Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

WEB BA SA`M

Dân Luận

Nguyễn Xích Long

Trong bộ phim Chu Nguyên Chương có một câu ông này dạy con “triều đình là nơi tập hợp những kẻ ghê gớm nhất thiên hạ”, nhưng ông ta không được sống ở thời “Đại Vệ chí dị” để hiểu rằng những kẻ tập hợp về triều đình bây giờ đã phát triển đến mức thái cực cửa sự ghê gớm trở thành “lưu manh đỏ” và sự lưu manh cũng đã đi đến bước đường cùng như nhiều người đã từng phân tích.

Trong xã hội “Đại Vệ chí dị” từ lâu người ta đã có cụm từ “lưu manh trí thức” để chỉ ra loại lưu manh cao cấp đã thâm nhập vào khắp triều đình từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở,mức độ lưu manh thì đểu cáng vô nhân kinh khủng vượt xa loại lưu manh hạ cấp đầu đường xó chợ. Loại lưu manh này phát triển đến nay đã trở thành “lưu manh đỏ” biết dựa vào lý luận triết học để lừa bịp mị dân, nhưng do vẫn chỉ là đầu óc lưu manh nên cũng chỉ là trình độ lừa bịp mà qua những phát ngôn gần đây của cả đống “lưu manh đỏ” cấp cao trong triều đình thiên hạ đã nhìn thấy sự biến thái đến bế tắc của đường cùng.

Có thể thấy rõ sự cùng quẫn khi không còn biết cách nào để lý luận bịp bợm mà đành ăn nói bừa bãi quàng xiên một cách láo lếu kiểu của bọn lưu manh đầu đường xó chợ không coi dân chúng ra gì, thiên hạ không còn ai hiểu biết nữa. Những câu nói mà nhiều người đã đưa lên FB dưới dạng “Mỗi ngày một thằng ngu” với rất nhiều ví dụ như “Tăng giá điện toàn dân đều có lợi”, “bán vé số có thu nhập cao cần nghiên cứu phát triển”, “công khai tài sản công chức là vi hiến”, “biên cương bờ cõi biển đảo để cho con cháu đòi”, “Ngậm tăm khi giặc cướp biển dảo là đúng nếu không bây giờ chúng ta có ngồi đây mà họp hành bầu bán được không”, “trận đánh lớn của nghành giáo dục là bỏ môn sử”, “Tâm lý người dân ai cũng ghét Trung quốc rất nguy hiểm”, “luật sư bị đánh do gây bụi đường”, “Dân xem pháo hoa để quên đói nghèo”….. Sau những câu nói cùng quẫn là những chính sách cùng quẫn kiểu tận thu bóc lột đến đồng tiền cuối cùng của người dân như thu bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, thu phí đường bộ xe máy, chặt cây xanh hàng loạt, tăng giá điện, nước, vô tội vạ, giảm giá xăng nhỏ giọt khi giá dầu thế giới giảm, tăng phí dịch vụ y tế vô tội vạ…. tất cả những điều này thể hiện sự bế tắc của “lưu manh đỏ” đã đến đường cùng được thấy rõ bằng các biểu hiện cạn kiệt ngân sách, nhiều địa phương đã không có tiền trả lương, nợ công tăng vọt, các công trình dự án vô bổ kém hiệu quả đua nhau mọc ra….

Theo quy luật tất yếu “cùng tắc biến” thì ta thấy sắp tới sẽ có rất nhiều biến, cuộc đại hội “lưu manh đỏ” phân chia lại quyền lực đang diễn ra khốc liệt đến mức triệt tiêu nhau sẽ có nhiều biến cố không lường, ngân sách cạn kiệt, tài nguyên cạn kiệt dẫn đến miếng ăn tham nhũng không còn đủ chia chác tất dẫn đến đánh nhau tranh giành miếng ăn quyết liệt lộ ra những sai phạm, tội lỗi nội bộ. Các phong trào đấu tranh của dân oan ngày càng phát triển rộng, sâu, các phong trào dân chủ phát triển mạnh về nhiều mặt, ý thức hệ cũng đã thay đổi sâu sắc trong xã hội đặc biệt là lớp trẻ đã có nhiều người tham gia nhiệt huyết năng nổ, hiện tượng ở Ninh Hiệp thiếu nhi cũng đã tham gia có tổ chức đông đảo chống chiếm đất đã trở thành điểm mẫu, mô hình đấu tranh có hiệu quả. Như vậy các pháp biến tất yếu sẽ xảy ra từ nội bộ “lưu manh đỏ” đến áp lực xã hội dân chúng bên ngoài và kể cả quốc tế, chắc chắn “Đại Vệ chí dị” sẽ có biến lớn trong thời gian ngắn sớm thôi. Các tổ chức dân sự và phong trào dân chủ cần chuẩn bị tinh thần, tổ chức, lực lượng để nắm bắt cơ hội thay đổi thể chế phát triển đất nước. Ai nắm bắt được đúng cơ hội sẽ trở thành lãnh đạo đất nước.

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

Web BA SA`M

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương. Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

___

Hồ Trung Thạnh

3-1-2016

Trịnh Kiểm là kẻ chuyên bắt trộm gà của hàng xóm cho mẹ ăn, một hôm Trịnh Kiểm đi vắng, hàng xóm đem mẹ Trịnh Kiểm mà ném xuống vực. Trịnh Kiểm về khóc bên mộ mẹ. Lúc đó ông thầy bói đi qua mà truyền rằng:

Phi đế Phi bá
Quyền khuynh thiên hạ
Truyền tộ bát đại
Tiêu từng khởi vạ

Dịch là:

Chẳng đế chẳng bá
Quyền nghiên thiên hạ
Truyền được tám đời
Trong nhà dấy vạ

Nghe câu sấm trên,Trịnh Kiểm hết khóc mà hỏi lại rằng: Thầy truyền cho con à ?

Thầy bói trả lời: Cho con và một lần cho mai sau nữa!

Với Trịnh Kiểm lời truyền đó đã thành hiện thực:

Năm 1545 Trịnh lên cầm quyền, Trịnh tiếm quyền vua Lê và xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh, sự nghiệp nhà Chúa.

Nhà chúa danh nghĩa dưới nhà vua nhưng quyền nghiên thiên hạ, khuynh đảo nhà vua, vô cùng độc ác, giết cả người thân chiếm lấy mưu đồ, lòng dân oán hận nhưng không ai dám mở miệng nói ra vì sợ Chúa bắt.

Lúc bấy giờ dân sống một cổ hai tròng, khổ trăm bề. Nắm quyền hành trong tay nhà chúa độc đoán về chính trị, lũng đoạn kinh tế, bao che dòng họ cướp bóc của dân.

Cho đến nhà chúa đời thứ 8 chúa là Trịnh Sâm, cuộc chiến nội bộ giành quyền lực giữa hai chúa con cùng nhiều phe cánh đứng đằng sau, lúc này đất nước rối ren, kiêu binh xuất hiện, chính sự không sáng sủa.

Sau cùng xuất hiện phòng trào Tây Sơn Khởi nghĩa, vua chúa cùng chạy, đất nước đổi thay.

Sấm truyền đã đúng một lần với dòng họ Trịnh tiếm quyền làm chúa, thống lĩnh mấy mươi năm làm cho đất nước rối ren rồi sụp đổ bỡi một phong tào chính trị mới tiến bộ hơn, phong trào Tây Sơn.

Lần truyền thứ hai là truyền cho dòng họ nhà Sản, bởi họ nhà Sản có những cái trùng hợp với họ Trịnh năm xưa:

Phi Đế, phi Bá: Nhà Sản không chính danh lãnh đạo đất nước, Nhà sản không phải là Nhà nước nên không phải bậc đế vương mà người dân trao quyền bính. Nhà Sản chỉ là một số người đã tiếm quyền đất nước kể từ cuộc cách mạng cướp chính quyền năm 1945 trùng hợp với năm 1545  nhà Trịnh tiếm quyền đất nước.

Quyền nghiêng thiên hạ: Suốt 70 năm nắm lấy quyền bính, nhà Sản độc quyền lãnh đạo, lũng đoạn kinh tế chính trị gây ra bao nhiêu tan thương cho đất nước.

Truyền được tám đời: Kể từ khi tiếm quyền đất nước năm 1945, đến nay nhà Sản đã truyền ngôi cho nhau được 8 đời: (Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng)

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương.

Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

Qua đêm rồi trời lại sáng, đất nước Việt Nam chấm dứt chuỗi ngày đen tối.

Và ước mong của tôi là lời sấm ma quái ấy chỉ truyền có hai lần mà thôi!

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Nguyễn Quang Dy

Không phải quyền lực làm tha hóa mà là sợ hãi. Sợ mất quyền lực làm tha hóa những người nắm quyền và sợ cái gậy quyền lực làm tha hóa nhữg người bị nó cai trị…” (Aung San Suu Kyi, diễn văn nhận giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng, 7/1991)

***

“Thóat khỏi sợ hãi” không phải là một ý tưởng mới, nhưng Aung San Suu Kyi đã làm mới và đúc kết nó lại thành một lý thuyết mới và niềm tin vững chắc, không những dựa trên triết lý Phật giáo và các tri thức phổ quát khác, mà còn dựa vào trải nghiêm của chính bản thân minh đã bị chính quyền độc tài quân sự đầy đọa suốt hai thập kỷ bằng quản thúc biệt lập. Lý thuyết này đã được Suu Kyi trình bày rõ trong bài luận “Thoát khỏi sợ hãi” (1990) và các bài viết, bài giảng, bài phỏng vấn khác trong những năm qua, để chia sẻ với người dân Miến Điện và thế giới bên ngoài, trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, bằng đấu tranh bất bạo động. Muốn học hỏi kinh nghiệm của người Miến Điện (do Suu Kyi va NLD lãnh đạo) đã giành được thắng lợi to lớn trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua, điều cần thiết là phải hiểu rõ “Thoát khỏi sợ hãi” thực sự có ý nghĩa gì, và chúng ta phải làm thế nào để ứng dụng đươc lý thuyết và kinh nghiệm đó vào thực tế của mình.

Động lực và nguồn cảm hứng

Các bậc tiền bối cách mạng Việt Nam (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chi Minh, v.v.) đã đi tìm đường cứu nước để giành độc lập tự do bằng cách vượt biển sang Phương Tây (và Phương Đông) để tìm lối thoát “từ thế giới bên ngoài”. Ít nhất lúc đó họ còn được tự do đi lại. Nhưng Aung San Suu Kyi (cũng như Martin Luther King và Nelson Mandela) đã bị giam cầm biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhưng họ đã không chịu khuất phục và bất lực trước hoàn cảnh, đã không bỏ phí thời gian, họ nghiền ngẫm tìm lối thoát “từ thế giới bên trong”, trước hết là giải phóng tư tưởng cho chính mình (ngay khi đang bị giam).

Suu Kyi kể lại, chính trong nhũng năm tháng bị quản thúc mà bà đã có thời gian tìm hiểu về bản chất “Sáu Nỗi khổ Lớn” (trong Đạo Phật): Sinh, lão, bệnh, tử, xa cách những người thân, và buộc phải sống chung với những người mình không thích. Chính hai điều cuối đã làm bà giác ngộ về nỗi khổ của chính bản thân mình và trách nhiệm của mình đối với nỗi khổ của người dân Miến Điện, quyết tâm dấn thân để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó. Suu Kyi tin rằng “bất cứ nơi nào nỗi khổ bị bỏ qua thi nơi đó có mầm mống xung đột bởi vi nỗi khổ sẽ làm con người sa đọa, thù hận và bạo hành”

Không phải Suu Kyi chỉ đi tìm nguồn cảm hứng và lối thoát từ triết lý đạo Phật mà còn từ những tri thức phổ quát khác. Có lẽ bà đã tìm thấy mẫu số chung giữa triết lý đạo Phật và Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ. “Bỏ qua và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành đông man rợ làm lương tri loài người phẫn nộ, nên LHQ tuyên bố rằng việc tạo ra một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận, tự do tin ngưỡng, thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn là nguyện vọng cao nhất của con người”. (Lời nói đầu của Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ)

Không thể thoát khỏi ngu dốt nếu chúng ta không được tự do đi tìm sự thật không bị khống chế bởi sợ hãi. Với mối liên quan chặt chẽ giữa sợ hãi và tham nhũng, không có gì là khó hiểu trong một xã hội mà sợ hãi bao trùm thì mọi hình thức tham nhũng sẽ ăn sâu bám rễ. Nếu chúng ta không thoát khỏi sợ hãi, chúng ta sẽ không thể để lại cho con cháu một tương lai mà chúng ta muốn chúng được hưởng.

Suu Kyi cũng tin rằng một cuộc cách mạng chỉ nhằm thay đổi chính sách và thể chế chỉ để cải thiện điều kiện vật chất thì sẽ không có cơ hội thành công thực sự. “Tầm nhìn của chúng ta về một thế giới phù hợp với loài người văn minh và có lý trí sẽ làm cho chúng ta dũng cảm chịu hy sinh để xây dưng một xã hội không thiếu thốn và không sợ hãi. Không thể coi thường những tiêu chí như sự thật, công lý và cảm thông vì những giá tri này thường là chỗ dựa duy nhất chống lai cường quyền”.

Trong số những quyền tự do cơ bản mà con người vươn tới, thì quyền thoát khỏi sợ hãi là cao nhất, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu. Một dân tộc muốn xây dựng đất nước mình trên cơ sở những thể chế dân chủ lành mạnh được thiết lập vững chắc như một đảm bảo đối với quyền lực nhà nước, truớc tiên phải giải phóng tư tưởng cho chính mình khỏi vô cảm và sợ hãi. Muốn thoát khỏi sợ hãi, phải dũng cảm. Có người được trời phú cho “không biết sợ” (fearless), nhưng có lẽ chúng ta cần hơn cả lòng dũng cảm được tôi luyện qua thử thách, lòng dũng cảm bắt nguồn từ thói quen không chịu để sợ hãi điều khiển hành động của mình, có thể gọi đó là “sự bình thản trước thách thức”

Cơ sở lý luận

Trong bài “Thoát khỏi sợ hãi”, Suu Kyi phân tích, “Trong một chế độ phủ nhận sự tồn tại của nhân quyền, sợ hãi có xu hướng trở thành quy luật. Sợ bị bỏ tù, sợ bị tra tấn, sợ bị chết, sợ mất bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ nghèo đói, sợ bị cô lập, sợ thất bại. Nhưng có một loại sợ khó nhận diện nhất núp dưới cái vỏ hiểu biết, thậm chí khôn ngoan, là mọi hành động dũng cảm nhỏ bé hàng ngày giúp ta duy trì lòng tự trọng và nhân cách con người thường bị lên án là dại dột, khinh suất, tầm thường, hay vô ích. Rất khó để những người bị sợ hãi khống chế theo nguyên tắc cai trị là “chân lý thuộc về kẻ mạnh” có thể tự giải phóng mình khỏi nỗi sợ ngột ngạt làm con người hèn yếu. Nhưng ngay trong bộ máy nhà nước hà khắc nhất thì lòng dũng cảm vẫn không ngừng trỗi dậy, vì sợ hãi không phải thuộc tính của con người văn minh”.

Suu Kyi chưa bao giờ nói rằng nền dân chủ là một hệ thống hoàn hảo, bởi vì con người chúng ta không hoàn hảo. Chúng ta không có khả năng sản sinh ra một hệ thống hoàn hảo. Nhưng Suu Kyi cho rằng sự không hoàn hảo đó cũng là điều hay và là một thách thức. Nếu chúng ta đều hoàn hảo cả thì thế giới này sẽ nhàm chán vô cùng. Điều quan trọng là chúng ta phải khắc phục sự không hoàn hảo của xã hội, của pháp luật và tập quán đã làm khổ chúng ta và làm xói mòn nhân phẩm.

Suu Kyi tin rằng “lòng nhân ái có thể thay đổi cuộc sống con người” và bà kêu gọi hãy “chung tay tạo ra một thế giới yên ổn trong đó mọi người có thể ngủ yên giấc và thức dậy trong hạnh phúc”. Theo Suu Kyi, lòng vị tha trong đạo Phật là tâm điểm của quá trình dân chủ hóa. Có lẽ bà chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các lãnh tụ dân quyền chủ trương bất bạo động như Martin Luther King và Mahatma Gandhi.

Ý tưởng đấu tranh bất bạo động của họ thực ra không khác tư tưởng của các bậc hiền tài trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo” (1248), “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Suu Kyi cũng lập luận tương tự, “Khi người ta không có súng trong tay thì phải cố gắng sử dụng cái đầu của mình, phải dùng cảm xúc và trí tuệ để tìm ra giải pháp”. Có lẽ đây chính là ý tưởng “sức mạnh mềm” (hay sức mạnh thông minh).

Dường như các quan điểm chính trị này đã được giới khoa học và nghiên cứu lâu nay chia sẻ hoặc thừa nhận. Darwin nói (1872) sợ hãi là cảm xúc trầm cảm nhất trong mọi cảm xúc… Einstein cũng nói (1938) rằng mọi hành động có ý thức của chúng ta đều bắt nguồn từ ham muốn và sợ hãi… Như vậy, sợ hãi là cảm xúc nguyên thủy nhất trong mọi cảm xúc và có vai trò chính trong sự phát triển của bộ não, từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời còn lại.

Trong cuốn sách “Tổ chức Không có Sợ hãi” (The Fear-free Organization, Kogan Page 2015), giáo sư Paul Brown, một nhà khoa học Anh, đã nghiên cứu yếu tố sợ hãi trong bối cảnh 8 cảm xúc cơ bản (Sợ hãi, Buồn phiền, Giận dữ, Kinh tởm, Thích thú, Vui vẻ, Yêu thương, Ngạc nhiên) để xem tại sao con người lại dễ sợ hãi và tại sao có thể vận dụng nó như một công cụ quản trị, bởi vì sợ hãi có vai trò lớn trong việc phát triển “cái tôi”. Nhưng ông cũng nói rằng tuy sợ hãi là thiết yếu để chúng ta tồn tại nhưng sợ hãi quá có thể hủy diệt chúng ta, bởi vì sợ hãi sẽ thôi thúc chiến đấu hoặc bỏ chạy…

Ông cho rằng, “Tất cả chúng ta sinh ra đã biết sợ: đó là do một phần cấu trúc thần kinh. Có một số thứ đáng sợ mà có lẽ về di truyền chúng ta đã được chuẩn bị từ trước để sợ…” Các nhà khoa học gọi đó là “thuyết chuẩn bị” (LeDoux, 1996). “Nhưng lại có những thứ chúng ta phải học mới biết sợ…” Vì vậy, chủ đề chính trong cuốn sách mà ông và các cộng sự viết là nhằm tạo ra một lý thuyết mới về con người và tổ chức, dựa trên việc sơ đồ hóa dòng chảy của năng lượng của con người trong tổ chức (thông hay tắc), để tìm cách quản trị nó một cách có lợi trong hệ thống tổ chức đó.

Paul Brown lập luận rằng những người lãnh đạo tạo ra sự khác biệt thường dũng cảm và có lòng tin, họ tin vào chính mình và tin vào những nhân sự chủ chốt trong tổ chức. Nó dựa trên sự tin cậy chứ không phải sợ hãi. Sợ hãi là trở ngại, còn quan hệ nhân ái là giải pháp. Bằng chứng nghiên cứu về thần kinh học cho thấy sợ hãi sẽ hủy diệt trong khi tin cậy sẽ sáng tạo. Ông tin rằng phát triển đột phá của khoa học trong thê kỷ 21 là từ ngành thần kinh sinh vật học (neurobiology)

Thực vậy, ngày 2/4/2013, tại Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama đã công bố chương trình nghiên cứu về bộ não (The BRAIN Initiative) với cam kết kinh phí ban đầu cho năm tài khóa 2014 là 110 triệu USD. Ông gọi chương trình này là “dự án lớn tiếp theo của Mỹ” (the next great American project) sau dự án nghiên cứu về “Sơ đồ Gien” (Genome Mapping project) để giúp các nhà khoa học tìm hiểu nguồn gốc và lý giải các hoạt động bí ẩn của bộ não (enigmatic brain activities).

Kinh nghiệm thực tế

Bài học Miến Điện

Miến Điện từng là thuộc địa của Anh, nhưng có lẽ người Miến Điện không căm thù và bài xích người Anh. Sau khi giành độc lập, người Miến Điện không phải chống người Anh như người Việt Nam phải chống người Pháp (vì chúng “muốn chiếm nước ta một lần nũa”). Cũng như Ấn Độ, người Miến Điện chịu ảnh hưởng nhiều của ngôn ngữ Anh và văn hóa Anh. Tuy Miến Điện có nhiều mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo nên cần một chính quyền trung ương và quân đội mạnh để giữ gìn an ninh trật tự, nhưng có lẽ chế độ độc tài quân sự chỉ là ngoại lệ, chứ không phải là truyền thống.

Việc hiến pháp (do quân đội soạn thảo) cấm người có vợ chồng con cái là người nước ngoài làm tổng thống chỉ là một thủ đoạn chính trị để đối phó tình huống (với Aung San Suu Kyi), chứ có lẽ không phải là truyền thống văn hóa bài ngoại. Điều khoản này chắc sẽ phải bỏ, vì sau tuyển cử thắng lợi Suu Kyi đã tuyên bố thẳng thừng là sẽ “ở trên tổng thống”. Đa số các sỹ quan cao cấp, trí thức, và doanh nhân Miến Điện đều học các trường của Anh, nên việc lấy người nước ngoài không phải hiếm.

Việc đa số lãnh đạo quân đội và phe đối lập đều là trí thức là một tiền đề quan trọng và may mắn để hai phía có thể hòa giải. Tuy lãnh đạo quân đội trở thành độc tài, tham nhũng, mất lòng dân, nhưng vì họ là trí thức có hiểu biết nên có thể nhận ra sai lầm để chấp nhận đàm phán và thỏa hiệp. Đạo Phật và trí thức là hai yếu tố thuận lợi cho đấu tranh bất bạo động và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.

Khi đàm phán có hai tiền đề quan trọng là phải xây dựng lòng tin (không nuốt lời hứa và không trả thù) và hai bên phải theo luật chơi (dựa trên luật pháp hay quy tắc ứng xử). Nếu hai bên tiếp tục lo sợ, nghi ngờ, thù hận thì không thể có lòng tin. Nếu hai bên không ứng xử có văn hóa thì sẽ không tôn trọng luật chơi (sẽ chơi theo luật rừng). Nói cách khác, muốn hòa giải và thỏa hiệp, thì phải từ bỏ cực đoan và thù hận. Người Miến Điện có thể làm đươc, liệu người Việt Nam có làm được không?

Bài học Trung Quốc

Tâm lý lo sợ, nghi ngờ thường dẫn đến hành động cực đoan, bạo liệt. Đó không phải chỉ là đặc thù của chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc, mà còn là hệ quả của dân trí thấp, do bị kiểm duyệt chặt chẽ bởi những người cộng sản vô học và vô đạo, luôn hành xử một cách cực đoan và cuồng tín. Tại sao họ lại tra tấn và tàn sát lẫn nhau không thương tiếc trong Cách mạng Văn hóa? Tại sao họ lại đàn áp sinh viên một cách dã man không thương tiếc tại Thiên An Môn? Họ bị xô đẩy bởi tâm trạng lo sợ và tư duy cực đoan.

Vụ đàn áp hàng loạt phái Pháp Luân Công (từ năm 1999) và chiến dịch “Thu hoạch Đẫm máu” (Bloody Harvest) mổ lấy nội tạng sống của họ đem bán lấy tiền (dưới thời Giang Trạch Dân và những kẻ khác) đã bị dư luận lên án là tội ác khủng bố chống loài người, như “quả bom nổ chậm” trong hồ sơ nhân quyền Trung Quốc. Tại sao người ta có thể đối xử mất nhân tính như vậy đối với đồng loại (như thời Trung cổ)? Có lẽ lo sợ và lòng tham đã đã xô đẩy những lãnh đạo cực đoan phạm tội ác man rợ này.

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cũng bị xô đẩy bởi mối lo sợ (tiềm ẩn) và cơ hội thực dụng (trước mắt). Một lãnh đạo TQ đã nói thẳng thừng, “Phải chống đế quốc Mỹ đến cùng, nhưng cách chống tốt nhất là hợp tác với họ”. Đó là quan điểm thực dụng theo kiểu “mèo trắng mèo đen, miễn là bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình. Về chiến lược lâu dài, Mỹ vẫn là kẻ thù chính, nhưng về lợi ích trước mắt, Trung Quốc có thể trục lợi bằng hợp tác với Mỹ theo chính sách “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement) để phát triển kinh tế (nhưng không thay đổi chính trị), cho đến khi đủ mạnh để trở mặt thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ và thay đổi nguyên trạng, bằng chia sẻ hay tranh giành quyền lực.

Trong vụ Vương Lập Quân chạy vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (năm 2012, vì lo sợ đến tính mạng) người Mỹ đã hợp tác với Tập Cận Bình để giúp ông ta xử lý các đối thủ chính trị (như Bac Hi Lai và Chu Vĩnh Khang cùng đồng bọn, được Giang Trạch Dân ngầm ủng hộ) trong chiến dich “đả hổ diệt ruồi”. Tập Cận Bình đã lợi dụng chống tham nhũng để củng cố quyền lực, vì lo ngại nếu không diệt đối thủ thì sẽ bị đối thủ tiêu diệt. Đấy là bản chất của đấu tranh quyền lực cực đoan.

Nay Tập Cận Bình đã củng cố xong quyền lực của mình, và Trung Quốc đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai trên thế giới, nên ông ta quyết định thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” bỏ qua lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là phải chờ thời. Ông ta cho rằng đã đến lúc trở mặt thách thức Nhật Bản (ở phía Đông) và thách thức Mỹ và ASEAN (ở phía Nam) vì tin rằng Biển Đông vừa là cơ hội tốt vừa là nguồn lợi lớn, cần dùng sức mạnh thách thức vị trí đứng đầu của Mỹ tại khu vực. Ông ta lo sợ cơ hội tốt tại Biển Đông có thể tuột mất nếu không hành động ngay (trước khi Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh chiến lược). Tập Cận Bình muốn kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan để rửa nỗi nhục trong quá khứ, và làm giảm áp lực căng thẳng trong nước bằng cách gây căng thẳng bên ngoài để bành trướng.

Trong thập niên 1950 và 1960 khi Việt Nam và Trung Quốc còn gắn bó như “môi với răng”, Việt Nam đã bắt chước đường lối cực đoan và quá khích của Trung Quốc trong “Cải cách Ruộng đất” và đàn áp “Phong trào Nhân văn Giai phẩm”. Việt Nam đã bị xô đẩy bởi chủ nghĩa Mao cực đoan và bạo liệt, nhầm lẫn giữa ý thức hệ và lợi ích dân tộc. Đầu năm 1979, Trung Quốc đã quyết định “dạy Viêt Nam một bài học”, xô đẩy người Việt Nam vào vòng tay người Nga (cũng như đang xô đẩy VN vào vòng tay người Mỹ hiện nay). Đến 9/1990, Viêt Nam lại bị xô đầy vào vòng tay Trung Quốc một lần nữa (tại Thành Đô), cũng bởi vì quá lo sợ và nhầm lẫn về ý thức hệ với lợi ích dân tộc. Còn bây giờ, sau vụ dàn khoan HD 981 sẽ là cái gì tiếp theo thì chưa ai biết rõ. Chỉ biết Việt Nam vẫn đang mắc kẹt ở ngã ba đường.

Bài học Việt Nam

Trong khi tại Miến Điện (hay Thái Lan) Phật giáo vẫn là quốc giáo, được cả chính quyền và người dân tôn trọng, thì tại Việt Nam (hay Trung Quốc) Phật giáo bị chính quyền thao túng để kiểm soát vì lo sợ. Kết quả là Phật giáo bị xâm nhập, phân hóa, thương mại hóa, ngày càng suy thoái trở thành “mạt pháp”. Do đó, Phật giáo không còn là nền tảng văn hóa cho tập quán và hành xử tử tế của con người trong cộng đồng, nên ngày càng nhiều người hành xử một cách vô đạo (bạo lực và dối trá)

Vì thiếu nguồn đào tạo bài bản và có nhân cách trí thức, nên giới trí thức nhỏ bé và phân tán của Viet Nam càng dễ bị vô hiệu hóa và phân hóa, có vai trò khá mờ nhạt trong xã hội. Số lượng bằng cấp và học vị thì rất nhiều và rất cao, nhưng đáng tiếc đa số đều là học dối và bằng gian, hoặc chất lượng thấp. Đặc biệt là trong giới lãnh đạo và quan chức thì điều này lại càng phổ biến, rất hiếm trí thức thực thụ. Đây là một khoảng cách trí thức (intellectual gap) giữa Việt Nam với các nước khác (kể cả Miến Điện). Nhiều người cho rằng hầu như không thể tìm được một nhân vật nào như Aung San Suu Kyi.

Vi lý do này (và những lý do khác) Viêt Nam không phải chỉ là một chế độ độc tài, mà còn là một xã hội bị phân liệt, vì cả dân thường lẫn các các thành phần chính trị ưu tú cũng không theo một chuẩn mực ứng xử nào đàng hoàng hay rõ ràng (mà như “luật rừng”). Nó phản ánh tâm lý lo sợ, bất an, nghi ngờ, xô đẩy họ ứng xử với thói quen đối phó tình huống trước mắt, chỉ để tồn tại (chứ không phải để phát triển), dẫn đến những hành động bất thường, cực đoan, và bạo liệt.

Trong quan hệ với Mỹ, mối lo “diễn biến hòa bình” khá nặng nề, vừa do Trung Quốc xúi bẩy (từ bên ngoài), vừa do “tâm trạng cố thủ” (từ bên trong), như một hệ quả của chiến tranh. Mối lo này còn tăng lên gấp đôi vì mối đe dọa (vừa thật vừa phóng đại) của “các thế lực thù địch và phản động” trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ và phương Tây, như “Mặt Trận” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu (trước đây) cũng như “đảng Việt Tân” (hiện nay) mà cả hai được nói đến trong phim “Terror in Little Saigon”.

Ngay cả khi Việt Nam rất cần hợp tác với Mỹ để tham gia sân chơi TPP và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để tái cân bằng với Trung Quốc và đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn tại Biển Đông, thì mối lo sợ Mỹ can thiệp vẫn còn ám ảnh. Tâm lý này được giải tỏa một phần khi Tổng Bí thư Đảng CSVN đến thăm chính thức Washington gần đây, được tổng thống Mỹ đón tiếp long trọng, với những lời đảm bảo chính thức không can thiệp vào nội bộ. Nhưng mối lo ngại về Trung Quốc và Mỹ vẫn tiếp tục làm lãnh đạo Việt Nam lúng túng, không dám quyết định dứt khoát đi theo hướng nào.

Trong nước, chính quyền lo đối phó với bất đồng và phản kháng ngày càng nhiều của người dân, do bị các nhóm lợi ích thân hữu (được độc quyền nhà nước che chở) chiếm đoạt ruộng đất và tài sản, và do kinh tế suy thoái vì quản lý yếu kém và tham nhũng tràn lan, lại bị ám ảnh bởi những thay đổi rung chuyển gần đây tại Trung Đông và Miến Điện. Tất cả tạo nên sức ép ngày càng lớn lên giới lãnh đạo và các thể chế chính trị đang bị phân hóa sâu sắc bởi lợi ích nhóm và tranh cãi về ý thức hệ, làm cho đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực càng bị phân hóa và trở nên cực đoan hơn trước.

Tuy đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực là chuyện bình thường tại các nước, nhưng nó trở nên bất bình thường tại Việt Nam vì hiểm họa Trung Quốc đã chuyển từ tiềm ẩn thành hiện thực kể từ khi họ quyết định lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông bằng cách đem dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Viêt Nam (nên 5/2014 là một bước ngoặt). Họ san lấp các đảo và xây dựng các công trình quân sự trên các đảo tại khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, thách thức ASEAN, Mỹ và cộng đồng quốc tế.

Đại hội XII đứng trước một thách thức lớn vì nó diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Trung đang khủng hoảng và Biển Đông đang trở thành thùng thuốc súng. Nó đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải quyết định chọn con đường nào: Đổi mới cơ bản và toàn diện vì lợi ích quốc gia để mạnh lên từng bước “thoát Trung”, hay tiếp tục mù quáng đi theo con đường mòn Thành Đô lệ thuộc vào Trung Quốc theo “định hướng XHCN”. Trong khi cương lĩnh chính trị và kinh tế của Đảng chẳng đưa ra được cái gì mới, thì lãnh đạo chỉ chúi đầu vào vấn đề nhân sự để tìm mọi cách giành giật cái ngôi báu đã mục nát. Tại hội nghị trung ương 13 (và 14) trước Đại hội Đảng (từ 20-28/1/2016) tuy họ ráo riết giành thế thượng phong nhằm chiếm vị trí cao nhất, nhưng vẫn bế tắc chưa thỏa thuận được phương án về “bộ tứ”, không biết vì yếu tố bên trong (do không thỏa hiệp được với nhau) hay vì yếu tố bên ngoài (do Trung Quốc can thiệp). Chỉ biêt rằng thù hận, lo sợ và tham lam sẽ tiếp tục đẩy họ vào ngõ cụt, nguy hiểm cho chính họ và cho đất nước.

Dù phái nào giành được thế thượng phong trong trò chơi quyền lực nhơ bẩn và cực đoan “một mất một còn” này, và dù ai trong số “bộ tứ” đang cầm quyền sẽ giành được vị trí đứng đầu tại Đại hội XII sắp tới, thì nhân dân sẽ thua và đất nước này sẽ còn khổ, nếu chẳng có ai trong số họ thực sự muốn cải cách cơ bản và “thoát Trung”. Trong khi đó, Trung Quốc một lần nữa lại đang trùm cái bóng đen lên sân khấu chính trị Việt Nam khi Chủ tịch Quốc hội VN đột ngột đi thăm Trung Quốc (21/12/2015), làm dấy lên lo ngại là Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào nội bộ Việt Nam để ủng hộ phái thân Trung Quốc khi trận đấu cuối cùng sắp diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng này. Một bức tranh thật ảm đạm!

Những diễn biến nguy hiểm này đang là tâm điểm thời sự, nhưng là vùng “nhạy cảm” đối với “báo chí lề phải”, ngày càng trở nên bất lực do bị kiểm duyệt chặt chẽ. Vì vậy, các phe phái đang lợi dụng cả báo chí “lề trái” để đánh nhau, vì hiệu quả hơn. Việc xuất hiện trang mạng bí ẩn “Chân dung Quyền lực” là một ví dụ. Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông kỹ thuật số và các mạng xã hội đang trở thành mối lo đối với bộ máy tuyên giáo lạc hậu của Đảng, đang lúng túng không biết kiểm soát thế giới mạng như thế nào. Hiện nay, mối lo “tự diễn biến” là sự nối tiếp của mối lo “diễn biến hòa bình” trước đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền đang tăng lên (sau thỏa thuận TPP) sẽ trở thành thực tế trong 2016.

Nói cách khác, người Việt Nam đã “sống trong sợ hãi” quá lâu nên sợ hãi trở thành một phần cuộc sống và họ có thể thấy khó sống nếu thiếu sợ hãi (giống như những người nghiện xem phim ma). Khi người Miến Điện bắt đầu “thoát khỏi nỗi sợ” để hòa giải, như thoát khỏi một đường hầm dài, thì người Việt nam vẫn đang mắc kẹt trong đường hầm tối đen. Hà Nội càng chìm đắm vào những mưu đồ chính trị trước Đại hội Đảng, thì nó lại càng giống “thung lũng sợ” với đủ mọi loại sợ trên đời.

Muốn chơi với Mỹ thì sợ mất lòng Trung Quốc và sợ “diễn biến hòa bình”; Muốn tham gia TPP thì sợ dân chủ và nhân quyền; Chấp nhận xã hội dân sự thì sợ “tự diễn biến”; Thích nhận kiều hối nhưng sợ “các thế lực thù địch”; Chống tham nhũng (đánh chuột) thì sợ “vỡ bình”; Phải minh bạch thì sợ “lộ bí mật nội bộ”; Tiếp dân thì sợ “dân khiếu kiện”; Kêu gọi dân góp ý thì sợ “trí thức phản biện”; Sử dụng mạng thì sợ truyền thông “lề trái”; Thích đấu đá nội bộ, nhưng lại sợ mất ghế…

Tóm lại là chúng ta sợ tất cả, sợ một cách cực đoan và tiêu cực. Không phải chỉ có người dân mà cả chính quyền vẫn đang “sống trong sợ hãi”. Vì vậy, nếu không “thoát khỏi sợ hãi” thì đất nước này không thể “thoát Trung”, dân tộc này không thể thoát khỏi nghiệp chướng “tù binh của quá khứ”, tiếp tục mắc kẹt trong đường hầm và hang tối của ý thức hệ, không có lối thoát.

Thay cho lời kết

Sợ hãi và cực đoan là bạn đồng hành, và là hệ quả của nhau, như câu chuyện “con gà và qủa trứng”, không biết cái nào có trước hay có sau. Sợ hãi và cực đoan là hai mặt của một vấn đề, như “âm bản và dương bản”, một cái phản ánh trạng thái cảm xúc, một cái phản ánh trạng thái tư duy. Cả hai luôn tương tác với nhau trở thành nguồn năng lượng tiêu cực, có khả năng phá hủy khôn lường. Cả hai kết hợp với nhau thành một tai họa kép, là nguyên nhân sâu xa của mọi tai họa trên đời.

Muốn chống cực đoan phải thoát khỏi sợ hãi, và muốn thoát khỏi sợ hãi phải chống cực đoan, không phải chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong (chính mình). Muốn chống bạo lực, khủng bố, chiến tranh, và muốn hòa giải, hòa hợp, hòa bình và hợp tác, trước hết phải thoát khỏi tâm trạng sợ hãi và hận thù , phải thoát khỏi tư duy cực đoan và cuồng tín, để thực sự thay đổi trước khi quá muộn.

Hãy tự hỏi tại sao thừa nhận nỗi sợ hãi lại khó đến thế. Có lẽ còn khó hơn là thừa nhận sai lầm và thất bại. Tuy nỗi sợ hãi có thể là thuộc tính của Con người Nguyên thủy, nhưng không phải là thuộc tính của Con người Văn minh. “Thoát khỏi sợ hãi” là giải phóng mình khỏi hang động tối tăm (như “Tù binh của Qúa khứ”) để ra bên ngoài hưởng ánh sang mặt trời.

Tham khảo

“Freedom from Fear” essay, Aung San Suu Kyi, 1990
“Freedom of Thought” speech, Aung San Suu Kyi, July 1991
“Nobel prize acceptance lecture”, Aung San Suu Kyi, Oslo, June 16, 2012
“Sakharov prize acceptance speech”, Aung San Suu Kyi, Strasbourg, October 22, 2013
“Obama announces huge Brain-Mapping project, Stephanie Pappas, Live Science, April 2, 2013
“The Fear-free Organization”, Paul Brown, Joan Kingsley, Sue Paterson, July 2015

2/1/2016

N.Q.D.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm

‘Khéo dư nước mắt…’

‘Khéo dư nước mắt…’
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Mới mấy tháng trước đây thôi, vào lúc nửa đêm, tại một tiệm bánh pizza Papa John’s ở thành phố Helena, Montana, một người đàn ông bịt mặt vào tiệm, tiến đến quầy thu ngân, đưa ra một mảnh giấy đòi nộp tiền. Công nhân của cửa tiệm vội vã mở hộc, hốt hết tiền đưa cho “kẻ cướp,” nhưng không, người đàn ông bịt mặt, ngần ngừ rồi bỗng bật khóc và nói rằng, ông ta chỉ cần ít thức ăn cho các con ông ở nhà đang đói, chứ ông không phải là tên ăn cướp chuyên nghiệp. Người đàn ông, sau đó rời khỏi tiệm với một hộp pizza và một ít cánh gà, cho gia đình của ông, đang không có gì ăn tối nay. Chủ tiệm đã báo cảnh sát ngay sau đó, nhưng chắc là không có ai nỡ bỏ tù một người khốn khổ như vậy.

Dân Bắc Hàn khóc khi Chủ Tịch Kim Nhật Thành qua đời năm 1994. (Hình minh họa: AFP/Getty Images)

Người ta thường lên án nạn cướp bóc, trấn lột, nhưng nghĩ sao trong trường hợp này, liệu nhân viên cửa tiệm có thể rộng lượng cho đi một ít thức ăn, nếu có một người đàn ông đói khát bất ngờ, thay vì bỏ tiền ra mua thức ăn, lại ngửa tay xin một vài cái cánh gà, hay một miếng bánh cho gia đình và chính ông ta không?

Trong tám tiếng đồng hồ chạy theo công việc, tám tiếng đồng hồ sống với gia đình và tám tiếng nghỉ ngơi hay đắm mình vào giấc ngủ, có thời gian nào chúng ta nghĩ đến những đồng loại bất hạnh đang ở gần với chúng ta đây thôi, trong nước Mỹ giàu có, hạnh phúc và cả ở trên quê hương khốn khổ đã xa bên kia của mình.

Chúng ta lên án người khác thì dễ nhưng mở lòng bao dung thì khó! Ở gần chỗ đèn xanh, đèn đỏ đầu đường phố, chúng ta thường miệt thị những kẻ không nhà đang đứng hàng giờ để ngửa bàn tay xin lòng đoái thương của kẻ qua đường. Chúng là kẻ chây lười, hút xách, nghiện ngập, lười biếng, bỏ tù chúng đi là vừa, chúng chỉ làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Trưng bảng xin tiền ra giữa đường là phạm luật, làm tiền là thương mại, phải có giấy phép của chính quyền địa phương, nhưng rồi cảnh sát cũng phải làm ngơ.

Ngoài phố Bolsa, trong những ông sư cùng mặc áo vàng đứng “khất thực” nơi đây, ai giả, ai thật, vậy tốt hơn là tôi ngoảnh mặt làm ngơ đi cho đỡ suy nghĩ. Trước một ngôi chợ ở khu Việt, vào những ngày giáp Tết, giữa dòng người tấp nập, vội vàng, tôi trông thấy một người đàn ông cầm một cái hộp quyên tiền có ghi dòng chữ: “Giúp trẻ em khuyết tật và mồ côi”. Người ta thấy ông nhưng không ai nhìn ông. Với sự nghi ngờ cố hữu, có lẽ mọi người đều có câu hỏi, “ông này thuộc cơ quan, tổ chức nào, quyên góp cho ai” hơn là đặt vào tay ông một đồng bạc lẻ.

Ai cũng cho rằng cách đây vài chục năm, ở Mỹ chúng ta có thể dừng xe lại để cho một người xin quá giang, hay là khi chúng ta gặp hoạn nạn, có thể ra dấu chặn một chiếc xe đang chạy trên đường để xin giúp đỡ. Nhưng ngày nay thì không! Thà làm ngơ đi, lương tâm nếu có cắn rứt đôi chút cũng chẳng sao, trái lại những việc qua đường có khi mang đến tai họa cho bản thân mình, mà còn bị mang tiếng là dại dột.

Bây giờ trên đất Mỹ, nơi vùng đất có nhiều sắc dân cư ngụ, thường xảy ra cướp bóc, ít khi bạn có thể hỏi một người Mỹ qua đường, chỗ ty bưu điện gần đây nhất hoặc đi đến đường Beach còn bao xa. Thường thì chúng ta được nhận một cái khoát ta hay một cái lắc đầu. Ở thời buổi này, thà làm người bất lịch sự còn hơn phải dây dưa vào những chuyện qua đường rắc rối!

Năm 1955, từ Huế vào Sài Gòn, cậu thanh niên tỉnh lẻ mới lớn, là tôi, đang đi với một người bạn học trên đường Bonard, thì một người đàn ông, ăn mặc khá tươm tất, tiến lại phía tôi, – mà không phải là bạn tôi -, mở lời:
– “Tôi đói quá! Cậu cho tôi xin một đồng để mua một nắm xôi!”
Tôi không chút ngần ngại, móc túi trao cho ông kia một đồng. Có lẽ thấy kiếm một đồng bạc đầu tiên không khó khăn gì, người đàn ông chưa cất tiền vào túi vội, nài nỉ, nói thêm:
– “Cậu cho tôi xin thêm một đồng để mua tờ báo, tối lót lưng ngủ qua đêm!”

Tôi lại cho tay lên túi áo, nhưng lần này thì thằng bạn Sài Gòn vội giật cánh tay tôi kéo đi, và chửi thẳng vào mặt tôi là “đồ ngu!” Tôi quả là ngu, vì quá tin người, giữa một Sài Gòn hỗn tạp, tập trung đủ hạng người tứ xứ!

Ở các thành phố, thỉnh thoảng chúng ta nhẹ dạ giúp đỡ, khi gặp một người than thở, là mới ở bệnh viện ra không có tiền xe về Cần Thơ. Nhưng cũng hôm sau, ở một địa điểm khác, chúng ta lại gặp người này, “mới ở bệnh viện ra,” không có tiền xe về Rạch Giá! Vậy thì chắc chúng ta không bao giờ bị mắc lừa nữa, nhưng những người thật sự “mới ở bệnh viện ra, không có tiền xe” cần sự giúp đỡ của người khác, sẽ phải chịu thiệt thòi.

Thế giới động lòng, dang tay đón tiếp những người vượt biển tị nạn vào những năm 1980, nhưng sau đó, ngày càng đông người ra đi, phương tiện cứu giúp có hạn, nhất là sau khi biết “nhà nước cộng sản” chủ trương đóng tàu bán vé, lấy vàng, thì chủ trương cứu vớt của nhiều quốc gia cũng phải xét lại. Cho đến hôm nay, “độc lập-tự do-hạnh phúc” đã 38 năm, người Việt vẫn còn đóng tàu để trực chỉ nước Úc, họ nghĩ là nơi đây, lòng trắc ẩn của người địa phương vẫn còn cao. Liệu chúng ta có sẵn lòng cứu vớt, giúp đỡ những người như thế hôm nay không?

Phải chăng, gian trá, bạo lực đã tàn phá hết tình nhân ái trong lòng chúng ta, tình thương người hầu như đã nguội lạnh qua thời gian, và hình như xã hội càng văn minh chừng nào, lòng người càng trở nên chai đá chừng ấy.

Liệu hôm nay, lỡ đường, như trong những tích truyện xa xưa, chúng ta có thể gõ cửa một ngôi chùa hay một nhà thờ để xin tá túc qua một đêm giá lạnh hay không. Chúng ta đã nghe câu chuyện cách đây hai mươi năm, một thi sĩ lang thang không nhà đã chết trong chiếc xe của ông đậu trước cửa chùa, phải chi cánh cửa chùa đêm ấy rộng mở!

Phải chăng đến lúc, lòng người đã nguội lạnh, con người đã chai đá, con tim đã trở thành vô cảm, không còn nước mắt để khóc thương cho những mảnh đời khổ, hoàn cảnh éo le của từng mỗi cá nhân hay cả mệnh nước khốn cùng nữa.

Tôi nghĩ rằng không!

Mỗi đêm trên đất Mỹ này, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam, già có, trẻ có, đã sụt sùi khóc cho những số phận bất hạnh của những nhân vật trong những cuốn phim bộ Ðại Hàn. Có điều nước mắt ấy chảy ra không đúng chỗ, đúng lúc thôi! Bộ cái tin hằng trăm phụ nữ, đồng bào ruột thịt của mình sang Nam Dương làm nghề “khui bia,” vụ 15 phụ nữ bị lừa sang Nga đi bán quán, để sau đó buộc phải bán dâm, một cô gái 14 tuổi bị bắt làm nghề mãi dâm khi đang có thai bốn tháng, hay người dân thứ tư bị công an cộng sản đánh chết trong mấy tháng đầu năm nay, không đáng cho chúng ta nhỏ được một giọt nước mắt hay sao?

Người cộng sản chỉ biết tập trung khóc tập thể ở ngoài công trường khi lãnh tụ qua đời để “biểu diễn” lòng trung thành của họ, nhưng hình như không còn chút mảy may xót xa, động lòng với những gì khốn khổ đang xảy ra chung quanh mình, ngay trong cuộc sống mỗi ngày bởi áp bức, bất công!

5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

 5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

Tác phẩm “Vượt qua đồi cát” của nhiếp ảnh gia Việt Nam Lê Minh Quốc giành chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của cuộc thi ảnh CGAP 2015.

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

 Nhóm tư vấn hỗ trợ hộ nghèo (CGAP) tổ chức một cuộc thi ảnh hàng năm nhằm vinh danh các nhiếp ảnh gia giúp thúc đẩy quá trình hoà nhập tài chính cho người nghèo trên thế giới. Lê Minh Quốc, một nhiếp ảnh gia đến từ Việt Nam với tác phẩm “Vượt qua đồi cát”, đã chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Nicole Crowde, nhiếp ảnh gia của The Washington Post và là thành viên ban tổ chức cuộc thi, nhận xét: “Bức ảnh khiến bạn tò mò và muốn biết nhiếp ảnh gia đã chụp nó bằng cách nào”. Ảnh: Lê Minh Quốc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Nhiếp ảnh gia Lộc Mai, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích với tác phẩm “Hành trình tiếp theo”. Những phụ nữ trong ảnh sống trong một làng chài ở Nha Trang. Họ đang sửa lưới đánh cá để chồng của họ sử dụng trong chuyến ra khơi tiếp theo. Ảnh: Lộc Mai

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Thu hoạch trứng vịt” của nhiếp ảnh gia Trần Văn Tuý ở Việt Nam đoạt giải khuyến khích. Ban tổ chức cuộc thi bình luận: “Bức ảnh khiến bạn thực sự thấy rằng chương trình tài chính có thể giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn”. Ảnh: Trần Văn Túy

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Buổi sáng” của tác giả Đỗ Hiếu Liêm, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích. CGAP cho biết, khoảng 10% dân số thế giới sống dựa vào nghề đánh bắt, sản xuất thuỷ sản và hải sản. Ở Việt Nam, công việc này mang lại một nguồn thu nhập đáng kể. Ảnh: Đỗ Hiếu Lâm

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ngô Quang Phúc, một nhiếp ảnh gia Việt Nam, giành giải khuyến khích với bức ảnh những người làm nghề đẩy xiệp tại thị trấn ven biển Bạc Liêu. Dù lao động rất vất vả, thu nhập của họ rất thấp. Ảnh: Ngô Quang Phúc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Trồng lúa” của tác giả Sujan Sarkar, Ấn Độ, đoạt giải thưởng cao nhất của cuộc thi. Nó mô tả cảnh một gia đình làm việc trên ruộng lúa ở Tây Bengal, Ấn Độ. Corinne Dufka, một thành viên của ban tổ chức cuộc thi, nhận định, bức ảnh miêu tả thành công một hoạt động nông nghiệp. Ảnh: Sujan Sarkar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Làm việc trên núi” của tác giả Tatiana Sharapova, Nga, khắc họa một bà lão người làm việc tại một cánh đồng trên núi ở Ấn Độ. Bà trồng rau để bán ở chợ. Ảnh: Tatiana Sharapova

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Giải nhì của cuộc thi thuộc về nhiếp ảnh gia Li Ming Cao của Trung Quốc với bức ảnh ngư dân quăng lưới đánh cá vào sáng sớm. Sau đó, ông lão bán cá ở chợ để kiếm tiền. Ảnh: Li Ming Cao

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

M.Yousuf Tushar, nhiếp ảnh gia người Bangladesh, giành giải khuyến khích khi chụp một người đàn ông làm hạt trầu để bán tại khu vực Teknaf, Bangladesh. Ảnh: .Yousuf Tushar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người đoạt giải cao nhất trong hạng mục khu vực Đông Âu và Trung Á thuộc về tác giả Bulent Suberk, Thổ Nhĩ Kỳ, với tác phẩm “Cà chua”. Ảnh mô tả một gia đình nông dân ở làng Bursa Aksu, Thổ Nhĩ Kỳ đang làm bột cà chua. Ảnh: Bulent Suberk

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Hailey Tucker, một công dân Mỹ, giành giải nhất trong hạng mục khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara với bức ảnh người nông dân thu hoạch ngô tại Tanzania. Ảnh: Hailey Tucker

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người phụ nữ trong ảnh đang phơi khô nguyên liệu làm mũ Panama ở Ecuador. Ảnh: Luis Sanchez Davilla

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Bức ảnh một chàng trai trẻ làm việc cùng cha trong một cửa hàng của Subhasis Sen, một người Ấn Độ, đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Subhasis Sen

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ảnh “Chăn gia súc vào buổi sáng” của Li Ming Cao tại Trung Quốc đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Li Ming Cao 

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Trong tác phẩm đoạt giải ba của nhiếp ảnh gia Pranab Basak, Ấn Độ, một thiếu nữ đang giúp cha sản xuất đồ gốm. Ảnh: Pranab Basak

 

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-01-02

000_Hkg8090526-622.jpg

Công an đàn áp người biểu tình chống TQ ở Hà Nội hồi năm 2012.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước và có xu hướng gia tăng phức tạp. Nguyên nhân do đâu và cần giải pháp nào để giảm bớt tình trạng này?

Nguyên nhân

Gần đây ở Việt Nam, tình trạng chống lại người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng, với các hành vi chống đối ngày càng manh động, liều lĩnh, thể hiện sự coi thường pháp luật và kỷ cương xã hội của một bộ phận người dân.

Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là chống lại lực lượng công an ngày càng gia tăng. Đã xảy ra 922 vụ chống người thi hành công vụ, trong đó 673 vụ chống lại lực lượng công an.

Một nhân viên cảnh sát giao thông ở Hà nội, yêu cầu dấu danh tính cho biết:

“ Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.
-LS Hà Huy Sơn”

“Trong thời gian qua, trong quá trình tuần tra kiểm soát của lực lượng CSGT đã gặp rất nhiều đối tượng tham gia giao thông nhưng không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát. Thậm chí có những hành vi chống lại lực lượng cảnh sát.”

Đánh giá về tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay, từ Hà nội LS Hà Huy Sơn – Giám đốc Cty Luật TNHH Hà Sơn nói với chúng tôi:

“Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, ngày 28/12/2015,  phát biểu tại phiên họp trực tuyến Chính phủ và các địa phương, Đại tướng Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, năm 2015 riêng trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đã xảy ra 37 vụ chống CSGT khiến 9 cảnh sát bị thương, còn tính trong 5 năm (2011-2015) thì có 231 vụ khiến 1 CSGT hy sinh, 76 bị thương.

Bình luận về tình trạng chống người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng hiện nay, ông Mai Dũng, một nhà hoạt động xã hội ở Hà nội nhận xét:

“Theo tôi nghĩ điều đó hoàn toàn phù hợp với logic, tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra khá nghiêm trọng. Trong điều kiện những người thi hành công vụ tỏ ra bất chấp pháp luật, còn người dân thì mất niềm tin, dù rằng họ vẫn sợ. Nhưng số có hiểu biết thì họ đã vượt qua được nỗi sợ hãi, thì họ chấp nhận đối kháng và họ sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro.”

Khi được hỏi, nguyên nhân do đâu đã khiến tính trạng chống người thi hành công vụ trở nên hết sức phổ biến?

000_Hkg5086113-600.jpg

Một vụ công an cưỡng chế nhà ở Hà Nội. Ảnh minh họa.

Có rất nhiều nguyên nhân và nhiều lý do khác nhau dẫn đến việc người dân bức xúc hay phẫn uất, song thái độ của nhân viên công vụ là nguyên nhân trực tiếp nhất. LS Hà Huy Sơn nhận định:

“Do đời sống người dân hết sức khó khăn, họ bị dồn vào con đường cùng quẫn. Thứ 2 là sự bất công, thiếu công bằng khi mà pháp luật chỉ phục vụ cho một nhóm người mà không phục vụ cho toàn xã hội. Nhiều người có quyền lực trong bộ máy nhà nước đã sử dụng quyền lực để phục vụ lợi ích của cá nhân, vì thế người dân đã phản ứng và chống lại lực lượng thi hành công vụ.”

Giải thích về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, về các quy định xử phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ, LS Hà Huy Sơn cho biết: Điều 257 BLHS về tội chống người thi hành công vụ quy định: người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Nếu phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. LS Hà Huy Sơn tiếp lời:

“Khi chưa đến mức độ phải xử lý hình sự thì người ta sẽ tiến hành xử phạt hành chính, hoặc là phạt tiền, tịch thu tang vật và phương tiện. Về mặt xử lý hình sự thì tại điều 257 của Bộ Luật hình sự đã quy định rõ: người nào sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để cản trở hoặc ép buộc người thi hành công vụ thực hiện các hành vi trái pháp luật.”

Giải pháp

Nói về các giải pháp nhằm hạn chế và giảm thiểu tình trạng chống người thi hành công vụ. LS Hà Huy Sơn đề xuất:

“ Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.
-Ông Mai Dũng”

“Nhà nước Việt Nam phải quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các giá trị phổ quát của thế giới, như tôn trọng quyền công dân, tôn trọng nhân quyền. Việt Nam phải xây dựng một nhà nước pháp quyền, để có sự cân bằng giữa 3 cơ quan quyền lực, khi đó công lý mới có thể được đảm bảo và nó mới tránh được cái tình trạng như hiện nay, đó là pháp luật chỉ bênh vực cho một nhóm người thay vì toàn xã hội. Muốn thế phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ đất nước của người dân, phải có bầu cử, ứng cử tự do và thực sự.”

Theo báo Lao động online, ThS. Luật học Văn Khắc Hùng, cho rằng để hạn chế tình trạng chống người thi hành công vụ, thì ngay trong lực lượng cảnh sát, nhất là cảnh sát giao thông cũng phải thực hiện nhiều biện pháp điều chỉnh hành vi, tác phong, cách thức giao tiếp, ứng xử để có những kỹ năng giải quyết mâu thuẫn giữa người thực thi pháp luật và người vi phạm, để giảm thiểu nguy cơ gây ức chế, tránh xảy ra các hành vi chống đối.

Nguyên nhân gốc rễ của vấn đề này là do, chính sách pháp luật cũng như cách hành xử của nhân viên công vụ mang tính chất đàn áp, hòng làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Ông Mai Dũng khẳng định:

“Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, tình trạng chống người thi hành công vụ không chỉ trở thành nỗi lo thường trực đối với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ, mà còn thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật và trật tự xã hội của người dân. Việc tấn công nhà ở của các quan chức, như vụ nổ mìn sập nhà Giám đốc Công an Thái nguyên cách đây chưa lâu, hay việc nhà phó trưởng công an Phủ lý bị xả đạn mới đây đã cho thấy điều đó.

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Than Shwe là vị tướng đã dám thí nghiệm dân chủ hóa nhằm thay thế chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar với một “lộ trình dân chủ.” Dân chúng được bỏ phiếu bầu Quốc Hội, Quốc Hội bầu tổng thống, vân vân, ít nhất là dân chủ trên hình thức. Tướng Thein Sein đắc cử tổng thống đã tiến thêm một bước thứ hai, thêm một nội dung: Trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến Ðiện, cho phép đảng đối lập hoạt động và tranh cử. Sau cuộc bầu cử tự do và trong sạch ở Myanmar trong Tháng Mười Một năm 2015, mà đảng đối lập chiếm đa số cao, nhiều người Việt tự hỏi liệu có một Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta hay không?

Xin trả lời ngay rằng: Rất khó. Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng xác suất để một nhân vật như Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện trong đời sống chính trị Việt Nam rất thấp, dưới 10%, có thể dưới 3%.

Một chế độ độc tài chuyển sang dân chủ hóa thường xảy ra do ba động cơ. Có khi chế độ cũ sụp đổ do nguyên nhân từ bên ngoài. Dân Bồ Ðào Nha nổi lên đòi dân chủ sau khi thất trận ở Angola, các sĩ quan cấp tá đảo chính để tiến đến dân chủ hóa. Các cuộc Cách Mạng Mầu Cam và Mùa Xuân Á Rập do ảnh hưởng từ các nước láng giềng. Nhiều chế độ độc tài tan vỡ sau khi nhân dân nổi lên, như ở Phi Luật Tân, ở Ðài Loan và Nam Hàn. Và có những cuộc chuyển hóa diễn ra nhờ sự thỏa hiệp giữa chính quyền độc tài và các thế lực đối nghịch. Ba Lan, Tiệp Khắc, Chile, Brazil, Argentina đã đi theo con đường đó. Ba hình thái chuyển đổi này có thể trộn lẫn với nhau.

Myanmar là một trường hợp đặc biệt. Có một chút áp lực từ bên ngoài, là hành động cấm vận của các nước Tây phương và âm mưu thao túng của Trung Cộng làm dân Miến nổi giận. Dân bất mãn biểu tình năm này sang năm khác tạo thêm chút áp lực từ bên trong. Chính quyền quân phiệt đã trả tự do cho dân và thương thuyết với bà Aung San Suu Kyi để Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) tham gia tranh cử, khởi động quá trình dân chủ hóa. Nhưng những áp lực bên trong cũng như bên ngoài thực ra chưa đủ mạnh khiến các tướng lãnh chịu thay đổi. Cuộc thỏa hiệp cũng diễn ra một chiều, vì khi Thein Sein gặp Suu Kyi thì phía đối lập trong thực tế không có gì để trao đổi cả.

Bà Suu Kyi đã khôn ngoan chấp nhận những nhượng bộ nhỏ nhất, Liên Minh NLD đưa người ra tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu bổ túc chỉ chọn một số nhỏ, 40 người trong số các đại biểu Quốc Hội. Tiến trình dân chủ hóa được thực hiện nhờ Thein Sein và Than Shwe đã thuyết phục Suu Kyi tin rằng họ thực tâm muốn thay đổi. Niềm tin này có được là nhờ yếu tố văn hóa: Người Miến Ðiện tin nhau, tin rằng họ đều yêu nước, tin không người Miến nào chịu làm tay sai cho ngoại bang. Người Miến nào cũng nhớ lịch sử, vua Càn Long nhà Thanh đã từng xâm lăng Miến Ðiện hai lần chỉ để độc chiếm quyền khai thác các mỏ đá quý và ngọc, và ông ta đã thất bại. Giới lãnh đạo quân phiệt Miến Ðiện không bị ràng buộc với Trung Cộng vì một chủ nghĩa, một lý thuyết nào. Những người Miến Ðiện này có thể tin nhau được; vì sau khi quan sát các hành động, cách ứng xử của nhau, họ biết rằng tất cả vẫn cùng chia sẻ một niềm tin vào luật nhân quả; tất cả vẫn sống theo các quy tắc đạo lý chung: Tự giải thoát khỏi ba chất độc Tham, Sân và Si; đặt công ích lên trên tư lợi.

Có thể nói ngay rằng yếu tố văn hóa “Niềm Tin” này chưa thấy hy vọng được thể hiện ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay. Không phải vì người Việt Nam vốn không tin nhau, dân mình không đến nỗi tệ như vậy. Nhưng vì môi trường chính trị nước ta đã bị nhiễm độc sau hơn nửa thế kỷ mọi người phải sống trong không khí dối trá, với một chính quyền dùng bạo lực và dối trá như hai phương tiện cai trị quan trọng nhất. Và tới giờ họ vẫn tiếp tục như vậy.

Nhưng liệu ở nước ta có thể xuất hiện những người như Than Shwe, Thein Sein hay không?

Như đã trình bày trong bài trước, giới lãnh đạo quân phiệt ở Myanmar đã chấp nhận thay đổi khi Tướng Than Shwe còn nắm quyền, năm 2003 ông ta phát khởi bảy bước dân chủ hóa trên hình thức. Thein Sein là người được chọn để thi hành bước kế tiếp, trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến. Quá trình này không phải chỉ nhờ vào hai vị tướng lãnh đó muốn mà chắc chắn phải được các tướng lãnh khác đồng ý. Một điều chúng ta phải chú ý là trong 12 năm qua không có một tướng lãnh nào tỏ ý phản đối lộ trình của Than Shwe. Nhất là trong ba năm qua Thein Sein và Suu Kyi có thể cùng tiến từng bước một mà “thái thượng hoàng” Than Shwe cũng như các tướng lãnh khác không một người nào can thiệp để ngăn cản. Sau cuộc bỏ phiếu ngày 8 Tháng Mười Một vừa qua, tất cả những người đang nắm thực quyền, từ tổng thống đến chủ tịch Quốc Hội và vị tướng tổng chỉ huy quân đội, đều công khai chấp nhận kết quả là đảng NLD đã toàn thắng. Ông Than Shwe còn gặp bà Suu Kyi để sau đó nói rõ ràng là bà xứng đáng lãnh đạo đất nước.

Liệu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể hành động như nhóm tướng lãnh quân phiệt ở Myanmar hay không?

Ðiều này rất khó, vì hai nhóm người này khác nhau nhiều quá.

Các tướng lãnh Miến Ðiện cướp chính quyền năm 1962 vì họ không tin vào chế độ dân chủ, vì muốn giúp nước chứ không phải vì muốn thực hiện một thứ chủ nghĩa nào cả. Tướng Newin công bố theo “chủ nghĩa xã hội” vì ông tin đó là một phương tiện tốt nhất để phát triển. Ông ta chỉ theo thời thế, lúc đó tầng lớp lãnh đạo ở các nước nghèo đều mơ mộng như vậy, Ấn Ðộ, Ai Cập, Indoneisia, Cuba, vân vân. Mục đích của họ vẫn là giúp nước, khi thấy phương tiện không hữu ích thì sẵn sàng bỏ đi. Các chế độ quân phiệt dễ được chuyển hóa vì họ đặt quyền lợi tổ quốc và nhân dân trên cao hơn tất cả các phương tiện, trong đó có thể chế chính trị và phương pháp tổ chức kinh tế.

Ðảng Cộng Sản thì khác. Họ tin chủ nghĩa Marx-Lenin như tin một tôn giáo; Stalin đã biến phong trào Cộng Sản thành một thứ “giáo hội” để dễ thao túng. Ðối với một người sùng tín thì niềm tin của họ quan trọng hơn các giá trị thế tục, trong đó có cả những khái niệm như quốc gia và “Tổ quốc.” Biết người Việt nào cũng yêu nước, đảng Cộng Sản đã hô hào bắt dân phải yêu “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chứ không phải yêu Tổ quốc nào cũng được. Chủ nghĩa Xã Hội là cứu cánh. Ngay từ căn bản đó, người Cộng Sản không thể hành động giống như các tướng lãnh quân phiệt.

Ngày nay, các đảng viên Cộng Sản cũng không còn tin vào chủ nghĩa của họ nữa. Nhưng họ vẫn cố bám lấy nhãn hiệu đó để biện minh tại sao họ phải duy trì chế độ độc tài chuyên chế. Bỏ độc quyền chuyên chế tức là bỏ chủ nghĩa Lenin, một phương cách thực hiện chủ nghĩa Marx. Ðường lối này lại rất ích lợi cho họ trong thực tế, vì những người cầm đầu đảng đã trở thành một khối quyền lợi riêng vĩ đại, cần cấu kết với nhau để bảo vệ các quyền lợi đó. Ðề cao chủ nghĩa Marx-Lenin là thủ đoạn cần thiết để duy trì guồng máy thống trị, tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi.

Các tướng lãnh ở Myanmar tự bản chất đã có địa vị trong xã hội. Dù theo thể chế chính trị nào thì nước họ vẫn cần có quân đội, nhất là ở một quốc gia luôn luôn bị đe dọa có nội chiến, với những nhóm chủng tộc khác nhau, đã từng chống lại chính quyền trung ương trong nhiều thế kỷ. Quyền của các tướng lãnh là do cấp bậc mà có, không ai phủ nhận được. Những lãnh tụ quân phiệt biết rằng dù quyền lợi của họ có giảm đi nhưng vẫn còn đó, thay đổi thể chế là một hy sinh có thể chấp nhận được.

Ngược lại, các lãnh tụ Cộng Sản, và ngay cả các cán bộ, đảng viên trung cấp, biết rằng chính họ không có một địa vị xã hội nào ở bên ngoài cái guồng máy đã áp đặt trên cả xã hội cho phép họ thao túng. Ðịa vị và tài sản của họ đều nhờ guồng máy đó mà đạt được. Trong các chế độ Cộng Sản, nghỉ hưu nghĩa là mất địa vị, mất quyền lợi. Các lãnh tụ còn giữ được chút quyền và hưởng chút lợi chỉ nhờ đã giỏi gài đặt đàn em cùng phe cánh thừa kế, sẵn sàng chia sẻ cho. Nhưng muốn vậy, điều kiện quan trọng nhất là chế độ vẫn tồn tại, nếu không sẽ mất hết.

Hơn nữa, tại Myanmar các nhân vật như Than Shwe và Thein Sein vẫn được các tướng lãnh khác kính trọng, họ sẵn sàng đi theo các thủ lãnh trên đường dân chủ hóa. Họ bảo được nhau, hòa thuận với nhau. Ở Myanmar nền luân lý cổ truyền vẫn còn mạnh, con người ăn ở với nhau bằng những quy tắc luân lý ai cũng tin theo. Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn khác. Họ đã xóa bỏ các quy tắc luân lý cũ trong suốt 80 năm qua; quy tắc luân lý cao nhất được Hồ Chí Minh đề ra là “tuân theo lệnh đảng.” Giờ đây các lãnh tụ đang “chửi bới” nhau như hàng tôm hàng cá, cạn tàu ráo máng. Nếu không vì quyền lợi liên kết, dứt nhau ra là nguy, chắc họ có thể giết nhau rồi. Bất cứ ai muốn trở thành Than Shwe hay Thein Sein ở Việt Nam cũng sẽ bị cả khối người đang hưởng các các đặc quyền đặc lợi chống đến cùng. Vì vậy, xác suất để cho Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện có thể chỉ dưới 2%, 3%.

Nhưng dù có người muốn đóng vai Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta thì con đường dân chủ hóa vẫn còn khó. Bởi vì cho tới nay cả nước không có một Aung San Suu Kyi và một Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ.

Cuộc vận động dân chủ hóa không thể từ trên ban xuống mà thành, cần phải được thúc đẩy bởi những động lực từ dưới dâng lên. Muốn vậy, người Việt Nam cần một cuộc vận động đòi tự do dân chủ khắp nơi, trong tất cả các tầng lớp xã hội, để kết tụ thành một phong trào có thế mạnh và có thực chất. Nhiều nhóm người yêu nước và tỉnh thức đã bắt đầu trong hai chục năm qua. Tấm gương Myanmar có thể giúp dân Việt Nam thêm hăng hái tiến hành cuộc vận động này nhanh hơn.

Hy vọng hòa bình vừa loé lên tại Syria

Hy vọng hòa bình vừa loé lên tại Syria

Đặng Tự Do

Hôm thứ Hai 28 tháng 12, khoảng 450 chiến binh người Syria và gia đình của họ đã được di tản khỏi hai khu vực bị bao vây nhờ những thỏa thuận do Liên Hợp Quốc đứng ra làm trung gian.

 
Những người di tản được đón tiếp tại Beirut

Diễn biến này hy vọng có thể là một bước ngoặt cho một hiệp ước hòa bình rộng lớn hơn trong cuộc nội chiến đã kéo dài sang đến năm thứ 5 tại nước này.

330 chiến binh Hồi Giáo Shi’ite và thường dân trong hai thị trấn ủng hộ chính phủ ở tây bắc Syria đã được đưa an toàn tới sân bay Beirut của Li Băng. Hàng trăm ủng hộ viên Hezbollah đốt pháo hoa để ăn mừng diễn biến này. Những người được di tản đã khóc vì mừng rỡ trong khi ngồi trên những chiếc xe bus cố căng mắt nhìn xem có gặp được những người thân trong đám đông đang nồng nhiệt chào đón họ.

Việc di tản đã diễn ra an toàn theo một thỏa thuận của Liên Hiệp Quốc được sự bảo trợ và trung gian bởi các cường quốc khu vực. Đây là một phần trong nỗ lực của Liên Hiệp Quốc nhằm thiết lập lệnh ngừng bắn và đi lại an toàn.

Trong khi đó, một chiếc máy bay khác chở 126 chiến binh nổi dậy người Hồi giáo Sunni đã từng bị quân chính phủ Syria bao vây trong thị trấn Zabadani gần biên giới với Li Băng. Máy bay đã hạ cánh tại sân bay Hatay ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ.

Đổi lại với việc cho phép quân nổi dậy được ra đi an toàn, chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad được khôi phục lại quyền kiểm soát các khu vực đã nằm trong tay phiến quân trong bốn năm qua.

Zabadani đã từng là một thành phố nghỉ mát nổi tiếng của Syria. Thành phố này hiện nay chỉ còn là một đống đổ nát.

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Năm 2016, chủ đề mục vụ của Giáo hội Việt Nam là “Tân phúc âm hóa đời sống xã hội”. Để có một cái nhìn cụ thể về việc này, xin giới thiệu mục từ “Kitô giáo tại Hàn Quốc” của từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, bản Anh ngữ, do Phan Vĩnh Tâm lược dịch. (Xin xem toàn bài bằng tiếng Anh và các chú thích tại https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_Korea )
Kitô giáo hiện diện tại Hàn Quốc xoay quanh hai chi nhánh lớn nhất là Tin lành và Công giáo, Tin lành chiếm 8,6 triệu [1] [2] và Công giáo 5,3 triệu [3]. Công giáo La Mã du nhập cuối thời triều đại Joseon. Vào năm 1603, Yi Gwang-jeong, nhà ngoại giao Hàn Quốc, từ Bắc Kinh trở về mang nhiều sách thần học của Matteo Ricci, một nhà truyền giáo dòng Tên đến Trung Quốc. [4] Ông phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Năm 1758 vua Yeongjo của Joseon chính thức cấm đạo Công giáo, nhưng rồi một lần nữa, năm 1785, lại  được Yi Seung-hun cổ xúy.

Các Kitô hữu Hàn Quốc là đối tượng để đàn áp và gian khổ. [5] Nhiều người đã chịu tử đạo, đặc biệt là trong cuộc bách hại năm 1801 và sau đó. Giới quý tộc Joseon xem tôn giáo mới như một ảnh hưởng đưa tới lật đổ cho nên đã sớm bắt bớ những người theo đạo này, mà đỉnh cao là cuộc bách hại năm 1866, trong đó 8.000 người Công giáo trên khắp đất nước đã bị thiệt mạng, kể cả chín nhà truyền giáo Pháp. Việc Hàn Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài trong những năm tiếp theo đem lại sự khoan dung tôn giáo cho những người Công giáo còn lại và đưa đạo Tin lành vào. Các nhà thờ Tin lành đầu tiên ở Hàn Quốc được Suh Sang-ryun thành lập và nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên vào Hàn Quốc là Horace Newton Allen, năm 1884. Horace Allen là một nhà truyền giáo hệ phái Presbyterian và là nhà ngoại giao Bắc Mỹ. Ông ở Hàn Quốc cho đến năm 1890, được nhiều người hỗ trợ. [6]

Vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin Lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: năm 1991, 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo [7] Giáo Hội Công Giáo đã gia tăng thêm 70% trong vòng mười năm qua. [8] Anh Giáo ở Hàn Quốc cũng đã tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây…

Các Kitô hữu đã có ảnh hưởng quyết định trên nền giáo dục với 293 trường học và 40 trường đại học do họ điều hành, kể cả 3 trong số 5 tổ chức học thuật thế giá nhất. [9] Tin lành được coi là tôn giáo của tầng lớp trung lưu, thanh niên, trí thức và dân thành thị, và là nội lực giúp Hàn Quốc theo đuổi việc hiện đại hóa và chạy đua với Hoa Kỳ. [10] [11] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự phát triển của đạo Tin lành đã chậm lại, có lẽ do những vụ bê bối liên quan đến lãnh đạo giáo hội và vì xung đột giữa các giáo phái do quá hăng say trong việc truyền giáo. [12]

Tính đến năm 2014, khoảng 30% dân số Hàn Quốc khai rõ mình là Kitô hữu. [13]

Ý NGHĨA VĂN HÓA

Nhà nghiên cứu Grayson cho rằng đạo Tin lành đã là một lực lượng năng động trong cuộc sống của Hàn Quốc, và đã có một tác động tích cực đối với các tôn giáo khác. Nó đã tạo nên một cuộc chạy đua năng động khiến người Công giáo và Phật giáo phải cạnh tranh, cũng như tạo cảm hứng cho rất nhiều hệ phái nhỏ hơn. Các hệ phái này đã tiếp nhận nhiều phương thức mà những người Tin Lành đã đi tiên phong.

Trước chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hai phần ba Tin Lành Hàn Quốc sống ở miền Bắc, nhưng sau đó hầu hết chạy trốn vào Nam. Người ta không biết chính xác có bao nhiêu Kitô hữu hiện còn ở Bắc Triều Tiên. Được biết, vào cuối những năm 1960 đã có khoảng một triệu người Tin Lành ở Hàn Quốc, nhưng trong quá trình giai đoạn bùng nổ kết thúc vào năm 1980, số người Tin Lành tăng nhanh hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác. Năm 2005 điều tra dân số của Hàn Quốc cho thấy 29,2 phần trăm dân số là Ki tô hữu, tăng từ 26,3 phần trăm của mười năm trước đó. [14] Các Hội thánh Presbyterian là những hệ phái Tin Lành lớn nhất tại Hàn Quốc, với gần 20.000 nhà thờ liên kết thành hai hệ phái Presbyterian lớn nhất trong đất nước. [15]

Hàn Quốc hiện đang cung cấp số lượng nhà truyền giáo Kitô lớn thứ hai trên thế giới, qua mặt cả Hoa Kỳ. [16] GMS, lực lượng truyền giáo chính của Giáo hội Presbyterian Hàn Quốc, là tổ chức truyền giáo lớn nhất Hàn Quốc. [17] [18] Các nhà truyền giáo Hàn Quốc đặc biệt nổi bật ở các quốc gia vùng “Cửa số 10/40” (Bắc vĩ tuyến 10/ Đông kinh tuyến 40) vốn ít thiện cảm với người phương Tây. Trong năm 2000, đã có 10.646 nhà truyền giáo Tin Lành Hàn Quốc ở 156 quốc gia, cùng với một số các nhà truyền giáo Công giáo tương ứng. Một bài báo năm 2004 cho biết “Theo các tổ chức truyền giáo ở Hàn Quốc và phương Tây, Hàn Quốc đã cử hơn 12.000 người truyền giáo đến hơn 160 quốc gia so với khoảng 46.000 nhà truyền giáo người Mỹ và 6.000 nhà truyền giáo người Anh”. [19] Theo một bài báo năm 2007 “Hàn Quốc có 16.000 nhà truyền giáo đang làm việc ở nước ngoài, chỉ đứng sau Mỹ”. [20] Năm 1980, Hàn Quốc gửi đi chỉ mới 93 nhà truyền giáo nhưng vào năm 2009 đã lên đến khoảng 20.000 người. [16] [21] [22] [23]

Seoul có 11 trong số 12 Cộng đồng Kitô giáo (Tin lành) lớn nhất trên thế giới.  Một số Kitô hữu Hàn Quốc, trong đó có David Yonggi Cho, mục sư cấp cao của Giáo Hội Yoido Full Gospel, đã nổi danh trên toàn thế giới. Aaron Tân, giám đốc của công ty kiến ​​trúc Hồng Kông mang tên “Nghiên cứu Thiết kế kiến ​​trúc”, mô tả rằng về đêm Seoul rực sáng “tràn ngập những thập giá Kitô giáo “. [24]

GIÁO DÂN ĐỨNG HÀNG ĐẦU

… Kitô giáo tại Hàn Quốc đã bắt đầu như một phong trào giáo dân bản địa chứ không do một nhà truyền giáo nước ngoài đưa tới. Nhà nguyện Công giáo đầu tiên tại Seoul được Yi Seung-hun, một nhà ngoại giao đã lãnh bí tích rửa tội tại Bắc Kinh, thành lập năm 1784. [29] Năm 1786, ông Yi xúc tiến thành lập một hệ thống giáo phẩm giáo dân [30], nhưng năm 1789 Vatican phán quyết rằng việc bổ nhiệm tư tế giáo dân như thế không hợp Giáo luật. Kitô giáo đã khởi đầu rộng khắp tại Hàn Quốc do nỗ lực của thường dân, cho nên nó lây lan trong dân chúng nhanh hơn là nếu nó bắt nguồn từ người ngoài mà không được sự hỗ trợ của dân chúng từ đầu.

MẪU TỰ HÀN, XÓA MÙ CHỮ VÀ GIÁO DỤC

Hangul là hệ thống chữ quốc ngữ của người Hàn, với một bảng chữ cái để ký âm tiếng Hàn, được phát minh khoảng năm 1.446 do các học giả của triều đình Sejong Đại đế, [31] [32]. Do ảnh hưởng áp đảo của học thuật cổ điển Trung Quốc (chiếm một vị trí tương tự như tiếng Latin ở châu Âu ) suốt nhiều thế kỷ thứ chữ quốc ngữ này rất ít được dùng đến. Giáo Hội Công Giáo là tổ chức Hàn Quốc đầu tiên chính thức lấy chữ quốc ngữ của Hàn làm công cụ ưu tiên. Đức Giám mục Siméon-François Berneux buộc phải dạy cho tất cả trẻ em Công giáo biết đọc nó. [31] [33] Sách vở Kitô giáo in để dùng tại Hàn Quốc, kể cả những sách vở được dùng trong các trường do các giáo sĩ Kitô giáo thành lập, chủ yếu đều dùng Hàn ngữ với bảng chữ cái dễ học của quốc ngữ Hàn. Các nhân tố ấy kết hợp với nhau khiến tỷ lệ số người biết chữ tăng nhanh, và khiến giáo lý Kitô giáo lan rộng vượt khỏi tầng lớp trí thức vốn chuyên dùng chữ Hán. Đầu thập niên 1780, các phần của sách Tin Mừng đã được xuất bản bằng quốc ngữ Hàn; sách giáo lý “Jugyo Yoji” (Giáo huấn căn bản của Chúa) được xuất bản vào những năm 1790 và một quyển thánh ca Công Giáo đã được in vào khoảng năm 1800.

John Ross, một nhà truyền giáo Presbyterian người Scotland có trụ sở tại Thẩm Dương, đã hoàn thành việc dịch Kinh Thánh sang sang tiếng Hàn vào năm 1887 [34] và các vị lãnh đạo Tin lành đã phát hành một khối lượng lớn bản dịch này. Họ cũng đã thành lập những cơ sở giáo dục hiện đại đầu tiên tại Hàn Quốc. [35] Trường Paichai của hệ phái Methodist dành cho nam sinh được thành lập năm 1885, rồi trường Ewha Methodist dành cho nữ sinh (sau này trở thành Đại học nữ giới Ewha) vào năm 1886. Những trường ấy, và những trường tương tự được thành lập tiếp sau đó, đã giúp đạo Tin Lành lan rộng trong tầng lớp dân thường, và người Tin lành đã qua mặt người Công giáo, trở thành nhóm Kitô giáo lớn nhất tại Hàn Quốc. Trước kia phụ nữ không được đến trường nhưng giờ đây số phụ nữ biết chữ đã tăng vọt. [36]

KITÔ GIÁO DƯỚI THỜI HÀN QUỐC BỊ NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG, 1910-1945

Nhật đã xâm chiếm Hàn quốc năm 1910. Với chế độ cảnh sát trị, họ đã tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng của các nhà truyền giáo, đưa tới một hệ quả đáng buồn trong những năm 1911-1919. Những tuyên bố lý tưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã góp phần làm cho tinh thần quốc gia của người Hàn tăng mạnh trong những năm 1920, nhưng rồi họ vỡ mộng khi phong trào bị thất bại không đạt được một cải cách có ý nghĩa. Năm 1924, người Tin Lành thành lập Hội đồng Kitô  giáo Toàn quốc Hàn để điều phối hoạt động bằng cách chia thành các khu vực được phân công cụ thể cho các hệ phái Tin Lành khác nhau. Tin Lành Hàn Quốc cũng thành lập những nhóm truyền giáo cho người Hàn hải ngoại, cách riêng là ở Trung Quốc.

Kitô giáo tăng trưởng đều đặn, vào giữa những năm 1930, dân số Công giáo đạt tới 147.000, và Tin Lành 168.000. Những căn cứ lớn cho cả hai nhóm đều ở phía Bắc. Vào năm 1937, Giáo Hội Presbyterian của Hàn Quốc đã khá độc lập với sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ; năm 1934 Giáo Hội Methodist đã trở thành tự trị và chọn một giám mục Hàn Quốc. Các nhà truyền giáo tích cực nhất bên phía Công giáo là các tu sĩ dòng Maryknoll, đã mở trường y khoa Maryknoll tại Pusan ​​năm 1964; nay là Đại học Công giáo Pusan. [37]

TINH THẦN DÂN TỘC CỦA NGƯỜI HÀN

Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự chấp nhận Kitô giáo rộng rãi tại Hàn Quốc là nhiều Kitô hữu đã kiên quyết đứng về phía chính nghĩa của Hàn Quốc suốt thời kỳ Nhật chiếm đóng (1910-1945). Trong thời gian này, Nhật Bản đã tiến hành một chiến dịch áp đặt văn hóa Nhật lên người Hàn cách có hệ thống, đặc biệt là đòi người Hàn phải tôn thờ Nhật hoàng. Thậm chí năm 1938, việc dùng tiếng Hàn đã bị cấm. [38] Tuy nhiên, tính chất đặc biệt Triều tiên của Giáo hội Hàn quốc đã nổi rõ và được lớn mạnh thêm trong những năm ấy do biết  bao Kitô hữu đã tỏ rõ sự trung thành với quốc gia. Trong khi hiến pháp sau này của Nam Hàn đảm bảo cả tự do tôn giáo lẫn sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước, chính phủ Hàn Quốc đã ủng hộ Kitô giáo, coi đây như là một giáo lý có sức ngăn ngừa ảnh hưởng ý thức hệ của quốc gia anh em láng giềng.

Ngày 01 tháng 3 năm 1919, một hội đồng gồm 33 nhà lãnh đạo tôn giáo và các chuyên gia được gọi là ” Phong trào 01 Tháng Ba” thông qua một Tuyên ngôn độc lập. Mặc dù phong trào do các lãnh tụ của Thiên Đạo giáo (một tôn giáo dựa trên học thuyết Khổng Tử) đứng ra tổ chức, 15 trong số 33 người ký tên là người Tin Lành, [39] và nhiều người trong số họ đã bị bắt giam. Cũng trong năm 1919, còn xuất hiện phong trào hô hào độc lập do người Công giáo chủ xướng, mang tên “Ulmindan” [40], và một chính phủ lưu vong do một chính khách hệ phái Methodist là Syngman Rhee cầm đầu cũng đã ra đời và tồn tại được một thời. [41]

Kitô giáo còn gắn liền với phong trào yêu nước hơn nữa khi một số Kitô hữu từ chối không dự các nghi thức tôn thờ Nhật hoàng mà luật pháp năm 1930 đòi buộc. [38] [42] Mặc dù việc từ chối ấy là do niềm tin tôn giáo thúc đẩy hơn là do xác tín chính trị, nó đã khiến nhiều Kitô hữu bị bắt giam, và trong con mắt của nhiều người Hàn Quốc, điều ấy vẫn đồng nghĩa với tinh thần dân tộc chống lại sự chiếm đóng của Nhật. [43]

THẦN HỌC VỀ DÂN CHÚNG

Các khái niệm Kitô giáo về giá trị cá nhân đã được đề cao trong cuộc đấu tranh lâu dài cho nhân quyền và dân chủ ở Hàn Quốc. Trong những năm gần đây, cuộc đấu tranh này còn mang hình thức Thần học về Dân chúng.  Thần học về Dân chúng tại Hàn là một dạng thần học giải phóng, dựa trên khái niệm “hình ảnh Thiên Chúa” trong Sáng thế ký 1: 26-27, kết hợp với tâm thức “Hàn” trong truyền thống Hàn Quốc, thuật ngữ này không có từ tương  đương chính xác bằng tiếng Anh, và có nghĩa là một cảm giác đau đớn vô vọng không sao an ủi. Thần học về Dân chúng mô tả tầng lớp dân thường trong lịch sử Hàn Quốc như những người chủ chân chính của vận mệnh của mình. Hai trong số các nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng nhất của đất nước đã hưởng ứng Thần học về Dân chúng, là Kim Young-sam, tín hữu Presbyterian, và Kim Dae-jung, người Công giáo,. [44] Cả hai đã đấu tranh chống lại chính phủ quân sự chuyên chế ở Hàn Quốc suốt nhiều thập kỷ và đã thường xuyên bị bỏ tù nhưng rồi sau khi được phóng thích vào năm 1988, cả hai đã lần lượt trở thành Tổng thống của nước Cộng hòa dân chủ này.

Thần học về Dân chúng đã nổi bật vào những năm cuối của chế độ Park Chung-hee (1961-1979) với sự ra đời của một số phong trào xã hội Kitô giáo, như Phong trào Nông dân Công Giáo và Phong trào công nghiệp đô thị Tin Lành, vận động tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Chính phủ quân sự coi những phong trào này như một mối đe dọa cho sự ổn định xã hội, cho nên đã cầm tù nhiều lãnh tụ của họ; trong thực tế, những cuộc đấu tranh này trùng với một thời kỳ bất ổn dẫn đến đỉnh điểm là vụ ám sát Tổng thống Park Chung-hee vào ngày 26 tháng 10 năm 1979. [45]

BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc tin rằng giá trị Kitô giáo đã tác động tích cực đến các mối quan hệ khác nhau trong xã hội. Xã hội truyền thống của Hàn Quốc đã được tổ chức tôn ti trật tự theo nguyên tắc Khổng giáo dưới quyền một vị vua được xem như con Trời. Phụ nữ không có quyền lợi xã hội, [46] con cái hoàn toàn lệ thuộc vào cha mẹ, [47], cá nhân không có quyền nào khác ngoài những gì được quy định trong hệ thống xã hội. Cấu trúc ấy đã bị các giáo huấn Kitô giáo thách thức. Theo giáo huấn Kitô giáo, mọi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và vì thế ai cũng bình đẳng và có phẩm giá cốt yếu như nhau. [48] Theo Kim Han-sik, khái niệm ấy cũng hỗ trợ cho quan niệm quyền sở hữu tài sản là của cá nhân chứ không phải của gia đình (hay người đứng đầu gia đình).

Các Kitô hữu coi hoàng đế cũng chỉ là người và cũng ở dưới quyền của Thiên Chúa như các thần dân của ông, [49]. Các giá trị Kitô giáo ủng hộ cho việc giải phóng phụ nữ và trẻ em về mặt xã hội. [46] [47] Giáo hội cho phép các quả phụ được tái hôn (theo lời dạy của tông đồ Phaolô, ngược với truyền thống của các xã hội Đông Á vốn không cho phép),  cấm chế độ hầu thiếp và chế độ đa thê, và cấm ngược đãi vợ, cấm bỏ vợ. Bậc cha mẹ Kitô giáo được dạy phải coi con cái là quà tặng của Thiên Chúa, và phải chu toàn việc giáo dục con cái. [50] Cấm tảo hôn và cấm bỏ bê con gái (trong văn hóa Á đông, con gái thường ít được cha mẹ mong ước hơn so với con trai).

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970 thường được cho là do chủ trương của Park Chung-hee nhắm công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, nhờ các giá trị văn hóa bản địa và tinh thần làm việc nghiêm túc, nhờ liên minh vững chắc với Hoa Kỳ, và nhờ nguồn vốn đầu tư của nước ngoài. Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc vẫn xem tôn giáo của họ đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của đất nước trong hơn ba thập kỷ qua, họ tin rằng sự thành công và thịnh vượng kinh tế là dấu hiệu sự chúc lành của Thiên Chúa. [51]

Năm 2003 hai kinh tế gia Robert J. Barro và Rachel McCleary đưa ra một Một nghiên cứu cho thấy những xã hội càng có niềm tin cao vào trời và có mức độ đi nhà thờ nhiều càng có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. [52] Luận điểm của Barro và McCleary có ảnh hưởng lớn trong giới học thức sau đó, và theo một số nhà quan sát, nó hỗ trợ cho sự tin tưởng rằng Kitô giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công kinh tế của Hàn Quốc. [53] [54] Tuy nhiên nghiên cứu ấy đã bị các học giả như Durlauf, Kortellos và Tân chỉ trích (2006). [55] Từ năm 2000 có một xu hướng xây dựng những giáo đường vĩ mô khiến một số nhà thờ phải nợ tài chính. [56]

PHÚC ÂM HÓA

“Trong những năm 1960, Giáo hội đã đến với những người bị đàn áp, như gái mại dâm và lớp người lao động công nghiệp mới. Khi nền kinh tế Hàn Quốc phát triển, việc tìm lối thoát cho giới công nhân lao động nổi bật lên như một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của công tác truyền giáo . Giáo Hội thành lập ngành tuyên úy cho công nhân trong các nhà máy. Ngoài ra, nghĩa vụ quân sự là chuyện bắt buộc đối với nam giới ở Hàn Quốc, sự hiện diện của các tuyên úy quân đội cũng trở thành quan trọng không kém. Nhiều quân nhân cải sang Kitô giáo trong thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự.” [57 ]

NIỀM TIN VỀ SÁNG TẠO

Ở Hàn Quốc, nhiều nhóm Kitô giáo đã tham gia vận động nghiên cứu về sáng tạo, đặc biệt là Hiệp hội Hàn Quốc nghiên cứu về sáng tạo (KACR) đòi phải hiểu sự sáng tạo theo sách Sáng Thế, và Hiệp hội Duyệt lại sách Giáo khoa (STR), một ủy ban thay thế cho chương trình Duyệt lại vấn đề Tiến hóa trong sách Giáo khoa (CREIT). [64] Đó là một nhánh độc lập của KACR, và đã tự tách khỏi học thuyết của KACR. [65] Đầu năm 2008, tại Seoul Land, một công viên giải trí hàng đầu, KACR đã tổ chức một triển lãm “khoa học về sáng tạo”, có hơn 116.000 lượt khách ghé thăm trong ba tháng, và đến năm 2012, họ thương lượng với công viên để tổ chức một cuộc triển lãm khác kéo dài suốt năm. [65]

Năm 2012, do áp lực từ STR, Bộ Giáo dục đã công bố duyệt lại nhiều sách giáo khoa trung học để loại bỏ một số ví dụ về tiến hóa, chẳng hạn như của ngựa và khủng long. [64] [65] [66] Người ta đã giới hạn vào việc loại bỏ hoặc sửa đổi một số ví dụ [67] hoặc do không còn được chấp nhận hoặc hiện đang tranh cãi; [64] sự thay đổi này không kéo theo việc loại bỏ sự tiến hóa hoặc đưa sự sáng tạo vào sách giáo khoa [67] Tuy nhiên, STR có kế hoạch tiếp tục đệ trình kiến nghị để loại bỏ quá trình tiến hóa của con người và sự thích ứng của mỏ chim, với mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu vai trò của quá trình tiến hóa Darwin trong việc giảng dạy. [65]

XUNG ĐỘT TÔN GIÁO

Sự đối kháng giữa những người Tin Lành từ chương (tin rằng Kinh thánh đúng từng chữ) với Phật giáo là một vấn đề lớn cho việc hợp tác tôn giáo ở Hàn Quốc, đặc biệt là trong những năm 1990 đến cuối những năm 2000. [60] [71]

Ngược lại, người Công giáo Hàn Quốc với Phật giáo và các tôn giáo khác vẫn giữ được quan hệ hợp tác chủ yếu, một phần nhờ nhiều phong tục và triết lý Phật giáo và Nho giáo được hội nhập vào Công giáo Hàn Quốc, nổi bật nhất là việc tôn kính tổ tiên. [72]

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2015 do Bauxite Việt Nam chọn

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2015 do Bauxite Việt Nam chọn

(1) Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam” (http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov).

(2) Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nếu để xảy ra đụng độ gì [ở Biển Đông] thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?” (http://dantri.com.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-cong-tac-nhan-su-dang-lam-bai-ban-nhung-con-rat-kho-khan-2015120812063397.htm)

(3) Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất.” (http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20151022/dai-tuong-phung-quang-thanh-vn-khong-dung-lech-ve-nuoc-lon-nao/989572.html)

(4) Huỳnh Ngọc Sơn, Thượng tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội: “Không lẽ bây giờ bà con bảo là đánh nhau… Nhiều lần ta cũng nghĩ tới việc lấy lại nhưng trong lúc này chưa thể lấy lại được. Để đời con đời cháu chúng ta lấy lại. Trung Quốc bây giờ họ củng cố gần như là bất khả xâm phạm rồi” (http://phapluattp.vn/thoi-su/vi-sao-quoc-hoi-chua-ra-nghi-quyet-ve-bien-dong-565566.html. Câu này sau đó bị tờ báo cắt bỏ vì quá “tế nhị” / trắng trợn)

(5) Đỗ Văn Đương, Đại biểu Quốc hội: “Quy định quyền im lặng là diễn biến hòa bình, chống lại nhân dân”. (http://phapluattp.vn/phap-luat/quy-dinh-quyen-im-lang-la-dien-bien-hoa-binh-chong-lai-nhan-dan-556493.html)

(6) Đỗ Văn Đương, Đại biểu Quốc hội: “Phạm nhân Việt Nam còn sướng hơn sinh viên thời xưa” (http://baophapluat.vn/trong-nuoc/pham-nhan-viet-nam-con-suong-hon-sinh-vien-thoi-xua-199777.html).

(7) Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng thương mại – công nghiệp Việt Nam: “Tư tưởng kinh tế của Bác Hồ là tư tưởng hàng đầu của nền kinh tế thị trường hiện đại, không hề thua kém kinh tế thị trường của Harvard hay các trường đại học nào khác!” (http://infonet.vn/90-nam-truoc-bac-ho-da-dinh-huong-nen-kinh-te-viet-nam-la-kinh-te-thi-truong-post172535.info).

(8) Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM: “Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc” (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/269501/con-lanh-dao-lam-lanh-dao-la-hanh-phuc-cua-dan-toc.html)

(9) Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: “Giá bảo hiểm y tế dù tăng cũng chỉ bằng 2-3 bữa nhậu”. (http://vtv.vn/su-kien-va-binh-luan/gia-bao-hiem-y-te-du-tang-cung-chi-bang-2-3-bua-nhau-20151219115015875.htm)

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Nguoi-viet.com

Thanh Phương (RFI)

Trong loạt bài nói về những nỗ lực của Trung Quốc nhằm chiêu dụ thêm bạn bè và khách hàng ở Châu Á, cũng như nhằm khẳng định vị thế ngày càng áp đảo ở châu lục này, nhật báo Mỹ The Washington Post ngày 28 Tháng Mười Hai, 2015 đã nói về quan hệ Việt-Trung. Theo tờ báo này, chính thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc nhằm xác quyết chủ quyền trên Biển Ðông đã khiến Việt Nam ngả nhiều hơn về phía cựu thù Hoa Kỳ.


Tổng Thống Barack Obama (phải) tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN tại Tòa Bạch Ốc ngày 7 Tháng Bảy, 2015. (Hình: Martin H. Simon/Getty Images)

Theo ghi nhận của The Washington Post, khi đến thăm Việt Nam vào tháng trước, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã được đón tiếp rất trọng thể với nghi thức bắn 21 phát đại bác. Vinh dự hiếm thấy là nguyên thủ Trung Quốc được phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam. Nhưng bài phát biểu của ông Tập Cận Bình cổ vũ tình hữu nghị Việt-Trung thắm thiết đã được đón nhận bằng một sự im lặng nặng nề và với vài tiếng vỗ tay lác đác khi ông chấm dứt bài phát biểu. Trên gương mặt cử tọa hội trường Quốc Hội hôm ấy lộ rõ vẻ chán chường, thờ ơ, thậm chí thù nghịch.

The Washington Post trích lời một quan chức Việt Nam, xin được miễn nêu tên vì đây là vấn đề “nhạy cảm,” cho biết là bầu không khí hôm ấy “rất căng thẳng.”

Tờ báo nhắc lại rằng Trung Quốc tỏ ý muốn giúp các nước láng giềng Châu Á xây những công trình cơ sở hạ tầng mà những quốc gia này đang rất cần, dưới danh nghĩa khôi phục Con đường tơ lụa xưa kia. Việt Nam cũng cần tiền, nhưng lại sợ mưu đồ ẩn giấu đằng sau.

The Washington Post trích lời ông Trần Trường Thủy, một chuyên gia ở Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, nói rằng: “Chúng tôi rất nghi ngờ, bởi vì chúng tôi không biết mục tiêu thật sự của họ là gì. Ðằng sau dự án Con đường tơ lụa trên biển, Trung Quốc có thể đẩy mạnh tuyên truyền cho chủ quyền của họ.”

Tờ báo cũng ghi nhận sự tương phản giữa chuyến viếng thăm của ông Tập Cận Bình với chuyến công du Việt Nam của cựu Tổng Thống Bill Clinton vào năm 2000. Vào năm đó, hàng chục ngàn bạn trẻ đã đứng đợi tới khuya để đón vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đến thăm kể từ sau chiến tranh Việt Nam, còn khi chủ tịch Trung Quốc đến thăm vào tháng trước, chẳng có đám đông nào hân hoan chào đón.

Một ví dụ cho thấy Việt Nam khó có thể tin tưởng Trung Quốc, đó là dự án đường sắt đô thị do Trung Quốc xây dựng ở Hà Nội đã bị trễ đến 3 năm so với dự kiến và tốn kém thêm 57% với với ngân sách dự trù. Chính Bộ Trưởng Giao Thông Ðinh La Thăng đã nói rằng, nhiều lần, ông muốn thay nhà thầu Trung Quốc, nhưng không thể làm được do các quy định của những khoản vay.

Ấy là chưa kể Trung Quốc thường chuyển giao những công nghệ lỗi thường cho Việt Nam, bất chấp các tiêu chuẩn về môi trường, đưa lao động của họ sang, thay vì tuyển mộ nhân công địa phương. Các công ty Trung Quốc cũng thường trúng thầu nhờ đưa giá thấp một cách vô lý, để rồi sau đó tính chi phí cao hơn.

Nhưng yếu tố khiến cho quan hệ Việt -Trung gần như gặp khủng hoảng, đó là vụ hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa vào Tháng Năm, 2014, dẫn đến nhiều cuộc biểu tình bạo động chống Bắc Kinh, với nhiều nhà máy Trung Quốc và Ðài Loan bị đốt phá. Theo Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc, vào lúc đó đã có lời kêu gọi Ban Chấp Hành Trung Ương họp khẩn cấp để thảo luận về việc thiết lập một liên minh với Hoa Kỳ. Nhưng đến Tháng Bảy, 2014, Bắc Kinh đã rút giàn khoan đi và cuộc họp khẩn cấp của Ban Chấp Hành đã không diễn ra. Tuy nhiên, việc cải thiện quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được thúc đẩy thêm.

The Washington Post thống kê là trong 12 tháng qua, đã có đến 8 trong số 16 ủy viên Bộ Chính Trị thăm Washington, và khoảng 6 quan chức cấp chính phủ Mỹ đã đến Việt Nam. Tổng Thống Obama lần đầu tiên cũng đã tiếp một lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Nhà trắng vào Tháng Bảy, 2015 và dự kiến đi thăm Việt Nam vào năm tới.

Vào Tháng Mười, 2014, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí Việt Nam và đang giúp Hà Nội nâng cao khả năng của lực lượng tuần duyên để đối phó với Trung Quốc ở Biển Ðông.

Nhưng dấu hiệu rõ rệt của việc Hà Nội thắt chặt quan hệ với Washington, đó là việc Việt Nam gia nhập Hiệp Ðịnh Tự Do Mậu Dịch Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, do Mỹ khởi xướng. Hà Nội hy vọng là hiệp định TPP sẽ giúp họ bớt phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế.

Theo The Washington Post, mặc dù trong đảng có một phe bảo thủ thân Bắc Kinh còn rất mạnh, việc có nhiều ủy viên Bộ Chính Trị đi thăm Washington trước khi thay đổi ban lãnh đạo vào năm tới đã là điểm đáng quan tâm. Tờ báo trích lời ông Trần Trường Thủy: “Ðảng cũng phải chú ý đến công luận. Không ai muốn tỏ ra mềm yếu trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia hoặc không muốn tỏ ra quá nhân nhượng Trung Quốc.”

Nhưng theo tờ báo này, Việt Nam biết mình rất cần đến quan hệ tốt với Trung Quốc. Lịch sử và vị trí địa lý không cho phép Hà Nội biến Bắc Kinh thành kẻ thù. Việt Nam sẽ không bác bỏ những đầu tư của Trung Quốc, nhưng sẽ chọn lựa kỹ càng hơn và chắc chắn là sẽ không còn tin vào thiện tâm của Bắc Kinh.