Phim ‘Ba! Con Không Muốn Làm Người Cộng Sản’ và sách ‘Ngày Tháng Buồn Hiu’ gây nhiều xúc động

Báo Nguoi-viet

August 6, 2023

Văn Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)  Chiều Thứ Bảy, 5 Tháng Tám, Viện Việt Học và Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đồng tổ chức công chiếu phim tài liệu “Ba! Con Không Muốn Làm Người Cộng Sản,” đồng thời ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu,” tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, với đông người tham dự.

Giây phút xúc động trong ngày ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu” của Trần Ngọc Ánh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cuốn phim nói về cuộc đời của bà Trần Ngọc Ánh, người trải qua 11 năm trong ngục tù Cộng Sản sau 1975 vì tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” và quyển sách “Ngày Tháng Buồn Hiu,” cũng của tác giả Trần Ngọc Ánh. Cả hai đều kể lại câu chuyện thật đời mình, khi bà Ánh có cha và chị đi theo Cộng Sản. Sau 1975, cha của bà khi đó là một cán bộ, đã ép bà đi theo con đường Cộng Sản mà thời đó mọi người đều lầm lẫn.

Sau những lần xung đột gia đình, bà dứt khoát bỏ nhà và thoát ly để theo chồng, ông Trần Thắng Tài, một quân nhân VNCH, và đã dứt khoát bồng con nhỏ mới 1tuổi theo chồng vào tù.

Bà Trần Ngọc Ánh kể về chuyện những ngày tháng trong tù. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Lần đầu tiên, trong bộ phim, người xem được nghe và thấy những chuyện do chính bà Trần Ngọc Ánh kể lại, oái ăm thay bà lại chính là con gái của một gia đình cán bộ, cha mẹ và các em đều theo Cộng Sản.

Người tham dự cũng được xem triển lãm, từ những hiện vật của ông Trần Thắng Tài, chồng bà Ánh, cùng những trang nhật ký của bà, cùng với hình ảnh của đứa con trai Trần Thắng Vy Dân với căn bệnh đã tàn phá cuộc đời của em từ khi theo mẹ vào tù lúc 1 tuổi!

Từ trái, cô Từ Ái, giáo viên tiểu học De Mille; bà Trần Ngọc Ánh và ông Châu Thụy, giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cuốn phim dài khoảng gần hai giờ đồng hồ, do chính người nữ tù kể lại đời mình, từ một cô gái ngây thơ, cựu học sinh Hoàng Diệu, Sóc Trăng, sống và hít thở không khí miền Nam tự do thanh bình, đến sau ngày 30 Tháng Tư 1975 đầy nghiệt ngã, cả nước chìm đắm trong những đói khổ, bệnh tật, kinh tế bi thảm, đã khiến hàng triệu người Việt phải liều chết tìm đường vượt biển, nhưng bà cùng chồng chọn con đường ở lại chiến đấu cho tự do. Khi chồng bị bắt, bà thà bồng con thơ vào tù, chia sẻ những lao khổ tù đày cùng chồng cho đến khi ông bị tử hình, còn hơn là bị áp đặt một lý tưởng để sống an nhàn trong sự bảo bọc của cha và chị mình.

Cuốn phim này nằm trong dự án lịch sử qua chuyện kể của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, ghi lại những câu chuyện sống sót của những nhân chứng, kể lại biết bao nhiêu gian khổ trong lao tù Cộng Sản và trên bước đường đi tìm tự do, để làm chứng tích lịch sử cho hiện tại và mai sau.

Ông Trần Chí Hồng Tiên, đại diện Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt và bà Trần Ngọc Ánh nhận bằng tưởng lục từ TNS Janet Nguyễn, do ông David Nguyễn trao tặng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sau buổi chiếu phim, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Người Việt có triển lãm những hiện vật của ông Trần Thắng Tài, cựu quân nhân VNCH, đã dấn thân vào con đường đấu tranh cho tự do dân chủ của tổ quốc Việt Nam cho đến ngày ông hy sinh dưới làn đạn của Cộng Sản, lúc 38 tuổi đời, ngày 14 Tháng Sáu năm 1982 tại Phan Thiết.

Cô Kim Ngân, giám đốc Viện Việt Học, chia sẻ: “Cô Trần Ngọc Ánh là người đơn giản, tính chất rất bình dị, ẩn chứa một ý chí và sự phấn đấu phi thường, tiêu biểu tinh thần của người phụ nữ Việt Nam. Lớn lên dưới chế độ Cộng Sản sau 1975, với những chuyện xảy ra trong gia đình cô cho chính cô và người chồng. Cô đã ở tù Cộng Sản và viết văn, quyển nhật ký của cô đã đi theo con đường của các trại tị nạn, theo các thuyền nhân ra tới hải ngoại, và có những người khi đọc lại tác phẩm ấy đã tìm lại được cô. Và cô tiếp tục viết câu chuyện đã xảy ra, đây là một sự hy sinh rất lớn, khi cô đã can đảm kể lại cho các thế hệ sau được nghe, và rút tỉa kinh nghiệm qua bài học của cô.”

Một số hiện vật dưới đáy mộ ông Trần Thắng Tài, kế bên là cột xử bắn, và ngôi mộ của ông tại Phan Thiết. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông Sơn Rotha, hội trưởng Hội Ái Hữu Tương Tế Sóc Trăng tại Hoa Kỳ, cho hay ông rất hãnh diện vì là đồng hương Sóc Trăng và cũng là đồng môn cựu học sinh Hoàng Diệu, Sóc Trăng.

“Tôi đã được đọc cuốn sách này, với nhiều cảm xúc khi một phụ nữ vì lý tưởng tự do dám hy sinh tất cả. Nếu chị chịu nghe theo lời khuyên của cha mình, có thể giờ này chị đã có một chức lớn rồi. Nhưng chị đã từ bỏ hết tất cả để đi theo công cuộc chiến đấu chống lại Cộng Sản. Đây là vị anh thư nước Việt thời hiện đại, tôi rất tự hào.”

Nhóm hiện vật của bà Trần Ngọc Ánh, gồm những tập nhật ký trong tù, để sau này hình thành quyển “Ngày Tháng Buồn Hiu,” trong buổi ra mắt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Những câu chuyện như thế này phải cần thiết lưu truyền bằng mọi phương tiện truyền thông, nếu có thêm bản dịch tiếng Anh càng tốt. Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã thực hiện chương trình này thật quý, để cho mọi người hiểu rõ được bản chất của người Cộng Sản Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ sau này hiểu thêm một góc nhìn khác của thời VNCH.”

Không khí như chùng xuống khi cuộn phim vừa khép lại, chấm dứt trong sự thổn thức nghẹn ngào của người xem.

Giấy ra trại của bà Trần Ngọc Ánh, với tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Tiếp đến, quyển hồi ký “Ngày Tháng Buồn Hiu” tác giả Trần Ngọc Ánh, được giới thiệu, với bút pháp rất đơn giản nhẹ nhàng nhưng đầy sức mạnh, biểu cảm của một phụ nữ với sức sống mãnh liệt, đứng lên tiếp nối cuộc chiến đấu của người chồng trên đường tìm tự do. Và tất cả tiền bán sách được tặng hết cho Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, để làm công việc duy trì và bảo tồn những di tích của người Việt tị nạn sau 1975.

Bà Phương Lê, cựu nữ sinh Gia Long, chia sẻ: “Khi nghe cô Ngọc Ánh kể lại cuộc đời, đó là một chứng nhân của lịch sử, rất quan trọng khi đất nước đã đổi chủ sau năm 1975. Cô Ngọc Ánh là người chứng kiến cuộc sống của người Việt ở hai bên giới tuyến của hai miền Nam và Bắc. Cô nói thật chính xác khi miền Bắc xâm lược tấn công vô Nam, cướp lấy vùng đất trù phú giàu có và yên bình, trong khi miền Nam chỉ chiến đấu để bảo vệ quê hương, chứ không bao giờ tấn công ra miền Bắc.”

Tác phẩm “Ngày Tháng Buồn Hiu” sau bao năm trăn trở, nay được đến tay bạn đọc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Tôi khâm phục cô là người dũng cảm khi trả lời trước phiên tòa rằng: Tôi yêu nước, yêu đồng bào tôi, đó không phải là tội!’ Câu trả lời đanh thép trước tòa án rất ít người dám nói và kết quả là án tử của chồng, và con trai phải chịu sống kiếp người không bình thường khi ở tù cùng mẹ. Tôi đã xem phim này hai lần, và đã không kìm được nỗi xúc động vô bờ với cô, người chiến sĩ can trường. Chỉ vì tham vọng của miền Bắc khiến xảy ra chiến tranh, thế rồi phe thắng cuộc với những chính sách trả thù tàn bạo khiến bao gia đình VNCH phải tan cửa nát nhà, tù đày giết chóc, mà trường hợp cô Ngọc Ánh là một điển hình. Những câu chuyện như thế này rất cần lưu truyền cho hậu thế, nhất là giới trẻ để hiểu biết người Cộng Sản là thế nào.”

Toàn thể nhân viên Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, cùng Viện Việt Học, trong ngày chiếu phim, ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu”. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong nhạc phẩm “Sầu Lẽ Bóng,” nhạc sĩ Anh Bằng nói lên tâm trạng của một cô gái đau khổ khi bước vào đường tình yêu, chỉ khác trong trường hợp này, người con gái Trần Ngọc Ánh đã chịu nhiều đau khổ khi bước vào tình yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu dân tộc bị mất tự do! Và bà đã nói: “Nếu còn kiếp sau, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi Việt Nam không còn Cộng Sản!” [kn]

Trả hồ sơ vụ Lê Thanh Thản, ‘đại gia’ quen Nguyễn Phú Trọng, lừa đảo

Báo Nguoi-viet

August 10, 2023

HÀ NỘI, Việt Nam (NV)  Phiên xử vụ bị cáo Lê Thanh Thản, chủ tịch tập đoàn Mường Thanh, với cáo buộc “lừa dối khách hàng” hôm 10 Tháng Tám mau chóng khép lại với quyết định hoãn tòa, trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Theo tờ Tuổi Trẻ, nguyên nhân được Hội Đồng Xét Xử công bố là do “còn một số nội dung chưa thể làm rõ tại phiên tòa.”

Bị cáo Lê Thanh Thản thường được các báo ở Việt Nam mô tả là “đại gia điếu cày.” (Hình: Danh Trọng/Tuổi Trẻ)

Bị cáo Lê Thanh Thản, 73 tuổi, người thường được các báo ở Việt Nam mô tả là “đại gia điếu cày,” hầu tòa trong tình trạng sức khỏe kém, được hai người dìu lên cầu thang vào phòng xét xử.

Trong vụ án này, ông Thản, với tư cách chủ tịch công ty Bemes, bị cáo buộc xây cả tòa nhà chung cư CT6 Kiến Hưng sai phép, lừa dối 500 người mua căn hộ.

Tại chung cư nêu trên, hàng trăm căn hộ được xây dựng không phép và đã bán cho người dân, nhưng người mua không được cấp “sổ đỏ” (giấy tờ sở hữu căn hộ).

Bà Đinh Thị Nguyệt, một trong các bị hại, nói trước tòa: “Khi mua nhà, ký kết hợp đồng thì công ty của ông Lê Than Thản cam kết hỗ trợ người dân thủ tục được cấp ‘sổ đỏ.’ Tuy nhiên sau khi mua nhà, cơ quan nhà nước trả lời tòa nhà xây dựng [có] sai phạm nên không được cấp sổ.”

“Đối với vụ án này là bị hại tôi không đồng ý cáo trạng Viện Kiểm Sát đưa ra [nói] ông Thản gây thiệt hại gần 500 tỷ đồng ($21 triệu). Đây là số tiền người dân bỏ ra mua căn hộ, còn hành vi vi phạm của ông Thản gây ra muôn vàn khó khăn khác. Chúng tôi mua căn hộ hơn 10 năm không được xác nhận quyền sở hữu tài sản, không thể thế chấp khi có nhu cầu vay tiền ngân hàng, không thể đăng ký hộ khẩu, làm khai sinh cho con cái.”

Trong lúc tòa thẩm vấn, ông Lê Thanh Thản và những người mua nhà đưa ra những ý kiến khác nhau về phương án khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.

Các bị hại trong vụ án “lừa dối khách hàng.” (Hình: Danh Trọng/Tuổi Trẻ)

Do vậy Hội Đồng Xét Xử tuyên hoãn tòa, trả hồ sơ điều tra lại, đồng thời kêu gọi những người đã mua nhà xây trái phép của ông Thản mà chưa liên hệ với cơ quan điều tra thì tiến hành nộp đơn, chứng cứ.

Về mối quan hệ thân cận giữa ông Thản và ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, báo Kinh Tế Đô Thị hồi Tháng Hai, 2018, cho biết ông Trọng từng viết tặng khách sạn Mường Thanh Grand Phương Đông của ông Thản một bài thơ bốn câu: “Lần này lại đến ‘Phương Đông’/ Tình xưa nghĩa cũ, mặn nồng ‘Mường Thanh’/ Cố lên các chị, các anh/ Quê hương vẫy gọi, sử xanh lưu truyền.” (N.H.K)

Dụ Thanh Nhàn về Hà Nội: “Thực chiêu” hay “hư chiêu”?

Báo Tiếng Dân

RFA

Hải Triều

9-8-2023

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn. Nguồn: VNE

Trong “Cửu âm chân kinh” (Bộ kinh điển võ thuật của Trung Quốc), “thực chiêu” thường được tung ra để khắc chế “hư chiêu”. Nếu đối phương tung ra “hư chiêu” thì có thể dùng một “thực chiêu” khác để hóa giải. Dụ Thanh Nhàn về Hà Nội là “thực chiêu” hay “hư chiêu”? Cuộc đấu trí giữa Nguyễn Phú Trọng với Phạm Minh Chính sẽ tiếp diễn theo hướng nào?

Với hai “hư chiêu” từ cuối năm ngoái đến nay – đánh cựu Bí thư Đồng Nai Trần Đình Thành và cựu Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty AIC Nguyễn Anh Dũng (anh trai bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn) – không mang lại kết quả như mong muốn (1) và (2), còn một “hư chiêu” thứ ba là: Đánh tiếng gọi Thanh Nhàn về Hà Nội để đầu thú dưới “cái vỏ” pháp trị nghe rất chi là mùi mẫn (3).

Có thể kịch bản “mặc cả nhận tội” sẽ sớm được “thí điểm” đối với Nguyễn Thị Thanh Nhàn chăng? Đây là “hư chiêu” thứ ba của ông Trọng hay là “thực chiêu” của thế lực muốn dung hòa lợi ích giữa các nhóm liên quan từ phía công an lẫn tình báo quân đội, đặc biệt là cá nhân Thủ tướng Phạm Minh Chính trong mối quan hệ chằng chịt giữa tình cảm và những áp phe vũ khí được cho là có vai trò quan trọng của bà Thanh Nhàn?

Chúng ta chưa thể kiểm chứng ngay được! Nhưng cùng với “củ cà rốt” vừa nhử mồi, người của Tô Lâm dường như còn tung thêm cả “cái gậy” – Tức là đe dọa, có thể diễn lại “điệp vụ 007” như hồi bắt cóc Trịnh Xuân Thanh cách đây sáu năm.

Đôi lời về “củ cà rốt” này của Bộ trưởng Tô Lâm: “Mặc cả nhận/thú tội” (plea bargains), còn được biết đến với cách chuyển ngữ như: “thỏa thuận nhận tội”, “thương lượng nhận tội”, “đàm phán thú tội”… là một trong những nguyên tắc và thủ tục tố tụng nổi tiếng ở châu Âu và Hoa Kỳ. Nhưng một nhà nước mafia như Việt Nam thì từ Chính trị bộ, kể cả phe “che chắn” cho Nhàn, lẫn những kẻ “muốn triệt hạ” Nhàn đều sẵn sàng “dẹp tiệm”, nếu Madam xuất hiện trong nước vào thời điểm hiện nay! Kẻ dụ về, sau khi khai thác xong, sẽ triệt tiêu đường dây của Nhàn đã đành, mà đám “bảo kê” cũng lo “phe mình” bại lộ, nên trước sau cả hai sẽ hạ thủ “người đẹp” dù có thương xót “trên mức tình cảm”.

Tô Lâm liệu có dám “tất tay” phái quân sang Đức lần nữa để bắt cóc bà (!?) Có điều chắc chắn, đám “thảo khấu” dưới tay Tô đại tướng đã được thông báo cả tuần nay, trên toàn nước Đức và châu Âu đã báo động đỏ để chuẩn bị “nghênh tiếp” đám mật vụ từ Bắc bộ phủ sang và cả đám đã “nằm vùng” trong các cơ quan đại diện ngoại giao của Hà Nội khắp nơi bên trời Tây này.

Sau hai “hư chiêu” ở Đồng Nai và Quảng Ninh, Tô Lâm vẫn chưa “đánh án” lên được tận “chân ghế” của Tứ trụ mà vẫn loay hay “ngoài rìa” Quảng Ninh. Nhìn bề ngoài có vẻ đây là sự ưu ái của Bộ trưởng Bộ Công an dành cho “Tướng thiện chiến” Đinh Văn Nơi về Quảng Ninh là tỉnh lớn, làm người đứng đầu Sở Công an tỉnh rất dễ được “vời” về Trung ương sau này. Tuy nhiên, vụ án Nguyễn Thị Thanh Nhàn không phải là vụ án thường. Ai động đến Madam Nhàn là đụng ngay đến Phạm Minh Chính và bị xem như là hành động “vuốt râu hùm” (4).

Điều đáng nói là khi nhận nhiệm vụ, ông Đinh Văn Nơi đã phát một câu giống như tuyên chiến với nhóm lợi ích Quảng Ninh, khi tuyên bố rằng, “tui lựa mấy người nào quen lớn tôi bắt trước”. Phát ngôn này khiến người ta liên tưởng tới việc, ông nhắm vào bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, vì bà này rõ ràng quen rất lớn, quen đến ông đương kim Thủ tướng hiện nay. Tuyên bố của ông Đinh Văn Nơi cho thấy ông “không sợ trời”, đấy là điều tốt cho xã hội. Tuy nhiên, dưới chế độ “công an trị” thì những câu tuyên bố như vậy thường lãnh hậu quả xấu nhiều hơn là có kết quả tốt (5).

Trở lại “hư chiêu” thứ ba nói trên, tờ “Die Tageszeitung” (TAZ) đã dựa vào nhiều nguồn khác nhau để giải thích chuyện bà Nhàn và AIC Group vốn được trao đủ thứ danh hiệu: Gương mặt trẻ Việt Nam nổi bật nhất, Sao đỏ, Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu nhất, Thương hiệu quốc gia xuất sắc nhất… chưa kể đủ loại huân chương, huy chương, bằng khen của đủ mọi cấp… đột nhiên bị xem là tội phạm, bị tấn công, vì là tình nhân của đương kim Thủ tướng. Cả hai có với nhau một cô con gái (!?). Mục tiêu chính của cuộc săn đuổi “phù thủy” triệt hạ AIC chính là để loại bỏ Tướng Chính, một trong những vận động viên đang tham gia cuộc ma-ra-tông thay thế ông Trọng làm Tổng Bí thư ĐCSVN.

Cứ như theo tường thuật của TAZ thì việc bắt giữ bà Nhàn không chỉ đe dọa sự nghiệp của ông Chính, mà còn gây nguy hiểm cho giới lãnh đạo quân đội Việt Nam, những cá nhân từng sử dụng Thanh Nhàn như khâu trung gian trong các thương vụ mua vũ khí với Israel và nhiều thương vụ khác với Nhật Bản. Đó có thể là lý do khiến bà Nhàn và bảy cộng sự thân tín của bà cùng rời Việt Nam ra ngoại quốc trước khi công an Việt Nam thực hiện các lệnh bắt giữ (6).

Tuy công an Việt Nam đề nghị lực lượng bảo vệ và thực thi pháp luật trên toàn thế giới hỗ trợ truy bắt bà Thanh Nhàn, nhưng TAZ kể lại rằng, phía Liên bang Đức đã thẳng thừng từ chối thực hiện đề nghị này. Dường như chính quyền Mỹ, dù đang muốn tranh thủ Việt Nam “phối hợp” một vài vấn đề trong chiến lược “FOIP”, cũng chưa mặn mà đáp ứng đề nghị nặng mùi mafia của Việt Nam: Bắt giữ và giải giao một số cộng sự của bà Nhàn đang ẩn náu tại Mỹ! Đến giờ mới chỉ có Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (United Arab Emirates – UAE) giải giao ông Đỗ Văn Sơn (Kế toán trưởng AIC) đang ẩn náu tại UAE cho chính quyền Việt Nam (7).

Còn đội quân bắt cóc đang “ém” tại nhiều nước, thì từ hồi Đức và Tiệp xử mấy mật vụ của Tô Lâm ở Prague và Berlin, hiện đang “án binh bất động” chờ lệnh. Một phụ nữ bản lĩnh như Thanh Nhàn, với vai trò nhà môi giới bí mật cho các thương vụ lớn giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với phía nhà cung cấp khí tài quân sự Israel, liệu có “cắn câu” Tô Lâm, bập vào “quả cà rốt”? Chắc chắn là không!

Những ngày này ở Việt Nam đang rộ lên câu chuyện “Nhà nước nên ân xá cho Nguyễn Văn Chưởng và minh oan cho Hồ Duy Hải” (8) Vì vậy, an toàn nhất đối với Thanh Nhàn là hãy chờ cho “cơn bão” tan. Bản tin trong chương trình thời sự buổi tối 5/8/2023 của Đài phát thanh và Truyền hình nhà nước Slovakia (RTVS) cũng đã công khai về việc bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn hiện đang ở Đức và tin tức về cuộc chiến quyền lực trong nội bộ cấp cao ĐCSVN (9).

Phạm Minh Chính sau Trung ương 7, thế đang lên. Chuẩn bị cho Trung ương 8, TBT Nguyễn Phú Trọng liệu có “tất tay” lần cuối với Chính? Xem ra cho đến nay, ít kẻ dám “a dua” với ông Trọng, trừ “thanh gươm và lá chắn” của Tô Lâm. Các thế lực muốn chờ cho đến “end games movie” mới tính xoay theo “minh chủ nào”. Cuộc đấu trí giữa ông Trọng với ông Chính xem ra chưa phân thắng bại, nói lên tính phức tạp và dễ tổn thương của “Bộ tứ”.

Đức đã ra lời cảnh cáo “lạnh gáy” nếu Tổng Trọng vẫn cho quân làm ẩu. Chắc chắn Đức và châu Âu sẽ “nâng” Việt Nam lên tầm “nhà nước khủng bố” nếu xẩy ra một vụ bắt cóc thứ hai. Mà như vậy, thì Bắc Kinh sẽ hài lòng, coi như thắng lớn, vì vừa đánh được một cú “knock out” đối với “đối tác chiến lược mở rộng” Nhật – Việt (Thanh Nhàn nhận huân chương cao nhất của Nhật không phải vô cớ), vừa đẩy lùi được “đối tác chiến lược” Mỹ – Việt có thể sẽ ký vào ngày tháng 9 tới đây. “Một hòn đá chết mấy con chim”, phần thưởng của ông Tập Cận Bình cho Tổng Trọng và “đám quần thần” chắc phải lớn lắm!

_________

Tham khảo:

  1. https://tuoitre.vn/cuu-giam-doc-benh-vien-dong-nai-co-luc-khong-muon-mua-hang-aic-bi-thu-tinh-goi-nhac-nho-20221222164437115.htm
  2. https://tuoitre.vn/khoi-to-anh-trai-ba-nguyen-thi-thanh-nhan-va-bon-giam-doc-cong-ty-20230317201916925.htm
  3. https://thanhnien.vn/bo-cong-an-yeu-cau-cuu-chu-tich-aic-nguyen-thi-thanh-nhan-ra-dau-thu-1851520282.htm
  4. https://www.rfavietnam.com/node/7728
  5. https://thoibao.de/blog/2022/09/06/dinh-van-noi-bao-gan-vuot-rau-hum-moi-den-quang-ninh-tuyen-bo-khong-so-troi
  6. https://taz.de/Drohende-Entfuehrung-vietnamesischer-Frau/!5952435/
  7. https://www.rfa.org/vietnamese/news/comment/blog/ceo-of-aic-group-on-the-run-will-vn-agents-do-another-kidnapping-08072023133450.html
  8. https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c3g4ykv7xpvo
  9. https://spravy.rtvs.sk/2023/08/sefovala-firme-obchodujucou-so-zbranami-teraz-ju-chcu-nasilu-zavliect-do-vietnamu-znamy-pripad-unosu-sa-moze-zopakovat/

MỘT TẤM HÌNH – BA ÁN TỬ

Kim Dao Lam 

Fb Việt Tân

MỘT TẤM HÌNH – BA ÁN TỬ

Đây tấm ảnh chụp ba người cha mẹ của ba tử tù nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay.

Từ trái qua phải:

Mẹ của tử tù Lê Văn Mạnh ở Thanh Hoá

Mẹ của tử tù Hồ Duy Hải ở Long An

Mẹ của tử tù Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Dương

Sáng hôm nay, ba bà mẹ đã cùng nhau tới Văn phòng chính phủ và văn phòng của Chủ tịch nước để cùng hỗ trợ và kêu oan cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng.

Như mọi lần, họ bị lực lượng an ninh dồn về vườn hoa Mai Xuân Thưởng trước khi bị công an đưa lên xe buýt và đưa về Trụ sở tiếp công dân ở Hà Đông.

Có lẽ, ba người mẹ cùng hiểu rằng dù con mình là Chưởng, Hải hay Mạnh phải đối diện với án tử hình, thì con họ sẽ là nạn nhân tiếp theo của thể chế bất minh này.

Chừng nào chế độ công an trị còn tồn tại, chừng nào tư pháp còn chưa thực sự độc lập, và chừng nào đảng cộng sản Việt Nam còn nắm quyền, thì những án oan sai và những người dân vô tội sẽ vẫn còn tiếp diễn.

Gia Minh

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào?

Lê Vi

Năm 1859 khi người Pháp đánh chiếm Gia Định, các công trình ở đây chủ yếu phục vụ cho việc cai quản và phòng thủ, chứ chưa có các công trình tiện nghi công cộng, giáo dục, chăm sức sức khỏe, hay vui chơi giải trí. Nhìn ra tiềm lực kinh tế to lớn của Sài Gòn, người Pháp đã xúc tiến quy hoạch vùng đất này với đầy đủ các chức năng hành chính, quân sự, kinh tế, cảng, v.v., đưa Sài Gòn trở thành đô thị sầm uất, thành trung tâm hành chính khai thác Nam kỳ, “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Ngày 11/4/1861, Phó đô đốc Léonard Charner ra nghị định xác định địa giới Sài Gòn (ville de Saigon): Phía đông là sông Sài Gòn, phía bắc là rạch Thị Nghè, phía nam là rạch Bến Nghé, phía tây là từ chùa Cây Mai đến đồn Kỳ Hòa, diện tích khoảng 25km2.

Ngày 30/4/1864, Coffyn lập dự án quy hoạch nổi tiếng mang tên “Thành phố Sài Gòn 500.000 dân” (Saigon ville de 500.000 âmes), quy hoạch này đựa vào quy hoạch phòng thủ của Nguyễn Cửu Đàm đưa ra trước đó 90 năm. Tuy nhiên Nguyễn Cửu Đàm đưa ra quy hoạch chỉ cho 100.000 dân. Do quy hoạch của Coffyn quá lớn, người Pháp cũng muốn đảm bảo trị an, nên đã quyết định quy hoạch thành phố nhỏ hơn.

Năm 1865, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn đô đốc Pierre Rose ban hành nghị định quy hoạch lại Sài Gòn với diện tích chỉ 3km2 nằm ở trung tâm quận 1 ngày nay.

Nhận thấy thời điểm này khu Chợ Lớn của người Hoa phát triển nhanh chóng, người Pháp quyết định tách Chợ Lớn ra để khu vực này chuyên về phát triển thương nghiệp.

Người Pháp cũng bán rẻ đất hoang cho những ai muốn làm ruộng vườn. Một khi đất hoang có người cư trú, giá đất Sài Gòn cũng sẽ được nâng lên, tốc độ đô thị hóa cũng tăng theo.

Cải tạo mặt bằng

Địa hình Sài Gòn ở phía bắc cao, trũng về phía nam. Người Pháp cho làm nhiều kênh ở vùng trũng thấp phía nam, để nước từ trên cao chảy xuống làm sạch các vùng đầm lầy đồng thời giúp thông đường thủy giao thông bằng ghe thuyền thuận lợi, lại lấp được các vùng trũng khác.

Khu vực đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, đường vào cổng chính ở Ba Son trước đây là những con kênh vùng trũng. Người Pháp cho san bằng những vùng đồi phía bắc, lấy đất lấp những con kênh này.

Xây dựng hệ thống giao thông

Về đường bộ, sau 2 năm cải tạo mặt bằng, vùng trũng gồ ghề đã được lấp với những công trình mới, có được không gian thoáng đãng, các con đường được hình thành và trải nhựa, có vỉa hè hai bên với hàng cây thẳng tắp.

Đường thủy Sài Gòn có thể vươn đến các tỉnh miền tây và sang tận Cao Miên, trở thành một trong những thương cảng quan trọng ở khu vực Viễn Đông.

Giao thông thời kỳ này phát triển mạnh, đặc biệt là giao thông đường thủy với nhiều hệ thống kênh rạch. Thương cảng Sài Gòn (tiền thân của cảng Sài Gòn sau này) đi vào hoạt động với 3 bến lớn là Bến Nhà Rồng (428 m), Bến Khánh Hội (1.264 m), Bến Tân Thuận (866 m).

Sau khi xây dựng xong các công trình hạ tầng cho bộ máy hành chính, năm 1874, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn. Từ đó Sài Gòn không ngừng phát triển và mở rộng dần dần.

Các công trình kiến trúc

Nhiều công trình cổ kính mà sang trọng mọc lên làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt thành phố như Bến Nhà Rồng, Xưởng đóng tàu Ba Son, Tòa Soái phủ Nam Kỳ (nay là Bảo tàng thành phố), Thư viện Sài Gòn, dinh Xã Tây (nay là Trụ sở UBND thành phố)…

 

Các công trình kiến trúc cổ kính sau đây đã làm nên bộ mặt của “Hòn ngọc viễn đông”:

– Dinh Thống Đốc (nay là Bảo tàng thành phố): Được xây dựng xong vào năm 1864, phỏng theo kiến trúc của Bảo tàng hội họa Munich do kiến trúc sư Foulhou thiết kế.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 4

Dinh Thống Đốc Nam Kỳ năn 1936. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Dinh Toàn quyền (nay là Hội trường thống nhất): Khởi công xây dựng từ tháng 2/1868, hoàn thành vào năm 1873 do kiến trúc sư Hermitte thiết kế.

– Dinh Xã Tây (nay là UBND TP): Khởi công xây dựng từ năm 1898, khánh thành năm 1909, do kiến trúc sư P.Gardès thiết kế.

– Nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố): Xây dựng năm 1898, khánh thành vào ngày 1/1/1900, do kiến trúc sư Berger thiết kế.

– Bưu điện Sài Gòn: Khởi công xây dựng năm 1886 và hoàn thành vào năm 1891, đây là dịch vụ rất lạ đối với người Việt vào lúc đó.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 7

Bưu điện Sài Gòn xưa. (Ảnh từ khampha.vn)

– Nhà Thờ Đức Bà: Khởi công năm 1877 và khánh thành vào năm 1880, kinh phí xây dựng là 2,5 triệu franc, đây là số tiền rất lớn vào lúc đó. Đến năm 1895 thì xây thêm 2 tháp chuông nhọn.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 8

Nhà Thờ Đức Bà. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Chợ Bến Thành: Xây dựng vào năm 1912, đến năm 1914 thì khánh thành, đây là chợ trung tâm thành phố, nổi tiếng đến ngày nay.

Người Pháp biến Sài Gòn thành “Hòn ngọc Viễn Đông” như thế nào? – 9

Chợ Bến Thành. (Ảnh: Mạnh Hải/Flickr)

– Các tuyến đường Catinat (Đồng Khởi), Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), De La Somme (Hàm Nghi) là những con đường tiêu biểu với các các kiến trúc cổ kính, tô điểm cho bộ mặt thành phố Sài Gòn. Trong đó Catinat là con đường của giới thượng lưu, nổi tiếng thanh lịch.

Thời đó người ta xem Sài Gòn là “Perle de l’Orient” tức là “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Cảng Sài Gòn từng là thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông

Sài Gòn là nơi gặp gỡ giữa châu thổ đồng bằng sông Cửu Long và vùng đất đỏ Đông Nam bộ. Nơi đây không chỉ gần biển mà còn có hệ thống sông và kênh rạch kết nối Sài Gòn và các vùng đất của Nam bộ, sang Campuchia vươn đến tận thủ đô Phnom Penh. Do vậy Thương cảng Sài Gòn từng đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử giao thương tại khu vực Viễn Đông.

Vị trí thuận lợi

Vị trí của Cảng nằm trên sông Sài Gòn, ăn sâu 80 km vào đất liền, tránh được những cơn bão lớn, lại thông với 2.000 km luồng lạch lớn chảy qua các vùng đồng bằng, vươn đến tận Phnom Pênh. Do tại đây sông rộng và sâu nên các tàu lớn cũng có thể cập cảng và tránh nhau dễ dàng.

Khi người Pháp đến khu vực này đã phát hiện ra rằng không nơi đâu trên bán đảo Đông Dương có vị trí giao thương thuận lợi như Sài Gòn. Do vậy họ kỳ vọng biến nơi đây thành cửa ngõ giao thương quan trọng nhất cho toàn bộ Đông Dương.

Sau khi chiếm được Gia Định năm 1859, dù chưa ổn định được tình hình thì ngày 22/2/1860, người Pháp đã thành lập Cảng Sài Gòn và đầu tư vào đây. Thương cảng Sài Gòn chính thức hoạt động từ thời điểm này.

Thương cảng hàng đầu vùng Viễn Đông

Theo tư liệu về Sài Gòn xưa, ngay từ năm 1860, tức chỉ sau 1 năm người Pháp đến Gia Định, đã có 246 tàu phương Tây và thuyền buồm Trung Hoa đưa các hàng hóa đến và đi từ Cảng Sài Gòn.

Số hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo chiếm 85% với số tiền là 5,184 triệu quan Pháp, giá trị hàng nhập khẩu tương đương 1,5 triệu quan Pháp (10 quan Pháp = 1 đồng bạc Đông Dương), doanh số mậu dịch trong năm là 7,7 triệu franc.

Để thuận tiện cho các tàu đến đây, Hải đăng Cap Saint-Jacques được xây dựng ở Vũng Tàu và bắt đầu hoạt động từ ngày 15/8/1862.

Theo số liệu để lại thì năm 1862, có 117 tàu châu Âu đến Sài Gòn với tổng trọng tải là 53.200 tấn, 129 tàu châu Âu rời cảng Sài Gòn chở đi 42.470 tấn gạo, 1.023 kiện bông, 1.746 kiện vải và 357 tấn lúa.

Hàng xuất khẩu ngoài gạo ra còn có cá khô ở Biển Hồ (Cao Miên), dầu thực vật, đường mía, rau sấy khô, gòn. Những năm sau đó hàng xuất khẩu có thêm tơ tằm, muối, đay, gỗ.

Việc xuất khẩu gỗ mang lại món lợi lớn nên Pháp thúc đẩy việc khai thác gỗ, năm 1864 giá trị xuất khẩu gỗ lên đến 11 triệu quan Pháp.

Thương cảng lớn này cũng thúc đẩy các nghề sản xuất trong nước phát triển mạnh, giúp dân chúng có được việc làm và nguồn thu nhập, tuy nhiên nguồn lợi lớn nhất rơi vào tay người Pháp.

Thương cảng phát triển đòi hỏi phải có dịch vụ sửa chữa tàu. Năm 1864, người Pháp thành lập xưởng BaSon, quy tụ các thợ cơ khí lành nghề lúc đó. Ngoài sửa chữa thì xưởng cũng đóng mới các tàu thuyền có trọng tải nhỏ.

Năm 1866, trọng tải hàng hóa vào cảng Sài Gòn là 600.000 tấn. Các mặt hàng xuất khẩu gồm 100.000 tấn gạo, 2.687 tấn bông, 42 tấn tơ lụa, 150 tấn muối. Qua năm sau 1867, Sài Gòn đã xuất khẩu 193.000 tấn gạo tức gần gấp đôi so với năm trước.

Trong 1 năm từ 1/7/1866 đến 30/6/1867, có 887 tàu đến giao thương, giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu là 53 triệu quan Pháp, đây là số tiền rất lớn vào thời điểm đó.

Từ năm 1867, Sài Gòn là một thương cảng phồn vinh và có sức hút lớn, cùng với các thương cảng khác ở Singapore, Batavia, Manila, trở thành những thương cảng hàng đầu khu vực Viễn Đông.

Dần không cạnh tranh được

Sau giai đoạn này, Thương cảng Sài Gòn vẫn phát triển nhưng tốc độ không bằng cảng ở Singapore, Hongkong. Đến đầu thế kỷ 20 thương cảng ở Sài Gòn tụt xuống thứ 8 ở vùng viễn Đông, 75% lượng hóa hóa xuất khẩu Đông Dương đi qua đây, riêng xuất khẩu gạo thì liên tục đứng nhất và nhì thế giới.

Trong một báo cáo của Phòng Thương mại Sài Gòn E. Dierx năm 1887 thì Thương cảng Sài Gòn lúc đó có những hạn chế nên không thể cạnh tranh được với Singapore, Hongkong và thậm chí là Jarkarta. Thương cảng Sài Gòn nằm sâu trong đất liền, với 70 km đường sông ngoằn nghèo, chi phí vào cảng lại cao.

Lúc đó đã có đề xuất nên cho Thương cảng Sài Gòn trở thành một kiểu đặc khu, được miễn thuế xuất nhập khẩu, nhưng Phòng Thương mại lúc đó đã không đồng ý.

Sau này Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer đã tỏ ra luyến tiếc vì việc chậm đầu tư hạ tầng nhằm biến Thương cảng Sài Gòn thành một trong những hải cảng hàng đầu Viễn Đông. Các khoản đầu tư của người Pháp đã tập trung vào những công trình kiến trúc giúp Sài Gòn trở thành Hòn ngọc Viễn Đông mà bỏ qua Thương cảng Sài Gòn.

Góc nhìn An- Nam sưu tầm 

Giới thiệu “Viên Sỏi Trắng”, hồi ký của bà Ngô Đình Nhu

Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon

Báo Sài Gòn Nhỏ

Bà Ngô Đình Nhu (ảnh: Kurt Rohwedder/picture alliance via Getty Images)

Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ hân hạnh chủ trì việc dịch thuật từ tiếng Pháp và ấn hành di cảo “Viên Sỏi Trắng” của bà Ngô-Đình Nhu (nhũ danh Trần Lệ Xuân), được viết vào những năm cuối đời của bà. Kèm theo cuốn hồi ký là một bài tiểu luận của Ngô-Đình Lệ Quyên, Ngô-Đình Quỳnh, và Jacqueline Willemetz với tựa đề “Việt Nam Cộng Hòa và Gia Tộc Ngô-Đình.”

Bà Ngô Đình Nhu (ảnh: Keystone/Hulton Archive/Getty Images)

Ngô-Đình Lệ Quyên (qua đời năm 2012) và Ngô-Đình Quỳnh là hai trong số bốn người con của ông Ngô-Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân – hai người còn lại, Ngô-Đình Lệ Thuỷ và Ngô-Đình Trác, lần lượt qua đời vào năm 1968 và 2021. Jacqueline Willemetz là một người bạn của gia đình có cha là bạn học với Ngô-Đình Nhu tại Trường Quốc gia Hiến Chương [École Nationale des Chartes] của Pháp.

Chúng tôi rất biết ơn Nhà Xuất Bản L’Harmattan đã cho phép dịch và in cuốn sách này. Chúng tôi cảm ơn gia đình và bạn bè của gia đình Ngô-Đình, đặc biệt là bà Jacqueline Willemetz và ông Olindo Borsoi, chồng của Ngô-Đình Lệ Quyên. Bà Willemetz và ông Borsoi nhận trách nhiệm xuất bản cuốn sách gốc vào năm 2013 sau khi bà Ngô-Đình Nhu và Ngô-Đình Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 2011 và năm 2012.

Nhờ họ nhiệt tình cung cấp văn bản, hình ảnh, và tài liệu cũng như cho phép dịch và xuất bản, cuốn sách này mới có ngày nay. Chúng tôi cũng muốn ghi nhận tấm lòng của ông Borsoi qua việc uỷ thác cho Trung Tâm bốn thùng tài liệu của bà Nhu để số hóa, cùng với nhiều bộ áo dài của bà và Ngô-Đình Lệ Thuỷ để sử dụng cho một cuộc triển lãm trong tương lai.

Bốn trong số những tài liệu đó đã được thêm vào phần Phụ lục của sách. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chúng tôi xin cảm ơn ông bà Nguyễn Đức Cường đã hỗ trợ dự án này ngay từ đầu. Xin cảm ơn ông Phan Lương Quang đã phụ trách chính phần dịch thuật, và bà Maria Cristina de Mariassevich và TS Nguyễn Lương Hải Khôi đã giúp hiệu đính. Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn cô Vũ Hồng Trang, người đã giúp chúng tôi tiếp xúc với ông Olindo Borsoi.

Ông Ngô Đình Nhu và phu nhân, bà Trần Lệ Xuân (ảnh: Pictures From History/Universal Images Group via Getty Images)

Hơn nửa thế kỷ sau cái chết của Tổng thống Ngô-Đình Diệm và bào đệ Ngô-Đình Nhu, giờ đây chúng ta có thể tìm hiểu suy nghĩ của gia đình họ về chính họ và về vai trò của gia đình họ trong lịch sử Việt Nam. Vai trò đó phức tạp và chắc chắn gây nhiều tranh cãi, nhưng không ai có thể đánh giá thấp tầm quan trọng của nó.

Dù chúng ta đồng ý hay phản đối, gia đình này có vai trò rất đặc biệt trong lịch sử hiện đại của Việt Nam vì nó gắn liền với quá trình chuyển đổi của đất nước từ một xứ bảo hộ và thuộc địa của Pháp sang một quốc gia độc lập và bị chia cắt. Nó đặc biệt bởi vì toàn bộ gia đình này thông qua Tổng thống Ngô-Đình Diệm đã góp phần định hình lịch sử hiện đại của Việt Nam bằng cách này hay cách khác. Nó đặc biệt bởi vì, ngoại trừ triều đại nhà Nguyễn bắt đầu với Hoàng đế Gia Long và kéo dài đến Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng, không có gia đình nào khác trong thời hiện đại tham gia nhiều vào chính trị và đời sống quốc gia như gia tộc Ngô-Đình.

Trải qua hai thế hệ, tất cả các thành viên nam và một người nữ trong gia đình này đều tham gia chính trị hoặc phục vụ trong một số chức vụ nhà nước ở cấp rất cao:

Bắt đầu với Ngô-Đình Khả, một vị quan đại thần trong triều đình nhà Nguyễn ở Huế, tiếp theo bởi các con trai của ông là Ngô-Đình Khôi làm Tổng đốc;

Ngô-Đình Thục là một trong những giám mục người Việt đầu tiên ở Đông Dương thuộc Pháp và sau đó trở thành Tổng giám mục Vĩnh Long và Huế;

Ngô-Đình Diệm từng có thời gian ngắn làm quan Thượng thư trong triều đình nhà Nguyễn vào năm 1933, làm Thủ tướng năm 1954-1955, là người sáng lập Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và là Tổng thống đầu tiên (1955-1963);

Ngô-Đình Nhu, người điều hành Văn Khố và Thư Viện ở Hà Nội trước khi trở thành nhà tổ chức chính trị, cố vấn cho Tổng Thống Diệm, và lãnh đạo Đảng Cách Mạng Cần Lao;

Ngô-Đình Cẩn, cố vấn cho anh trai ông, Tổng thống Diệm, về các vấn đề liên quan đến miền Trung Việt Nam;

Và Ngô-Đình Luyện từng là Đại sứ của VNCH.

Bên cạnh những người đàn ông, Trần Lệ Xuân, thường được gọi là Bà Ngô-Đình Nhu, là đại biểu Quốc hội Việt Nam Cộng hòa (1956-63), người sáng lập Phong trào Phụ nữ Liên đới, và là một “Đệ nhất phu nhân” không chính thức.

Chúng ta không biết nhiều về Ngô-Đình Khôi và Ngô-Đình Luyện như ta biết về anh em của họ, những người nổi bật nhờ khả năng và tham vọng cá nhân: Ngô-Đình Thục được thụ phong linh mục và được gửi đi du học ở Rôma vào cuối những năm 1920, rồi được bổ nhiệm làm giám mục một thập kỷ sau. Ngô-Đình Diệm được bổ nhiệm làm Tuần phủ và nổi tiếng khi từ chức Thượng thư để phản đối việc Pháp không thông qua các cải cách chính trị.

Ngô-Đình Nhu được nhận vào học ở Trường Quốc gia Hiến chương [École Nationale des Chartes], một trường danh tiếng ở Pháp, góp phần đáng kể vào việc bảo tồn văn bản của triều đình nhà Nguyễn, sau đó tổ chức vận động hiệu quả gây cơ sở chính trị trong nước để anh trai của mình được ủng hộ và được bổ nhiệm làm thủ tướng, và là chiến lược gia [brain trust] của chính quyền Ngô-Đình Diệm. Đi ngược với trào lưu xã hội lúc đó [swimming against the current], bà Nhu bảo trợ cho một bộ luật gia đình tiến bộ và dấy lên một cuộc tranh luận toàn quốc về nữ quyền và các vấn đề gia đình.

Bà Ngô Đình Nhu (Getty Images)

Bà Nhu, hay Trần Lệ Xuân, cũng xuất thân từ một gia đình thượng lưu. Ông nội của bà là Trần Văn Thông làm Tổng đốc Nam Định. Cha bà là Trần Văn Chương, một luật sư được đào tạo tại Pháp, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ Trần Trọng Kim (tháng 4 đến tháng 8 năm 1945) và từng là đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ dưới thời Ngô-Đình Diệm (Chương từ chức vào cuối năm 1963 để phản đối chính phủ Diệm).

Chú của bà là Trần Văn Đỗ, một bác sĩ y khoa, từng hai lần làm bộ trưởng ngoại giao vào các năm 1954-55 và 1965-67 dưới chính quyền Ngô-Đình Diệm và Nguyễn Cao Kỳ, và là phó thủ tướng dưới thời Thủ tướng Phan Huy Quát (1966). Bà ngoại của Lệ Xuân là ái nữ của vua Đồng Khánh. Bà lấy ông nội của Lệ Xuân là Thân Trọng Huề, thượng thư triều đình Huế. Mẹ bà, Thân Thị Nam Trân, từng là đại diện của VNCH tại Liên Hiệp Quốc với tư cách quan sát viên.

Từ báo lá cải đến hồi ký của cựu quan chức và lời kể của nhà báo nước ngoài, nhiều điều đã được viết về chính quyền Tổng thống Diệm và vai trò của gia đình ông. Chỉ gần đây thôi các nhà sử học Mỹ mới bắt đầu xem xét quan điểm và chính sách của chính phủ Diệm một cách nghiêm túc và theo cách riêng của nó, chứ không phải như là sản phẩm của Pháp hay Mỹ. Trong phạm vi hạn chế của bài giới thiệu này, chúng tôi sẽ không thảo luận về các công trình sử học mới này.

Chỉ cần nói rằng, những công trình này soi sáng nhiều khía cạnh chính trị của nền Đệ nhất Cộng hòa dưới thời Tổng thống Diệm, cho thấy ông là một người có quan điểm chính trị bảo thủ với tham vọng hiện đại hóa đất nước cũng như một tầm nhìn và phong cách cai trị riêng biệt. Chính phủ của ông được thành lập trong thời kỳ hỗn loạn nhất của lịch sử hiện đại Việt Nam và ông phải được công nhận vì đã tạo ra trật tự từ hỗn loạn bất chấp mọi khó khăn. Việt Nam Cộng hòa do ông thành lập là một quốc gia non trẻ với nguồn lực hạn chế, một xã hội cực kỳ đa dạng và một nền kinh tế phụ thuộc nước ngoài với kỹ nghệ kém phát triển.

Bà Ngô Đình Nhu trong chuyến công du Belgrade, Nam Tư; gặp Thượng nghị sĩ Edward M. Kennedy (ảnh: Getty Images)

Chính phủ VNCH tuyên bố có chủ quyền hoàn toàn đối với toàn bộ Việt Nam nhưng miền Bắc nằm dưới sự cai trị của chính phủ cộng sản với đòi hỏi chủ quyền cũng trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. VNCH được các quốc gia thuộc “Thế Giới Tự Do,” gồm có Hoa Kỳ và các đồng minh của họ ở Âu, Á, Phi, và Mỹ công nhận. Cộng sản Bắc Việt có vị thế quốc tế yếu hơn vì được ít nước ngoài công nhận hơn.

Tuy nhiên, cả hai nước Việt Nam đều không được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc và địa vị quốc tế của cả hai đều bị hạn chế. Đối với VNCH, một phần lãnh thổ do họ kiểm soát (ở miền Trung và một phần đồng bằng sông Cửu Long) từng nằm dưới sự cai trị của cộng sản trong cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954), và người dân rất có thể không trung thành lắm đối với VNCH.

Vài năm sau Hiệp định Genève, được Trung Quốc và Liên Xô hỗ trợ, Bắc Việt bắt đầu nối lại cuộc chiến chống lại VNCH để thống nhất đất nước dưới chế độ cộng sản. Hà Nội huy động những người kháng chiến cũ ở miền Nam, cùng với những người trước đó đã tập kết ra miền Bắc nhưng giờ đây được đưa trở lại với vũ khí và tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Với sự giúp đỡ của Mỹ, chính phủ Diệm đã ngăn chặn thành công bước tiến của cộng sản trong các năm 1957-58 và 1960-61. Tình hình quân sự vẫn đang giằng co vào năm 1963.

Tuy nhiên, chính phủ không được lòng một bộ phận nhất định của giới tinh hoa và dân chúng, đồng thời không chịu khuất phục trước áp lực cải cách chính trị của Mỹ. Giữa lúc các cuộc biểu tình của Phật tử lan rộng, Tổng thống Diệm và ông Nhu bị ám sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 trong một cuộc đảo chính quân sự được chính quyền Kennedy hậu thuẫn.

Tuy nhiên, cuộc đảo chính đã dẫn đến bốn năm hỗn loạn chính trị và xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng vị thế quân sự của Nam Việt Nam và dẫn đến việc Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam. Đây có lẽ là sai lầm lớn nhất của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, khiến VNCH mất đi chính nghĩa của mình trong mắt người dân Việt Nam và thế giới.

Dù chế độ Tổng thống Diệm bị nhiều người cho là độc tài và gia đình trị, các nhà sử học và bất kỳ ai quan tâm đến lịch sử Việt Nam đều muốn tìm hiểu thêm về các thành viên gia tộc Ngô-Đình vì họ đóng vai trò rất quan trọng trong chính phủ của ông. Họ nghĩ gì về mình, về đất nước và về đồng bào? Các thành viên trong gia đình nghĩ gì về nhau? Họ nghĩ gì về vai trò của gia đình họ trong lịch sử? Điều gì đã đưa họ đến gần nhau như vậy, và mỗi người có ảnh hưởng gì đối với Tổng thống? Mặc dù đã có nhiều sách viết về họ, nhưng đây là lần đầu tiên, sau sáu thập kỷ, độc giả tiếng Anh và tiếng Việt có thể đọc những suy nghĩ của họ do không ai khác ngoài chính họ kể lại.

Trong sách chúng ta có thể nghe bà Ngô-Đình Nhu thuật lại những sự kiện quan trọng trong cuộc đời bà, từ thời thơ ấu đến cuộc hôn nhân với ông Nhu, từ thời gian bà ở Huế trong cuộc chiến tranh Pháp-Việt cho đến những năm hạnh phúc của chính quyền Diệm, và từ khi bà bị buộc phải lưu đày cho đến những ngày cuối đời.

Chúng ta biết được cuộc sống của bà khó khăn như thế nào ở một số thời điểm mặc dù xuất thân từ gia đình quyền quý; bà kiên định với niềm tin của mình đến mức có thể cho là ngoan cố; bà có thể hành động mạnh mẽ như thế nào khi Tổng thống và chồng bà thiếu quyết đoán; bà trung thành với họ và với đất nước Việt Nam như thế nào; bà oán giận Pháp và Hoa Kỳ ra sao; và cuộc sống lưu vong của bà đau khổ biết bao.

Không phải tất cả các chi tiết trong cuốn hồi ký đều chính xác và khách quan, bà cũng không kể cho chúng ta nghe tất cả những gì bà biết hoặc đã làm, nhưng tính chủ quan chính là điểm mạnh của cuốn sách. Chúng ta không cần phải tin bà hoàn toàn, nhưng giờ đây chúng ta có thêm một nguồn thông tin và quan điểm cá nhân của bà để thêm vào câu chuyện về một thời kỳ sống động nhưng bi thảm của lịch sử hiện đại Việt Nam.

Cuốn hồi ký cũng cho chúng ta cơ hội biết bà và các con bà đã sống cuộc sống lưu vong như thế nào. Dễ hiểu khi họ đã mất một thời gian dài (hay không bao giờ) mới phục hồi sau cú sốc từ cái chết của Tổng thống Diệm và ông Nhu, đó có lẽ là lý do tại sao họ tránh né xuất hiện trước công chúng. Tuy nhiên, hành động trung thực với tính cách của họ, cộng với lòng can đảm để bảo vệ và giữ gìn danh dự và nhân phẩm của gia đình sau một thảm kịch khủng khiếp như vậy, cũng đã truyền cảm hứng cho sự tôn trọng và cảm thông.

Bài viết của Ngô-Đình Lệ Quyên và Ngô-Đình Quỳnh được biên tập bởi Jacqueline Willemetz đưa ra quan điểm của thế hệ thứ hai của gia đình Ngô-Đình về vai trò của họ trong lịch sử. Bà Lệ Quyên và ông Quỳnh không phải sử gia nhưng họ đã sống qua nhiều phần của lịch sử này và biết về nó nhờ mẹ của họ và nhờ những tư liệu, tài liệu và hình ảnh còn sót lại. Bài viết của họ có mục đích bảo vệ sự liêm chính của chính phủ Diệm và gia đình ông trước những lời chỉ trích.

Bằng việc kể lại lịch sử của dòng họ Ngô-Đình song song với lịch sử của dân tộc Việt Nam, họ muốn thể hiện tấm lòng yêu nước chân thành và sâu sắc trong gia tộc. Nhìn chung, họ không sai: Ngay cả những người chỉ trích chính phủ Diệm cũng thừa nhận rằng ông Diệm là một người yêu nước chân chính và liêm khiết.

Các thành viên của gia đình Ngô-Đình, bao gồm cả Tổng thống, chắc chắn đã phạm nhiều sai lầm, nhưng ít ai nghi ngờ lòng yêu nước của họ, và nhiều người sẽ nói rằng Tổng thống là một nhà lãnh đạo giỏi so với những người tiền nhiệm và kế nhiệm của ông. Chắc chắn ông ta có học thức và đời sống tinh thần phong phú hơn nhiều so với nhóm lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội.

Nhưng mục đích của chúng tôi ở đây không phải là bênh vực gia đình Ngô-Đình hay chế độ Diệm. Khi chủ trì việc dịch thuật và xuất bản cuốn sách này, chúng tôi chỉ nhằm mục đích tạo ra sự quan tâm và khuếch trương hiểu biết về lịch sử Việt Nam Cộng hòa. Chế độ cộng sản đã vùi dập lịch sử này một cách tàn bạo kể từ năm 1975, nhưng chúng ta cần nó để hiểu sâu sắc về Việt Nam hiện đại. Với tư cách là biên tập viên, tôi cố gắng giữ bản dịch đúng với bản gốc và chỉnh sửa rất nhẹ nhàng với hy vọng độc giả sẽ đọc và đưa ra quan điểm riêng về tác giả và câu chuyện của họ.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vĩnh Biệt Sơn Nam (11/12/1926 – 13/08/2008)

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

09/08/2023

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự:

“Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc lại vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đó, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.
Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.
Hai năm qua.
Ba năm qua…
Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.
Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.
Hai ông bà quá đỗi vui mừng.
Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?
Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:
– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?
“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:
Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.
Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!
Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:
– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.
Chị vợ đáp:
– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.
Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:
– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cầu khỉ, đằng kia kìa, họa may…
Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:
– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:
– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.
Bà Cả mừng quýnh:
– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!
Khách trả lời:
– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.
– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều” quá vậy?
Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:
– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vô mùng… nói chuyện”. Ít ai đi đâu.
Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.
Để đánh trống lảng, ông nói:
– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.
Bà Cả nóng ruột:
– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?
Khách trả lời:
– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.
Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…

Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc.

Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:
– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.
Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).
Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đã đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy dọc ngang tá lả khắp sông rạch miền Nam.
Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.
Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn Rừng Mắm của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:
“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.
Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.
Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:‘Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như ‘xuất giá tòng phu’, ‘tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời’, ‘dáng người đẹp nhất thế giới’, ‘giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).
Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:
“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng”.
Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay…. Hồi ký Sơn Nam không chỉ là chuyện kể về cuộc đời của một con người mà còn là chuyện kể về một giai đoạn lịch sử của vùng đất Nam Bộ.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” từ vùng đất Nam Bộ.
Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng,” được mở đầu bằng một bài thơ của Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” và quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của Sơn Nam? Ở tuổi 80, ông còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặc cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?
Câu trả lời có thể tìm được trên Tuổi Trẻ Online, số ra ngày 7 tháng 3 năm 2004:
“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”
Té ra, Sơn Nam đã bị hóa đá. Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống.” Sơn Nam dù không bị cấm viết, ông vẫn bị chôn (sống) bằng một hình thức khác.

Vĩnh biệt Sơn Nam!

May 2006

Tham vọng đối địch với Tesla của Vingroup đang đối diện một con đường gập ghềnh

Báo Tiếng Dân

Nikkei Asia

Tác giảYuji Nitta

Cù Tuấn, biên dịch

4-8-2023

Bà Thủy, CEO VinFast nói chuyện với Chủ tịch HĐQT Phạm Nhật Vượng. Ảnh trên mạng

Tóm tắt: VinFast đang rất khó khăn để tạo ra lợi nhuận trong bối cảnh tiền đầu tư trả trước quá lớn.

HÀ NỘI – Tập đoàn Vingroup của Việt Nam đã đặt cược lớn vào việc toàn cầu sẽ chuyển sang dùng xe điện. Nhưng hoạt động kinh doanh xe điện của họ rất khó để cất cánh, bị sa lầy do thị trường nội địa chậm tiếp nhận điện khí hóa và việc triển khai gặp khó khăn trên thị trường Mỹ.

VinFast, nhánh xe điện của tập đoàn này, tự hào có một cơ sở sản xuất tiên tiến trên đảo Cát Hải ở thành phố cảng Hải Phòng.

Đây là “cơ sở sản xuất đẳng cấp thế giới với 90% quy trình được tự động hóa”, Giám đốc điều hành VinFast Lê Thị Thu Thủy cho biết trong chuyến thăm địa điểm này gần đây.

Bà Thủy nói: “Sức mạnh của VinFast nằm ở tốc độ. Chúng tôi có thể làm những việc mà các nhà sản xuất hiện có với hệ thống [ra quyết định] phức tạp không thể làm được“.

Năm 2019, VinFast trở thành công ty Việt Nam đầu tiên sản xuất xe xăng tại Việt Nam. Công ty này đã chuyển sang xe điện vào năm 2021 trong nỗ lực thúc đẩy quá trình điện khí hóa toàn cầu, trước khi từ bỏ hoàn toàn việc sản xuất xe chạy bằng xăng vào năm 2022.

Thiết kế nội thất cho các dòng xe của VinFast bắt chước xe điện của gã khổng lồ Tesla trong việc loại bỏ các đồng hồ đo vật lý và công tắc để chuyển sang một màn hình lớn ở trung tâm bảng điều khiển. Tất cả bốn mẫu xe điện của công ty, bao gồm cả xe thể thao đa dụng, đều được sản xuất tại nhà máy ở Hải Phòng, với đội ngũ nhân viên bao gồm các kỹ thuật viên và kỹ sư nước ngoài đến từ khoảng 30 quốc gia.

Một chuyên gia máy ép đến từ Brazil với gần 30 năm kinh nghiệm tại Hyundai Motor và các nhà sản xuất ô tô khác cho biết ông gia nhập Vinfast để đón nhận một thách thức mới. Một chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ giám sát quá trình lắp ráp đến từ nhà sản xuất ô tô châu Âu Stellantis. Các công nhân khác đã đến đây từ Toyota Motor, General Motors và Tesla.

Nhưng tỷ lệ sử dụng vẫn còn thấp tại nhà máy Hải Phòng trên, trong bối cảnh nhu cầu trong nước khá ảm đạm. Thị trường xe truyền động 4 bánh (4WD) của Việt Nam còn nhỏ, với quy mô hàng năm từ 400.000 đến 500.000 chiếc do xe truyền động 2 bánh (2WD) giá rẻ được ưa chuộng hơn tại quốc gia này. Xe điện, bao gồm cả xe điện của các công ty đối thủ như Tesla, hiếm khi xuất hiện trên đường phố.

VinFast chỉ bán được 7.400 xe vào năm 2022. Giả sử năng lực sản xuất của nhà máy ở Hải Phòng là 38 chiếc mỗi giờ, hoặc tối đa là 250.000 chiếc mỗi năm, thì hiệu suất sử dụng nhà máy đối với việc sản xuất xe điện vào năm ngoái chỉ ở mức khoảng 3%.

Ngoài việc lắp đặt các cơ sở sạc điện tại các khu vực đô thị như Hà Nội, Vingroup đang sản xuất pin ô tô cùng với công ty Contemporary Amperex Technology của Trung Quốc (CATL) và cũng đã bắt đầu tái chế pin. Công ty này đã tham gia vào thị trường taxi xe điện và đang hợp tác với một công ty khởi nghiệp ứng dụng gọi xe.

Để khuyến khích những người tiêu dùng còn nghi ngờ về xe điện, công ty thậm chí đã bắt đầu quảng bá dịch vụ mua lại những chiếc xe điện đã qua sử dụng sau 5 năm.

Các công ty trong Vingroup bổ sung cho nhau và chuyên môn của chúng tôi có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp”, bà Thủy nói.

Trong khi cố gắng nuôi dưỡng thị trường trong nước, VinFast cũng có ý định giành lấy một phần thị trường khổng lồ ở Mỹ, nhưng việc tung xe điện ra quá vội vàng đã dẫn đến một chuyến đi gập ghềnh.

Sau một thời gian trì hoãn, công ty này đã buộc phải thu hồi tất cả 999 chiếc xe đã được vận chuyển đến Mỹ trong đợt đầu tiên. Lỗi phần mềm gây ra việc thu hồi là một mối lo ngại ngay cả trước khi xuất khẩu xe sang Mỹ. Việc khởi động sản xuất tại nhà máy của VinFast ở Mỹ, dự kiến có công suất sản xuất hàng năm là 150.000 chiếc, cũng đã bị lùi lại từ tháng 7 năm 2024 đến năm 2025 hoặc muộn hơn.

Do phải chi trước nhiều khoản tiền, hoạt động kinh doanh sản xuất của VinFast – bao gồm cả xe điện – đang báo lỗ 14 nghìn tỷ đồng (khoảng 590 triệu USD) trong nửa đầu năm 2023. Con số này là cải thiện nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái với khoản lỗ 16 nghìn tỷ đồng.

Đến năm 2024, doanh số sẽ đạt 60.000 đến 70.000 xe và EBITA [thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao] sẽ là hòa vốn”, nhà sáng lập Vingroup Phạm Nhật Vượng cho biết vào tháng 5. “Chúng tôi sẽ có thể tạo ra lợi nhuận trong năm tài chính 2025“. Nhưng triển vọng khá u ám.

Ông Vượng được mệnh danh là ông vua bất động sản Việt Nam. Công việc kinh doanh mì ăn liền mà ông bắt đầu ở Ukraine vào năm 1993 là bước đi đầu tiên của ông với tư cách là một doanh nhân. Vào những năm 2000, ông đã đầu tư số tiền kiếm được từ liên doanh đó vào một cơ sở thương mại và một khu nghỉ dưỡng ở quê nhà. Đón đầu làn sóng tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, ông trở thành một trong những người giàu nhất Việt Nam.

Ông Vượng là một người nhạy bén, dám chấp nhận rủi ro và nhanh chóng từ bỏ công việc kinh doanh khi ông thấy chúng sẽ thất bại. Trước đây, Vingroup đã từng lấn sân sang điện thoại thông minh và TV, nhưng ông Vượng đã quyết định rút lui chỉ sau hai hoặc ba năm. Ông đã tìm cách tạo ra một thương hiệu đồ gia dụng trong nước nhưng không thể cạnh tranh với các đối thủ hàng đầu của Trung Quốc và Hàn Quốc.

Đó là lý do tại sao quyết định của ông Vượng nhằm hỗ trợ VinFast với 1 tỷ đô la từ tài sản cá nhân của chính mình vào mùa xuân này có thể được coi là một dấu hiệu cho thấy cam kết sâu sắc của ông đối với hoạt động kinh doanh xe điện.

Tuy nhiên, ông Vượng không thể chỉ ngồi chờ VinFast cất cánh. Mặc dù đã đầu tư hàng tỷ đô la, nhưng chi phí trả trước sẽ còn tăng thêm do việc xây dựng nhà máy ở Mỹ, cũng như chi phí nghiên cứu và phát triển.

Doanh thu của toàn tập đoàn đã tăng lên trong 10 năm qua, nhưng lợi nhuận đã không theo kịp, khiến tập đoàn rơi vào tình trạng lỗ ròng vào năm 2021. Khi tổng tài sản của tập đoàn tăng nhanh sau năm 2019, khi công ty bắt đầu sản xuất xe ô tô chạy xăng, hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trở nên xấu đi. Giá cổ phiếu của Vingroup hiện tại chưa bằng một nửa so với mức đỉnh trước khi bắt đầu sản xuất xe điện.

Việc niêm yết chứng khoán của VinFast tại Mỹ, vốn được chờ đợi từ lâu, cũng gặp nhiều khó khăn. VinFast đã gấp rút nộp đơn đăng ký niêm yết vào cuối năm 2022, nhưng con đường đến với đợt chào bán lần đầu ra công chúng gặp nhiều cản trở. Vào tháng 5, VinFast chuyển sang niêm yết thông qua việc sáp nhập với một công ty mua lại đặc biệt, công ty này sẽ tổ chức cuộc họp cổ đông vào ngày 10 tháng 8 để thông qua việc sáp nhập.

Biết thua để nhường chỗ cho công lý

Báo Tiếng Dân

Huy Đức

9-8-2023

Trong lịch sử tư pháp của Việt Nam mà tôi quan sát, hiếm khi có một vụ trọng án mà cơ quan điều tra chịu bó tay. Không ít vụ án được phá trong một thời gian kỷ lục. Nhưng, cũng hiếm khi tôi thấy những vụ án oan nghiêm trọng nhất được chủ động phát hiện bởi các cơ quan tố tụng.

Năm 1983, cho dù mang “trái tim trong trắng” [kịch Lưu Quang Vũ], ông Nguyễn Sỹ Lý vẫn bị giam cầm 2.000 ngày. Và, ông Lý chỉ được minh oan khi một người bạn tù được tha trước, âm thầm giúp ông tìm ra thủ phạm. Ông Huỳnh Văn Nén cũng chỉ nhìn thấy ánh sáng sau 17 năm nhờ hung thủ, bị giữ tình cờ trong một vụ vi phạm luật giao thông, tự thú. Ông Nguyễn Thanh Chấn ở tù 10 năm cho đến khi hung thủ tự đến đồn công an.

Chuyện không phải của thời mông muội. Chỉ mới cách đây 10 năm, 7 thanh niên ở Sóc Trăng cũng chỉ được minh oan sau 4 tháng tạm giam nhờ hai nữ hung thủ cướp của giết người ra đầu thú.

Những người chịu “án oan thế kỷ”, trong phòng tạm giam, đều khai nhận “hành vì giết người” hoàn hảo. Trừ 7 thanh niên ở Sóc Trăng, tất cả, khi đứng trước tòa, đều phản cung và đều bị tòa căn cứ “án tại hồ sơ”, bác bỏ. Và, chỉ khi hung thủ thật bị lương tâm cắn rứt khai ra, những gì họ tố cáo bị bức cung mới được xác nhận hóa ra là đúng.

Với hai tử tù Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải, nếu thực sự oan, không rõ, chúng ta có thể chờ đợi lương tâm của những người đã tiến hành tố tụng hay lại phải chờ lương tâm hung thủ.

Khi nhậm chức, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng yêu cầu công tác xét xử “không được để xảy ra oan sai”. Đây là điều mà những người tiền nhiệm ông cũng đều nhấn mạnh.

Không phải lúc nào thông điệp này cũng được diễn dịch giống nhau. Nó tùy thuộc vào một hệ thống tư pháp sợ OAN cho thường dân hay chỉ sợ cái SAI của mình bị phát hiện.

Tôi không biết hiện nay, ngành tòa án có còn giữ tiêu chí “án bị cải sửa” làm căn cứ bình xét thi đua và căn cứ để tái bổ nhiệm thẩm phán nữa không. Sợ sai, sợ án bị cải sửa là lý do mà các cơ quan tố tụng rất khó từ bỏ một tiền lệ rất sai là họp án [“ba bộ đồng tình…”] và thỉnh thị án.

Nếu một nền tư pháp vận hành theo hướng để dân không bị OAN, nền tư pháp đó phải luôn đặt ra khả năng tố tụng có thể SAI. Không phải tự nhiên mà ngay từ xa xưa loài người đã nghĩ đến việc tách bạch các cơ quan tố tụng và phân ra nhiều cấp xét xử.

Một nền tư pháp mà hướng tới mục tiêu hoàn hảo, các cơ quan tố tụng không bao giờ sai thì chỗ của những người thực sự bị oan là ở trong tù chứ chưa chắc đã phải là những người được tuyên vô tội.

Tôi đã từng phỏng vấn tử tù “Phước Tám Ngón” và có mặt tại pháp trường cái buổi sáng 3 bị án trong vụ Tamexco bị bắn. Trừ những loại giết người do bệnh lý, thích chơi trò cân não với cơ quan điều tra, phần lớn những hung thủ thật sự giết người rất ít khi kêu oan. Chúng chấp nhận đã vay [mạng người] thì trả.

Chúng ta đang nghe những lời kêu oan từ hai bị án Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải. Chúng ta có thể vĩnh viễn không biết sự thật nằm ở đâu. Nhưng, tôi nghĩ những người tiến hành tố tụng trong hai vụ án này biết rõ.

Chúng ta đã phải đợi cho đến khi hung thủ thật sự ra đầu thú mới biết là Nguyễn Sỹ Lý, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn bị oan. Nhưng, những người tiến hành tố tụng chắc chắn đã biết điều đó khi họ bắt đầu sử dụng nhục hình và mớm cung bị cáo.

Đã từng có khá nhiều hung thủ thật ra đầu thú để minh oan cho người gánh án thay mình; nhưng, trong nền tư pháp nước ta, ít khi có một cán bộ từng tiến hành tố tụng tự nhận là mình sai để minh oan cho nạn nhân của chính mình và cộng sự.

Trong các vụ án oan như Nguyễn Sỹ Lý, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn… đều có vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Chúng ta chứng kiến, việc khăng khăng tuyên bố “sai phạm tố tụng” nhưng “không làm thay đổi bản chất vụ án” đáng sợ thế nào.

Một nền tư pháp mà chỉ sợ lộ ra cái SAI sẽ không bao giờ tránh được OAN [khiên – cho dân].

Cứ tống vào tù một dân oan là cấp phép tự do cho một tên tội phạm [hung thủ trong vụ án Huỳnh Văn Nén từng gây án đâm, chém trong thời gian ông Nén bị tù oan].

Không có mô hình tư pháp nào hoàn hảo. Mô hình ưu việt hơn không phải là có khả năng lập thành tích “phá án 100%”, là không phải không có “án bị cải sửa” mà là có khả năng tự phát hiện sai sót.

Mục tiêu của một nền tư pháp là công lý chứ không chỉ là phá án. Chính vì thế mà trong nhiều trường hợp, các cơ quan tố tụng phải chấp nhận thua; bởi, một khi các cơ quan tố tụng cứ khăng khăng thắng sẽ không có chỗ cho công lý.

VNTB – Nhà văn Sơn Nam

10.08.2023 2:04

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

(VNTB) – Sơn Nam qua đời vào ngày 13 tháng 8 năm 2008 nhưng ông đã chết (trong tôi) hơi lâu, trước đó.

Mấy năm trước, sau khi ghé thăm Lý Chánh Trung, giáo sư Nguyễn Văn Lục đã có nhận xét như sau về người bạn đồng nghiệp cũ :

“… sau 1975 … có mấy nhà văn, nhà báo trong Nam được cầm bút lại như Lý Chánh Trung. Con số đếm chưa hết một bàn tay… Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Tôi có ngồi học với giáo sư Lý Chánh Trung đâu chừng cỡ… nửa giờ, ở trường Văn Khoa Đà Lạt. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Tôi không dám bàn luận lôi thôi gì (thêm) về chuyện viết lách của một người thầy học cũ.

Nhận xét dẫn thượng, chả hiểu sao, bỗng khiến tôi nhớ đến nhà văn Sơn Nam. Ông cũng là một trong những người may mắn hiếm hoi của miền Nam (trong “con số đếm chưa hết một bàn tay”) vẫn được phép cầm viết, sau 1975, và là một trong những nhà văn mà tôi vô cùng mến mộ.

Tác phẩm (có lẽ) đắc ý nhất của Sơn Nam là cuốn Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư.” Tác giả kể lại chuyện một người dân ở U Minh Hạ, đặt mua báo dài hạn nhưng không trả tiền nên nhà báo phải cử người đi đòi nợ. Xin trích vài đoạn đọc chơi cho nó … đã :

“- Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?

Thầy xã trưởng đáp:

– Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Để tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó lên công sở… 

Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình:

– Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quí vị độc giả thân mến gần xa.

Thầy xã hỏi:

-Phái viên là gì vậy thầy?

– Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thu tiền.” (Sơn Nam. “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư.” Hương Rừng Cà Mau. Sài Gòn: Trí Đăng, 1972).

Nhân vật chính trong truyện, ông Trần Văn Có, theo như lời dân cùng xóm, là một người độc thân, làm nghề giăng câu, nuôi heo, lấy tổ ong, và hơi ba hoa chút đỉnh: “Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít-le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tầu…”

Nghe nói vậy nhưng không phải vậy. Khi phái viên báo Chim Trời giáp mặt độc giả Trần Văn Có, ngay tại nơi cư trú của ông, cuộc hội kiến – rõ ràng – rất là trang trọng và (vô cùng) thắm thiết:

“Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu… Tư Có kèm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đi. Thếp đèn dầu cá kèo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mành lưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.

Tư Có bỏ mùng xuống, chun vô tấn ba phía rồi mời:

– Thầy Hai vô trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngoài muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.

Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chui lẹ vào ngồi kế bên:

– Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hồi sanh bịnh chết.

Tư Có đáp:

– Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.

Thầy phái viên trố mắt:

– Vậy à? Còn mấy làng khác?

– Ðông Thái, Ðông Hồ, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông… không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi…

– Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi… Báo có thích hợp không anh Tư?

– Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, tứ cú. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?

Thầy phái viên cười:

– Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách toòng teng bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.

Tư Có nói:

– Chắc là thầy muốn nói bài ‘chốn quê hương đẹp hơn cả’ chớ gì?

Rồi chú đọc một hơi:

– Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy…

– Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá… Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương… từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan… Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.

– Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ… Không, chăn trâu sướng lắm chứ.

Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:

– Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ…

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim… 

Giọng Tư Có nói nhỏ:

– Ngủ chưa, thầy phái viên?

– Ngủ chưa anh Tư?

– Chưa!

– Tôi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.

Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:

– Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi… Chắc thầy tới đây thâu tiền.

– Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau…

– Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.

– Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tín không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hoài  hoài cho tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng cảm động…”
(sđd 111-116).

Tôi đọc truyện “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý tưởng. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ.

Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham (hơn) nơi đất lạ quê người.

Tôi là một trong những kẻ đã (đành đoạn) bỏ đi như thế. Vài chục năm sau, khi tóc đã điểm sương, ở một góc trời xa, tình cờ đọc được bài báo (“Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ”) của phóng viên Hoàng Trí Dũng mà không khỏi băn khoăn nhớ về quê cũ :

Tôi đã đến nhiều miền quê nghèo khó vùng sông nước ĐBSCL, nhưng có lẽ chưa lần nào tôi bị ‘sốc’ như chuyến đi lần này. Nơi tôi đến là một vùng quê giáp ranh giữa hai tỉnh Kiên Giang – Cà Mau, cách không xa trung tâm hai thành phố Rạch Giá và Cà Mau, vậy mà đã 30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất…”

“Trái ngược với hình ảnh ấy là cơ ngơi của các quan chức địa phương – những người đang giành giật đất đai của dân. Đó là chuyện thật ở ngay một góc Lâm trường U Minh 2, ấp 4, xã Khánh Hịa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.”

“Cách đây hai năm một cháu bé tên Hằng, 10 tuổi, con của hai vợ chồng trẻ không may bị bệnh viêm ruột thừa cấp tính, nhưng ở giữa rừng không có trạm y tế, mà lòng kênh trơ đáy khô queo, còn trên bờ thì không có đường đi rốt cuộc đành ngồi nhìn con chết mà bất lực vì không cách nào chuyển đi bệnh viện. ..”

“Ông chủ nhà Nguyễn Trung Liệt – một lão nông có uy tín trong vùng – vào chuyện: ‘Trên 60 tuổi rồi, hơn chục năm, ba thế hệ với hơn 30 người sinh ra và lớn lên tại khu rừng này, nhưng ngặt một nỗi nhà tui không ai có được tấm hộ khẩu, cũng chẳng hề có giấy chứng minh nhân dân. Người lớn còn đỡ chứ tội nghiệp sắp nhỏ, năm đứa cháu nội ngoại ra đời trong ruột rừng này hiện tại đều thất học như ông cha nó…’
Chú Ba Vinh thì kêu:“Cả trăm gia đình bà con ở đây khổ lắm, không thua gì thời kỳ Pháp thuộc…” 

Chú Ba Vinh (nào đó) tuổi đời – có lẽ – còn hơi ít nên không biết rõ cảnh sống của dân chúng ở U Minh Hạ vào thời Pháp thuộc. Chớ hồi đó, cứ theo như lời kể của ông già Nam Bộ Sơn Nam, nơi đây đã có người đặt mua dài hạn báo Chim Trời ở tận Sài Gòn, có kẻ giữa bữa giỗ (dám) bàn chuyện quốc sự và lớn tiếng chê bai tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang sa.

Những chuyện “tầm ruồng” như thế, xem ra, có vẻ như một giấc mơ (đã) xa xôi lắm đối với người dân ở U Minh Hạ – bây giờ. Trong bài phóng sự (thượng dẫn) không nghe phóng viên báo Tuổi Trẻ kể lại chuyện có bữa nhậu lai rai mấy con cá lóc nướng trui với người dân địa phương, và dùng chung với họ một bữa cơm chiều (“ngon làm sao”) như đặc phái viên của báo Chim Trời – hồi đó. Chuyện người ta ăn ở cư xử tử tế với nhau, theo kiểu “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” (ngó bộ) cũng miễn có luôn.

Ở U Minh Hạ, ngày nay, theo như nguyên văn tường thuật của nhà báo Hoàng Trí Dũng: “30 năm sau ngày đất nước thống nhất vùng quê ấy vẫn còn là bức tranh buồn thảm với nhiều nỗi bức xúc: không điện, đường, trường, không trạm xá, không hộ khẩu, không đất sản xuất.” Có chăng chỉ là tiếng kêu gào ai oán, của những người dân khốn cùng và uất hận, vì bị cướp bóc trắng trợn mà thôi.

Sơn Nam, có lẽ, vì tuổi đời đã cao nên không còn nghe và thấy được những tiếng kêu thương và cảnh đời vô vọng (đến thế) từ nơi sinh trưởng của ông. Ngày 18 tháng 8 năm 2008, trên diễn đàn talawas, tôi nghe nhà văn Lê Phú Khải kể chuyện này :

“Có lần tôi nhờ ông viết một bài cho Đài Tiếng nói Việt Nam để kỷ niệm Cách mạng tháng Tám ở Nam bộ. Mấy ngày sau, cũng tại quán café ở Gò Vấp, ông đưa tôi bài: ‘Nhớ ngày Cách mạng tháng Tám ở U Minh’, đánh máy bằng cái máy chữ, chữ nhỏ li ti như con kiến. Ðài phát xong tôi thấy ‘tiếc’ quá! Vì chữ nghĩa phát lên trời rồi gió bay đi… Tôi bèn gửi bài đó cho báo Cà Mau.

Khi bài báo đó được in trên giấy trắng mực đen ở Cà Mau thì bạn đọc, cán bộ, đồng bào và các nhà nghiên cứu của vùng đất này đều kinh ngạc về trí nhớ của Sơn Nam. Bài báo đó là một tư liệu lịch sử sống động về Cách mạng tháng Tám ở U Minh, chưa từng được ai ghi chép lại sinh động như thế. Thư gửi về toà soạn tới tấp… Xin trích đăng lại đoạn cuối của bài báo đó :

“Tại dinh chủ quận trước kia, cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Từ những thôn xóm hẻo lánh, đồng bào đến dự ngày lịch sử trọng đại. Ðã có ban trật tự sắp xếp chỗ đậu xuồng ghe. Ðồng bào người Khmer cũng đến dự với các sãi áo vàng. Xuồng ghe đậu dài hàng kilômét. Nhiều người trung niên ‘quần bao áo bố’ cõng con trên vai để nó trông lên khán đài.

Tiếng loa phát ra vang vang, báo tin đại diện của tỉnh bộ Việt Minh đã đến. Có múa lân. Vài ông lão tụ tập lại, dạy võ thuật cho thanh niên. Loa lại vang lên, khuyên đồng bào yên tâm, cứ chịu đói buổi sáng, sau đó sẽ có phân phát bánh tét, ăn thay cơm. Trời chuyển mưa. Ðồng bào vẫn đứng chịu mưa tại chỗ.”

Câu chuyện này cũng lại khiến tôi liên tưởng đến nhận xét của giáo sư Nguyễn Văn Lục về một vị thầy học cũ của mình :

“Trước 75, ông viết như thể một người nhập cuộc, kẻ lên đường, kẻ làm chứng, người trí thức dấn thân. Ông viết với một tấm lòng nhiệt huyết. Sau 1975, ông viết như một kẻ đứng bên lề, xem đá banh và vỗ tay.”

Sơn Nam qua đời vào ngày 13 tháng 8 năm 2008 nhưng ông đã chết (trong tôi) hơi lâu, trước đó.

Tưởng Năng Tiến – 8/2011

BA BÓNG ĐEN TRÙM XUỐNG BẢN ÁN TỬ HÌNH OAN NGUYỄN VĂN CHƯỞNG

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Án mạng giết hại thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh đêm 14.7.2007 ở đường vào cảng Đình Vũ, thành phố Hải Phòng là bản án quá đơn giản, không có gì phức tạp, không khó phá án, không khó tìm ra bàn tay vấy máu nạn nhân Nguyễn Văn Sinh.

Nhưng cũng như vụ án hai cô gái ở bưu điện Cầu Voi, Thủ Thừa, Long An bị giết hại tối 13.1.2008, cơ quan điều tra không hướng vào truy tìm kẻ thủ ác đích thực nên vội vàng huỷ tang vật vụ án. Con dao, cái thớt ở chỗ hai cô gái bị giết, dính máu nạn nhân đương nhiên cũng có cả dấu vết bàn tay tội ác. Con dao bị giấu nhẹm. Cái thớt bị thiêu trong đống lửa. Cảnh sát điều tra ra chợ mua dao thớt mới thay thế chỉ cốt cho có tang vật thì rõ ràng họ không cần truy tìm kẻ đích thực giết hai cô gái.

Tang chứng của thủ phạm đích thực bị huỷ bỏ mất tăm tích để tạo ra tang chứng áp đặt bằng bạo lực nhục hình ép cung, buộc tội người ngoại phạm. Bạo lực nhục hình ép cung đã tạo ra nhiều bản án tử hình oan rải ra trong không gian rộng lớn trên cả nước và kéo dài trong thời gian nhiều chục năm qua mà những tử tù oan Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn và những cái chết oan như Ngô Thanh Kiều là dẫn chứng.

Bản án tử hình Nguyễn Văn Chưởng cũng trong vòng xoáy bạo lực nhục hình, ép cung như bản án tử hình với Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long nhưng khủng khiếp hơn, trắng trợn hơn và trùng trùng nhiều tầng lớp áp đặt hơn. Thiếu minh bạch, không có ánh sáng công lí nên trong bản án tử hình oan Nguyễn Văn Chưởng thấy lù lù những bóng đen, những khoảng tối trùm xuống bản án . Bịt bùng nhất, nặng nề nhất và khủng khiếp nhất là ba bóng đen Đỗ Hữu Ca, Dương Tự Trọng và Trương Hoà Bình.

Trong đó hai bóng đen tạo ra bản án tử hình oan cho Chưởng là Đỗ Hữu Ca và Dương Tự Trọng. Bóng đen Trương Hoà Bình, Chánh án Toà án Tối Cao đủ tầm bao phủ chặn kín cánh cửa giải oan, xoá án oan cho dân đen lương thiện Nguyễn Văn Chưởng. Bóng đen bịt kín buồng giam tử tù Nguyễn Văn Chưởng không còn một khe hở cho ánh sáng công lí soi vào đến nỗi Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Văn Hiện đã từng là Chánh án Toà án Tối cao phải ngửa mặt lên trời than cho phận dân đen phải chịu oan khiên tức tưởi và tuyệt vọng: “Vụ án Nguyễn Văn Chưởng có phát hiện sai sót thì cũng hết đường kháng nghị!”

Án mạng giết thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh đêm mưa gió 14.7.2007 ở đường vào cảng Đình Vũ, Hải Phòng xảy ra khi đại tá Ca đang là trưởng phòng điều tra tội phạm kiêm phó giám đốc công an Hải Phòng. Vụ án xảy ra khi Ca đang hau háu nhìn lên chiếc ghế giám đốc và thượng tá Trọng là phó của Ca ở phòng điều tra tội phạm đang nôn nóng chờ Ca lên giám đốc để lại chiếc ghế trưởng phòng điều tra tội phạm kiêm phó giám đốc công an thành phố cho Trọng. Thèm khát chức quyền, có vụ án xảy ra, cả hai đều lấy bạo lực, nhục hình, ép cung làm phép màu phá án nhanh. Ca và Trọng đều rất rành phá án nhanh bằng bạo lực. Lúc này càng phải tỏ ra là người hùng phá án nhanh, ghi điểm son để lên chức.

Người dân và chính quyền tranh chấp đất đai chỉ là tranh chấp dân sự thường tình của cuộc sống vốn luôn phát sinh mâu thuẫn. Tranh chấp đất đai đã và đang diễn ra gay gắt trên khấp đất nước. Công an cưỡng chế thu hồi đất tay khiên, tay dùi cui dàn hàng ngang đối mặt với hàng ngàn dân giữ đất kéo dài suốt nhiều năm. Khi căng thẳng nhất công an cũng chỉ vung tay, vung chân với dân. Dữ dội nhất cũng chỉ dùi cui khua loang loáng, gạch đá bay rào rào. Không ở đâu công an nỡ dàn trận, xả súng bắn dân tranh chấp đất đai với chính quyền.

Nhưng trong tranh chấp giữa gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn với chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng về mảnh đất gia đình Vươn đã đổ mồ hôi, đổ cả máu khai hoang lấn biển, Ca và Trọng đã huy động hơn một trăm tay súng công an dàn thế trận đối đầu bằng súng đạn với dân, xả đạn vào ngôi nhà đơn sơ, mỏng manh nơi vợ con Vươn, nơi đàn bà và trẻ con đang nương náu. Nổ súng bắn vào đàn bà, trẻ con, bắn vào người dân một nắng hai sương khai hoang lấn biển, mở đất sản xuất làm ra của cải và đóng thuế cho nhà nước mà Ca hỉ hả sung sướng khoe trận đánh đẹp. Phá án nhanh của đại tá Ca, của thượng tá Trọng là vậy! Phá án bằng bạo lực tàn bạo, man rợ, không còn tính người.

Án mạng giết thiếu tá Sinh có màu sắc, có bóng dáng cuộc thanh toán của xã hội đen, của thế giới ngầm. Không hề có chỉ dấu của vụ giết người, cướp của. Giết người cướp của phải nhằm vào người có của và tay không, yếu thế. Chẳng dại gì nhằm vào công an có súng. Công an đi công vụ trong đêm cũng chẳng ai mang theo của. Có chăng chỉ vài đồng tiền lẻ. Một vụ cướp có tổ chức, có chủ mưu mà Chưởng bị vu cho là chủ mưu không khi nào ra tay giết một mạng người chỉ vì vài đồng tiền lẻ.

Trời mưa gió. Đêm khuya. Đường vắng. Thiếu tá Sinh mặc áo mưa đi xe máy một mình thì không thể là đi tuần. Lâu không thấy Sinh về, đồng đội của Sinh là cảnh sát Phạm Hồng Quang đi tìm thấy Sinh bị giết thì ứng xử của Quang cũng cũng không phải là ứng xử của một cảnh sát với một án mạng, lại là án mạng với đồng đội của mình.

Với cảnh sát, xử lí án mạng là việc thường ngày, là kĩ năng nghiệp vụ. Nghiệp vụ phá án hàng đầu cảnh sát nào cũng phải thuộc lòng là bảo vệ hiện trường, bảo quản nguyên trạng tang vật. Nhưng Quang đến nơi Sinh bị giết liền xoá bỏ ngay hiện trường, thu giấu ngay tang vật.

Quang lột áo mưa, áo cảnh sát, dép…của Sinh gửi ở phòng bảo vệ công ty gần nơi án mạng. Quang thu giữ điện thoại di động, khẩu súng ngắn của Sinh đến chiều hôm sau, 15.7.2007 mới giao lại cho đơn vị đưa vào tang vật vụ án. Quang giữ điện thoại của Sinh một đêm và nửa ngày, liệu lịch sử những cuốc liên lạc của điện thoại có còn nguyên vẹn và đầy đủ?

Vội vàng xoá bỏ nguyên trạng hiện trường vụ án, Quang như muốn che giấu nguyên nhân đích thực dẫn đến cái chết của Sinh. Đây là chi tiết rất quan trong, một hướng cần khai thác đến nơi đến chốn để truy tìm ra kẻ thủ ác đích thực.

Nhưng Ca và Trọng không quan tâm đến sự việc và con người có thật trong vụ án. Ỷ vào bạo lực, có sự táng tận lương tâm, có sự trống rỗng tính người để bắt bất kì dân đen, thân cô thế cô nào cho nếm bạo lực “trận đánh đẹp” của Ca, cho nếm nhục hình, ép cung của đàn em Ca và Trọng, đều phải nhận tội giết người. Đó là thủ thuật phá án nhanh nhất của Ca và Trọng.

Chưởng đã kê khai các cuộc gọi đi, gọi đến điện thoại của Chưởng, 0974.863.087, tối ngày 14.7.2007 là căn cứ rất xác đáng, đủ cơ sở xác định vị trí và hành vi của Chưởng ở thời điểm xảy ra vụ án giết thiếu tá Sinh. Xác minh điều đó là xác minh sự ngoại phạm của Chưởng nên Ca và Trọng lờ đi. Ca và Trọng chỉ dùng bạo lực, nhục hình, ép cung mới nhanh chóng buộc Chưởng phải nhận tội giết thiếu tá Sinh đêm 14.7.2007!

Bạo lực nhục hình, ép cung của lũ cô hồn trong trại giam của công an Hải Phòng chưa đủ, Ca và Trọng còn liên kết với công an Bắc Giang, nơi có nhà gim Kế với những cô hồn máu lạnh, thành thục xài bạo lực, nhục hình, ép cung tạo ra những án oan tử hình Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long chấn động cả nước. Bị đòn nhừ tử ở trại giam công an Hải Phòng, Nguyễn Văn Chưởng lại bị dẫn giải lên Bắc Giang, tống vào nhà giam Kế cho những cô hồn đã buộc Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn chỉ được lựa chọn một trong hai sự nghiệt ngã: Hoặc nhận tội giết người. Hoặc ân đòn đến chết. Với sự ra đòn của những cô hồn đó, dù không giết người, Chưởng cũng phải nhận tội giết người để được sống mà kêu oan.

Bạo lực, nhục hình, ép cung cả với những tiếng nói trung thực. Nguyễn Trọng Đoàn, em Chưởng, Trần Quang Tuất, Trịnh Xuân Trường cùng quê với Chưởng đã viết giấy xác nhận tối 14.7.2007 Chưởng có mặt ở quê, thôn Trung Tính, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, Hải Dương, cách nơi án mạng giết thiếu tá Sinh 40 cây số. Bạo lực, nhục hình, ép cung buộc Đoàn, Tuất, Trường phải viết giấy bác bỏ giấy xác nhận cũ, phải viết lại theo lời mớm của công an.

Đỗ Hữu Ca và Dương Tự Trọng đã làm ra bản án tử hình của Nguyễn Văn Chưởng bằng bạo lực nhục hình, ép cung như vậy. Những bản án tử hình oan với Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Nguyễn Thanh Chấn, Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải tạo nên bóng đen trung cổ man rợ trùm lên nền văn minh sông Hồng, trùm lên đất nước văn hiến đang cùng loài người đi vào nền văn minh sáng lạn, văn minh tin học.

PHAN KHÔI-SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN”!?- Minh Diện

Nguyễn Hoành

Phan Khôi là một nhân cách lớn, xuất thân từ Nho học rồi bước sang Tây học với nhiều tâm huyết cho nước nhà. Thời xa xưa thơ thì phải đúng vần, đúng luật, phải nói đến tình yêu quê hương, đất nước v.v. Thế nhưng Phan Khôi đã bắn phát súng đầu tiên cho phong trào thơ mới bằng bài “Tình già” trong đó gieo chữ không đúng vần, nói về tình yêu đôi lứa mà là tình vỡ. Trong chương trình văn học phổ thông ở Miền Nam trước đây mở đầu phần Tân văn là bài Tình già, nó đã đi vào văn học sử. Cuộc đời ông bị lên bờ xuống ruộng cũng vì tấm lòng yêu nước nhưng bất hạnh hơn ông có một người con gái xổ toẹt bao nhiêu công sức vì dân vì nước của ông.

Tôi xin trích đăng bài viết của Mình Diện, trích từ Phạm Đức Bảo

Nguyễn Hoành

———————//

SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN”!?

Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, vênh vẹo đóng đinh qua loa, không sơn phết, tấm thiên, tấm địa và bốn góc đều hở.

Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm. Không nến, không hoa. Không có một vòng hoa, một bông hoa nào trong đám tang cha tôi. Ngoài con ngựa già kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình.

Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng cửa Đông.

Người hàng phố đứng nhìn đám tang vội vã quay đi. Không ai dám tới dự và đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ đều sợ liên lụy. Lúc cha tôi còn sống họ sợ đã đành, giờ cha tôi đã chết mà họ vẫn sợ.

Chiều mùa Đông gió mưa hun hút, lạnh tê tái.

Chiếc xe ngựa mầu đen và một dúm người mầu đen vón vào nhau líu ríu ra hướng cửa Đông.

Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối.

Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy.

Tôi nhớ những ngày mới về tiếp quản Thủ Đô, cha tôi thường dẫn chúng tôi đi thăm năm cửa ô và ba sáu phố phường Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe về cụ ngoại tôi, Tổng đốc Hoàng Diệu.

Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước đi trong con hẻm phố Thuốc Bắc (Hà Nội) vừa kể về đám tang của cha mình, nhà báo, nhà văn Phan Khôi.

Ông cứ nhắc đi nhắc lại, giọng nói như nấc lên:

– Không có đám tang nào ảm đạm như đám tang cha tôi! Không có đám tang nào buồn thảm, thê lương như đám tang cha tôi!

Một lần nữa Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng.

Ông tìm về quá khứ, tìm về nỗi đau xót mà gần hết cuộc đời vẫn chưa thể nguôi ngoai được.

Cụ Phan Khôi sinh ngày 6/10/1887 tức 20/8 năm Đinh Hợi, ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.

Ông nội cụ là Phan Nhu, thân phụ là Phan Trần đều là bậc trí thức nổi tiếng. Mẹ cụ là Hoàng Thị Lê – con gái của Tổng đốc Hà Nội, Hoàng Diệu, người đã chỉ huy quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Khi Hà Thành thất thủ, ông tự vẫn ở Võ Miếu ngày 25/4/1882, quyết không để rơi vào tay giặc.

Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh – cha của nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi, tức Huỳnh Hữu Nam – nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Phan Khôi có người em gái là mẹ vợ cùa nhà văn Vũ Ngọc Phan và tướng Nguyễn Sơn.

Với một gia thế như vậy nên Phan Khôi được học hành tử tế, và với bản chất thông minh nên cụ là một người đa tài, và với tài năng vượt trội, cụ là một người mạnh mẽ, bộc trực không chịu cúi luồn.

Người thầy đầu tiên của Phan Khôi là Trần Quý Cáp. Chính con người thông minh lỗi lạc, ý chí kiên cường nhất huyện Điện Bàn này đã truyền cho Phan Khôi tri thức và lòng yêu nước nồng nàn.

Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình.

“Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim” Phan Khôi quyết nối bước thầy, tham gia phong trào Duy Tân, theo các cụ Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp.

Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo để chiến đấu.

Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử.

Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân:

“Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí nhưng qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn.

Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền.

Ông cũng là một nhà Hán học và Trung Quốc học am hiểu những vấn để của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả, đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành; một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.

Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận.

Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…

Phan Khôi thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!”

Phan Khôi là một trong những nạn nhân của “Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông đày đọa khổ sở còn hơn tù.

Ngày 16/1/1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó.

Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh.

Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng, một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội, của Pháp để lại, trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông ta đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi.

Tố Hữu nói: “Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”

Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không?!

Nghe nói khi đã rời quyền lực, Tố Hữu đã sám hối, nhưng bà Vũ Thị Thanh – nguyên Phó Ban Tuyên huấn Trung ương – phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó.

Nếu đúng, nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977, khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa, văn nghệ của đảng.

Ngày ấy, Tố Hữu đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày” (Phùng Cung).

Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thể chối.

Tố Hữu đã viết: “Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trotkit, địa chủ, tư sản… quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn, sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm…” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9)

Ngoài ra, Tố Hữu còn viết: “Trong cái công ty phản động “Nhân Văn – Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”, từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trotkit Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.

Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!” (Trang 17sđd)

Theo chỉ đạo của “Anh Lành” bọn cơ hội nhào vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn – Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng.

Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta.

Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt.

Phan Khôi với truyền thống yêu nước của gia đình, đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng?

Phan Khôi viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ, tư sản?

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ.

Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm”, bị Tố Hữu quy là mật thám thì nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan “đáng kính” viết: “Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống Chính phủ!”

Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng, mạt sát Phan Khôi: “Hắn xin vào yết kiến cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng Nội vụ nhưng cụ không tiếp!”.

Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:

Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!

Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,

Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!

Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài!

Lô-gich trước cam làm kiếp chó,

Nhân văn nay lại hít gì voi!

Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục!

Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!

Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “Kép Tư Bền”?

Quả thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ôngTố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ.

Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan, cả Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan Viên đều như vậy.

Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con, bỏ mất một, còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con.

Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:

Hai nhà cộng lại có mười con

Năm gái năm trai nhắm cũng tròn

Gả, cưới tạm yên nguyền một nửa

Sữa răng riêng mũi máu ba hòn

Tự trào thôi hẳn còn chia rẽ

Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn

Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi

Tên này ghi cái nhục sông non

Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh. Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói:

“Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”. Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì.

Vậy mà hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này:

“Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9/3/1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi”.

Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘‘tâm hồn vong bản’’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!”.

Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!”. Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!

Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao!

Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe, phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi, Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phải đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!”

Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi – tôi dùng đúng nghĩa đen.

Trần Duy kể: Một hôm tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi quát:

– Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!

Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền, sách vở. Gặp tôi ông Phan Khôi bảo:

– Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”

Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc.

Bà Bích Thủy – con gái nhà thơ Yến Lan – tả chỗ ở mới của gia đình cụ Phan Khôi như sau:

“Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kế vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng.

Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng 9 m2, bằng 3/4 căn nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một hẻm nhỏ, to bằng cái bàn cờ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ”.

Căn nhà cụ Phan Khôi vắng lặng, xét nét, xa lạ không ai lui tới vì cụ bị coi là cầm đầu nhóm Nhân văn – Giai phẩm.

Cụ vốn gầy yếu, bị hành hạ sức khỏe càng suy sụp. Nhiều lần cụ xin đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy cho đi khám đành phải chịu.

Cụ thường ôm ngực ho từng cơn, và chống gậy ra giếng nước công cộng rửa chân lúc xế chiều.

Rồi cái buổi chiều mùa đông rét mướt ngày 16 tháng 1 năm 1959 đó, người chung nhà không nhìn thấy cụ Phan Khôi. Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay.

Chiếc xe ngựa – chở chiếc quan tài phủ bạt lăn bánh nghiêng ngả ra nghĩa địa Hợp Thiện phía Đông Hà Nội – đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng, chỉ có vợ con cụ và nhà thơ Yến Lan tác giả “Bến Mi Lăng”.

Bà Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan kể lại:

“Sáng hôm sau nghe người ta nói, có thằng cha nhà thơ nào đó dám cả gan đưa đám Phan Khôi. Ba tôi bảo đó là đạo lý của người Việt, nghĩa tử là nghĩa tận!”.

Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân.

Năm tháng qua đi nấm mộ ấy chìm trong cỏ dại và xương cốt cụ Phan Khôi phiêu bạt nơi nào không biết nữa.

Vừa qua con cháu cụ đành gói một nắm đất về đặt trong lòng ngôi “mộ gió” ở quê nhà.

Hơn nửa thế kỷ qua, bây giờ người ta đã nhìn nhận, đánh giá một cách công bằng, trả lại danh dự cho những trí thức, nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn – Giai phẩm. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ, và trí thức trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm đã được nhận giải thưởng, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, là để tạ lỗi. Nhưng cụ Phan Khôi vẫn bị lãng quên.

Tôi không hiểu đằng sau đó có những lý do gì, mà đồng hương xứ Quảng (ông Tế Hanh ở Quảng Ngãi), cùng tập kết ra Bắc, nhưng “Nhớ con sông quê hương” đến mức nào, nhớ kiểu gì, mà lại cố tình nói điêu, ”nâng quan điểm”, ám hại ông Phan Khôi (Quảng Nam) ”báo cáo cấp trên” quy chụp, bịa chuyện: “Chỉ có một ‘‘tâm hồn vong bản’’ loại Phan Khôi…”.

Nay, người ta thương tiếc, cảm phục Phan Khôi, ít ai nhắc tới Tế Hanh!

Với thân thế và sự nghiệp của cụ, với những tác phẩm báo chí và văn học đã tái xuất bản trong những năm gần đấy, cụ xứng đáng nhận giải thưởng hơn rất nhiều người mà xã hội minh bạch đã ghi nhận.

Minh Diện