Cựu Nghị Sĩ Jim Webb, cựu chiến binh Việt Nam, ứng cử tổng thống

Cựu Nghị Sĩ Jim Webb, cựu chiến binh Việt Nam, ứng cử tổng thống
Nguoi-viet.com

LAS VEGAS, Nevada (NV)Cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (Dân Chủ-Virginia) là người duy nhất còn nhắc tới kỷ niệm thời chiến tranh Việt Nam trong cuộc tranh luận của năm ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ hôm Thứ Ba, 13 Tháng Mười, ở Las Vegas.

 
Cựu Thượng Nghị Sĩ John Webb trong cuộc tranh luận tối Thứ Ba. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)

Khi điều hợp viên yêu cầu nêu lên một kẻ thù, bốn ứng cử viên kia đều nhắc tới những đối tượng mà người Dân Chủ vốn chống: ngành bảo hiểm, nhóm vận động cho kỹ nghệ than đá, giới tài chính Wall Street, hiệp hội dùng súng NRA.

Riêng ông Jim Webb trả lời: “Đó là những binh sĩ địch đã ném lựu đạn làm tôi bị thương” và thêm: “Nhưng họ không có ở đây để nói đến”.

Cựu Thượng Nghị Sĩ Jim Webb là thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Ông được tưởng thưởng huy chương Navy Cross do thành tích chiến đấu anh dũng được Military Times ghi lại. Sau khi cho nổ một trái mìn định hướng (claymore) mở lối vào địa đạo bắn hạ hai lính địch và tiếp tục lục soát những đường hầm khác, địch quân còn lại ném về phía ông một trái lựu đạn. Ông Webb đã dùng thân mình che chở cho các đồng đội và bị thương nặng nhưng vẫn chiến đấu cho tới khi tiêu diệt hết kẻ thù trong các địa đạo.

Ông Jim Webb, 69 tuổi, có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam cuối cùng còn có thể ứng cử tổng thống. Gần nửa thế kỷ sau, những quân nhân Mỹ trong cuộc chiến tranh ấy nay đều đã ở lứa tuổi trên 70 và không còn trong thời gian hoạt động nhiều nữa.

Trong kỳ bầu cử tổng thống năm 2004 và 2008, hai ứng cử viên John Kerry và John McCain, cũng là hai thượng nghị sĩ, là các cựu chiến binh nổi tiếng. (HC)

Người Hoa đang đổ tiền mặt vào thị trường địa ốc Mỹ

Người Hoa đang đổ tiền mặt vào thị trường địa ốc Mỹ
Nguoi-viet.com

(CNBC) Từ những công trình phát triển đô thị tại thành phố Irvine nắng ấm của California, tới những tháp condo mới bóng loáng nhìn ra chân trời của Manhattan, New York, người Hoa đang đổ tiền mặt vào thị trường nhà ở tại Hoa Kỳ.

Theo Hiệp Hội Ðịa Ốc Toàn Quốc (NAR), hiện giờ người Hoa đứng đầu danh sách những người nước ngoài mua bất động sản trong nội địa Hoa Kỳ, và trong số đó gần nửa trả bằng tiền mặt, theo RealtyTrac, một công ty phân tích và mua bán bất động sản.


Gần một nửa người Hoa mua nhà trả bằng tiền mặt. (Hình minh họa: Getty Images)

Trong năm 2015, tính tới nay, khoảng 46% người Hoa mua nhà tại Mỹ bằng tiền mặt, tăng 229% so với một thập niên trước đây, trong khi tỉ lệ người mua nói chung trả bằng tiền mặt là 33%, tăng 65% so với một thập niên trước.

“Những người mua bằng tiền mặt thuộc mọi thành phần đang đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong thị trường nhà ở hiện nay so với 10 năm trước đây, và điều đó đặc biệt đúng đối với những người mua bằng tiền mặt là những người Hoa nói tiếng Quan Thoại, những người thường không có quốc tịch Mỹ,” theo ông Daren Blomquist, phó chủ tịch của RealtyTrac.

Ông nói: “Những người ngoại quốc mua bằng tiền mặt đã giúp gia tốc việc tăng giá nhà tại Mỹ trong mấy năm vừa qua, lý do là những người mua này thường không bị kềm chế bởi lợi tức như những người mua tại địa phương, thường phải vay tiền ngân hàng để mua.”

Sự bất ổn gần đây trong nền kinh tế của Trung Quốc và thị trường chứng khoán đã thúc đẩy thêm người mua nhà tới Hoa Kỳ.

Những người Hoa có con cái thuộc mọi lứa tuổi muốn con cái họ được theo đuổi một nền giáo dục tốt, từ tiểu học tới đại học. Ðó là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người Hoa mua nhà.

Người mua gốc Á Châu chiếm khoảng 35% mọi người ngoại quốc mua bất động sản tại Hoa Kỳ trong thời gian 12 tháng chấm dứt vào Tháng Ba, 2015, khi họ chi tiêu hơn $28 tỉ. Cho tới nay họ rất năng động trong các thị trường nhà đắt tiền, đặc biệt ở California và thành phố New York.

Theo bà Kathy Sloane, một địa ốc viên làm việc cho công ty Brown Harris Stevens ở Manhattan, nhiều người Hoa giàu có, thường đem theo con cái, muốn mua nhà ở New York. Họ muốn biết cách để con cái họ được thu nhận vào các trường học và làm cách nào để cha mẹ họ được chăm sóc sức khỏe.

Một vài người Hoa, nhưng chắc chắn không phải là tất cả, muốn những căn chung cư đắt tiền ở New York. Họ thường ưa nhà mới xây, như người ta thấy ở Irvine, California, nơi những nhà thầu xây dựng đang bán và ngay cả thiết kế nhà cho những người mua gốc Hoa.

Những người này không phải muốn chuyển tài sản ra ngoại quốc. Họ muốn thay đổi đời sống của họ và di chuyển ra khỏi Trung Quốc vì nhiều lý do khác nhau.

Giáo dục, y tế và triển vọng tăng giá nhà là những gì đang hấp dẫn những người mua gốc Hoa, trong khi cho tới nay họ thường nhắm vào những căn nhà đắt tiền, có thể các thị trường nhà vừa với túi tiền hơn như trong vùng giữa bờ biển Ðại Tây Dương sẽ bắt đầu chứng kiến nhu cầu gia tăng.

Tiền mặt là một lợi thế đặc biệt trong thị trường nhà đất eo hẹp ngày nay, và rõ ràng những người mua gốc Hoa ý thức điều đó. (n.n.)

Câu chuyện về nhà thơ Hữu Loan

Vài ngày gần đây, những tự sự của nhà thơ Hữu Loan, cha đẻ “Màu tím hoa sim nổi tiếng” đã tạo ra niềm xúc động lớn trong với cộng đồng mạng. Tự sự đớn đau này được chia sẻ rất nhiều trên Facebook tạo nên nhiều thổn thức. “Rất cảm động, vì sự chân thành, vì tình người, tính người. Và có thể hình dung cả bối cảnh một thời cuộc tao loạn. Mỗi số phận cá nhân đều chứa trong lòng nó những bi kịch của lịch sử” – (Kim Dung)

Những người yêu thơ tình, không ai không biết đến bài thơ “Màu tím hoa sim đầy xúc động”. Đằng sau đó là một câu chuyện còn sâu sắc hơn, đau đáu hơn của tác giả Hữu Loan.

alt

Nhà thơ Hữu Loan

Nàng có ba người anh

Đi bộ đội
Những em nàng, có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!

Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím 
áo nàng màu tím hoa sim 
Ngày xưa một mình 
đèn khuya 
bóng nhỏ 
Nàng vá cho chồng tấm áo 
ngày xưa… 

Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim …,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết 
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan

 Xin trích đăng những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:

“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. 

Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. 

Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. 

Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. 

Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…

Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. 

Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:

– Thầy có thích ăn sim không ?

Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.

– Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:

– Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! 

Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! 

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. 

Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. 

Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”. 

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. 

Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. 

Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. 

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..

Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! 

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…

Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. 

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. 

Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… 

Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời… từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều… Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!

Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý…

Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. 

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản…

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. 

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. 

Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . 

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. 

… Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc….

Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. 

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! 

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ…

Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. 

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.

Nhà thơ Hữu Loan

Những Trang Viết Giữa Cơn Mưa

Những Trang Viết Giữa Cơn Mưa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Thời đại đúng là của loài thú mang mặt người.

Tuấn Khanh

Ông bà mình từng dậy: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn.” Tôi không biết cái đơn vị đo lường (“một sàng”) này chứa được cỡ bao nhiêu sự khôn ngoan nhưng nếu các cụ nói thì gần 10 ngày qua tui chả học được thêm cái gì ráo trọi – nếu không có nét.

Hơn tuần rồi tôi không đi được đâu vì Cambodia mưa quá. Sáng mưa tầm tã, trưa mưa lai rai, chiều mưa xối xả, đêm mưa rả rích.

Từ California, nơi mà lâu nay Trời chả ban phát cho một giọt nước nào, vừa bước ra khỏi máy bay đã thấy phi trường Phnom Penh mù mịt trong mưa. Tui xúc động thiếu điều muốn khóc luôn. Thiệt là mát trời ông Địa!

Lâu quá, tui không được thấy mưa mà. Những trận mưa nhiệt đới ào ạt, hào phóng (cỡ này) có khác gì ở Việt Nam đâu. Cứ tưởng như là mình đã bước chân được tới cố hương rồi vậy.

Suốt đêm nằm nghe tiếng nước rào rạt đổ trên mái nhà sao mà thấy đã quá trời, quá đất. Mất cả ngàn Mỹ Kim tiền vé máy bay (hay hơn nữa cũng được) để chỉ được nằm nghe mưa rơi cả tuần như vậy cũng đủ khiến cho tui cũng hả hê, sung sướng, và mãn nguyện lắm rồi.

Tưởng vậy nhưng không phải vậy. Chỉ sau vài bữa mưa tối trời tối đất là tôi bắt đầu, thấp thoáng, nhìn thấy … quan tài. Ô té ra, y như ở quê mình, mưa quá xá thì Cambodia cũng sẽ bị lụt thôi.

Tuy “thế nước không lên” tới mông hay tới háng như ở Sài Gòn hay Hà Nội nhưng Phnom Penh cũng có chỗ ngập cỡ nửa bánh xe, còn thường thì cao hơn mắt cá.

Thế nước Cambodia cũng đang lên. Ảnh: cambodjakids

Cứ lò dò, bì bõm đi tìm quán nhậu trong mưa thì thế nào có bữa bị lọt chân vô lỗ cống, và lọi giò là cái chắc. Thôi thì có kiêng có lành. Tôi quyết định cứ ở yên trong nhà trọ, ăn mì gói, uống cà phê pha liền, hút thuốc lá vặt, và “chơi” với computer thôi.

Và đến tình cảnh này mới biết các cụ nhà ta đã bị thời thế bỏ lại rất xa. Chả cần phải đi đâu tôi vẫn học hỏi được đôi  điều thú vị từ vài trang nét:

Chuyện thứ nhứt là công an đã tìm ra thủ phạm đánh chết thiếu niên Đỗ Đăng Dư, như tin loan của báo Vnexpress và … toàn thể đồng nghiệp:

“Theo công an Hà Nội, khoảng 8h30 ngày 4/10, Dư, Bình, Trường và Đức Anh ăn sáng tại buồng giam. Theo lịch phân công, sau khi ăn xong Dư phải rửa bát cho các bị can cùng buồng. Do thấy rửa bát bẩn, Bình gọi Dư đến ngồi ở khu vực giữa 2 bệ xi măng nơi bị can ngủ tát 2 cái vào má trái, dùng chân trái đá 3-4 lần vào đầu nạn nhân theo hướng từ trên xuống dưới.

“Quá trình điều tra, ngày 8/10, Công an Hà Nội đã khởi tố bị can Vũ Văn Bình về tội danh Cố ý gây thương tích; đồng thời tổ chức khám nghiệm hiện trường.”

Té ra hung thủ là một thiếu niên cùng tù, chớ đâu phải mấy chú công an. Vụ này không hiểu sao vừa đọc tới đây tôi lại nhớ đến một câu tuyên bố xanh rờn của nhà văn Nguyên Ngọc: “Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang.”

Vậy mà tưởng đâu cái kiểu “đánh trộm, thụi ngầm và phi tang” chỉ dành riêng cho “bọn phản động bị các thế lực thù địch ngoài nước xúi giục chống phá nhà nước” thôi chớ. Ai dè chiến thuật này cũng áp dụng luôn cho đám nhóc con ở trong tù nữa. Thế mới biết chính sách của nhà nước ta thiệt là nhất quán.

Chuyện thứ hai (“Không Thể Cứ Trả Lời Theo Kiểu Kangaro”) cũng thú vị không kém, qua ngòi bút duyên dáng của Tiến Sĩ Tô Văn Trường:

Xem phim Úc hơi khó nghe hơn phim Mỹ nhưng cũng hiểu nội dung. Có người bạn lớn tuổi bảo rằng nói tới Úc lại hậm hực là cái dân Úc dùng tiếng Anh mà sao cái từ dầu hôi (dầu hỏa) cứ một mực gọi là Parafine (trong khi cả thế giới đều dùng từ này để chỉ sáp nến “sáp đèn cày”!

Thực tế, chẳng cứ gì dân Úc mà ngay cả dân “Anh rặc” cũng có từ sai toét tòe loe – đó là từ kangaroo (con chuột túi). Lần đầu tiên, có người Anh tới Úc, họ thấy con vật lạ, hỏi thổ dân bản địa và được trả lời “kangaroo”, họ bèn ghi vào tự điển tên loài vật này. Ai dè, tới mãi sau có người nghiên cứu thổ ngữ của dân bản địa thì mới hay rằng “kangaroo” nghĩa là : “tôi không hiểu” (ông nói gì) đã lỡ rồi nên con vật này đành mang cái tên “tôi không hiểu”. Đúng là “oan thị Kính”!

Ông T/S mở đầu bài viết đã có duyên (rồi) mà đóng lại còn bất ngờ và duyên dáng hơn nhiều: “Kết luận cho bài viết này là con đường Đại hội Đảng khóa XII đang muốn mở ra cho đất nước có tên gọi là “Kangaroo”!

Mà thiệt, đọc xong bản tin của RFA (“Bế Mạc Hội Nghị Trung Ương ĐCSVN Khóa Thứ 12”) sao tui thấy mọi chuyện ngó bộ mơ hồ và mù mịt quá hà:

“Chiều ngày hôm qua, hội nghị trung ương đảng cộng sản Việt nam khóa thứ 12 kết thúc.

Trong diễn văn bế mạc, ông Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng nói là ông đánh giá cao việc chuẩn bị công tác nhân sự của hội nghị này. Công tác nhân sự đó bao gồm các báo cáo nhân sự Bộ chính trị, Ban bí thư, và các chức danh chủ chốt từ đây đến đại hội đảng lần thứ 12 vào năm tới.

Ông Trọng nói thêm là Trung ương đảng đã thảo luận một cách dân chủ, công tâm và toàn diện về danh sách nhân sự lần đầu tiên được giới thiệu cho khóa 12, cùng với những phương án chọn lựa khác nhau.

Xin được nhắc lại là theo qui định hiện hành, các ủy viên trung ương đảng của khóa cũ không thể tự ứng cử cũng như nhận đề cử vào vị trí ủy viên trung ương của khóa mới.

Có một điều khác mà nhiều nhà quan sát chính trị Việt nam quan tâm theo dõi là liệu các vị lãnh đạo chủ chốt hiện thời của Việt nam là Tổng bí thư đảng, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch nước, và chủ tịch Quốc hội có tiếp tục giữ chức vụ sau đại hội đảng sắp tới hay không!

Ông Nguyễn Phú Trọng nói trong diễn văn bế mạc rằng Trung ương đảng đã thảo luận việc xem xét các trường hợp đặc biệt như vừa nêu để định ra tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh.

Điều đó cho thấy là có khả năng các vị lãnh đạo chủ chốt hiện nay có thể sẽ tiếp tục đảm nhiệm chức vụ hiện hành của mình trong thời gian tới.”

Nghĩa là “có thể” sẽ không có gì thay đổi ráo trọi. Và chuyện dài nhân sự của ĐCSVN thì tui cũng có nghe kể trước đó rồi, hơi dài dòng chút xíu:

Vừa qua, Ung Văn Khiêm cho tôi biết trước đây Sài Gòn là cứ địa vững bền của Duẩn và Thọ, nhưng đến nay nó đã gần như tuột khỏi hai ông. Khiêm cũng cho hay Thành uỷ Sài Gòn quyết hẩy đi bằng được hai người của Thọ trong Thành uỷ là Mười Hương và Mai Chí Thọ. Cái này có ý kiến của Duẩn không? Tôi đã hỏi và Khiêm lắc đầu, không rõ.

Tóm lại nhiều náo động quanh ghế Tổng bí thư. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà gần đây đâu đâu cũng kháo chuyện lý lịch Giáp có mấy vết to: xin học bổng sang Pháp học (kiểu Nguyễn Tất Thành xin vào trường Hành chính quốc gia Pháp), con nuôi mật thám Marti. Vào đảng không có ai giới thiệu, nịnh Cụ Hồ để được Cụ Hồ o bế. Ngay tướng Giáp có lẽ cũng không hiểu tại sao ông lại bị trù dữ đến như vậy?

Một buổi sáng, Lê Liêm và tôi đạp xe qua Uỷ ban nhân dân Hà Nội và Bưu điện. Tôi hỏi Lê Liêm: Anh trông mặt tiền Uỷ ban nhân dân mới kia có giống cái máy chém không? Liêm ngước nhìn xong nói: Ờ, nom thế mà thấy giống máy chém thật. Rồi chợt thở dài hỏi tôi có nghe thấy người ta bôi nhọ anh Giáp không? Tôi nói có. Liêm nói tôi đã trực tiếp hỏi anh Giáp. Anh Giáp nói cũng nghe thấy. “Thế anh im à”, Liêm hỏi. Giáp nói Giáp đã gửi ba thư lên cho Bộ chính trị. Xin cho Giáp gặp để làm rõ các vấn đề. Bộ chính tri im. Thư thứ hai đề nghị Bộ chính trị cho ngăn lại những lời đồn bậy nhưng Bộ chính trị kiên trì miễn đối thoại. Lại cái thứ ba đề nghị Bộ chính trị cho Giáp gặp, và lại tét.

Lê Liêm bảo tôi: Thấy uy tín anh Giáp trong dân và cán bộ còn lớn nên họ bôi nhọ anh ấy.

Đến đầu Tràng Thi, Lê Liêm bảo tôi: Anh nghe tôi nói cái này xem để biết nhé… (im một lát, mắt buồn, hạ giọng nói tiếp), mấy hôm trước, thằng con mình (tôi không nhớ là Thao hay Công nữa) nó bảo tất cả tại bố mà nên khổ thế này. Mình tưởng nó bảo tại mình vướng xét lại. Nhưng rồi nó nói tiếp. Thì ra thế này. Tại bố theo một dúm các ông ấy tha về đất nước cái chủ nghĩa nó đã bịt miệng dân không cho ăn lại còn bóp cả mồm dân không cho nói… Thì ngay đến bố đấy mà có được ăn được nói đâu!

Từ đấy đến ngã tư Điện Biên Phủ – Hoàng Diệu, gần tới nhà Lê Liêm, chúng tôi im lặng hoàn toàn.

Chiều nay, sau khi bàn chuyện tại sao Khiêm vào lại đảng, tôi nói lại chuyện này cho Minh Việt.

Việt nghe rồi cúi xuống. Nhân sự ư? Bận tâm với nó làm gì! Thì đó, con súc sắc tung ra, không nhất thì nhị, không nhị thì tam, không tam thì tứ, đều cùng một xưởng tiện gọt nên, đêu cùng tay một chủ sòng bôi đen tô đỏ rồi ném ra chiếu. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Té ra từ thời Lê (Lê Duẩn, Lê Đức Thọ…) qua tới thời Nguyễn (Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Phú Trọng…) vẫn cũng chỉ là cái “xưởng tiện” ấy, và con “súc sắc” ấy thôi. Bận tâm với nó làm gì!

Cũng định bỏ lơ luôn thì lại nghe tiếng trách từ một ông bạn đồng nghiệp trẻ, Bùi Thanh Hiếu:

“Với cơ cấu diễn ra như trên cho thấy không có gì thay đổi đáng kể trong đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam. Sự trông chờ ĐCSVN trao trả dân chủ, quyền lực cho người dân tự quyết chỉ là giấc mơ hão huyền. Khi mà việc nhân sự cấp cao lãnh đạo đất nước còn do đảng CS quyết định trong bóng tối với nhau êm ấm, người dân thờ ơ không quan tâm, không phản đối. Đương nhiên chả có lý gì đảng CSVN sẽ không có đại hội đảng khoá 13, 14, 15 hay 20…”

Đúng là cái thằng phải gió. Đã định đội mưa chạy (đại) đi mua một chai gì đó về uống cho đến say rồi ngủ mà nó lại mỉa mai như thế khiến mình cũng phải cảm thấy có đôi chút tâm tư. Nỗi niềm tâm tư, giữa một buổi chiều mưa, của một người (viễn xứ) mà nhà không có rượu!

Mùa mưa ngập và đời hàng rong

Mùa mưa ngập và đời hàng rong

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
RFA

10122015-hanoi-rain-season-n-stree-vend.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

 Hà nội mùa mưa

Hà nội mùa mưa

 

 Những người buôn gánh bán bưng trái cây trên thủ đô, những người đạp xe cọc cạch từ con phố này qua con phố khác, từ ngày này qua tháng nọ, bươn bả kiếm cơm, những người bán quán vỉa hè cả nhà trông chờ vào nồi nhưn phở hay tủ bánh mì… Tất cả họ đang gặp khó khăn trong mùa mưa này, khi thành phố Hà Nội thi thoảng tự biến thành những dòng sông uốn lượn, người dân tự biến thau nhựa, thùng nhựa thành thuyền để bơi và nhiều người bán trái cây lang thang bắt cá trên phố để cải thiện bữa cơm. Chuyện như nói đùa nhưng lại rất thật trên thành phố Hà Nội.

Ế ẩm, buồn và lo…

Một người tên Lò gốc Hưng Yên, buôn trái cây tại thành phố Hà Nội, mỗi sáng, bà và những người buôn bán trái cây khác cùng chở trái cây ra đứng ở góc đường Yết Kiêu, gần tòa soạn báo Công an thủ đô để bán, quãng đường đi từ nhà trọ đến điểm bán cho bà nhiều trải nghiệm, bà chia sẻ: “Ngày bình thường thì cũng có khách nhưng mà trời mưa thì hàng bán kém lắm, không có khách, ế lắm! Ngày có khách thì bán được năm chục nghìn, nhiều thì trăm nghìn, ngày hiếm khách thì có khi không được đồng nào, khó lắm!”

Theo bà Lò, mùa mưa tới là mùa ế ẩm của nhiều loại hàng hóa bán dạo, không riêng gì trái cây mà hầu hết các loại hàng bán rong đều gặp khó khăn, từ việc di chuyển cho đến số lượng người mua. Bởi thường thì những ngày trời mưa, các gia đình hay chọn cách cùng nhau đi đến siêu thị vào cuối tuần để mua sắm hàng loạt và để dành dùng cho cả tuần, chỉ hiếm họa lắm mới có giới lao động nghèo mua hàng dạo.

Rất tiếc là giới lao động nghèo hiếm có ai sống ở trung tâm Hà Nội, hoàn toàn không có. Chính vì vậy, những ngày mưa, hầu hết người bán rau hành hay trái cây phải tản về các khu ngoại ô để bán. Và đây là khoảng thời gian đáng sợ nhất đối với họ. Vì đường sá mưa lạnh, có khi nước ngập đến gối, thậm chí có ngày nước ngập đến bụng, rau cải, trái cây bị ngâm trong nước dơ theo người, mỗi khi có xe lớn chạy qua, từng đợt sóng đánh ập vào hàng hóa khiến trái cây hay rau cải trôi lỏm ngỏm, lại phải đi nhặt từng bó rau, từng trái cam, trái táo trong dòng nước đục ngầu.

Và những bó rau, trái cây như vậy phải tìm nguồn nước sạch để rửa trở lại trước khi bán nhưng không mấy tự tin. Nhiều khi bà muốn bỏ đi nhưng nếu bỏ đi thì mất vốn, mà bán thì lại áy náy lương tâm. Nhiều lúc gặp một người lao động nghèo, cầm đồng tiền còn xoắn tròn do thói quen bó dây thun, lựa tới lựa lui rồi lựa trúng ngay những trái cam vừa rớt xuống nước để mua vì nhìn nó bóng bẩy, sạch sẽ, mặc dù rất áy náy nhưng bà cũng không thể nói thật với họ, xem như nhắm mắt làm liều vì chén cơm manh áo.

Cũng theo bà Lò, hầu hết người bán hàng rong đều là dân tỉnh đến từ Hưng Yên, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Ninh Bình, thậm chí Bắc Kạn tìm lên Hà Nội buôn thúng bán mẹt với ước mơ đời bớt khổ. Riêng bà Lò, với người chồng nằm liệt giường do bệnh tai biến não, một người mẹ già và ba đứa con, đứa đầu đi làm thợ hồ, hai đứa nhỏ còn học phổ thông, bà và đứa con trai đầu phải làm lụng cật lực để đắp đổi qua ngày cho cả nhà.

Trung bình, những ngày trời nắng, bà Lò kiếm được từ một trăm đến một trăm rưỡi ngàn tiền lãi từ việc bán trái cây hoặc rau đậu, bữa nào trúng lắm thì kiếm được chừng hai trăm ngàn đồng nhưng hiếm có ngày nào trúng như vậy. Mỗi ngày, sau khi mua thức ăn, trả tiền điện, tiền nước và tiền nhà trọ, bà dư được từ bốn chục ngàn đồng đến bảy chục ngàn đồng để gởi về quê lo cho gia đình.

Một cụ bà ngồi bán rau bên đường

Một cụ bà ngồi bán rau bên đường (RFA)

Bà Lò nói như cười mà như khóc rằng bà cũng là người trong số hiếm hoi những lao động nghèo tỏ ra mừng rỡ khi đường ống sông Đà bị vỡ. Vì ngày đó bà không phải tốn tiền nước cho việc giặt dũ, tắm táp, chỉ cần chờ đêm đến, đạp xe ra bờ hồ Tây, tìm chỗ để giặt và tắm luôn một lượt là xem như thành công, tiết kiệm được ít nhất cũng mười ngàn đồng.

Nhưng bà Lò cũng nói rằng bà không mong chi đường ống sông Đà bị vỡ nữa, bởi vì khi thiếu nước xài thì người ta cũng không có nước để rửa rau hay nấu canh, bán rau hay bán trái cây gì cũng ế ẩm vì đường ống vỡ. Chuyện tưởng như không liên quan nhưng lại rất quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau cả.

Công an rượt, chuyện cơm bữa

Một người bán trái cây khác tên Diễn, cũng thường đứng ở góc đường Yết Kiêu, Hà Nội, chia sẻ: “Mưa gió thì người ta đi lại khó khăn, ít người đi lại, hàng bán được có 50%, một nửa thôi. Mưa gió đi lại khó khăn, kinh tế nữa, phải có tiền thì mới mua được nhiều. Khó khăn là khó khăn chung, mưa gió bao giờ mà không khó khăn chung, người lao động ai cũng khó hết, phải có tiền thì mới tiêu thụ được hàng hóa chứ, chỉ có công nhân viên chức mới có lương bổng, thu nhập đều nó khác!”

Theo ông Diễn, bán trái cây bây giờ khó hơn trước đây rất nhiều, hơn nữa, đang là mùa mưa, mọi thứ cứ nhặng xị cả lên. Khi đường sá bị ngập, việc đi lại khó khăn, những con đường nào ráo nước trở thành nơi tập kết của lực lượng giao thông, góc ngã ba Yết Kiêu cũng không ngoại lệ. Mà khi công an giao thông hay công an khu vực đến đây thì cơ hội đứng bán trái cây, bán rau hay bán hoa hầu như không có. Người bán lo mà chạy trước khi họ ra tay.

Hoặc là bị hất đổ trái cây, tịch thu phương tiện làm ăn, hoặc là bị rượt đuổi chạy bán sống bán chết, hoặc là bị phạt với mức tiền rất nặng, chiếm đến bốn, năm ngày buôn bán. Nói chung, gặp công an là xem như tuần đó quá đen đối với người buôn bán hàng rong. Đối với con người, nhất là người lao động chân chính, buôn thúng bán mẹt để nuôi con ăn học mà đe nẹt, quát tháo, rượt đuổi, giật gánh… Tất cả những hành vi đó không hề có chút tính người.

Mùa mưa này, có biết bao nhiều gia đình phải bó gối trông chờ vào gánh rau, xe trái cây của những lao động nghèo giữa thủ đô. Và có bao nhiêu người trong số họ đủ sức khỏe để lội qua những con phố ngập nước, lội miệt mài ngày này qua ngày khác để kiếm cơm cho gia đình?!
Đây là một câu hỏi buồn cho những người bán hàng rong giữa lòng Hà Nội.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Việt kiều Mỹ bị đập đầu chết trong nhà giữa Sài Gòn

Việt kiều Mỹ bị đập đầu chết trong nhà giữa Sài Gòn
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Một ông Việt kiều Mỹ về thuê nhà sống một mình ở quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, bị kẻ thủ ác dùng búa đập đầu giết chết mà không ai hay biết.

Thanh Niên loan tin, trưa 13 tháng 10, thi thể một người đàn ông đang trong quá trình phân hủy mạnh được phát hiện tại một căn nhà trên đường Phan Ðình Phùng, phường 1, quận Phú Nhuận.

Căn nhà nơi xảy ra vụ án mạng. (Hình: Thanh Niên)

Theo tin điều tra ban đầu cho biết, nạn nhân là Huỳnh Công Anh (68 tuổi), Việt kiều Mỹ về thuê nhà sống một mình tại đường Phan Ðình Phùng hơn 2 năm nay. Thường ngày, ông Anh vẫn ra vào hẻm 270 mua đồ ăn, thức uống…

Vào sáng 13 tháng 10, một người giao báo hàng ngày cho ông cảm thấy lạ vì đã 4 ngày nay ông Anh không lấy báo, nên đã thông báo cho chủ nhà trọ ở ngay nhà cạnh bên. Sau đó, chủ nhà phát hiện có mùi hôi thối liền báo công an. Khi công an đến hiện trường kiểm tra thì thấy thi thể nạn nhân đang trong quá trình phân hủy mạnh.

Một cán bộ trong đoàn khám nghiệm hiện trường cho biết, ông Anh được phát hiện chết tại lầu 1 căn nhà 3 tầng đã thuê trong tư thế nằm dưới sàn nhà, đầu chảy máu.

Tại hiện trường có một số dấu hiệu nghi vấn như xuất hiện vết máu trên công tác đèn, ở bậc cầu thang có một đôi dép nữ dính máu và một chiếc búa, một số đồ đạc trong nhà bị xáo trộn…

Nhiều nghi vấn có thể ông Việt kiều bị giết chết để cướp của. Hiện nguyên nhân cái chết của ông Anh đang được cơ quan chức năng điều tra. (Tr.N)

Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước

Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước

Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.

Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.

Nguyễn Hưng Quốc

13.10.2015

Trong bài “Vietnam’s rising repression”, đăng trên tờ New Mandala mới đây, giáo sư Zachary Abuza, một nhà Đông Nam Á học, cho rằng những sự đàn áp của chính quyền Việt Nam đối với những người bất đồng chính kiến càng lúc càng gia tăng và càng lúc càng tinh vi. Ông tóm tắt những sự đàn áp ấy vào năm chiến thuật chính:

Thứ nhất, trấn áp những luật sư thường đứng ra bảo vệ và bào chữa cho những người đối kháng bị chính quyền bắt giữ và đem ra xét xử. Tiêu biểu nhất cho những luật sư này là Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài và Võ An Đôn.

Thứ hai là sử dụng những tội danh khác, phổ biến nhất là tội danh trốn thuế, để đánh lạc hướng dư luận là ở Việt Nam không hề có tù nhân lương tâm.

Thứ ba là sử dụng công an chìm để hành hung những nhà hoạt động dân chủ và những người hay lên tiếng phê phán chế độ, kể cả các nhà báo đang tiến hành các cuộc điều tra việc công an đàn áp dân chúng. Theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền, riêng trong năm 2014, đã có tới 14 nhà báo bị hành hung.

Thứ tư là gia tăng kiểm duyệt trên mạng lưới internet. Việt Nam được xem là quốc gia có hệ thống kiểm duyệt truyền thông khắt khe nhất thế giới.

Cuối cùng, thứ năm là tập trung bóp chết những trang blog có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.

Theo tôi, trong năm chiến thuật được Zachary Abuza nêu lên ở trên, hai chiến thuật sau cùng có thể được gộp làm một: Trấn áp những tiếng nói đối kháng trên mạng lưới internet. Có ba hình thức trấn áp chính: Một là dựng tường lửa, đặc biệt với các trang web đặt trụ sở ở hải ngoại; hai là dùng tin tặc để tấn công các trang web thù nghịch; và ba là bắt bớ những blogger có nhiều ảnh hưởng như trường hợp của Trương Duy Nhất (2 năm tù), Phạm Viết Đào (15 tháng tù), Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh (bị bắt ngày 5 tháng 5 năm 2014, chưa xét xử) và Nguyễn Quang Lập (bị bắt và tạm giam 2 tháng, đã thả).

Ngoài các chiến thuật mà Zachary Abuza nêu trên, tôi nghĩ còn một chiến thuật khác chính quyền Việt Nam gần đây sử dụng nhiều để đàn áp những người bất đồng chính kiến: Trục xuất họ ra khỏi đất nước, chủ yếu là đẩy họ sang Mỹ. Cho đến nay, họ đã trục xuất bốn người: nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ (ngày 23 tháng 2 năm 2011), luật sư Cù Huy Hà Vũ (ngày 7 tháng 4 năm 2014), blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (ngày 21 tháng 10 năm 2014) và gần đây nhất, blogger Tạ Phong Tần (ngày 19 tháng 9 năm 2015).

Việc đưa các nhà bất đồng chính kiến từ nhà tù đi thẳng sang Mỹ có ba lợi ích cho họ: Một là đáp ứng được các yêu sách từ phương Tây, chủ yếu là từ Mỹ; hai là chứng tỏ họ có tinh thần nhân đạo, và ba là để vô hiệu hoá những nhà bất đồng chính kiến ấy. Hai lợi ích đầu tương đối dễ thấy. Tôi chỉ xin phân tích lợi ích thứ ba.

Trên nguyên tắc, sống ở nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, các nhà bất đồng chính kiến ấy sẽ được tự do hơn. Họ muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, không ai cấm cản được họ cả. Hơn nữa, họ cũng được sự ủng hộ của nhiều người trong cộng đồng, nhờ thế, họ dễ tập hợp thành một lực lượng với những tầm vóc nhất định. Nhưng tự do cũng là một con dao hai lưỡi. Lưỡi kia của tự do là: người ta mất tư cách nạn nhân, những người bị đày ải trong lao tù của bạo chính. Mất tư cách nạn nhân, người ta cũng mất cả tư cách là anh hùng bởi anh hùng chỉ được thể hiện trong điều kiện đối diện với thử thách và đặc biệt, với sự áp bức. Sống ở hải ngoại, tự do phơi phới, không ai có thể anh hùng hơn ai được. Khái niệm anh hùng của những người bất đồng chính kiến trở thành một thuộc tính của quá khứ, một thứ vang bóng một thời. Hơn nữa, sống ở nước ngoài, người ta cũng mất cả tư cách chứng nhân; tiếng nói của họ, do đó, cũng mất sức nặng của người trong cuộc.

Nói cách khác, mất cả ba tư cách nạn nhân, anh hùng và chứng nhân, người ta mất tất cả. Họ trở thành bình thường như bao nhiêu người bình thường khác. Họ lại thua những người bình thường khác ở chỗ: Họ ra ngoại quốc muộn hơn, gặp nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập vào cuộc sống mới hơn, bởi vậy, với một mức độ nào đó, họ cũng mất thế giá hơn. Đó là chưa kể trong môi trường tự do ở hải ngoại, người ta rất dễ bộc lộ những sự nghi ngờ hay đố kỵ nhắm vào những người mới từ Việt Nam sang: Họ là “tay sai” hay “sứ giả” của Việt Cộng sang phá hoại cộng đồng. Trường hợp của Nguyễn Chí Thiện trước đây là một ví dụ. Lúc còn trong nước, ông là một nhà thơ anh hùng; sang Mỹ, ông chỉ còn là một nhà thơ. Không những vậy, ông còn đối diện với những tin đồn thất thiệt, trong đó, có tin đồn ông chỉ là một Nguyễn Chí Thiện… giả.

Trong bài “Chuyện Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ” đã đăng trên blog này năm ngoái, tôi có nêu lên kinh nghiệm của nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Lúc còn ở trong nước, các tác phẩm văn học cũng như các bài viết về chính trị của Dương Thu Hương được đón nhận nhiệt liệt. Từ năm 2006, bà sang sống hẳn ở Pháp. Sống ở đâu thì Dương Thu Hương cũng vẫn là Dương Thu Dương thôi. Vẫn thông minh, sắc sảo, thẳng thắn và tài hoa. Không có gì thay đổi. Nhưng rõ ràng là sự tiếp nhận của những người chung quanh, từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng quốc tế, đã thay đổi: Bà chỉ còn là một nhà văn chứ không phải nhà văn đối kháng nữa. Với bà, người ta hờ hững dần. Và bà cũng im lặng dần.

Mà không phải chỉ có Dương Thu Hương. Lớn hơn Dương Thu Hương rất nhiều, nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn chương năm 1970, bị trục xuất khỏi Nga vào năm 1974; và sau một thời gian ngắn sống ở Tây Đức và Thụy Sĩ, ông được mời sang Mỹ. Ông định cư ở Mỹ cho đến năm 1994, khi chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Nga, ông mới về nước. Trong gần 20 năm ở Mỹ, Solzhenitsyn chỉ sống một cách lặng lẽ ở một địa phương khuất lánh heo hút. Trừ sự ồn ã ở vài năm đầu, sau đó, dường như người ta quên mất ông, hơn nữa, có khi còn bực bội vì ông. Một số quan điểm của ông, lúc còn nằm trong nhà tù Xô Viết, được xem là dũng cảm; lúc đã sống ở Mỹ, ngược lại, lại bị xem là cực đoan.

Cả Solzhenitsyn lẫn Dương Thu Hương đều không phải là những người làm chính trị. Họ chỉ là những nhà văn, khi còn trong nước, được xem là đối kháng. Nhưng ngay cả khi là một nhà văn, người ta còn không được nghe, huống gì chỉ là một người hoạt động chính trị? Cơ hội để được nghe chắc chắn sẽ hiếm hoi hơn nhiều.

Bởi vậy, việc trục xuất những người bất đồng chính kiến ra khỏi nước được xem là một cách vô hiệu hoá họ. Chiến thuật này đã từng được Liên Xô sử dụng thường xuyên trong suốt thời chiến tranh lạnh.

Bây giờ đến lượt Việt Nam.

Hình ảnh chàng trai Kalangnalong quỳ gối cảm tạ công ơn nuôi dưỡng của cha

 Ảnh của Man Nguyen.

Man Nguyen 

 Hình ảnh chàng trai Kalangnalong, sinh viên vừa tốt nghiệp trường Đại học Chulalongkorn danh tiếng của Thái Lan mặc bộ đồ cử nhân chạy tới trước xe rác của cha quỳ gối cảm tạ công ơn nuôi dưỡng của ông được lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội khiến cộng đồng xúc động.

Kalangnalong là tân cử nhân mới tốt nghiệp trường Đại học Chulalongkorn danh tiếng của Thái Lan. Cha của Kalangnalong là một người lái xe chở rác. Lúc còn nhỏ, Kalangnalong thường hay mặc cảm vì công việc của cha mình và đôi khi cậu cảm thấy mất mặt khi thấy ông không được bảnh bao, phong độ như cha của các bạn khác.

Thế nhưng càng lớn, Kalangnalong lại càng khâm phục người cha mới học hết lớp 4 của mình. Ông luôn dành tất cả những gì tốt đẹp cho con trai, luôn nỗ lực làm việc thật chăm chỉ để có tiền cho con ăn học đầy đủ, để con không bị thua bạn kém bè.

Kalangnalong luôn biết ơn cha vì ông đã dành tất cả những điều tốt đẹp nhất cho mình.
Biết được nguyện vọng lớn nhất của cha là thấy con trai thi đỗ Đại học, Kalangnalong tự nhủ phải không ngừng phấn đấu và chàng trai đã thi đỗ vào trường Đại học danh tiếng hàng đầu Thái Lan. Khi nhận được tin báo Kalangnalong trúng tuyển vào trường Chulalongkorn, cha của cậu đã không kìm được những giọt nước mắt hạnh phúc. Sau đó, người cha già lại càng cố gắng hơn nữa để kiếm đủ tiền nuôi con suốt 4 năm Đại học.
Vào ngày lễ tốt nghiệp, Kalangnalong đã mặc nguyên bộ đồ cử nhân chạy đến trước chiếc xe chở rác của cha và quỳ xuống bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của ông.

Hình ảnh chàng trai trẻ mặc bộ đồ cử nhân quỳ gối cảm tạ công ơn trời biển của cha trước chiếc xe chở rác của ông hiện đang được lan truyền mạnh mẽ trên các trang mạng xã hội khiến cộng đồng không khỏi xúc động nghẹn ngào.

Tân cử nhân Kalangnalong vô cùng thành kính quỳ gối cảm tạ công ơn nuôi dưỡng của cha trước chiếc xe chở rác của ông.

Đại học Chulalongkorn ở Bangkok là trường Đại học cổ nhất Thái Lan và từ lâu nay vẫn được xem là một trong những ngôi trường danh tiếng nhất Thái Lan. Trường Đại học gồm có 20 khoa này được xem là trường tốt nhất và tuyển chọn nhất Thái Lan, đây là nơi thu hút các học sinh giỏi hàng đầu Thái Lan.
Đình Đình
Theo Trí thức trẻ

Những bạn tôi từ miền đất Quảng Ngãi

Những bạn tôi từ miền đất Quảng Ngãi

 Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tôi sinh trưởng tại tỉnh Nam Định trong vùng đồng bằng sông Hồng thuộc miền Bắc. Nhưng từ năm 1954 lúc đến tuổi 20, thì di cư vào miền Nam và lập nghiệp ở Sài gòn cho đến ngày qua định cư bên nước Mỹ kể từ năm 1996.

Từ trên 60 năm nay, tôi có duyên quen biết gắn bó với nhiều bạn hữu xuất thân từ tỉnh Quảng Ngãi là một khu vực mà theo vị trí địa lý, thì nằm ở giữa khỏang cách từ Nam Định tới Sài gòn.

Nay nhân dịp đầu xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những kỷ niệm thật dễ thương với một số trong những người bạn thân thiết đó, lần lượt như sau đây.

I – Luật sư Bùi Chánh Thời.

Anh Thời là một sinh viên học chung lớp với tôi tại Đại học Luật khoa Sài gòn bắt đầu từ năm 1955 và đến năm 1958, thì chúng tôi cùng tốt nghiệp văn bằng Cử nhân Luật khoa. Sau đó, chúng tôi cùng hành nghề luật sư nên vẫn thường gặp nhau nơi pháp đình Sài gòn. Vào giữa thập niên 1960, anh Thời mở chung văn phòng luật sư với anh bạn đồng nghiệp Đòan Ý cũng là một đồng môn với chúng tôi.

Anh Thời lập gia đình sớm, ngay từ cái thời còn là sinh viên, anh nói đặc giọng Quảng ngãi nghe hơi nặng, mà người bạn đời của anh là chị Thân Thị Tố Tâm thì lại nói giọng Huế nghe thật là du dương. Trong khi phần đông sinh viên chúng tôi còn phải đi xe đạp, thì anh Thời đã có xe hơi để thường chở chị ấy đi dậy học tại trường Gia Long rồi.

Trước năm 1975, luật sư Thời là một nhân vật khá nổi tiếng không những với nghiệp vụ biện hộ cho các thân chủ trước các tòa án, mà anh còn tham gia việc giảng dậy về luật pháp tại Đại học Huế. Về chính trị, anh cũng tham gia sinh họat thật sôi nổi cùng với các bạn có chung một lập trường đối lập được gọi là thành phần thứ ba. Giới báo chí liệt kê anh vào nhóm thân với khối Phật giáo Ấn Quang – mà có người còn nói là anh Thời đã có thời gian sinh sống trong một ngôi chùa ở miền Trung. Hồi còn là một học sinh ở Huế, anh Thời đã nổi tiếng với những bài thơ được nhiều bạn trẻ ưa thích. Anh lấy bút hiệu là Như Trị – cùng thời với nhà thơ Tạ Ký nữa. Anh quen nhiều với anh Cao Huy Thuần là bạn cùng học luật với chúng tôi. Đó là một trí thức khá nổi tiếng mà đã qua dậy học và định cư ở Pháp từ lâu.

Thế nhưng sau 1975, mọi họat động chuyên môn của giới luật sư chúng tôi cũng như lọai sinh họat chính trị nói trên thì đều bị ngưng trệ tất cả. Và cũng giống như đại đa số những bạn đồng nghiệp khác, luật sư Thời đã không còn có cơ hội thi thố tài năng đang độ chín mùi của mình nữa. Anh sống âm thầm kín đáo lặng lẽ, thu hẹp sinh họat trong phạm vị nhỏ bé của riêng gia đình mình mà thôi.

Chẳng bao lâu sau, anh chị Thời lại còn gặp phải một tai họa thật là não nề đau đớn. Đó là vào năm 1978 – 79, anh chị gửi hai cháu nhỏ đi vượt biên cùng với gia đình anh chị Luật sư Nguyễn Hữu Lành trong chuyến tàu có nhiều nhân vật tên tuổi khác ở miền Nam. Ấy thế, mà con tàu bị biệt tăm giữa biển khơi, anh chị không bao giờ được biết tung tích của hai đứa con của mình ra sao nữa. Để rồi sau đó, cả hai anh chị cũng phải liều mình đem một cháu út ra đi và lần này anh chị đã gặp may mắn mà đến định cư ở Australia.

Vào cuối năm 2011, tôi đã có dịp đến thăm gia đình anh chị Thời tại thành phố Canberra là thủ phủ của Liên bang Australia. Sau mấy chục năm gặp lại nhau, cả hai chúng tôi đều mừng mừng tủi tủi, thật là cảm động chuyện trò trao đổi tin tức về một số bạn hữu thân thiết đã từng sát cánh với nhau bao nhiêu năm xưa ở quê nhà Việt nam. Tôi nhận thấy anh chị đã đạt tới tình trạng trầm lắng bình thản sau bao nhiêu nghịch cảnh sóng gió cuộc đời – đặc biệt là thái độ an nhiên tự tại để tiếp tục sống bên nhau trong những ngày tháng của tuổi xế chiều.

Hai anh bạn trẻ cùng đi với tôi bữa đó, thì xưa kia cũng đã từng là học trò của luật sư Thời, nên họ đều nhắc lại những kỷ niệm thật sâu đậm với vị thày khả kính thuở ấy. Và rõ ràng cuộc trùng phùng này đã làm sống lại cái tình cảm thân thương và niềm an ủi chân thật giữa hai phía anh chị Thời với ba người chúng tôi vào một ngày mùa hè ở Úc châu cuối năm 2011 vậy.

II – Thày Thích Tâm Quang.

Bắt đầu từ năm 1966, lúc tôi giữ nhiệm vụ Quản lý chương trình phát triển quận 6 Sài gòn, thì hay có dịp gặp gỡ trao đổi với Thày Tâm Quang là một tu sĩ từ miệt Quảng Ngãi vào làm việc Phật sự ở khu vực Phú Lâm gần với ngã ba Cây Da Xà. Ông thày còn rất trẻ cỡ trên dưới tuổi 25, nhưng có sức làm việc bền bỉ nhẫn nại ít ai sánh kịp. Ông không lo xây cất chùa, mà lại dồn hết nỗ lực vào việc mở trường học cho các em nhỏ tại địa phương có nhiều gia đình lao động nghèo khó. Và ngòai ra thì đi giúp những nơi có nhiều nạn nhân chiến cuộc đến tạm cư.

Với thái độ cởi mở hồn nhiên, ông đi tiếp xúc với nhiều giới chức tại Bộ Xã Hội cũng như tại những cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế và tạo được mối thiện cảm sâu xa của nhiều nhân vật đặc trách về công tác xã hội ở Sài gòn thời kỳ trước năm 1975. Nhờ có sự tín nhiệm đó, mà mỗi khi ông thày cần đến dụng cụ huấn nghệ hay vật phẩm gì để giúp đồng bào, thì các cơ quan xã hội này luôn sẵn sàng cung cấp cho thày lãnh nhận để đem phân phối lại cho bà con nạn nhân thiên tai bão lụt hay nạn nhân chiến cuộc tại các địa phương xa xôi hẻo lánh.

Qua sự giới thiệu của thày Tâm Quang mà tôi có dịp gặp gỡ quen biết với Thượng Tọa Thích Hồng Ân là vị sư phụ của ông và cũng là bậc tu sĩ cao cấp nhất tại Quảng Ngãi. Và vào năm 1972, nhân chuyến đi thăm các cơ sở cứu trợ nạn nhân chiến cuộc tại miền Trung, tôi đã có dịp đến thăm viếng ngôi chùa trên núi Thiên Ấn là cơ sở tôn giáo lâu đời mà hồi ấy do Thày Hồng Ân phụ trách trông coi. Tôi vẫn còn nhớ ở phía chân núi còn có mộ phần của nhà ái quốc Hùynh Thúc Kháng được bà con ở địa phương chung nhau xây dựng và bảo trì khá tươm tất tại đây. Quả thật địa danh “Núi Ấn, Sông Trà” là một thắng cảnh đặc trưng nổi bật của tỉnh Quảng Ngãi – tức là núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc.

Và cũng qua thày Tâm Quang mà tôi còn quen biết được cả ba người anh em đều là những nhân vật có tên tuổi ở Quảng Ngãi nữa. Đó là các anh Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Diễn và Nguyễn Văn Hàm. Cả ba anh đều đi dậy học, viết văn viết báo, làm thơ. Chỉ có anh Diễn ở lại Quảng Ngãi mà nay đã qua đời. Còn anh Xuân và Hàm đều sinh sống lâu năm ở Sài gòn.

Tôi còn rất nhiều kỷ niệm với thày Tâm Quang qua những chuyến đi công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc ở Bình Tuy, Bà Rịa, Long Khánh v.v… Thông thường, thày luôn được Thượng Tọa Thích Quảng Long hồi đó đảm trách Tổng Vụ Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cho mượn xe và cả tài xế để chuyên chở đi khắp nơi thăm viếng úy lạo đồng bào đang phải lánh nạn trong các khu tạm cư hoặc di chuyển từ vùng đất Quảng Trị vào miền Nam.

Sau 1975, mặc dầu gặp nhiều khó khăn, chúng tôi vẫn có dịp gặp lại nhau, thường là thày Tâm Quang đến thăm tôi tại nhà và cho biết tin tức của nhiều bà con bạn hữu khác. Quả thật, tình cảm thân thiết giữa chúng tôi mỗi ngày càng thêm bền chặt, gắn bó lâu bền. Là người tận tâm chăm sóc cho giới bình dân lao động theo đúng tinh thần từ bi hỉ xả của Đức Phật, thày Tâm Quang cũng còn có thái độ cởi mở phóng khóang và thuận thảo đối với giới tu sĩ và tín đồ Công giáo và Tin lành nữa.

Tôi thật nhớ câu nói của thày đã nói với tôi từ gần 50 năm trước, đó là: Người tu luyện theo giáo l‎ý nhà Phật thì luôn tìm cách thực hành phương châm này “Tự độ để độ tha. Tự giác để giác tha”.

Mới đây vào năm 2011 – 2012, thày Tâm Quang lại có dịp qua Mỹ và chúng tôi lại gặp nhau nhiều lần để hàn huyên tâm sự ngay tại Quận Cam ở California. Thày cũng đến thăm Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu tại thành phố Amarillo tiểu bang Texas và đã có mặt cùng với người thân trong những giờ phút cuối cùng của Bác sĩ Phiêu vốn là người bạn tâm huyết lâu năm của thày.

III – Một số người bạn khác nữa xuất thân từ Quảng Ngãi.

Dĩ nhiên là tôi còn quen biết nhiều người quê ở Quảng Ngãi. Nhưng vì bài báo có giới hạn, nên tôi xin ghi vắn tắt về hai người bạn lớn tuổi đã qua đời và một người bạn trẻ hiện sinh sống ở Canada.

31 – Nhà báo lão thành Hồ Văn Đồng.

Anh Đồng là một nhà báo lâu năm ở miền Nam. Anh cùng lứa tuổi với các anh Dõan Quốc Sĩ, Hùynh Văn Lang, tức là lớn hơn tôi cả một con giáp. Hồi trước 1975, tôi có gặp anh Đồng tại nhà Luật sư Trần Văn Tuyên một vài lần, nhưng chưa có dịp nói chuyện trao đổi nhiều với anh. Vào năm 2001 – 2002, tôi mới hay có dịp gặp gỡ chuyện trò tâm sự với anh khi thì ở Virginia, khi thì ở California. Nhà báo Phạm Bá Vinh chủ bút tờ Sóng Thần có cho tôi biết là chính ông Hồ Văn Đồng là một vị huynh trưởng đã tận tình hướng dẫn và truyền nghề viết báo cho anh.

Đóng góp cuối cùng của anh Đồng là đã hòan thành việc dịch thuật sang tiếng Việt cuốn sách “Le dossier noir du Communisme” (Hồ sơ đen của chủ nghĩa Cộng sản) do giới nghiên cứu sử học bên Pháp sọan thảo. Anh đã ra đi vào năm 2006 ở Virginia vào tuổi 84.

32 – Giáo sư Phạm Văn Diêu.

Là một giáo sư về Văn học Việt nam cả ở Trung học và Đại học, anh Diêu được nhiều người ái mộ với công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn chương quốc ngữ. Điểm đáng chú ‎ ý nhất của anh Diêu là : Tuy là người cháu gọi ông Phạm Văn Đồng là chú ruột, nhưng anh Diêu lại có lập trường quốc gia khác hẳn với ông Đồng là một đảng viên cộng sản cấp cao. Sau năm 1975, anh Diêu không hề tỏ ra là kẻ a dua, đứng về phía bên cộng sản là kẻ thắng cuộc như dân gian thường nói đó là cái “thái độ phù thịnh”.

Lần cuối cùng tôi gặp anh Diêu là vào giữa năm 1982, anh tỏ ra không có gì là mặn mà với chế độ cộng sản cả. Rất tiếc là anh Diêu đã mất sớm vào cuối năm 1982 lúc chưa đến 55 tuổi. Con cháu anh Diêu hiện nay phần đông cư ngụ tại nước ngòai như Canada, Mỹ.

33 – Kỹ sư Lê Quang Phiêu cỡ tuổi ngòai 40 hiện ở Canada.

Năm 2012, nhân dịp đến thăm Canada, tôi đã có dịp gặp em Phiêu tại thành phố Toronto. Tôi liền hỏi em có bà con gì với cụ Lê Quang Sách là một vị chức sắc có tên tuổi của Đạo Cao Đài ở Quảng Ngãi, Phiêu gật đầu xác nhận em là cháu gọi cụ Sách là bác mà năm đó đã trên 85 tuổi. Nghe vậy, tôi bèn nhờ Phiêu hỏi ông bác giùm tôi về vụ rất đông tín đồ Cao Đài bị Việt minh cộng sản sát hại tại Quảng Ngãi hồi tháng 8 & 9 năm 1945. Em nhận lời và vào tháng 4 năm 2015, tôi lại đến Toronto và gặp Phiêu để hỏi về chuyện này. Phiêu cho biết đã đi California thăm bác Sách và được bác nói cho biết nhiều chi tiết về vụ thảm sát này – mà riêng về phía tín đồ Cao Đài, thì con số nạn nhân bị sát hại đã lên tới gần 3,000 người.

Cụ thể là chính cụ Sách lúc đó cũng bị bắt cùng với thân phụ và bao nhiêu bà con khác nữa. Trong vụ thảm sát này, ông cụ thân sinh là ông nội của em Phiêu thì bị giết, còn người con là ông Sách vì theo lời khuyên của cha mà khai nhỏ tuổi đi nên mới thóat chết.

Thành ra cụ Sách là một nhân chứng rất khả tín mà hiện còn sống để cung cấp cho chúng ta những tư liệu thật chính xác về vụ tàn sát bạo ngược này do người cộng sản cuồng tín gây ra ngay từ năm 1945 mà họ gọi là “Cách Mạng Tháng Tám” đó vậy.

IV – Những người bạn đã từng làm việc ở Quảng Ngãi.

Ngòai ra, tôi cũng còn có rất nhiều người bạn thân thiết quê ở miền Bắc mà lại có thời đến làm việc tại Quảng Ngãi. Điển hình như trường hợp các bạn sau đây.

41 – Giáo sư Uông Đại Bằng.

Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm năm 1962, thì anh Bằng được cử về dậy học tại trung học Trần Quốc Tuấn ở thị xã Quảng Ngãi. Trong mấy năm phục vụ ở đây, ngòai chuyện giảng dậy ở nhà trường anh Bằng còn nhiệt tình tham gia sinh họat với các em thanh thiếu niên ở địa phương, nên hiện vẫn còn giữ được nhiều kỷ niệm với bà con ở đây. Ca sĩ Hồng Vân hồi đó cỡ tuổi 15 – 16 cũng là một học sinh nổi tiếng là rất hăng hái tham gia với sinh họat văn nghệ của trường trung học công lập lớn nhất tại Quảng Ngãi.

Sau này, từ năm 1966 cho đến 1975, anh Bằng về làm Hiệu trưởng trung học Lương Văn Can ở quận 8 Sài gòn. Anh được các học sinh và phụ huynh rất yêu mến vì sự tận tụy hy sinh của anh trong sự nghiệp giáo dục nơi địa phương được coi là kém phát triển nhất của thành phố Sài gòn.

Cụ thể là hiện nay các em cựu học sinh Lương Văn Can ở trong nước vẫn luôn mời thày Hiệu trưởng Uông Đại Bằng đến tham dự những buổi hội ngộ hàng năm với các em. Và các em ở hải ngọai vẫn tổ chức các buổi gặp gỡ với ông thày mỗi khi thày có dịp đi thăm bà con tại Úc châu hay tại Mỹ.

42 – Giáo sư Phạm Tất Hanh.

Cũng vào đầu thập niên 1960, thì anh Hanh đến dậy Anh văn tại Quảng Ngãi. Và đặc biệt, anh Hanh rất chăm lo việc sinh họat về mặt tâm linh đạo đức cho giới thanh thiếu niên công giáo ở địa phương. Sau này anh về Sài gòn và vẫn tiếp tục dậy môn Anh văn cho các học sinh trung học. Và trong số các học sinh này, rất nhiều em đã đi tu và trở thành linh mục, nữ tu công giáo.

Vì sự tận tụy chăm sóc bồi dưỡng cho học sinh như thế, nên thày Hanh được sự quý mến chân tình của nhiều thế hệ học sinh, trong đó có nhiều em ở Quảng Ngãi mà đã từng được thày giáo Hanh hướng dẫn từ nhiều năm trước.

Hơn nữa, từ ngày qua định cư ở Mỹ anh Hanh còn có sáng kiến thành lâp Quỹ Học Bổng Nguyễn Trường Tộ để trợ giúp những học sinh ở miệt quê Gia Kiệm Long Khánh siêng năng học tập mà gia đình gặp khó khăn về kinh tế. Sau khi anh Hanh qua đời vào năm 2011 vì bệnh ung thư, thì Quỹ Học Bổng này được bà con ở địa phương đặt tên mới là Quỹ Học Bổng Phạm Tất Hanh.

43 – Anh chị người Mỹ Earl và Pat Martin.

Earl Martin và Pat Hostetter là hai thiện nguyện viên thuộc tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) của Giáo Hội Tin Lành Mennonite làm việc tại Quảng Ngãi từ năm 1967 để giúp các nạn nhân chiến cuộc. Vào năm sau hai người làm đám cưới và tiếp tục công tác nhân đạo tại Quảng Ngãi. Sau khi cả hai về học thêm ít lâu tại Đại học Stanford, thì trở lại phục vụ ở Việt nam cho đến năm 1975.

Earl Martin có tên Việt nam là Chú Kiến. Anh kể cho tôi nghe câu chuyện thật ngô nghĩnh thế này: “Hồi mới đến, tôi phải đi tìm nhà để mướn ở thành phố Quảng Ngãi. Trẻ con thấy lạ bu theo tôi đông lắm. Rồi vào lúc đứng trước cửa một nhà nọ, tôi giẫm phải một đàn kiến nên bị nó đốt ngứa quá, đành phải dậm chân hòai cho kiến chạy đi. Lũ trẻ bèn kêu to lên: Kiến cắn, Kiến cắn v.v… Và từ đó, trẻ con đặt cho tôi cái tên mới là chú Kiến”.

Còn chị Pat, thì có tên là Cô Mai. Anh chị nói và đọc được tiếng Việt và quen biết gắn bó thân tình với khá nhiều bà con ở Quảng Ngãi.

Pat Martin có lần tâm sự với tôi: “ Là người Mỹ, tôi rất đau buồn về vụ thảm sát ở Mỹ Lai do quân đội Mỹ gây ra…” Và tôi cũng đã góp lời với chị rằng : “Dĩ nhiên là người Việt nam, thì tôi cũng hết sức đau đớn với vụ thảm sát ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 do chính người cộng sản Việt nam gây ra vậy…”

Từ năm 2000 đến nay, tôi thường đến cư ngụ tại nhà anh chị ở thành phố Harrisonburg tiểu bang Virginia, để tham dự những khóa hội thảo về Xây dựng Hòa bình do Đại học Eastern Mennonite University (EMU) tổ chức vào mùa hè mỗi năm (mà thường được gọi là Summer Peacebuilding Program = SPI). Qua anh chị Earl & Pat Martin, tôi học hỏi được bao nhiêu điều quý‎ báu mà những người yêu chuộng Hòa bình đang cố gắng theo đuổi thực hiện tại khắp nơi trên thế giới – với tư cách là thành viên của các tổ chức thuộc khu vực Xã hội Dân sự.

V – Để tóm lược lại.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong vài điểm như sau:

51 – Thứ nhất: Cũng như Quảng Nam ở phía Bắc và Bình Định ở phía Nam, Quảng Ngãi quả là một nơi xứng đáng với cái danh hiệu “Địa Linh – Nhân Kiệt”. Nhưng từ khi người cộng sản nắm giữ được quyền bính trong tay, thì họ đã gây ra không biết bao nhiêu đau thương khổ ải cho bà con nơi “miền đất cày lên sỏi đá” này. Cụ thể là vụ sát hại tập thể hàng mấy ngàn người ngay trong tháng 8 và 9 năm 1945.

Cũng như vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, sự việc độc ác tàn bạo tày trời này – dù cách nay đã 70 năm – thì chúng ta cũng không thể nào dễ dàng mà bỏ qua cho người cộng sản được.

52 – Thứ hai: Hiện nay số bà con gốc từ Quảng Ngãi đang định cư ở nước ngòai khá đông và đang quy tụ lại với nhau qua các Hội Ái Hữu – để vừa an ủi tương trợ lẫn nhau, vừa tìm cách giúp đỡ thế hệ trẻ ở bên quê nhà. Đó là điều thật đáng phấn khởi và tôi xin thành thực cầu chúc cho Quý Hội Ái Hữu Quảng Ngãi tiếp tục đạt thêm nhiều thành quả tốt đẹp hơn nữa vậy./

Costa Mesa California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Giáo sư Đại học Princeton đoạt giải Nobel Kinh tế

Giáo sư Đại học Princeton đoạt giải Nobel Kinh tế

VOA

Giáo sư Angus Deaton, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2015.

Giáo sư Angus Deaton, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2015.

Giáo sư Đại học Princeton, ông Angus Deaton, đoạt Giải Nobel Kinh tế 2015 cho công trình “phân tích về tình trạng tiêu thụ, nghèo đói và an sinh xã hội.”

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển nói qua việc liên kết những sự lựa chọn đơn lẻ chi tiết với các kết quả tổng hợp, nghiên cứu của ông Deaton ‘đã giúp chuyển hóa các lĩnh vực kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô và kinh tế phát triển.’

Ủy ban Nobel cho hay công trình của Giáo sư Deaton xoay quanh ba câu hỏi: người tiêu dùng phân phối chi tiêu thế nào giữa các hàng hóa khác nhau; thu nhập xã hội chi ra và tiết kiệm lại được ba nhiêu; và làm cách nào chúng ta có thể đo lường-phân tích an sinh xã hội và nghèo đói một cách tốt nhất?

Ủy ban Nobel nói công trình nghiên cứu của ông Deaton cho thấy “sử dụng khôn khéo các dữ kiện về hộ gia đình có thể làm sáng tỏ các vấn đề như mối quan hệ giữa thu nhập và lượng calo hấp thụ cũng như và mức độ phân biệt đối xử giới tính với gia đình.”

Ủy ban Nobel tuyên bố “Sự tập trung của Giáo sư Deaton vào các cuộc khảo sát hộ gia đình đã giúp chuyển hóa kinh tế phát triển từ một lĩnh vực lý thuyết dựa trên số liệu tổng hợp bước sang một lĩnh vực thực nghiệm dựa trên các dữ liệu cá nhân được chi tiết hóa”.

Trong một cuộc họp báo sau khi giải thưởng được công bố, ông Deaton cho biết ông rất vui vì công trình của ông  được ghi nhận. Ông nói với các phóng viên ông tin rằng tình trạng nghèo đói sẽ giảm. “Tôi nghĩ rằng chúng ta đã giảm nghèo đói đáng kể trong 2, 3 chục năm qua và tôi kỳ vọng xu thế này sẽ tiếp tục.”

Deaton là một công dân song tịch Anh và Mỹ sinh ra ở Scotland. Ông là giáo sư kinh tế và quan hệ quốc tế tại Đại học Princeton ở New Jersey từ năm 1983.

Giải Nobel Kinh tế năm nay có trị giá 978.000 đô la tiền thưởng.

Ý kiến của luật sư liên quan đến vụ em Đỗ Đăng Dư

Ý kiến của luật sư liên quan đến vụ em Đỗ Đăng Dư

LS Ngô Ngọc Trai

Vụ em Đỗ Đăng Dư

Nhiều khả năng Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã phạm tội hình sự.

Thứ nhất: Em Dư lấy trộm 1,5 triệu là chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Vì căn cứ theo Điều 138 Bộ luật hình sự về tội trộm cắp tài sản, tài sản trộm cắp phải có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự. Do vậy với số tiền chỉ là 1,5 triệu thì việc tạm giữ hình sự để khởi đầu cho việc xử lý hình sự em Dư là trái pháp luật.

Tại sao lại có vi phạm đơn giản như vậy?

Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ tại Điều 86 về tạm giữ hình sự, theo đó tạm giữ phải có quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra công an huyện và phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp xin phê chuẩn.

Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Do vậy khi thấy số tiền trộm cắp chỉ là 1,5 triệu chưa đến mức xử lý hình sự thì ngay Trưởng công an xã là người có kiến thức phải biết hành vi của em không phải là tội phạm nên chỉ cần lập biên bản lại để xử lý hành chính và tha cho em. Chẳng lẽ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng công an huyện mà lại không biết, lại ra quyết định tạm giữ để khơi mào xử lý hình sự. Như thế là trái pháp luật.

Do vậy tôi cho rằng việc đầu tiên là việc tạm giữ hình sự em Dư là trái pháp luật.

Thứ hai: Ngoài việc ra quyết định tạm giữ hình sự trái pháp luật, tại sao lại xử lý hình sự với hành vi trộm cắp chỉ 1,5 triệu chưa đến mức 2 triệu?

Có khả năng trong khi bị tạm giữ hình sự trong quá trình khai báo em Dư đã khai ra 4 vụ trộm cắp khác và giá trị tài sản lớn hơn 2 triệu nên đủ mức xử lý hình sự. Nhưng liệu việc áp dụng biện pháp bắt tạm giam em có đúng luật hay trái luật?

Căn cứ theo điều 303 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thủ tục tố tụng hình sự xử lý người chưa thành niên, thì trẻ vị thành niên chỉ bị bắt giam nếu có phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Theo Điều 138 về tội trộm cắp tài sản thì em Dư phải trộm cắp tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên mới là phạm tội nghiêm trọng và bị áp dụng biện pháp tạm giam. Còn nếu em chỉ trộm cắp vặt giá trị tài sản chỉ vài trăm nghìn hoặc một vài triệu, giá trị không đến 50 triệu thì không được bắt tạm giam em.

Như vậy nếu làm rõ được giá trị tài sản trộm cắp chưa đến 50 triệu đồng mà vẫn áp dụng biện pháp bắt giam em Dư sẽ là trái pháp luật.

Tóm lại: Tôi cho rằng rất có khả năng Cán bộ điều tra của công an Huyện Chương Mỹ và Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hình sự, có khả năng đã vi phạm pháp luật hình sự và phạm vào tội ra quyết định trái pháp luật theo Điều 296 Bộ luật hình sự

Điều 296. Tội ra quyết định trái pháp luật
1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Việc Thủ trưởng hay Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra Quyết định tạm giữ hình sự, Quyết định tạm giam em Dư nhiều khả năng đã phạm vào tội ra quyết định trái pháp luật nêu trên.

Đi sâu vào vụ án có thể còn có những vi phạm khác nữa, việc điều tra các sai phạm này thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể trích từ một bài báo như sau:

Ngày 6-8-2015, tin từ lãnh đạo VKSND Tối cao cho biết, sáng cùng ngày VKSND Tối cao đã tổ chức lễ ra mắt Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp (Vụ 6). Ông Nguyễn Việt Hùng được lãnh đạo VKSND Tối cao bổ nhiệm giữ chức Vụ trưởng Vụ 6.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã được lập thêm cơ quan chuyên sâu chuyên xử lý các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, tức là những tội phạm do các cán bộ tư pháp gây ra. Do vậy gia đình em Dư và các luật sư cần làm đơn trình báo tới vụ 6 Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu trên.

Cuối cùng: Việc bắt giam em thiếu cơ sở xác đáng và đặt tính mạng sức khỏe của em vào môi trường giam giữ không an toàn cho thấy nền tư pháp hình sự hiện tại vô cùng nghiệt ngã và nặng nề bạo quyền.

Việc em Dư phải khai ra 4 vụ trộm cắp tôi tin chắc cũng do bị đánh đập, điều này đặt ra đòi hỏi phải có quy định về quyền im lặng, việc lấy lời khai phải có luật sư tham gia, trong phòng giam giữ và phòng hỏi cung phải lắp camera ghi âm ghi hình.

Nếu không thực hiện những việc này thì tội ác do cán bộ công quyền gây ra (vô tình hay cố ý) cho con người sẽ vẫn còn tiếp diễn.

Xem the^m:

Vụ Đỗ Đăng Dư: là luật sư, chúng ta có thể làm gì?

Vài điều suy nghĩ ở cái chết Đỗ Đăng Dư đọc từ báo đảng Cộng Sản

Vài điều suy nghĩ ở cái chết Đỗ Đăng Dư đọc từ báo đảng Cộng Sản

Người Buôn Gió

Câu chuyện về cái chết của Đỗ Đăng Dư trong trại giam số 3 công an TPHN gây xôn xao dư luận. Về khía cạnh pháp luật thì đã có những người am hiểu bình luận, nhất là về thi hành giam giữ, khởi tố với người dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên bài viết này nhìn từ góc độ kinh nghiệm của một người từng kinh qua tất cả các thể loại tạm giam trong chế độ này.

Sau nhiều ngày im ắm từ khi cháu Dư đưa vào bệnh viện. Đến khi tin cháu Dư chết được xác nhận chính thức. Đồng loạt báo chí đưa ra một bản tin gần như giống nhau hoàn toàn. Điều đó cho thấy báo chí được lệnh im lặng chờ đợi và chuẩn bị khi nào đưa bài. Một sự chỉ đạo được từng ấy báo chí có lẽ phải từ cỡ Bộ Chính Trị.

Thứ nhất

Báo Tiền Phong mô tả, Đánh chết bạn tù vì rửa bát bẩn:Các bị can bị tạm giam cùng buồng đã đỡ và hô hoán báo cáo cán bộ quản lý để đưa Dư đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Đến tối cùng ngày, Dư được chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục theo dõi, điều trị”.

Báo An ninh thủ đô mô tả, Làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm việc hành hung bị can Đỗ Đăng Dư:Khoảng 5 phút sau, Dư đi ra khỏi khu vệ sinh thì bị ngã xuống sàn nhà. Bình, Trường và Đức Anh đã chạy lại đỡ Dư dậy. Cùng lúc đó, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – cán bộ quản giáo phát hiện sự việc như trên đã báo cáo chỉ huy đơn vị. Ban Giám thị Trại tạm giam số 3 đã chỉ đạo khẩn trương đưa Đỗ Đăng Dư đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Hà Đông”.

Theo các bạn thì sự thật nằm ở đâu, phạm nhân hô hoán để cán bộ quản giáo biết hay là cán bộ quản giáo cùng lúc đó phát hiện sự việc. Tóm lại là pham nhân hô hoán hay cán bộ phát hiện. Đây là điểm mâu thuẫn rất lớn giữa hai tờ báo lớn. Sự mâu thuẫn này cho thấy có sự giả tạo ở thời điểm nhạy cảm, quan trọng nhất trong tình tiết vụ án đó là phát hiện vụ án. Và nếu như vụ án được bắt đầu bằng một sự giả tạo thì ắt quá trình của nó phải mang đậm sự giả tạo, đó là điều tất nhiên.

Đoạn tin dưới đây tất cả các tờ báo đều đưa tin giống nhau.

Khoảng 8h30 ngày 4-10-2015, Dư, Bình, Trường và Đức Anh ăn sáng tại buồng giam. Theo lịch phân công, sau khi ăn xong Dư phải rửa bát cho các bị can cùng buồng. Do thấy Dư rửa bát bẩn, Bình gọi Dư đến ngồi ở khu vực giữa 2 bệ xi măng nơi bị can ngủ. Bình đứng đối diện Dư và dùng tay phải tát 2 cái vào má trái, dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.

Với những người bình thường khi đọc sẽ không phát hiện được điều gì trong mẩu tin đưa trên. Nhưng với số lượng gần 5000 người bị tạm giam (không tính tạm giữ) một năm ở Hà Nội (khi chưa nhập Hà Tây). Ít nhất sẽ có vài chục nghìn người ở Hà Nội từng bị tam giam thấy điểm khác lạ trong bản tin này.

Thứ hai

Không có lịch phân công rửa bát trong buồng tạm giam công an TP. Chỉ có ”nhân dân ” hay “lái xe”… những thành phần bị bắt nạt, hèn yếu nhất trong buồng giam phải thực hiện công việc này.

Thứ ba

Mọi việc đánh đập không bao giờ diễn ra vào buổi sáng tầm 8 giờ 30, nhất là một cách nghe rất truyền thống là bắt đồng phạm quỳ dưới ”mà” (tiếng lóng chỉ lối đi giữa sàn). Đây là giờ mà cán bộ gọi lấy cung, đi lấy quà, lăn tay…vì thế mọi việc tra tấn giữa các tù nhân với nhau như vậy chỉ diễn ra vào buổi chiều tối. Sau giờ điểm danh.

Thứ tư là tù nhân ăn gì vào buổi sáng mà dùng đến bát, đũa, thìa. Ăn mỳ tôm hay ăn xôi, miến, phở. Hay trại giam số 3 Hà Tây có cho tù nhân ăn bữa sáng đựng trong bát? Người viết bài này đã trải qua gần như tất cả các thể loại tạm giam, từ công an phường, công an quận, công an thành phố đến công an bộ. Chưa bao giờ trại giam cấp ăn sáng cho tù nhân. Ở trại tạm giam số 1 của CATPHN tất cả bát nhựa đều để ở khu ngoài có khoá ngăn, đến giờ ăn trưa phạm nhân được mở ra lấy bát ăn cơm, sau đó cất lại khu ngoài.  Chỉ có những đại ca có tên tuổi trong giang hồ hoặc là đại bàng trong buồng giam mới có suất ăn sáng bằng bát nhựa, có thể dùng nhựa và vải vụn làm chất đốt để đun nước sôi nấu mỳ tôm.

Thứ tư

Thế mà mấy thằng oắt con chưa đến 18 tuổi ăn sáng trong buồng tạm giam bằng bát. Muốn ăn thế thì gia đình phải hối lộ vài triệu một thằng cho quản giáo trong một tháng để quản giáo làm ngơ cho đun nấu, mang bát vào ăn, ăn sáng một cách thảnh thơi như vậy.

Thứ năm

Chúng ta nên nhớ Lê Văn Luyện, sát thủ 17 tuổi bị giam chung với các phạm nhân khác đều thành niên. Không có cái gọi là phòng giam C15 nào để giam riêng vị thành niên cả. Tôi đã từng ở chung phòng với một cậu bé giết 16 tuổi phạm tội giết người và ông già 65 tuổi tội lừa đảo. Nếu ở trại tạm giam có phòng giam cho trẻ em dưới 18 tuổi thì bắt buộc các trại giam, trại cải tạo cũng phải có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thực tế là trẻ em dưới 18 tuổi phạm tội đến mức phải bị lệnh tạm giam rất ít, trừ những tội đặc biệt nghiêm trọng … vì thế trại tù không có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thường thì chúng sẽ được ưu ái giam vào buồng tiền án, tiền sự lần đầu hay tiếng lóng gọi là ”tù con so”.

Vậy là 5 điều khó tin nhất trong nhà tù lại xảy ra cùng một lúc. Sự thực thì những yếu tố này có thể diễn ra trong nhà tù, nhưng ở tỷ lệ cực thấp cho mỗi yếu tố. Nhưng ở vụ án này xác suất thật tình cờ đến kinh ngạc là cả 5 yếu tố khó tin lại có thể có cùng một lúc.

Thứ sáu

17 tuổi Đỗ Đăng Dư bị bạn tù là Vũ Văn Bình đánh chết. Cái cách đánh mà chỉ có những đại bàng từng trải, có uy lực mới làm được. Đó là đủ uy vũ để bắt người khác quỳ xuống và dùng chân đá theo hướng từ trên xuống.

”dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.”

Bạn hãy thử hình dung bạn đánh một người đang ngồi, bạn đá từ trên xuống sẽ thế nào? Người bình thường chỉ đá từ dưới lên vào mặt hay ngực người ngồi. Vũ Văn Bình mới 17 tuổi đi chân đất (trong tù không có giầy , nếu có chỉ là giày vải mềm loại buộc giây nhưng đã bị quản giáo thu dây) đá vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống. Không ai dại gì đá từ trên xuống vào đỉnh sọ người, vì đó là chỗ cứng nhất, thế đá lại khó nhất. Vậy mà Vũ Văn Bình thực hiện được những cú đá như trong báo chí miêu tả.

Sự thực chỉ có thể trong tình huống ấy là Vũ Văn Bình giơ gót chân và nện xuống lưng của Đỗ Đăng Dư. Bất kể ai từng đi tù đều hiểu đó là cách đánh phổ thông nhất. Nhưng thường người thực hiện đánh như vậy là người có nhiều năm tù giam ở những trại tạm giam, trại tù mới có kinh nghiệm để thực hiên như vậy. Nếu Vũ Văn Bình trước đó từng bị giam giữ nhiều lần hay qua trường giáo dưỡng thì có thể Bình biết được cách đánh chuyên nghiệp như vây. Nhưng nếu Bình đã rành cách đánh như thế thì Bình sẽ hiểu quy tắc không thể manh động đánh trong giờ hành chính. Một người có cách đánh điềm tĩnh, lỳ lợm, uy hiếp đầy toan tính như bắt người khác ngồi dưới lòng ” mà” (nơi tiện cho việc tra tấn nhất trong buồng giam) không thể nào manh động làm sai điều cốt lõi là đánh ngay trong giờ cao điểm là 8 giờ 30.

Thứ bảy

Thủ phạm Vũ Văn Bình ở tuổi vị thành niên, sau khi đánh chết Đỗ Đăng Dư bị khởi tố vì tội ” cố ý gây thương tích ”. Các nhân chứng trong buồng đều dưới 18 tuổi. Nguyên nhân xuất phát từ Dư thiếu trách nhiệm trong việc rửa bát cho sạch theo lịch phân công. Thủ phạm không dùng hung khí chỉ dùng tay chân không đánh vài phát.

Những tình tiết ngẫu nhiên có được sẽ là điều khoản giảm tội Vũ Văn Bình đến tối đa.

Những yếu tố cực kỳ hiếm hoi có thể xảy ra bỗng nhiên xuất hiện đồng loạt trong cái chết của Đỗ Đăng Dư. Mới kể sơ sơ đã là 7 yếu tố mà bất kỳ ai từng ngồi trong trại giam đều thấy được. Đây là một kịch bản được dưng lên, những yếu tố được lồng ghép để vụ việc thành đơn giản. Việc luật sư chứng kiến việc mổ tử thi không ký vào biên bản không phải là điều hay như người ta vẫn nghĩ. Lẽ ra anh ta phải xin sao ra làm hai bản. Anh ta ký nhận vào một bản và ghi rõ lý do tôi đồng ý với những vết thương bên ngoài như đã thể hiện trong biên bản và tôi phản đối biên bản khám nghiệm  vì có những vết thương nội tạng bên trong không được thể hiện.

Công nhận những vết thương bên ngoài như đã nhìn thấy. Như thế ít ra anh ta sẽ có chứng cứ về những vết thương bên ngoài. Mà vết thương bên ngoài do dùng chân không đá thì để lại dấu vết thế nào hay không thì quá dễ hiểu, nhất là dẫn đến tử vong, điều ấy chỉ có trong truyện của Kim Dung.

Nhưng anh ta đã không ký nhận mặc dù có mặt, anh ta trở ra tay không với lời khuyên gia đình nên mang xác đi chôn luôn, để đó chả giải quyết gì. Đó là điều tôi không thể nào hiểu nổi.

Có lẽ tôi không hiểu là phải, vì tôi chưa học xong cấp ba. Còn anh ta đã học xong đại học, thêm khoá học nữa để bồi dưỡng thành luật sư. Suy nghĩ của một thằng kinh nghiệm tù nhiều và suy nghĩ của một luật sư học hành đầy đủ, đến nơi, đến chốn không thể hiểu nhau là điều tất nhiên. Như câu ví chim sẻ không thể hiểu được chí của đại bàng vậy.