Diễn văn của Đức Phanxicô với các sinh viên trẻ tại Trung Tâm Văn Hóa Félix Varela, Havana

Diễn văn của Đức Phanxicô với các sinh viên trẻ tại Trung Tâm Văn Hóa Félix Varela, Havana
Vũ Van An

Các bạn thân mến,

Tôi rất vui được hiện diện với các bạn tại đây ở Trung Tâm Văn Hóa này, nơi quan trọng xiết bao đối với lịch sử Cuba. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì dịp may này, được gặp mặt rất nhiều bạn trẻ, những người, qua việc làm, việc học hành và huấn luyện của họ, đang mơ về và đang thực sự tạo ra tương lai cho Cuba.

Tôi cám ơn Leonardo vì những lời chào mừng của bạn, và nhất là vì, dù nói tới biết bao nhiêu điều quan trọng và cụ thể như các khó khăn, các mối lo sợ, các niềm hoài nghi của chúng ta, có tính vừa thực chất vừa nhân bản, bạn vẫn đề cập với ta về hy vọng. Bạn ấy đã nói với chúng ta về các giấc mơ và khát vọng từng bén rễ vững chắc trong tâm hồn người trẻ Cuba, vượt lên trên các dị biệt của họ về giáo dục, văn hóa, niềm tin và ý nghĩ. Leonardo thân mến, xin cám ơn bạn, vì khi tôi nhìn tất cả các bạn, điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi cũng là chữ “hy vọng”. Tôi không thể tưởng tượng được việc một người trẻ lại không có sức sống, không có giấc mơ hay lý tưởng, không khát mong một điều gì đó vĩ đại hơn.

Nhưng ở giờ phút lịch sử này, một người trẻ Cuba nên có loại hy vọng nào? Không có gì hơn hay kém niềm hy vọng của bất cứ người trẻ nào tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Vì hy vọng nói với ta về một điều gì đó bén rễ sâu trong mọi trái tim con người, độc lập với các hoàn cảnh cụ thể và điều kiện lịch sử của ta. Hy vọng nói với chúng ta về nỗi khát mong, niềm hoài bão, lòng mong mỏi có được một cuộc đời thành toàn, niềm khát vọng hoàn thành những điều cao cả, những điều làm tâm hồn ta ngập tràn và nâng tinh thần ta lên những thực tại cao thượng như chân, thiện, mỹ, công lý và tình yêu. Nhưng nó cũng bao gồm việc chấp nhận rủi ro. Nghĩa là sẵn sàng không để mình bị quyến rũ bởi những lời hứa hẹn hạnh phúc mau qua, giả dối, lạc thú tức khắc và vị kỷ, bởi cuộc sống tầm thường và tự lấy mình làm trung tâm, một cuộc sống chỉ có thể đổ đầy lòng ta bằng buồn bã và đắng đót. Không, hy vọng phải mạnh dạn; nó phải biết nhìn quá bên kia tiện ích bản thân, những an toàn và bù đắp nhỏ mọn chỉ giới hạn chân trời ta; nó phải mở lòng ta cho những lý tưởng lớn lao giúp làm cho đời ta nên tươi đẹp và đáng sống hơn. Tôi muốn hỏi mỗi người trong các bạn: Điều gì lên khuôn đời các bạn? Điều gì đang nằm sâu trong trái tim các bạn? Các hy vọng và khát vọng của các bạn đặt ở đâu? Các bạn có sẵn sàng đặt mình lên tuyến phục vụ một điều gì đó lớn lao hơn không?

Có lẽ các bạn sẽ thưa: “có, thưa cha, con được các lý tưởng đó lôi cuốn mạnh mẽ. Con cảm nhận được lời mời gọi của chúng, vẻ đẹp của chúng, ánh sáng rạng rỡ của chúng trong trái tim con. Nhưng con thấy mình yếu đuối quá, con chưa sẵn sàng quyết định đi theo con đường hy vọng. Mục tiêu thì cao cả đấy nhưng sức con thì yếu quá đi. Tốt nhất là bằng lòng với những điều nhỏ mọn, không cao cả gì nhưng thực tiễn hơn, trong vòng với hơn”. Tôi có thể hiểu được phản ứng này; cảm thấy bị trĩu nặng bởi khó khăn và các điều quá đòi hỏi là chuyện thông thường thôi. Nhưng các bạn hãy ý tứ đừng để mình bị cám dỗ mà nhụt chí là thứ làm tê liệt lý trí và ý chí ta, hay lãnh cảm là hình thức bi quan triệt để trước tương lai. Các thái độ này kết thúc ở chỗ một là trốn chạy khỏi thực tế mà sa vào ảo tưởng vô ích, hai là ích kỷ tự cô lập hóa và hoài nghi bịt tai trước tiếng kêu than đòi công lý, sự thật và tình người đang nổi lên giữa ta và trong chính ta.

Nhưng ta phải làm gì? Làm thế nào tìm thấy các nẻo đường hy vọng ngay trong các hoàn cảnh ta đang sống? Làm thế nào biến các niềm hy vọng thành toàn, chân thực, công lý và chân lý trở thành một thực tại trong cuộc sống bản thân của ta, trong đất nước ta và trong thế giới ta? Tôi nghĩ: có ba ý tưởng có thể giúp duy trì niềm hy vọng của ta luôn sống động:

Hy vọng là một con đường gồm cả ký ức lẫn biện phân. Hy vọng là nhân đức để đi khắp nơi. Nó không đơn thuần là nẻo đường ta theo vì thích nó, nhưng nó có một cùng đích, một mục tiêu rất thực tế và soi dẫn đường ta đi. Hy vọng cũng được nuôi dưỡng bằng ký ức; nó không chỉ nhìn tương lai mà còn nhìn cả dĩ vãng và hiện tại nữa. Để luôn tiến tới trong đời, ngoài việc biết mình muốn đi đâu, ta cũng cần biết ta là ai và ta từ đâu đến. Các cá nhân hay các dân tộc nào không có ký ức và xóa bỏ dĩ vãng của mình đều liều mình đánh mất bản sắc và tiêu diệt tương lai của mình. Thành thử ta cần nhớ ta là ai, và di sản thiêng liêng và luân lý của ta bao gồm những gì. Tôi tin rằng điều này chính là kinh nghiệm và cái nhìn thông sáng của Cha Félix Varela, người Cuba vĩ đại. Biện phân cũng cần thiết, vì điều chủ yếu là cởi mở đối với thực tại và biết giải thích thực tại này mà không sợ thiên kiến. Các giải thích phiến diện và có tính ý thức hệ là điều vô ích; chúng chỉ làm méo mó thực tại bằng cách cố gắng nhét nó vào những khuôn khổ tiên kiến, chỉ tổ gây thất vọng và tuyệt vọng. Ta cần biện phân và ký ức, vì biện phân không mù quáng; nó được xây dựng trên các tiêu chuẩn đạo đức và luân lý vững chắc, giúp ta nhìn thấy điều thiện và điều chính đáng.

Hy vọng là con đường ta cùng người khác tiếp nhận. Một tục ngữ Phi Châu nói rằng: “Muốn đi nhanh, thì đi một mình; muốn đi xa, thì đi với người khác”. Cô lập và sống xa cách không bao giờ phát sinh được hy vọng; nhưng gần gũi và gặp gỡ người khác thì có. Để một mình, ta sẽ không đi tới đâu cả. Mà với loại trừ, ta cũng không thể xây dựng tương lai cho ai được, cho cả ta cũng không. Đường hy vọng đòi phải có nền văn hóa gặp gỡ, đối thoại, một nền văn hóa vốn có khả năng thắng vượt tranh chấp và kình chống khô cằn. Muốn tạo ra nền văn hóa này, điều sinh tử là coi các phương thức suy nghĩ khác nhau không hẳn là nguy cơ mà là phong phú và phát triển. Thế giới cần nền văn hóa gặp gỡ này. Nó cần những người trẻ biết tìm cách biết nhau và yêu nhau, cùng nhau đồng hành trong việc xây dựng xứ sở, một cuộc hành trình mà José Martí từng mơ ước: “với mọi người, và vì lợi ích mọi người”.

Hy vọng là con đường liên đới. Nền văn hóa gặp gỡ tự nhiên sẽ dẫn ta tới nền văn hóa liên đới. Tôi rất thán phục trước điều Leonardo nói lúc đầu, khi bạn ấy đề cập tới tình liên đới, coi nó như nguồn tạo sức mạnh để lướt thắng mọi trở ngại. Không có liên đới, không nước nào có tương lai cả. Vượt lên trên các tính toán và tư lợi khác, ta không những phải quan tâm tới những người có thể là bằng hữu ta, người đồng hành với ta, mà cả những ai suy nghĩ khác với ta, những ai có ý nghĩ riêng nhưng không kém nhân bản và có tính Cuba như ta. Khoan dung không thôi chưa đủ; ta còn phải đi xa hơn thế, từ thái độ nghi ngờ và phòng ngự phải tiến qua thái độ chấp nhận, hợp tác, phục vụ cụ thể và giúp đỡ hữu hiệu. Đừng sợ liên đới, phục vụ và giúp một tay, để không ai bị loại trừ khỏi con đường này.

Con đường sống trên đươc soi sáng bởi một niềm hy vọng cao hơn: đó là niềm hy vọng phát sinh từ đức tin vào Chúa Kitô. Ngưòi tự làm Người trở thành người đồng hành với ta. Không những Người khuyến khích ta, Người còn đồng hành với ta nữa; Người ở bên cạnh ta và giơ bàn tay thân hữu của Người cho ta. Là Con Thiên Chúa, Người muốn trở thành một người như ta, đồng hành với ta trên đường. Niềm tin vào sự hiện diện của Người, vào tình bạn và tình yêu của Người làm sáng lên mọi hy vọng và mọi giấc mơ của ta. Với người cạnh bên, ta học được cách biện phân điều có thực, gặp gỡ và phục vụ người khác, và bước theo con đường liên đới.

Các bạn trẻ Cuba thân mến, nếu chính Thiên Chúa đã bước vào lịch sử ta và trở thành nhục thể nơi Chúa Giêsu, nếu Người đỡ lấy các yếu đuối và tội lỗi của ta, thì các bạn không nên sợ hy vọng, hay tương lai, vì Thiên Chúa ở cạnh bên ta. Người tin tưởng các bạn và Người hy vọng nơi các bạn.

Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn các bạn vì cuộc gặp gỡ này. Xin niềm hy vọng nơi Chúa Kitô, người bạn của các bạn, luôn hướng dẫn các bạn trên đường đời của các bạn. Và xin các bạn nhớ cầu nguyện cho tôi. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả các bạn.

Người dân còn phải chịu ngập đến bao giờ?

Người dân còn phải chịu ngập đến bao giờ?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-22

• RFA

Người dân Sài Gòn chịu thảm cảnh này đến bao giờ. Đường phố Saigòn ngày 15 tháng 9, 2015

Người dân Sài Gòn chịu thảm cảnh này đến bao giờ. Đường phố Saigòn ngày 15 tháng 9, 2015                                                                                                                     Báo Dân Việt

“ Nếu thống kê thì tại Việt Nam có khoảng ba mươi mấy thành phố bị ngập. Kể cả những vùng thấp ở Đồng bằng Sông Cửu Long như Cần Thơ, Vĩnh Long.. ngập thì không nói gì mà cả vùng cao cũng ngập như Dak Lak, Đà Lạt…Rồi gần đây Sơn La cũng ngập, các tỉnh ven biển cũng ngập

ông Hồ Long Phi”

Khi các cơn mưa lớn kéo dài thì đường phố Hà Nội biến thành “sông”

Khi các cơn mưa lớn kéo dài thì đường phố Hà Nội biến thành “sông” (Người đưa tin)

Qui hoạch của mình không có tầm nhìn xa mà cần phải 50-100 năm. Ở nước ngoài như London, họ xây dựng một hệ thống ngầm bên dưới rất ‘kinh khủng’, con người có thể đi dưới đó và như một ‘mê cung’ bên dưới. Như thế mới thoát được nước. Còn của mình không được như thế

Tiến sĩ Lương Văn Thanh

Blogger Tạ Phong Tần: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế

Blogger Tạ Phong Tần: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế

Cộng đồng người Việt trong đó có blogger Điếu Cày ra đón blogger Tạ Phong Tần tại sân bay Los Angeles.

Cộng đồng người Việt trong đó có blogger Điếu Cày ra đón blogger Tạ Phong Tần tại sân bay Los Angeles.

VOA Tiếng Việt

22.09.2015

Nhà bất đồng chính kiến mới được tự do cho biết rằng bà cùng blogger Điếu Cày sẽ đưa Việt Nam ra tòa quốc tế vì đã tống giam bà và ông Điếu Cày trái pháp luật.

Tuyên bố được đưa ra hôm 21/9, hai ngày sau khi bà Tần được Việt Nam phóng thích và lặng lẽ cho đi Mỹ. Nữ blogger này nói với VOA Việt Ngữ:

“Tôi làm còn hoành tráng hơn anh Điếu Cày ấy chứ vì anh Điếu Cày khi sang Mỹ là bị cướp hết các giấy tờ như bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các thứ khác. Anh Điếu Cày còn thiếu hồ sơ để khởi kiện nhưng mà tôi mang đi được đầy đủ hết. Vụ kiện của tôi còn hoành tráng hơn vì tất cả các bài viết của tôi đã đăng công khai với tên Tạ Phong Tần trên mạng Internet. Khi bọn họ đưa những thứ đó ra trước tòa để buộc tội tôi, nhưng họ không dám tranh luận với tôi là cụ thể tôi sai ở chỗ nào. Khi tôi yêu cầu được đối chất với các điều tra viên giám định tài liệu đó thì cũng không được đáp ứng. Đó là việc vi phạm luật pháp Việt Nam một cách hết sức trầm trọng, chưa nói tới việc vi phạm luật pháp quốc tế. Ngay cả căn cứ theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tôi không phạm tội.”

“ Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được…

Blogger Tạ Phong Tần nói.”

Bà Tần, chủ trang blog Công lý và Sự thật, bị bắt vào ngày 5/9/2011 và bị kết án tù 10 năm vào năm 2012 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Bà cũng là một trong những thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do cùng với blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) năm 2007.

Những năm qua, nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như các nước phương Tây đã kêu gọi Hà Nội trả tự do cho blogger từng làm trong ngành công an của Việt Nam.

Bà Tần kể với VOA Việt Ngữ về quyết định đi Mỹ:

“Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được. Tôi đã bỏ phí mất hơn 4 năm ngồi trong tù, và tôi cảm thấy thời gian rất là phí phạm. Khi tình hình xã hội Việt Nam có sự thay đổi, thì tôi cũng sẽ quay lại Việt Nam để giúp đỡ những người dân trong nước.”

“ Tôi làm còn hoành tráng hơn anh Điếu Cày ấy chứ vì anh Điếu Cày khi sang Mỹ là bị cướp hết các giấy tờ như bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các thứ khác. Anh Điếu Cày còn thiếu hồ sơ để khởi kiện nhưng mà tôi mang đi được đầy đủ hết. Vụ kiện của tôi còn hoành tráng hơn vì tất cả các bài viết của tôi đã đăng công khai với tên Tạ Phong Tần trên mạng Internet…

Blogger Tạ Phong Tần cho biết.”

Cuối năm ngoái, ít lâu sau khi đặt chân tới Mỹ, blogger Điếu Cày cũng tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do, và bày tỏ tự tin rằng ông sẽ “thắng kiện”.

Nhà bất đồng chính kiến này từng nói:

“Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó từ một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế. Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.”

Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc cho rằng Hà Nội bóp nghẹt tiếng nói của người dân cũng như bắt giữ những người bất đồng chính kiến.

Tuy nhiên, mới đây, hôm 14/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng Việt Nam “không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung, muốn bắt ai thì bắt”.

Người đứng đầu cơ quan lập pháp của Việt Nam cũng đề nghị phải làm rõ tội danh chống phá nhà nước nhằm “đảm bảo công bằng, đảm bảo quyền con người và quyền của công dân”.

Bị công an ép nhận tội, dù không giết người

Bị công an ép nhận tội, dù không giết người
Nguoi-viet.com

SÓC TRĂNG (NV) – Ông Trần Hol, 29 tuổi và ông Thạch Sô Phách, 26 tuổi vừa giải thích tại sao họ thú nhận đã giết ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi.

Ông Trần Hol (trái) và ông Thạch Sô Phách (phải). (Hình: VietNamNet)

Hồi đầu tháng 7 năm 2013, ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi, một người chạy xe ôm, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị giết với 7 nhát dao. Chiếc xe, điện thoại di động và ví của nạn nhân vẫn còn tại hiện trường.

Đến trong tuần tháng 7 năm 2013, công an Sóc Trăng xác định vụ án mạng này là do hiềm khích cá nhân và bắt khẩn cấp ông Trần Hol vì ông Hol từng có xung đột với nạn nhân. Sau đó công an lần lượt bắt giữ thêm năm người khác là bạn bè của ông Hol gồm: Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc.

Tất cả thú nhận đã cùng nhau giết ông Dũng. Công an còn bắt thêm một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Bé Diễm, tiếp viên của một quán nhậu tại thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, với lý do “không tố giác tội phạm.”

Theo kết luận điều tra của công an tỉnh Sóc Trăng và cáo trạng của Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng thì Thạch Sô Phách thú nhận đã cùng các bạn của mình là: Hol, Đỡ, Cua, Sóc, Mươl đánh và đâm ông Dũng. Riêng cô Nguyễn Thị Bé Diễm thì “thừa nhận” có nghe và biết về “âm mưu” của nhóm thanh niên này.

Sau khi hoàn tất “kết luận điều tra,” các điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” được thượng cấp khen thưởng. Họ đã nhận quyết định khen thưởng và chờ nhận hiện kim là tiền thưởng do “thành tích phá án nhanh.”

Đúng lúc đó thì có một cô gái tên là Lê Thị Mỹ Duyên, ngụ tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, đến công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Sài Gòn, đầu thú vì là đồng phạm trong vụ án giết ông Dũng. Cô Duyên cho biết, cô đã cùng cô Nguyễn Kim Xuyến, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, giết ông Lý Văn Dũng để cướp tài sản nhưng vụ cướp bất thành. Sau đó cả hai rời Sóc Trăng lên Sài Gòn. Tại Sài Gòn, cô Xuyến có quan hệ tình cảm với người khác. Cô Duyên quyết định ra đầu thú để cả hai có thể ở bên nhau đến trọn đời trong… tù.

Công an Sài Gòn không phải là công an Sóc Trăng nên hệ thống tư pháp đã kiểm tra toàn bộ lời khai của cô Duyên và nhận thấy những lời khai này trùng khớp hoàn toàn với các tình tiết của vụ án. Cũng vì vậy, tháng 2 năm 2014, Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng phải ký, công bố quyết định đình chỉ điều tra đối với 7 người mà chính họ phê chuẩn lệnh bắt.

Cáo trạng do cơ quan điều tra của Viện Kiểm Soát Tối cao lập và vừa công bố cho biết, sở dĩ bảy thanh niên không “giết người,” không “che giấu tội phạm” nhưng vẫn “nhận tội” vì đã bị tra tấn.

Ông Thạch Sô Phách giải thích lý do ông “thú nhận” đã cùng các bạn mình “giết người” là vì điều tra viên Triệu Tuấn Hưng treo lên cửa sổ bằng còng số 8, chỉ còn để các đầu ngón chân chạm đất, rồi dùng tay, đầu gối, đánh liên tục vào bụng. Triệu Tuấn Hưng còn dùng khăn lau bàn bọc nước đá buộc vào hạ bộ của ông Phách…

Ông Trần Hol cũng bị tra tấn như ông Phách nhưng ông Hol dứt khoát không chịu nhận tội theo ý các điều tra viên. Cuối cùng, ông Hol đầu hàng vì điều tra viên Nguyễn Hoàng Quân đánh vào cổ. Lối tra tấn này khiến nạn nhân kiệt sức vì không thể ăn, uống và không nhận tội thì sẽ chết do kiệt sức.

Theo dự kiến thì ngày 24 tháng này, tòa án tỉnh Sóc Trăng sẽ đưa hai điều tra viên: Nguyễn Hoàng Quân, Triệu Tuấn Hưng ra xử vì “dùng nhục hình” và kiểm soát viên Phạm Văn Núi ra xử vì “thiếu trách nhiệm.”

Tuy nhiên cả bảy thanh niên bị bắt oan, truy tố oan cùng khẳng định, ngoài Quân và Hưng còn hàng chục điều tra viên khác tham gia tra tấn, ép họ nhận tội. Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng.

Ông Hol cho biết, trước khi bị giải về công an tỉnh Sóc Trăng, ông đã bị hàng chục sĩ quan của công an huyện Trần Đề đánh đập trong phòng tạm giam.

Ông Trần Văn Đở – một trong bảy người từng phải “cúi đầu nhận tội” tố cáo, ông nhớ có một điều tra viên tên Huy của công an huyện Trần Đề tham gia tra tấn ông và tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng, có cả ông Nguyễn Hoàng Phú – phó phòng cảnh sát điều tra (PC 45) của công an tỉnh Sóc Trăng, tham gia tra tấn ông.

“Ban Chuyên án” được khen thưởng vì thành tích “phá án nhanh” trong vụ ông Lý Văn Dũng bị giết có ông ông Nguyễn Việt Thanh, trưởng phòng PC45 làm trưởng ban. Các ông Nguyễn Hoàng Phú, Phan Văn Lắm – cùng là phó phòng PC45 và ông Hồ Văn Nhiều – phó công an huyện Trần Đề làm phó ban. Chưa kể hàng chục điều tra viên khác là thành viên.

Chỉ có hai điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” này bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Những thành viên khác trong “Ban Chuyên Án,” từ trưởng ban trở xuống chỉ phải kiểm điểm và bị cảnh cáo hay khiển trách.

Ông Hol – một trong bảy nạn nhân bảo với tờ VietNamNet rằng, “Ban Chuyên Án” đã làm gia đình ông tan nát, bạn bè không nhìn mặt nhau. Đó là một ác mộng và ông mong nó qua mau. (G.Đ)

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Mai Tú Ân

Tù Nhân Lương Tâm Tạ Phong Tần, một chiến sĩ đấu tranh dân chủ bị kết án tù 10 năm đã bất ngờ được chính quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn 5 năm, và được đưa thẳng lên máy bay bay qua Mỹ. Chị hoàn toàn không được hưởng một giây phút tự do nào trên quê hương Việt Nam mà chị đã dấn thân và phải trả giá bằng nhiều năm tù đằng đẵng. Chị cũng không có được phút giây viếng mộ mẹ già, không được đốt cây nhang kính viếng đến người mẹ đã tự thiêu một năm sau ngày chị bị bắt giữ bất công.

Hoàn toàn giống với TS Cù Huy Hà Vũ và Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trước đó, cũng bị lực lượng AN áp tải thẳng từ nhà tù tới phi trường để bay sang Mỹ. Thậm chí anh Điếu Cày vẫn không kịp thay đôi dép nhựa…

Đó là sự đổi chác, hay là sự biến tấu của những cuộc “đầy ải” biệt xứ thì chúng ta không biết, mà chỉ biết chắc rằng, đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Mỹ. Và những màn “xuất ngoại” vừa vội vàng vừa lỗi thời và không giống ai của những tù nhân lương tâm nổi tiếng đó chỉ là thực hiện thoả thuận bí mật trên mà thôi.
Có lẽ chính quyền Mỹ, qua sự đấu tranh của đồng bào hải ngoại, của các tổ chức quốc tế và qua truyền thống nhân đạo của mình (như vụ HO chẳng hạn) đã lại đưa bàn tay nhân ái ra để giúp cho những người tù nhân lương tâm đang bị đày ải bất công trong các nhà tù CS. Tất nhiên là người Mỹ cũng đấu tranh để đòi “tự do vô điều kiện” cho các TNLT nhưng có lẽ họ đã làm hết sức có thể và kết quả chỉ là thế. Và nếu có điều gì để nói thì chúng ta chỉ nên nói lời cám ơn chân thành.

Và giờ đây người phụ nữ can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta đã đến với nước Mỹ của tự do, của đồng bào ruột thịt chung đường với cô giống như cá về với nước, như con cháu về với gia đình…

Nhưng, chúng ta hãy trở về với thực tế. Thế giới tự do hoá ra lại không hẳn là nơi hoạt động đắc địa cho các chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Những con người tốt nhất của phong trào đấu tranh trong nước (họ xứng đáng được gọi như thế bởi sự dấn thân, sự trả giá cho những lý tưởng của mình) thì khi qua nước ngoài thì dường như đều bị “ngợp” bởi sự công kích bất công, sự bới lông tìm vết, sự thù nghịch vô lý của một số thành phần, mà buồn thay lại là những người cùng chung chiến tuyến. Những người nổi tiếng như nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên trước đây, và Ts Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày vừa qua, người nhiều người ít nhưng đều là những người mà ở trong nước chúng tôi rất trân trọng, yêu mến nhưng họ đều vất vả, khổ sở khi phải đối phó, chống đỡ, thanh minh trước bao nhiêu búa rìu khi xuất ngoại…

Vẫn biết rằng quyền cá nhân phản biện là quyền dân chủ đương nhiên ở đất nước dân chủ, vẫn biết rằng số người công kích họ không phải là nhiều trong cộng đồng hải ngoại vốn công bằng, nhân hậu nhưng đó là những thành phần mạnh miệng, nhân danh đủ thứ và mạt sát đủ thứ khiến cho những chiến sĩ ấy của chúng tôi tổn thương, hoặc lạc lõng và ít nhiều đều giảm sức đấu tranh.

Tất cả hầu như đều bị chụp cho cái mũ ngớ ngẩn là CS, hay CS sang nằm vùng. Và không biết có phải ngẫu nhiên không khi hầu như tất cả họ đều là người xuất thân từ miền Bắc, hay ít nhiều dính líu đến chế độ CS. Chế độ mà họ đã và đang đấu tranh đến cùng. Đó là những người trí thức có tài, có tâm và có cả dũng nữa để dấn thân, và việc phải ra nước ngoài là việc chẳng đặng đừng. Nói một cách thật lòng thì đa phần những người dấn thân ở trong nước đều chấp nhận trả giá cho việc dấn thân, chứ không mấy ai hoan hỉ với việc “đi Mỹ” này.
Vậy mà giờ này vẫn có những cái tên, những con người “đồng chí hướng” với họ vẫn ra rả công kích bất công và vô lý , vẫn không ngừng bới lông tìm vết, không ngừng đòi hỏi để cuối cùng thì những người đó giống như những kẻ ngồi nhà bắc nồi để chờ ninh xương cọp làm cao hổ cốt, và lại lên tiếng mạt sát những người đã và đang ở trong hang cọp để bắt cọp.
Tất cả những điều đó không hạ gục được ai nhưng nó không chỉ buồn lòng những người ra đi, mà cả những người ở lại.

Mong rằng những điều không đáng có đó không đến với nữ nhi can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta…

M.T.A

Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc

Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc

VOA
Trà Mi
20-9-2015
Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc. Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.

Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.
Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.

Hôn nhân đổi chác giữa các cô gái Việt với đàn ông nước ngoài không phải là hiếm, nhưng câu chuyện gửi tới các bạn hôm nay sẽ phơi bày sự thật đau lòng về thảm trạng buôn người mà nạn nhân là các bé gái ở những vùng biên giới của Việt Nam đang hàng ngày bị bắt cóc bán cho những người đàn ông nông thôn ở Trung Quốc mua về làm vợ.

Đó là nghịch cảnh của 3 chị em Lý Thị Sua, Lý Thị Minh, và Lý Thị Sinh cùng bị bắt cóc và bị bán sang Trung Quốc vào năm 2011 lúc Sua mới lên 13, Minh tròn 14, và Sinh bước vào tuổi 20. Hai người em là Sua và Minh đã tìm cách thoát về Việt Nam, còn cô chị hiện chưa biết tung tích ở đâu, sống chết thế nào.

Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với Minh, cô gái dân tộc Hmong không nói được tiếng Kinh, bị gián đoạn rất nhiều lần vì nỗi sợ hãi, lo lắng, và những chấn động tâm lý chưa nguôi ngoai sau khi cô vượt thoát người chồng Trung Quốc trở về Việt Nam với gia đình ở xóm Khuổi Vin, xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng) hôm 22/7 vừa qua.

Minh vẫn còn nhớ như in cái ngày định mệnh đã rẽ ngoặc cuộc đời cô, thay đổi tương lai của cô bé tuổi cài trâm bị bán, bị ép làm vợ một người đàn ông quê mùa, ít học ở xứ lạ quê người. Không có ngày ấy thì giờ đây Minh lẽ ra đang là một thiếu nữ bước vào tuổi 18 đầy hoa mộng và hứa hẹn. Nhưng sau 4 năm bị bán sang Trung Quốc, Minh giờ đây là một bà mẹ trẻ đã bỏ lại đứa con thơ chưa dứt sữa để chạy trốn khỏi người chồng Trung Quốc.

Cô dâu 14 tuổi

Chuyện xảy ra ngày 28 tháng 4 năm 2011, khi chị em Minh được 3 thanh niên mới quen, trạc ngoài đôi mươi, người dân tộc Nùng, rủ đi lễ hội ở chợ Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Trong số này có một người tên là Lò Văn Hiền, trú ở xã Đức Hạnh, cùng huyện Bảo Lâm với 3 nạn nhân. Sau khi mời các cô ăn uống dọc đường, thay vì đi Hà Giang như hứa hẹn, nhóm thanh niên đã chở thẳng 3 chị em qua Trung Quốc sang tay cho một đường dây buôn người chuyên săn tìm các cô gái Việt bán cho những người đàn ông Trung Quốc không đủ khả năng lấy vợ bản xứ.

Qua lời thông dịch của anh trai, cô Minh thuật lại:

“Sau khi Hiền cùng đồng bọn đưa 3 chị em chúng tôi tới đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc, họ cho chúng tôi xuống xe và tát chúng tôi mỗi người một cái. Lúc đó, chúng tôi mới tỉnh vì trước đó họ có cho chúng tôi uống nước và có thể có chứa chất gây kích thích tâm lý. Họ đòi điện thoại của chúng tôi. Hiền và đồng bọn đã đánh 3 chị em tôi, đưa dao kề cổ khống chế và dọa giết nếu chúng tôi bỏ chạy. Sau đó, họ đưa chúng tôi vào nhà một người Hmong ở Trung Quốc cách đường biên giới Việt Nam khoảng 7 giờ đồng hồ. Trong nhà này có một người đàn ông khoảng 45-50 tuổi chuyên mua bán phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc. Họ cho người canh gác 3 chị em tôi rất nghiêm ngặt. Sáng hôm sau, họ bán chị Sinh và Sua đi trước. Hiền và đồng bọn thì về Việt Nam. Khi tôi van xin được nhìn 2 chị em của tôi lần cuối thì ông chủ nhà đưa cho xem một khẩu súng ngắn và nói ‘Chúng tao sẽ dùng khẩu súng này đi đón 2 chị mày.’ Một ngày sau, có một cặp vợ chồng tới đón tôi chở thẳng tới tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc. Vợ là người Hmong Việt Nam.”

Minh không rõ tên của người đàn ông Trung Quốc tới đón cô đi bán, nhưng người đàn bà Hmong Việt Nam đi cùng, theo cô được biết, tên là Thào Thị Tráng, một tay buôn người chuyên nghiệp thường xuyên cung cấp gái cho những người Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam. Minh nói lúc đó cô đã nhìn thấy bà Tráng bán 3 cô gái Việt khác, trong đó có một người tên là Mị từ huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Việt Nam.

Tới Sơn Tây, bà Tráng đưa hình 3 người đàn ông Trung Quốc cho Minh xem và bảo cô phải lấy một trong ba người này làm chồng, nếu không, sẽ bị mang đi bán xa hơn nữa. Không thể chống cự, cuối cùng Minh phải nhận lời làm vợ một người trong ảnh tên là Pay Long Phe, lớn hơn cô 20 tuổi.

Sau cuộc ngã giá, Minh bị bán cho ông Pay, một thợ hồ ngụ tại số 18 đường Bắc, thôn Hà Khẩu, xã Cao Hồng Khẩu, huyện Ngũ Đài. Đây là một vùng quê nghèo, hẻo lánh thuộc tỉnh Sơn Tây có đa phần dân cư là thành phần lao động chân tay, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày.

Mẹ và em trai ông Pay, qua điện đàm với chúng tôi, dường như hơi bất thường, nói năng không được minh mẫn và mạch lạc. Sau rất nhiều cuộc gọi, khó khăn lắm chúng tôi mới gặp được ông Pay.

Người đàn ông này thừa nhận đã mua cô Minh với giá trên 60.000 nhân dân tệ, khoảng 130 triệu đồng Việt Nam, nhưng ông từ chối tiết lộ bất kỳ thông tin nào về kẻ môi giới. Ông nói ông không biết gì về người này và chưa từng gặp mặt trực tiếp. Ông Pay Long Phe kể:
“Một trong những bà con trong gia đình tôi giới thiệu tôi với người môi giới này vì anh ấy cũng lấy vợ Việt Nam thông qua đường môi giới này.”

Khi được hỏi cuộc mua bán diễn ra thế nào, ông Pay nói tới giờ hẹn, một người nào đó không phải là chủ môi giới đã thả cô Minh vào làng rồi gọi ông ra nhận. Chúng tôi thắc mắc vì sao ông không lấy vợ bản xứ mà đi mua vợ từ Việt Nam, người thợ hồ Trung Quốc không ngần ngại giải thích:

“Tôi nghe nói vợ Việt Nam rất dễ dạy, ngoan hiền, lại siêng năng làm lụng.”
Về số tiền khá lớn ông đã bỏ ra, ông Pay nói đó là giá trung bình phải chi để cưới vợ ở đây, nhưng cưới vợ Trung Quốc còn tốn hơn nhiều vì những đòi hỏi về tiền bạc, nhà cửa, và sính lễ vượt quá khả năng giới lao động như ông.

Kế hoạch vượt thoát

Minh cho biết sau khi bị ông Pay mua về, cô dâu bất đắc dĩ phải chung sống với gia đình chồng gồm 8 người. Hằng ngày cô phải đi làm mướn phụ tiền chi tiêu, nhưng bị gia đình chồng canh chừng rất nghiêm ngặt, tới điện thoại cô cũng không được dùng.
Ở tuổi 14, Minh đã phải chịu đựng biết bao tủi khổ trong cuộc hôn nhân cưỡng ép hơn 4 năm trời mà không một lần dám bỏ trốn vì cô được nghe kể có một trường hợp tương tự sau 2 lần vượt thoát bất thành bị bắt lại, bị đánh đập rất dã man. Minh chia sẻ:
“Mỗi lúc cãi nhau, ông chồng đều nhắc tới chuyện mua tôi và nói rằng nếu không nghe lời thì sẽ mang bán tôi đi một nơi thật xa nữa.”

Bản thân không rành ngôn ngữ bản địa, lại bị đưa đi quá xa, có tìm đường chạy về thì chắc gì đã thành công mà rủi bị bắt lại thì khó sống. Nghĩ vậy nên Minh đành khoanh tay chấp nhận số phận.

Mãi đến tháng 3 năm nay, lần đầu tiên Minh nhờ được một phụ nữ Hmong từ Hà Giang sang Sơn Tây làm vợ người Trung Quốc giúp thông tin với cha mẹ ruột ở Việt Nam. Từ ngày nối liên lạc được với gia đình, Minh nung nấu quyết tâm trở về.

Biết ý muốn của ông Pay bỏ tiền mua vợ chủ yếu kiếm một đứa con, Minh nghĩ chỉ có cách sinh con mới có thể được gia đình chồng tin yêu và có thể thuyết phục họ cho cô về Việt Nam thăm gia đình. Vì vậy, Minh đã cố gắng ‘ngoan ngoãn’ và sinh cho ông Pay một đứa con.
Kế hoạch của cô diễn ra suôn sẻ khi ông Pay cho phép cô lần đầu tiên sau hơn 4 năm ở với ông được về thăm cha mẹ hôm 22/7 vừa qua, lúc con của Minh vừa tròn 18 tháng. Ông đưa Minh tới cửa khẩu Săm Pun, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, và nhờ một phụ nữ buôn bán tại đây dắt qua biên giới, nơi cô đã điện thoại hẹn gia đình đến đón. Minh thuật lại:

“Lúc sắp về, gia đình chồng bàn bạc rất kỹ, nhưng tôi không biết họ nói với nhau cái gì. Lúc tới biên giới, ông chồng dặn về 3 ngày phải quay lại ngay vì đã có một đứa con rồi.”
Nhưng vừa bước chân qua biên giới Việt Nam, Minh đã quyết định không bao giờ trở lại Trung Quốc nữa. Ngay hôm sau, cô đã gọi điện báo cho ông Pay và lập tức thay đổi số điện thoại liên lạc.

Minh nói dứt áo ra đi khi con thơ hãy còn khát sữa là một quyết định hết sức đau lòng và đầy uẩn khúc, nhưng người mẹ trẻ cương quyết thà bỏ con chứ không thể trở lại kiếp sống ‘nô lệ mới’:

“Tôi có nhớ tới đứa con của tôi, nhưng nghĩ lại thấy họ mua bán tôi như một món đồ chơi và một thứ vật nuôi, tôi thấy rất buồn. Nỗi nhớ con tới đâu thì thời gian rồi sẽ quên đi, không đau bằng họ bán tôi như vật nuôi và đánh đập tôi lúc tôi bị họ bắt cóc. Nghĩ tới đó tôi thấy rất cay, rất buồn. Nỗi nhớ con rồi sẽ qua nhưng nỗi đau về thể xác và tinh thần lúc tôi hãy còn là một đứa trẻ con sẽ không qua được, nên tôi quyết định không về nữa.”
Quyết định của Minh khiến người chồng Trung Quốc hết sức bàng hoàng. Ông nói những cô gái được mua về làm vợ như Minh trong làng của ông, có người đã ở đây hơn chục năm nay mà không hề bỏ chạy. Ông Pay trần tình:

“Tôi chỉ muốn cô ấy quay về, đứa con tội nghiệp còn quá nhỏ, nhưng tôi không liên lạc được với cô ấy nữa. Nếu cô ấy quay lại, tôi sẽ cho cô ấy đi đi về về thăm gia đình.”
Tố cáo buôn người và hồi đáp của chính quyền

Vừa về được Việt Nam, Minh đã lập tức trình báo công an huyện Bảo Lâm và gửi đơn tố cáo lên công an tỉnh Cao Bằng về vụ bắt cóc phụ nữ-trẻ em bán sang Trung Quốc mà 3 chị em cô là những nạn nhân trực tiếp.

Người anh cả trong gia đình Minh, anh Lý Thành Lương, cho biết:
“Họ bảo ‘Về được thì tốt rồi,’ chỉ như vậy thôi. Lúc 3 chị em vừa mới mất tích, gia đình đi tìm khắp nơi và lên trình báo công an huyện Bảo Lâm nhiều lần và xin giấy thông hành qua Trung Quốc tìm kiếm, nhưng công an huyện nói không đủ thẩm quyền làm việc này và chỉ lên đồn biên phòng làm. Tới đồn biên phòng, họ bảo không phải thẩm quyền họ làm, mà của công an. Trở lại công an huyện, họ chỉ lên công an tỉnh Cao Bằng. Không có giấy phép đi, gia đình chúng tôi, tôi đây, trực tiếp liều mạng đi tìm ở khu vực giáp biên giới 1, 2 lần nhưng không thấy. Vì mình không có người thân, không biết liên lạc ở đâu nữa, cho nên bó tay. Chỉ biết nhờ vào công an thôi mà họ cũng không giúp được.”

Anh Lương kể hôm 5/4 sau khi nối được liên lạc với Minh, gia đình anh đã gặp trực tiếp ông Lý Hữu Cư , Đội trưởng Đội Phòng chống Tệ nạn Xã hội của Công an huyện Bảo Lâm, nhưng ông Cư nói công an không giúp được và bảo rằng “Biết được còn sống là mừng lắm rồi.”
Trong ba chị em bị bắt cóc bán sang Trung Quốc vào năm 2011, cô Lý Thị Sua là người đầu tiên may mắn chạy thoát về Việt Nam và đã nhiều lần làm đơn tố cáo gửi công an tỉnh, huyện xin can thiệp giải cứu hai chị em còn lại, nhưng cũng không được hồi đáp. Có lần cô nhận diện được kẻ bắt cóc và báo công an, nhưng Lô Văn Hiền bị câu lưu không lâu lại được thả. Phó trưởng công an huyện, ông Dương Minh Hải, nói với gia đình rằng xác minh Hiền không phạm tội nên phóng thích.

Chúng tôi rất nhiều lần liên lạc với công an huyện Bảo Lâm để ghi nhận ý kiến giới hữu trách, nhưng không lần nào được hồi đáp. Trong nhiều tuần lễ liên tiếp, chúng tôi gọi vào số di động của Phó trưởng công an Dương Minh Hải đều không được bắt máy.

Bộ Công an Việt Nam nói đã phối hợp với công an Trung Quốc tấn công tội phạm buôn người từ Việt Nam sang Trung Quốc, nhưng không cho biết đã giải cứu được bao nhiêu trường hợp.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, đồng sáng lập Liên minh Bài trừ Nô lệ mới ở Á Châu (CAMSA), tổ chức phi vụ lợi hỗ trợ các nạn nhân bị buôn người tại các vùng biên giới Việt Nam trong đó có trường hợp của cô Minh, cho biết CAMSA đã có phương án can thiệp:

“Chúng tôi đang chờ thêm một thời gian ngắn nữa để xem sự hồi đáp của chính quyền Việt Nam tới đâu, lúc đó chúng tôi sẽ khởi động một cuộc vận động chính phủ Hoa Kỳ can thiệp. Chúng tôi thật sự đã báo động Bộ Ngoại giao Mỹ rồi. Đến nay chúng tôi đã can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp cho 11.000 nạn nhân đã được giải cứu mà không hề có một trường hợp nào được chính quyền Việt Nam điều tra , chưa kể tới vấn đề trừng phạt. Nhưng dù sao chúng tôi cũng phải đi qua thủ tục báo động với chính quyền địa phương trước đã. Luật pháp Hoa Kỳ có điều khoản giải cứu cho nạn nhân và chính phủ Mỹ có cơ quan đánh giá từng quốc gia mỗi năm. Chính phủ nào không hợp tác phòng-chống buôn người thì có thể bị đưa vào cấp hạng 3, có thể bị chế tài. Chúng tôi tin rằng với sự can thiệp của Mỹ, chính phủ Việt Nam sẽ có động cơ để tích cực hơn trong vấn đề giải cứu nạn nhân và trừng trị thủ phạm buôn người.”
Báo chí nhà nước nói trong quý đầu năm nay có 70 vụ buôn người bị phát hiện trên cả nước, với 145 nạn nhân. Trong đó, cứ 10 vụ thì có 8 trường hợp bị bán sang Trung Quốc và các tỉnh trọng điểm bao gồm Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An.

Theo thống kê của CAMSA, chỉ riêng trong xã Lý Bôn của chị em cô Minh hiện có trên dưới 20 phụ nữ bị mất tích. Thời gian gần đây cứ 1, 2 tháng lại xảy ra một trường hợp như thế.
Trong khi chưa có giải pháp chống buôn người hiệu quả, những kẻ buôn người chưa biết sẽ phải trả giá như thế nào, nhưng những trường hợp như cô Minh là một kinh nghiệm đau đớn cho các nạn nhân Việt Nam, một bài học cay đắng cho những người đàn ông Trung Quốc mua vợ, và là hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội.

Những đứa trẻ từ các cuộc hôn nhân kiểu ‘nô lệ mới’ như thế, số phận chúng rồi sẽ ra sao? Làm sao có thể chấm dứt những hậu quả đau lòng này? Thật đáng buồn, câu trả lời hãy còn bị bỏ ngõ.

Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong

Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-21

Các nhà đấu tranh Blogger Điếu Cầy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Blogger Tạ Phong Tần

Các nhà đấu tranh Blogger Điếu Cầy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Blogger Tạ Phong Tần
RFA
<
Thêm một tù nhân chính trị tại Việt Nam, cô Tạ Phong Tần, đến Hoa Kỳ do áp lực của chính quyền Mỹ cũng như sự lên tiếng lâu nay về tình hình nhân quyền- dân chủ tại Việt Nam.
Thực tế tiếng nói từ bên ngoài giúp cho phong trào đấu tranh cho quyền con người trong nước đến đâu và vai trò của người dân trong nước thế nào?

Lên tiếng từ bên ngoài

Nhiều người thừa nhận nếu không có sự can thiệp từ phía chính phủ Hoa Kỳ, thì những cựu tù nhân chính trị tại Việt Nam như tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hay blogger Sự Thật & Công Lý Tạ Phong Tần sẽ không được viên chức ngoại giao của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cùng đi theo trên chuyến bay từ Việt Nam sang đến Xứ Cờ Hoa.
Ông Trần Văn Huỳnh, cha của tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức, hiện đang thụ án 16 năm tù tại trại giam ở Xuyên Mộc, Bà Rịa- Vũng Tàu cho biết về sự lên tiếng từ bên ngoài và con ông nằm trong danh sách của những tù nhân chính trị tại Việt Nam được nêu ra:
“ Khi Thức tròn 6 năm ở trong tù, danh sách của Thức được chính thức 36 tổ chức xã hội dân sự, trong đó 20 tổ chức ở nước ngoài và 16 tổ chức trong nước, yêu cầu trả tự do cho Thức.

Thứ hai, trong lần 3 nhà báo thế giới được ông Obama tiếp kiến có Nguyễn Văn Hải- Điếu Cày, danh sách đưa ra có Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, rồi một số người nữa.
Và trong những đối thoại nhân quyền của giới chức Mỹ sang Việt Nam ( cách đây chừng vài tháng- tôi không nhớ rõ), ông Tom Malinowski- trợ lý của ngoại trưởng Kerry, cũng đề nghị đến trường hợp của các tù nhân lương tâm được khuyến nghị trả tự do, trong đó có Thức.”
Vào ngày 21 tháng 9, tham tán Terry White, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội được hãng thông tấn AP trích dẫn phát biểu rằng phía Hoa Kỳ hoan nghênh quyết định của cơ quan chức năng Việt Nam trả tự do cho cô Tạ Phong Tần người quyết định đi Mỹ sau khi ra khỏi tù; tuy nhiên phía Hoa Kỳ vẫn rất quan ngại về trường hợp của những người bị bỏ tù chỉ vì thực thi nhân quyền và các quyền căn bản của họ. Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân này và cho phép tất cả những người Việt Nam được quyền bày tỏ chính kiến của họ mà không sợ bị trừng phạt.

Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch qua phát biểu của ông Phil Robertson, phó giám đốc khu vực Châu Á, cũng lên tiếng kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do ngay cho những nhà hoạt động khác và nếu họ muốn ở lại trong nước thì phải đáp ứng nguyện vọng của họ; đồng thời ngưng can thiệp vào các hoạt động chính trị và ngưng vi quyền của những người đó. Danh sách những tù nhân chính trị mà Human Rights Watch nêu lên với yêu cầu trả tự do ngay cho họ gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ thị Bích Khương, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Trần Vũ Anh Bình, Võ Minh Trí tức nhạc sĩ Việt Khang, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Ngô Hào và nhiều tù nhân chính trị khác nữa.
Ủy ban Bảo Vệ Ký giả từ New York vào ngày 20 tháng 9 cũng ra thông cáo báo chí hoan nghênh việc trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần, đồng thời kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do cho những nhà báo và bloggers khác đang bị cầm tù.

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải)

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải) Ngày 24 tháng 9 năm 2012

Tác động

Nhà hoạt động Trần thị Nga, từ Hà Nam cho biết tác động của sự lên tiếng của người Việt ở nước ngoài, các nước khác và các tổ chức quốc tế đối với phong trào đấu tranh cho quyền con người và dân chủ tại Việt Nam:

“Góp sức của người Việt hải ngoại đối với công cuộc đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam từ vấn đề truyền thông cho đến liên lạc với quốc tế để đưa ra sự thật tình trạng vi phạm nhân quyền do chính phủ Việt Nam đối với người dân Việt Nam… Đây là công sức của người Việt hải ngoại mà tôi hết sức trân quí. Đó là động lực để cho những người trong nước đấu tranh như tôi có niềm tin mình không đấu tranh đơn độc vì mình còn có đồng bào quốc tế, các tổ chức quốc tế nữa.

Thông qua những lần trao đổi với đại sứ quán của các nước, tôi thấy họ cũng rất quan tâm, cũng hổ trợ chúng tôi. Trong ngoại giao với chính quyền Việt Nam họ cũng nêu lên những vi phạm nhân quyền; trong khi Việt Nam là một thành viên của tổ chức nhân quyền thế giới mà vi phạm, chà đạp lên những điều đã ký. Đó là một điều mà chúng tôi thấy rất tốt.”
Thiết yếu của đấu tranh từ trong nước

Theo chị Trần Thị Nga thì dù có những tác động tích cực từ bên ngoài như thế nhưng người dân trong nước phải vượt qua sợ hãi, ý thức được quyền của bản thân để cùng tham gia đòi hỏi:

“Còn công cuộc chính để có hiệu quả, để người dân Việt Nam thực sự được hưởng quyền con người của mình trước hết phụ thuộc vào người dân trong nước dám đứng lên, dám đấu tranh đòi những quyền của mình.

Sự nổ lực giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, cũng như của đồng bào người Việt hải ngoại có tác dụng thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, còn nếu người trong nước mà thờ ơ về việc quyền căn bản của mình bị chính quyền chà đạp thì những sự hổ trợ từ bên ngoài sẽ không có tác dụng mạnh mẽ được.”

Một cựu tù nhân chính trị khác và cũng là một nhà hoạt động tích cực hiện nay, luật sư Nguyễn Văn Đài, cũng có ý kiến về việc tự thân nổ lực trong công cuộc đấu tranh để thay đổi hiện trạng Việt Nam hiện nay:

“ Bất kỳ cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở quốc gia nào cũng vậy thôi, khi mình ở thế yếu luôn phải nhờ đến cộng đồng quốc tế. Trong khi đó chính phủ Hoa Kỳ là chính phủ quan tâm nhất đến tình trạng nhân quyền ở các nơi trên thế giới, chúng ta vẫn phải nhờ họ, vận động, kêu gọi họ ủng hộ cho chúng ta; nhưng chúng ta không đặt tất cả niềm tin hay hy vọng ở họ. Chúng ta muốn thay đổi triệt để đất nước của mình phải là chính nổ lực của mỗi người dân, của mỗi nhà hoạt động nhân quyền, mỗi nhà hoạt động xã hội dân sự tại Việt Nam. Chúng ta phải cố gắng giành quyền của mình, cũng như chúng ta xây dựng các tồ chức xã hội dân sự. Điều đó mới thay đổi được đất nước của mình.”

Tình trạng sách nhiễu, hành hung, bắt bớ và bỏ tù những người công khai lên tiếng đấu tranh cho các quyền căn bản của người dân tại Việt Nam cũng như công cuộc dân chủ hóa đất nước được những người trong cuộc cho biết vẫn diễn ra. Bản thân họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh, mất mát; tuy nhiên họ luôn kêu gọi sự hỗ trợ thông qua việc lên tiếng từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế yêu cầu chính quyền Hà Nội thực thi những điều đã ký kết với thế giới. Ngoài ra những người công khai đấu tranh cũng mong mỏi ngày càng nhiều dân chúng trong nước ý thức được quyền căn bản của con người và cùng lên tiếng đòi hỏi.

Các chiến binh được Mỹ huấn luyện tiến vào Syria

Các chiến binh được Mỹ huấn luyện tiến vào Syria

VOA
Các chiến binh từ 'Trung đoàn thứ nhất' thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Syria tham gia một cuộc huấn luyện quân sự ở vùng nông thôn miền tây Aleppo.

Các chiến binh từ ‘Trung đoàn thứ nhất’ thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng Syria tham gia một cuộc huấn luyện quân sự ở vùng nông thôn miền tây Aleppo.

20.09.2015
Nhiều chiến binh nổi dậy Syria được Mỹ và các đối tác liên quân huấn luyện đã tiến vào miền bắc Syria, theo tin của một nhóm quan sát.
Ðài quan sát Nhân quyền Syria hôm Chủ nhật nói rằng 75 chiến binh được huấn luyện tại Thổ Nhĩ Kỳ đã băng qua biên giới vào Syria sáng sớm thứ Bảy.
Các giới chức của liên quân do Mỹ lãnh đạo chưa bình luận về diễn biến mới này.
Trong khi đó, Pháp tấn xã loan tin rằng phe nổi dậy và các lực lượng chính phủ vừa thỏa thuận ngưng bắn với hiệu lực tức thời.
Không có tin tức về thời hạn của thỏa thuận ngưng bắn, nhưng Ðài quan sát Nhân quyền Syria nói với Pháp tấn xã rằng các bên xung đột sẽ tiếp tục đàm phán cho một thỏa thuận ngừng bắn rộng lớn hơn.
Hôm thứ Bảy, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry nói rằng Tổng thống Syria Bashar al-Assad phải từ chức, nhưng thời điểm để ông ra đi sẽ được quyết định qua thương lượng.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói về cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Syria trong cuộc họp báo với Ngoại trưởng Anh Philip Hammond tại Lonon, ngày 19/9/2015.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói về cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại Syria trong cuộc họp báo với Ngoại trưởng Anh Philip Hammond tại Lonon, ngày 19/9/2015.

Ông Kerry phát biểu như vậy tại London sau khi hội đàm với người tương nhiệm Anh Philip Hammond. Ông kêu gọi cả Nga và Iran dùng ảnh hưởng của họ đối với Syria để thuyết phục ông Assad thương lượng việc từ chức nhằm chấm dứt cuộc nội chiến thảm khốc ở Syria.
Ông Kerry cũng nhấn mạnh đến sự liên hệ của cuộc nội chiến Syria với làn sóng khổng lồ người tị nạn đổ vào Châu Âu. Ông gọi 4 năm nội chiến Syria là “căn nguyên” của cuộc khủng hoảng di dân, và gọi làn sóng di dân khổng lồ là “thách thức chính cho Châu Âu.”
“Chúng tôi cần phải thương lượng với ông Assad,” Ngoại trưởng Kerry nói. “Đó là điều chúng tôi đang tìm cách thực hiện, và chúng tôi hy vọng Nga và Iran hay bất cứ quốc gia nào khác có ảnh hưởng giúp cho tiến trình đó.
“Chúng tôi sẽ bàn về một số ý tưởng…làm thế nào để sử dụng thời điểm này khi Nga hình như muốn hành động nhiều hơn” để chống lại các phần tử chủ chiến Nhà nước Hồi giáo đang tìm cách chiếm quyền kiểm soát Syria.”
Ông Kerry nói: “Đó là mục tiêu.”
Moscow và phương Tây bất đồng sâu sắc về các chiến lược nhằm chấm dứt cuộc nội chiến đã nổ ra vào năm 2011. Các chính phủ Tây phương quả quyết rằng cuộc khủng hoảng sẽ không chấm dứt cho đến khi nào ông Assad tự thôi chức hay bị truất bỏ quyền hành, trong khi Moscow nói rằng mối đe dọa do các phần tử hiếu chiến đề ra cần phải dập tắt trước khi giải quyết tương lai của ông Assad.
Ước tính 250.000 người Syria đã thiệt mạng trong khi tiến trình ngoại giao bế tắt. Hàng trăm ngàn người bị Nhà nước Hồi giáo đe dọa và các binh sĩ chính phủ tháo chạy, tìm đến những nơi an toàn và sung túc hơn ở Châu Âu.

Giới đòi dân chủ ở Thái Lan xuống đường biểu tình

Giới đòi dân chủ ở Thái Lan xuống đường biểu tình

Nguoi-viet.com

BANGKOK, Thái Lan (AP) – Hơn 200 người tranh đấu đòi dân chủ đã bất chấp các đe dọa của hội đồng quân nhân cai trị Thái Lan đã xuống đường để tham dự cuộc biểu tình hiếm thấy tại thủ đô Bangkok, đánh dấu ngày xảy ra cuộc đảo chánh của quân đội lật đổ một chính phủ do dân bầu lên và đưa quốc gia vùng Đông Nam Á này vào gần một thập niên bất ổn chính trị.

Khoảng 200 người đấu tranh đòi dân chủ biểu tình tại thủ đô Bangkok, đánh
dấu ngày xảy ra cuộc đảo chánh của quân đội nước này. (Hình: Christophe
Archambault/AFP/Getty Images)

Các nhà tranh đấu đã tuần hành tới Tượng Đài Dân Chủ, một biểu tượng đã trở thành nơi tập trung của các cuộc biểu tình đòi dân chủ mấy năm trở lại đây.
Người biểu tình mang theo bích chương biểu ngữ chống hội đồng quân nhân và hô khẩu hiệu đòi dân chủ. Lực lượng cảnh sát túc trực đông đảo nhưng không tìm cách phá vỡ cuộc biểu tình.
Cuộc biểu tình khởi sự bằng hội thảo ở đại học Thammasat ở Bangkok, vốn được phép của giới hữu trách, nhưng không cho phép tuần hành bên ngoài khuôn viên đại học.
Người biểu tình, thuộc một nhóm mệnh danh là Phong Trào Tân Dân Chủ, kêu gọi hãy đánh dấu cuộc đảo chánh ngày 19 Tháng Chín năm 2006 lật đổ chế độ của Thủ Tướng Thaksin Shinawatra, với lý do là ông này tham nhũng, lạm quyền và bất kính với nhà vua. Cuộc đảo chánh đưa Thái Lan vào các đợt biểu tình bạo động giữ những người ủng hộ ông Thaksin và thành phần chống ông.
Năm ngoái, quân đội Thái Lan lật đổ chính quyền của bà Yingluck Shinawatra, em gái của ông Thaksin, lấy lý do là phải tái lập trật tự và hòa giải chính trị giữa các phe phái.
Các giới chỉ trích, ở cả trong và ngoài nước, cho rằng hội đồng quân nhân từng do tướng Prayuth Chan-ocha lãnh đạo, người hiện là thủ tướng Thái Lan, không hề có nỗ lực tạo hòa giải mà chỉ chú trọng vào việc đàn áp đối lập, giới hạn các quyền công dân.
Lúc đầu ông Prayuth hứa sẽ nhanh chóng tổ chức bầu cử để tái lập nền dân chủ, nhưng nay ông cho hay phải sớm nhất là năm 2017 mới có bầu cử. (V.Giang)

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Trước kia ở miền Nam, chúng ta chỉ nghe nói duyệt binh, diễn binh mà không nghe nói đến tiếng “diễu binh,” “diễu hành.”

Trong thời đại này, chúng ta phải hiểu “diễu binh” như thế nào? Mới đây nhân cuộc diễu binh ngày 2 Tháng Chín tại Hà Nội, có ký giả cắc cớ hỏi Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng là tổng chỉ huy cuộc diễu binh này, vì sao chúng ta “diễu binh” mà không diễn binh. Sau đây là câu trả lời:

“Duyệt binh là có vũ khí trang bị đi theo, như tên lửa, máy bay, xe tăng, đạn pháo… còn diễu binh chỉ có người diễu hành. Tạm thời, nhà nước đang sử dụng ‘diễu binh’ – tức là chỉ có con người mà không có vũ khí tham gia. Có nhiều nguyên nhân chúng ta tổ chức diễu binh chứ không phải duyệt binh, trong đó có việc tiết kiệm.”

Về mặt mày, thì ông Tuấn này “sáng sủa” hơn cả ông Lê Đức Anh và ông Phùng Quang Thanh nhiều, nhưng lối giải thích của ông này lại quá “tối tăm.”

Cô Phạm Trúc Sơn Quỳnh. (Hình: Facebook Phạm Trúc Sơn Quỳnh)

Như vậy, theo ông này “diễu binh” là chỉ có người, không có vũ khí kèm theo như xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn! Nhưng trong lúc đó, báo chí, truyền hình Việt Nam đều loan tin hai cuộc “diễu binh” lớn của Nga ngày 5 Tháng Chín tại Moscow và của Trung Cộng ngày 3 Tháng Chín ở Bắc Kinh. Trong hai cuộc diễu binh này Nga va Trung Cộng đều phô trương các vũ khí hiện đại như phi cơ, hỏa tiễn tối tân nhất do chính các nước này sản xuất. Như vậy nói vì tiết kiệm mà Việt Nam chỉ có “diễu binh” mà không diễn binh là coi thường người đặt câu hỏi và khinh thường sự hiểu biết của quần chúng.

Trong tình thế này chính phủ CSVN không diễn binh mà chỉ “diễu binh” (không có vũ khí như lời ông Võ Văn Tuấn) chẳng qua là vì, không lẽ trong khi Tàu và Nga đang diễu võ dương oai, biểu dương vũ khí hiện đại do họ sản xuất, thì “bộ đội cụ Hồ” không lẽ đem AK47, B40, B41, pháo 130 ly, hỏa tiễn Sam, Stinger, giàn hỏa tiễn Kachiusa, Mig 15, xe tăng T54 thời “ta đánh là đánh (thuê) cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” ra để hù thiên hạ!

Ông Võ Văn Tuấn cũng chưa phân biệt được “duyệt binh” và diễn hay “diễu binh.”

Sau nghi lễ khai mạc, trước khi cuộc diễn binh hay “diễu binh” bắt đầu, vị nguyên thủ quốc gia lên xe mui trần cùng với chỉ huy của lễ diễn binh, đi “duyệt” hàng quân trong tư thế nghiêm và bắt súng chào. Sau khi vị nguyên thủ quốc gia trở về khán đài, cuộc diễn binh (hay diễu binh) mới bắt đầu và lần lượt các đơn vị tiến qua khán đài, được quan khách trên khán dài danh dự và dân chúng hai bên đường vỗ tay hoan hô.

Điều này chúng ta đã thấy qua các hình ảnh “duyệt binh” của VNCH với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và tại Bắc Kinh Tháng Năm, 2012 với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào.

Khi ký giả hỏi về việc tại sao lại bắn 21 phát đại bác trong ngày Quốc Khánh mùng 2 Tháng Chín mà không phải con số khác, ông Võ Văn Tuấn cho rằng, “Đến bây giờ chưa có ở đâu lý giải được vì sao lại bắn 21 loạt đại bác nhưng có thể liên quan đến ý nghĩa một tuần nhân với 3. Giống như tượng Oscar khi người ta làm ra thì tình cờ giống ông chú tên Oscar của những người làm (!)”

Thật là khó hiểu khi ông tướng này so sánh “khập khễnh” 21 phát đại bác với với chuyện tượng Oscar. Nếu ông chịu khó vào Wikipedia mà tìm thì đâu đến nỗi!

Về chuyện cô gái xinh đẹp dẫn đầu cho khối Quân Y là Phạm Trúc Sơn Quỳnh, “nữ sĩ quan xinh đẹp khối trưởng khối diễu binh quân y, làm sốt cộng đồng mạng bởi khuôn mặt xinh xắn, tác phong mạnh mẽ, dứt khoát, các động tác điều lệnh chuẩn mực,” thì dư luận cho rằng được mượn từ bên Đại Học Thương Mại, và được mang cấp bậc trung tá (hai vạch, hai sao). Bộ Quốc Phòng khẳng định cô là quân nhân chuyên nghiệp mang cấp bậc thiếu úy, chứ không phải đi mượn về. Về cấp bậc trung tá đeo mang trên ngực cô, theo Trung Tướng Tuấn, cô là người đi đầu khối nên phải mang cấp bậc theo quy định thống nhất về cấp chỉ huy khi “diễu binh.”

Vào YouTube xem “diễu binh,” chúng ta thấy thêm một điều nữa là tất cả lính tráng trong hàng quân đều mang một loại huy chương và số lượng huy chương giống nhau, mỗi người ba cái. Quân đội thì có người già, người trẻ, có người có chiến công, nhưng cũng có người vô tích sự, vì sao phải dối trá đồng loạt như vậy, ông Tuấn có cho đây là “nguyên tắc diễu binh” không? Bốn mươi năm ngồi không, mà bây giờ có anh lính mặt non choẹt mang cấp tá và huy chương đầy ngực.

Theo kiểu nói bình dân Nam Bộ ngày trước, đây là “lon Lèo!” và “huy chương Lèo!” hay là đồ hàng mã, giả dối, lừa người!

Cùng mang huy chương giống nhau. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Như vậy, cô Sơn Quỳnh được dẫn đầu khối quân y, mang cấp bậc trung tá chỉ vì cô trẻ, đẹp, và có lẽ sĩ quan cấp bậc lớn nhất trong khối này già và xấu, quá gầy hay quá mập nên đã bị “cách ly” không cho tham dự “diễu binh” như bọn cai tù vẫn thường giấu những anh tù “cải tạo” ốm đói bệnh tật mỗi khi có phái đoàn cấp trên hay báo chí đến thăm viếng trại tù. Theo tôi, Sơn Quỳnh có khuôn mặt khá bụ bẫm, nhưng nhan sắc cũng thuộc loại tầm tầm, nếu vị chỉ huy lễ “diễu binh” cần đến những cô trẻ, đẹp để dẫn đầu khối cho đẹp mặt chính phủ và đảng, tôi xin giới thiệu với ông, ngay đất Hà Nội, thiếu gì diễn viên, người mẫu, sinh viên chân dài, hiện nay đang làm nghề nằm, nên dựng mấy cô dậy mà cho đi “diễu hành” là đẹp nhất!

Câu chuyện dối trá này làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện của Thế Vận Hội Olympic Bắc Kinh năm 2008. Trung Cộng đưa một cô bé xinh đẹp tên là Lâm Diệu Khả, 9 tuổi, trình diễn ca khúc “Ngợi ca tổ quốc” tại lễ khai mạc, thực ra chỉ hát nhép môi và diễn thay cho giọng của ca sĩ thực là Dương Bái Nghi, 7 tuổi. Ca sĩ trẻ tuổi này không được xuất hiện vì nhan sắc và dáng dấp không bằng Lâm Diệu Khả.

Sự dối trá “vĩ đại” này được Trung Cộng ngụy biện rằng họ quyết định dùng em Lâm vì ”chúng ta phải đặt lợi ích của đất nước lên trước!”

Màn trình diễn pháo bông tại đêm khai mạc cũng là giả tạo, vì được ghép nối thêm trước khi chiếu trên TV cho cả thế giới xem. Ban tổ chức cũng giải thích “làm điều đó để tạo thuận lợi và ấn tượng ngoạn mục cho các đài truyền hình!”

Vậy thì sự thật và sự lương thiện không hề được “cha con nhà nó” tôn trọng.

Việt Nam khoe, một nhà báo Úc đã viết: “Gộp hết tất cả lễ hội lớn của Úc, các cuộc diễu hành, từ lễ hội Mardi Gras ở đường Oxford cho tới lễ hội Moomba ở Melbourne, cộng lại tất cả những đám đông đã đến dự Thế Vận Hội Sydney, hay những trận đấu bóng đá, cũng không bằng sự kiện 2 Tháng Chín ở Việt Nam.”

Úc thua Việt Nam là phải, nên chi dân Việt giờ này mà còn đóng tàu vượt biển sang Úc. Có gì đâu mà hãnh diện! Kiểu nhà nghèo, con nợ thiên hạ mà đòi chơi bảnh!

Mới đây, World Bank công bố Việt Nam nợ nần lên đến $110 tỷ và chỉ riêng khoản chi trả tiền lời đã lên đến 7.2% tổng chi ngân sách nhà nước.

Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ

Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-09-19

Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ

Ta-Phong-Tan-305.jpg

Blogger Tạ Phong Tần tại phiên sơ thẩm sáng 24/9/2012 tại Tòa án Nhân dân TPHCM

Photo by Nguyễn Lân Thắng

Your browser does not support the audio element.

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được thả trước thời hạn và trên đường tới Mỹ.

Theo nguồn tin đã được kiểm chứng mà chúng tôi có được cho biết bà Tạ Phong Tần đã rời nhà tù và lên phi cơ trên đường đến Hoa Kỳ. Sau khi ghé Taipei tối nay vào lúc 11 giờ 30 bà Tần sẽ tiếp tục bay đến phi trường Los Angeles bằng chuyến bay China Air 8 và sẽ đáp xuống phi trường LAX vào lúc 8 giờ 35 tối giờ California.

Đi cùng với bà Tạ Phong Tần là tham tán chính trị của Hoa Kỳ ông David Muehlke.

Bà Tạ Phong Tần là người thứ ba được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ can thiệp và trả tự do ngay tại nơi giam giữ. Người đầu tiên là TS Luật Cù Huy Hà Vũ được thả vào ngày 7 tháng 4 năm 2014. Ba tháng sau người thứ hai là blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải được thả và tới Mỹ vào ngày 21 tháng 10 năm 2014.

Bà Tạ Phong Tần từng là một sĩ quan công an. Bà bị bắt về tội tuyên truyền chống nhà nước với bản án 10 năm tù giam. Bà là thành viên sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà báo tự do cùng với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.

Sáng ngày 30 tháng Bảy năm 2012, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tân, đã tự thiêu bên ngoài Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu để phản đối việc bắt giữ con gái bà. Bà Liêng chết vì các vết bỏng quá nặng trên đường đến bệnh viện.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và loan tin ngay sau khi bà đặt chân tới Mỹ.

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Trà Mi-VOA

18.09.2015

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam nhất trí với hầu hết nội dung của Luật Báo chí sửa đổi vừa được Bộ Thông tin Truyền thông trình lên ngày 17/9, theo thông tấn xã Bernama dẫn nguồn từ truyền thông trong nước.

Luật sửa đổi bao gồm 6 chương, 60 điều khoản. Trong số này có 31 điều mới và 29 điều sửa đổi – bổ sung nhằm phù hợp với thực tiễn mới, thi hành Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp mà Việt Nam nói là nêu bật cam kết của nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin của người dân.

Báo Thể thao Văn hóa dẫn lời Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son phát biểu tại cuộc họp hôm thứ Năm rằng: “Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được thể hiện trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên Hiệp Quốc. Quyền tự do báo chí được hiểu là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của con người thông qua báo chí. Báo chí có vai trò là phương tiện để mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình”.

Giới chức Việt Nam cho hay trong số các chủ điểm mới của Dự thảo luật so với Luật hiện hành có việc bổ sung thêm 1 chương quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo tinh thần Hiến pháp 2013.

Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son.

Một cựu đảng viên từng công tác trong Ban an ninh Nội chính thành ủy, chuyên nghiên cứu an ninh trong đó có vấn đề an ninh tư tưởng – văn hóa nay là một nhà báo tự do được nhiều người biết đến, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhận xét về nét mới của luật sửa đổi:

“Chỉ có 2 nét . Có bổ sung 1 chương mới hoàn toàn liên quan đến quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trong báo chí. Một quan chức trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến là cần phải ghép thêm cả quyền tự do ngôn luận vào Luật báo chí vì không thể tách rời tự do ngôn luận của nhà báo với công dân vì nhà báo cũng là công dân. Có vẻ như việc này nằm trong lộ trình cải cách khung luật pháp do Mỹ và một số Tây phương yêu cầu, và là một đề xuất của các quốc gia trong chương trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát UPR tại Thụy Sĩ vào tháng 2/2014 trong đó có gần 20 ý kiến của các quốc gia đề nghị Việt Nam phải cải cách luật báo chí theo hướng tự do, cởi mở. Đó là nét mới của Dự luật báo chí, nhưng có điều là vẫn không có một từ ‘tư nhân’ nào trong Dự luật báo chí này, nghĩa là Việt Nam vẫn chưa chấp nhận cho tư nhân được phép ra báo chí”.

Việt Nam trong nhiều năm nay liên tiếp bị cộng đồng quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới liệt kê vào danh sách các nước vi phạm tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, với nền báo chí hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước.

Việt Nam nói Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng cần sửa đổi vì những thay đổi thực tiễn của truyền thông mới và các hoạt động báo chí ngày nay.

Tuy nhiên, theo luật sửa đổi, báo chí vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có báo chí tư nhân.

Truyền thông nhà nước dẫn lời Bộ trưởng Thông tin Truyền thông khẳng định ‘Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này’.

Ông Son nói thêm rằng ‘Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của nhà nước’.

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một trong những tổ chức xã hội dân sự mới thành lập cổ súy cho quyền tự do báo chí trong nước, cho rằng dù chưa công nhận báo chí tư nhân, nhưng luật báo chí sửa đổi phần nào cũng mang lại tia hy vọng về một bước chuyển đổi tích cực hơn cho nền tự do báo chí tại Việt Nam.

Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự đoán:

“Có một chút hy vọng cho tự do dân chủ tại Việt Nam, đặc biệt là tự do ngôn luận trong báo chí. Trước 2011 ở Miến Điện không thể nói tới báo chí tư nhân, nhưng tới 2013 không thể tưởng tượng là Tổng thống Then Sein đã cho ra luật tự do báo chí và cho phép báo chí tư nhân hoạt động. Ở Việt Nam, tôi cho là cũng đang diễn tiến theo một lộ trình chậm. Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí. Biết đâu theo lộ trình, cùng với đà nhà nước cần chấp nhận mô hình công đoàn độc lập, có thể cuối năm 2016 vừa triển khai từng bước cho công đoàn được độc lập tại Việt Nam và đồng thời cũng có thể bắt đầu chấp nhận từng phần tư nhân hóa báo chí ở Việt Nam”.

Cựu cán bộ của Ban an ninh Nội chính thành ủy nói báo chí tư nhân đã xuất hiện tại Việt Nam từ cuối những năm 90 tới nay vẫn chưa được nhà nước công nhận, nhưng ông tin rằng không bao lâu nữa loại hình này sẽ được ‘chính thức’:

Nhà báo Phạm Chí Dũng:

“Báo chí tư nhân tại Việt Nam là một quy luật, không thể chống lại được. Tôi tin rằng chưa tới 3, 4 năm nữa báo chí tư nhân sẽ xuất hiện một cách chính thức ở Việt Nam”.

Việt Nam hiện đứng thứ 175/180 quốc gia trong bảng xếp hạng về tự do báo chí do tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF thực hiện, sụt một hạng so với bảng đánh giá năm ngoái. Các lãnh đạo hàng đầu Việt Nam cũng có tên trong danh sách của RSF về ‘Kẻ thù của Internet’ và ‘Đe dọa ký giả’.