Tuổi Trẻ Sau 30 Năm Tị Nạn Cộng Sản Việt Nam

         Tuổi Trẻ Sau Ba Mươi Năm Tị Nạn Cộng Sản Việt Nam

   Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt

Chỉ Huy Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 của Sư đoàn Không vận 101 USA
Ngày 5-2-2009, Chuan Tuong Lương Xuân Việt người Việt Nam tị nạn đầu tiên nhận chức Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 của Sư đoàn Không vận 101. Đại tá Việt chính thức lên thay Đại tá Dominic Caraccilo, trong một nghi lễ bàn giao tổ chức lúc 10 giờ sáng tại Hangar 3 trong căn cứ Fort Campbell Kentucky.

Đại Tá Việt tốt nghiệp bằng cử nhân môn Sinh-Hóa Học tại trường University of Southern California. Cũng đậu bằng tiến sĩ Khoa Học và Nghệ Thuật Quân Sự.

Ông Việt sinh tại Biên Hòa, sống với cha mẹ ở Sài Gòn trước năm 1975 và trong vùng Los Angeles sau khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông lớn lên trong một gia đình gồm có tám anh chị em. Từ một đứa trẻ chưa đầy 10 tuổi phải di tản khỏi Sài Gòn vào cuối Tháng 4/1975, theo đoàn người tị nạn cộng sản đến nước Mỹ, nay 42 tuổi .

Cha của Đại Tá ViệtLương Xuân Đương, nguyên thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến quân lực Việt Nam Cộng Hòa . Và đã qua đời tại California vào năm 1997.
Vợ ông Việt là bà Quyên Kimberly LauDenver. Có ba con gồm một gái, hai trai: Ashley Thu Diễm, 13 tuổi; Brandon Xuân Huy, 10 tuổi; và Justin Xuân Quốc, 7 tuổi. Gia đình ông đang sống tại Fort Bragg, North Carolina .
____________________

Trung Tá Lê Bá Hùng (39 tuổi)

Hạm Trưởng Khu Trục hạm USS LASSEN (DDG 82)

Trung Tá Lê Bá Hùng vừa được bổ nhiệm chức vụ Hạm Trưởng Khu Trục hạm USS LASSEN (DDG 82). Lễ bàn giao được cử hành ngày 23.4/2009 tại US Yokosuka Naval Base, Nhật Bản .
Ngày 7.11/2009, Trung tá Hùng hạm trưởng khu trục hạm USS Lassen cập cảng Tiên Sa – Đà Nẵng . Chuyến thăm của tàu Mỹ tới Việt Nam trong bốn ngày nhằm phát triển mối quan hệ đang bắt đầu giữa hải quân hai nước.
Trung Tá Lê Bá Hùng là con của ông Lê Bá Thông, cựu Trung Tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hiện định cư tại Virginia, Hoa Kỳ từ năm 1975. Ông Hùng sinh ra tại thành phố Huế và lớn lên tại tiểu bang Virginia. Năm 1988, ông theo học tại US Naval AcademyAnnapolis, Maryland và tốt nghiệp ưu hạng năm 1992, với văn bằng Cử Nhân về Kinh tế .
Ông Hùng đã tốt nghiệp ưu hạng Trường Naval Post Graduate School với bằng Cao Học Khoa học về Operations Research; tốt nghiệp Summa – Laude từ Touro University International với bằng Master of Business Administration Degree in Military Management. Trung Tá Hùng hoàn tất The Naval War College – Non Resident Seminar Program và tốt nghiệp Trường Joint Forces Staff College .
Vợ là cô Lyn LêVirginia Beach, Virginia và có 1 cháu gái, Allison và 1 cháu trai, Christian.
Ông Hùng cùng cha mẹ rời Sài Gòn bằng thuyền đánh cá và cha ông làm hoa tiêu, ngày hôm sau 01.05/1975 được một tàu tiếp dầu hải quân kéo đi và tới ngày 02/05 thì gặp tàu chiến Hoa Kỳ và được đưa lên rồi sang định cư tại Mỹ . Sau 8 năm, anh chị còn lại tại Huế mới đoàn tụ vào năm 1983 .
________________________

Trung tá Võ Phi Sơn (39 tuổi)

Thăng Trung Tá 01.3.2009, đang cố vấn huấn luyện Trực Thăng

Trung tá Võ Phi Sơn
Con của cựu Trung tá Phi công Võ Phi Hổ, khóa 17 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Sơn cùng gia đình thoát khỏi Việt Nam vào cuối tháng 4.1975. Sơn đến Hoa Kỳ khi mới lên 5 tuổi . Trung tá Hổ đoàn tụ gia đình tại đảo Guam, và được đưa về định cư tại Miami, Florida cuối tháng 5.1975.
Từ lớp 9, Sơn đã giữ vai trò Chủ tịch của National Honor SocietyScience Society tại trường Trung Học. Năm 1985, Sơn đỗ thủ khoa tại W.R. Thomas Junior High với nhiều giải thưởng lớn của liên bang như:

Award of Honor do The National Leadership Organization trao tặng;

The American Legion School Award do The American Legion trao tặng.
Sơn đã tốt nghiệp Tối Ưu trên tổng số 597 học sinh của lớp 1988; đoạt giải The Best Student of the Year Outstanding Math Student Award cùng rất nhiều giải khác với nhiều hiện kim.

Ra trường, Thiếu Úy Võ Phi Sơn lần lượt phục vụ tại nhiều đơn vị như Sư đoàn 2 Thiết Giáp, Sư đoàn 4 Bộ Binh, Sư đoàn 82 Nhảy Dù. Anh lái các phi cơ trực thăng OH-58 AC, Apache tham chiến tại chiến trường Afghanistan .
Hiện Trung tá Võ Phi SơnCố vấn phụ trách huấn luyện Trực thăng cho quân đội các nước Ả Rập đồng minh.
_________________________

Nữ đại úy phi công F18 Elizabeth Phạm


Ðại Úy Elizabeth Phạm sinh tại Seattle, Washington . Cô là ái nữ của Bác Sĩ Phạm Văn Minh hiện có phòng mạch tại Seattle.
Elizabeth Phạm tốt nghiệp đại học University of California, San Diego (UCSD) . Học kỹ thuật bay tại trường huấn luyện phi hành T34 của Hải Quân Hoa Kỳ tại Pensacola, Florida, với cấp bậc thiếu úy. Sau đó, cô tiếp tục theo học về kỹ thuật bay cấp cao T45 Goshawk tại trung tâm huấn luyện Meridian của Hải Quân Hoa Kỳ tại tiểu bang Mississippi.
Cuối năm 2003, Trung Úy Elizabeth Phạm tốt nghiệp “Top Hook” (thủ khoa), được đại tướng chỉ huy trưởng đích thân trao bằng tốt nghiệp và được tuyển chọn phi công đầu tiên của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ điều khiển một chiến đấu cơ siêu thanh F18 Hornet trị giá $7 triệu. Elizabeth Phạm được thăng đại úy năm 2005.
Cô thành hôn với Ðại Úy Alexander Roloss, cũng là một sĩ quan phi công F-18, và hai vợ chồng cùng ở chung một đơn vị.


—————————–

Đại úy Phi Công Michelle Vũ

Nữ phi công phi đội kỵ binh 6-17 CAV

Đại úy Michelle Vũ học lái máy bay là muốn theo nghiệp cha, một cựu phi công QLVNCH.
Cử nhân thương mại tại đại học Cal Poly San Luis Obispo, California .

Cô Michelle Vũ cùng đơn vị đến Iraq vào Tháng 8, 2008 và vừa được thăng cấp đại úy 2/2008
Vừa tốt nghiệp đại học lúc 22 tuổi, tham gia lục quân Hoa Kỳ, học lái máy bay hai năm, sau đó được điều động về trung đoàn kỵ binh 17, rồi cùng đơn vị di chuyển từ Alaska sang Kuwait, rồi sang chiến trường Iraq và đang đóng quân tại căn cứ FOB Diamdback, gần Mosul.

_______________________
Nữ Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh


Dương Nguyệt Ánh sinh 1960, phụ nữ người Mỹ gốc Việt làm trong Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Bà sinh ở Việt Nam, cùng gia đình tỵ nạn sang Mỹ năm 1975
Dương Nguyệt Ánh tốt nghiệp Đại học Maryland ngành kỹ sư hóa học, khoa học điện toánquốc gia hành chính.
Bà làm việc cho Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, chức Tổng giám đốc Khoa học và Kỹ thuật của Trung tâm Vũ khí Hải quân Hoa Kỳ (Naval Surface Warfare Center) tại Maryland, tiểu ban chất nổ với nhiều giải thưởng.
Bà từng là người đại diện cho Hoa Kỳ trong Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Bà cũng là tác giả của bom áp nhiệt (Thermobaric Bomb).
Bà nhận giải Dr. Arthur Bisson Award for Naval Technology Achievement vào năm 2000, giải Civilian Meritorious Medal năm 2001 và giải Service to America Medal for National Security năm 2007
Dương Nguyệt Ánh có lập trường chống Cộng sản rõ rệt . Bà là dòng dõi cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, là cháu ruột của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Dương Nguyệt Ánh,Thứ Trưởng Nội An Paul Schneider,
Tổng Giám Đốc Sở Di Trú Emilio Gonzalez.

Dương Nguyệt Ánh được Bộ Nội An (Homeland Security Dept.) vinh danh trong một buổi lễ đặc biệt, tổ chức ngày 15.1.2008 tại White House

____________________
Đại Úy Michael Đỗ

Thủy Quân Lục Chiến Mỹ

Đại úy Michael Đỗ, là một thuyền nhân, theo gia đình đến định cư tại Hoa Kỳ năm 1980 khi vừa 4 tuổi. Anh là con trai duy nhất của cựu Đại úy QLVNCH đã bị tù “học tập cải tạo” sau 30.4/1975 .
Anh đã tốt nghiệp trường đại học quân sự nổi tiếng West Point, và theo học để trở thành một kỹ sư ngành chế tạo hỏa tiễn hay thiết kế phi đạn (Missile Design) . Cũng có bằng Tiến sĩ ngành Quản trị Hành Chánh.
Năm 2005, Đại úy Michael Đỗ nhận lệnh đi chiến đấu tại Iraq , và đồn trú tại một thành phố đầy biến động là Fallujah. Với tư cách là một kỹ sư trong quân đội, anh được biệt phái làm việc trong Bộ Tham Mưu của Thiếu tướng Stephen Johnson.
Điều đáng chú ý là Đại úy Michael Đỗ luôn luôn dựng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tại Bộ Chỉ Huy hành quân của đơn vị mình .
—————————————–

Ðại Tá nữ bác sĩ Mylene Trần Huỳnh 44 tuổi

Trung Tá Bác Sĩ Không Quân Mỹ Mylene Trần Huỳnh, 44 tuổi, giám đốc của Air Force Medical Service (AFMS), thuộc chương trình Chuyên Viên Y Tế Quốc Tế (International Health Specialist – IHS), trực thuộc văn phòng “Office of the Air Force Surgeon General,” vừa được vinh thăng Ðại Tá trong một buổi lễ được tổ chức ngày 14.5.2010.   Y Sĩ Đại Tá Trần Huỳnh là con của cựu Y Sĩ Thiếu Tá Trần Đoàn thuộc binh chủng Nhẩy Dù QLVNCH

Ngày 19 tháng 9, năm 2009 vừa qua, cô Tini Trần đã lập gia đình với Edward Wong, hiện là thông tín viên của tờ New York Times tại Bắc Kinh. Wong cũng tốt nghiệp báo chí tại Đại Học California, Berkeley

Các giải thưởng về báo chí của Tini Trần

2005 Associated Press Managing Editors Award – Deadline Reporting AP staff coverage of Asian tsunami
2000 – National Headliners Award – 1st Place Coverage of a Major News Event AP coverage of 25th Anniversary of Fall of Saigon,
“Vietnam Legacy” – Associated Press Managing Editors Award – Enterprise Reporting AP coverage of 25th Anniversary of Fall of Saigon, “Vietnam Legacy”

1999 Los Angeles Times – Top of the Times Award Beat Coverage & Investigative Reporting

1995 – Associated Press Managing Editors Award, 1st Place Non-Deadline Writing “Return to Vietnam” Series,

The Tennessean – Asian American Journalists Association Award – 2nd Place Asian American Issues “Return to Vietnam” Series, The Tennessean – Green Eyeshade Investigative Awards, Finalist
Tại chiến trường Iraq



———————————————–

Đại Tá Nguyen M Hung,

Lực lượng duyên phòng, được giao trọng trách điều tra về vụ dàn khoan Deepwater Hirizon bị chìm làm tràn dầu vùng vịnh năm 2010.

USCG photo. Đai tá Nguyen M Hung trã lời phỏng vấn trong cuộc hợp báo từ giới Truyền thông Hoa Kỳ.

_________________
Một người Mỹ gốc Việt làm cố vấn cho Tổng thống Mỹ

Tổng thống Mỹ ngày 7-10 vừa qua đã bổ nhiệm thêm 8 người vào những vị trí then chốt, trong đó người Mỹ gốc Việt, tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thanh Tùng được bổ nhiệm vào Ủy ban cố vấn của Tổng thống về người Mỹ gốc châu Á – Thái Bình Dương.

Theo website chính thức của Nhà Trắng, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng là giáo sư y khoa tại trường Đại học California, San Francisco (UCSF), nơi ông chăm sóc y tế cho cộng đồng đa sắc tộc và đào tạo bác sĩ lâm sàng. Ông cũng là giám đốc Dự án phát triển sức khỏe cộng đồng người Việt và là điều tra viên chính của Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và nâng cao nhận thức về ung thư cho cộng đồng người Mỹ gốc châu Á tại UCSF, trong vai trò này ông đảm nhiệm nghiên cứu chăm sóc sức khỏe cho người Mỹ gốc Á. Ông nghiên cứu sự phát triển của ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng và tác hại của thuốc lá đối với người Mỹ gốc Á.
——————————-

Một phụ nữ Việt Nam được bổ nhiệm vào chức vụ thẩm phán Liên Bang Mỹ

Với 91 phiếu thuận và 3 phiếu chống, Thượng viện Hoa Kỳ vào hôm qua, 07/05/2012 đã chấp thuận việc bổ nhiệm bà Jacqueline H. Nguyễn vào chức vụ thẩm phán tại Tòa Kháng án Liên bang Khu vực 9. Theo giới quan sát, nữ thẩm phán Việt Nam như vậy đã trở thành một phụ nữ gốc Á Châu đầu tiên được cử vào một tòa kháng án liên bang, định chế tư pháp ngay dưới Tối cao Pháp viện.
—————————————–

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh một phụ nữ Việt
Chị Ðỗ Minh Thùy mới đây được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh là cựu sinh viên xuất sắc nhất của tháng Bảy
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã tuyên dương chị Ðỗ Minh Thùy (người mặc áo dài màu vàng), trong một cuộc họp mặt nhân kỷ niệm 20 năm chương trình Fulbright Việt Nam.
————————————

Ngô Thanh Hải : Thượng nghị sĩ gốc Việt đầu tiên ở Canada

Thẩm phán Ngô Thanh Hải (Bên phải, ngoài cùng)
Thủ tướng Canada Stephen Harper hôm qua, 07/09/2012, đã loan báo quyết định bổ nhiệm 5 thượng nghị sĩ mới, trong đó có giáo sư, thẩm phán Ngô Thanh Hải. Đây là công dân Canada gốc Việt đầu tiên được bổ nhiệm vào Thượng viện nước này. Ông Ngô Thanh Hải sẽ là thượng nghị sĩ đại diện cho vùng Ottawa.
—————————————————-

Janet Nguyen hay Janet Q. Nguyen,

https://vivi099.files.wordpress.com/2015/05/th.jpg
Thượng nghị viện – California 11.1014
Janet Nguyễn (sinh 1976) là một chính khách người Mỹ gốc Việt. Bà là thành viên thuộc Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ), Thượng viện tiểu bang California vào tháng 11 năm 2014. Bà là người gốc Việt đầu tiên làm giám sát viên một quận của Hoa Kỳ và cũng là người đầu tiên được bầu vào Thượng viện của một tiểu bang. Với chiến thắng của mình, bà sẽ là người giữ chức vụ dân cử cao cấp nhất của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ (trong thời điểm hiện nay, 2014).

Janet Nguyễn sinh năm 1976 tại Sài Gòn. Cha của bà từng là một người lính trong chính quyền Sài Gòn cũ. Sau năm 1975, cả gia đình đã phải trốn về quê sống cùng bà ngoại của Janet Nguyễn để tránh không phải vào trải cải tạo của chế độ mới.
———————————

Joseph Cao Quang Ánh

https://vivi099.files.wordpress.com/2015/05/josephcaoofficialphoto2009.jpg

Sinh ngày 13.3.1967, là cựu dân biểu thuộc Đảng Cộng hòa

Đại diện cho khu bầu cử quốc hội số 2 của tiểu bang Louisiana trong Hạ viện Hoa Kỳ từ năm 2009 đến 2011. Ông đã đánh bại ứng cử viên Dân chủ đương nhiệm William J. Jefferson vào ngày 6 tháng 12 năm 2008 để trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên phục vụ trong Quốc hội Hoa Kỳ. Trước khi trở thành dân biểu, ông là một luật sư tại vùng New Orleans.
Cao Quang Ánh sinh tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa, là con thứ 5 trong một gia đình Công giáo có 8 người con. Khi ông 8 tuổi, ông cùng một người chị và một người em trai rời Việt Nam đến Hoa Kỳ, vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, cha ông, một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, bị chính quyền Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo” 6 năm. Sau đó, ông sống ở Houston, Texas và tốt nghiệp trung học Jersey Village. Năm 1990, ông nhận bằng cử nhân khoa học (Bachelor of Science) ngành vật lý tại Đại học Baylor.
———————————————

Ève-Mary Thái Thị Lạc – sinh ngày 6.2,1972 tại Việt Nam,

https://haiz00.files.wordpress.com/2015/05/thai-thi-lac-1-in.jpg
Người Canada gốc Việt đầu tiên đắc cử dân biểu Quốc hội Canada và cũng là người gốc Việt đầu tiên giữ chức vụ dân biểu cấp liên bang tại một quốc gia Tây phương.
————————————–
Chân dung 9 tân sĩ quan gốc Việt tốt nghiệp HV Hải Quân Mỹ .
Con cháu của Ngụy Saigon anh hùng thiệt tình đấy thế.


https://haiz00.files.wordpress.com/2015/04/infonet_tau_hai_quan_my_anh1.jpg
ANNAPOLIS, Maryland (NV) Lần đầu trong lịch sử Hoa Kỳ, số sĩ quan Hải Quân Mỹ gốc Việt khóa 2015, theo học bốn năm và tốt nghiệp Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ đông nhất, vào ngày Thứ Sáu, 22 Tháng Năm, tại sân vận động Navy-Marine Corps Memorial của học viện ở Annapolis, Maryland, với sự chủ tọa của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden.

—————————————
Kenny Hồ
Thiếu Úy Hải Quân Kenny Hồ, 23 tuổi, sinh tại Los Angeles, California và tốt nghiệp trung học West Covina, West Covina. Gia đình không có ai tham gia quân đội. Ước vọng đi khắp thế giới và ảnh hưởng tích cực đến những ai được gặp và tại bất cứ nơi nào đặt chân đến.
Thiếu Úy Hải Quân Kenny Hồ. (Hình: Kenny Hồ cung cấp)
 ——————————–
Heather Bùi
Thiếu Úy Hải Quân Heather Bùi, 22 tuổi, sinh tại San Diego, California. và tốt nghiệp trung học Mira Mesa, San Diego. Anh em không có ai tham gia quân đội, nhưng thân phụ cô phục vụ trong Hải Quân QLVNCH. Mong gia đình được hãnh diện bằng cách gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ và sẽ phục vụ hải quân cho đến khi không còn thích công việc đang làm nữa.
Thiếu Úy Hải Quân Heather Bùi.
——————————————
Lưu Lệ Hằng (Thiên văn học, Vật lý thiên văn).


Sinh năm 1963 ở miền nam Việt Nam, lớn lên tại Sài Gòn. Cha bà là một thông dịch viên làm việc cho quân đội Hoa Kỳ.
Ngày 30.4.1975, Lưu cùng gia đình di tản ra khỏi Việt Nam và tị nạn vào Hoa Kỳ, tiểu bang Kentucky, bà thi đậu vào Viện Đại học Stanford và tốt nghiệp cử nhân vật lý năm 1984.

—————————————–

Đại Tá Hải Quân HK Vũ Thế Thùy Anh

Đại Tá Hải Quân Vũ Thế Thùy Anh
————————
Còn.. còn rất nhiều con Ngụy Quân, Ngụy Quyền khắp 5 Châu thành đạt, ích cho xã hội, lợi cho nhân loại, là những nhân tài hữu dụng góp sức cho nhân sinh cho hành tinh này… không như cặn bã.. rác rến…tệ đoan bất hảo của con cháu Đảng Cướp, Đảng Trộm Cắp của chế độ CSVN chỉ biết học hỏi và mưu sinh bằng con đường hèn hạ bất lương và vô đạo đức khắp nơi trên thế giới làm nhục quốc thể.

‘Đa số nhân dân không đồng ý nhận viện trợ từ Trung Quốc’

‘Đa số nhân dân không đồng ý nhận viện trợ từ Trung Quốc’

VOA

Người biểu tình cầm hình ảnh và biểu ngữ trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 3/11/2015.

Người biểu tình cầm hình ảnh và biểu ngữ trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 3/11/2015.

Đó là lời phát biểu của đại biểu quốc hội Việt Nam Trương Trọng Nghĩa, khi đặt câu hỏi chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm 17/11.

Ông Nghĩa nói rằng nền kinh tế trong nước “đang có xu hướng phụ thuộc ngày càng sâu vào Trung Quốc trên hầu hết lĩnh vực, và đe dọa chủ quyền về kinh tế” của Việt Nam.

Ông Nghĩa cũng cho rằng Trung Quốc “nổi tiếng về việc mang đồng tiền đi trước để chi phối về chính trị”. Ông nói thêm:

“Cử tri đề nghị không vay tiền và không nhận viện trợ từ Trung Quốc, ít nhất là trong thời điểm này, bởi Trung Quốc đang tranh chấp, thậm chí là chiếm lãnh thổ của Việt Nam và đe dọa tiếp tục chiếm nhiều hơn.”

Lời phát biểu của vị đại biểu quốc hội từ TP HCM được đưa ra hai tuần sau khi một ngân hàng của Việt Nam ký kết hợp đồng vay Trung Quốc 200 triệu đôla nhân chuyến công du của ông Tập Cận Bình tới Hà Nội hồi đầu tháng này.

Khoản vay có giá trị lớn này được báo chí trong nước cho là sẽ “đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án phát triển kinh tế của Việt Nam”, và “góp phần phát triển quan hệ hợp tác tốt đẹp” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

Tuy nhiên, ông Nghĩa đặt câu hỏi rằng nhận viện trợ hay vay vốn ODA của Trung Quốc cho dù rẻ thì sau này có kiện để đòi lãnh thổ được không?

“Nếu trưng cầu ý dân thì tôi tin đa số nhân dân sẽ không đồng ý nhận viện trợ hay vay tiền từ Trung Quốc vì còn nhiều nguồn khác để vay”.

Cũng liên quan tới vấn đề tranh chấp biển đảo, một đại biểu khác là ông Lê Nam lên tiếng chất vấn Thủ tướng Dũng về “chủ trương và giải pháp” của Việt Nam trước việc Trung Quốc “bồi đắp và xâm lấn nghiêm trọng hơn trên biển Đông”.

Ngoài ra, ông Nam cũng đề nghị ông Dũng “cho biết việc thực hiện nghị quyết Quốc hội đối với ngư dân, cảnh sát biển và kiểm ngư”.

Theo dự kiến, Thủ tướng Việt Nam sẽ trả lời các câu hỏi chất vấn vào ngày mai. Chưa rõ là ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ hồi đáp ra sao trước các vấn đề được coi là “nóng bỏng” hiện nay của các đại biểu quốc hội.

Tuy nhiên, người đứng đầu chính phủ Việt Nam từng tuyên bố rằng sẽ không đánh đổi chủ quyền quốc gia lấy hữu nghị viển vông trong quan hệ với Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tới thăm Việt Nam và phát biểu trước quốc hội hồi đầu tháng này.

Chỉ một ngày sau khi rời Việt Nam, ông Tập tuyên bố rằng các hòn đảo trên biển Nam Trung Hoa (biển Đông) “là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa”, và chính phủ Trung Quốc “phải có trách nhiệm để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi lãnh hải chính đáng”.

Cư dân mạng sau đó đã chỉ trích việc đón tiếp trọng thể dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh không che giấu điều mà nhiều người Việt Nam cho là tham vọng “nuốt trọn” biển Đông.

Chúng tôi thách đố đảng CSVN!

Chúng tôi thách đố đảng CSVN!

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao)  Chúng tôi ở đây là ai? Như Trần Quốc Toản khi xưa cầm quả cam trong tay. Họ, những tuổi trẻ Việt Nam ngày nay đang khảng khái cầm trong tay lời thách thức chế độ độc tài cộng sản Việt Nam hãy trả lại quyền làm chủ đất nước của toàn dân tộc đã bị tước đoạt suốt 70 năm qua. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (nước nhà hưng thịnh hay suy vong, mọi người dân đều có trách nhiệm) Họ, tuổi trẻ Việt Nam như đang thét lên… Đất nước không của riêng ai, mọi Công dân có quyền tham gia quản lý điều hành nhà nước và xã hội, (Điều 28- Hiến pháp) Không ai sinh ra nghiễm nhiên là lãnh đạo (không thể con quan nếu thích là được làm quan) Nhân tài, lãnh đạo, phải thông qua cạnh tranh chứng minh từ “Tự Do” ứng cử và “Dân Chủ” bầu chọn như quốc gia Myanmar…

Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
 
Họ – Tuổi trẻ tri thức Việt Nam ngày nay hầu như biết rất rõ và tởm lợm quá rồi với biết bao tiền của mồ hôi nước mắt nhân dân bốc hơi qua những lần bầu cử bịp bợm giả hiệu là “dân chủ” chỉ cốt để hợp thức hóa cho: “đảng CSVN dành quyền cắt cử ứng viên CS- bắt dân phải bỏ phiếu có sẳn ứng viên và tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc quán triệt (chọn lựa) ai được đắc cử theo cơ cấu ấn định do đảng CSVN đã duyệt trước.”(!?) mà nhà nước và đảng CSVN tung hô là “Đảng cử, dân bầu”?. (Đảng cử chọn rồi thì nhân dân còn bầu bán đếch gì nữa cho tốn kém!) Một màn hài kịch rẻ tiền.
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Vì sao Tuổi Trẻ Việt Nam thách thức đảng CS(?)
Trong khối Asean, 2 quốc gia láng giềng của Việt Nam, Campuchia và Myanmar thua kém Việt Nam về mọi mặt nhưng tại Campuchia trong lần bầu cử Quốc hội khóa 5, chọn ra một chính đảng lãnh đạo đất nước nhiệm kỳ 2013-2018. Để bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra tự do, công bằng cho các đảng phái tranh cử đã có trên 40.000 quan sát viên độc lập tình nguyện tại các tỉnh thành và trên trên 800 phóng viên báo chí trong nước cộng với gần 300 phóng viên quốc tế đăng ký tham gia giám sát chứng kiến.
Còn tại cuộc bầu cử Quốc Hội Myanmar ngày 8/11 vừa qua có 10.500 quan sát viên độc lập trong nước và nước ngoài gồm 1.118 đại diện các cơ quan giám sát bầu cử, ngoại giao quốc tế và 9.406 quan sát viên địa phương + 290 phóng viên đến từ 45 tổ chức truyền thông quốc tế chứng kiến giám sát…
Một bối cảnh mà không bao giờ đảng CSVN dám cho diễn ra trong các cuộc bầu cử tại Việt Nam – Đơn giản, dễ hiểu – Chế độ độc tài CS không cho phép bất cứ một đảng phái nào khác cạnh tranh với chính nó. Và như nói trên:
“đảng CSVN dành quyền cắt cử ứng viên CS- bắt dân phải bỏ phiếu có sẳn ứng viên chỉ định và tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc quán triệt (chọn lựa) ai được đắc cử theo cơ cấu ấn định do đảng CSVN đã duyệt trước”. Vi phạm trắng trợn Hiến Pháp Việt Nam (Điều 27) Công dân đủ 18 tuổi và 21 tuổi trở lên có quyền bầu cử, ứng cử, vào Quốc hội, HĐND và Tuyên Ngôn Nhân quyền LHQ (Điều 21) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn bầu cử một cách tự do.
Và vì vậy không bao giờ đảng CSVN chấp nhận sự có mặt của lực lượng phóng viên báo chí truyền thông quốc tế và quan sát viên độc lập trong nước hay nước ngoài, bởi chính họ (đảng CSVN) đang vi phạm pháp luật trong nước do họ đặt ra và công pháp quốc tế -LHQ- mà họ đã ký vào.
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Một ngày, sau bầu cử đa nguyên tự do dân chủ tại Myanma – Tuổi trẻ Việt Nam: Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar– Một sự thách đố rất đơn giản mà tuyệt đại bộ phận (190 nước) các quốc gia văn minh tự do dân chủ trong Liên Hiệp Quốc tự động hành động thay vì đợi công dân mình phải thách thức.
Qua 70 mùa đông CS/XHCN khắc nghiệt, không còn cam chịu mãi trong giá băng, cộng đồng mạng Facebook tại Việt Nam đang cựa mình mạnh mẽ vươn lên nở hoa, những nụ hoa tự do dân chủ tươi trẻ tỏa hương khát vọng vì một dân tộc Rồng Tiên Âu Lạc không thể cúi đầu lạc hậu kéo mãi cặp búa liềm rỉ sét lầm lũi như trâu chậm uống nước đục, lẽo đẽo theo sau thiên hạ ngửi bụi nhân quyền, tự do, dân chủ.
11/11/2015

Tư tưởng sai lầm của Henry Kissinger

Tư tưởng sai lầm của Henry Kissinger

Ngụy Kinh Sinh * Lê Minh Nguyên (Danlambao) dịch – Vì là một nhà hoạt động chính trị quốc tế cho nên tư tưởng của Henry Kissinger chủ yếu là quan hệ quốc tế. Gần đây, một nhà nghiên cứu của Đại học Harvard đến từ Trung Quốc, ông Dương Bình (Yang Peng), đã đưa ra một số nhận xét khá có trọng lượng về quan điểm của ông Kissinger. Nhưng nhận xét này của ông Dương Bình đã không đủ sâu, và dường như có chút thương tình. Vì ông là một học giả thỉnh giảng đang ở trong vùng đất của Kissinger, cho nên việc giữ sự nhẹ nhàng và hạn chế khi nói về ông ta là một điều dễ hiểu. Vì vậy, tôi xin đưa ra một số phê bình nặng hơn về tư tưởng của ông Henry Kisinger vì nó rất quan trọng đối với cả người Trung Quốc và người Hoa Kỳ.
Trong cuốn sách World Order (Trật Tự Thế Giới), mà ông xuất bản gần đây, Henry Kissinger đã giải thích viễn kiến của mình từ kinh nghiệm ngoại giao và phản ảnh đã tích lũy trong nhiều thập niên qua. Viễn kiến này thực sự có cùng chung lối, hay nói một cách khác là được nặn ra cùng một khuôn “Các Giá Trị Châu Á” của Giang Trạch Dân (Trung Quốc) và Lý Quang Diệu (Singapore). Cả hai cho rằng tư tưởng ngoại giao hay cách suy nghĩ truyền thống của người phương Tây và người Trung Quốc không giống nhau.
Lý thuyết này cho rằng người phương Tây dùng tư duy pháp lý, ví dụ như duy trì các mối quan hệ giữa các nước theo pháp luật và nó là như vậy kể từ thời các Hòa ước Westphalia vào thế kỷ thứ 17. Người Trung Quốc quen suy nghĩ theo luật rừng xanh, chỉ chấp nhận mối quan hệ giữa quốc gia bá chủ và các nước chư hầu. Theo lối diễn tả tương đối hoa mỹ của ông Kissinger, luật rừng xanh được trình bày như là tư duy về sự phát triển lịch sử. Tổng quát, các nguyên tắc của phương Đông và phương Tây khác nhau – đó là một khái niệm đặc biệt của “Các Giá Trị Châu Á”.
Về mặt lịch sử nó có thực sự đúng không? Ông Dương Bình lịch sự đưa ra một ví dụ ngược lại. Ở Trung Quốc trong thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, đã có một “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” (Big Conference to Cease the Wars) sau chiến tranh giữa các nước Tấn (Jin) và Chu. “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” (bao gồm hơn một tá các quốc gia) cho ra các hiệp ước hòa bình quốc tế đầu tiên trên thế giới. Nó duy trì hòa bình hơn một trăm năm, trong một vùng có tổng diện tích lớn hơn nhiều so với khu vực nói tiếng Đức. Nó xảy ra trên hai ngàn năm sớm hơn so với các “Hòa Ước Westphalia” mà Kissinger đã rất tự hào.
Liệu nó có đúng là trong hơn hai ngàn năm sau “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến”, Trung Quốc chỉ có mối quan hệ giữa quốc gia bá chủ và các nước chư hầu, như Kissinger đã viết? Tôi phải nói rằng ông Kissinger không đọc sách và đưa ra những bình luận mù tịt vì không biết lịch sử. Bên cạnh mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước chư hầu, còn có các mối quan hệ hiệp ước giữa Trung Quốc và các nước láng giềng mà nó vẫn tiếp tục tồn tại trong hơn hai ngàn năm. Người Trung Quốc, dù được giáo dục bởi Đảng Cộng sản TQ, vẫn nhớ hòa ước nổi tiếng giữa triều đại nhà Đường và Tây Tạng, được khắc vào ba phiến đá dựng nơi công cộng tại ba địa điểm, trong đó có thủ đô Trung Quốc đời nhà Đường là Trường An và thủ đô Tây Tạng là Lhasa. Phiến đá Hòa ước tại Lhasa (Lhasa Doring) còn tồn tại cho đến ngày nay, và nó được phơi bày cho công chúng tự do xem bất cứ lúc nào, không giới hạn. Có thể nào công chúng được xem hiệp ước viết trên da thú của ông (Kissinger) một cách tự do không?
Bây giờ chúng ta hãy khảo sát lịch sử tư tưởng châu Âu, theo cái nhìn của Henry Kissinger, một lần nữa. Chúng ta không nói về hòa bình tương đối, được duy trì bởi các giới chức tôn giáo, vào thời kỳ Trung Cổ. Có phải châu Âu hòa bình sau Hòa ước Westphalia? Những cuộc chiến bên trong nước Đức chấm dứt. Tuy nhiên, luật rừng xanh vẫn có hiệu lực giữa các quốc gia. Đã có nhiều cuộc chiến nổ ra giữa nước Đức và các nước khác. Ngay cả hai cuộc thế chiến trong thế kỷ vừa qua đã được khởi xướng bởi người Đức. Tư duy về luật hiệp ước đã ở đâu? Tốt lắm là nó bằng với Trung Quốc. Bản chất con người thì như nhau. Không có cái gọi là “Các Giá Trị Đặc Biệt”.
Điều đầu tiên ảnh hưởng đến nền hòa bình giữa những quốc gia là sự phát triển lịch sử. Do bị ảnh hưởng bởi những thăng trầm trong nước, cán cân quyền lực giữa các quốc gia sẽ bị phá vỡ. Những nước mạnh hơn sẽ có động lực để vi phạm hòa bình, hầu hết là như vậy cho lý do của chiến tranh. Hòa ước Westphalia có được vì tất cả mọi người đã bị kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh, và với việc các quốc gia của họ ở trong tình trạng suy thoái kinh tế, họ đã phải rút lại các động lực gây hấn. Các luật và các hiệp ước chỉ là những cái cớ.
Lý do mà “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” đã thành công ở Trung Quốc hơn 2,600 năm trước bởi vì tình trạng cũng tương tự như của thế giới từ thế kỷ trước. Giống như ngày hôm nay, nó tạo ra xếp sòng (overlords), hay cái gọi là “cảnh sát quốc tế” để duy trì trật tự. Nghĩa là, với sự trọng tài tương đối công bằng và với các biện pháp trừng phạt, họ ngăn chận các cuộc chiến có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào. Cái gọi là “luật quốc tế” của ngày hôm nay chỉ là như vậy (không răng). Thay vì thực (áp dụng ngay nếu vi phạm), nó phụ thuộc vào sự sẵn sàng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm của những người thực thi. Như một vấn đề thực tế, Liên Hiệp Quốc chỉ là một vật trang trí, tự bản thân không có ý nghĩa thiết thực.
Điều này cũng giống như các luật khác xung quanh chúng ta – nếu không có các biện pháp trừng phạt và những người thi hành luật pháp, thì sẽ có không nhiều người thực sự muốn tuân thủ pháp luật. Nếu người phạm tội không bị trừng phạt và thậm chí còn được thưởng các lợi ích, tôi sợ rằng hầu hết mọi người sẽ không tuân thủ pháp luật. Tình trạng hiện nay ở Trung Quốc là một ví dụ (Việt Nam cũng thế – người dịch). Và bây giờ xã hội lớn của quốc tế cũng đang phát triển theo hướng này. Khi những người yếu cổ vũ sự suy giảm của Mỹ, họ đã quên thảm họa đau khổ sẽ như thế nào khi ngôi làng thiếu người cảnh vệ.
Vậy thì sự nảy sinh tư duy xâm lược của các nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc đến từ đâu? Đây chính là nét chung của tất cả các chế độ độc tài. Tư duy độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến từ đâu? Chính xác nó đến từ các bạn ở phương Tây. Nó không phải là tư duy của hiệp ước pháp lý truyền thống Trung Quốc.
Nói một cách khác, (khi xưa) tư duy truyền thống của Trung Quốc đặt nặng về các luật lệ và các hiệp ước, trong khi tư duy truyền thống phương Tây đặt nặng trên luật rừng xanh. Chỉ khi đi vào thời kỳ hiện đại thì tình trạng mới đảo ngược, khi luật rừng xanh được áp dụng bởi Đảng Cộng sản TQ ở Trung Quốc, trong khi hầu hết các nước phương Tây đi theo những ý tưởng mới của pháp luật và các hiệp ước.
Tại sao phương Tây đã thay đổi tư duy truyền thống của mình? Đó là bởi vì người dân của các quốc gia dân chủ họ yêu chuộng hòa bình, và họ quen thuộc với tư duy tương tự như luật và các hiệp ước. Cho nên, họ thường vấp phải sai lầm, nghĩ rằng những người khác cũng như mình, mà không biết rằng họ có thể khác mình. Đặc biệt, họ không hiểu rằng tư duy của những kẻ bạo ngược thì không phải là tuân thủ luật và các hiệp ước, nhưng là để bắt nạt với luật rừng xanh.
Những người bạn cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như ông Henry Kissinger lớn tiếng bênh vực cho những kẻ bạo ngược: họ nói rằng họ muốn “Thao quang Dưỡng hối” (Tao Yang Guang Hui) – để ẩn mình chờ thời. Người Mỹ đã không hiểu được ý nghĩa thực sự của thành ngữ Trung Quốc nổi tiếng này, nghĩ rằng nó có nghĩa là đem cất các vũ khí vào trong kho và thả các con ngựa chiến về núi. Trong thực tế, ý nghĩa thực sự của thành ngữ này là: ẩn giấu các mũi tên vào trong túi, giả bộ như hòa bình và chờ đợi cho đến khi đúng thời điểm để tiêu diệt kẻ thù.
Đây là sự khác biệt cơ bản của hai cách tư duy. Ngay bây giờ, bàn tay của Tập Cận Bình đang thò vào mũi tên tẩm độc nằm trong túi của ông ta, ông khao khát muốn bắn thử nó vào các nước láng giềng. Thật vậy, ông không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Không phải ông không thể chờ vì do môi trường quốc tế, nhưng vì do hoàn cảnh bên trong của Trung Quốc. Nếu không có lực lượng hình cảnh quốc tế sẵn sàng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ hòa bình, hòa bình tất nhiên đã bị biến mất.
Bây giờ, chúng ta đã biết ai là kẻ đại nói dối quốc tế đang giúp đỡ (CSTQ) bằng cách cổ vũ sự quỵ luỵ. Nếu họ thực sự là những học giả có đầu óc tỉnh táo, thì họ đang phản bội lại người dân của họ để đổi lấy lợi ích cá nhân. Dĩ nhiên, có một truyền thống khác trong chính trị hiện đại của Mỹ, đó là: những kẻ siêu phản bội là những người được ngưỡng mộ. Truyền thống này đào tạo ra những học giả như vậy, những người nói dối với dân chúng Mỹ, đã trở thành thời thượng.
Nguồn: bit.ly/20VHmsr
Blog Lê Minh Nguyênbit.ly/1N8ijOS

Việt Nam là ‘bò sữa’ của nhà thầu Trung Quốc

Việt Nam là ‘bò sữa’ của nhà thầu Trung Quốc
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Dự án mở rộng nhà máy gang thép Thái Nguyên (TISCO) khởi công từ 2007, ngốn của ngân sách khoảng 4,500 tỷ đồng, nay đang bỏ hoang vì nhà thầu Trung Quốc ra đi và chưa… trở lại.

Đồ họa của tờ Tuổi Trẻ mô tả dự án mở rộng nhà máy gang Thép Thái Nguyên.

TISCO là thành viên của tổng công ty Thép Việt Nam – một doanh nghiệp nhà nước. Theo kế hoạch thì chính quyền Việt Nam rót tiền để TISCO “mở rộng hoạt động.” Việc “mở rộng hoạt động” được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một đã hoàn tất hồi giữa thập niên 2000. Năm 2007, TISCO bắt đầu thực hiện giai đoạn hai của kế hoạch “mở rộng hoạt động.”

Lần này, chính quyền Việt Nam cho phép TISCO chọn tập đoàn xây lắp luyện kim của Trung Quốc (MCC) làm nhà thầu EPC (cách gói tắt việc bao thầu từ tư vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị, đến xây lắp, vận hành nên còn được gọi là phương thức “chìa khóa trao tay”).

Lúc đầu, MCC nhận thực hiện gói thầu này với giá là 3,843 tỷ đồng. Giống như nhiều nhà thầu Trung Quốc khác từng đến Việt Nam để thầu các dự án, sau khi khởi công, MCC đòi nâng giá thầu xây dựng công trình lên thành 5,000 tỷ đồng (chưa tính giá thầu cung cấp thiết bị cũng tăng thêm vài trăm tỷ). Với lý do trượt giá, tỷ giá thay đổi, chủ đầu tư (tổng công ty Thép Việt Nam và TISCO) đồng ý nâng giá trị toàn bộ gói thầu lên 8,100 tỷ đồng.

Phía Việt Nam đã chi 4,500 tỷ đồng nhưng phần nhà xưởng vừa dở dang, vừa bị bỏ hoang từ năm 2012 đến nay, còn thiết bị thì dù TISCO đã giao cho MCC 90% tiền nhưng MCC vẫn đang giữ, chưa giao hệ thống điện và hệ thống điều khiển hoạt động của nhà máy gang thép Thái Nguyên mới.

Đáng nói là khi kiểm tra dự án vừa kể, cơ quan kiểm toán của chính quyền Việt Nam phát giác chủ đầu tư quá dễ dãi. Chẳng hạn, khi thương lượng hợp đồng với MCC, chưa rõ tại sao, tổng công ty Thép Việt Nam và TISCO lại chấp nhận thanh toán cho MCC theo thời giá (giá tăng sẽ nâng mức thanh toán theo yêu cầu).

Theo hồ sơ xin dự thầu, MCC chỉ yêu cầu thanh toán 90% giá trị thiết bị sau khi đã giao thiết bị cho chủ đầu tư, tuy nhiên khi ký hợp đồng giao thầu, chủ đầu tư lại chủ động cam kết trả… 95% giá trị thiết bị khi MCC giao thiết bị.

Trên thực tế, tổng công ty Thép Việt Nam và TISCO đã trả cho MCC 93% giá trị thiết bị trong khi chưa nhận được “lõi” của thiết bị là hệ thống điện và hệ thống điều khiển. Cũng vì vậy khi MCC bỏ ngang, chủ đầu tư không thể gọi nhà thầu khác thực hiện tiếp phần việc mà MCC đang làm dang dở.

Chưa kể, theo cơ quan kiểm toán của chính quyền Việt Nam, chủ đầu tư còn tự động cho phép MCC kéo dài thời gian hoàn thành công trình nên không thể phạt MCC vi phạm hợp đồng. Chủ đầu tư còn tính sai các yếu tố trượt giá, tính thiếu thuế khi đề nghị chính quyền Việt Nam cho nâng chi phí đầu tư, thành ra nếu hoàn thành thì còn rất lâu dự án này mới thu hồi đủ vốn.

Vào lúc này, mỗi tháng, ngân sách Việt Nam phải chi từ 20 đến 30 tỷ đồng lãi cho các khoản đã vay nhằm thực hiện giai đoạn hai của kế hoạch “mở rộng hoạt động” nhà máy gang thép Thái Nguyên. Bởi trót “leo lên lưng cọp,” chính quyền Việt Nam đang tìm tiền nhằm giao thêm cho MCC, để MCC tiếp tục thi công, hoàn tất dự án.

4,500 tỷ đồng đổi lấy hiện trạng như trong ảnh. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo một thống kê công bố hồi năm 2010 thì tính đến cuối năm 2009, các nhà thầu Trung Quốc nắm giữ quyền thi công số dự án có tổng giá trị lên tới 15.4 tỷ Mỹ kim tại Việt Nam. Cũng vì vậy, Việt Nam trở thành thị trường xây dựng lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Gần như toàn bộ các công ty xây dựng tại Việt Nam trở thành người làm thuê cho nhà thầu Trung Quốc ngay trên xứ sở của mình.

Đến năm 2011, Ủy Ban Tài Chính và Ngân Sách của Quốc Hội Việt Nam công bố một thống kê nữa, theo đó, các nhà thầu Trung Quốc nắm giữ tới 90% dự án tổng thầu EPC, vốn có giá trị nhiều tỷ đô la trong các lĩnh vực dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim.

Thực trạng này kéo theo nhiều hậu quả tai hại: Gần như toàn bộ các nhà thầu Trung Quốc không thực hiện đúng hợp đồng. Các nhà thầu Trung Quốc sử dụng công nghệ, thiết bị của Trung Quốc nên chất lượng của các công trình do họ thực hiện tại Việt Nam rất tệ.

Các nhà thầu Trung Quốc chỉ sử dụng công nhân Trung Quốc nên người Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ Việt Nam, tuy có nhiều công trình được thực hiện ngay tại Việt Nam nhưng doanh nghiệp Việt Nam và công nhân Việt Nam không có việc làm.

Trước nay, người ta vẫn tin việc hào phóng giao các dự án cho nhà thầu Trung Quốc và đối xử dễ dãi với nhà thầu Trung Quốc là vì yếu tố chính trị, tuy nhiên càng ngày càng nhiều dấu hiệu cho thấy, thực trạng đó đơn thuần chỉ vì việc đòi tiền “lại quả” dễ dàng hơn, việc nhận tiền “lại quả” an toàn hơn.

Chắc chắn chính quyền Trung Quốc sẽ không điều tra các công ty Trung Quốc đưa hối lộ cho viên chức Việt Nam như Nhật hoặc chính quyền nhiều quốc gia khác đã làm. (G.Đ)

Dừng chân tại Baltimore Maryland

Dừng chân tại Baltimore Maryland

Bút ký

Đoàn Thanh Liêm

*     * Ngày 20 tháng Tư năm 2010, tôi đã từ Dallas Texas bay đến phi trường quốc tế Baltimore Washington (BWI) vào lúc 5.00 chiều và được cháu Hoà là ông xã cuả cháu Vui đón đưa về nhà tại thành phố Owings Mills ở phiá tây bắc cuả Baltimore, gần với biên giới tiểu bang Pennsylvania. Muà hè năm 2009, tôi cũng đã ở đây và được các cháu chăm sóc mọi chuyện thật là tươm tất chu đáo, trong bàu không khí thật là thân thương ấm cúng cuả gia đình. Đó là lý do tại sao tôi lại lấy nhan đề là “Dừng chân” cho bài viết này.

Sau mấy tuần lễ bận rộn ở Houston, New Orleans và Dallas, tôi cần phải nghỉ ngơi lấy lại sức, và giải quyết một số công việc còn tồn đọng cuả mình. Nhất là còn phải khai triển tiếp theo (follow-up) những điều tiếp thu được trong các kỳ đại hội tại Texas và Louisiana, cũng như là gửi thư và hình ảnh liên hệ đến các vụ việc đó cho các bạn hữu khắp nơi.

Cũng như năm ngoái, các cháu Hoà Vui đã dành cho tôi cả một căn phòng rộng rãi dưới tầng hầm (basement), với đủ tiện nghi về phòng ngủ, nhà vệ sinh và nhất là bàn máy computer – để tôi có thể làm việc và trao đổi thông tin cho gọn gàng thoải mái. Rõ ràng đây là thứ “căn cứ hậu cần” cho tôi trên bước “đường hành quân” tại khu vực miền Đông nước Mỹ, cách xa với bản doanh chính là California đến trên 4,000 cây số.

Trong dịp này, vào ngày Thứ Sáu 23 tháng Tư, các cháu còn chở tôi đến thăm anh hoạ sĩ Vũ Hối ở thành phố Laurel cũng gần với Baltimore. Nhà anh chị ở chung với con cháu rất đông, nhân số lên đến tất cả 16 người, ai nấy đều có công ăn việc làm, nên cuộc sống cũng thoải mái. Anh vẫn cặm cụi làm việc như ngày nào, mà lại hay được bạn hữu khắp nơi mời đến tham gia các buổi triển lãm với những tác phẩm độc đáo cuả anh về cả bốn thể loại : Thi, Thư, Ảnh, Hoạ, tức là có Thơ, có Thư hoạ, có Nhiếp ảnh vá có Tranh do chính anh sáng tác, thực hiện. Anh nhắc lại hai câu thơ tôi nhờ anh viết để tặng Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị hồi cuối năm ngoái 2009, và bảo tôi ghi ra một số câu thơ khác nưã cho anh trình bày qua lối Thư hoạ độc đáo (calligraphy) để gửi tặng bạn bè. Và tôi đã ghi ra một số câu thơ tôi làm hồi còn ở trại tù Z30D tại khu Rừng Lá Hàm Tân hồi năm 1994-95, để tặng các bạn tù chính trị như Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Trung Tá Phạm Đức Khâm. Tôi cũng viết vài câu thơ tặng Chị Jackie Bông và Nghệ sĩ Kiều Chinh, tất cả đều là các bạn thân thiết cuả cả hai chúng tôi. Rồi chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ là anh Vũ Hối đã hoàn thành được tất cả 5 bức thư hoạ để gửi tặng các người bạn nói trên cuả tôi. (Chi tiết cuả mấy câu thơ này, tôi xin ghi trong Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này). Anh còn yêu cầu tôi cứ việc gửi thêm các câu thơ tặng bạn hữu khác nưã, để anh thực hiện trình bày và gửi làm kỷ niệm cuả chung hai chúng tôi đến các người bạn đó. Thật rõ ràng là tôi có cái duyên hợp tác gắn bó rất là thân tình với anh bạn hoạ sĩ thật dễ mến này vậy đó.

Chiều Thứ Bảy 24, các cháu còn chở tôi cùng gia đình đi tham dự thánh lễ tại nhà thờ Sacred Heart cũng gần nhà. Sau buổi lễ, lại còn chở đi vòng quanh khu vực nông thôn trong vùng. Muà Xuân cây cỏ thật xanh tươi nơi các nông trại được chăm sóc khá lớp lang gọn ghẽ, với nhiều đàn ngưạ đua nhau gặm cỏ ven đường. Dọc theo đường làng quê, có nhiều chỗ dân chúng tụ họp rất đông đảo để cắm trại và xem biểu diễn đua ngựa (horse show), tạo thêm vẻ sinh động cho cảnh thiên nhiên vốn thật tĩnh lặng thanh bình, bao quanh khu vực đô thị thường náo nhiệt ồn ào như Baltimore, Philadelphia ở hai đầu phiá nam và phiá bắc. Vẫn còn muà Xuân, nên khí hậu thật mát diụ, ban ngày chỉ vào khoảng trên dưới 10 độ bách phân, với những cơn mưa rào nho nhỏ kéo dài có khi cả một vài ngày, khiến cho cây cối càng thêm tươi tốt, với vòm lá lung linh sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời ban mai.

Cái cảnh thanh bình tĩnh lặng ở miền nông thôn này thật trái ngược hẳn với tình trạng xô bồ, phức tạp trong khu nội ô thành phố Baltimore, nơi có tỷ lệ cao nhất so với các thành phố lớn khác về loại tội phạm giết người, mà phần lớn do nạn nghiện ngập và buôn bán ma tuý phát sinh ra. Đó là vấn đề gây cho chánh quyền, cũng như dân chúng điạ phương nhiều nỗi bế tắc lo âu, nhức nhối mà từ nhiều năm nay vẫn chưa làm sao tìm được lối thoát khả dĩ vậy.

Nói về sức khoẻ cuả tôi, thì nhờ Trời và cũng nhờ đông đảo bà con chăm sóc cái ăn cái uống, cũng như nơi ở tĩnh mịch tiện nghi, nên ai gặp lại tôi cũng phải khen là hồi này coi bộ sắc diện có vẻ tươi vui, dáng đi vững chãi. Cô Uyên ở New Orleans, thì nói : “Trông anh mạnh khoẻ hơn cái hồi mấy năm trước, mà nhất là anh vẫn giữ được cái tạng thon thon với cái bụng thật là flat…” Bạn Phan Đình Minh ở Dallas, thì nói : “Anh Liêm coi thật là healthy…” Cháu Vui ở Baltimore, thì nói : “Coi bộ bác khoẻ mạnh rắn chắc hơn năm ngoái đấy…” Tôi thật mừng vì ai cũng vui lây vì thấy tôi khoẻ mạnh, lạc quan, yêu đời và say mê với công việc này nọ.

Sau chừng một tuần lễ dừng chân nơi đây, tôi lại sắp sưả đến vùng thủ đô Washington DC, để tiếp tục làm công việc nghiên cứu tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như vẫn thường làm mỗi năm vào các muà hè.

Xin hẹn sẽ trình bày tiếp trong các bài viết sau vậy nhé

Baltimore, 26 Tháng Tư 2010

Đoàn Thanh Liêm

Phụ Lục : Mấy câu thơ tặng bạn với thư hoạ cuả hoạ sĩ Vũ Hối

1/ Tặng Chị Jackie Bông :

“ Trời thu nắng nhẹ hiền hoà

Mây thu lãng đãng ngàn hoa phiêu bồng.”

2/ Tặng Chị Kiều Chinh :

“Let’s live fully

By loving totally

And enjoying peace & ecstasy

Deep in our inner-selves.”

3/ Tặng Anh Phạm Đức Khâm :

“Mưa nắng dãi dầu, thân sức kiệt

Vẫn lòng son sắt, dạ kiên trung”

4/ Tặng Anh Đoàn Viết Hoạt :

“ Tường đá rào cao kiên cố đó

Hồ dễ làm ta bỏ cuộc chơi?”

5/Tặng Anh Nguyễn Đan Quế :

“Tù mấy phen rồi, ai thắng ai?

Bạo quyền muôn thuở sợ công khai

Bịt mồm khoá miệng người công chính

Ta vẫn kiên cường, há thua ai?”

6/ Tặng Anh Nguyễn Bảo Trị :

“Đường xa vạn lý mỏi mòn

Vẫn nòi quân tử sắt son với Đời.”/

Lịch sử Dinh Độc Lập

Lịch sử Dinh Độc Lập

1. Vài nét về lịch sử dinh Gouverneur de la Cochinchine:

Năm 1858, Pháp đã phát động một cuộc tấn công vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Việt Nam. Năm 1867, Pháp đã hoàn thành cuộc chinh phục của miền Nam Việt Nam (Đàng Trong), bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Để củng cố thuộc địa mới  được thành lập, vào ngày 23 tháng 2 năm 1868, Lagrandière, Thống đốc Nam Kỳ có những động thái đầu tiên là xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ mới và chọn một vị trí đắc địa nhất. Đó là một vùng đất cao nhất Sài Gòn, rộng 15 ha, có nơi làm công viên, vườn cây và những bãi cỏ xanh mướt, nhìn ra một không gian rộng thoáng.

Ngày 5.2.1865, tờ Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn) đăng một thông báo của chính quyền thuộc địa dành một khoản tiền thưởng trị giá 4.000 franc cho các kiến trúc sư hay nghệ sĩ nào giới thiệu một đề án tốt nhất được chọn làm cơ sở xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ.

Khoản tiền thưởng không phải là nhỏ, song đến ngày 20.4.1865, vượt quá thời hạn chót 25.3.1865, chỉ mới có một đề án được gửi tới ban tổ chức. Sau đó không lâu, một đề án do một nhóm kiến trúc sư ở Singapore soạn thảo được chuyển đến Sài Gòn, song sau khi xem xét kỹ cả hai đề án, ban tổ chức không chấp thuận một cái nào.

Cuối cùng, cơ hội bắt tay xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã xuất phát từ một sự tình cờ. Trong một dịp ghé Hong Kong, hai đô đốc Pháp Ohier và Roze (cũng từng làm Thống đốc Nam kỳ) được giới thiệu với một kiến trúc sư người Pháp trẻ tên Hermitte, nguyên là học viên trường Mỹ thuật Paris.

Tại Hong Kong, Hermitte đã đoạt giải thưởng trong việc thiết kế đồ án Tòa Thị chính, vượt qua nhiều kiến trúc sư khác. Nắm bắt được những thông tin này, Roze và Ohier trở về Sài Gòn, thuyết phục đương kim Thống đốc Nam kỳ De La Grandìere chính thức nhờ Hermitte thiết kế và xây dựng dinh Thống đốc.

Một trong những biện pháp được sử dụng để lôi kéo nhân tài trẻ này là khoản thu nhập 36.000 franc/năm, cao hơn rất nhiều so với các viên chức Pháp đứng đầu các cơ quan tọa lạc tại Sài Gòn. Và những gì De La Grandìere làm đã có một hiệu ứng tốt: chỉ mấy ngày sau khi đến Sài Gòn, Hermitte trình một đồ án được viên Thống đốc chấp thuận ngay.

Chủ nhật ngày 23 tháng 2 năm 1868, trước đông đảo người tham dự, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã diễn ra dưới sự chủ trì của Đô đốc De La Grandìere, với sự tháp tùng của nhiều sĩ quan và viên chức cao cấp của Pháp.

Người làm phép cho công trình là Giám mục Miche với một diễn từ gây xúc động cho cử tọa. Với sự phụ giúp của kiến trúc sư Hermitte, Thống đốc De La Grandìere làm lễ đặt viên đá đầu tiên được chôn sâu 2,6m bên dưới mặt đất, trên một tầng đất rất cứng chắc.

Đó là một viên đá hoa cương vuông vắn, mỗi cạnh 50cm, được mang từ Biên Hòa về. Trong thời gian xây dựng, Hermitte đã cho đào một hố móng sâu 3,5 mét, lấy đi 2.436 m3 đất đá và sử dụng khoảng 2 triệu viên gạch.

Đường Norodom nhìn từ dinh thống đốc Nam kỳ

Năm 1870, công trình đang thực hiện theo tiến độ đã định thì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, hoàng đế Pháp Napoléon III bị bắt làm tù binh, nước Pháp thất trận. Sự kiện này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ, do nhiều vật liệu phải được chuyển từ chính quốc sang. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Tất cả đều được xây theo phong cách tân Baroque giống với kiểu của hoàng đế Napoleon III.

Cũng vì thế mà mãi đến năm 1875, kiến trúc đồ sộ này mới hoàn chỉnh phần trang trí. Sốt ruột về sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng và hoàn thành cơ sở, ngay từ năm 1873, Thống đốc Nam kỳ Dupré đã dọn về đây để ở và làm việc trong lúc việc trang trí còn tiếp diễn. Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” còn được lưu giữ, mãi đến năm 1877 mới bị phá hủy hoàn toàn.

Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc.

Trước khi có dinh Thống đốc Nam kỳ là Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” được xây dựng bằng gỗ đặt trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các con đường Nguyễn Du-Tự Do-Gia Long-Hai Bà Trưng về sau (khu vực sau này là trường Taberd). (nguồn historicvietnam.com do Tim Doling viết)

Trong sảnh dinh thống đốc Nam kỳ

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam. Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

2. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa:

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.

Dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa

Đến năm 1960 vào ngày 11 tháng 11 xảy ra cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quân chúng. Ngày 12 tháng 11, đại tá Huỳnh Văn Cao chỉ huy bộ binh và thiết giáp thuộc Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho cùng đại tá Trần Thiện Khiêm và trung tá Bùi Dzinh chỉ huy bộ binh và Pháo binh thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Sa Đéc đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem cuộc giao tranh. Lực lượng trung thành đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.Sau khi cuộc đảo chính bị dập tắt, một số sĩ quân quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.

Tem hình dinh Độc Lập

Tôi còn nhớ sau cuộc đảo chính, quân dù của đại tá Nguyễn Chánh Thi rút đi ngược đường Công Lý hướng lên Tân Sơn Nhất, dân chúng sài Gòn đã mua bánh mì bỏ trong những giỏ cần xé lớn để dọc hai bên đường cho quân đảo chính.

Cảnh dân chúng tán loạn khi đi xem đảo chính

Đến năm 1962 lại xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 do hai phi công tên là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện. Mục đích của cuộc tấn công là nhằm ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và gia đình ông, những người tham gia triều chính, trong đó có cố vấn Ngô Đình Nhu.

Vào lúc 7 giờ sáng, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy nổ. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc máy bay ném bom A-1 Skyraider được Hoa Kỳ cung cấp.

Hai chiếc máy bay này đã ném bom và napalm. Nhiều quả rocket và nhiều loạt đạn súng máy cũng được bắn vào tòa nhà. Ngày hôm đó nhiều mây, hai viên phi công này đã bay với độ cao khoảng 150 m, đã hoàn thành một vòng tấn công tứ phía trước khi bay lên mây. Họ đã tấn công trong 30 phút trước khi lực lượng phòng không trung thành với Ngô Đình Diệm có thể đến và phản công.

Cuộc tấn công đã làm cho lực lượng bảo vệ Sài Gòn bất ngờ, bởi vì họ đã không biết là các chiếc máy bay này độc lập tác chiến hay có sự phối hợp với lực lượng dưới đất. Xe tăng và xe chở lính vội vàng đến tham chiến và pháo đất đối không khai mào trước, một chút nữa thì bắn trúng máy bay trung thành đang truy đuổi hai chiếc phản loạn.

Cuộc tấn công đã kết thúc trong một tiếng đồng hồ nhưng hai viên phi công đã không trút hết bom, nếu không đã có thể san phẳng Dinh Độc Lập. Máy bay của Quốc đã bị hư hỏng bởi tảo lôi hạm ở trên sông Sài Gòn và đã hạ cánh ở Nhà Bè. Cử thì đã đến Campuchia an toàn, tin rằng cuộc tấn công đã thành công.

Quả bom nặng 500 lb đầu tiên đã xuyên vào một căn phòng mà trong đó Diệm, một người hay thức dậy sớm đang đọc sách. Quả bom này không nổ và Diệm đã chạy xuống tầng hầm của Dinh Độc Lập cùng với Tổng giám mục Ngô Đình Thục, em trai Ngô Đình Nhu và vợ Nhu là Trần Lệ Xuân và con của họ. Trần Lệ Xuân bị gãy tay khi đang chạy xuống tầng hầm. Ba người phục vụ và lính gác chết, 30 người khác bị thương. Một nhà thầu người Mỹ leo lên nóc nhà để xem vụ tấn công đã bị rơi xuống và chết.

Tôi vẫn nhớ sáng hôm đó khi chuẩn bị đi học (lúc đó tôi học tư ở trường Michelet góc ngả tư Trương Minh Giảng – Hiền Vương) thì tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời và một tiếng nổ lớn vang lên. Pháo cao xạ từ dinh bắn lên xối xả, đạn bay hết tầm rơi vào khu biệt thự kế bên tôi ở (230 Công Lý); mọi người chạy hết vào trong nhà tránh đạn.

 

Bà Trần Lệ Xuân đang xem bản thiết kế dinh Độc Lập mới

Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.

Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long. Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963.

3. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ II Cộng Hòa:

Ngày 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Phí tổn xây dựng Dinh Độc Lập tốn khoảng 150.000 lượng vàng và mỗi quân nhân, nhân viên chính quyền thời ấy phải đóng góp mỗi người một ngày lương. Một vài số liệu về vật liệu đã sử dụng: bê-tông cốt sắt độ 12.000m3, gỗ quí 200m3, kính làm các cửa 2.000m2, đá rửa và đá mài 20.000m2…

Theo đồ án, tòa nhà có diện tích xây dựng 45.000 m2 (rộng 21 gian 85m, sâu 19 gian 80m). Diện tích mặt sàn sử dụng khoảng 20.000m2, gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng (có sân bay trực thăng) và một tầng nền. Tổng số các phòng trong toàn dinh là 95 phòng, không kể các khu vực vệ sinh, hành lang và khách sảnh. Các phòng lớn bố trí cho các công việc đối nội, đối ngoại nằm ở các tầng trệt và lầu 1, lầu 2. Trang trí trong dinh có nhiều bức họa của những danh họa có tiếng đương thời. Bức “Giang sơn cẩm tú” của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bức “Khuê văn các”, “Vua Trần Nhân Tông” của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Đặc biệt ở phòng trình quốc thư có bức “Bình Ngô đại cáo” (của Nguyễn Trãi viết trong thời giúp Lê Lợi chống giặc Minh), một bức tranh sơn mài lớn gồm 40 bức tranh sơn mài nhỏ ghép lại, tả cảnh sinh hoạt của nhân dân Việt Nam dưới thời Lê của họa sĩ Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra còn bức tranh “Giang Sơn Cẩm Tú” của KTS Ngô Viết Thụ; bức “Khuê Văn Các” (Vua Trần Nhân Tông) của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con ngườ i hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời.

Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các hành lang, đại sảnh, các phòng ốc đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.

Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.

Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi 4 trục đường chính đó là:

• Ðường Công Lý ở phía Ðông Bắc (mặt chính của Dinh)

• Ðường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh)

• Ðường Hồng Thập Tự ở phía Tây Bắc (phía bên trái Dinh)

• Ðường Nguyễn Du ở phía Ðông Nam (phía bên phải Dinh)

Dinh có 04 khu nhà:

• Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Ðây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Khu này có 03 tầng lầu, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 1 tầng nền và 1 tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng.

• Khu nhà 2 tầng diện tích 8m x 20m phía đường Nguyễn Du trước 1975 là trụ sở làm việc của Ðảng Dân chủ.

• Khu 04 nhà 2 tầng phía góc đường Nguyễn Du – Huyền Trân Công Chúa trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Ðộc lập.

• Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa – Hồng Thập Tự, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu, của bộ phận chăm sóc vườn cây.

Ngoài các khu nhà trên, ở góc trái Dinh phía đường Hồng Thập Tự còn có một nhà bát giác đuờng kính 4m, xây trên một gò đất cao, chung quanh không xây tường, mái ngói cong cổ kính làm nơi hóng mát, thư giãn.

Các bạn nhìn thấy những cây cao bên trong dinh, đó là những cây nhãn rừng. Trong dinh có rất nhiều sóc, chúng thường ăn trái này. Đó là hồi trước năm 1975 chứ không biết giờ này còn không.

Tôi còn nhớ vào năm 1970 vào dịp tất Trung thu, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có tổ chức lễ trước thềm của dinh. Lúc đó trường mình có dự, thầy Linh dẫn một ban hợp ca hát bài Trung thu gặp mưa do thầy sáng tác. Trùng hợp thay đêm đó trời mưa, học sinh các trường tràn vào sảnh chính của dinh dẫm lên sàn và thảm làm dơ hết.

Xen giữa 04 khu nhà trên là những bãi cỏ xanh mướt, vườn cây cổ thụ, những chậu cây kiểng quí và 04 sân tenis phía sau khu nhà chính.

Dinh Độc Lập lúc đầu chưa có bao bọc bởi hàng dây kẽm gai, chỉ có từ năm 1968 mới được rào thêm để bảo vệ an ninh cho dinh để tránh bị tấn công như trong vụ tết Mậu Thân và đường Huyền Trân Công Chúa cũng bị ngăn lại không cho xe qua lại.

Về sau có thêm những rào sắt đặt dài theo hàng rào dinh

Đường Huyền Trân Công Chúa bị chắn ngang bởi hàng rào bảo vệ

Dinh độc Lập được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bảo vệ dưới mặt đất nhưng trớ trêu thay nó bị tấn công từ trên không. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. Một trái bom rơi cạnh sân trực thăng trên nóc Dinh nhưng chỉ nổ phần đầu cắm xuống làm lún sạt một khoảng nhỏ. Lúc đó tại trường Lê Quý Đôn các lớp khối 10 trở xuống đang thi đệ nhị bán niên riêng lớp tôi thì bắt đầu vô lớp học toán với thầy Quãng Lan, thì chúng tôi bỗng nghe một tiếng rú của máy bay trên đầu và một tiếng nổ sau là tiếng pháo cao xạ. Chúng tôi chạy ra ngoài lớp thì thấy mấy thầy cô và các học sinh chạy tán loạn, tôi với anh Hồ Tuấn Ngọc lấy máy chụp hình chạy ra cổng trước băng qua đường và chụp một số hình. Rất tiếc giờ anh Ngọc không còn và các hình đó cũng thất lạc. Đây là lần thứ hai trong lịch sử dinh Độc Lập bị đánh bom.

Rồi lịch sử cái gì đến phải đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức nhường quyền lãnh đạo cho ông Trần Văn Hương nhưng ông này không ở trong dinh. Đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh lên làm tổng thống chỉ ở vỏn vẹn hai ngày trong dinh.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng T 54 của Bùi Quang Thận húc sập cổng dinh chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Nguồn: ThaoLQĐ

Tổng thống Myanmar: Kết quả bầu cử sẽ được tôn trọng

Tổng thống Myanmar: Kết quả bầu cử sẽ được tôn trọng

Tổng thống Thein Sein trong cuộc họp với các chính đảng tại Yangon, ngày 15/11/2015.

Tổng thống Thein Sein trong cuộc họp với các chính đảng tại Yangon, ngày 15/11/2015.

Tổng thống Myanmar Thein Sein hứa sẽ chuyển giao chính phủ suôn sẻ, trong một nỗ lực nhằm xua tan những lo sợ rằng quân đội sẽ một lần nữa sẽ không tôn trọng kết quả của cuộc bầu cử tự do.

Ông Thein Sein hứa như vậy trong một cuộc họp với các chính đảng tại Yangon hôm Chủ nhật, một tuần sau cuộc bầu cử lịch sử mà đảng Liên minh Dân chủ Toàn quốc, gọi tắt là NLD, của bà Aung San Suu Kyi đã thắng áp đảo Liên minh Đoàn kết và Phát triển đương quyền được quân đội hậu thuẫn.

Tổng thống Thein Sein nói: “Mọi nhiệm vụ sẽ được  chuyển giao có hệ thống cho chính phủ mới theo thời biểu.  Chúng tôi sẽ bảo đảm cuộc chuyển tiếp suôn sẻ, ổn định và không phải lo sợ về bất cứ điều gì.”

Chính phủ đương quyền sẽ tiếp tục cho đến tháng 2 năm tới, khi đảng NLD sẽ tiếp nhận hơn 80% số ghế trong quốc hội, và từ đó sẽ quyết định ai lên làm tổng thống.

Đảng NLD đã giành chiến thắng ở cuộc bầu cử gần đây nhất ở Myanmar, còn gọi là Miến Ðiện, vào năm 1990, nhưng chính quyền quân nhân không tôn trọng kết quả bầu cử và tiếp tục cầm quyền trong gần 5 thập niên cho đến năm 2010, khi một chính phủ bán dân sự được thành lập do ông Thein Sein, một cựu tướng lãnh, lãnh đạo.

Người phát ngôn của NLD, ông Nyan Win nói: Chính sách của NLD mà chúng tôi luôn nêu cao cho đến ngày hôm nay là “hòa giải quốc gia.”

Bà Aung San Suu Kyi không được phép làm tổng thống theo hiến pháp của nước này, nhưng bà sẽ sử dụng quyền hành từ phía sau trong tư cách là thủ lãnh của NLD. Bà Suu Kyi đã yêu cầu Tổng thống Thein Sein và chủ tịch quốc hội Shwe Mann và tư lệnh quân đội Min Aung Hlaing họp để bàn về một cuộc chuyển giao quyền lực suôn sẻ.

Các nhà quan sát nói rằng khôi nguyên giải Nobel Hòa bình 70 tuổi này phải thiết lập mối quan hệ làm việc với quân đội, phe được tự động nắm giữ 25% số ghế trong quốc hội theo quy định của hiến pháp năm 2008, và tiếp tục nắm giữ nhiều cơ quan trọng yếu, như bộ quốc phòng, bộ nội vụ và an ninh biên giới.

Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.

Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.
 
image
Switch to:  Text-Only,  Daily Digest •  Unsubscribe •  Terms of Use •  Send us Feedbac
Mất hơn 10 giờ bay đêm từ Bangkok (Thái Lan), rạng sáng, chiếc Boeing 747 chở hơn 400 hành khách mới hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv (Israel) bên bờ Địa Trung Hải. Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch thuộc công ty Sharon Tours nói: “Cả ngày hôm nay chúng ta dành cho biển Chết. Các bạn sẽ được tắm ở một nơi mặn nhất thế giới và là nơi thấp nhất trên bề mặt trái đất, âm 400m so với mặt biển. Không cần phao, mọi người vẫn nổi trên Biển Chết”.
image
Vượt bao đồi núi khô cằn, gần trưa mới đi ngang qua thánh địa Jerusalem để bắt đầu “đổ dốc” vào lòng Biển Chết.
image
Độ mặn của muối và khoáng chất đặc biệt nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng.
 
image
Trong nước có chứa hơn 35 loại khoáng chất khác nhau cần thiết cho sức khỏe và chăm sóc da toàn thân bao gồm Magiê, Canxi, Kali, Brôm, Lưu huỳnh và Iodine. Tất cả có tác dụng giảm đau, chữa trị hiệu quả các bệnh thấp khớp, vẩy nến, nhức đầu, đau chân, nuôi dưỡng và làm mềm da.
image
Biển Chết dài 76km, chỗ rộng nhất tới 18km và chỗ sâu nhất là 400m. Bề mặt Biển Chết nằm ở 4175m dưới mực nước biển nên là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.
image
Chỉ cần dang thẳng tay chân, ngẩng cổ lên để tránh nước mặn vào mắt, thì đã như cái bong bóng nổi phình trên mặt biển.
  image
image
Biển Chết đúng là một nơi du lịch tuyệt vời lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên.
image
Mỗi năm, hàng trăm du khách đổ xô đến Biển Chết để được thả nổi cơ thể mình trên mặt nước. Điểm thấp nhất trên trái đất này luôn là nơi hấp dẫn du khách nhất.
image
Biển Chết còn được gọi là” Biển Muối”, khu vực chứa nước bị vây kín này có thể được xem là một hồ nước muối có độ mặn cao nhất trên thế giới. Biển Chết nằm giữa biên giới 3 nước Israel, Palestine và nằm sâu trong thung lũng Jordan, cách thành phố Amman khoảng 55 km về phía Đông.
  image
image
Biển Chết dài 76 km, chỗ rộng nhất tới 18 km và chỗ sâu nhất là 400 m.. Đây là một trong những khu nghỉ dưỡng sức khỏe đầu tiên trên thế giới, người ta sử dụng muối và khoáng chất từ Biển Chết để làm ra mỹ phẩm và các gói thảo dược tiêu thụ trên toàn thế giới. Từ xa xưa người ta đã biết khai thác nguồn muối và khoáng chất tại Biển Chết này để làm ra nhiều sản phẩm khác nhau, đặc biệt là kem để ướp xác ở Ai Cập. Như tên gọi của nó, Biển Chết không có một loài sinh vật nào có thể tồn tại được cả vì độ mặn rất cao. Độ mặn của muối và khoáng chất đặc hữu nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng. Biển chết có nồng độ mặn là 38% trong khi đó độ mặn của nước biển ở các đại dương trên thế giới bình thường vào khoảng 2,5%. Chính vì hàm lượng muối trong biển rất cao nên sức đẩy của nước rất lớn. Lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên, bơi lội ở đây cũng thật sự độc đáo không thể bỏ qua. Đây là nơi có một không hai trên thế giới mà bạn có thể thả mình trên mặt dưới để đọc một tờ báo.
image
Biển Chết mang không khí khô, giàu oxy mà không có bất kỳ một sự ô nhiễm môi trường nào, nhiệt độ tương đối cao ngay cả mùa đông cũng không thuyên giảm. Thực tế là các tia cực tím có hại được lọc một cách tự nhiên. Vì vậy bạn vẫn có thể tắm nắng mà không lo sợ bị cháy nắng. Vùng nước chữa bệnh tự nhiên nằm dọc theo bờ biển kết hợp với lớp bùn đen ở bên dưới là liệu pháp điều trị sức khỏe và vẻ đẹp lý tưởng. Ngoài ra khu bảo tồn thiên nhiên và sự đa dạng của khu vực danh lam thắng cảnh mang lại một sự kết hợp độc đáo cho khung cảnh. Những ốc đảo sa mạc khô cằn bên cạnh những hồ bơi và thác nước đông đúc với hệ động thực vật. Các di tích lịch sử của khu vực là một trong những nơi nổi tiếng thế giới cụ thể như Massada, Jericho, Ein Gedi, các pháo đài La Mã và các pháo đài ở sa mạc Judea.
image
Massada- Pháo đài của người Do Thái nằm ở hướng tây Biển Chết
image
image
image
Dọc theo bờ biển là những tòa nhà cao tầng, quán bar, vũ trường … Sắc trắng của các tòa các pha trộn với màu vàng của cát, màu xanh nước biển tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ.
image
image
  image
image
Ven bờ biển còn có các đụn muối trắng hình thành từng cụm, nhô lên như những chiếc nấm trông rất đẹp. Đây là kết quả của nước biển bốc hơi trải qua nhiều năm.
image
Gọi là biển chết, vì trong lòng biển không có sinh vật nào sống nổi và biển không có lối nào thông ra các đại dương.
image
Mặc dù mang tên Biển Chết, nhưng nơi đây không chết bao giờ, luôn mang một sức sống mãnh liệt. Biển Chết tiếp đón hàng triệu lượt khách mỗi năm đến viếng thăm, nghỉ dưỡng và tắm biển với màn trình diễn thả nổi mình trên mặt nước.

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”

nhac-si-anh-bang-622.jpg

Nhạc sĩ Anh Bằng

Courtesy photo

Dòng nhạc Anh Bằng”

Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thuỵ du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”… Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.

Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.

“Hãy nói về cuộc đời

Khi tôi không còn nữa

Sẽ lấy được những gì

Về bên kia thế giới

Ngoài trống vắng mà thôi

Thuỵ ơi và tình ơi…” (Khúc thuỵ du)

Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thuỵ Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.

Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức

Lại thêm một người nữa ra đi…

Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…

Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều

Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?

Ai đứng trông ai ven hồ

Khua nước trong như ngày xưa…” (Nỗi lòng người đi)

Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bâ giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.

Nửa đêm biên giới

anhbang-400
Nhạc sĩ Anh Bằng. Courtesy photo.

Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hoà tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.

“Mẹ ơi… biên cương giờ đây

Trời không… mưa nhưng nhiều mây

Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang

Nghe… gió rung cây đổ lá vàng

Sương xuống mênh mang

Khèn trong…. buôn xa còn vang

Nhịp chìm… tiêu sơ nhặt khoan

Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu

Con… hát ca vui lều tranh nghèo

Ôi đẹp làm sao…” (Nửa đêm biên giới)

Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.

“Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.

Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,

từng lũy tre muộn phiền.

Tôi có người vợ ngoan.

Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…”(Chuyện giàn thiên lý)

Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.

“Anh còn yêu em như rừng lửa cháy

Anh còn yêu em như ngày xưa ấy

Chiều xuống mờ sương

Cửa đóng rèm buông

Gối kề bên gối

Môi kề bên môi

Anh còn yêu em đường xanh ngực nở

Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ

Bạch đàn thâu đêm

Bạch đàn thâu đêm

Thầm thì tóc rũ

Anh còn yêu em…” (Anh còn yêu em)

Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.

“Khi áng mây cao đừng trên nếp trán.

Anh chợt nghe tình vỗ cánh baỵ

Trái tim anh hờn dỗi trên vaị

Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy

Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.

Trên bàn tay lộc biếc lá non.

Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.

Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…” (Kỳ diệu)

Anh còn nợ em

Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức

Rồi cũng có khi ông hoá thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.

“Anh còn nợ em

Công viên ghế đá

Công viên ghế đá

Lá đổ chiều êm

Anh còn nợ em

Dòng xưa bến cũ

Dòng xưa bến cũ

Con sông êm đềm

Anh còn nợ em

Chim về núi nhạn

Trời mờ mưa đêm

Trời mờ mưa đêm…”(Anh còn nợ em)

Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hoà với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:

“Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…”

“Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.”

Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.

Thông báo

Xin thông báo :

8 giờ sáng ngày 15 tháng 11 – 2015
Số lượt người xem đã tròn 500,001.
Xin thành thật cám ơn quí độc giả

Ban Biên Tập “Kẻ đi tìm”

Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)

Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)

J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội

RFA

Condo_nhaDoDangDu_622.jpg

Nhóm côn đồ vào đánh những người đến thăm nhà em Đỗ Đăng Dư ngày 16/10/2015.

Citizen photo

Vụ án đánh luật sư

Cái chết của em Đỗ Đăng Dư đã làm nóng dư luận bởi sự khuất tất và oan khuất. Nhưng dư luận còn chú ý hơn vì những hành động của các cơ quan công quyền, các đám xã hội đen, côn đồ – mà những năm gần đây, hiện tượng công an đóng giả côn đồ hành động như côn đồ đã trở thành phổ biến – đã tiếp tục gây sự chú ý của dư luận xã hội. Chúng tôi đã từng là nạn nhân thường xuyên của lực lượng công an đóng giả côn đồ này.

Những vụ việc ngăn chặn, sách nhiễu, đánh đập người đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã làm dư luận chú ý. Ngay sau đám tang của em một ngày, một số người động lòng thương đến thăm gia đình em và viếng hương hồn oan khuất của em đã bị gây sự và chặn đánh vào ngày 16/10/2015. Đám người mặc thường phục đã vào tận nhà em rình rập, khủng bố những người đến thăm gia đình em mà không có bất cứ lý do nào.

Cũng theo hình thức đó, ngày 3/11, hai vị luật sư đến gia đình cũng bị một nhóm côn đồ tổ chức tấn công tạo nên nhiều thương tích, cướp lấy tài sản của họ…

Đặc biệt, những hành động đằng sau đó của hệ thống công an đã không thể không đặt ra những nghi ngờ về một sự khuất tất trong vụ việc này.

Trước hết, theo các luật sư cho biết, thì ngay sau khi các luật sư bị đánh, công an huyện Chương Mỹ đã không đến hiện trường, khi luật sư khai báo và làm biên bản, họ đã ghi không trung thực vào lời khai và biên bản như báo cáo của các nạn nhân, kết quả là các luật sư đã không ký vào biên bản. Riêng điều này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Nguyên nhân nào mà các nạn nhân đã không được bảo vệ bởi lực lượng Công an và những động thái của Công an có ý nghĩa gì?

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, LS Trần Đình Triển Phó chủ nhiệm, Trưởng ban Bảo vệ luật sư đến tận Công an Chương Mỹ, thì được bảo vệ cho biết các công an Huyện đã xuống hiện trường. Thế nhưng khi đến hiện trường, thì người dân cho biết không có bất cứ công an nào đến đó chiều hôm ấy. Trở lại CA Huyện Chương Mỹ, thì LS Triển được thông báo các cán bộ bận và không thể tiếp luật sư (!)

Tình trạng làm việc và cách làm của Công an Chương Mỹ là vậy trước một vụ án. Mặc dù tướng Nguyễn Đức Chung “đã cho hay sau khi vụ việc xảy ra đã chỉ đạo Công an huyện Chương Mỹ điều tra nghiêm túc”.

Trả lời báo chí, thiếu tướng Giám đốc Công an Hà Nội cho rằng: “Vấn đề ở đây là tình hình ở Chương Mỹ rất phức tạp, khi mọi người đến thì cũng nên thông báo để cho cơ quan công an có phương án bảo vệ. Đây là trách nhiệm của công an phải bảo đảm an ninh trật tự chứ đừng chủ động vào”. Điều này có nghĩa là ở đất nước Việt Nam ổn định và an ninh này, ngay tại Thủ đô vì hòa bình, mà người dân đến đây phải nhờ công an bảo vệ, nếu không thì bị đòn… đừng kêu?

Ngày 10/11/2011 Công an Hà Nội tổ chức một cuộc họp báo, nhưng các nạn nhân và đoàn LS Hà Nội không được mời. Thậm chí khi đến, họ còn không được cho vào (?). Nguyên nhân vụ việc được CAHN cho biết là vì “xe chạy gây bụi” nên các luật sư bị côn đồ đánh và chưa khởi tố vụ án hình sự. Điều này trái hẳn với điều ông Nguyễn Đức Chung, thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội đã trả lời báo chí rằng “Nhưng thông tin ban đầu thì 2 luật sư bị hành hung khi ra đường sau khi có va chạm giao thông”.

Từ chỗ nguyên nhân là va chạm giao thông đã bị các luật sư nạn nhân phản đối kịch liệt, nội dung đã được chuyển sang do “bụi”.

Nội dung cuộc họp báo đã bị các luật sư phản ứng dữ dội. Mạng xã hội được dịp nóng lên vì phát ngôn này của Công an Hà Nội, tạo những trận cười chảy nước mắt.

Tiếp đó, các nạn nhân luật sư đã nhận dạng được một gương mặt hung thủ là công an xã tên Cửu, nhưng sau đó, bằng một cuộc họp báo, Công an Hà Nội đã khẳng định viên công an này đi qua đó nhưng không tham gia đánh đập các nạn nhân. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Tại sao là khách xa lạ từ nơi khác đến, các LS lại nhận ra một người trong hệ thống công an xã mà họ chưa từng gặp, chưa từng thù oán lại đến đánh họ? Chẳng lẽ các luật sư này đã chiêm bao thấy tên Cửu này?

Khi côn đồ được dùng như một giải pháp

NguyenvanPhuongbidanhLocHa-400.jpg
Nhóm côn đồ tấn công Nguyễn Văn Phương là những công an vừa mặc quân phục ở trong đồn Lộc Hà. Citizen photo.

Tại Việt Nam, một thời khi công nghệ thông tin chưa phát triển, người dân thấy công an như thấy cọp, thì công an muốn làm gì đều được, muốn bắt bớ, đánh đập hoặc làm gì thì cũng không ai dám hé răng nửa lời. Họ có thấy cũng coi như giả điếc, có chứng kiến cũng như không.

Thế nhưng, thời nay đã khác. Khi Internet phổ cập khắp mọi nơi, một chiếc điện thoại rẻ tiền từ một hang cùng ngõ hẻm nào đó cũng có thể cho cả thế giới thấy được sự thật đang diễn ra bằng hình ảnh, âm thanh sống động, thì mọi hành động bạo lực, vô đạo đức và nhân tâm sẽ khó khăn che giấu hơn. Nhiều hành động, việc làm càn rỡ bất chấp luật pháp và nhân tính đã được tung lên mạng, nhiều vụ việc đã được phơi bày trước công chúng và công luận, thì việc công an mang sắc phục làm những việc bất chấp luật pháp rất dễ bị phơi bày và khó chối.

Nhiều sự việc đã được đưa lên mạng, lực lượng công an chối quanh một cách ngây ngô, khiên cưỡng đã chỉ càng làm cho người dân nhận thấy bản chất của sự việc và cách nhìn của người dân đã thay đổi. Vụ viên công an đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, Công an Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Nhanh đã nhanh nhẩu cho rằng video đó được làm giả từ nước ngoài đã là một ví dụ điển hình cho sự chày cối và lý sự cùn bất chấp sự thật. Nhiều vụ việc khác đã buộc cơ quan công quyền phải vào cuộc chữa cháy cũng chỉ từ những chiếc điện thoại, máy quay phim nhỏ nhắn, rẻ tiền.

Giả danh côn đồ

Do vậy, lực lượng công an đã buộc phải dùng biện pháp khác: Giả danh côn đồ.

condothanhcongan-400.jpg
Bà Cao Thị Minh Toàn, Trường đồn CA Phường Trần Hưng Đạo, Thái Bình, sau khi đóng vai côn đồ chỉ đạo đánh đập công dân. (Ảnh minh họa). Photo: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh.

Những năm trước đây, khi muốn khủng bố nhà thờ, tu viện Thái Hà, Tòa TGM Hà Nội, từng đoàn người được huy động kêu gào cả đêm đòi giết người. Hình ảnh đó đã bị công luận trong nước và quốc tế lên án mãnh liệt. Nhà cầm quyền đã chối quanh: Đó là do “Quần chúng tự phát” – Lời Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Tuy nhiên, người ta đã không khó để vạch trần con bài này và vạch rõ đây là cách để dẫn đất nước vào trình trạng vô chính phủ và không luật pháp. Và từ đó việc dùng cách này coi chừng không hiệu quả.

Những vụ bắt bớ người biểu tình yêu nước, khủng bố cá nhân những nhân sỹ, trí thức, người bất đồng chính kiến… nhưng không thể căn cứ trên bất cứ một cơ sở pháp luật nào, họ dùng côn đồ, những người không sắc phục xông đến bắt giữ, đánh đập không thương tiếc các nạn nhân. Điều này nhằm che đi sự vô luân và vô luật trước công luận và công chúng

Khi những hình ảnh, video được đưa lên, nhà cầm quyền ráo hoảnh: Đây là những nhóm nào, chúng tôi không biết. Thậm chí còn “sẽ điều tra’. Thế nhưng, cái gọi là điều tra, làm rõ của họ, thì dần dần người ta nghe như một bản nhạc cũ rích và nhàm chán. Chỉ có tác dụng bào mòn thêm chút còn lại nào đó gọi là niềm tin mà thôi. Bởi không ai lạ gì những “côn đồ” đó là ai.

Trong nhiều trường hợp, công an đóng vai côn đồ đánh đập, bắt giữ người dân, vào đồn hiện nguyên hình Công an với đầy đủ sắc phục. Việc đánh đập chúng tôi khi đến thăm nhà Trần Anh Kim ở Thái Bình là một minh chứng cụ thể.

Còn trong nhiều trường hợp khác, công an sắc phục đầy đủ trong đồn, ra ngoài thay áo đóng vai côn đồ để đánh đập công dân ngang nhiên. Vụ đánh đập Nguyễn Văn Phương, người biểu tình yêu nước trước trại Lộc Hà là một ví dụ điển hình.

Thực ra không ai lạ, bởi cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, huống chi là cả một hệ thống.

Được thể của nhà cầm quyền dung túng và tổ chức, gần đây một số người tự xưng là “Dư luận viên” đã xông đến nhà công dân tổ chức gây gổ, hò hét náo loạn và đánh người vì một cái cớ hoàn toàn bất chấp pháp luật. Chúng hành động và tuyên bố “Việc gì nhà nước không làm được, thì chúng ta làm” – Nghĩa là việc gì dưới danh nghĩa chính thức nhà nước không làm được vì sợ dư luận, thì họ, những người được tổ chức và trả tiền không chính thức sẽ làm, dù đó là những việc bất chấp luật pháp và nhân tính.

Khi một lực lượng, một nhà nước mà sử dụng các biện pháp, cách làm không chính danh, tự nó đã thể hiện sự yếu, sự kém, sự hèn và sự bất chính của mình.

Công an Hà Nội đã tự bộc lộ mình?

Lẽ ra, một vụ án đơn giản như cái chết của Đỗ Đăng Dư, cơ quan Công an Hà Nội chỉ cần xác định rõ, chứng minh rõ ràng và kịp thời về cái chết của em do đâu mà có, bằng những chứng cứ và cơ sở hẳn hoi để gia đình và xã hội biết. Thế nhưng, họ đã lúng túng và hành xử khuất tất để gia đình và xã hội đặt nhiều câu hỏi nghi vấn.

Những lúng túng, bất nhất của Công an Hà Nội như đã nói ở trên và cách hành xử đối với các nạn nhân là hai luật sư bảo vệ quyền lợi cho gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã là cơ hội cho việc những nghi ngờ ngày càng lớn lên. Nói theo ngôn ngữ dân gian, thì câu ngạn ngữ “đường đi hay tối, nói dối hay cùng” đã có cơ hội chứng minh sự đúng đắn của nó.

Trước hết, các luật sư bảo vệ miễn phí cho gia đình Đỗ Đăng Dư đã phải khiếu nại khi không được cấp giấy bào chữa cho nạn nhân dù đã quá hạn. Luật sư Trần Thu Nam, nạn nhân trong vụ bị đánh đập, là người đã vào tận phòng mổ tử thi Đỗ Đăng Dư với Công an và Pháp Y quân đội. Lẽ nào vị LS này rỗi việc đi chơi và đến đó chứ không được gia đình đồng ý? LS Hà Huy Sơn, có giấy yêu cầu của mẹ Đỗ Đăng Dư vẫn không được chấp nhận là LS bào chữa (?).

Sau đó là hàng loạt sự khuất tất trong vụ đánh hai luật sư bị dư luận phản ứng. Tất cả đã nói lên điều gì qua vụ án này?

Ở đây, điều vướng mắc lớn nhất, là việc chết của cháu Đỗ Đăng Dư lại xảy ra trong đồn Công an Chương Mỹ, Hà Nội.

Mà xưa nay, hễ đã dính vào Công an, thì mọi việc đòi hỏi công lý sẽ trở nên khó khăn, thậm chí là vô vọng, mọi cái chết đều nhẹ nhàng dù chết trong đồn hay chết bởi một tên công an khát máu đánh người ngoài đường rồi để chờ cho đến chết, đều là chuyện nhỏ.

Người ta có quyền so sánh những vụ việc như sau:

– Cô người mẫu Trang Trần bị tòa tuyên án 9 tháng tù treo chỉ vì chửi công an.

– Năm công an đánh người ngã gục rồi bắt quỳ xem nhậu, đến khi phải đi viện chỉ bị cảnh cáo.

– Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 5-3-2013 vừa qua, TAND huyện Thanh Trì đã tuyên phạt bị cáo Huyền 12 tháng tù giam vì đã hắt xô nước mắm vào Công an.

– Nhưng viên Trung tá Công an đánh ông Trịnh Xuân Tùng gãy cổ, xong xiềng lại cho đến khi đi bệnh viện thì chết chỉ bị tuyên phạt 4 năm tù.

– Thiếu nữ tát cảnh sát giao thông bị phạt 9 tháng tù.

– Trung tá Công an đánh dã man, bầm dập một nữ công nhân vì nghi oan trộm điện thoại, chỉ bị giáng cấp.

Dường như, đã là công an, thì được xếp vào một thứ hạng cao hơn tất cả những thành phần dân chúng còn lại, họ có thể ngang nhiên vi phạm luật pháp, coi thường đạo đức, nhân cách… Nhưng họ sẽ chỉ bị xử lý kiểu gãi ghẻ mà thôi?

Ở xã hội Việt Nam, hễ những tội ác, những quan hệ với công an và dân thường trong xã hội xảy ra, thì nó rất ứng nghiệm và chứng minh rõ ràng một câu trong tác phẩm “Trại súc vật” của tiểu thuyết gia  George Orwell (1903-1950). Ở trong xã hội đó, hiến pháp, mọi luật lệ đều chung quy lại như sau: “Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: “Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác.”

Và những hành xử của Công an Hà Nội qua vụ cái chết của em Đỗ Đăng Dư, đã tự nó nói lên bản chất vụ án là gì.

Hà Nội, ngày 12/11/2015

J.B Nguyễn Hữu Vinh

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA