





Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ





|
|
|||||
Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực hiện một chuyến thăm bất ngờ đến nhà trọ dành cho người vô gia cư mới được Tòa Thánh khánh thành ngay bên ngoài thành phố Vatican. Đây là động thái mới nhất của vị giáo hoàng nhằm kêu gọi sự chú ý tới tình cảnh nghèo nàn trên thế giới. Đức Thánh Cha đã thực hiện một chuyến đi ngắn từ Vatican đến trung tâm Rôma, gần sông Tiber, vào khoảng 7 giờ tối ngày thứ Năm 15 tháng 10. Khoảng 30 người đàn ông vô gia cư đang cư ngụ tại đây đã hết sức vui mừng. Nhiều người đã có thể nói chuyện với Đức Giáo Hoàng, kể lại câu chuyện của họ và yêu cầu ngài ban phép lành cho mình. Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng đã kéo dài khoảng 20 phút. Cùng đi với Đức Thánh Cha còn có quan phát chẩn của Tòa Thánh là Đức Tổng Giám mục Konrad Krajewski và cha Adolfo Nicolas, là bề trên Tổng Quyền Dòng Tên; và ba nữ tu làm việc tại nhà trọ này. Nhà trọ Dono di Misericordia, nghĩa là “Món quà của lòng Từ Bi”, đã được khánh thành vào đầu tháng này và có thể cung cấp chỗ nghỉ đêm cho 34 người. Tòa nhà này đã được các tu sĩ Dòng Tên hiến tặng theo lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô trong việc giúp đỡ người nghèo. Có những tin đồn rằng Đức Thánh Cha thỉnh thoảng vẫn ra khỏi Vatican để gặp gỡ những người vô gia cư và các nhân viên giúp đỡ họ. Trong các nỗ lực kêu gọi sự chú ý đến người nghèo đặc biệt là những người vô gia cư, Tòa Thánh đã lần lượt khánh thành nhà tắm miễn phí, cũng như nơi cắt tóc và cạo râu miễn phí. Một nhóm người vô gia cư đã được mời tham gia một chuyến du lịch bảo tàng viện Vatican, bao gồm cả nhà nguyện Sistina. Trong chuyến thăm gần đây của Đức Thánh Cha tại Hoa Kỳ, ngài đã đến thăm một cư xá dành cho người vô gia cư ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi ngài nói rằng “không thể biện minh cho việc thiếu nhà ở.” |
|||||
Bản lên tiếng về chuyến công du Việt Nam sắp tới của ông Tập Cận Bình và vấn đề Biển Đông được những người ký tên cho rằng trách nhiệm bảo vệ đất nước là của toàn dân và họ là những công dân thấy cần phải lên tiếng để cảnh giác.
Bản Lên tiếng nêu ra ba điểm: thứ nhất là tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải trong khu vực, gây ảnh hưởng lớn đến phát triển và ổn định của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương; trong đó có Việt Nam phải gánh chịu những thiệt hại về kinh tế và đe dọa an ninh quốc phòng.
Sở dĩ chúng tôi ra Bản Lên tiếng này vì thấy rằng trong thời điểm hiện tại Trung Quốc khuynh đảo đất nước chúng ta từ kinh tế đến chính trị, mọi lĩnh vực thậm chí là văn hóa nữa. Trên Biển Đông thì ai cũng biết là họ thường xuyên rượt đuổi, phá nát tàu của ngư dân Việt trên biển.
-Phạm Minh Hoàng
Thứ hai đây là thời cơ để Việt Nam tăng cường hợp tác với các quốc gia có cùng mối quan tâm về vấn đề Biển Đông, cũng như là thời điểm để xét lại mối quan hệ Việt – Trung với những khẩu hiệu do hai đảng cộng sản nêu ra trong các khẩu hiệu ‘4 tốt’ và ’16 chữ vàng’; Việt Nam cần phải sử dụng luật pháp quốc tế để kiện những hành động vi phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền biển đảo của Việt Nam và không bị mắc mưu khi chỉ đàm phán song phương đôi bên theo ý của Trung Quốc.
Và điểm thứ ba là trong khi Trung Quốc cải tạo, bồi đắp biến những đảo chiếm được của Việt Nam thành đảo nhân tạo với mục tiêu quân sự và tiếp tục tấn công ngư dân Việt Nam đánh bắt tại Hoàng Sa và Trường Sa thì không thể tiếp đón ông Tập Cận Bình tại Việt Nam như một vị quốc khách được.
Thầy giáo Phạm Minh Hoàng, một cựu tù nhân chính trị hiện ở Sài Gòn và cũng là một trong những người ký tên vào Bản Lên tiếng cho biết lý do đưa ra bản lên tiếng:
“Bản Lên tiếng này được một số anh em đấu tranh trong nước, trong đó có rất nhiều anh em là cựu tù nhân lương tâm. Sở dĩ chúng tôi ra Bản Lên tiếng này vì thấy rằng trong thời điểm hiện tại Trung Quốc khuynh đảo đất nước chúng ta từ kinh tế đến chính trị, mọi lĩnh vực thậm chí là văn hóa nữa. Trên Biển Đông thì ai cũng biết là họ thường xuyên rượt đuổi, phá nát tàu của ngư dân Việt trên biển. Họ tiếp tục xây những đảo để làm căn cứ quân sự. Tình hình lấn chiếm Biển Đông và tấn công các ngư phủ dân thường là không thể chấp nhận được. Song song đó những ảnh hưởng về kinh tế, chính trị đến đất nước chúng ta là thường xuyên và càng lúc càng nhiều. Trong bối cảnh như thế thì chuyến thăm của ông Tập Cận Bình là không thể chấp nhận được.”

Blogger Nguyễn Hữu Vinh, người tham gia ký tên vào Bản Lên tiếng và đăng hình trên facebook với biểu ngữ không hoan nghênh ông Tập Cận Bình đến Việt Nam, cũng cho biết quan điểm của ông trong việc chính quyền Hà Nội và đảng cộng sản Việt Nam mời ông Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam trong bối cảnh như hiện nay:
“Truyền thống của Việt Nam từ xưa đến nay là không có ai rước ‘giặc’ vào nhà. Đó là một nguyên tắc. Tập Cận Bình hiện nay là chủ tịch nước Trung Quốc – đất nước đang xâm lược Việt Nam một cách rất rõ ràng. Hoàng Sa và một phần của Trường Sa- phần thiêng liêng của đất nước đang nằm dưới tay quân xâm lược. Đối với người dân Việt Nam thì đó là giặc. Tôi thấy người cộng sản học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh hết đợt này đến đợt khác, tốn bao nhiêu tiền của dân nhưng họ quên mất một điều như Hồ Chí Minh đã nói rằng ‘còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta thì phải chiến đấu quét sạch nó đi.’Bây giờ sang làm gì? Bản thân tôi phản đối hành động rước giặc vào nhà.”
Chuyến thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình trong cương vị chủ tịch nước và tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc được phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình xác nhận trong cuộc họp báo vào chiều ngày 8 tháng 10 vừa qua là sẽ diễn ra trong tháng 11 tới. Chuyến công du này là theo lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Lâu nay nhiều quan chức của Hà Nội cho rằng Việt Nam là nước nhỏ bên cạnh nước lớn Trung Quốc và kinh nghiệm lịch sử cho thấy phải nhân nhượng.
Giáo sư Phạm Minh Hoàng có ý kiến về quan điểm đó như sau:
Đất nước này xưa nay chưa bao giờ như vậy, chỉ dưới thời người cộng sản mới xảy ra tình trạng đất nước, lãnh thổ rơi vào tay giặc mà thôi. Và liên tục như thế và dành cho đời con, đời cháu đòi mà thôi!
-Blogger Nguyễn Hữu Vinh
“Tạm gọi những cuộc binh biến giữa chúng ta với Trung Quốc trong quá khứ từ Hai Bà Trưng, rồi Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… trước khi ‘thần phục’ bao giờ cũng có một cuộc chiến. Như Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên Mông, Vua Lê Lợi sau khi đánh thắng nhà Minh, cũng như Vua Quang Trung sau khi đánh thắng nhà Thanh cũng cử sứ thần sang để (chúng ta tạm gọi là) ‘thần phục’. Nhưng ‘thần phục’ của các triều đại chúng ta ngày xưa là thần phục trong tư thế mạnh; nghĩa là chúng ta vừa đánh thắng xong, chúng ta lại tiếp tục vấn đề hòa hiếu. Chuyện đó xảy ra cách đây đã bao nhiêu thế kỷ rồi; đó là thời ‘chim trời, cá nước’, các nước ai muốn đánh ai cũng được; nhưng bây giờ khác rồi: từ năm 1945 đã có Liên hiệp quốc rồi. Không phải muốn đánh ai cũng được, thậm chí như Mỹ muốn đánh Iraq cũng phải có quyết định của Hội đồng Bảo an.”
Blogger Nguyễn Hữu Vinh cho rằng cách lập luận của các quan chức trong chính phủ Việt Nam về thái độ nhân nhượng Trung Quốc như lâu nay là sự ngụy biện, ông phát biểu:
“Kể từ thời Trần, những thời trước đây, Việt Nam có thể cống nạp, này khác…; nhưng về mặt lãnh thổ chưa bao giờ nhường một tấc đất nào cho giặc. Đất nước này xưa nay chưa bao giờ như vậy, chỉ dưới thời người cộng sản mới xảy ra tình trạng đất nước, lãnh thổ rơi vào tay giặc mà thôi. Và liên tục như thế và dành cho đời con, đời cháu đòi mà thôi!
Như Cuba ở bên Hoa Kỳ nhưng họ vẫn có sự phản kháng, độc lập, tự chủ; nên không thể nói chuyện nước nhỏ, nước lớn ở đây. Thời đại ngày nay trong quan hệ quốc tế không nói chuyện nước lớn hay nước bé. Tôi cho đó là sự ngụy biện.”
Trước đây nhiều người Việt trong nước từng xuống đường tham gia những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc. Có những đợt kéo dài được hơn 10 tuần lễ như vào năm 2011; tuy nhiên hầu hết những cuộc biểu tình như thế cuối cùng đều bị chính quyền Hà Nội ngăn chặn.
Hầu hết những người Việt Nam quan tâm đến tình hình đất nước và mối quan hệ với quốc gia láng giềng Phương Bắc trong thời gian gần đây đều tỏ ra quan ngại về những động thái của Trung Quốc tại Biển Đông. Họ mong mỏi chính quyền Hà Nội cần phải khéo léo tận dụng sự ủng hộ của quốc tế để kiềm chế thái độ ngày càng hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc tại Biển Đông. Họ kỳ vọng vào một thay đổi trong đối sách với chính quyền Bắc Kinh mà Hà Nội theo đuổi bấy lâu nay.
Tác giả: Ngô Di Lân
Người dịch: Trần Văn Minh
Hai chuyến thăm vào tháng tới của lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc sẽ thử nghiệm khả năng tái cân bằng của Hà Nội.
Một lần nữa, khả năng tái cân bằng ngoại giao của Việt Nam sẽ được thử nghiệm vào tháng 11 này, khi các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ tiếp đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama trong thời gian chỉ cách nhau vài ngày. Đây sẽ là chuyến đi đầu tiên của ông Obama tới Việt Nam, trong khi chuyến đi của ông Tập cũng sẽ là chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc đầu tiên kể từ năm 2005. Do Việt Nam cam kết duy trì mối quan hệ thân mật với cả hai cường quốc, ngay cả trong bối cảnh ngày càng căng thẳng xung quanh các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, tháng 11 này sẽ chứng tỏ một khoảnh khắc tinh tế và có tính quyết định về khả năng ứng phó với các cường quốc của Việt Nam.
Quan hệ Mỹ-Việt đã trở nên nồng ấm đáng kể trong vài năm qua, với nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cao cấp hai nước, đạt tới đỉnh điểm trong chuyến thăm chưa từng có của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ vào tháng 7 vừa qua. Kết quả là bản Tuyên bố lịch sử Tầm nhìn chung Mỹ-Việt, trong đó đề ra một khuôn khổ quan trọng để quan hệ Mỹ-Việt có thể tiếp tục phát triển trong dài hạn. Trong bối cảnh này, chuyến đi của ông Obama tới Hà Nội sẽ chỉ củng cố và làm sâu sắc mối quan hệ hơn nữa.
Tuy nhiên, lần này rõ ràng ông Obama không tới Hà Nội để thúc đẩy Hiệp đinh Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi các bên đàm phán đã đạt được thỏa thuận và Quốc hội Việt Nam gần như chắc chắn sẽ phê chuẩn hiệp định TPP. Vào thời điểm khi Trung Quốc đang cấp tốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và Hoa Kỳ vừa công bố kế hoạch tuần tra hàng hải trong vùng lãnh hải của các đảo này, dường như chắc chắn rằng Trung Quốc và tranh chấp lãnh thổ Biển Đông sẽ nổi bật trong các cuộc đàm phán tại Hà Nội.
Mặc dù lạc quan, giới thân Mỹ ở Hà Nội có lẽ sẽ phải thất vọng vì khó có khả năng chuyến thăm của ông Obama sẽ dẫn đến bất kỳ thỏa thuận mang tính “bước ngoặt” nào. Lại càng thiếu thực tế hơn để mong đợi một “liên minh” nào đó giữa Hà Nội và Washington được hình thành trong chuyến đi này, ngay cả trong lúc Trung Quốc đang gia tăng nỗ lực mang tính quyết đoán để tạo ra một “sự đã rồi” ở Biển Đông. Sau cùng, không rõ liệu một liên minh công khai như vậy sẽ mang lại lợi ích cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam hay không, vì điều này chắc chắn sẽ chọc giận Trung Quốc và do đó làm cho tình hình mất ổn định thêm. Hơn nữa, Mỹ có vẻ miễn cưỡng trong việc chính thức cam kết liên minh với bất kỳ quốc gia nào mà họ cho là “không thể kiểm soát chính trị” được, như mới đây đã bác bỏ đề xuất hiệp ước phòng thủ chung của các quốc gia vùng Vịnh. Việt Nam chắc chắn không thuộc thể loại các nước trong “phạm vi ảnh hưởng” của Mỹ.
Từ quan điểm của Hà Nội, “ngả sang một bên” sẽ có thể loại trừ khả năng linh hoạt ngoại giao. Bên cạnh đó, trong mọi trường hợp, một liên minh có lẽ không phải là một bảo đảm an ninh bọc thép để đối phó với Trung Quốc, như liên minh trước đây của Việt Nam với Liên Xô đã cho thấy. Tuy nhiên, là điều hợp lý để cho rằng chuyến đi của ông Obama sẽ tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước một cách đáng kể, thậm chí có thể dẫn đến việc gỡ bỏ thêm nữa lệnh cấm bán vũ khí sát thương (đã được nới lỏng) cho Việt Nam. Hơn nữa, ông Obama có thể dùng dịp này để thu hút sự ủng hộ ngoại giao cho kế hoạch tuần tra quyết đoán hơn trong khi lôi kéo Việt Nam xa khỏi quỹ đạo của Trung Quốc. Nếu có ít nhất một số trong những muc tiêu này trở thành hiện thực, chuyến đi của ông ít nhất cũng làm gia tăng vị thế của Mỹ ở châu Á, trong khi giúp cho Hà Nội có một thế đứng mạnh mẽ hơn để thương lượng tay đôi với Bắc Kinh.
Không giống như chuyến đi được dự liệu của ông Obama tới Việt Nam, chuyến đi của ông Tập xảy ra vào thời điểm xáo trộn trong quan hệ Việt-Trung. Quan hệ đã trở nên xấu đi phần nào trong những năm gần đây khi Trung Quốc trở nên hung hăng hơn trong việc khẳng định quyền kiểm soát các hòn đảo ở Biển Đông. Trong vài năm qua, ông Tập có lẽ đã thay đổi hiện trạng ở Biển Đông nhiều hơn những người tiền nhiệm của ông trong hai thập niên qua. Nổi bật nhất, vào tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã triển khai giàn khoan dầu Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) trước sự sự phản đối mãnh liệt của cả chính quyền và người dân Việt Nam.
Trong khi Trung Quốc đơn phương rút giàn khoan dầu sau hai tháng, cuộc khủng hoảng ngoại giao đã làm suy yếu lòng tin chiến lược giữa hai chính quyền và gây ra một cuộc tranh luận nội bộ nghiêm trọng trong giới thượng lưu ở Hà Nội. Kể từ đó, Trung Quốc chỉ gia tăng nỗ lực xây dựng đảo, với đường băng được phát hiện trên một số đảo mà cuối cùng có thể được sử dụng để tuyên bố và / hoặc áp đặt một vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) trên toàn bộ Biển Đông trong một tương lai gần. Những hành động này đã cho Việt Nam thấy rằng Trung Quốc không thành thật tuân thủ các thỏa thuận mà họ đã ký kết như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Với tất cả sự việc này, có vẻ như ông Tập sẽ tới Hà Nội với một sứ mệnh gần như bất khả thi: bằng cách nào đó đưa người láng giềng nhỏ hơn trở về vị trí cũ và “xóa đi làm lại” mối quan hệ với Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rất rõ rằng Việt Nam sẽ không chỉ đơn giản biến thành Nhật Bản hay Philippines một sớm một chiều. Nhưng về lâu dài, với những gì đang diễn ra ở Biển Đông, không ai có thể dự đoán Việt Nam sẽ gần gũi như thế nào với cánh đi với Mỹ. Và rất khó cho bất kỳ chủ tịch Trung Quốc nào tại thời điểm này có thể thuyết phục Hà Nội một cách nghiêm túc rằng Trung Quốc chỉ đơn thuần bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông và rằng Hà Nội nên đồng hành với Bắc Kinh. Do đó không ai mong đợi bất kỳ sự “quay đầu” nào trong chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc sau chuyến đi của ông Tập.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chuyến đi của ông Tập vẫn có thể sửa chữa mối quan hệ Việt-Trung trong giới hạn nào đó và có thể điều hướng sự chú ý của Việt Nam ra khỏi các tranh chấp lãnh thổ hiện nay để tập trung vào các cơ hội hợp tác giữa hai nước. Trong chiều hướng đó, sẽ không là điều bất ngờ nếu Bắc Kinh cung cấp một số giao dịch kinh tế và khoản vay ưu đãi cho Hà Nội trong chuyến đi của ông Tập. Sau cùng, phần thưởng kinh tế như thế luôn được hoan nghênh và sẽ thúc giục Việt Nam ít ra cũng đừng tiến gần hơn về phía Mỹ trong ngắn hạn và tiếp tục chiến lược “đu dây” hiện nay.
Cho đến nay, Việt Nam vẫn cam kết “đu dây” ngoại giao giữa hai siêu cường, khéo léo cân bằng bên này với bên kia để gặt hái lợi ích, trong khi tránh bị mắc kẹt vào ngõ cụt ngoại giao. Nếu mọi việc suôn sẻ tháng 11 này, chính sách “đu dây” sẽ rất có thể được củng cố như chiến lược tổng thể được ưa chuộng của Việt Nam trong tương lai gần, và sẽ dẫn tới các chọn lựa chính sách sáng tạo hơn. Trong dài hạn, chiến lược này có thể đặt nền móng cho một trật tự khu vực xung quanh các cuộc thương lượng giữa các tổ chức đa phương và các nước lớn, và điều này có thể đưa tới một tương lai đầy hứa hẹn cho các nước cỡ trung bình và nhỏ trong khu vực.
Ngô Di Lân là ứng viên tiến sĩ Chính trị tại Đại học Brandeis, nơi ông tập trung vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và quan hệ Mỹ-Trung. Ông cũng là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Con trai Nguyễn Tấn Dũng làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Con trai lớn của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy tỉnh Kiên Giang, trong khi người con trai thứ nhì được bầu làm tỉnh ủy viên tỉnh Bình Ðịnh.
Ngoài ra, còn có một số người khác là con của các cán bộ cao cấp đảng CSVN cũng được bầu vào một số vị trí quan trọng.
![]() Ông Nguyễn Thanh Nghị vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang. (Hình: nguyenthanhnghi.net) |
Theo truyền thông Việt Nam, tại Hội Nghị Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Kiên Giang khóa 10 lần thứ nhất diễn ra ngày 16 Tháng Mười, ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, được bầu làm làm bí thư tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020.”
Như vậy, con trai ông Nguyễn Tấn Dũng hiện là người trẻ tuổi nhất làm bí thư tỉnh ủy một tỉnh ở Việt Nam.
Cũng vào ngày này, một người con trai khác của ông Dũng là ông Nguyễn Minh Triết, 27 tuổi, “là người trẻ tuổi nhất được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ Tỉnh Bình Ðịnh nhiệm kỳ 2015-2020 trong số 55 người trúng cử cho nhiệm kỳ mới.”
Trong khi đó, đại hội đảng bộ CSVN thành phố Ðà Nẵng “vừa bầu ông Nguyễn Xuân Anh, phó bí thư thường trực thành ủy, giữ chức bí thư thành ủy, thay ông Trần Thọ.”
Như vậy, ông Nguyễn Xuân Anh, cũng 39 tuổi, hiện là bí thư thành ủy trẻ nhất nước.
Ông là con trai lớn của ông Nguyễn Văn Chi, cựu ủy viên Bộ Chính Trị.
Cũng tại Ðà Nẵng, ông Nguyễn Bá Cảnh, 32 tuổi, con trai Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư thành ủy, đã chết vì ung thư hồi Tháng Hai, được bầu vào Ban Chấp Hành Ðảng Bộ thành phố Ðà Nẵng, trong số 52 người trúng cử nhiệm kỳ 2015-2020.
Ở cương vị bí thư thành ủy và tỉnh ủy, hai ông Nguyễn Xuân Anh và Nguyễn Thanh Nghị gần như chắc chắn sẽ được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN, qua đại hội toàn quốc sắp diễn ra vào đầu năm tới.
Ông Nguyễn Thanh Nghị hiện là ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CSVN.
Trước đó, ông là thứ trưởng Bộ Xây Dựng trước khi làm phó bí thư tỉnh ủy Kiên Giang.
Ông có bằng tiến sĩ khoa học kỹ thuật xây dựng của Ðại Học George Washington ở Mỹ, và bằng cao cấp lý luận chính trị.
Khác với người em gái và chị gái đi theo đường kinh doanh, hai ông Nguyễn Thanh Nghị và Nguyễn Minh Triết tiến thân theo đường chính trị nối nghiệp cha.
Việc “cơ cấu” thân nhân bà con hoặc mua chức tước, mà Việt Nam gọi là “chạy chức,” thỉnh thoảng được thấy hé lộ trên báo chí ở trong nước. Người ta chỉ biết đến chuyện có những thứ như thế vậy khi bị truyền thông lôi ra “rọi đèn.”
Hồi tháng trước, dư luận rộ lên với tin, tại huyện Mỹ Đức, huyện ngoại thành của Hà Nội, có chuyện “10 trong 13 phòng ban có trưởng, phó phòng là anh em, họ hàng với Bí Thư Huyện Ủy Lê Văn Sang.” Khi bị nói một người làm huyện ủy thì cả họ được nhờ và ông Sang nói rằng tất cả mọi vụ bổ nhiệm đều “đúng quy trình,” “đúng pháp luật.”
Cuối năm 2012, dư luận trong nước nóng lên khi một số báo loan tin “chạy công chức ở thành phố Hà Nội” tốn khoảng 100 triệu đồng, theo lời tố cáo của ông Trần Trọng Dực, chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Thành Ủy, tại phiên thảo luận của HĐND thành phố sáng 7 Tháng Mười Hai, về “tổng biên chế hành chính, sự nghiệp năm 2013.”
Sau các cuộc thanh tra, kiểm tra thì người ta không thấy gì cả rồi mọi chuyện chìm vào quên lãng. (TN)
Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:
“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”.
“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-Hương mà ra; mẹ An-Nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”.
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-Nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-Nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc …”
Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê Ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa. Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!
Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu. Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.
Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa. Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.
Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang. Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại(Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.
Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ). Trong lĩnh vực ăn uống của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị. Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.
Theo Bình-nguyên Lộc (1), thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:
– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.
Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:
– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về
Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi” theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền về cái chất bổ dương khích dục đi đôi với các thứ rượu quí như whisky, cognac và Mao Đài tửu (Mao Đài hoàn toàn không có liên quan gì đến Mao Xếnh Xáng dù ông có dùng rượu này để tiếp đãi các nguyên thủ quốc gia).
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi. Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi! Hình dưới đây là những thố cơm chụp tại Quán Chuyên Ký trong khu Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm. (Những thố cơm ngày xưa nhỏ hơn nhiều, ngày nay tiệm dùng những cái thố quá lớn, không lẽ bao tử của thực khách ngày nay lớn hơn ngày xưa?). Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá…còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Bạn không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn. Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn. Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.
Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại…Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc. Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.
Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “…Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa. Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).
Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã xử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ. Lạp xưởng là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu. Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.
Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướpngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm. Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!
Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa. Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.
Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín + 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.
Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát. Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa). (Xem Triệu phú Sài Gòn xưa)
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bong Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.
Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là „đại gia“. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”. Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…
Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.
Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos! Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).


Làn sóng di dân này cũng giống như lời tuyên bố của người Trung Quốc: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”.

Trong năm qua, thống kê cho thấy số triệu phú Trung Quốc đã đạt mức tối đa trong tổng Visa loại EB-5 được cấp theo diện Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh của Hoa Kỳ.
Và theo những thống kê gần đây cho thấy 90% visa tạm trú của Úc được cấp cho công dân Trung Quốc. (Significant Investor: Visa tạm trú 4 năm cho những người sẵn sàng đầu tư 5 triệu AUD vào Úc). Trên toàn thế giới, chương trình nhập cảnh đầu tư của các quốc gia phương Tây đang bị quá tải do lượng người Trung Quốc mong muốn nhập cư quá đông.
Từ năm 1990, Trung Quốc đã từ nước có số dân xuất cảnh nhiều thứ 7 trên thế giới trở thành nước nhiều thứ 4, với số dân xuất cảnh tăng hơn 125%. Rất đông người Trung Quốc đang xuất cảnh sang các nước khác, đặc biệt là người giàu.
Ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc muốn di dân
![]()
Phần trăm người giàu đã xuất cảnh
Số người siêu giàu Trung Quốc (trung bình tài sản 16 triệu USD) nhập cảnh vào Mỹ chiếm 33% tổng số người siêu giàu ở Trung Quốc. Số triệu phú muốn di dân hoặc đang lên kế hoạch di dân trong vòng 5 năm tới chiếm 64%.
Một khảo sát gần đây từ Barclays cho thấy có hơn 47% đại gia Trung Quốc muốn di dân. Trong khi tỷ lệ bình quân theo khảo sát chiếm 29% trên toàn thế giới.
![]()
Cùng với việc càng nhiều công dân Trung Quốc trở nên giàu có, số lượng người muốn xuất cảnh cũng gia tăng. Vậy những quốc gia nào mà đại gia Trung Quốc muốn đến?
Bắc Mỹ, nơi giới thượng lưu Trung Quốc hướng đến
Theo báo cáo của Hurun – Sách trắng Về Đầu Tư Nhập Cảnh 2014 (2014 Immigrant Investor White Paper), Hoa Kỳ và Canada là những lựa chọn đầu tiên của những giới thượng lưu Trung Quốc đang lên kế hoạch xuất cảnh.
![]()
Thống kê những quốc gia hàng đầu mà người giàu Trung Quốc chọn khi di dân.
Bởi vì phần đông đại gia Trung Quốc tích lũy của cải tại chính quốc gia của mình, cho nên, từ quan điểm của một doanh nhân, sẽ tiện hơn cho họ khi sống gần Trung Quốc. Vậy để nhận được visa nhập cảnh từ một quốc gia khác thì phải đáp ứng những yêu cầu gì?
Những yêu cầu cần thiết để nhận Visa di dân theo hình thức Nhà đầu tư
Những loại di dân bao gồm nhập cảnh theo diện đầu tư, diện tay nghề, diện du học, và diện nhập cảnh phi pháp (không giấy tờ). Đa phần người Trung Quốc giàu có đều nhập cảnh thông qua việc đầu tư.
![]()
Yêu cầu Đầu tư là điều kiện tối thiểu để di dân.
Yêu cầu cấp quốc tịch cho nhà đầu tư của một số quốc gia
Hoa Kỳ: Visa Đầu tư nhập cảnh EB-5
![]()
Vốn đầu tư tối thiểu 500.000 USD vào các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Trực tiếp hoặc gián tiếp tạo việc làm cho 10 người và thời gian đầu tư ít nhất 5 năm. Sau khi nhận quyền cư trú hợp pháp, phải tiếp tục định cư tại Hoa Kỳ trong 5 năm.
Canada: Chương trình Nhập cư dành cho Nhà đầu tư – IIP (hủy bỏ năm 2014)
![]()
Sở hữu tài sản cá nhân tối thiểu 1,6 triệu CAD và đang là nhân viên quản lý cấp cao hoặc chủ doanh nghiệp trong ít nhất 2 năm, tính trong mốc thời gian 5 năm gần đây. Hoặc phải đầu tư 800.000 CAD vào một ngân hàng theo chỉ thị của Chính phủ Canada và sẽ được hoàn trả đầy đủ sau 5 năm, không lãi suất.
Australia: Visa đầu tư và Đổi mới kinh doanh (tạm thời)
![]()
Phải đầu tư 5 triệu AUD vào trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu liên bang; đầu tư vào các Quỹ đầu tư được Ban Kiểm soát đầu tư nước ngoài của Úc quản lý, bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng cơ bản, bất động sản… Dân nhập cảnh bằng Visa tạm trú có thể nộp đơn xin làm công dân chính thức sau khi sinh sống tại Úc được 2 năm trong vòng 5 năm gần nhất.
Vương Quốc Anh: Visa bậc 1 (Nhà đầu tư)
![]()
Đầu tư 2 triệu bảng Anh vào trái phiếu Kho bạc theo chỉ định và được hoàn trả 100 bảng Anh lãi suất sau 5 năm. Có thể trở thành dân tạm trú sau 5 năm và nộp đơn xin làm công dân chính thức sau 6 năm. Người nộp đơn phải sinh sống tại Anh 9 tháng trong thời gian 1 năm gần nhất trước khi được xét cấp quyền công dân.
New Zealand: Visa doanh nhân
![]()
Phải đầu tư 1,5 tỷ NZD vào những quỹ được chỉ định trong khoảng thời gian 4 năm. Phải sinh sống tại New Zealand 4 năm trong 5 năm gần nhất và phải vượt qua bài kiểm tra quyền công dân.
Singapore: Chương trình Nhà đầu tư toàn cầu – GIP
![]()
Đầu tư tối thiểu 2,5 triệu SGD vào một chủ thể kinh doanh mới hoặc mở rộng chiến dịch kinh doanh đã có sẵn hoặc đầu tư vào một quỹ GIP thuộc Nhà nước Singapore dùng để đầu tư vào những công ty ở Singapore. Công dân tạm trú trên 21 tuổi đã sống ít nhất 2 năm trong 6 năm gần nhất tại Singapore có thể nộp đơn cấp quyền công dân chính thức của Singapore.
Hàn Quốc: Visa đầu tư Công ty (D-8)
![]()
Đầu tư hơn 500 triệu won vào bất động sản. Sau 5 năm, nếu những người này không bị loại hồ sơ xét duyệt nhập cảnh vì nhiều lý do khác nhau, họ và vợ/ chồng cùng con cái sẽ được cấp quyền công dân tạm thời.
Đối với những đại gia Trung Quốc, những người có thể dễ dàng thu được hàng chục triệu USD, thì ngưỡng đầu tư được nhập cảnh không hề cao. Và đó là chưa kể ngưỡng đầu vào của nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, đã giảm một cách đáng kể.
Trước tình cảnh vươn lên của giới thượng lưu Trung Quốc, những chương trình đầu tư nhập cảnh thuộc nhiều quốc gia có ngưỡng thấp đang thu hút ngày càng nhiều đại gia Trung Quốc tham gia vào cơn sốt nhập cư này. Theo số liệu thống kê của chính phủ được CNN biên soạn:
![]()
Tổng số dân Trung Quốc được nhận Visa đầu tư nhập cảnh của Mỹ từ năm 2004 đến năm 2014 (Mỹ chỉ cấp 10.000 visa mỗi năm cho diện di dân đầu tư cấp theo diện EB-5)
Trong năm 2014 số lượng đơn xin nhập cảnh cho các chương trình đầu tư nhập cảnh Hoa Kỳ đạt mức cao nhất mọi thời đại, với 85% số người nộp đơn là công dân Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên các hạn ngạch hàng năm đạt mức tối đa, do đó chính phủ Mỹ tạm ngừng xem xét những hồ sơ nhập cảnh.
Một trường hợp tương tự đã phát sinh tại Canada. Trong vòng vài năm qua, số lượng người Trung Quốc xin nhập cảnh đã bùng bổ, vào tháng Hai năm 2014, chính phủ Canada đã tuyên bố tạm dừng Chương trình Đầu tư Nhập Cảnh (IIP) này kể từ năm 1986, thời điểm chương trình được triển khai.
![]()
Trước khi loại bỏ Chương trình IIP, Canada công cố đang có 65.000 hồ sơ đợi duyệt, trong đó có 70% là hồ sơ của người Trung Quốc.
Di dân bằng việc đầu tư đang làm cạn kiệt của cải Trung Quốc
![]()
Tài sản thu về: Tính tới năm 2012, công dân đã di dân gửi về Trung Quốc 66 tỷ USD, tương đương 4.000 tỷ Nhân dân tệ (RMB). Tài sản thất thoát: Năm 2011, những người Trung Quốc có tài sản có thể đầu tư hơn 6 triệu RMB lên đến 33.000 tỷ RMB, trong đó 2.800 tỷ RMB đã chuyển ra nước ngoài.
Số tiền mà người giàu đầu tư ra hải ngoại vượt xa số của cải họ mang về cho Trung Quốc. Vậy chính xác họ đang đầu tư vào điều gì?
Những nhà đầu tư Trung Quốc đang điên đảo vì bất động sản nước ngoài.
Bên cạnh việc được cấp Visa thông qua hình thức mua trái phiếu, nhiều người giới thượng lưu Trung Quốc đang đặc biệt “say mê” đầu tư vào bất động sản, và đang điên cuồng mua đất ở nước ngoài. Dân Trung Quốc trở thành người mua chính trong lĩnh vực bất động sản nước ngoài .
![]()
Khoảng giữa tháng Tư năm 2013 và tháng Ba năm 2014, người Trung Quốc đã chi hơn 221 tỷ USD cho bất động sản Hoa Kỳ, chiếm 24% tổng số giao dịch bất động sản nhà đất của quốc gia này.
Theo “Báo cáo thường niên 2014 về tình trạng Di cư Quốc tế của Trung Quốc”, công dân nước này là những nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn lớn vào bất động sản của thành phố Vancouver, Brisbane, và London.
Việc mua nhà đất được người Trung Quốc thực hiện lên đến 20-40% trong tổng số giá trị giao dịch của bất động sản địa phương. Nhưng giao dịch này như lời tuyên bố: “Chúng tôi muốn tất cả các bạn biết rằng chúng tôi đã đánh dấu tên mình cho hầu như mọi thứ trên thế giới”.
Bộ Ngoại Giao Mỹ: Việt Nam vẫn chưa có tự do tôn giáo
Nguoi-viet.com
WASHINGTON (NV) – Ðó là nhận định tổng quát của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về tự do tôn giáo trên thế giới.
Theo báo cáo này, chế độ Hà Nội vẫn hạn chế hoạt động của các nhóm tôn giáo không đăng ký, đặc biệt là những nhóm tôn giáo mà chính quyền Việt Nam cho là có liên quan đến chính trị.
![]() Ông Kpuih Bơp bị bí thư xã Ayun, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đánh trọng thương vì “lợi dụng tôn giáo gây ảnh hưởng chính trị.” Hành vi bị cáo buộc “lợi dụng tôn giáo gây ảnh hưởng chính trị” là phát mền cho trẻ mồ côi. (Hình: website chuacuuthe.com) |
Ngay sau đó, ông Lê Hải Bình, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, lập tức lên tiếng phản bác rằng, báo cáo vừa kể là “không khách quan” vì trích dẫn những thông tin sai lạc về Việt Nam. Nhân vật này cho rằng, chính quyền Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách, cũng như biện pháp cụ thể để bảo đảm rằng dân chúng có thể thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.
Trong thực tế, chẳng riêng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có nhận định như vừa kể. Hồi tháng 5 vừa qua, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam từng đề nghị chính quyền Việt Nam viết lại dự luật về tín ngưỡng, tôn giáo, sau khi chính quyền Việt Nam đề nghị lãnh đạo và tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam “góp ý” cho dự luật này.
Cần lưu ý rằng, chính quyền Việt Nam chỉ dành hai tuần cho lãnh đạo và tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam “góp ý” về dự luật tín ngưỡng, tôn giáo.
Trước đó, trong nhiều cuộc đối thoại với Liên Hiệp Quốc, đại diện chính quyền nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế về nhân quyền tại Việt Nam, các viên chức đại diện chính quyền Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh, việc soạn thảo dự luật tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam đang cố gắng cải thiện tình trạng nhân quyền và càng ngày càng tôn trọng tự do tôn giáo.
Tuy nhiên thư góp ý của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, gửi chủ tịch Quốc Hội Việt Nam và trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ cho thấy, nội dung dự luật tín ngưỡng, tôn giáo mà chính quyền Việt Nam từng “quảng cáo” là một… nỗ lực đáng ngại.
Theo Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, dự luật tín ngưỡng, tôn giáo đã “đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, gây lo ngại nhiều hơn là đem lại sự bình an cho mọi người.”
Trong phần nhận định chung về dự luật này, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định, dự luật bao gồm “những điều luật chỉ nhằm mang lại quyền lợi cho giới cầm quyền mà quên đi quyền lợi của người dân.” Thiếu sót quan trọng nhất của dự luật là không công nhận tổ chức tôn giáo là một “pháp nhân,” điều đó đồng nghĩa với việc không xác nhận tổ chức tôn giáo có quyền “tồn tại hợp pháp trước pháp luật Việt Nam.”
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phân tích 14 điểm bất hợp lý, không khả thi, mâu thuẫn với cả Hiến chương Liên Hiệp Quốc lẫn Hiến Pháp của Việt Nam thể hiện ở nhiều chương, nhiều điều trong dự luật.
Do dự luật tín ngưỡng, tôn giáo trái ngược với cả Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền lẫn Hiến pháp mới của Việt Nam, thậm chí còn có sự thụt lùi so với Pháp Lệnh Tín Ngưỡng, Tôn Giáo năm 2004 bởi “tạo ra quá nhiều thủ tục rườm rà, nhiều cơ chế khắt khe, ràng buộc, khiến các sinh hoạt tôn giáo bị cản trở,” Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam khẳng định rằng, Công Giáo Việt Nam “không đồng ý với dự luật tín ngưỡng, tôn giáo.” Ðồng thời đề nghị “soạn lại một dự luật khác phù hợp với xu thế tự do, dân chủ và mang tầm vóc của xã hội tiến bộ.”
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam khuyến cáo, dự luật được viết lại cần phải được tham khảo ý kiến của các tổ chức tôn giáo và đặc biệt là chính quyền Việt Nam phải “công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo” để những pháp nhân này được bảo vệ bằng luật pháp.
Hôm 14 tháng 10, khi báo cáo về tự do tôn giáo thường niên được công bố, ông David Saperstein, đại sứ đặc trách về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ, nhấn mạnh, trong những lần đến Việt Nam, ông tận mắt chứng kiến các nhóm tôn giáo bị buộc phải thực hiện nhiều thủ tục nhiêu khê và tùy tiện để được hoạt động hợp pháp. (G.Ð)
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-10-15

Ảnh minh họa chụp tại Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội hôm 18/3/2015.
AFP
Your browser does not support the audio element.
Việt Nam đã thực hiện cải cách thể chế lần thứ nhất khi thực hiện cuộc Đổi Mới cuối thập niên 1980; tiếp theo là một đợt cải cách thể chế nữa khi tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2007. Tuy vậy giới học giả chuyên gia cho rằng, cải cách chính trị ở Việt Nam không theo kịp cải cách kinh tế và nền kinh tế không còn động lực để phát triển. Sự kiện Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP được xem như một cơ hội để Việt Nam một lần nữa thực hiện cải cách sâu rộng cả về chính trị và kinh tế. Chung quanh vấn đề này, Nam Nguyên phỏng vấn Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội hiện nghỉ hưu ở TP.HCM.
Có thể có những bước chuyển?
Nam Nguyên: Thưa Luật sư, trên báo chí các cựu bộ trưởng, các chuyên gia thường xuyên báo động về tình trạng trì trệ của guồng máy nhà nước. Họ lo ngại đã không có sự cải cách chính trị đồng bộ với cải cách kinh tế và điều này đã thể hiện trong thời gian vừa qua. Hướng sắp tới Việt Nam sẽ còn hội nhập sâu rộng hơn nữa như với TPP hoặc FTA với EU chẳng hạn. Luật sư nhận định gì?
Tôi cho rằng việc Việt Nam muốn sửa đổi, thay đổi trong khi Hiến pháp chưa thay đổi thì có thể có những bước chuyển. Còn việc Hiến pháp Việt Nam mà có sửa thì cũng không có gì khó.
-LS Trần Quốc Thuận
LS Trần Quốc Thuận: Vấn đề cải cách kinh tế đồng thời cải cách chính trị thì đã được đặt ra từ Đại hội Đảng lần thứ 10, lần thứ 11 cũng nhắc lại luận điệu này và lần này cũng nhắc lại. Trong dịp tiếp xúc cử tri vừa qua tại Hà Nội Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng có nhắc lại là tất cả cải cách phải tiến hành một cách đồng bộ. Như vậy vấn đề này đã được nhấn mạnh hơn và theo những phát biểu vừa rồi thì sẽ đưa ra Đại hội để bàn, đặc biệt đây là một trong những vấn đề sẽ được Đại hội dồn hết tâm trí, để có những bước đi thế nào cho thích hợp với Việt Nam và đáp ứng tình hình chung của khu vực và thế giới.
Nam Nguyên: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng và Nhà nước. TT Hoa Kỳ Obama cũng nói tôn trọng về khác biệt chế độ chính trị của VN. Do vậy nhiều ý kiến nói vẫn có thể cải cách thể chế chính trị mà không cần thay đổi Hiến pháp. Thí dụ vấn đề đặc quyền đặc lợi của doanh nghiệp nhà nước…tạo sân chơi bình đẳng bằng thực tế hành động. Luật sự nhận định gì về khả năng này?
LS Trần Quốc Thuận: Tôi cho rằng việc Việt Nam muốn sửa đổi, thay đổi trong khi Hiến pháp chưa thay đổi thì có thể có những bước chuyển. Còn việc Hiến pháp Việt Nam mà có sửa thì cũng không có gì khó. Nhưng mà nếu kỳ Đại hội Đảng này đặt ra và tình hình bức bách đòi hỏi phải có cải cách, đòi hỏi một thể chế cho phù hợp để thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nhất là thích hợp việc Việt Nam vào TPP, tôi cho rằng việc đó không phải là vấn đề gì ghê gớm. Nhưng mà vấn đề đó chắc chắn là phải được đặt lên bàn hội nghị rồi.
Phải sửa đổi luật cho phù hợp

12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015.
Nam Nguyên: Thưa Luật sư, nhiều người lo ngại về hệ thống pháp luật của Việt Nam thiếu sót nhiều quá và sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã thực hiện cải cách pháp luật nhưng không đáp ứng và không mang lại lợi ích phát triển kinh tế. Lần này, Luật sư có nghĩ là cải cách pháp luật triệt để phù hợp thế giới có thể xảy ra được hay không. Đây là một điều thật sự không dễ dàng để thay đổi sự suy nghĩ của từng con người?
LS Trần Quốc Thuận: Tôi cho rằng việc suy nghĩ của từng con người một cũng đã đặt ra và phải suy nghĩ cho phù hợp thôi. Bởi vì Việt Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở rộng, tất cả mọi thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi, phải sửa đổi rất nhiều luật cho phù hợp. Nếu không sửa đổi luật cho phù hợp thì làm sao Việt Nam là thành viên của TPP được. Cho nên vấn đề đó, theo lộ trình thì TPP có thể phải hai năm nữa mới có hiệu lực thi hành thì có lẽ trong thời gian đó, Việt Nam cái gì chứ cái món mà người ta bảo ‘nước cao quá gối cũng nhảy’ thì Việt Nam có khi cũng phải nhảy.
Tôi tin rằng nếu không sửa đổi thì nó vênh pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài thì làm sao Việt Nam có thể tồn tại được, nhất là vào TPP các qui định rất ngặt nghèo, rất chặt chẽ. Cho đến bây giờ việc phổ biến toàn văn những chi tiết TPP tại Việt Nam cũng chưa được tiến hành, bởi vì vấn đề này người ta hứa hẹn là sẽ đưa ra Quốc hội bàn, nhiều Quốc hội sẽ cùng bàn và Quốc hội Việt Nam sẽ bàn trước khi TPP có hiệu lực.
Bởi vì Việt Nam đã vào TPP rồi, đã vào một cơ chế đặc biệt, đặc thù và mở rộng, tất cả mọi thứ sẽ mở toang ra hết… thì đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi, phải sửa đổi rất nhiều luật cho phù hợp.
-LS Trần Quốc Thuận
Câu chuyện đó ở Việt Nam nếu mà Đại hội Đảng kỳ này cũng quyết đi theo con đường ấy, mà chắc cũng phải đi thôi chứ không còn con đường nào khác. Chắc là tất cả thực hiện được, mà muốn thực hiện được thì dĩ nhiên phải sửa luật. Kể cả nếu cần thiết phải sửa Hiến pháp thì cũng phải sửa.
Nam Nguyên: Thưa Luật sư như vậy có thể có chút ít lạc quan về tương lại của Việt Nam và cần có sự định hình ban lãnh đạo tương lai của Đảng và Nhà nước trong kỳ Đại hội tới, thì việc thực hiện cải cách mới có thể có chuyển động rõ rệt hơn?
LS Trần Quốc Thuận: Bây giờ việc cải cách thể chế phải bàn bạc đẩy mạnh cải cách kinh tế đồng thời đẩy mạnh cải cách chính trị song song đồng bộ, chứ không thể làm cho nó vênh được, thì đó là đòi hỏi bức bách phải làm. Còn vấn đề con người của thể chế ấy, cơ cấu ấy ban hành như thế nào để đáp ứng được thì đó cũng là vấn đề đặt ra. Nhưng mà Việt Nam là một tổ chức khép kín chứ không phải là một tổ chức vận động ồn ào, bây giờ trên mạng các blogger cũng vận động ủng hộ ông này ông kia, những cuộc vận động đó có vẻ không bình thường. Ở Việt Nam tôi cho rằng đó là những thủ đoạn chính trị bỏ tiền ra để hô hào ủng hộ ông này, ông nọ. Nếu bỏ tiền ra thì theo văn hóa việt Nam người ta chưa chắc ủng hộ cho người đó. Cho nên cách làm như vậy hoàn toàn không bình thường.
Còn trong thời gian vừa qua, năm mười năm vừa qua làm việc thì người ta biết người nào toàn tâm toàn ý, lo cho dân, lo cho nước, cuộc sống riêng tư gia đình thế này thế kia…thì người ta sẽ chọn. Còn trí tuệ này nọ, thì cái đó vô biên, cũng không phải những người hô hào cho lớn hay là nói những lời nói có cánh nhưng thực tế làm ngược lại… Cho nên người ta nói là có lẽ cuộc tiếp kiến Tập Cận Bình và Obama sắp tới nó cũng cho thấy người nào có thái độ, quan điểm thế nào thì người ta sẽ nhìn thấy rõ và cũng là cái cách để chọn nhân sự.
Nhân sự ở Việt nam thực tế bây giờ vấn đề quan trọng là người đó phải yêu nước thương dân, mà muốn yêu nước thương dân thì phải có cuộc sống riêng tư đàng hoàng thì không có vơ vét, không có lo cho gia đình nhiều quá. Đó là những tiêu chí hàng đầu mà dân tộc Việt Nam hướng tới từ xưa đến giờ.
Nam Nguyên: Cảm ơn LS Trần Quốc Thuận đã trả lời phỏng vấn.
Cựu Nghị Sĩ Jim Webb, cựu chiến binh Việt Nam, ứng cử tổng thống
Nguoi-viet.com
LAS VEGAS, Nevada (NV) – Cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (Dân Chủ-Virginia) là người duy nhất còn nhắc tới kỷ niệm thời chiến tranh Việt Nam trong cuộc tranh luận của năm ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ hôm Thứ Ba, 13 Tháng Mười, ở Las Vegas.
![]() |
| Cựu Thượng Nghị Sĩ John Webb trong cuộc tranh luận tối Thứ Ba. (Hình: Joe Raedle/Getty Images) |
Khi điều hợp viên yêu cầu nêu lên một kẻ thù, bốn ứng cử viên kia đều nhắc tới những đối tượng mà người Dân Chủ vốn chống: ngành bảo hiểm, nhóm vận động cho kỹ nghệ than đá, giới tài chính Wall Street, hiệp hội dùng súng NRA.
Riêng ông Jim Webb trả lời: “Đó là những binh sĩ địch đã ném lựu đạn làm tôi bị thương” và thêm: “Nhưng họ không có ở đây để nói đến”.
Cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb là thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Ông được tưởng thưởng huy chương Navy Cross do thành tích chiến đấu anh dũng được Military Times ghi lại. Sau khi cho nổ một trái mìn định hướng (claymore) mở lối vào địa đạo bắn hạ hai lính địch và tiếp tục lục soát những đường hầm khác, địch quân còn lại ném về phía ông một trái lựu đạn. Ông Webb đã dùng thân mình che chở cho các đồng đội và bị thương nặng nhưng vẫn chiến đấu cho tới khi tiêu diệt hết kẻ thù trong các địa đạo.
Ông Jim Webb, 69 tuổi, có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam cuối cùng còn có thể ứng cử tổng thống. Gần nửa thế kỷ sau, những quân nhân Mỹ trong cuộc chiến tranh ấy nay đều đã ở lứa tuổi trên 70 và không còn trong thời gian hoạt động nhiều nữa.
Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2004 và 2008, hai ứng cử viên John Kerry và John McCain, cũng là hai thượng nghị sĩ, là các cựu chiến binh nổi tiếng. (HC)
Người Hoa đang đổ tiền mặt vào thị trường địa ốc Mỹ
Nguoi-viet.com
(CNBC) – Từ những công trình phát triển đô thị tại thành phố Irvine nắng ấm của California, tới những tháp condo mới bóng loáng nhìn ra chân trời của Manhattan, New York, người Hoa đang đổ tiền mặt vào thị trường nhà ở tại Hoa Kỳ.
Theo Hiệp Hội Ðịa Ốc Toàn Quốc (NAR), hiện giờ người Hoa đứng đầu danh sách những người nước ngoài mua bất động sản trong nội địa Hoa Kỳ, và trong số đó gần nửa trả bằng tiền mặt, theo RealtyTrac, một công ty phân tích và mua bán bất động sản.
![]() Gần một nửa người Hoa mua nhà trả bằng tiền mặt. (Hình minh họa: Getty Images) |
Trong năm 2015, tính tới nay, khoảng 46% người Hoa mua nhà tại Mỹ bằng tiền mặt, tăng 229% so với một thập niên trước đây, trong khi tỉ lệ người mua nói chung trả bằng tiền mặt là 33%, tăng 65% so với một thập niên trước.
“Những người mua bằng tiền mặt thuộc mọi thành phần đang đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong thị trường nhà ở hiện nay so với 10 năm trước đây, và điều đó đặc biệt đúng đối với những người mua bằng tiền mặt là những người Hoa nói tiếng Quan Thoại, những người thường không có quốc tịch Mỹ,” theo ông Daren Blomquist, phó chủ tịch của RealtyTrac.
Ông nói: “Những người ngoại quốc mua bằng tiền mặt đã giúp gia tốc việc tăng giá nhà tại Mỹ trong mấy năm vừa qua, lý do là những người mua này thường không bị kềm chế bởi lợi tức như những người mua tại địa phương, thường phải vay tiền ngân hàng để mua.”
Sự bất ổn gần đây trong nền kinh tế của Trung Quốc và thị trường chứng khoán đã thúc đẩy thêm người mua nhà tới Hoa Kỳ.
Những người Hoa có con cái thuộc mọi lứa tuổi muốn con cái họ được theo đuổi một nền giáo dục tốt, từ tiểu học tới đại học. Ðó là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người Hoa mua nhà.
Người mua gốc Á Châu chiếm khoảng 35% mọi người ngoại quốc mua bất động sản tại Hoa Kỳ trong thời gian 12 tháng chấm dứt vào Tháng Ba, 2015, khi họ chi tiêu hơn $28 tỉ. Cho tới nay họ rất năng động trong các thị trường nhà đắt tiền, đặc biệt ở California và thành phố New York.
Theo bà Kathy Sloane, một địa ốc viên làm việc cho công ty Brown Harris Stevens ở Manhattan, nhiều người Hoa giàu có, thường đem theo con cái, muốn mua nhà ở New York. Họ muốn biết cách để con cái họ được thu nhận vào các trường học và làm cách nào để cha mẹ họ được chăm sóc sức khỏe.
Một vài người Hoa, nhưng chắc chắn không phải là tất cả, muốn những căn chung cư đắt tiền ở New York. Họ thường ưa nhà mới xây, như người ta thấy ở Irvine, California, nơi những nhà thầu xây dựng đang bán và ngay cả thiết kế nhà cho những người mua gốc Hoa.
Những người này không phải muốn chuyển tài sản ra ngoại quốc. Họ muốn thay đổi đời sống của họ và di chuyển ra khỏi Trung Quốc vì nhiều lý do khác nhau.
Giáo dục, y tế và triển vọng tăng giá nhà là những gì đang hấp dẫn những người mua gốc Hoa, trong khi cho tới nay họ thường nhắm vào những căn nhà đắt tiền, có thể các thị trường nhà vừa với túi tiền hơn như trong vùng giữa bờ biển Ðại Tây Dương sẽ bắt đầu chứng kiến nhu cầu gia tăng.
Tiền mặt là một lợi thế đặc biệt trong thị trường nhà đất eo hẹp ngày nay, và rõ ràng những người mua gốc Hoa ý thức điều đó. (n.n.)
Những người yêu thơ tình, không ai không biết đến bài thơ “Màu tím hoa sim đầy xúc động”. Đằng sau đó là một câu chuyện còn sâu sắc hơn, đau đáu hơn của tác giả Hữu Loan.

Nhà thơ Hữu Loan
|
Nàng có ba người anh Đi bộ đội Từ chiến khu xa Nhưng không chết người trai khói lửa Tóc nàng xanh xanh Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím Một chiều rừng mưa Gió sớm thu về Chiều hành quân Hữu Loan |
Xin trích đăng những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.
Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.
Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.
Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
– Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
– Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
– Ngọt quá!
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.
Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.
Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.
Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.
Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..
Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!
Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…
Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời… từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều… Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý…
Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.
Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản…
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.
Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.
… Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc….
Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ…
Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.
Nhà thơ Hữu Loan