỏi chủ quan, vô lý và kỳ quặc, cứ một mực đòi mọi người đều phải giỏi cùng một thứ mà ta cũng rất chủ quan coi là quan trọng nhất, ai không giỏi theo đúng đòi hỏi chủ quan của ta thì ta cho là dốt, khinh miệt và đẩy qua một bên trên đường đi tới của cộng đồng. Nói cho đúng, đấy là một tội ác, bởi vì người bị ta chủ quan coi là dốt sẽ đinh ninh mình dốt thật, chẳng đáng gì trong xã hội, mất hết tự tin, tự coi thường, tự khinh bỉ chính mình, sẽ lủi thủi với cái dốt tưởng tượng, thành một ám ảnh tủi nhục suốt đời.

Ở trường này chúng ta nhất quyết không làm như vậy, không đi theo con đường phi nhân bản, phi giáo dục đó. Chúng ta chủ trương làm một kiểu giáo dục khác, một kiểu giáo dục hạnh phúc, giáo dục đem lại cho con người hạnh phúc, giáo dục khiến cho con người hạnh phúc hơn, giáo dục làm cho con người tự tin và tự hào về chính mình, tôi muốn đề nghị chúng ta gọi là ‘’kiểu giáo dục Phan Châu Trinh’’. Trong 4 năm tới, bắt đầu từ hôm nay, trường chúng ta, thầy trò chúng ta quyết cùng nhau làm cho kỳ được một trong những việc quan trọng nhất: bằng mọi cách (trong đó có một cách rất quan trọng là chương trình giáo dục khai phóng mà chốc nữa thầy Chu Hảo sẽ trao đổi cùng các em), giúp cho mỗi em tự hiểu mình, tự khám phá và phát hiện chính mình, biết cho ra, hiểu cho rõ mình giỏi cái gì, đặc sắc nhất cái gì, từng em. Theo tôi, đó là công việc quan trọng nhất của mỗi thầy cô giáo, nằm trong chiều sâu căn bản của thiên chức nhà giáo nơi mỗi thầy cô. Nhưng cũng đương nhiên, trước hết, chủ yếu, đó phải là nổ lực của các em, từng em, với sự giúp đỡ của các thầy cô, của các bạn, của toàn bộ môi trường giáo dục mà chúng ta phải cùng nhau tạo ra ở đây. Trước hết ở các em, từng em, tôi nhắc lại. Bởi vì phát triển bao giờ cũng là tự phát triển, như cái cây phải tự nó lớn lên, không ai có thể lớn lên thay nó được.

Và một quá trình như vậy chỉ có thể có kết quả khi nó là một sự hợp tác khắng khít, dân chủ, tự do và bình đẳng giữa chúng ta, người dạy và người học, thầy và trò.

Ở trường này có một nhận thức rõ ràng: sinh viên là công dân đi học. Sinh viên cần ứng xử như một công dân có trách nhiệm, và cần được tôn trọng như một công dân tự do. Chúng ta tôn trọng đúng mức lễ độ truyền thống và hiện đại giữa thầy và trò, người lớn tuổi hơn và người ít tuổi hơn, người đi trước và người đi sau, nhưng chúng ta bình đẵng trước chân lý cuộc sống và chân lý khoa học. Trường có quy định: trên lớp học, sinh viên sẽ không xưng con, xưng cháu, mà xưng tôi, một cách bình đẳng và tự tin, hoặc cũng có thể xưng em với giáo viên, các giáo viên xưng thầy, cô với các em. Để cùng nhau trao đổi, và thảo luận, tranh luận, vì lẽ phải chung, trong một ngôi trường thật sự văn minh.

Các em thân yêu,

Giáo dục là việc khó, mà cũng là việc thật đẹp, rất khó mà cũng lại đẹp nhất. Bởi, như đã nói, đây là việc đánh thức dậy những gì những gì hay nhất, đẹp nhất trong mỗi con người để con người ấy phát triển tự do và hạnh phúc. Khó và đẹp còn ở chỗ con người là vô cùng đa dạng, mỗi em là một thế giới. Mỗi em một khác, mỗi lớp, mỗi năm, mỗi khóa một khác. Vừa rất căn bản, vừa rất mới lạ, luôn mới lạ. Vừa chắc chắn trên những nền tảng chung cơ bản, vừa lại rất cá biệt, bao giờ cũng mới mẻ, cũng khác thường. Cho nên tôi luôn nghĩ, nói theo cách nào đó, thì về cơ bản giáo dục là việc một thầy một trò, một người cùng với một người khó nhọc và tha thiết đi tìm ra chính mình. Tôi luôn mong ước, và tôi nghĩ các thầy cô giáo cũng vậy, luôn muốn được đến tận từng em, hiểu được từng em, gần gũi và là bạn của từng em, để ta cùng làm cho thành công công việc khó khăn mà đẹp đẽ này. Sẽ rất hạnh phúc cho cả thầy và trò ta.

Vậy đó, các em thân yêu, hôm nay ta lên đường.

Một lần nữa, thay mặt nhà trường, thay mặt các em, tôi xin cám ơn các vị đại biểu đã đến cùng thầy trò chúng tôi trong ngày lên đường của chúng tôi hôm nay.

Còn với các em, ta hãy cùng chúc nhau một hành trình khai phá thật đẹp và thật thành công.

Nguyên Ngọc.