Khởi tố LS Nguyễn Văn Đài: Thách thức gây sốc

Khởi tố LS Nguyễn Văn Đài: Thách thức gây sốc

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-18

000_Hkg834327-622.jpg

Ảnh chụp qua màn hình TV phiên xử Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân tại Tòa án Nhân dân Hà Nội hôm 27/11/2007.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Thất vọng từ nhiều phía

Vụ bắt giữ khởi tố luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài diễn ra trong thời điểm Đối thoại Nhân quyền Việt Nam – EU vòng thứ năm tổ chức ngày 15/12/2015 tại Hà Nội. Báo chí Việt Nam nhanh chóng đưa tin vụ bắt giữ khởi tố, nhưng bỏ qua các phản ứng được mô tả là đầy thất vọng từ nhiều phía.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người được Tổ chức Nhà báo không biên giới vinh danh Công dân mạng Netizen 2013, từ Việt Nam phát biểu:

“Vụ bắt LS Nguyễn Văn Đài là một bất ngờ lớn đối với tôi cũng như nhiều người, vì tình hình Việt Nam từ khi có Hiệp định TPP thì có vẻ như là đang cởi mở hơn và có những bước tiến triển tương đối thuận lợi cho việc phát triển dân chủ và nhân quyền. Nhưng việc bắt LS Nguyễn Văn Đài làm cho mọi người thất vọng…Ngoài ra có dư luận cho rằng vì thời gian trước khi diễn ra Đại hội Đảng thì cũng có những răn đe từ phía nhà cầm quyền. Qua đó thấy rằng nhà cầm quyền không có những tiến triển tốt đẹp trong chuyện cởi mở với người dân.”

” Vụ bắt LS Nguyễn Văn Đài là một bất ngờ lớn đối với tôi cũng như nhiều người, vì tình hình Việt Nam từ khi có Hiệp định TPP thì có vẻ như là đang cởi mở hơn và có những bước tiến triển tương đối thuận lợi cho việc phát triển dân chủ và nhân quyền. Nhưng việc bắt LS Nguyễn Văn Đài làm cho mọi người thất vọng…
-Blogger Huỳnh Ngọc Chênh”

Qua sự kiện LS nhân quyền Nguyễn Văn Đài vừa bị bắt giữ và khởi tố, TS Hà Sĩ Phu, một nhân vật bất đồng chính kiến thuộc nhóm thân hữu Đà Lạt, bày tỏ sự không tin tưởng đối với vấn đề cải cách chính trị ở Việt Nam. Ông nói :

“Nói chung toàn cái Đảng này chưa có ý định dân chủ hóa, chưa có ý đồ tốt một tí gì, cho nên bên cạnh việc mở toang thì sẽ có việc họ thắt lại. Tình hình dân chủ càng ngày càng xấu đi chứ chưa có biểu hiện gì tốt lên. Nhưng tôi thấy hiện nay rất nhiều người đang lạc quan lắm, cả hải ngoại lẫn trong nước nhiều người bắt đầu có cái nhìn lạc quan. Phần tôi chẳng lạc quan gì cả… Cộng sản họ đầy mưu mô. Tóm lại trước Đại hội Đảng đáng lẽ phải tạo ra không khí hồ hởi, nó là cái ‘hội’ thế nhưng họ vẫn bắt bớ đàn áp. Họ cũng đồn rằng, những động tác đó có thể là phe nọ đánh, phá phe kia. Thí dụ không muốn cho quan hệ với Mỹ, không muốn cho TPP được tiến hành. Bởi thế họ làm những động tác phản dân chủ, phản tiến bộ để phá nhau.”

Phổ biến trên trang mạng chính thức của EU ngày 17/12/2015, Thông điệp của Đại sứ Bruno Angelet, Trưởng phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam và các Đại sứ các quốc gia thành viên EU tại Việt Nam nhấn mạnh: “Quyết định bắt giữ và khởi tố ông Nguyễn Văn Đài đặc biệt gây thất vọng bởi vì nó diễn ra đúng ngày Đối thoại Nhân quyền EU – Việt Nam thường niên được tổ chức tại Hà Nội và ngay sau chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Bruxelles và tại đây Việt Nam và EU đã chính thức công bố kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do song phương…”

000_Hkg834336-400.jpg

Ảnh chụp qua màn hình TV phiên xử Luật sư Nguyễn Văn Đài tại Tòa án Nhân dân Hà Nội hôm 27/11/2007. AFP PHOTO.

Bản thông điệp cũng lưu ý phía Việt Nam, quyền cơ bản của tất cả mọi người là được quyền có ý kiến và bày tỏ ý kiến một cách hòa bình theo Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt nam là một thành viên. Các Đại sứ nhắc lại những lời kêu gọi trước đây đối với Việt Nam trong việc trả tự do cho những người ủng hộ nhân quyền một cách hòa bình tại Việt Nam.

Nhận định về sự kiện liên quan, Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người được vinh danh Công dân mạng Netizen 2013 từ Việt Nam phát biểu:

“Đây là một hành động coi thường đối với những cam kết của Việt Nam đối với quốc tế. Việt Nam đã có những cam kết quốc tế về vấn đề nhân quyền, nhưng rồi vẫn tiếp tục bắt người nhất là qua điều 88 là tuyên truyền chống lại Nhà nước, điều này rất là phi lý. Cho nên đã dấy lên dư luận trong người dân phản đối mãnh liệt về chuyện bắt Luật sư Đài và các tổ chức quốc tế cũng lên tiếng phản ứng vấn đề này.”

Bắt bớ tùy tiện

Được biết Việt Nam biểu lộ quyết tâm hội nhập nhanh và sâu với thế giới, trong số 12 Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia, 2 Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP và Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam EVFTA có những điều kiện liên quan tới pháp luật bình đẳng và minh bạch. Việt Nam cũng cam kết cải tổ hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh của mình. Sự kiện Hà Nội bắt giữ và truy tố Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài được được ông Andrus Ansip, Phó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu nêu ra tại phiên họp toàn thể của Nghị viện Châu Âu hôm 16/12/2015.

Nhận xét về thực tế pháp luật ở Việt Nam và những vụ bắt bớ người bất đồng chính kiến một cách tùy tiện, TS Hà Sĩ Phu nêu ý kiến:

” Bản thân anh làm luật chẳng chân chính gì cả. Làm luật dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản nó chừa ra những chỗ để người ta nói thế nào, xử thế nào cũng được. Bản thân người thi hành thì chân lý tối cao của họ là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
-TS Hà Sĩ Phu”

“Tôi còn nhớ trước đây Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao cụ Phạm Văn Bạch có lần nói rằng, luật pháp nước ta xử thế nào cũng được. Bản thân anh làm luật chẳng chân chính gì cả. Làm luật dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản nó chừa ra những chỗ để người ta nói thế nào, xử thế nào cũng được. Bản thân người thi hành thì chân lý tối cao của họ là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, trong khi đó luật pháp là để bảo vệ quyền của người dân. Về cơ bản chủ nghĩa cộng sản mâu thuẫn với luật pháp, luật tức là vô luật. Người ta phân biệt hai thứ rule of law và rule by law…. luật này của một phiá chứ không phải luật của nhân dân, họ nghĩ ra luật để khống chế quyền của dân thôi. Chừng nào chưa phá vỡ được sự độc quyền cộng sản thì luật pháp cũng chẳng có gì đáng tin cậy cả.”

Theo tin các báo điện tử Tuổi Trẻ, Người lao Động, VietnamNet, VnExpress, đây là lần thứ nhì cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt giam khởi tố về tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước,’ qui định tại Điều 88 Bộ Luật hình sự. Được biết LS Nguyễn Văn Đài đã từng nhận án 4 năm tù giam cùng một tội danh như lần này. Các báo nhắc lại trong các phiên xử năm 2007, Tòa án đã làm rõ là hai cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã tang trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa…

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ bắt giữ khởi tố Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài đều có chung cách nêu tên trỏng, không thích hợp văn hóa Việt Nam. Trong làng báo, hiếm thấy như VnExpress gọi là cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài hoặc ông Nguyễn Văn Đài. Điểm đáng chú ý không ngờ, ích lợi của Internet đã thể hiện khi độc giả của Tuổi Trẻ Online có những bình luận sâu sắc một cách đầy hàm ý.

Trong bài liên quan đến vụ bắt giam khởi tố LS Nguyễn Văn Đài, độc giả Trần Ngọc Khánh có bình luận được nhiều người tán thưởng. xin trích nguyên văn: “ Đề nghị nhà nước công khai nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc của Nguyễn Văn Đài. Xem thử như thế nào để nhân dân biết mà né tránh. Bán nước cầu vinh là tội không thể tha, còn tội bóp méo lịch sử, thay trắng đổi đen thì xử phạt gấp mười lần tội trên mới được. Vì nó ảnh hưởng hàng trăm thế hệ con cháu sau này.”

Comment của Trần Ngọc Khánh được rất nhiều người thích, nhiều chia sẻ tiếp theo của độc giả Tuổi Trẻ Online tạo ra một một tác dụng ngược chiều quan điểm của Tuyên giáo Đảng. Thí dụ bạn đọc Bùi Văn Thuận hồi đáp, đúng rồi tội bán nước vinh thân, rước giặc vào nhà, tươi cười hảo hữu với giặc nên xử thật nặng để răn đe con cháu sau này. Nhiều bình luận cũng đề nghị Nhà nước mở phiên tòa công khai cho người dân vào xem.

Ngôn ngữ Việt thật sâu sắc, ai đọc những comments chia sẻ của bạn đọc Tuổi Trẻ Online đều ngay lập tức hiểu những bình luận đó muốn nói gì và nói tới ai.

Mẹ Teresa ‘có phép màu nhiệm thứ hai’

Mẹ Teresa ‘có phép màu nhiệm thứ hai’

AFP

Giáo hoàng Francis đã công nhận phép màu nhiệm thứ hai được cho là do Mẹ Teresa thực hiện, mở đường để vị nữ tu dòng Công giáo La Mã được phong thánh trong năm tới.

Phép màu nhiệm được nhắc tới là việc chữa lành cho một người đàn ông Brazil mắc chứng u não hồi 2008, Vatican nói.

Mẹ Teresa qua đời năm 1997 và đã được ban chân phước vào năm 2013, bước đi đầu tiên dẫn tới việc được phong thánh.

Bà đã được trao giải Nobel Hòa bình vì những gì bà đã làm cho người nghèo trong các khu ổ chuột ở thành phố Kolkata (Calcutta) của Ấn Độ.

“Đức Thánh Cha đã cho phép Bộ Tuyên Thánh La Mã công bố công nhận phép màu nhiệm đã xảy ra từ việc cầu nguyện hồng phước Mẹ Teresa,” Vatican nói hôm thứ Sáu.

Bà được trông đợi là sẽ được phong thánh tại Rome trong tháng Chín tới.

Sơ Christie, phát ngôn nhân của Dòng Thừa sai Bác ái Mẹ Teresa, được thành lập năm 1950, nói với BBC rằng họ vô cùng vinh hạnh trước tin này.

“Hiển nhiên là toàn bộ chúng tôi tại Dòng Thừa sai Bác ái cảm thấy cực kỳ hạnh phúc. Nhưng chúng tôi vẫn chưa có bất cứ kế hoạch nào nhằm ăn mừng lời tuyên bố này,” bà nói.

AP

Một người để được Giáo hội La Mã phong chân phước đòi hỏi phải có một phép màu, còn tiến trình dẫn tới được phong thánh đòi phải có bằng chứng về ít nhất là hai phép màu.

Mẹ Teresa được phong chân phước năm 2003 sau khi Giáo hoàng John Paul II chấp nhận một phép màu được cho là nhờ bà mà có, quả là đúng.

Ngài nói rằng việc một phụ nữ Ấn Độ đã mất đi khối u bất thường là kết quả của sự tác động siêu nhiên của Mẹ Teresa khi đó đã quá cố, điều mà những người theo chủ nghĩa duy lý Ấn Độ tỏ ý không tin.

Không có mấy chi tiết về việc khỏi bệnh của người đàn ông Brazil, người mà Vatican nói là sự sống đã được cứu nhờ phép màu nhiệm thứ hai.

Danh tính của người đàn ông này không được tiết lộ, nhằm duy trì sự trung dung, thận trọng trong quá trình điều tra, Catholic New Agency nói.

Hãng tin tức của Giáo hội nói ông này đã khỏi bệnh u não một cách bất ngờ hồi 2008 sau khi vị tăng lữ của ông cầu xin Mẹ Teresa hãy có lời với Chúa.

Mẹ Teresa, tên thật là Agnes Gonxha Bojaxhi, chào đời tại Skopje, trước thuộc Đế chế Ottoman, nay là Macedonia, vào năm 1910. Gia đình bà là người Albania và là những người Thiên chúa giáo sùng đạo.

Bà đã dành cả cuộc đời cho việc chăm sóc những người nghèo khổ, bệnh tật tại Kolkata.

Tuy nhiên, những người chỉ trích bà thì cáo buộc bà phát triển đạo Công giáo theo đường lối cứng rắn, chấp nhận cả những nhà độc tài và nhận các khoản đóng góp quỹ từ họ.

Những người ủng hộ thì nói việc nhận quỹ là thỏa đáng, chuyện tiền đến từ nguồn gốc nào không quan trọng, bởi tất cả đều được dùng để giúp người nghèo.

Chiến dịch đòi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Ðài

Chiến dịch đòi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Ðài
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Rất nhiều bằng hữu, cư dân mạng hợp tác với Hội Anh Em Dân Chủ và Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, phát động chiến dịch đòi trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài vừa bị nhà cầm quyền Việt Nam khởi tố.


Tấm bích chương vận động trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài. (Hình: HAEDC)

Dự trù, chiến dịch sẽ kéo dài một tuần lễ gồm viết thư qua trang Facebook của các tòa đại sứ ngoại quốc tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các chính phủ quan tâm đến tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam.

Liên nhóm vận động chiến dịch cũng mở một hộp thư điện tử làm nơi giao tiếp liên lạc có tên là “freenguyenvandai2015@gmail.com

Những ai tham gia vận động đòi trả tự do cho Luật Sư Ðài có thể vào địa chỉ này để ký tên. Nội dung chữ ký gồm: 1. Tên (hội, nhóm, tổ chức hay cá nhân). 2. Tỉnh/thành phố, quốc gia.

Dưới đây là các trang facebook của một số đại sứ quán:

https://www.facebook.com/usambassador.vietnam/
https://www.facebook.com/AmbassadeFranceVietnam/
https://www.facebook.com/germanyandvietnam/
https://www.facebook.com/norwayinvietnam/
https://www.facebook.com/dkvietnam
https://www.facebook.com/EmbassyOfSwedenInHanoi/
https://www.facebook.com/italyandvietnam/
https://www.facebook.com/CanadaVietnam/

Mọi người có thể viết bằng Anh ngữ một lời yên cầu ngắn, thí dụ như ý kiến của một số facebooker: “LS Nguyễn Văn Ðài vừa bị công an Việt Nam bắt sáng ngày 16 tháng 12 tại Hà Nội. Rất mong ngài đại sứ quan tâm và can thiệp để nhà cầm quyền Việt Nam phải trả tự do cho Luật Sư Ðài. Cám ơn ngài.”

Trong lời kêu gọi các cá nhân và tổ chức tham gia chiến dịch, nhóm phổ biến lời kêu gọi viết rằng “Tất cả mọi hoạt động của LS Nguyễn Văn Ðài đều nằm trong phạm vi các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do lập hội, quyền tự do ngôn luận và quyền tự do đi lại. Trong các quyền cơ bản đó, các nhà hoạt động có quyền sử dụng các nguồn lực, từ cá nhân hay từ nhiều người khác, để cổ xúy và bảo vệ nhân quyền tại VN.”

“Chính quyền Việt Nam phải tôn trọng các cam kết quốc tế về thực thi các tiêu chuẩn nhân quyền, trong đó là cam kết tạo không gian cho truyền thông phi nhà nước, không gian cho XHDS và hoạt động của người bảo vệ nhân quyền. Việc bắt LS Nguyễn Văn Ðài sáng ngày 16 tháng 12, 2015 là một hành động hoàn toàn bất chính và bất xứng trong tư cách chính quyền VN đang là thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ.” (TN)

Cuối năm, tưởng nhớ đến các bạn học đã ra đi.

Cuối năm, tưởng nhớ đến các bạn học đã ra đi.

 Đoàn Thanh Liêm

                                                        *     *     *

Ở vào tuổi bát tuần như tôi lúc này, thì con số bà con trong thân tộc cũng như bạn bè thân thiết ra đi khỏi cõi đời này đã mỗi ngày một chồng chất lên thêm khá nhiều rồi. Tôi thật không thể nào mà liệt kê ra cho đày đủ hết danh tính của những vị đó trong bất kỳ một tài liệu nào được. Vì thế trong bài viết ngắn này, tôi xin chỉ ghi ra đây một số trường hợp tiêu biểu về sự ra đi của những người bạn đã từng sát cánh gắn bó với mình nơi học đường từ cấp trung học ở quê nhà miền Bắc đến cấp đại học ở miền Nam.

I – Các bạn học cùng thời ở miền Bắc từ 1950 đến 1954.

 Dưới chế độ của chính quyền quốc gia, trong hai năm 1950-52, tôi bắt đầu theo học mấy lớp trung học trong huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định gần với gia đình – đầu tiên tại một lớp ở tư gia của Thày Đặng Vũ Tiển trong làng Hành Thiện, rồi sau lên học lớp Đệ Tam tại trường công lập Hồ Ngọc Cẩn ở làng Trung Linh gần với Tòa Giám Mục Bùi Chu.

Rồi từ năm 1952-54, thì tôi được gia đình cho ra Hà nội để theo học tại Trường Chu Văn An. Tại trường này, trong hai năm ấy, tôi đã thi xong văn bằng Tú Tài 1 và 2. Sau đó, thì di cư vào miền Nam vào tháng 8/1954 và tiếp tục học lên cấp đại học.

Ở vào cái tuổi thiếu niên vô tư hồn nhiên thời đó, các bạn học rất đông cùng ở miền đồng quê chúng tôi đều rất thân thiết gắn bó với nhau. Mà nay sau trên 60 năm rồi, thì đã có rất nhiều bạn đã lìa xa cõi thế, bỏ lại anh em, từ giã bạn bè. Xin liệt kê danh tính của một số bạn ấy như sau

1(1) – Những bạn cùng theo học tại quê nhà ở Xuân Trường, Nam Định.

Xin ghi mấy trường hợp đáng ghi nhớ nhất của các bạn Trần Tuấn Nhậm, Vũ Lục Thủy, Vũ Văn Giai và Đặng Công Tọai.

 A/ Bạn Trần Tuấn Nhậm mất vào năm 1981 tại nhà tù trong rừng U Minh, Rạch Giá. Trước năm 1975, Nhậm làm giáo sư dạy học ờ Sài gòn. Và có thời gian bị bắt giam vì họat động chính trị tích cực theo nhóm “đối lập thuộc thành phần thứ ba”. Thế mà sau này, vào cuối thập niên 1970, Nhậm lại bị cộng sản bắt vì lý do “móc nối tổ chức vượt biên” cho mấy em cháu trong gia đình. Và cuối cùng Nhậm đã qua đời trong nhà tù ở vào tuổi 45.

 B/ Bạn Vũ Lục Thủy tên thật là Vũ Năng Phương. Nhưng hầu hết bà con ở hải ngọai thì chỉ biết đến nhà biên khảo nổi danh có tên là Vũ Lục Thủy. Anh bạn lấy tên làng Lục Thủy quê hương mình làm bút hiệu luôn, kể từ khi qua Mỹ năm 1975. Anh có sức làm việc bền bỉ say mê, ít người sánh kịp. Công trình sưu khảo nghiên cứu của anh được các bậc thức giả đàn anh như Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Đình Hòa đánh giá cao. Rất tiếc anh đã qua đời vì bệnh tim ở San Diego năm 2001 lúc mới có 65 tuổi.

C/ Vũ Văn Giai là một sĩ quan cấp tướng duy nhất trong số các bạn học chung với tôi tại trường Hồ Ngọc Cẩn ở Xuân Trường trước năm 1954. Vào miền Nam, Giai theo binh nghiệp và suốt bao năm tháng rong ruổi với những cuộc hành quân liên miên ở vùng giới tuyến sát sông Bến Hải. Không may sau vụ Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, Giai bị đưa ra xử trước Tòa Án Quân Sự và bị giam giữ vì chuyện rút quân sai trái sao đó. Rồi đến năm 1975, lại còn bị đi tù ra ngòai Bắc nữa. Giai vừa mất cách nay không lâu ở California ở vào tuổi chưa đến 80.

D/ Đặng Công Tọai ở lại miền Bắc sau năm 1954. Mãi đến sau 1975, chúng tôi lại mới có dịp gặp nhau và nhờ Tọai mà anh em chúng tôi mới biết rõ hơn về những chuyện tàn bạo của chính quyền cộng sản ở miền Bắc vào thời kỳ sắt máu đen tối kinh hoàng ghê gớm đó. Người hay liên hệ với Tọai là Chu Văn Hồ hiện định cư ở New Jersey và qua anh Hồ, chúng tôi được biết Tọai cũng đã qua đời ba năm trước đây thôi ở vào tuổi gần 80.

1(2) – Những bạn cùng theo học tại Hà nội trong các năm 1952-54.

 Rất nhiều bạn đã ra đi, xin ghi ra một số trường hợp mà tôi biết rất rõ về những bạn này: Nguyễn Bá Khánh, Nguyễn Ngọc Đĩnh, Nguyễn Ngọc Phan, Vũ Ngô Luyện.

 A/ Nguyễn Bá Khánh vào Nam đậu cử nhân Toán và đi dạy ở trường Chu Văn An. Bà xã của Khánh là chị Quỳnh hồi năm 1960 lại làm việc chung với tôi tại văn phòng Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng do bệnh bao tử, Khánh đã mất rất sớm vào năm 1967 lúc mới ngoài 30 tuổi.

B/ Nguyễn Ngọc Đĩnh trọ học chung với tôi năm 1954, anh rất giỏi về sinh ngữ và là người bạn thân thiết với tôi trong nhiều năm ở Việt nam cũng như ở Mỹ. Tôi rất gắn bó với gia đình cha mẹ chị em của Đĩnh từ ngày còn ở miền Bắc cho đến sau này ở miền Nam. Về công việc chuyên môn, Đĩnh từng được chính quyền thời Đệ Nhất Cộng Hòa cử đi làm việc ở Lào, Thái Lan. Sau này tham gia viết báo và sau 1975 bị bắt đi tù khá lâu. Qua Mỹ được chừng trên 10 năm, thì Đĩnh lìa đời tại California vì bệnh vào năm 2005 ở vào tuổi trên 70.

C/ Nguyễn Ngọc Phan có tài viết văn, năm 1953 anh được giải thưởng khuyến khích văn chương toàn quốc của giới học sinh. Nhưng vào Nam, Phan lại theo học Quốc gia Hành chánh và đi làm công chức. Qua Mỹ từ năm 1975, Phan định cư ở San Diego và gia đình anh lại là suôi gia với gia đình anh chị Vũ Lục Thủy. Phan người thể tạng yếu và đã qua đời vào năm 2008 ở tuổi 75.

D/ Vũ Ngô Luyện là trưởng nam của Thày Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán. Vào Nam, Luyện đi du học ở Mỹ chuyên về kinh tế. Trước 1975, anh được cử đi làm chuyên viên đại diện Việt Nam tại Ngân Hàng Phát triển Á Châu (ADB = Asian Development Bank). Rồi lại tiếp tục làm việc ở cơ sở đó như là đại diện của Pháp. Do bệnh ngặt nghèo anh đã qua đời ở California vào năm 2006 lúc mới có ngoài 70 tuổi.

E/ Một số bạn mất ở Việt nam gần đây như bác sĩ Phạm Xuân Nhàn (hồi còn đi học với bọn tôi anh đã có tiếng là một võ sĩ quyền Anh – boxeur), giáo sư Đặng Mộng Lân, giáo sư Nguyễn Hữu Đạo.

F/ Một số bạn mất ở California Mỹ gần đây như các giáo sư Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn Duy Hy.

G/ Một số bạn mất tại Pháp như các giáo sư Phạm Huy Ngà, Phạm Xuân Trường (anh của Phạm Xuân Yêm).

II – Những bạn cùng theo học tại Đại học ở Sài gòn sau năm 1954.

 Có đến 7 – 800 sinh viên từ miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954 và trong số này thì ước chừng 250 sinh viên cư ngụ tại Đại học xá Minh Mạng bắt đầu vào năm 1955. Còn lại, thì phần đông ở với gia đình hoặc tại cư xá tư nhân khác. Xin ghi chi tiết về một số trường hợp của các bạn đã ra đi.

2(1) – Anh Nguyễn Đức Nhuần sinh viên Dược khoa mất năm 1957.

Anh Nhuần học cùng thời với tôi ở Hà nội trước năm 1954. Di cư vào Nam anh học ở Dươc khoa và từ năm 1956 tôi lại có dịp chung sống với anh nơi cư xá sinh viên Phuc Hưng trên đường Nguyễn Thông Sài gòn. Ngòai chuyện học, Nhuần lại họat động hăng say trong tổ chức Thanh Niên Lao Động Công Giáo (viết ngắn là Thanh Lao Công) để giúp đỡ giới công nhân giữ vững tinh thần đạo hạnh theo lý tưởng công bằng bác ái trong môi trường lao động thường ngày. Có vài lần, anh nhờ tôi dịch một số bài từ tiếng Pháp để làm tài liệu học tập cho các đòan viên Thanh Lao Công.

Không may, Nhuần bị bệnh nặng về phổi và qua đời vào đầu năm 1957 lúc mới ở tuổi ngòai 20 trước sự thương tiếc ngậm ngùi của số đông bạn hữu.

2(2) – Các anh Đoàn Mạnh Hoạch, Đỗ Vinh trong số các bác sĩ quân y tử trận.

Anh Hoạch là người cùng quê với tôi trong tỉnh Nam Định. Anh học lớp trên, nhưng chúng tôi gặp nhau khi cùng cư ngụ tại trường Gia Long là trại tiếp cư dành riêng cho các sinh viên di cư từ Hà nội vào Sài gòn năm 1954. Hồi đó anh Hoạch là một trong những sinh viên rất năng nổ họat động trong sinh họat văn nghệ báo chí. Đặc biệt là nhờ người em của anh là Đoàn Trọng Cảo có tài kéo accordéon đệm đàn giúp cho bọn sinh viên chúng tôi ca hát trong các buổi trình diễn văn nghệ thật là lôi cuốn sôi nổi.

Còn Đỗ Vinh và người em song sinh Đỗ Kỳ đều là bạn học chung với tôi tại trường Trung học Chu Văn An Hà nội. Rồi vào Nam, Vinh và tôi cũng thường gặp nhau trong những sinh họat của giới sinh viên di cư. Đỗ Vỹ em của Vinh du học ỏ Canada về, thì chẳng bao lâu bị chết vì tai nạn xe cộ ở xa lộ Biên Hòa.

Cả hai anh Hoạch và Vinh đều là bác sĩ quân y mà bị tử thương tại mặt trận vào đầu thập niên 1960, vào lúc mới có ngoài 30 tuổi. Vì thế mà tên của các anh được đặt cho bệnh viện của quân đội như Quân y viện Đòan Mạnh Hoạch ở Ban Mê Thuật, Bệnh viện Đỗ Vinh thuộc Sư Đoàn Dù ở Sài gòn.

2(3) – Hai người bạn sinh viên di cư cùng ở chung trong lều trên khu đất xưa là Khám Lớn Sài gòn: Nguyễn Xuân Nghiên, Nguyễn Văn Thiệu.

Vào cuối năm 1954, sinh viên di cư chúng tôi được chuyển từ trường Gia Long đến sinh sống trong những lều vải một thời gian chừng 4 tháng trước khi dọn vào khu Đại học xá Minh Mạng ở Chợ Lớn. Tôi được ở trong một lều với 7 anh bạn khác nữa, mà tôi vẫn nhớ chuyện vào mùa nắng nhiệt độ buổi trưa trong căn lều thật là oi bức.

Anh Nghiên quê tại làng Hành Thiện rất gần với làng Cát Xuyên của tôi cùng thuộc huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định, thành ra tình cảm gắn bó giữa hai chúng tôi càng thêm chặt chẽ vì nghĩa đồng hương với nhau. Sau này, anh Nghiên là một giáo sư dạy môn Lý Hóa rất nổi tiếng ở Sài gòn. Vào năm 1977, Nghiên bị thiệt mạng vì tai nạn xe ở xa lộ Biên Hòa lúc mới ngoài 40 tuổi. Hồi đó, vì tình hình cực kỳ xáo trộn, nên rất ít bạn bè được thông tin để đến nhà viếng thăm linh cữu và tiễn đưa anh.

Còn anh Thiệu hồi đó được bạn bè tặng cho cái danh hiệu là Thiệu Cốp vì trông anh rất giống với ông Malenkov là một lãnh tụ của Liên Xô thời kỳ hậu Stalin. Sau này anh đã tốt nghiệp là một bác sĩ y khoa. Có thời anh Thiệu đã giữ chức vụ Tổng Quản Trị Chương Trình Diệt Trừ Sốt Rét. Qua Mỹ năm 1975, gia đình anh Thiệu định cư ở California và tôi cũng đã gặp lại anh chị mấy lần trước khi anh qua đời vì bệnh vào năm 2004.

Hiện tôi chỉ gặp lại hai người trong số 7 bạn ở cùng căn lều nói trên; đó là các anh bác sĩ Chu Bá Bằng và Phạm Ngọc Tùng. Cả hai gia đình các bạn này hiện đều định cư tại thành phố Houston, Texas.

2(4) – Các bạn học chung tại Trường Luật Sài gòn cuối thập niên 1950.

Các bạn cùng theo học khóa đầu tiên tại Trường Luật Sài gòn do người Pháp chuyển cho chính phủ Việt nam năm 1955, thì vào năm đầu khá đông, nhưng sau 3 năm đến khi tốt nghiệp văn bằng Cử nhân vào năm 1958 chỉ còn lại chừng 70 – 80 người. Và trong số các bạn đồng môn đó, thì đã có rất nhiều người đã lìa xa cõi thế này rồi. Xin ghi ngắn gọn một số trường hợp của các bạn đó như sau xếp theo theo nghề nghiệp của mỗi người.

A/ Các bạn làm luật sư: Trần Tiễn Tự (mất ở Sài gòn năm 1988), Đoàn Văn Lượng (mất ở Pháp năm 1988, có thời anh còn là Nghị sĩ nữa), Nguyễn Phượng Yêm (mất ở Canada năm 1996, cựu Nghị sĩ)

B/ Các bạn làm giáo sư Đại học: Nguyễn Hữu Trụ (mất ở Thụy Sĩ năm 2014), Lê Quế Chi (mất ở Pháp).

III – Để tóm lược lại.

 Thời còn đi học ở ngoài Bắc cũng như trong Nam, chúng tôi đều còn độc thân son trẻ chưa phải lo gánh năng gia đình, nên có nhiều thời giờ sát cánh gắn bó thân thiết với nhau. Do đó mà tình bạn mỗi ngày thêm sâu đậm, anh em kết nghĩa quy tụ vui đùa thoải mái với nhau và còn giúp đỡ tương trợ lẫn nhau mỗi khi có ai gặp chuyện khó khăn.

Riêng đối với tôi, trong những năm tháng theo học ở trung học và đại học, thì tôi quen biết gắn bó thân thương được ước tính tổng cộng đến tới khoảng 500 bạn. Sau này, khi ra trường thì lại còn gặp nhau nơi sở làm, nơi những tổ chức văn hóa xã hội, nơi quân ngũ và sau 1975 lại còn ở trong tù chung với nhau nữa. Và ra đến hải ngoại, thì lại càng dễ dàng gặp nhau vì có nhiều thời gian rảnh rỗi ở vào cái tuổi hưu trí nữa.

Mà nay sau trên 50 – 60 năm, phải có ít nhất 50% trong số các bạn học thuở ấy đã ra người thiên cổ mất rồi. Nhưng trên đây, tôi chỉ có thể ghi ra danh tính của chừng 30 bạn mà thôi. Đó chỉ là một con số điển hình tiêu biểu cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi – mà đã phải sống vào cái thời đất nước chia đôi với cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và sau này lại là vụ di tản ty nạn phân tán ở khắp nơi trong các xứ người.

Vào dịp cuối năm Ất Mùi 2015 sắp tới đây, tôi muốn gợi lại chút ít kỷ niệm vui buồn thân thương với tập thể các bạn cùng theo học sát cánh với nhau ở vào cái tuổi hoa niên thơ mộng ấy. Dù đã có nhiều bạn lìa xa cõi đời, nhưng cái tình cảm chân thật – giữa những người “cùng một lứa bên trời lận đận” với nhau – thì vẫn còn tươi đẹp mãi mãi nơi tâm khảm của mỗi người hiện còn sống sót để mà tiếp tục cái nghiệp duyên của mình trong cõi nhân sinh trên dương thế này.

Và chắc chắn là chẳng bao lâu nữa, chúng ta tất cả rồi cũng sẽ cùng quây quần quy tụ lại bên nhau nơi cõi Vĩnh Hằng đấy thôi./

Costa Mesa, California cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Câu chuyện hòa giải

Câu chuyện hòa giải

  Nguyễn Quang Dy

“Nhân lễ Giáng sinh 2015, xin kinh tặng các cựu chiến binh của cả hai phía đã thoát khỏi ngây thơ (innocence) và trưởng thành (mature) từ cuộc Chiến tranh Việt Nam, để trở thành các sứ giả của hòa bình và hòa giải” (Nguyễn Quang Dy)

 Đất nước đã thống nhất nhưng dân tộc vẫn chưa hòa giải. 40 năm sau, vết thương chiến tranh vẫn chưa lành, đất nước vẫn chia rẽ và tụt hậu (trước nguy cơ Bắc thuộc), và con người đối xử với nhau (và với thiên nhiên) ngày càng vô cảm và bạo lực. Muốn hòa giải, phải xóa bỏ cực đoan trong tư duy, từ bỏ hận thù trong lòng và bạo lực trong hành động, để đất nước độc lập, dân chủ và giàu mạnh, để người dân hạnh phúc và ấm no (như mong ước của cụ Hồ).

Hòa giải với Mỹ

20 năm sau chiến tranh, Việt Nam và Mỹ đã chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao (11/7/1995), tuy dư chấn chiến tranh vẫn chưa hết. Đến năm 2000 (thực sự là 2007) hai nước mới chính thức bình thường hóa quan hệ thương mại (PNTR). Thậm chí 40 năm sau, bóng ma chiến tranh vẫn còn ám ảnh cả hai phía, nhiều người vẫn còn là “tù binh của quá khứ”. Hòa giải khó hơn và lâu hơn bình thường hóa. Nó là một quá trình đau khổ.

Kỷ niệm 20 năm bình thường hóa, nhiều người quên rằng năm 1978, Việt nNm đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa với Mỹ (chỉ trong gang tấc) nên đã dẫn đến bi kịch “Chiến tranh Đông dương lần thứ ba” với “brother enemy” (Trung Quốc) và “đồng minh” (Khmer Đỏ) được Mỹ, Phương Tây và ASEAN ngầm ủng hộ. Chậm hòa giải và bình thường hóa với Mỹ đã dẫn đến bi kịch chiến tranh một lần nữa, “vắt kiệt máu” một dân tộc vốn đã kiệt sức.

Còn bây giờ, Viêt Nam không còn lựa chọn, phải thỏa thuận tham gia TPP để cứu vãn nền kinh tế đang khủng hoảng và lệ thuộc quá sâu vào Trung Quốc, và để trở thành đối tác chiến lược của Mỹ nhằm cân bằng và đối trọng với Trung Quốc đang đe dọa chủ quyền. Nhưng bóng ma chiến tranh vẫn còn ám ảnh, làm nhiều người sợ “diễn biến hòa bình” như sợ một “con ngoáo ộp” đối với những người mắc chứng tâm thần phân liệt (“vừa đ…vừa run”). Trong tâm thức, họ vẫn sợ Mỹ lấy mất cái “bảo bối XHCN” đã bị mối xông mục ruỗng.

Người ta nói “Chiến tranh không chấm dứt khi ngừng tiếng súng” (diễn văn của đại sứ Pete Peterson, 2001). Chiến tranh chỉ thực sự chấm dứt khi hai bên hòa giải được với nhau. Nhưng hòa giải không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán, giữa hai chính phủ, mà nó còn diễn ra trên chiến trường xưa, giữa những người cựu chiến binh đã từng bắn giết lẫn nhau, và trong lòng những người thân của họ, ở cả hai phía. Nó đòi hỏi vươt qua thù hận.

Chính những cựu chiến binh lại ít thù hận và dễ hòa giải. Nhà văn Wayne Karlin (ở Maryland) và đạo diến Trần Văn Thủy (ở Hà Nội) là một ví dụ. Wayne từng là xạ thủ súng máy trên trực thăng, săn lùng Việt Cộng tại chiến trường Quảng Nam. Thủy là lính quay phim Việt Cộng, từng chạy trốn trực thăng và thoát chết nhiều lần tại chiến trường đó. Lúc đó họ đã có thể giết nhau (như những người khác). Nhưng họ đã sống sót, và sau chiến tranh đã tình cờ gặp nhau và trở thành bạn thân. Họ đã viết truyện, làm phim về chiến tranh, nhưng để kêu gọi hòa bình và hòa giải. Tình bạn của họ là một câu chuyện hòa giải bằng xương bằng thịt.

John Kerry, John McCain, Pete Peterson, Bobby Muller (và nhiều người khác) cũng là những cựu chiến binh, đã từng bị thương, bị tù đày, bị mất đôi chân tại chiến trường Việt Nam. Họ có quyền thù hận phía bên kia, nhưng chính họ đã dẫn đầu quá trình hòa giải. Họ khác với Robert McNamara đã từng tham chiến trong văn phòng máy lạnh, nhưng phải 20 năm sau (1995) ông ấy mới đủ dũng cảm hòa giải với chính mình, để thừa nhận sai lầm.

Thomas Vallely (một cựu chiến binh ở Massachusetts), đã nói tại Đà Nẵng năm 1985 (trong phim tài liệu của Northern Lights), “Chính tại Việt Nam tôi đã hiểu ra rằng… chúng ta không nên đưa thanh niên vào chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy lão già” (It is in Vietnam that I have learned … We should not be in the businees of sending young men to die for old men’s pride”. Nhưng người Mỹ vẫn không học được bài học đó. Họ tiếp tục đưa thanh niên Mỹ vào chỗ chết ở Iraq và Afghanistan và bị sa lầy taị đó (như trước đây tại Việt Nam). Họ đã không tiêu diệt được khủng bố mà còn làm cho ISIS mạnh lên, trở thành hiểm họa toàn cầu.

Hòa giải thực sự phải toàn diện, không chỉ bao gồm ngoại giao, thương mại, đầu tư, mà còn cả quân sự, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục… Sau 20 năm bình thường hóa, đã có 16.500 sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ (đông nhất trong số các nước Đông Nam Á). Dự án Đại học Fulbright (mà chương trình FETP là nòng cốt) cuối cùng đã được hai chính phủ chấp thuận, sau bao nhiêu năm không tiến triển được bước nào (có lẽ vì sợ “diễn biến hòa bình”). Cùng với thỏa thận TPP, Đại học Fulbright là một tin mừng. Hòa giải thực sự phải dựa trên hợp tác toàn diện, để xây dưng cả “sức mạnh mềm” lẫn “sức mạnh cứng”.

Hòa giải với Trung Quốc

 Sau một thập niên coi nhau như “kẻ thù nguy hiểm nhât” trong bi kịch “Chiến tranh Đông dương lần thứ ba” (1979-1990), Việt Nam đã bình thường hóa với Trung Quốc, với thỏa thuận Thành Đô (9/1990) đi vào lịch sử, mở ra “một thời kỳ bắc thuộc mới nguy hiểm” (theo cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch). Đó là quá trình bình thường hóa “không bình thường”, dựa trên tư duy cực đoan và ấu trĩ vì ý thức hệ (chứ không phải vì lợi ích quốc gia). Họ đã nhảy từ thái cực này sang thái cực khác, từ anh em khăng khít “như môi với răng” đã trở thành “kẻ thù nguy hiểm nhất”, rồi nay lại trở thành đồng minh chiến lược, “đồng chí bốn tốt” với “16 chữ vàng”.

Quá trình bình thường hóa đó dựa trên một tầm nhìn thiển cận đầy ngộ nhận, giữa lãnh đạo hai nước cộng sản, chứ đâu phải hòa giải giữa hai dân tộc láng giềng, sau một cuộc chiến đẫm máu. Còn nhớ năm 1978-1979, gần một triệu người Hoa đã từng sinh sống tại Việt Nam suốt mấy thế hệ bỗng nhiên trở thành “nạn kiều” trong một cuộc chiến tranh mà chính họ không hiểu, nhưng là nạn nhân vô tội, bị xua đuổi khỏi Việt Nam trong một chiến dịch “bài Hoa” tàn nhẫn. Tuy không thay đổi được quá khứ, nhưng phải hòa giải với nhau để bỏ qua hận thù, mới có thể bắc nhịp cầu mới cho một tương lai tử tế hơn. Bởi vì hận thù giữa hai dân tộc láng giềng là mồi ngon cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền.

Chỉ bình thường hóa chính thức giữa hai nhà nước (dựa trên ý thức hệ để duy trì chế độ), mà thiếu hòa giải thực sự giữa hai dân tộc (dựa trên hợp tác bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau) thì không thể bền vững. Bằng chứng là chỉ sau hai thập niên, quan hệ hai nước lại rạn nứt và khủng hoảng, trước nguy cơ xung đột mới tại Biển Đông và biên giới. Những mâu thuẫn tiềm ẩn bị che đậy mà không được hóa giải, sẽ lại bộc lộ, trở thành nguy hiểm hơn.

Nếu so sánh, người ta dễ thấy có sự bất cập giữa hai quá trình hòa giải với Mỹ và Trung Quốc. Trong khi đối với Mỹ, hòa giải giữa hai chính phủ chậm chạp và khó khăn như bị trầm cảm hay ma ám, thì đối với Trung Quốc, hòa giải giữa hai đảng lại hấp tấp và nông nổi như ngáo đá (uống phải “thuốc lắc”). Phải chăng là vì ý thức hệ? Trong khi đó người dân Việt Nam lại dễ hòa giải và hòa hợp với người Mỹ (tuy xa) hơn là với người Trung Quốc (tuy gần). Phải chăng là do sức mạnh mềm (như thể thao, âm nhạc, phim ảnh, giáo dục, và quyền con người) là những gia vị thiết yếu làm xúc tác cho quá trình hòa giải và hòa hợp giữa các dân tộc?

Trung Quốc có rất nhiều tiền và hàng hóa (là sức mạnh cứng), nhưng lại thiếu những thứ gia vị đó (là sức mạnh mềm) để hấp dẫn người dân (cả Việt Nam lẫn Trung Quốc). Tại sao nhiều người Việt Nam (và Trung Quốc) không muốn sống ở đất nước mình, mà cứ muốn di cư sang Mỹ và các nước phương Tây khác? Không phải chỉ có người dân, mà cả các quan chức trung thành với chế độ cũng đang làm như vậy (sau khi tranh thủ vơ vét làm giàu).

Có thể rút ra mấy nhận xét. Thứ nhất, một xã hội tuy giàu có về vật chất nhưng lại nghèo nàn và bất ổn về tinh thần không phải là một môi trường đáng sống. Thứ hai, không thể thực sự hòa giải với bên ngoài, nếu không thực sự hòa giải với bên trong. Thứ ba, xét cho cùng thì hòa giải với bên ngoài hay với bên trong đều dựa trên cùng một tiền đề là phải xóa bỏ hận thù và định kiến, cực đoan và bạo lực, tham lam và mù quáng (hay “tham, sân, si”).

Hòa giải dân tộc

 Trong khi Việt Nam đã chính thức bình thường hóa và hòa giải (được một phần) với Mỹ và Trung Quốc, thì đáng tiếc là hai cộng đồng người Việt (trong nước và ngoài nước) vẫn chưa hòa giải được với nhau. Thậm chí trong cùng một cộng đồng, các phe nhóm khác nhau vẫn chia rẽ chống đối nhau kịch liệt như kẻ thù. Phải chăng đó là bản chất cực đoan của người Việt (do cội nguồn lịch sử) không chấp nhận trung lập (hay Trung đạo).

HOA GIAI

Xét về bản chất thì những người cộng sản cực đoan và chống cộng cực đoan đều rất giống nhau, vì cùng mắc căn bệnh tâm thần phân liệt và hoang tưởng rất khó điều trị. Câu chuyện “Terror in Little Sài Gòn” là một ví dụ (về phía “bên kia”), đến bây giờ vẫn chưa hòa giải và hóa giải được. Câu chuyện “Chân dung quyền lực” là một ví dụ khác (về phía “bên này”), phản ánh tranh chấp quyền lực liên miên hầu như không có hồi kết. Có lẽ đó là sự khác biệt căn bản giữa người Việt Nam với người Miến Điện, khi cần phải hòa giải vì lơi ích dân tộc. Trong khi họ đặt lợi ích dân tộc lên trên, thì chúng ta đặt lợi ích dân tộc xuống dưới.

Trong khi bỏ qua những vấn đề lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia, thì nhiều người vẫn cực đoan và cố chấp về những vấn đề cụ thể, không chịu nhân nhượng (như nguyên tắc cứng nhắc). Có lẽ sự nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện, giữa chiến lược và sách lược là một nguyên nhân, mà suy cho cùng đều do cái gốc cực đoan và cố chấp. Kinh tế thị trường “theo định hướng XHCN” thực chat chỉ là cái vỏ che đậy độc quyền và lợi ích nhóm.

Thật khó lý giải tại sao người Việt sẵn sàng “bỏ qua quá khứ” (dù nói miệng) để hòa giải với người Mỹ, nhưng giữa người Việt với nhau lại không thể bỏ qua quá khứ và hận thù. Đối với tội ác chiến tranh của TQ thì dễ dàng “quên” không nhắc tới (kể cả trong sách giáo khoa), nhưng lại nhớ dai nhấn mạnh tội ác chiến tranh của Mỹ trong phim ảnh và tại các bảo tàng chiến tranh. Và sau 40 năm, vẫn tiếp tục phân biệt đối xử với những người “lính ngụy”, kể cả khi họ đã chết (như đối với “nghĩa trang ngụy” tại Biên Hòa). Điều đó vừa không phù hợp với truyền thống dân tộc trong lịch sử (“lấy trí nhân để thay cường bạo”) vừa không đúng với tinh thần “hòa giải, hòa hợp dân tộc” (trong Hiệp định Paris, 1973).

Để hóa giải hố ngăn cách giữa cộng đồng người Việt trong nước và ngoài nước, không phải chỉ bằng điều chỉnh chủ trương đường lối (như “nghị quyết 36”) mà phải bằng hành động cụ thể có thiện chí thực sự. Tuy không thay đổi được quá khứ đau buồn (như trại cải tạo sau 1975), tuy không cần phải “đốt tráp” (đựng danh sách phản động) như vua Trần ngày xưa, nhưng cần phải hòa giải với những cựu chiến binh của “phía bên kia”, dù họ còn sống hay đã chết (tại Biên Hòa hay tại Hoàng Sa). Tại sao các cựu chiến binh Việt Nam và Mỹ có thể hòa giải được với nhau, mà các cựu chiến binh Việt nam của hai phía lại không làm được?

Nguyên nhân và lối thoát

 Muốn hòa giải dân tộc, trước hết phải hiểu tại sao quá trình này vẫn khó khăn và thất bại, mặc dù đã có “chủ trương” (bằng văn bản). Nếu coi chủ trương đó chỉ là sách lược để lừa nhau nhằm giành lợi thế trong trò chơi quyền lực, thì đã đến lúc cả hai phía phải thực sự thành tâm với nhau. Bởi vì, hòa giải dân tộc không phải là sách lược, mà là điều kiện sống còn để thay đổi vận mệnh quốc gia. Trên thế giới có quá nhiều bài học kinh nghiệm.

Đối với Việt Nam thì việc hòa giải lại càng khó, đòi hỏi một tầm nhìn xa hơn và dân trí cao hơn. Lịch sử Viêt Nam từ thời Hậu Lê trở đi (cho đến gần đây) có nhiều bước ngoặt bất hạnh, dẫn đến chia cắt đất nươc thành hai miền, chiến tranh và xung đột liên miên, vừa với kẻ thù bên ngoài (Trung Quốc) vừa với kẻ thù bên trong (nội chiến). Trong bối cảnh bất an đó, người Việt đã bị xô đẩy theo xu hướng ngày càng cực đoan và bạo lực, luôn nghi kỵ và hận thù, xa dần tư tưởng Trung đạo và nhân đạo mà đỉnh cao là triều đại Lý và Trần. Các triều đại sau này ngày càng suy thoái, không những do bài ngoại, mà còn do chấp nội, thành hủ nho.

Trong bối cảnh lịch sử đó, các cơ hội cải cách và chấn hưng đã bị thui chột và thất bại, nên Việt Nam mới dễ dàng trở thành thuộc địa của Pháp, khác với Nhật Bản đã cải cách thành công dưới thời Minh Trị, trở thành một cường quốc mới ở Đông Á. Xu hướng cách mạng ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng cách mạng cực đoan du nhập từ Pháp, Nga, và Trung Quốc, đặc biệt là thời Stalin và Mao Trạch Đông. Đối với trí thức và người giàu thì “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đối với kẻ thù thì “thù muôn đời muôn kiếp không tan”. Những tư tưởng cực đoan đó như thuốc độc ngấm dần vào cơ thể và tâm thức người Việt.

Vì vậy, muốn thay đổi chỉ có cách phải giải độc, giải thoát khỏi tư tưởng cực đoan và cuồng tín, lòng hận thù và nghi kỵ, thói quen bạo lực và tham lam. Cực đoan và cuồng tín là biểu hiện của tầng văn hóa sơ khai và một não trạng bệnh hoạn, là mảnh đât tốt cho hận thù và bạo lực. Vì vậy, một quốc gia văn minh không thể gồm các cộng đồng thừa hận thù nhưng thiếu nhân ái và không tôn trọng nhân cách và nhân quyền. Chừng nào con người chưa bớt cố chấp, chưa thể sống tử tế và nhân ái với nhau thì chưa thể có hòa giải thực sự. Muốn hòa giải được với người khác, thì trước hết mỗi người phải tự hóa giải chính mình.

Sắp đến đạị hôi Đảng XII, vẫn còn nhiều người muốn đóng góp ý kiến. Dù sao, đó là một dấu hiệu đáng mừng, còn hơn là không có ai quan tâm vì người dân vô cảm quay lưng lại với thời cuộc. Vấn đề là có người nói, nhưng phải có người nghe, vì vô cảm không nghe còn nguy hiểm hơn là vô cảm không nói. Quá trình phản biện về chính trị cũng phản ánh thực trạng hòa giải của đất nước. Hy vọng Viêt Nam không thua quá xa Miến Điện.

Sắp đến ngày Thiên chúa Giáng sinh, và cũng sắp hết năm Ất Mùi đầy kịch tính, thời điểm giao mùa của “thay đổi khí hậu” đang trở thành mối lo toàn cầu. Hy vọng mỗi người bớt cực đoan một chút, bớt thù hận một chút, bớt tham lam một chút và bớt chấp đi môt chút, may ra đất nước này mới có thể hòa giải và thoát khỏi kiếp nạn (karma) Bắc thuộc.

NQD. 15/12/2015

Taac giả gửi cho viet-studies ngày 15-12-15

Bình Phước: Mê man bất tỉnh sau khi ‘gặp’ công an

Bình Phước: Mê man bất tỉnh sau khi ‘gặp’ công an
Nguoi-viet.com

PHƯỚC LONG (NV) “Bị công an mời về trụ sở lấy lời khai liên quan đến vụ mất điện thoại, từ một thanh niên khỏe mạnh, Linh mê man bất tỉnh, phải thở bằng máy,” theo báo Phụ Nữ hôm Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015.

Tờ Phụ Nữ thuật lời đại diện bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước xác nhận, “Bệnh viện đã tiếp nhận bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh (ngụ khu phố 6, phường Long Phước, thị xã Phước Long) trong tình trạng hôn mê sâu. Hiện tại bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh đang được theo dõi cấp cứu điều trị tại Khoa Chăm Sóc Ðặc Biệt và Chống Ðộc của bệnh viện.”


Anh Ðỗ Hoài Linh đang được theo dõi điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước trong tình trạng mê man bất tỉnh. (Hình: báo Phụ Nữ)

Ông này có thể đã “chết lâm sàng” và chỉ được kéo dài sự sống thực vật nhờ “thở máy” sau khi bị công an CSVN tỉnh Bình Phước tra tấn ép cung.

Tờ Phụ Nữ dẫn thông tin từ anh Ðỗ Tấn Vũ, em trai bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh, cho biết, anh Linh nhập viện sau khi bị công an phường Long Phước, thị xã Phước Long lấy lời khai liên quan đến một vụ mất điện thoại di động.

Nguồn tin thuật lời anh Ðỗ Tấn Vũ cho biết, “Khoảng 22 giờ ngày 1 tháng 12, anh Ðỗ Hoài Linh ngồi nhậu cùng nhóm với anh Thành, anh Minh và anh Tài tại quán cóc ở bãi giữ xe của trung tâm thương mại Phước Bình, thị xã Phước Long.”

“Tàn cuộc nhậu, anh Thành và anh Tài đứng dậy đi trả tiền nhậu, còn anh Linh và anh Minh ngồi tại bàn. Tuy nhiên, sau khi trả xong tiền, anh Tài quay trở lại bàn nhậu thì phát hiện chiếc điện thoại Iphone 5S của anh bỏ ở góc bàn bỗng dưng biến mất. Anh Tài hỏi chuyện, anh Linh nói thấy nó nằm góc bàn bên kia, sợ nước nên anh lấy để qua góc bàn bên này nhưng không hiểu sao giờ không thấy nữa. Bốn người nói chuyện qua lại, bực mình vì cùng nhậu với nhau bỗng dưng bị mất điện thoại, anh Tài lên công an phường trình báo sự việc.”

Nhận được tin báo, theo tờ Phụ Nữ tường thuật, “Công an phường Long Phước đến hiện trường xem xét, ghi nhận sự việc. Tại đây, công an không tìm thấy điện thoại trong người anh Linh, ông Minh cũng như Thành. Sau đó, công an phường Long Phước mời lần lượt Linh, ông Minh và Thành về làm việc. Khuya ngày 5 tháng 12, anh Vũ nhận được tin báo từ một cán bộ công an thị xã Phước Long, rằng anh Linh đang nằm ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước trong tình trạng nguy kịch. Vị cán bộ này báo để người nhà thu xếp công việc xuống chăm sóc anh Linh.”

Báo Phụ Nữ nói, “Khi anh Vũ đến bệnh viện thì thấy anh Linh nằm mê man bất tỉnh và phải thở bằng máy. Quan sát kỹ anh thấy toàn thân người anh trai mình có nhiều vết bầm tím, đầu gối có vết xước, đặc biệt đầu sưng to.”

Thấy sự việc bất thường, tờ Phụ Nữ kể tiếp rằng, “Anh Vũ thắc mắc với vị bác sĩ điều trị thì được trả lời thông tin ban đầu khiến anh Linh bị hôn mê sâu là do anh Linh bị men gan cao và suy thận cấp. Tuy nhiên, các bác sĩ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cho biết, nếu bệnh nhân bị bệnh suy thận cấp và men gan cao thì không biểu hiện ra ngoài da bằng những vết bầm tím hoặc sưng đầu một cách bất thường như trường hợp bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh.”

Còn chiếc điện thoại Iphone 5S của anh Tài thì, “ngay sau khi anh Linh, anh Thành và anh Minh bị công an mời về trụ sở làm việc một lúc, bà Trương Thị Nha (khu phố 3, phường Phước Bình, chủ quán ăn-uống) đi dò tìm thì phát hiện điện thoại nằm ở bãi cỏ cách nơi bàn nhậu của anh Tài khoảng 10m. Tuy nhiên, chiếc điện thoại bị ngấm nước và đã tắt nguồn. Bà Nha đã lập tức trình báo sự việc cho anh Tài và công an phường Long Phước.”

Tra tấn ép cung nghi can vẫn rất phổ biến tại Việt Nam dù Bộ Công An từng ra chỉ thị cấm. Việt Nam cũng đã ký vào công ước quốc tế Chống Tra Tấn của LHQ hồi cuối năm 2013 nhưng không thấy có gì thay đổi từ đó đến nay. (TN)

Giới thiệu sách mới : Cuộc Hội Tụ lớn lao

Giới thiệu sách mới : Cuộc Hội Tụ lớn lao

 Đoàn Thanh Liêm

*Nguyên tác tiếng Anh :   The Great Convergence

                             Asia, the West and the Logic of One World

*Tác giả : Kishore Mahbubani, người Singapore gốc Ấn Độ.

*Nhà xuất bản Public Affairs New York ấn hành năm 2013,

*Sách dày315 trang, giấy trắng, khổ chữ 12, bìa cứng.

I – Giới thiệu vắn tắt về tác giả và nhà xuất bản.

 1/ Tác giả Kishore Mahbubani hiện là Khoa trưởng của Lee Kuan Yew School of Public Policy tại National University of Singapore (NUS). Ông theo học tại Singapore và Canada và đã từng giữ chức vụ Đại sứ của Singapore tại Liên Hiệp Quốc trong nhiều năm. Có thời ông đã giữ chức vụ Chủ tịch Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc.

Ông cũng đã cho xuất bản 3 cuốn sách có nhan đề “ Can Asians Think ? Understanding the Divide between East and West” xuất bản năm 2001, – “ Beyond the Age of Innocence : Rebuilding Trust between America and the World” xuất bản năm 2005, – “The New Asian Hemisphere : The Irresistible Shift of Global Power to the East” xuất bản năm 2008. Và cuốn sách được giới thiệu trong bài viết này là tác phẩm thứ tư của ông ấn hành vào đầu năm 2013.

Ông còn tham gia viết nhiều bài báo cho các tạp chí và nhật báo có uy tín như Foreign Affairs, Foreign Policy, Financial Times. Tờ Foreign Policy liệt kê ông là một trong 100 nhà tư tưởng hàng đầu về những vấn đề có tầm vóc tòan cầu (top 100 global thinkers) trong các năm 2005, 2010 và 2011.

Tên gọi của ông Kishore Mahbubani sinh năm 1948 tại Singapore – rõ ràng là khác biệt với tên của đa số người Singapore có nguồn gốc từ Trung quốc. Trong cuốn sách, tác giả cho biết lai lịch của gia đình là xuất phát từ tiểu lục địa Ấn độ – do cha mẹ thuộc lớp người di dân tỵ nạn đến Singapore thời kỳ sau chiến tranh thứ hai – để tránh thóat cuộc tàn sát đẫm máu giữa người theo Ấn Độ giáo và Hồi giao với kết cục là khu vực này bị chia thành 2 quốc gia đối địch là Ấn Độ và Pakistan.

2/ Nhà xuất bản Public Affairs khởi sự thành lập từ năm 1997 ở New York, với logo gồm 3 chữ BBS nhằm vinh danh ba nhân vật có sự đóng góp lớn cho ngành sách báo ở Mỹ. Đó là các ông Benjamin C. Bradlee người lãnh đạo lâu năm của tờ Washington Post, ông Robert L. Bernstein giám đốc điều hành của nhà xuất bản Random House và cũng là sáng lập viên của tổ chức Human Rights Watch, ông I.F. Stone chủ nhân của tuần san I.F. Stone’s Weekly, tác giả cuốn sách nổi tiếng The Trial of Socrates. Nhà xuất bản Public Affairs đã cho ra đời nhiều cuốn sách có giá trị được giới độc giả khắp thế giới hoan nghênh tìm đọc.

 II – Trình bày mấy nét chính yếu trong cuốn sách.

 Là một nhà ngọai giao kỳ cựu và cũng là một học giả có tiếng tăm trên thế giới, tác giả Kishore Mahbubani đã trưng dẫn ra những sự kiện lạc quan về tình hình thế giới, đại khái như sau : Nạn nghèo khó cùng cực đã giảm bớt – Không còn chiến tranh lớn giữa các quốc gia – Giai cấp trung lưu càng ngày càng đông đảo hơn – Sự cải thiện về mức sống chỉ riêng trong thời gian 30 năm gần đây vào cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI – đã rộng lớn hơn là trong suốt 300 năm trước đó.

Nhưng cục diện chung của thế giới cũng đòi hỏi đặc biệt là khối Âu Mỹ gồm Hoa kỳ và Tây Âu phải có những nhượng bộ đáng kể để mà thích nghi được với mối tương quan lực lượng mới do sự lớn mạnh của những quốc gia ngòai khối Tây phương (Non-Western World) – điển hình là Trung Hoa, Ấn Độ, Brazil và Nigeria.

Cụ thể là phải cải tổ cơ cấu của Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc và các định chế quốc tế căn bản như Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF = International Monetary Funds), Ngân Hàng Thế Giới (WB =World Bank).

Tác giả đưa ra một hình ảnh thật sinh động là : Thế giới ngày nay giống như một con tàu lớn mà có đến 193 khoang cabin tức là 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nhưng mỗi chủ khoang cabin chỉ chăm lo riêng cho cabin riêng biệt của mình – mà không có ai chịu lo chung cho tòan thể con tàu. Tức là cần phải có một thứ thẩm quyền tòan cầu (A Global Governance) – để mà giải quyết những vấn đề sinh tử liên hệ đến vận mạng của trên 7 tỷ con người hiện sống chung trên hành tinh trái đất đang gặp phải nhiều nguy cơ mỗi ngày một trầm trọng hơn mãi.

Về mặt bố cục, sách được phân bố trong 7 chương với phần Dẫn nhập ở đầu và phần Kết luận ở cuối. Mỗi chương có tiểu đề riêng như sau :

1 – Nền Văn minh Tòan cầu Mới.

2 – Lý thuyết Một Thế giới.

3 – Tính Vô lý Tòan cầu

4 – Bảy Mâu thuẫn Tòan cầu

5 – Địa Chính trị có làm lệch hướng sự Hội tụ chăng?

6 – Bức Rào ngăn cản sự Hội tụ.

7 – Quy tụ về Thẩm quyền Tòan cầu.

Kết luận : Bởi vì Tất cả Cái gì Hướng thượng thì đều Hội tụ lại với nhau. Câu văn này làm ta nhớ lại lời phát biểu của nhà khảo cổ học người Pháp lừng danh từ hồi đầu thế kỷ XX là Teilhard de Chardin – với nguyên văn tiếng Pháp như sau : “Tout ce qui monte, converge”.   Vào mùa hè năm 1967, Viện Đại học Đalat có tổ chức một cuộc Hội thảo khá quy mô với chủ đề là : “Tìm cách xác định những Mục tiêu Quốc gia” (Our National Goals) – thì Ban Tổ chức có cho trưng bày tại Đại sảnh đường một bảng khẩu hiệu thật lớn ghi nguyên văn lời phát biểu này của nhà khoa học de Chardin.

 III – Đánh giá của giới thức giả quốc tế về tác phẩm.

 Cuốn sách này được nhiều học giả và giới chức quốc tế đánh giá cao, điển hình như mấy nhân vật sau đây :

*Ông Kofi Annan, nguyên Tổng thư ký LHQ ghi nhận : ” Kishore Mahbubani đưa ra lời nhắc nhủ thú vị rằng nhân lọai sẽ mạnh mẽ nhất khi chúng ta cùng làm việc với nhau vì lợi ích chung của tất cả mọi người”.

*Giáo sư Joseph S. Nye, tác giả sách “The Future of Power”, thì viết : “Trên hết, tác giả tìm cách hòa giải 12% dân số thế giới sinh sống tại phương Tây với tuyệt đại đa số ở ngòai phương Tây. Kết cục đây là cuốn sách tốt và quan trọng.”

*Ông Pascal Lamy, Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization = WTO) thì nhận định : “”Đây là cuốn sách cần phải đọc đốí với những ai quan tâm đến vấn đề chính trị quyền lực và tương lai của sự cai trị tòan cầu (global governance).

*Ông Fareed Zakaria, tác giả sách “The Post-American World”, thì viết : “Cuốn sách có tính khích động, quyến rũ và thông minh. Tác giả đem lại một viễn tượng sâu sắc về tình hình tòan cầu, bắt nguồn từ Á châu, nhưng cũng tìm hiểu cả Âu châu và Mỹ châu nữa…”

IV – Xin ghi thật tóm tắt một số điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách quan trọng này.

Nói chung, thì cuốn sách nêu ra những vấn đề có tầm vóc thật lớn lao quan trọng cho tòan thể nhân lọai vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Những vấn đề được nêu ra ở đây, thiết nghĩ cần được sử dụng như là những gợi ý cho các cuộc trao đổi thảo luận rộng rãi cả trong môi trường hàn lâm đại học, cũng như trên các diễn đàn truyền thông đại chúng. Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin lần lượt trình bày qua những tiểu mục sau đây :

1 – Người nói có sách, mách có chứng.

Là một nhà ngọai giao kỳ cựu và hiện là một giáo sư và tác giả có tiếng tăm, nên trong cuốn sách này tác giả đã trưng dẫn rất nhiều tài liệu tham khảo khả tín và cập nhật cho đến tháng 9 năm 2012 mới đây – chủ ý nhằm làm sáng tỏ cho lập luận vững chắc của mình. Những số liệu thống kê, những biểu đồ, những lập luận của các học giả và những nhận định của giới chức lãnh đạo quốc tế v.v… đã được tác giả thận trọng chọn lựa sử dụng để chứng minh cho quan điểm mạnh bạo mà độc đáo của mình. Trong phần Ghi Chú được dàn trải trong suốt hơn 20 trang ở cuối sách (từ trang 275 đến trang 297) – tác giả cho ta thấy xuất xứ của những tài liệu tham khảo – để người đọc nếu muốn thì có thể đào sâu thêm vấn đề được nêu ra.

2 – Những phê phán thẳng thắn, không hề khoan nhượng đối với những sự vô lý và bất cập trong chính sách hiện nay của những cường quốc – đặc biệt là của Hoa Kỳ.

Lúc này là một nhà giáo, nên tác giả không còn phải uốn lưỡi lựa lời như khi còn là nhà ngọai giao – do đó Mahbubani đã không ngần ngại lên tiếng phê phán nặng nề đối với chính sách trái khóay ngược đời của những cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ và Tây Âu. Tác giả chỉ trích mạnh mẽ chuyện Hoa Kỳ (và một vài nước lớn khác như Trung Hoa, Nga, Ấn Độ) không chịu ký vào Hiệp Ước Luật Biển (Law of the Sea Treaty) đã được Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1982 – không tham gia ký Nghị Định Thư Kyoto về việc giảm khí thải do Hiệu ứng Nhà Kiếng (Kyoto Protocol on GHG = Green House Gas) – không tham gia vào Tòa Án Hình sự Quốc tế (ICC = International Criminal Court) – không ký vào Hiệp ước cấm sử dụng mìn (Mine Ban Treaty = Ottawa Treaty) v.v… – mặc dầu các định chế này đã được đa số các quốc gia thành viên của LHQ thông qua.

Tác giả còn vạch ra sự cấu kết của Hoa Kỳ và Tây Âu trong việc lũng đọan các định chế quốc tế cao cấp nhất như Liên Hiệp Quốc, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế , Ngân Hàng Thế Giới. Ông còn phê phán cả tính cách lỗi thời trong việc điều hành của Hội Đồng Bảo An LHQ – và đề nghị cần phải mạnh dạn cải tổ tòan bộ những cơ cấu đã được phát sinh trong bối cảnh của Đệ nhị Thế chiến, mà ngày nay không còn thích hợp nữa.

3 – Những dấu hiệu lạc quan.

  1. a) Trong nhiều trang, tác giả đưa ra những số liệu phản ánh sự đi lên của xã hội – và đó là cơ sở cho thái độ lạc quan của nhiều người, đặc biệt là của người dân châu Á mà điển hình là người Ấn Độ và Trung Hoa. Cụ thể như nơi trang 24, tác giả trưng dẫn 2 biểu đồ ghi ra sự tăng trưởng của giai cấp trung lưu (middle class) ở vùng À Châu Thái Bình Dương như sau : Vào năm 2009, thì giai cấp này chiếm tỷ lệ 28%; nhưng đến năm 2020, thì tỷ lệ này sẽ là 53% đối với tổng số giới trung lưu trên tòan cầu – tức là chiếm vị trí đa số. Ngược lại, cũng trong thời gian đó, thì tỷ lệ của Mỹ và Âu châu lại tụt giảm từ 54% xuống còn có 32% – tức là ợ vị trí thiểu số.

Nhưng điều quan trọng là khối trung lưu có thể lên tới con số cả ngàn triệu người này lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đó là làm áp lực trong việc xây dựng tự do, dân chủ và nhân quyền trên thế giới.

  1. b) Tác giả còn trưng dẫn nhiều trường hợp biểu lộ sự đóng góp của các think tank, các viện nghiên cứu, các đại học, các NGO (tổ chức phi chính phủ) v.v… vào việc giải quyết những tranh chấp căng thẳng trên thế giới. Điển hình như tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF = World Economic Forum) nhóm họp vào tháng Giêng mỗi năm tại thành phố Davos Thụy Sĩ, thì các NGO sát cánh với những viên chức chính phủ làm giảm bớt đáng kể bàu không khí căng thẳng thường xảy ra trong giới ngọai giao vì những mâu thuẫn tranh chấp giữa nước này với nước khác. Đó là một thứ Sức Mạnh Mềm (Soft Power) mỗi ngày càng lớn lao của đông đảo khối quần chúng trên khắp thế giới ngày nay.

Nói cách khác, các tổ chức thuộc Xã hội Dân sự càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế – mà được gọi là những “Tác nhân không phải là Nhà nước” (Non – State Actors).

 *     * Để tóm tắt lại, đây là một cuốn sách rất có giá trị do người am hiểu sâu sắc và có tầm nhìn bao quát về tình hình thế giới – cung cấp cho công chúng những thông tin, tư liệu, kể cả các giai thọai hấp dẫn mà ít người được biết đến. Tác giả đưa ra những suy luận, những gợi ý nhằm góp phần cải thiện môi trường chính trị tòan cầu với một thiện chí xây dựng tích cực và một thái độ lạc quan thông thóang.

Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với độc giả người Việt cuốn sách có tầm vóc thật bao quát rộng lớn này./

Costa Mesa California, tháng Hai 2014

Đoàn Thanh Liêm

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

Tạp ghi Huy Phương

(Để nhớ lại, nhân vụ khủng bố giết 129 người ở Paris)

Nguoi-viet.com

Ngày 14 Tháng Mười Một, sau vụ khủng bố ở Paris làm thiệt mạng 129 người, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nhà nước CSVN, gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Tổng Thống Pháp Francois Hollande; Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Thủ Tướng Pháp Manuel Valls. Cùng ngày, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, cũng gửi điện chia buồn tới Ngoại Trưởng Pháp Laurent Fabius.

Nhà hàng Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn. (Hình minh họa: pronto.au104.org)

Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ Việt Nam đã lớn tiếng: “Chúng tôi hết sức bàng hoàng và lên án mạnh mẽ các cuộc tấn công đẫm máu nhằm vào dân thường xảy ra vào ngày 13 Tháng Mười Một, 2015 tại Pháp khiến nhiều người bị thiệt mạng và bị thương. Việt Nam xin chia sẻ những đau thương, mất mát to lớn mà chính phủ, nhân dân Pháp cũng như gia đình những nạn nhân đang phải hứng chịu. Chúng tôi tin tưởng rằng với những nỗ lực mà chính phủ và nhân dân Pháp đang triển khai, những kẻ thủ ác phải bị trừng trị đích đáng!”

Đây là những giọt “nước mắt cá sấu” của tập đoàn CSVN, đồng minh anh em, dùng cùng sách lược với ISIS, nhỏ lệ thương xót Paris.

Chúng ta cũng đã biết bọn khủng bố tấn công vào Paris, ngoài các mục tiêu có đông người như nhà hát Bataclan, sân vận động Stade de France, bọn chúng còn dùng súng bắn xối xả vào các nhà hàng ăn, quán cà phê gồm Bar Le Carillon: một người chết, Le Petit Cambodge: 12 người chết, La Belle Equipe: 18 người chết, La Casa Nostra: năm người chết.

Bắn súng để giết người, thủ phạm có thể bị bắt, còn đặt mìn định hướng để giết người rồi chạy trốn, còn ghê tởm hơn ngàn lần.

“Chiến công” của ISIS đánh vào những mục tiêu phi quân sự ở Paris, có khác gì “chiến công” đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng, Sài Gòn, 50 năm về trước, đêm 25 Tháng Sáu, 1965 khi Việt Cộng đặt chất nổ để giết khách hàng ăn đang có mặt trên nhà hàng nổi, và giết luôn thường dân ngồi hóng mát hay đi dạo mát bên ngoài hoặc đang đứng chờ phà qua sông, tất cả là 42 người chết và khoảng 81 người bị thương.

Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội đã tuyên dương “thành tích vẻ vang của đội biệt động thành Sài Gòn” và cho rằng “…Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh tại bến Sài Gòn là một chỗ thu hút về đêm của những người Mỹ xâm lược… hàng trăm người Mỹ xâm lược và tay sai đã bị giết hoặc bị thương… Thêm nữa, nhiều xác chết của kẻ xâm lược vẫn còn bị đè dưới bàn ghế và mảnh vỡ của nhà hàng… Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bị thiệt hại nặng. Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh cũng bị nổ tung…”

Năm tên đặc công khủng bố của Việt Cộng đều được tặng thưởng huân chương chiến công. Tên Huỳnh Phi Long (bí danh Huỳnh Anh Dũng) 45 năm sau mới được ra Hà Nội và người ta phải “thốt lên kinh ngạc và thán phục về tài mưu trí, dũng cảm đã thực hiện thắng lợi trận đánh vang dội nhà hàng Mỹ Cảnh Sài Gòn năm 1965.”

Xin dẫn chứng một vài dòng “sử” khủng bố của Việt Cộng để các bạn đọc xa gần, nhất là những người lớn tuổi ở Sài Gòn có thể nhận ra sự láo khoét, trơ tráo của những cái loa tuyên truyền bịp bợm của Cộng Sản:

– “Chủ nhà hàng là một người tên Phú Lâm, một tay sai đắc lực của tình báo CIA.”

– “Cấp trên nhận định phá hủy được nhà hàng này coi như ta đã triệt được một cái vòi của Mỹ-Ngụy và sẽ khoét sâu được mâu thuẫn giữa Mỹ và Ngụy.”

– “Địch lại thường xuyên bố trí hai cảnh sát mang súng tiểu liên canh gác bên cầu thang.”

– “Trên bờ sông bốn tên cảnh sát đứng dàn hàng ngang súng tiểu liên cầm tay, hai tên công an chìm đi lại ngay bãi trống đối diện nhà hàng.”

– “Dưới sông, an ninh hải quân của địch tuần tra liên tục.”

– “Tại các ngã tư địch tăng cường xe bọc thép và bọn lính dã chiến hình thành thế bảo vệ quanh mục tiêu.”

– “Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh nhà hàng Mỹ Cảnh cũng bị nổ tung!”

– “Vài phút sau, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng có mặt và chứng kiến cảnh tan nát này đã lắc đầu thất vọng và ủ rũ cúi đầu!”

Một cái nhà hàng ăn tầm thường trong trăm nghìn nhà hàng ở Sài Gòn vào năm 1965, mà được bố trí cẩn mật như thế sao?

Đánh mìn vào một nhà hàng ăn để giết người không khó. Để phịa ra chiến công, truyền thông Việt Cộng đã tô vẽ cho nhà hàng này thành một chiến lũy hay một pháo đài bằng thép. Sử Cộng Sản mô tả Mỹ Cảnh có cảnh sát chìm nổi, có xe thiết giáp và binh sĩ dã chiến bảo vệ, có an ninh hải quân tuần tra liên tục và một tàu chiến của Mỹ đậu bên cạnh!

Xin thưa với bạn đọc, cũng như những người Sài Gòn có sự hiểu biết và có đôi mắt quan sát, ngay cả Phủ Tổng Thống VNCH hay Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng không thể nào được bảo vệ cẩn mật như nhà hàng Mỹ Cảnh được Việt Cộng mô tả trong sử sách như thế! Điều này, khốn nạn thay, có thể lừa được người dân sống trong vùng “giải phóng” bên kia sông Bến Hải và lũ trẻ con mang “khăn quàng thắp đỏ bình minh” (lời nhạc TCS) mà thôi.

Tôi chỉ nêu ra một trong trăm nghìn chiến công của “cách mạng.” Đặt mìn xe đò, tàu lửa, nửa đêm vào nhà cắt cổ người hoặc thả trôi sông, pháo kích vào trường tiểu học, ám sát các viên chức miền Nam Việt Nam như Giáo Sư Nguyễn Văn Bông và Luật Sư Trần Văn Văn, đập đầu chôn sống dân Huế tay không trong Tết Mậu Thân, cho pháo binh bắn vào đoàn thường dân di tản như “đại lộ kinh hoàng” hay tỉnh lộ 7B, không phải là những cuộc ra quân đối đầu quân sự, mà chính là những sự giết chóc khủng bố.

Hy vọng là chính phủ Việt Nam không treo cờ rũ hay gửi điện văn, hoa, nến để chia buồn và tưởng niệm những nạn nhân của các vụ khủng bố ở Paris, ở Ankara, ở Kuwait… Tôi chỉ yêu cầu một điều, xin các “đồng chí” chịu khó cúi xuống nhìn lại hai bàn tay của mình.

Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành ‘chư hầu kiểu mới’

Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành ‘chư hầu kiểu mới’

Giới chức Việt Nam chuẩn bị quốc kỳ Trung Quốc và Việt Nam trước lễ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hà Nội, ngày 6/11/2015.

Giới chức Việt Nam chuẩn bị quốc kỳ Trung Quốc và Việt Nam trước lễ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hà Nội, ngày 6/11/2015.

VOA Tiếng Việt

15.12.2015

Nhiều nhân sỹ, trí thức có tiếng mới đây đã nhận định như vậy, và cho rằng Trung Quốc đang dùng “những lời hoa mỹ về hòa bình, và hữu nghị” để bành trướng biển Đông.

Trong bức thư ngỏ gửi cho Bộ Chính trị cũng như toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn 100 người kêu gọi giới lãnh đạo trong nước phải có “đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Bức thư có đoạn: “Thời gian gần đây, trong khi vẫn dùng những lời hoa mỹ về hòa bình, hữu nghị, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những bước leo thang thực hiện mưu đồ bành trướng trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, không chỉ trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn gây bất ổn cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt – Trung, cho VOA Việt Ngữ biết lý do ông ký vào bức thư ngỏ:

“Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục. Để mà giữ được quyền lãnh đạo thì họ cứ chấp nhận lùi từng bước, lùi từng bước. Họ cứ nói là giữ nguyên hiện trạng, và sử dụng chiêu bài ‘4 tốt, 16 chữ vàng’ mà Trung Quốc mớm cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đấy là âm mưu rất là thâm độc, biến Việt Nam trở thành lệ thuộc. Sự lệ thuộc này không những chỉ là lệ thuộc về tư tưởng mà còn về cả kinh tế và rất nhiều thứ nữa. Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Bức thư ngỏ được công bố vào lúc Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội đảng lần thứ 12, và theo dự kiến, cuộc họp quan trọng này sẽ chọn ra các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo nội dung bức thư ngỏ, các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương chuẩn bị trình Đại hội lần thứ 12 “mặc dù viết rất dài nhưng nặng về nhận định và chủ trương sáo mòn, chưa nhìn đúng sự thật, chưa nêu rõ thực trạng hiểm nguy mà đất nước và nhân dân ta đang đối mặt, đặc biệt là chưa phân tích thẳng thắn nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó”.

“ Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục…Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ [Bắc Kinh] vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt-Trung, nói.”

Ngoài ra, thư ngỏ cũng cho rằng sự phát triển của đất nước “bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Bức thư có đoạn viết: “Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Về khả năng hồi đáp của chính quyền đối với thư ngỏ, cựu chiến binh Trần Bang nói:

“Tôi cho rằng họ cũng có tham khảo một chút nào đó. Tuy nhiên là họ vẫn cứ theo lý thuyết cộng sản của họ là dùng sức mạnh. Họ còn nắm được chính quyền, họ còn nắm được quân đội, công an, còn nắm được bạo lực thì chính quyền của họ sẽ theo con đường học thuyết Mác – Lê nin, tức là con đường giành chính quyền bằng bạo lực, và giữ chính quyền bằng bạo lực. Hiện nay họ đang ở thế mạnh so với những người như chúng tôi, những người chỉ có tri thức trong đầu, không có sức mạnh cơ bắp, sức mạnh quân sự. Tôi cho rằng họ chưa chắc đã nghe theo thư ngỏ này, nhưng mà chúng tôi vẫn coi họ là người Việt Nam nên chúng tôi hành xử theo hướng là đấu tranh hòa bình”.

Năm ngoái, khi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ vì giàn khoan dầu gây tranh cãi của Bắc Kinh, hàng chục đảng viên lão thành và các nhân sỹ, trí thức có tiếng ở trong nước viết một bức thư ngỏ gửi Ban chấp hành trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó kêu gọi “nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa” của Việt Nam.

Giáo sư Tương Lai, khi ấy, nói với VOA Việt Ngữ rằng đã đến lúc “thức tỉnh” các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam “còn mơ hồ về cái gọi là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, về những 4 tốt, về những 16 chữ vàng” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngoài việc đưa Trung Quốc ra tòa, các đảng viên lão thành còn gợi ý rằng Việt Nam cần chủ động liên kết với các nước khác.

Hàng chục hộ dân lâm cảnh màn trời chiếu đất

Hàng chục hộ dân lâm cảnh màn trời chiếu đất

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-12-15

12380733_440947832765478_1513067742_o-620

Cảnh cưỡng chế khu chung cư ở Quận Bình Thạnh, TP. HCM hôm 15/12

Ảnh do cư dân cung cấp

Your browser does not support the audio element.

Hôm 15/12, những hộ gia đình đầu tiên trong số 50 hộ dân ở khu chung cư Quận Bình Thạnh, TP. HCM lâm cảnh màn trời chiếu đất do bị cưỡng chế mà không nhận được tiền bồi thường để tái định cư.

Ông Trương Văn Chẳng, 61 tuổi, cư dân ở khu chung cư Phường 22, Quận Bình Thạnh, TP. HCM cho biết:

“Hôm nay họ kéo lực lượng gần 400 người xuống cưỡng chế, đuổi ra khỏi nhà khoảng 7 hộ. Không có đồng bạc. Không có nơi tái định cư. Họ đem lực lượng vô, phá cửa xông vào, đuổi người nhà ra ngoài, đồ đạc bị chở đi mất hết. Bây giờ chỉ còn có bộ đồ dính trên người. Thiệt đau xót quá!”

Đó là lời kêu than vừa rồi là của gia đình ông Chẳng cùng 6 hộ gia đình lân cận bị cưỡng chế nhà từ sáng sớm hôm thứ Ba, ngày 15 tháng 12.

Ông Nguyễn Văn Ân, một chủ hộ cũng là nạn nhân trong vụ cưỡng chế, kể lại những gì xảy ra với Đài ACTD:

“ Họ đem lực lượng vô, phá cửa xông vào, đuổi người nhà ra ngoài, đồ đạc bị chở đi mất hết. Bây giờ chỉ còn có bộ đồ dính trên người. Thiệt đau xót quá!
– Ông Trương Văn Chẳng”

“Đọc lệnh xong rồi thì chúng tôi xin chưa tới ngày 15/1 nên yêu cầu ngưng cưỡng chế rồi sau này bàn thảo tiếp khi gặp chủ đầu tư. Họ nhất quyết làm, mang vòi cứu hỏa tới chuẩn bị xịt. Lấy kềm cộng lực cắt, đập cửa. Họ đem cơ động tới khiêng đồ ra, lấy đồng hồ nước, cắt dây điện, lấy đồng hồ điện rồi đập hết. Vừa xong thì lấy sắt có khe, lấy hàn điện hàn ngang rồi lấy hàng rào B40 bọc kín không cho vô nhà. Bà con quay phim bị lấy, đập máy, không cho ghi hình ảnh gì hết”.

Cuộc sống yên ổn của người dân khu chung cư Quận Bình Thạnh bắt đầu bị xáo trộn khi họ nhận được thông báo phải di dời theo “giai đoạn 2” của dự án có tên “13-14” hồi năm 2003 với thông tin sẽ được nhận tiền bồi thường để hỗ trợ tái định cư. Ông Nguyễn Văn Ân nhắc lại nội dung ghi rõ trong tờ thông báo bản sao mà cư dân nhận được từ Thành Ủy:

“Bản photo của UBND TP. HCM có ghi rõ rằng dự án này từ Thanh niên Xung phong bàn giao qua cho Công ty Nông sản Vinh Phát. Vinh Phát có trách nhiệm bồi thường và có trách nhiệm hỗ trợ tái định cư cho người dân. Nếu có sự khiếu kiện thì Công ty Vinh Phát hoàn toàn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Các hộ cư dân đến gặp cơ quan chức năng địa phương và được thông báo giá bồi thường theo khung giá năm 2003 khỏang 15 triệu đồng/m2. Những người nhận tiền phải mua lại căn hộ ở khu chung cư Mỹ An, thuộc Quận Thủ Đức với giá gấp đôi. Một số hộ dân đồng ý nhận tiền bồi thường và bù thêm tiền để chuyển đến ở chung cư được chỉ định. Tuy nhiên, các căn hộ ở đó không đảm bảo chất lượng và họ đang trong quá trình tranh tụng.

50 hộ cư dân còn lại ở khu chung cư Bình Thạnh những năm qua đã nhiều lần yêu cầu cơ qua chức năng cho gặp gỡ với chủ đầu tư dự án là Công ty Nông sản Vinh Phát để thương thuyết về giá cả bồi thường thỏa đáng nhưng nguyện vọng của họ chưa bao giờ được đáp ứng cho đến ngày tiến hành cưỡng chế vào hôm 15 tháng 12 năm 2015.

Người dân lo lắng

12369539_440947819432146_255200309_o-400

Một gia đình ngồi trước căn hộ bị lưới B40 ngăn trong đêm 15 tháng 12. Ảnh do cư dân cung cấp

Cuộc sống bấp bênh không được phép sửa chửa hay kinh doanh, buôn bán vì dự án treo “13-14” này của 50 hộ dân ở khu chung cư Quận Bình Thạnh được mô tả “sống trong tâm trạng bị khủng bố tinh thần” kéo dài từ năm 2003 cho đến nay. Hồi cuối tháng 11, các hộ gia đình nhận được thông báo của Phường 22 rằng sẽ tiến hành cưỡng chế. Các hộ dân đã chạy vạy đến UBND TP. HCM để kêu cứu nhưng họ được yêu cầu trở về Phường 22, Quận Bình Thạnh. Buổi gặp gỡ giữa các hộ dân với Phó Chủ tịch Phường là ông Hồ Phương kết thúc bằng câu nói “Chúng tôi sẽ thực hiện lệnh cưỡng chế như đã thông báo”.

Một bản thông báo cưỡng chế đối với 50 hộ dân từ ngày 12/12/15 cho đến ngày 15/1/16 được dán trên vách tường ngay đầu khu phố. Hàng trăm cư dân sống trong cảnh lo lắng, tuyệt vọng đến khốn cùng. Một bức ảnh Hòa Ái có được cho thấy các cư dân ngồi vật vựa trước hành lang căn hộ của mình đã bị lưới B40 vây kín trong đêm 15 tháng 12. Ông Trương Văn Chẳng than thở với Đài RFA:

“Họ cứ hành xử theo quyền lực của mình gây đau khổ cho người dân. Tôi không hiểu Quận Bình Thạnh và Phường 22, họ coi con người còn thua cọng rác nữa. Xin lỗi người ở tù, đêm người ta còn chổ nằm đàng hoàng mà tại sao gia đình tôi 16, 17 người bị như vầy, chỉ có bộ đồ đi ra khỏi nhà thôi?”

Câu hỏi đặt ra các hộ dân sẽ làm gì trong cảnh màn trời chiếu đất? Cư dân của 7 hộ gia đình bị cưỡng chế đầu tiên trả lời câu hỏi của Hòa Ái rằng họ không không biết làm gì vì không còn niềm tin cũng như không biết bấu víu vào đâu khi trên người chỉ vỏn vẹn 1 bồ độ dính thân. Họ cho biết trước đó đã từng đến Thành Ủy nhờ xem xét nhưng không được giải quyết mà còn bị áp tải lên xe. Ông Nguyễn Văn Khá nhớ lại:

“Hôm lên Ủy ban bị bắt đẩy lên xe. Mấy bà già về bệnh luôn. Còn mấy người trẻ cũng sợ”.

Nỗi sợ hãi không chỉ thế mà sự hoảng sợ sẽ mãi ám ảnh những đứa trẻ thơ lẫn cả những người già gần đất xa trời tại khu chung cư Bình Thạnh khi hàng trăm công an xuất hiện sáng ngày 15 tháng 12 làm thay đổi cuộc đời họ thành những kẻ vô gia cư.

Lời chia sẻ cuối cùng của những cư dân nơi đây mà Hòa Ái ghi nhận được là họ không biết có nên viết đơn gửi Chính phủ xin được cho vào tù vì ít ra họ còn được có chốn ăn ngủ và có nơi che mưa nắng qua ngày.

Ba người được trao giải Nhân Quyền Việt Nam 2015

Ba người được trao giải Nhân Quyền Việt Nam 2015
Nguoi-viet.com


Hòa Thượng Không Tánh, bà Bích Khương và bà Bùi Hằng

Đằng-Giao/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV)Hôm Thứ Sáu, 11 Tháng 12, trong buổi lễ kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền và lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam  tại Westminster Civic Center, ban tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã trao giải cho ba vị khôi nguyên là Hòa Thượng Thích Không Tánh, bà Hồ Thị Bích Khương và bà Bùi Thị Minh Hằng.

 
Ba bằng khen cho ba vị khôi nguyên tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)


Số người tham dự đã ngồi chật khán đường, ai nấy đều bộc lộ sự hưởng ứng lòng quả cảm của ba vị đại diện cho những người Việt Nam trong nước đang đấu tranh đòi hỏi quyền làm người cho cả dân tộc.
Trong số quan khách hiện diện có Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí, Nghị Viên Garden Grove Chris Phan, ông Lý Vĩnh Phong, đại diện Dân Biểu Tiểu Bang Alan Lowenthal, ông Nguyễn Huỳnh Đức đại diện Thượng Nghị Sĩ California Jannet Nguyễn và Hòa Viện Chủ  Chùa Điều Ngự Thượng Thích Viên Lý, Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Liên Bang Hoa Kỳ và Nữ Luật Sư Kolua Seiko, đại diện Amnesty International, Group 178 Irvine.

Nhiều người đã từ xa về đây để dự lễ nhằm tỏ lòng hưởng ứng phong trào. “Tôi ở San Jose về đây để tỏ lòng ngưỡng mộ những tấm gương bất khuất của ba vị này. Anh hùng dân tộc đó,” Luật Sư Ngô Văn Quang cho hay.

Ca sĩ Như Hà cũng từ xa về. Cô nói: “Tôi từ miền Bắc California về đây dự lễ tối nay rồi mai lại hát gây quĩ ủng hộ các anh chị đấu tranh cho nhân quyền nữa.”

Người được vinh danh đầu tiên là Hòa Thượng Thích Không Tánh. Hòa Thượng Thích Viên Lý, viện chủ chùa Điều Ngự, Westminster lên đại diện nhận giải.

Hòa Thượng Viên Lý nói với nhật báo Người Việt: “Tôi xin tạm giữ bằng khen này rồi sẽ tìm cách trao lại cho ngài. Rất khó, nhưng tôi sẽ cố gắng.”

Hòa Thượng Thích Không Tánh trụ trì chùa Liên Trì, hiện đảm nhiệm chức vụ Phó Viện Trưởng  Hội Đồng Điều Hành Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kiêm Tổng Ủy Viên Từ Thiện – Xã Hội. Hòa Thượng là một trong những thành viên sáng lập Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam.

Là một tu sĩ luôn quan tâm đấu tranh cho nhân quyền, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, Hòa Thượng Thích Không Tánh đã bị nhà cầm quyền CSVN liên tục đàn áp và trả thù. Năm 1976, Hòa Thượng bị bắt đi tù cải tạo 10 năm từ 1976 đến 1986.

Vào Tháng Mười 1992 Hòa Thượng lại bị kết án năm năm tù giam và năm năm quản chế với cáo buộc  “lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước” sau khi công an lục soát phòng của Hòa Thượng trong Chùa Liên Trì và tịch thu bản sao nhiều ghi chép của Hòa Thượng Thích Huyền Quang.

Được trả tự do, Hòa Thượng vẫn tiếp tục hoạt động nhân quyền và xã hội. Tháng Mười Một 1994 công an đã bắt giữ Hòa Thượng khi ông đang quyên góp và phân phát đồ cứu trợ cho nạn nhân lũ lụt Miền Tây.

Đến tháng Tám 1995, Thượng Tọa Thích Không Tánh và  Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã bị tòa án xử phạt mỗi người năm năm tù với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.

Trong nhiều năm qua, Hòa Thượng Không Tánh đã tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động từ thiện, như tặng quà cho thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, cho bệnh nhi ung thư, cứu trợ các gia đình thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương cũng như giúp đỡ cho các tổ chức xã hội dân sự trong nước có nơi sinh hoạt, hội họp để đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Những nỗ lực nối kết liên tôn của Hòa Thượng đã tạo nên một nguồn sinh khí mới trong  cuộc đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo hiện nay.

 
Đại diện thành phố Westminster, Trị Trưởng Tạ Đức Trí và Phó Thị Trưởng Sergio Contreras tặng bằng khen của thành phố cho ba chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền. (Hình; Đằng-Giao/Người Việt)

Kế tiếp, blogger Uyên Vũ lên đại diện nhận giải thưởng cho bà Hồ Thị Bích Khương. “Tôi xin tạm giữ bằng này cho đến khi nào chị Khương mãn hạn tù,” ông Uyên Vũ nói với báo Người Việt.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một dân oan đã hai lần bị nhà cầm quyền địa phương cướp đất, phá nhà, và cơ sở làm ăn (năm 1989 và năm 1996), bà Bích Khương đã đi khiếu kiện một cách vô vọng nhiều năm.
Khi đang lao động ở Nam Hàn, bà đã kêu gọi các đồng nghiệp đứng lên đấu tranh và bị chủ thù ghét, đối xử tàn tệ. Bà khiếu nại với văn phòng đại diện Việt Nam tại đây, nhưng họ lại thông đồng với chủ và  yêu cầu cảnh sát cưỡng bức bà về nước.

Về lại Việt Nam năm 1999, bà tham gia các cuộc biểu tình của dân oan từ các địa phương tập trung về Hà Nội để đòi lại đất. Ngày 5 Tháng Mười Một 2005, bà bị công an bắt giam tại Hỏa Lò.

Bà được trả tự do ngày 11 Tháng Mười Một 2005, và đến năm sau bà lại tham gia Khối 8406. Bà đã viết khoảng 30 bài có nội dung phản kháng chế độ độc tài cộng sản. Bà còn in ấn nhiều tài liệu về dân chủ nhằm nâng cao nhận thức và lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh.

Ngày 26 Tháng Năm 2007, bà bị công an bắt tại thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bà đã bị tra tấn rất tàn bạo nhưng vẫn giữ vững khí tiết và tinh thần can trường hiếm thấy ở một người phụ nữ bình thường.
Cuộc tranh đấu kiên cường trong lao tù đó đã được bà ghi lại trong tập hồi ký có tựa đề: “Bước Đường Đấu Tranh Cho Công Lý Và Dân Chủ Của Tôi”.

Đầu năm 2011, bà lại bị bắt cùng với Mục sư Nguyễn Trung Tôn khi hai người sao chép và phổ biến cuốn phim “Đại Họa Mất Nước” . Bà bị xử 5 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước.”

Hiện nay bà Bích Khương còn đang ở trong tù và vẫn tiếp tục tranh đấu không ngừng để đòi quyền được đối xử tử tế cho mọi tù nhân. Vì thế bà thường xuyên bị cai tù đánh đập và hành hạ.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền chịu đựng tới ba lần tù đày và nhiều lần bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Tuy thế  bà vẫn luôn giữ ý chí bất khuất cho lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền. Bà được tổ chức Human Rights Watch trao tặng Giải thưởng Hellman/Hammett năm 2011.

Sau cùng, bà Nguyễn Thanh Tâm, cư dân Portland, Oregon, nhận giải thưởng thay cho bà Bùi Thị Minh Hằng. “Tôi thay mặt bạn tôi nhận bằng khen này rồi giữ ở đây rồi từ từ tìm cách chuyển về Việt Nam sau khi chị Minh Hằng ra tù,” bà Tâm nói.

Bà Bùi Thị Minh Hằng, tuy xuất thân từ một gia đình cộng sản có chức quyền, bà đã sớm nhận chân được bộ mặt của chế độ khi đảng viên cướp đoạt ngôi nhà của thân phụ để lại cho bà.

Từ năm 2011, bà Minh Hằng đã hăng hái tham gia biểu tình phản đối việc Tàu cộng xâm lấn lãnh hải Việt Nam và đòi dân chủ-nhân quyền.

Ngày 27 Tháng Mười Một 2011, bà bị bắt tại Sài Gòn khi tham gia xuống đường yêu cầu Quốc hội ra luật biểu tình. Bà bị đưa vào trại cưỡng bức lao động tại Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc.
Do áp lực mạnh mẽ của dư luận, bà Minh Hằng được trả tự do sau năm tháng bị giam giữ. Tuy nhiên công an vẫn ngày đêm theo dõi, sách nhiễu, và trả thù hèn hạ. Mặc dù vậy, bà vẫn đấu tranh không lùi bước: bà từ chối không đóng tiền cho quỹ an ninh quốc phòng, làm đơn khởi kiện đích danh chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, viết thư cho ngoại trưởng Hoa Kỳ 7 Tháng Năm 2012, viết thư cho Quốc hội 10 Tháng Bảy 2012 tố cáo những hành động phi pháp đối với bà.

Ngày 26 Tháng Tám 2014, bất chấp sự phản đối của dư luận, chính quyền cộng sản vẫn kết án bà 3 năm tù giam. Trong tù bà vẫn không ngừng đấu tranh; bà đã tuyệt thực hơn 2 tháng.
Bà Bùi Thị Minh Hằng là một con người đấu tranh trên mọi mặt và có mặt khắp mọi nơi. Cần chống xâm lược, bảo vệ Tổ Quốc thì bà  ở tuyến đầu, cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội.

Năm 2015 đánh dấu năm thứ 67 ngày công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948-2015 – TNQTNQ). Vào đúng ngày 10 Tháng Mười Hai, 1948, tại thành phố Paris, thủ đô nước Pháp, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức long trọng lễ công bố văn kiện quan trọng này – mà vị đại diện là bà Eleanor Roosevelt, cựu đệ nhất phu nhân nước Mỹ, đã gọi đó là Bản Ðại Hiến Chương của nhân loại trong thời đại chúng ta (Magna Carta).

Cho đến nay, bản tuyên ngôn này đã được dịch ra 380 ngôn ngữ trên thế giới – và đó là cơ sở pháp lý căn bản cho công cuộc xây dựng một xã hội nhân bản và nhân ái bền vững cho mọi người sinh sống trên trái đất chúng ta vậy.

Thị Trưởng Tạ Đức Trí và Phó Thị Trưởng Sergio Contreras cũng trao bằng tưởng lục cho ba vị khôi nguyên.

Bà Tạ Phong Tần, một chiến sĩ nhân quyền cũng có mặt để ủng hộ tinh thần đấu tranh cho nhân quyền của đồng đội.

Giải Nhân Quyền Việt Nam do Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam thành lập từ năm 2002 nhằm mục đích tuyên dương thành tích đấu tranh bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam.

Năm ngoái, 2014, Giải Nhân Quyền Việt Nam được tổ chức tại San Jose, California, trước đó, 2013 tại Paris. Pháp, 2012 tại Montreal, Canada, và năm 2010 tại Houston, Texas.

Về hay ở?

Về hay ở?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-14

000_Hkg10120669

Một buổi lễ tốt nghiệp đại học được tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Du học là một ước mơ lớn của tất cả những học sinh Việt Nam từ xưa đến nay. Có rất nhiều người đã đỗ đạt thành danh và quay trở về. Nhưng hình như, thời gian đã chứng minh đó là những người của “muôn năm cũ’. Còn những học sinh thời nay, khi có cơ hội nhận được nền nền giáo dục nước ngoài, thì đa số họ chọn con đường ở lại. Điều này gần đây trở thành một vấn đề được đưa ra tranh luận rất nhiều, và có nhiều phản ứng khác nhau về việc “về hay ở”.

Tư duy quản lý cũ kỹ

Trong tuần vừa qua, dư luận trong nước và cả cộng đồng mạng có rất nhiều tranh luận liên quan đến việc Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, giảng viên trường ĐH Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ, người mà truyền thông trong nước cho là đang bị gây khó dễ do nói xấu nhà trường trên facebook cá nhân.

Vấn đề đáng chú ý đó là Doãn Minh Đăng cũng chính là cựu thí sinh của cuộc thi nổi tiếng Đường lên đỉnh Olympia, tốt nghiệp một trường đại học danh giá ở Hà Lan bằng ngân sách của thành phố. Sau đó anh đồng ý về VN công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

Sau khi sự việc của Doãn Minh Đăng được nói đến trên truyền thông, rất nhiều những người từng là thủ quân, á quân của Đường lên đỉnh Olympia, lên tiếng về sự lựa chọn ở lại quốc gia mà họ đã tiếp nhận nền giáo dục. Quan điểm của họ nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng Việt Nam. Ví dụ như Nguyễn Thành Vinh, á quân của mùa Olympia đầu tiên, sang Úc du học sau khi giành được học bổng của chính phủ Úc. Hiện nay, Nguyễn Thành Vinh đang có cuộc sống và công việc ổn định ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước về sự việc của Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, anh nói rằng: “Câu chuyện của Doãn Minh Đăng là một trong những lý do để một số du học sinh như chúng tôi cảm thấy mình cần có những lựa chọn khác mà không nhất thiết phải về nước làm việc.”

Trong rất nhiều những lý do Nguyễn Thành Vinh cho là không nên quay về sau khi học xong, thì câu nhận định “về nước là lãng phí cho cả hai bên’ của cựu thí sinh này gây chú ý nhiều nhất cho dư luận.

Một người nữa, đó là Đỗ Thị Hồng Nhung, á quân mùa thứ hai của Đường lên đỉnh Olympia, hiện tại đang hoàn tất khoá học thạc sĩ ở Phần Lan, việc trở về nước cũng đang được cô suy tính.

Rất nhiều lý do được chính người trong cuộc và dư luận đưa ra. Trong đó, lý do lớn nhất mà theo cuộc khảo sát của viện John Von Newmann thuộc trường Đại học quốc gia VN đưa ra đó là môi trường làm việc ở VN không thích hợp cho việc nghiên cứu và làm việc của họ.

Câu chuyện của Doãn Minh Đăng nói riêng và những du học sinh khác nói riêng, được giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, người từng là một trong ba sinh viên xuất sắc của Việt Nam nhận học bổng du học tại vương quốc Bỉ, và sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở châu Âu, ông quay về nước và làm cố vấn cho trường Đại học Việt Đức, cho biết nhận định của ông.

“Ở Việt Nam hiện nay, tuy có một số trường tương đối là có một chút tiến bộ. Nhưng đại bộ phận các trường Việt Nam thì tư duy quản lý của họ cũng rất là cũ kỹ, và họ vẫn chưa tôn trọng cái tự do học thuật, tự do chọn lựa của nhà khoa học đã thành danh, tiến sĩ của các nước tiên tiến về nước làm việc. Do đó có những mâu thuẫn xảy ra. Các nhà khoa học trẻ khi làm việc thì gặp rất nhiều những khó khăn, đừng nói là những khó khăn về tài chánh, ngay cả môi trường làm việc cũng gặp những khó khăn rất nan giải.”

“Rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa”

Bên cạnh những người ủng hộ quan điểm của người ở lại, như Nguyễn Thành Vinh, thì cũng có những người nhìn sự việc về hay ở bằng một cái nhìn khác. anh Nguyễn Quang Thạch, người đã bỏ ra gần 20 năm để xây dựng chương trình Sách hoá nông thôn nhìn sự đóng góp của từng cá nhân ở một góc độ khác. Anh cho biết:

“Theo tôi thì để xã hội Việt Nam để tốt đẹp như những quốc gia mà các bạn đang sống ấy, thì tôi nghĩ hiện tình xã hội Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ cho mọi người cống hiến và sáng tạo. tôi nghĩ rằng đang còn sa mạc thì cần người trồng cây, còn rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa. Nghĩa là mỗi cá thể hãy đối diện với mình thật rõ ràng để xem mình có năng lực gì để cống hiến cho xã hội cho đất nước, đừng sợ rằng mình không được sử dụng, không được xã hội thừa nhận. Cứ hãy có sản phẩm đi đã. Chừng nào sản phẩm của ông ở mức nào thì xã hội thừa nhận mức đó.

Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam.
– Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Chẳng hạn như khi tôi mới đặt mục tiêu vận động cấp trường làm tủ sách phụ huynh thì cấp trường thừa nhận và áp dụng. Đến khi tốt rồi thì phòng giáo dục áp dụng và thừa nhận. Đến khi cấp sở áp dụng và có văn bản nhân rộng ra khắp tỉnh. Cái nỗ lực của tôi và người khác đã được thừa nhận và áp dụng. Bây giờ cấp Bộ đã mời chúng tôi, đối thoại với chúng tôi để tạo ra những chiến lược chủ trương hoá bằng văn bản.”

Có lẽ dư luận có sự quan tâm đến câu chuyện của Doãn Minh Đăng nhiều hơn vì cũng mới vào đầu tháng 11 vừa qua, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra câu hỏi về việc vì sao đa số sinh viên VN đi du học và chọn con đường ở lại. Ông dẫn chứng chính trường hợp của 13 học sinh nhận học bổng sang Úc du học của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và 12 người trong số họ không quay về nước sau khi kết thúc chương trình học.

Như đã trình bày ở trên, tuy rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng có đưa ra những nhận định của ông về thực trạng của môi trường giáo dục và điều kiện phát triển chuyên môn ở Việt Nam, nhưng ông vẫn có những thông cảm cho quyết định của người không quay về.

“Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam. Tôi là người luôn cổ vũ cho việc này. Tuy là tôi thông cảm cho những sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ là có nhiều người có những chân đứng, có vị trí mà nó phù hợp để họ phát triển, cống hiến cái tài của họ mà họ ở lại. Và cũng có thể vì những lý do gia đình. Thú thật là tôi cũng thông cảm. Tôi thông cảm vì cái điều kiện ở Việt Nam có nhiều vấn đề đặt ra cho những người giáo viên trẻ này không có cái dũng khí, kiên nhẫn để mà thắng được những thách thức thì sẽ có rất nhiều khó khăn.”

Qua nhiều nhận định khác nhau của nhiều người thì có lẽ câu hỏi của ông đại biểu quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà vẫn còn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.