Đi lễ hội để ‘mua bán’ với thánh thần?

Đi lễ hội để ‘mua bán’ với thánh thần?

Lan PhươngBBC Tiếng Việt từ Bangkok

Tiền lẻ 500đ, 1000đ rất phổ biến trong mùa lễ hội, thường được đặt vào tay, chân, chỗ ngồi của Phật

Từ mùng Sáu Tết, những lễ hội đầu năm bắt đầu diễn ra khắp nơi. Người ta gặp lại những cảnh tượng năm nào cũng xảy ra: nhét tiền vào thay Phật, sì sụp khấn vái hàng tiếng đồng hồ, chen lấn dữ dội để giành giật “lộc” giữa đám đông.

Cầu xin hay mua bán với thánh thần?

Hàng ngàn người chen lấn nhau trên đường lên Yên Tử. Cả biển người tập trung trước chùa Phúc Khánh để cúng sao giải hạn. Hay như ở chùa Hương, Vietnamplus đưa tin số vé tham quan mà Ban quản lý di tích chùa bán ra đã là 40 ngàn vé trong ngày Mùng Ba Tết.

Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, có người “trèo rào” vào vị trí các chú rùa đội bia tiến sĩ để rải tiền. Trên chùa Bái Đính, đồng 500đ, 1000đ màu sắc quen thuộc như một “lễ vật” đến hẹn lại lên của con dân trần gian dâng vào tận tay những vị La Hán.

Tôi thường tự hỏi họ cầu xin điều gì và tại sao phải sử dụng đến những phương thức “dâng lễ vật” kỳ lạ đến vậy. Tại sao tín đồ nghĩ các vị La Hán cần tiền? Tại sao người cầu học hành tốt lại nghĩ con rùa đội bia tiến sĩ.. cần tiền? (Mà lại là tiền lẻ mới được). Tại sao những người lên Miếu Bà Chúa Xứ ở An Giang phải thuê heo quay để cúng – và rồi sau đó con heo lại trở về với chủ nhân để tiếp tục… cho thuê?

Mớ lễ vật quen thuộc mà tín đồ từ Nam ra Bắc mang lên ngôi đền tâm linh của mình rất giống nhau, gồm tiền lẻ, heo quay, oản, xôi, thật nhiều vàng mã, và rất nhiều tiền thật. Lòng thành của người dự hội cũng có mùa như lễ hội.

Họ mang theo sự thừa mứa vật chất về cho những trung tâm thờ cúng, và rồi nhất loạt bỏ đi khi chẳng trúng mùa lễ hội. Nếu gọi đây là tín ngưỡng, thì những tín ngưỡng này thực dụng “gần gũi” hệt như cuộc sống trần thế của người cúng, cần tiền thì cho Phật tiền, cần giàu thì cho Bà heo, cần học giỏi thì rải tiền cho rùa ăn.

Hoang Dinh Nam AFP

Một lễ hội đầu năm 2016

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Phước Thuận từng chia sẻ: “Tôi lên đền mẫu Âu Cơ ở Phú Thọ, đứng nhìn tín đồ sì sụp đập đầu xuống nền vái lạy cả tiếng đồng hồ. Nghe họ cầu xin thì thấy gọi hết tên Phật, thánh này nọ ra, xin rất cụ thể làm ăn ở công ty, tiền bạc, muốn gì. Nhưng đây là Đền thờ Mẹ Âu Cơ để người Việt nhớ cội nguồn dân tộc kia mà? Trong đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, người ta cũng bói toán, xin quẻ đầu năm.”

Ở nhiều ngôi chùa, khi mùa Tết tới, nhà chùa thức thời thương mại, tổ chức luôn cả quầy gieo quẻ, quầy bói, quầy cúng sao, quầy đọc lá số, dịch vụ nào cũng tiền bạc đâu ra đấy. Trong khi đó, trong Phật giáo thuần thành, không có hoạt động nào có thể… đoán trước tương lai được cả.

Sự khao khát vật chất cháy bỏng hiện diện trong từng lời khấn cầu mà người ta có thể nghe bất cứ đâu giữa mùa lễ hội, thậm chí phô lộ ra thành tiếng cầu xin rất to mà ai cũng có thể nghe được giữa điện thờ. Cầu mua xe hơi, cầu lấy chồng giàu, cầu mua thêm nhà, cầu có được tiền đi du học. Ước nguyện của tín đồ được nén chặt lại, quăng lên chốn linh thiêng như món hàng trao đổi với các vị thánh ngồi yên trong cõi thờ phụng cả năm trời chẳng ai thèm nhớ tới.

Lễ hội đầu năm như hội chợ “cầu được ước thấy” mở ra, khách hàng tứ phương mặc trên mình chiếc áo kính ngưỡng giả hiệu, rải tiền lẻ từ cửa đền lên đỉnh đền, hẳn tin rằng mình sẽ sớm đạt ước nguyện vì đã “hối lộ” xong thánh thần khắp lượt.

‘Lan tỏa’

Tôi còn nhớ mãi đến khi trận ẩu đả kinh hoàng để tranh ấn Đền Trần được đưa lên báo Tuổi Trẻ, người ta mới đi lật giở tài liệu, hồ sơ và tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên nói trên báo Tuổi Trẻ: “Không hề có chuyện nguồn gốc của lễ khai ấn bắt nguồn từ việc sau khi đánh thắng quân Nguyên – Mông”, thậm chí lễ khai ấn này còn… “chẳng liên quan gì đến thời Trần”.

Hoang Dinh Nam AFP

Lễ hội chém lợn tại làng Ném Thượng đã phải “quây kín” sau những chỉ trích từ nhiều nơi

Vậy những người đã nhiệt tình đánh xe hơi từ tận tỉnh xa về, chầu chực đêm khuya để lao vào giật tờ ấn, họ đã hiểu gì về thứ họ cố công giật lấy mang về dán trong nhà?

Ông Trần Phước Thuận giải thích sự phổ biến của đủ mọi hình thức cúng bái xuất hiện: “Tín ngưỡng dân gian tại Việt Nam rất lớn mạnh và lấn át cả các tôn giáo chính thống. Sức truyền bá của tín ngưỡng dân gian rất ghê gớm, không cần lý luận, không cần học thuyết gì, người ta xúm lại thờ cúng một nhân vật nào đó họ cho là linh thiêng. Sức lan tỏa của loại tín ngưỡng này cực kỳ lớn như các lễ hội hát chầu, cúng bái, xin ấn tại đình chùa.”

Khi tôi hỏi những người sì sụp khấn vái trong các gian thờ ở Châu Đốc – An Giang, nhiều người không phân biệt được ở đây thờ Bà hay thờ Phật và Bà là ai, câu trả lời chỉ là “nghe đồn thiêng lắm, cầu xin gì cũng được, cầu được mình đi trả lễ”.

Còn món đồ người đi lễ hội tranh nhau giật lấy hay hào phóng bỏ tiền mua, chúng là sản phẩm được “chế tạo” ra đáp ứng cho ước muốn trao đổi với thần thánh của những người trần đầy ham hố cầu xin.

Chỉ có kẻ buôn thần bán thánh là bận bịu dịp này hơn cả!

Tết và lạnh lùng tương lai Việt

Tết và lạnh lùng tương lai Việt

VietTuSaiGon

RFA

Đầu Xuân, rủ bạn bè làm một chuyến du khảo Đà Nẵng, Hội An, Huế, Nghệ An, Hà Tĩnh… Và mai mốt là Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương, lục tỉnh miền Tây… Nhưng đi nửa chừng, mới qua Đà Nẵng, Hội An, sắp bước vào đất Hà Tĩnh thì chẳng còn muốn đi thêm nữa. Cảm giác lạnh lùng, trống rỗng và đôi khi sợ hãi hiện ra càng thêm rõ. Nổi trội hơn có lẽ là cảm giác lạnh. Cái lạnh đến từ bên trong tâm hồn chứ không phải những trận rét của thiên nhiên. Tự dưng, một câu hỏi ám ảnh: Người Việt đã lạnh lùng từ bao giờ? Và tương lai Việt đi về đâu?

Đương nhiên câu hỏi đầu có vẻ hợp lý và dễ chịu hơn câu sau khi đặt câu hỏi và giải quyết nó. Câu sau nghe có vẻ lên gân. Nhưng hiện tại, có lên gân hay không thì cũng như nhau bởi mọi chuyện hầu như đã “an bài”, hết thuốc chữa!

Vì sao? Bởi vì có sự khác biệt rõ ràng giữa cái lạnh của gió mùa, tuyết rơi, băng giá với cái lạnh sốt rét. Trước cái lạnh tuy khắc nghiệt của thiên nhiên, con người vẫn có cách thích ứng, có cách chống chọi bằng áo ấm, bằng lửa và sự chịu đựng. Nhưng khi cái lạnh bốc ra từ bên trong như sốt rét thì cho dù nhiệt độ tự nhiên lúc đó có lên 40 độ C thì người ta vẫn có thể chết vì cóng lạnh. Cái lạnh của dân tộc Việt Nam là cái lạnh sốt rét.

Sở dĩ tôi nói rằng dân tộc Việt Nam, hay nói đúng hơn là đại bộ phận nhân dân cũng như hệ thống cầm quyền từ địa phương đến trung ương đang bị sốt rét và có thể lăn ra chết bất kì giờ nào bởi vì hầu hết chúng ta đang bị con vi trùn sốt rét của sự vong thân và vong nô hoành hành tâm hồn, hoành hành thể xác nhưng chúng ta vẫn cứ xem như không có gì và vẫn cứ tưởng rằng mình khỏe mạnh.

Vì sao? Vì chưa có năm nào người Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam đông như Tết năm nay, trong lúc mọi chuyện về chính trị, biên giới, lãnh hải, hải đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang là chuyện nhức nhối, gay cấn và căng thẳng. Người Trung Quốc đã sẵn sàng bỏ tiền ra thuê nguyên một máy bay để sang Khánh Hòa, Việt Nam ăn Tết. Và tại thành phố Hội An, Quàng Nam, tình trạng kẹt xe từ ngã ba Tin Lành đến tận trung tâm văn hóa thể thao Hội An kéo dài gần hai giờ đồng hồ vào các đêm Mồng Hai, Mồng Ba, Mồng Bốn Tết.

Nguyên nhân kẹt xe là do lượng xe hơi vào thành phố quá nhiều, và đáng buồn hơn là ước chừng 70% xe hơi gây kẹt xe lại là xe chở người Trung Quốc đến Hội An để họ ăn Tết và tổ chức lễ kỉ niệm “hợp nhất người Trung Quốc trên thế giới” ngay tại trung tâm thành phố Hội An.

Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp người Trung Quốc, có thể nói rằng trong dịp Tết này, người Trung Quốc nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng. Bởi hầu hết các gia đình ở thành phố Đà Nẵng đều đóng cửa từ Mồng Một đến Mồng Ba Tết, họ không đổ ra đường, chỉ có người Trung Quốc và một số người Việt từ các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam xuất hiện trên đường Đà Nẵng.

Ở thành phố Huế, Vinh và Hà Tĩnh, người Trung Quốc cũng xuất hiện khá đông, tương đương với người dân các thành phố này nếu nhìn vào tương quan đường phố. Và dường như người Trung Quốc được tiếp đãi rất nồng hậu ở các quán xá, họ không gặp bất kì khó khăn, trở ngại nào khi ung dung tản bộ trên đất Việt Nam. Không dừng ở đó, họ tỏ ra hách dịch và khi có người Việt Nam nào đó cầm máy chụp hình, không may hướng ống kính trùng với hướng họ đang có mặt thì họ không ngần ngại đe dọa bằng tiếng Việt “Ai cho mày chụp hình?” với người Việt. Và, phản ứng của người Việt là phần đông cất máy hình, im lặng mà đi. Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác người Trung Quốc mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy?

Nói đi thì thấy kì cục nhưng ngẫm lại, chuyện này không hề kì cục chút nào, bởi vì nó đã được chuẩn bị từ trứng nước. Hiện tại chỉ là hệ quả tất yếu của một quá trình dài chuẩn bị trong quá khứ. Vậy ai đã chuẩn bị cho vấn đề này? Câu trả lời dứt khoát và rõ ràng là nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tính toán, chuẩn bị rất kĩ cho việc này và đảng Cộng sản Việt Nam chính là những con muỗi sốt rét của dân tộc Việt Nam hiện tại.

Bởi lẽ, với lối cai trị bàn tay sắt và nắm đấm khoai mì, vừa nắm chặt lấy vai nhân dân bằng những ngón tay sắt làm rướm máu, lại vừa đấm thẳng khoai mì vào mồm nhân dân trong quá trình kinh tế tập trung bao cấp (dựa vào viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc) và với lối cai trị bằng roi điện với rượu Mao Đài suốt mấy chục năm sau bao cấp trên danh nghĩa kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã bóp chết nhân dân Việt Nam từ trong ra ngoài, đã làm tê liệt nhân dân vì chứng sốt rét tư tưởng.

Nhân dân không đuợc nói, chỉ được nghe huấn thị từ đảng. Nhân dân không được đấu tranh cho chủ quyền dân tộc mà chỉ được phép ngồi yên để đảng lo liệu, nhân dân được tự do lựa chọn thực phẩm và sách báo trong cái đống thức ăn ôi thiu xuất xứ Trung Quốc và trong mớ tư tưởng Cộng sản mà đảng đã soạn sẵn.

Từ chiếc nịt ngực phụ nữ, chiếc quần lót cho đến hộp sữa, chiếc xe gắn máy, cục xúc xích, cây kẹo, dĩa trái cây, ký gạo, đồ chơi trẻ em, phim ảnh… Tất cả nhu yếu phẩm, hàng hóa cho đại bộ phận nhân dân nghèo khổ, chật vật này đều được soạn sẵn bằng sản phẩm của Trung Quốc. Và về lâu về dài, dường như số đông nhân dân đã quen mùi của Trung Quốc, thậm chí có người coi những sản phẩm độc hại của Trung Quốc là đỉnh cao trí tuệ bởi “Trung Quốc nó giỏi hơn Mỹ, cũng một cái đồ cùng tính năng nhưng nó bán rẻ chưa bằng một phần mười đồ của Mỹ”!

Và cũng về lâu về dài, dường như nhân dân đã bị ngấm văn hóa và dịch chất Trung Quốc trong cơ thể như một con bệnh đang ủ sốt rét trong cơ thể. Cho đến một ngày bệnh bùng phát, người ta lạnh cóng, run lập cập và vẫn nghĩ rằng trời đang lạnh rét chứ không hề nghĩ rằng mình đang sốt rét từ trong máu thịt.

Một đất nước với đại bộ phận nhân dân chưa bao giờ có quyết định từ khước, chối bỏ hàng hóa Trung Quốc vì nó quá độc hại. Một đất nước mà đại bộ phận nhân dân, nhà buôn lại xem kẻ xâm lăng là cơ hội làm giàu (mà không thử suy nghĩ có bao nhiêu gián điệp, kẻ xấu đang trộn lẫn trong các đoàn khách du lịch kia) và sẵn sàng quì lụy, chấp nhận, thỏa hiệp với kẻ xâm lược. Một đất nước mà hệ thống chính quyền vừa đóng vai trò trị dân, chăn dân lại vừa đóng vai trò tay sai cho kẻ xâm lược, tiếp tay cho kẻ xâm lược từ kinh tế đến chính trị, văn hóa…!

Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Mọi chuyện đều có thể xảy ra khi đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn xem mình là chư hầu của Trung Quốc và đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn lên cơn sốt rét, vẫn cam chịu và chết dần chết mòn trong cam chịu, dựa dẫm vào kẻ đang giết mình!

Và tương lai Việt Nam sẽ là một tương lai trơ trọi nếu chúng ta tiếp tục lên cơn sốt rét tập thể như đang thấy! Thật đáng buồn khi viết ra những dòng này!

VietTuSaiGon

Hạn hán khốc liệt bắt đầu đe dọa Việt Nam

Hạn hán khốc liệt bắt đầu đe dọa Việt Nam
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Cảnh báo của giới chuyên gia khí tượng-thủy văn và nông nghiệp về tình trạng hạn hán khốc liệt dường như đang trở thành sự thật, kể cả tại đồng bằng sông Cửu Long, vốn chằng chịt sông rạch.

Khoảng 30,000 hecta lúa Ðông-Xuân ở Tiền Giang bị nước mặn bủa vây từ trước Tết và dù đã làm đủ cách, nông dân ở thị xã Gò Công và các huyện Gò Công Ðông, Gò Công Tây vẫn không cứu được lúa. Khoảng 700 hecta lúa đã chết khô.


Một nông dân chuẩn bị bơm nước từ kênh vào ruộng. Kênh sắp trơ đáy trong khi lúa cần nước trong khoảng 30 ngày nữa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bất kể đang Tết, nông dân Tiền Giang vẫn đổ ra đồng bơm nước cứu lúa song gần như các ruộng lúa trong vùng đều đã vàng quạch. Ðông-Xuân là vụ lúa chính trong năm. Ðúng vào lúc lúa cần nước để phát triển thì kênh, mương trơ đáy, lúa chết khô trên diện rộng. Cũng vì vậy, người ta tin rằng, năm nay, nông dân coi như đói.

Chính quyền tỉnh Tiền Giang đã yêu cầu bơm nước mặn vào kênh mương nhằm trộn với nguồn nước ngọt còn sót lại, sao cho độ mặn không vượt quá mức 2 gram/lít rồi lấy nước đó tưới cho lúa nhưng giải pháp này bất thành vì lượng nước ngọt trong kênh giảm xuống quá nhanh và độ mặn trong nguồn nước bên ngoài tăng nhanh không kém.

Chẳng riêng nước tưới mà giờ, người ta phải xếp hàng để nhận nước ngọt dùng cho ăn uống, tắm giặt. Chính quyền tỉnh Tiền Giang ước đoán, hiện có ít nhất khoảng 7,000 gia đình, với 35,000 người cư trú ở các xã ven biển, ven sông,… thiếu nước ngọt để dùng.

Tình trạng vừa kể bắt đầu xuất hiện ở nhiều nơi. Chẳng hạn du lịch ở buôn Ðôn, tỉnh Ðắk Lắk đang gặp khó vì sông Srepok đã trơ đáy làm mất hứng của du khách. Năm nay, các công ty du lịch trong vùng phải hủy nhiều dịch vụ gắn với sông Srepok như chèo thuyền vượt thác, ngồi thuyền ngoạn cảnh vì lòng sông chỉ còn đá.

Diễn biến của thời tiết tại Việt Nam càng ngày càng dị thường và năm sau, có khuynh hướng khắc nghiệt hơn năm trước.

Năm ngoái, tại Việt Nam có tất cả 14 đợt nắng, nóng bất thường ở khu vực Tây Nguyên, miền Trung, miền Nam. Nhiệt độ trung bình cao hơn nhiệt độ trung bình nhiều năm từ 0.5 độ C đến 1.5 độ C.

Dẫu Việt Nam có nhiều đợt mưa lớn chưa từng có với thời gian dài cũng chưa từng có nhưng vũ lượng lại thấp hơn nhiều so với mức trung bình của nhiều năm. Cũng vì vậy, đến cuối năm, khi mùa mưa chấm dứt, các hồ chứa nước của các nhà máy thủy điện và các công trình thủy lợi trên toàn Việt Nam đều thiếu nước.

Cuối năm ngoái, trước khi vào mùa khô, các hồ chứa nước của các nhà máy thủy điện ở miền Bắc Việt Nam thiếu khoảng 9 tỉ mét khối nước. Tại miền Trung đa số các hồ chỉ mới tích được từ 20% đến 30% lượng nước cần thiết để duy trì hoạt động trong mùa khô. Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với khu vực Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam.

Người ta ước tính, lượng nước ở miền Nam Việt Nam hụt mất khoảng từ 20% đến 40% so với bình thường. Lưu lượng dòng chảy thấp hơn mức trung bình của nhiều năm từ 35% đến 48%. Mực nước lũ được ghi nhận là thấp nhất từ năm 1926 đến nay. Ðó cũng là lý do tai họa chồng tai họa: vừa hạn hán, vừa bị nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào đất liền.

Năm nay, trong tháng 1 và tháng 2, Việt Nam đối diện với hai đợt lạnh được xem là chưa từng có. Nhiệt độ trung bình ở vùng núi phía Bắc Việt Nam và phía Bắc miền Trung Việt Nam tụt xuống chỉ còn từ âm 4 độ C đến 0 độ C nên tuyết và băng giá xuất hiện nhiều nơi. Nhiệt độ trung bình ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và khu vực ven biển phía Bắc miền Trung chỉ còn từ 6 độ C đến 9 độ C.

Nếu những dự báo của Cục Trồng Trọt thuộc Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam hồi cuối năm ngoái chính xác, hạn hán sẽ gây thiệt hại trầm trọng cho Việt Nam, đặc biệt là cho đồng bằng sông Cửu Long trong vụ Ðông-Xuân 2015-2016 này.

Ðồng bằng sông Cửu Long có khoảng 620,000 hecta đất trồng lúa. Do hạn hán và tác động của nước biển xâm nhập sâu vào đất liền, khoảng 100,000 hecta ruộng hiện hữu khó mà trồng lúa, ít nhất là trong vụ Ðông-Xuân này.

Khoảng 16% diện tích đất trồng lúa bị ảnh hưởng bởi hạn hạn và tác động của nước mặn trải rộng trên nhiều tỉnh ven biển: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.

Cục Trồng Trọt từng cảnh báo, nông dân ở những vùng cách cửa biển từ 25 cây số đến 35 cây số sẽ thấy nước mặn tác động đến ruộng của mình từ tháng 1 năm 2016 với nồng độ có thể lớn hơn mức 4 gram/lít. Từ tháng 2 năm 2016 trở đi, những khu vực này sẽ khó có thể lấy nước ngọt từ cửa sông.

Ðến tháng 3 và tháng 4, những vùng cách cửa biển từ 40 cây số đến 65 cây số sẽ thấy nước bị nhiễm mặn với nồng độ 4 gram/lít. Thậm chí những vùng ở xa cửa biển hơn 65 cây số cũng cần cẩn thận vì tác hại của nước mặn khi thủy triều dâng cao.

Cuối năm ngoái sau khi thực hiện một thống kê về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong hai thập niên vừa qua, Germanwatch xác định, Việt Nam đứng thứ bảy trong 10 quốc gia thiệt hại nặng nhất vì thiên tai. (G.Ð)

 

Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Lê Thiên

Ngày 22/5/2016, CSVN sẽ trình diễn vở hài kịch bầu cử Quốc Hội trên cả nước. Nghĩa là nếu tính từ hôm nay, ngày 14/02/2016, chỉ còn trên dưới 90 ngày nữa thôi, tiếng pháo lễ hội tưng bừng sẽ nổ vang trên mọi miền đất nước Việt Nam khi “toàn thắng ắt về ta”. Một thành tích vĩ đại nữa sẽ được ghi khắc trên bia lịch sử đảng CSVN bách chiến bách thắng quang vinh! Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại thêm cơ hội huênh hoang “Dân chủ đến thế là cùng”!

Nhưng oái oăm thay! Truyền thông lề đảng đến nay vẫn chưa đả động gì tới tiến trình “đảng cử, dân bầu” cho ngày 22/5/2016, trong khi báo net lề trái (báo net còn gọi là báo mạng, báo online) đã rộn ràng với phong trào “tự ứng cử đại biểu quốc hội” do Tiến sĩ Nguyễn Quang A phát động.

Ts Nguyễn Quang A với Cao trào tự ứng cử

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

Ông A hô hào: “Hãy ứng cử để biến quyền hão dần dần thành quyền thực và giúp ông Trọng [Nguyễn Phú Trọng] chứng minh ‘dân chủ đến thế là cùng’” (Lời kêu gọi được đăng trên FB Nguyễn Quang A ngày 05/02/2016 và Anh Ba Sàm tải lên net cùng ngày).

Ông Nguyễn Quang A vốn biết rõ “Quyền ứng cử cơ bản vẫn chỉ là quyền hão!” Ông cũng biết “rất có thể những người tự ứng cử bị các thủ tục ‘hiệp thương’ hiện hành loại bỏ khỏi danh sách ứng viên cuối cùng, thậm chí có thể bị ‘đấu tố’ tại các Hội nghị cử tri hoặc bị báo của ĐCSVN bới móc đời tư,…” Ông A lại còn biết “nhiều người có thể nghĩ việc ‘tự ứng cử’ sẽ thất bại, ‘chẳng xoay chuyển được gì,’… Nhưng ông Tiến sĩ vẫn lạc quan cho rằng, ít ra “việc ứng cử sẽ làm cho dân chúng thấy sự ‘dân chủ đến thế là cùng’ ở nước ta ra sao, gây áp lực để có những sự thay đổi có ý nghĩa trong tương lai, giúp nâng cao dân trí và quan trí”.

Ts Nguyễn Quang A còn liệt kê một danh sách dài những “người trẻ gồm các luật sư cho tới các nhà hoạt động, các trí thức từ Hà Nội vào Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Yên, Sài Gòn, Đà Lạt, Đak Lak, Vũng Tàu…” để kêu gọi họ hãy cùng với ông hăng hái ghi tên tự ứng cử.

Khánh An trên VOA ngày 10/02/2016 cho biết tính cho tới ngày 09/02/2016, “đã có 10 cá nhân độc lập tại Việt Nam tự đứng ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14” trong đó có nhà văn Phạm Thành, blogger Nguyễn Tường Thụy, kỹ sư Hoàng Chương, blogger Đặng Bích Phượng, Luật sư Lê Văn Luân.

Rồi, trong bài báo ngày 10/02/2016, nhan đề Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội, BBC lại nêu lên danh tánh 8 người “tuyên bố mình sẽ ra tranh cử là: Tiến sĩ Nguyễn Quang A, ông Nguyễn Tường Thụy, bà Nguyễn thúy Hạnh, bà Đặng Bích Phượng, ông Hoàng Cường, ông Nguyễn Đình Hà, ông Phạm Văn Thành, ông Lê Văn Luân.”

Ls Võ An Đôn thua keo này bày keo khác

Ảnh: FB Võ An Đôn

Ảnh: FB Võ An Đôn

Luật sư Võ An Đôn từ Phú Yên cũng tuyên bố tiếp sẽ lại ra ứng cử, bất kể ông đã một lần ứng cử và đã bị loại ngay từ buổi “hiệp thương” cấp tỉnh, bị xóa tên khỏi danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 13 năm 2011. Dù biết rằng “bầu cử Quốc hội ở Việt Nam chỉ là trò diễn kịch của giới cầm quyền, người dân khó lọt vào sân chơi độc quyền này,” vị luật sư trẻ Võ An Đôn vẫn không chùn bước (FB LS Võ An Đôn: Tôi tiếp tục ứng cử Quốc hội. Adminbasam 11/02/2016 tải lên lại). Ls Đôn tâm sự về kinh nghiệm phũ phàng của mình trong cuộc “ứng cử” của bản thân hồi năm 2011 như sau: “Năm 2011, khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, tôi được 100% người dân địa phương ủng hộ, sau đó lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc là Đoàn luật sư, tôi cũng được 100% tín nhiệm. Đến khi hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi bị loại, không được lọt vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội”.

Đau đớn nhất cho tâm huyết và thân phận trí thức trẻ Võ An Đôn là ở chỗ này: “Khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và tại Đoàn luật sư thì tôi được mời tham dự, nhưng khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tố và nói xấu tôi dữ lắm” .

Ls Đôn đau lắm, nhưng ông đâu chừa! Lần này, ông lại quyết tự ứng cử, tranh cử. “Ứng” thì được. Nhưng tranh thì tranh” với ai? Ai cho ông “tranh” trong guồng máy đảng trị? Ls Đôn vẫn bất chấp! Ông tâm sự: “Mục đích tôi tự ứng cử đại biểu Quốc hội lần trước và lần này không phải là tôi muốn làm đại biểu Quốc hội để được hưởng nhiều bổng lộc ban phát, mà tôi muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch với vở kịch vụng vờ, lộ liễu, lâu năm đã lỗi thời. Dù biết trước rằng 99,99% người tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị loại, nhưng tôi vẫn tiếp tục nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới.” Nhiều người hoan hô Ls Võ An Đôn biểu lộ ý chí và khí phách của kẻ sĩ thời đại!

Tuy nhiên, chúng tôi ngờ ngợ không rõ khi tuyên bố “thực hiện quyền ứng cử theo hiến định,” Ls Đôn có đặt niềm tin của mình vào hiến địnhlàm theo Hiến pháp của CSVN không? Hay đó chỉ là chiến thuật nghiệp vụ của nghề luật sư? Bởi lẽ, khi Ls Đôn “nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch, thì hẳn nhiên ông đã rõ cái “Hiến pháp” mà CSVN sử dụng để “nắn ra cái Quốc Hội” có là Hiến pháp của dân, cho dân và vì dân hay không?

Toàn dân Việt Nam ai mà không biết cái Hiến pháp hiện hành của CSVN với điều 4 của nó đích thị là bản tuyên bố quyền đảng trị tối thượng của Cộng đảng! Nó ngồi tè trên đầu quốc gia thì sá gì cái quốc hội bù nhìn! Với điều 4 của nó, nó công khai thủ tiêu quyền làm dân cùng mọi quyền chính đáng căn bản khác của toàn thể dân tộc Việt Nam! Trừ quyền lợi và quyền uy của bè lũ Cộng sản đảng trị! Hiến pháp của CSVN là hiến pháp vi hiến! Cần phải loại bỏ nó ngay, chứ sao lại đeo nó vào mình và gào lên là làm “theo hiến định”?

Ls Lê Văn Luân: Tôi có mặt ở đây

H1

LS Lê Văn Luân. Nguồn: FB Luan Le

Giống như Ts Nguyễn Quang A và Ls Võ An Đôn đã tuyên bố “tự ứng cử” đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới, một luật sư trẻ khác – Ls Lê Văn Luân – cũng công khai việc tự ứng cử của mình. Có lẽ ông là người đầu tiên trong đợt tự ứng cử năm 2016 này đưa ra bản “Sơ lược ứng cử viên ứng cử đại biểu Quốc hội” với bốn chi tiết lý lịch cá nhân gồm (1) Thông tin cá nhân; (2) Quá trình học tập; (3) Hành nghề; (4) Vài điều liên quan.

Bên cạnh đó là Bản tuyên bố Tôi có mặt ở đây của Ls Luân vận động ứng cử ĐBQH 2016. Qua bản tuyên bố này, Ls Lê Văn Luân hùng hồn lặp đi lặp lại vì sao “tôi đến đây”, vì sao “tôi có mặt ở đây” mà chúng tôi xin phép gọi là tuyên ngôn ứng cử của Ls Luân.

Khác với Ts A và Ls Đôn còn dè dặt với bước chân “tự ứng cử” của mình, bày tỏ phần nào mối ngờ vực đối với CSVN, Ls Lê Văn Luân rõ ràng ra ứng cử với quyết tâm phải được đắc cử, chứ không ứng cử chỉ để thách thức đảng quyền giống như hai vị trên. Hai vị ấy – Ts A và Ls Đôn đều bày tỏ không kỳ vọng được “cử” vào danh sách ứng cử, nói chi tới chuyện được bầu hay không được bầu làm đại biểu Quốc hội! Tuy nhiên, công bằng mà nói, Ls Luân không hẳn lạc quan hoàn toàn về kết quả “dự đoán” sự tự ứng cử của mình, bởi lẽ chính ông đã dè dặt phát biểu rằng cho dù ông có thất bại thì cũng là “một thành công về mặt chứng minh thực tiễn” và cũng “chứng minh về cơ hội của những người ngoài Đảng khi tham gia ứng cử…”

Hưởng ứng phong trào “tự ứng cử”?

Khi phát động phong trào tự ứng cử với chủ đích “‘thức tỉnh người dân’ về quyền ứng cử” (BBC ngày 05/02/2016), Ts Nguyễn Quang A cũng đã tuyên bố tự ứng cử nhằm “cổ động những người cảm thấy mình có đủ năng lực ra ứng cử.” Ông A phân trần: “Tôi không đặt việc trúng cử, hay vào sau các vòng sau là mục tiêu chính. Tôi muốn dấy lên một phong trào để người dân học hỏi, các cơ quan nhà nước cũng phải học hỏi, từ đó tác động thay đổi nhận thức một cách từ từ.” Ts A có lạc quan lắm không khi ông tin “nhà nước cũng phải học hỏi”, “thay đổi nhận thức”???

Ông A còn ví von: “Trong bụi rậm, không có người đi thì chẳng bao giờ thành con đường cả.” Lối ví von này nghe hơi lạ tai: Gặp bụi rậm, muốn nó thành con đường, phải có người DỌN trước khi có người đi, để nó thành đường đi, người ta mới đi được! Tại sao Tiến sĩ Nguyễn Quang A không đặt trọng tâm vào việc tìm cáchtìm người DỌN ĐƯỜNG trước? Ấy mới là “khâu” quan trọng để bụi rậm trở thành con đường thênh thang cho toàn dân Việt Nam!

Dù thế nào chăng nữa thì phong trào “tự ứng cử” đã trở thành cao trào. Ls Phạm Quốc Bình thuộc Đoàn luật sư Hà Nội cũng đang cân nhắc có ra ứng cử hay không, nhưng trả lời BBC ngày 10/02/2016 (Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội), ông Bình nói ông vẫn “chưa có quyết định cuối cùng.” Nghe đâu vị Luật sư này cũng vừa tuyên bố “tự ứng cử” thì phải?

Xuyên qua phong trào “tự ứng cử”, không ít người đặt nhiều kỳ vọng vào sự dấn thân “tự ứng cử” của những người trẻ trí thức và đầy tâm huyết, mong sự dấn thân ấy góp phần vào việc thay đổi cách nghĩ, cách nhìn và phương thức hành động của cả quan lẫn dân trong nước hầu mang lại sự thay đổi toàn diện có lợi cho toàn dân và toàn xã hội Việt Nam. Phải chăng chính vì lẽ đó mà số người hưởng ứng lời kêu gọi “tự ứng cử” do Ts Nguyễn Quang A phát động có dấu hiệu tăng nhanh. Cụ thể, trên Anh Ba sàm ngày 08/02/2016, người ta đọc thấy bài Ra ứng cử, tại sao không? của Người Buôn Gió. Trên BBC ngày 10/02/2016, có bài Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội. Và cả trên VOA ngày 10/02/2016 và trên Anh Ba Sàm cũng ngày 10/02/2016 cũng nổi bật bài của Khánh An: Dân bắt đầu làn sóng ‘cạnh tranh’ quyền ứng cử với đảng viên”. Và còn nhiều bài khác nữa cổ võ cho phong trào tự ứng cử xuất hiện từng ngày trên truyền thông online.

Hoài nghi đối với phong trào “tự ứng cử”

Bên cạnh những người ủng hộ và cổ võ phong trào “tự ứng cử”, không ít người khác tỏ ra hoài nghi và dè dặt về mặt này hay khía cạnh nọ đối với PT này.

FB Quang Phan

FB Quang Phan ngày 10/02/2016 (Anh Ba Sàm đăng lại ngày 11/02/2016) nêu lên Mấy suy nghĩ vụn về phong trào tự ứng cử Tác giả chỉ thẳng: “Tiến sỹ Nguyễn Quang A ra lời kêu gọi công dân tự ứng cử, tuy là sáng kiến hay giúp hình thành nên một phong trào tự ứng cử nhưng lại pha loãng vấn đề, tiếp tục xẻ nhỏ thêm các tiềm lực ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự. Đó là sáng kiến bất cập thời và tùy hứng.” Vâng! Xé nhỏ tiềm lực vốn ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự, ấy mới là điều đáng lo ngại. Các phong trào đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền có nguy cơ sớm mai một vì cái phong trào “tự ứng cử” đầy cạm bẫy này! Tất nhiên, CSVN sẽ lại có dịp nổ ra tràng pháo “toàn thắng ắt về ta!”

Người Đưa Tin

Trên Dân Làm Báo ngày 11/02/2016, Người Đưa Tin từ Sài Gòn khi nhận xét Vấn đề không phải là tự ứng cử mà cần tẩy chay bầu cử Quốc hội cộng sản, đã kêu gọi mọi người: “Để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước, đòi buộc phải đa nguyên đa đảng.” Tác giả bài báo nêu ra rằng “một khi cộng sản còn độc tài toàn trị bằng điều bốn HP thì việc tự ra tranh cử không có giá trị và đạt được mục tiêu xây dựng dân chủ.” Bởi vì, theo tác giả, “đã là cộng sản thì bản chất như nhau, khát vọng quyền lực biến người theo cộng sản nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, kể cả đồng chí, đồng đảng, đồng bọn cộng sản đều chung ý thức giết lầm hơn bỏ sót […] điều đó cho thấy các kiến nghị cũng như đơn thư tố cáo đối với đảng cộng sản chỉ là trò đùa không hơn kém.” Từ nhận định trên, Người Đưa Tin quả quyết: “Hành động khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử thiết thực hơn là tuyên bố của một vài cá nhân tự ra ứng cử, khi biết chắc, biết trước nhà cầm quyền cộng sản không thể chấp nhận. Hành động mà biết trước kết quả không hay thì nên chuyển hướng là điều cần thiết.”

Người Đưa Tin kêu gọi mọi người Việt Nam hãy (1) phát động và khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử QH cộng sản ngay bây giờ; (2) cảnh giác hình thức bầu cử của CSVN vì “Hình thức bầu cử trong chế độ cộng sản cũng là hình thức đấu tố sát hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực”; (3) Không chấp nhận hình thức đảng cử dân bầu để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước.

– Vũ Đông Hà

Một tác giả khác của Dân Làm Báo – ông Vũ Đông Hà – cũng đặt vấn đề với cái gọi là tự ứng cử trong chế độ toàn trị (DLB 12/02/2016). Cũng như Người Đưa Tin, Vũ Đông Hà mạnh mẽ thúc giục hãy “tẩy chay bầu cử”. Bởi vì theo tác giả, “tẩy chay đồng nghĩa với thái độ chính trị không chấp nhận từ căn bản về Điều 4 Hiến Pháp, về vai trò của đảng và cánh tay nối dài của đảng là Mặt trận Tổ quốc trong việc khống chế toàn bộ tiến trình bầu cử.” Tác giả lại nhấn mạnh: “Quan trọng hơn cả, tẩy chay bầu cử là thông điệp chính trị mạnh mẽ nhất để phủ nhận cái ‘chính danh’ mà cộng sản ăn cướp của toàn dân kể từ sau ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp chính quyền.”

Sau đó, Vũ Đông Hà phê phán phong trào “tự ứng cử” khi ông đặt câu hỏi “tại sao một số người hoạt động ngày hôm nay không chọn phương hướng này, không những không đứng ngoài, không tẩy chay mà lại chấp nhận tham gia màn kịch dân chủ lừa bịp và xung phong “tự ứng cử”? Nói cách khác, họ tình nguyện trở thành một thành phần, một “con cờ” hay tệ hơn – theo cách nói của những người không đồng ý với họ – “con rối” – trong trò chơi mị dân của đảng cầm quyền?

Chúng tôi chỉ nêu lên một vài khía cạnh trong bài “Tự ứng cử trong chế độ toàn trị” của Vũ Đông Hà. Có đọc toàn bài và nghiền ngẫm nó, chúng ta mới thấy hết cái thâm thúy hàm súc trong bài, để chúng ta thận trọng hơn, cảnh giác hơn đối với các trò hề bầu cử kệch cỡm của CSVN, lưu manh trắng trợn và nham hiểm nhất là trò “hiệp thương”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, hiệp thương nghĩa là “họp thương lượng về những vấn đề chính trị, kinh tế có liên quan chung tới các bên.” Nhưng thực tế thì lại không phải vậy! Ls Võ An Đôn đã chứng minh điều đó, chúng ta đã trích dẫn trên, giờ xin dẫn lại: “…khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tốnói xấu tôi dữ lắm.

Riêng kẻ hèn này xin đóng góp một suy nghĩ nhỏ: Ứng cử là ứng cử! Ứng cử tự nó đã nói lên ý nghĩa tự mình xung phong giới thiệu mình để được trao phó một trách nhiệm. Tự điển Tiếng Việt cũng minh định như vậy: “Ứng cử là TỰ GHI TÊN trong danh sách để được chọn bầu trong một cuộc bầu cử.”

Vậy, không có “tự ứng cử”, nhưng có ứng cử viên độc lập (không gọi là tự ứng cử) khi mà ứng cử viên tự mình ra ứng cử, không liên kết hay cậy dựa vào sự giới thiệu, bảo trợ hay hỗ trợ của một cá nhân, một đoàn thể, tổ chức xã hội, tôn giáo, chính trị nào! Ứng cử viên độc lập khác với ứng viên được phe nhóm đề cử, nhưng cả hai đều tự nộp đơn xin ứng cử, đều là… tự ứng cử. Các đảng viên cộng sản ứng cử qua sự đề cử công khai của đảng, đoàn, hoặc núp dưới cái vỏ bọc ứng cử độc lập cũng là tự ứng cử, dầu việc “tự ứng cử” này chỉ là làm trò mèo chuột theo lệnh của ai đó để đánh tráo việc ứng cử-bầu cử quang minh chính đại.

Phong trào tự ứng cử chắc chắn sẽ là chuyện dài trên truyền thông online. Nhưng thiết nghĩ, chúng ta chỉ tạm lướt qua một số bài đầu tiên để thử thưởng ngoạn phong trào ấy và từ đó, có thể đoán biết PT này sẽ đi về đâu!

Kết luận

Cách đây gần một tháng, đang khi Đảng CSVN ồn ào với Đại Hội Đảng lần thứ XII, vào ngày 24/01/2016 chúng tôi có cống hiến bài viết Lùm xùm chuyện đảng hôm nay, Nghĩ tới bầu bán ngày mai!Dòng suy tư cuối bài ấy, chúng tôi xin được chia sẻ lại một lần nữa ở đây cùng quý độc giả:

“Kiên quyết không tham gia bất cứ cuộc bầu bán cuội nào do CSVN bày ra, như ‘bầu’ cái gọi là ‘Quốc hội’, vở tuồng sẽ được tái diễn vào ngày 22 tháng 5, năm 2016 này. Dưới chế độ Cộng sản, không hề có bầu cử đúng theo nghĩa của từ bầu và cử! Người ta chỉ dùng thủ đoạn CỬ trước, lùa dân BẦU sau, cưỡng đoạt quyền BẦU CỬ chính đáng của dân, biến nó thành trò chính trị lươn lẹo hầu thao túng chính trường, áp đặt quyền cai trị độc tài độc đảng trên đầu, trên cổ người dân mà thôi”.

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Hồng y Karol Wojtyla và bà Anna Teresa-Tymieniecka trong một lần đi trượt tuyết BBC đã được chứng kiến hàng trăm lá thư và ảnh cho thấy mối quan hệ thân thiết kéo dài hơn 30 năm giữa Đức Giáo hoàng John Paul II và một phụ nữ đã có chồng.

Những lá thư từ triết gia người Mỹ gốc Ba Lan, bà Anna-Teresa Tymieniecka được giữ kín suốt nhiều năm ở Thư viện Quốc gia Ba Lan.

Tài liệu cho thấy một khía cạnh khác của vị Đức Thánh Cha, qua đời năm 2005.

Tuy nhiên không có chứng cứ cho thấy ông phá lời nguyện trinh khiết.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka và Hồng y Wojtyla trong một lần đi cắm trại năm 1978

Tình bạn giữa hai người bắt đầu từ năm 1973 khi bà Tymieniecka liên hệ với Hồng y Karol Wojtyla (sau này là Giáo hoàng John Paull II), lúc đó là Tổng giám mục Krakow, về một cuốn sách triết học mà ông từng viết.

Người phụ nữ lúc đó 50 tuổi, từ Hoa Kỳ đã bay tới Ba Lan để bàn về công việc.

Hình ảnh bà Anna-Teresa Tymieniecka thời gặp Hồng y năm 1973. Ảnh do Bill và Jadwiga Smith cung cấp

Không lâu sau đó, hai bên bắt đầu thư từ qua lại. Ban đầu, những lá thư của vị Hồng y rất khách sáo nhưng tình bạn càng phát triển thì lời lẽ cũng thân mật hơn.

Cả hai quyết định viết chung một cuốn sách mở rộng từ cuốn sách ban đầu của ông Karol Wojtyla, The Acting Person. Họ gặp nhau nhiều lần – đôi khi có sự hiện diện của thư ký riêng của Giáo hoàng, đôi khi gặp riêng – và thường xuyên trao đổi.

Năm 1974, ông viết rằng trong vòng một tháng ông đã đọc lại bốn lá thư của bà Tymieniecka bởi những lá thư ấy “thật ý nghĩa và riêng tư sâu sắc”.

Những tấm ảnh chưa bao giờ xuất hiện trước công chúng cho thấy hình ảnh ông Karol Wojtyla trong những khoảnh khắc thoải mái nhất. Ông mời bà Tymieniecka cùng đi dạo ở đồng quê và trong các kỳ nghỉ trượt tuyết – bà thậm chí còn đi cùng một nhóm cắm trại với ông. Các bức ảnh cũng ghi lại lúc bà tới thăm ông ở Vatican.

“Đây là một số rất ít những nhân vật siêu việt có hình ảnh cuộc sống đời thường trong thế kỷ 20, người đứng đầu Giáo hội Công giáo, với mối quan hệ mãnh liệt với một phụ nữ quyến rũ,” Eamon Duffy, Giáo sư Lịch sử Công giáo ở Đại học Cambridge nói.

Năm 1976, Hồng y Wojtyla tham dự một hội nghị Công giáo ở Hoa Kỳ. Bà Tymieniecka mời ông tới ở nhà nghỉ ở quê của họ ở New England.

Có vẻ như bà đã bày tỏ tình cảm sâu đậm với ông vì những lá thư của ông ngay sau đó cho thấy một người đàn ông cố gắng cắt nghĩa mối quan hệ của mình theo quan niệm của Công giáo.

Trong một lá thư đề tháng 9/1976, ông viết: “Teresa thân yêu của tôi, tôi đã nhận được cả ba lá thư. Bà viết về việc phải xa nhau nhưng tôi không thể nào tìm được câu trả lời cho những lời lẽ này.”

Ông gọi bà là “món quà từ Chúa”.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican

BBC chưa được đọc bất kỳ lá thư nào của bà Tymieniecka. Chúng tôi tin rằng bản sao của những lá thư này cũng được giữ chung trong tài liệu lưu trữ do bà bán lại cho Thư viện Quốc gia Ba Lan năm 2008, sáu năm trước khi bà qua đời.

Tuy nhiên những lá thư này không nằm trong số thư của Giáo Hoàng được đưa ra cho BBC. Thư viện Quốc gia Ba Lan cũng không xác nhận liệu họ có thư của bà Tymieniecka hay không.

Marsha Malinowski, người chuyên kinh doanh bản thảo viết tay và đã giúp thương lượng vụ bán những lá thư trên, nói bà tin rằng Anna-Teresa Tymieniecka đã yêu vị Hồng y Wojtyla ngay từ những ngày đầu của mối quan hệ. “Tôi nghĩ những lá thư trao đổi hoàn toàn cho thấy điều này,” bà nói với BBC.

Những lá thư cũng hé lộ rằng ông Wojtyla tặng bà Tymieniecka một trong những đồ bất ly thân quý giá nhất của mình – scapular – loại vòng da viền cổ áo tu sỹ Công giáo, mang ảnh Đức mẹ.

Trong lá thư đề ngày 10/09/1976, ông viết: “Từ năm ngoái tôi đã đi tìm câu trả lời cho những từ này, ‘tôi thuộc về em,’ và cuối cùng, trước khi rời Ba Lan, tôi tìm ra một cách – scapular. Không gian mà tôi chấp nhận và cảm thấy em có ở khắp nơi trong mọi tình huống, khi em gần, và khi em xa.”

 Chiếc vòng scapular – quà tặng của Hồng y Wojtyla dành cho bà Tymieniecka

Sau khi trở thành Giáo hoàng, ông viết: “Tôi viết sau khi sự kiện này xảy ra, để cho thấy trao đổi giữa chúng ta vẫn nên được tiếp tục. Tôi hứa sẽ ghi nhớ tất cả mọi thứ ngay cả ở giai đoạn mới này trong hành trình của tôi.”

Hồng y Wojtyla có nhiều bạn nữ, trong đó có Wanda Poltawska, một bác sỹ tâm thần, người ông cũng trao đổi thư từ trong nhiều thập kỷ.

Nhưng những lá thư của ông dành cho bà Tymieniecka đôi khi chứa đầy tình cảm cảm mạnh mẽ, đôi khi là cuộc tranh đấu trong việc lý giải ý nghĩa của mối quan hệ này.

Đức Giáo hoàng John Paul II qua đời năm 2005, sau gần 27 năm lãnh đạo. Năm 2014 ông được tuyên Thánh.

Quá trình phong thánh thường đắt đỏ và tốn nhiều thời gian, nhưng Đức Giáo hoàng John Paul II được nhanh chóng trao Thánh chỉ trong chín năm.

Foto cedida por Bill y Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka cùng chồng, Hendrik Houthakker

Thông thường, Vatican sẽ yêu cầu được xem toàn bộ tài liệu công và thư từ cá nhân khi xem xét phong thánh, nhưng BBC không thể kiểm chứng liệu những lá thư này đã được đọc hay chưa.

Bộ Tuyên Thánh nói tùy vào mỗi giáo hội Công giáo để quyết định xem có gửi những tài liệu này hay không.

“Toàn bộ trách nhiệm của chúng tôi đã được thực hiện,” Bộ nói với BBC trong một thông cáo. “Mọi tài liệu riêng, được gửi một cách trung thành để đáp lại sắc lệnh, và tài liệu được coi là thuộc những bộ lưu trữ quan trọng đã được xem xét.”

Thư viện Quốc gia Ba Lan tranh luận rằng đây là mối quan hệ đặc biệt, là một trong rất nhiều mối quan hệ bạn bè thân thiết mà Giáo hoàng có được trong suốt cuộc đời mình.

Tấn công vào quần chúng

Tấn công vào quần chúng

Trần Duy Sơn (Danlambao) – Ngồi trước máy tính, đọc những bài viết trên facebook, đọc những bài nhận định trên web, bỏ máy tính xuống, bước ra khỏi ngôi nhà, đường phố vẫn đông đúc, người người vẫn chạy tất bật, nhà bên cạnh vẫn xem tivi nghe nhạc như thường ngày, tôi có cảm giác xã hội này dường như không cần đảng, có đảng cũng vậy, không có đảng cũng vậy, họ vẫn làm việc, vẫn sống, có facebook cũng vậy, không facebook cũng vậy, họ vẫn dững dưng, trên web tưởng như đảng sắp sập nay mai, một bước nữa thôi, một bước nữa đảng chết, nhưng không, xã hội vẫn bình thường, nhà bên cạnh vẫn nhậu nhẹt, như vẫn không biết cái gì đang xảy ra trên thế giới này.

Đó là sự thật của xã hội VN, web là một thế giới, đời thực là một thế giới khác, khác hoàn toàn với nó, bên cạnh Dòng Chúa Cứu thế 38 Kỳ đồng, Sài Gòn, tâm điểm hội họp của anh em PTDC, bao nhiêu chương trình giúp TPBVNCH ra đời, người dân vẫn như hoàn toàn không biết gì và không quan tâm. Bênh cạnh ngôi nhà của anh em bị “ăn bánh canh” liên tục người dân vẫn thờ ơ chứ không phải như những bà mẹ VN anh hùng năm xưa dấu cơm, dấu gạo ủng hộ chiến sỹ. Tại sao như vậy?

Phong trào đấu tranh dân chủ VN không có quần chúng.

Một lỗ hổng rất lớn từ trên web xuống đời thực, không có sự nối kết, không có sự chia sẻ. Anh em dân chủ chỉ chơi được trên facebook, không chơi được với hàng xóm, vô quán nhậu thì 9 bàn nói chuyện trên trời dưới đất, 1 bàn chém gió chính trị. Bạn bè tôi ngồi chửi cái tivi suốt ngày, nhưng kết bạn với một người bạn dân chủ trên facebook, thì không dám. Vậy biểu làm sao đất nước này thay đổi?

Đó là kết quả của xã hội Việt nNam từ chế độ phong kiến, qua thực dân, qua CS và hiện nay hậu CS toàn trị KTTT định hướng XHCN.

Người dân luôn bị ra rìa, đứng dưới cấp chính quyền và không thể tham gia vào vận mệnh đất nước. Tư tưởng chế độ phong kiến người dân là thần dân chỉ biết tuân lệnh và phục tùng. Hệ thống thứ bậc và chính danh, ai ai cứ làm việc nấy, làm tốt công công việc của mình, phấn đấu trở thành quân tử, phục tùng dưới vua, đã đẩy người dân thành những con cừu tốt, cừu quân tử để cho quan quyền chăn đắt, càng quân tử càng tuân lệnh trên. Tư tưởng Khổng giáo sống là phải dung hòa các mối quan hệ vừa được lòng bên vợ, được lòng bên chồng, hài lòng bên hàng xóm, vui vẻ bên bạn bè, tuân lệnh bên chính quyền, cho nên làm mất cá tính, sức bật nhận thức riêng của mỗi con người, Chuyển qua thời kỳ thực dân, vẫn trên tư tưởng như vậy, nhưng thêm chính sách Nam kỳ Trung kỳ, Bắc kỳ người dân càng chia rẽ hơn, hưởng ánh sáng văn minh châu Âu người dân được nâng cao dân trí nhưng vẫn ra rìa xã hội. Qua chế độ CS chắc ai cũng biết rồi, người dân bị đè bẹp thêm lần nữa. giai cấp tư sản, tiểu tư sản, tiểu thương địa chủ, khỏi cất lên tiếng nói luôn, cứ để bần cố nông làm việc. Kết quả là xã hội thụt lùi vô cảm.

Một quá trình tiến hóa lịch sử như vậy, người dân chỉ giỏi một chuyện: chống ngoại xâm. Chỉ khi có giặc ngoại xâm người Việt mới đoàn kết lại, đứng bên cạnh nhau, cùng chính quyền chống kẻ thù, bởi vì khi đó người dân mới được chính quyền thả cửa, cầu cạnh, cho họ thỏa chí tang bồng, thể hiện cái tôi của mình, kích thích lòng yếu nước bản năng cùng nhau giữ nước. Từ đó hình thành tính cách người Việt là gì? Nước tới chân mới nhảy, chỉ đoàn kết trong trường hợp cận kề hiểm nguy, chỉ lo làm ăn không quan tâm đến xã hội, không có khái niệm chống lại triều đình, không có ý tưởng tranh luận bàn hội nghị gọi là nghị trường, mà đối với kẻ thù chỉ có diệt và diệt, khác quan điểm là diệt, khác phe nhóm là diệt, khác tư duy là diệt như diệt giặc cho nên bị giặc nội xâm người Việt không biết đường mò. Chống ngoại xâm kẻ thù quá rõ, cầm gươm giáo, súng ống là diệt giặc được rồi, còn giặc nội xâm đâu biết ai là kẻ thù cũng không cầm súng được cho nên bó tay. Với chế độ CS bọn nó còn lưu manh chước quỷ hơn ngàn lần trước kia, vừa đấm vừa xoa, vừa bóp vừa thả nên người dân càng mờ ảo không nhận diện được kẻ thù, nên đảng dắt đi rong chơi.

Phân tích lịch sử để chi? Để thấy rằng bản chất người Việt như vậy đó, chúng ta đấu tranh cho dân chủ phải trên nền tảng cội nguồn tài nguyên như vậy đó, chứ không phải anh bắt người dân phải nhận thức như người Mỹ, lãnh đạo phải yêu nước như vua chúa để cho tui đấu tranh. Anh không thể bắt người dân phải thay đổi nhận thức mà làm sao để họ thay đổi nhận thức. Anh không thể bắt người dân phải quan tâm đến chính trị, mà phải làm sao để họ quan tâm đến đất nước khi xã hội đầy bất công xảy ra.

Xã hội KTTT định hướng XHCN hiện tại, ít nhất người dân cũng bước vào xã hội tiêu thụ, muốn gì có nấy, muốn điện thoại đời mới nhất có, muốn xe hơi có, muốn ăn chơi có, muốn thời trang có, thế giới thay đổi cái gì về công nghệ ở đây có, v.v… chính việc này càng làm người dân thờ ơ với chính trị hơn, họ tưởng lầm đó là cuộc sống mơ ước.

Những điều này giải thích tại sao phong trào đấu tranh không có quần chúng? Còn nhiều lý do khác, như chính sách nhồi sọ của CS,… tuy nhiên, về mặt khách quan, lật đổ CS khác với chống giặc ngoại xâm, người Việt chưa quen với ý nghĩ này, không nhận diện được kẻ thù, không biết bắt đầu từ đâu, phương pháp nào để đấu tranh v.v… Về chủ quan, theo tôi phong trào đấu tranh có thể chưa đi đúng hướng.

Vẫn theo cách đấu tranh quen thuộc trong tiềm thức từ thời phong kiến, muốn diệt CS phải tấn công vào CS. Diệt và diệt. 40 năm qua chúng ta vẫn đấu tranh theo cách này, chửi bới CS, tố cáo tội ác CS, đập tan luận điệu tuyên truyền giả dối của CS, kêu gọi biểu tình, xuất hiện công khai làm gương để người dân thức tỉnh v.v… Điều này không sai, nhưng không đủ sức mạnh, chúng ta quên đi một điều: người dân chưa có ý thức về xã hội, họ vẫn quen kiếp sống thần dân. Bao nhiêu phong trào đưa ra người dân vẫn tỉnh bơ, vậy vấn đề ở đâu? Tấn công vào CS chỉ là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ và quan trọng nhất, phải vực dậy quần chúng. Nếu không có quần chúng anh sẽ không làm được việc gì cả.

Nhiều bài viết trước kia của tôi đã đề cập đến vấn đề này:

1- Chưa vượt qua sợ hãi thì không thể có bất tuân dân sự.

2- PTDC phải làm việc ở giai đoạn trước bất tuân dân sự mà tôi gọi là giai đoạn “Theo dân sự”. Để chi? Để tìm hiểu người dân, nguyện vọng của họ với xã hội là cái gì, tại sao họ sợ hãi, cách giải quyết như thế nào. Chính giai đoạn này anh mới lôi kéo được người dân bởi vì chưa đụng chạm tới chính quyền nhiều.

Theo tôi tiến trình tâm lý vượt qua sợ hãi phải qua 3 giai đoạn:

a- Thay đổi nhận thức

b- Thoát khỏi ràng buộc

c- Vượt qua sợ hãi

Sau đó mới tham gia những chương trình bất tuân dân sự. Tại sao phải thoát khỏi sự ràng buộc? Hãy nhìn lại vấn đề này chuẩn xác hơn. Không phải vượt qua sợ hãi mà người dân đứng lên, bao nhiêu người nhận thức về xã hội từ tri thức đến sinh viên đến những người dân thường, nhưng tại sao trí thức trùm chăn, sinh viên lạnh cảm chỉ có những anh em facebooker bình thường xuất hiện, phải chăng sự nhận thức, ràng buộc kinh tế, ràng buộc gia đình, quyền lợi trong công việc lôi kéo họ lại, không dám cất lên tiếng nói của mình vì họ sợ CA là một nhưng sợ mất công việc, phiền toái, sợ mất sổ hưu, sổ gạo là mười, chứ đâu phải dân trí. Cho nên thay đổi nhận thức và thoát khỏi ràng buộc là 2 yếu tố chính quyết định việc tham gia của người dân, trong đó thay đổi nhận thức là tấm mặt nạ mà PTDC chắc chắn tác động được, có nhiều xác suất thành công, sau đó chính họ tự quyết định thoát khỏi sự ràng buộc.

Cốt lõi căn nguyên nhất là thay đổi nhận thức của người dân về đảng và trách nhiệm của người dân với xã hội, chứ không phải nâng cao dân trí. ĐH 12 là một ví dụ, người dân vẫn chưa nhận thức đúng về đảng. “Họ vừa muốn lật đổ đảng, vừa muốn đảng tốt lên, vừa muốn đảng thay đổi, và nghĩ rằng xã hội sẽ tốt lên” trong khi đảng bầu bán, hội nghị, nghị quyết, nhân sự là để bảo vệ cho đảng, làm cho đảng trường tồn, chứ không quan tâm đến sự phát triển của xã hội. (*)

Thay vì tấy chay cái hội nghị đó của đảng, chúng ta lại bàn tới bàn lui về nhân sự, theo dõi đảng hằng ngày mà quên đi sức mạnh quần chúng mới là giá trị dứt khoát làm thay đổi mục tiêu của ba cái hội nghị này.

Bây giờ, phong trào tự ứng cử quốc hội.

Hiện tại có 2 luồng ý kiến: tẩy chay và tự ứng cử. Theo những phân tích ở trên tôi ủng hộ việc tự ứng cử quốc hội. Vì sao?

1- Trước nhất phải xác định rõ ràng về mặt tư tưởng. Trong tình hình hiện tại, chúng ta chưa có khả năng nào thắng đảng trong cuộc bầu cử này. Đảng cho 10 người, 2 người hay 0 người vào làm chim cá cảnh cho quốc hội thì chúng ta vào chứ không thể nói đòi mà được. Sau đó làm được cái gì, cũng chẳng làm được cái gì cả, cao lắm làm được hoa lá cành cho đảng. Vì vậy đừng nghĩ rằng sẽ có thắng lợi trong việc chống chọi với đảng trong cuộc bầu cử này. Hoặc cũng sẽ không có thắng lợi nào cả nếu có 5-10 người chễm chệ ngồi trong quốc hội. Lý do tại sao, chắc ai cũng trả lời được. Giả sử Nguyễn Tấn Dũng có ý tốt cho dân tộc, phe cánh đầy mình, 10 năm làm thủ tướng NTD cũng bó ta rút lui kia huống chi là 5-10 người đơn độc trong cái quốc hội bù nhìn ấy. Đảng để yên chắc?

2- Người dân chưa vượt qua được giai đoạn sợ hãi, đang nằm ở giai đoạn 1, thay đổi nhận thức, chưa thoát khỏi ràng buộc mà chúng ta kêu gọi tẩy chay bầu cử, thử hỏi bao nhiêu người tham gia. Đừng yêu cầu người dân vượt qua khỏi tầm vóc của mình. Tẩy chay bầu cử nghĩa là không đi bỏ phiếu cũng giống như kêu gọi biểu tình, 10g30 tổ trưởng tổ dân phố đến từng nhà đôn đốc đi bầu, nếu ai không bầu tổ trưởng bầu thế, qua 12g tổ ta vượt chỉ tiêu, 100% cả nhà đi bầu sớm hơn dự định. Còn ai cương quyết phản bác, để đó giải quyết sau. Dự đoán Sài gòn khoảng 100 người, hầu hết là facebooker hay đi biểu tình không đi bỏ phiếu. Còn lại cuộc sống vẫn vậy.

3- Biết rằng không thắng lợi, vậy chúng ta kêu gọi tự ứng cử để chi? Không thắng lợi trong việc trực tiếp chống chọi với đảng nhưng chúng ta cần thức tỉnh người dân. Cần người dân quan tâm đến xã hội, cần cho họ thấy rõ bản chất dân chủ thật sự của đảng, bản chất lừa lọc của đảng, bản chất xấu xa đê hèn của đảng, thông qua những chiêu trò chống lại việc tự ứng cử này. Lột mặt nạ của đảng để người dân thấy rõ chân dung kẻ thù hơn mà lâu nay họ vẫn bán tín bán nghi để đảng lừa lọc.

4- Ở trong nước đấu tranh, gần như 100% dùng facebook. Hiện tại, một người tự ứng cử đạt được khoảng 1500-2000 like. Quá ít ỏi với số lượng 3.600.000 người dùng facebook ở VN. Vậy thử hỏi chúng ta sẽ làm được gì, trứng chọi với đá, trong cuộc cách mạng DC này? Chỉ khi nào số lượng đó đạt được 5000-10.000 like mới có thể nghĩ đến biểu tình hay tẩy chay bầu cử. Nghĩa là chúng ta vẫn còn quá sơ sài, quá ít ỏi, việc chúng ta cần nhất là phát triển lực lượng, mở rộng quần chúng, chứ không phải đương đầu với địch thủ để rồi hao mòn số lượng.

5- Vì vậy điều chúng ta cần thật sự là thay đổi nhận thức để mở rộng quần chúng. Tại sao không nghĩ đến tới việc “người người ứng cử, nhà nhà ứng cử, làng làng ứng cử” mà tự giới hạn số lượng lại vậy.? Ai ai cũng có thể tự ứng cử nếu đủ điều kiện về luật pháp. Trong đó sẽ có những người ứng cử thật sự, có những người ứng cử màu mè, và kể cả câu like. Người dân họ không dại dột đến nỗi không phân biệt được ai là ai đâu! Một status trên facebook thế này, không lẽ chúng ta cấm họ sao:

“Tôi Nguyễn Thị Út, 26 tuổi, bán phở ở Cầu Ông Lãnh, xét thấy đủ điều kiện ứng cử theo luật lệ hiện hành, hôm nay tôi xin ra tự ứng cử, nếu được trúng cử việc đầu tiên nhất là tôi sẽ dẹp ba cái thằng dân phòng hốt của lòng lề đường của người dân. Ai ủng hộ hãy bầu cho tôi.”

Hoặc “Em, Trần văn Tèo, bán nước mía chợ ông Tạ, em mới học hết lớp 9 thôi, nhưng xét thấy nhân cách đạo đức em hơn mấy ông nghị gật bù nhìn kia, nên hôm nay em xin tự ứng cử. Ai ủng hộ xin bầu em, em sẽ lắng nghe ý kiến của nhân dân, không ngủ gật như mấy ổng. Em hứa.”

Tôi mong muốn được đọc tất cả những chương trình hành động, cương lĩnh tranh cử của tất cả 90 triệu dân này, dù nó buồn cười rẻ tiền hay sâu sắc.

Do đó, vấn đề đặt ra, là làm sao để mọi người dân quan tâm, chứ không phải để thắng hay thua trong cuộc bầu cử này. Biến cuộc bầu cử trở thành trò hề, trò chơi châm biếm đảng, một đại nhạc hội cười đảng, một chương trình “lẩu thập cẩm” của đảng cũng là một cách gián tiếp lật đổ đảng vậy? Nếu trong cuộc bầu cử này số lượng người dân tham gia càng ngày càng đông, rộn ràng trên web, ngày nào mọi người cũng trông vào để biết tin là kể như chúng ta đã thắng lợi. Chính trong việc quan tâm này người dân mới thay đổi nhận thức, vì vậy chúng ta phải làm tất cả những chương trình nào lôi kéo được người dân, lợi dụng bầu cử, đại hội đảng, thay đổi nhân sự, thay đổi nghị định và kể cả những chương trình chúng ta tạo ra để thay đổi nhận thức của người dân. Cũng rất cần những cương lĩnh bác học sâu sắc để nâng cao tầm nhìn của quần chúng.

6- Giai đoạn đầu cứ để phát triển tự do, để kích thích người dân tham gia, từ đây đến tháng 5, một quá trình dài để thay đổi nhận thức những người còn bàng quang, những người đắn đo. Giai đoạn 2, khi những người ứng cử quyết định thật sự đã ra phường xã như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Luật sư Lê Văn Luân, Võ An Đôn, Nguyễn Kim Anh, Phạm Thành, Nguyễn Thúy Hạnh, Đặng Bích Phượng, Hoàng Cường, Nguyễn Đình Hà, v.v… phong trào mới chốt lại, đi vào đúng quy trình, cần phải có những chương trình bảo vệ họ nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn. Đây mới là lúc đối đầu thật sự giữa đảng và người dân. Đây chính là lúc đảng lộ nguyên bộ mặt thật của mình, rất cần người dân nhìn thấy. Nếu cần, sau khi thất bại ở khâu “gởi xe” chúng ta lên chương trình tẩy chay. Tại sao không?

Người dân từ kiếp thần dân chuyển qua cuộc sống công dân họ chưa quen với cách nhìn nhận xã hội, thêm nữa CS tước đoạt toàn bộ quyền công dân của họ, cho nên chương trình tự ứng cử một cách nào đó giúp họ hiểu biết thêm về xã hội dân chủ, nhận thức lại sức mạnh của mình, và sức mạnh ấy có thể lật đổ CS mà lâu nay họ quên mất. Biết rằng tẩy chay bầu cử là đòn mạnh giáng vào CS, nhưng sức mạnh quần chúng của chúng ta chưa đủ lực để làm điều đó, nên giải pháp tự ứng cử gián tiếp bước đầu lật đổ CS, người dân phải có trách nhiệm với xã hội, anh muốn xã hội tốt hơn anh phải tham gia chứ không ai giải quyết dùm anh, lá phiếu của anh, tiếng nói của anh cũng là một dạng trách nhiệm. Dân cử dân bầu, chứ không phải đảng cử dân bầu.

Tấn công trực tiếp vào đảng là châu chấu đá xe. Muốn lật đổ đảng phải có quần chúng, muốn có quần chúng phải có sân chơi, và cần rất nhiều sân chơi, tẩy chay Tân Hiệp Phát là một sân chơi, ĐH 12 là một sân chơi, phong trào tự ứng cử là một sân chơi để lôi kéo quần chúng. Chỉ khi nào sức mạnh quần chúng liên kết lại, liên kết lại, lớn lên, thì khi đó ĐCS mới quỳ gối xin tha tội, còn không chúng vẫn tiếp tục lừa dối nhân dân hết chặng này đến chặng khác.

Sân chơi tự ứng cử lớn hơn sân chơi tẩy chay, vì vậy tôi ủng hộ phong trào tự ứng cử vào quốc hội.

Sài Gòn 15/2/2016

Trần Duy Sơn

danlambaovn.blogspot.com

Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

  • Chuyện có thật mà cứ như đùa ấy.

Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

Đoàn Thanh Liêm

 (Chuyện kể từ một nhà báo và tác giả nổi tiếng quốc tế : Oriana Fallaci).

Oriana Fallaci (1929 – 2006)

Oriana Fallaci sinh trưởng tại thành phố Florence nước Ý Đại Lợi. Bà là một

nhà báo nổi danh quốc tế. Trong suốt mấy chục năm lăn lộn trong ngành báo

chí, Oriana đã phỏng vấn rất nhiều nhân vật có danh tiếng trên thế giới và

gây được tiếng vang trong dư luận khắp nơi. Điển hình như các nhân vật sau

đây : Giáo chủ Ayatollah Khomeini, Đức Dalai Lama, Lành tụ Đặng Tiểu

Bình, Tiến sĩ Henry Kissinger, Lãnh tụ Yasir Arafat, Nữ Thủ tướng Ấn độ

Indira Gandhi, Bà Thủ tướng Do Thái Golda Meir v.v…

Bà còn viết nhiều cuốn sách được rất nhiều độc giả ưa chuộng tìm đọc, cụ

thể như cuốn “Nothing, and so be it ” viết chủ yếu về chuyện chiến tranh ở

Việt nam hồi cuối thập niên 1960. Và nhất là trong mấy cuốn xuất bản gần

đây sau cuộc khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, như : “The Pride and the

Rage ”, “ The Force of Reason “, bà đã thẳng thắn phê bình chê trách số di

dân người Ả rập và Hồi giáo đã gây khó khăn cho nước Ý, cũng như cho

toàn thể Âu châu. Mấy cuốn sách này đã gây ra một cuộc tranh luận gay go,

sôi nổi giữa bên bênh và bên chống đối với lập trường cứng rắn dứt khoát

của bà. Một số tổ chức của người Hồi giáo còn đâm đơn kiện bà ra tòa về tôi

phỉ báng và kỳ thị đối với người theo đạo Hồi.

Chuyện quan hệ giữa người di dân Hồi giáo với người Âu châu rất phúc tạp,

đến nỗi mà vừa mới đây vị Thủ tướng nước Pháp Francois Fillon đã phải lên

tiếng với lời lẽ rất cương quyết đanh thép, để nhắc nhủ người di dân Hồi

giáo như sau : “ Những người di dân không phải là gốc Pháp, thì phải thích

nghi (với xã hội Pháp) “ (nguyên văn tiếng Pháp : “ Les immigrants, non

francais, doivent s’adapter “).

Về chuyện liên quan tới Việt nam vào thời chiến tranh trước năm 1975, ta có

thể ghi lại vài mẩu chuyện như sau đây :

  1. a) Trong cuốn “Nothing, and so be it”, tác giả có kể lại cuộc phỏng vấn

một cán binh trong nhóm “đặc công” cộng sản, mà chuyên đặt mìn

phá hoại và sát hại tại các địa điểm quân sự cũng như dân sự ở Saigon

vào các năm 1964-66, rồi bị cơ quan an ninh của chánh quyền Việt

nam bắt giữ. Anh này khai tên là Nguyễn Văn Hai, người miền Nam.

Nhưng anh ta rất gan dạ, nhất quyết không chịu khai báo một chi tiết

nào về các vụ đặt mìn của mình. Cuối cùng, cơ quan điều tra phải cử

một sĩ quan rất có kinh nghiệm để tiến hành việc thẩm vấn nghi can

 Hai này. Điều tra viên này lập kế, khêu gợi “ bản lãnh anh hùng” của

nghi can, bằng cách dụ dỗ anh ta như sau : “ Chúng tôi đã thâu thập

được đày đủ bằng chứng do chính các đồng đội của anh mà cũng bị

bắt sau anh, thì họ đều xác nhận anh là kẻ chủ mưu chính yếu trong

mấy vụ đặt mìn này. Chúng tôi cần lời khai của anh để anh có dịp xác

nhận cái hành động anh hùng dũng cảm của anh trong khi theo đuổi lý

tưởng cách mạng giải phóng dân tộc. Như vậy, nếu mà anh có bị tòa

án xử thế nào đi nữa, thì mọi người cũng sẽ biết được cái nghĩa khí

anh hùng của anh. Và tổ chức Mặt trận Giải phóng sẽ vinh danh con

người “dũng sĩ cách mạng” của anh. Ngược lại, nếu mà anh cứ nhất

định không chịu khai báo gì cả, thì rồi anh cũng sẽ bị sát hại như “một

kẻ vô danh bị tai nạn xe cán tại một xó xỉnh nào đó” mà thôi…” Nghe

vậy, rốt cuộc nghi can Hai đã khai báo mọi chi tiết về hoạt động đặt

mìn phá hoại của mình. Và cơ quan điều tra đã có thể kết thúc hồ sơ

để truy tố đương sự ra trước tòa án quân sự mặt trận.

Khi Oriana được cho tiếp súc với nghi can để tiến hành việc phỏng

vấn này, thì cuộc điều tra đã hoàn tất. Nên nhà báo muốn khai thác

nhiều chi tiết về đời sống riêng tư của người đặc công gan dạ này. Tác

giả đã ghi lại khá nhiều chi tiết về sở thích cá nhân, về gia cảnh … của

đương sự. Và có chi tiết này rất đáng chú ý, đó là cuối cùng đặc công

Nguyễn Văn Hai tâm sự với nhà báo rằng : “ Tôi thật ân hận là vẫn

còn ham chuộng cái danh vọng hão huyền, để cho mình được ca tụng

như là một “người anh hùng”, nên mới khai báo chi tiết về hành động

của mình khiến cho các đồng chí bị liên lụy và bị bắt giữ, làm cho tổ

chức bị tan rã. Thật là chuyện đáng hối tiếc lắm lắm vậy đó…!”

  1. b) Cuối năm 1968, Oriana ra Hanoi và có dịp phỏng vấn Tướng Võ

Nguyên Giáp lúc đó còn giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Khi về

lại Saigon, Oriana có kể lại chi tiết cuộc phỏng vấn này với Luật sư

Trần Văn Tuyên vốn hồi trước năm 1945 là bạn bè gần gũi thân thiết

với ông Giáp. Tôi được Luật sư Tuyên thuật lại cho nghe về câu

chuyện phỏng vấn này, đại ý như sau : “ Oriana mô tả Tướng Giáp

tiếp bà tại văn phòng Bộ trưởng với một căn phòng rộng mênh mông

(une salle immense), và ông Giáp người thấp lùn với dáng điệu, kiểu

cách giống hệt như là Tướng Napoleon ngày xưa của Pháp ấy. Khi

được hỏi về chiến dịch Tết Mậu Thân ở miền Nam, thì tướng Giáp coi

bộ “sửng sốt, mất bình tĩnh” ( il s’énerve), ông đứng dậy đi đi, lại lại

trong phòng coi bộ suy nghĩ đăm chiêu lắm, và rồi cuối cùng thì ông

Giáp “đổ hết tội cho Phạm Hùng là người chỉ huy Trung Ương Cục

Miền Nam lúc đó (incriminer) đã gây ra những sự tổn thất nặng nề

trong chiến dịch này…” Chuyện Tết Mậu Thân năm 1968 này cho đến

nay vào năm 2010, thì vẫn còn là một bí hiểm, vì dù đã sau 42 năm,

chưa có bất kỳ một tài liệu chính thức nào tại cấp lãnh đạo chóp bu ở

Hanoi mà được đưa ra công khai công bố cho công chúng cả.

  1. c) Về một số nhân vật khác mà Oriana có dịp gặp gỡ trao đổi, thì bà

cũng thuật lại với lời lẽ rất thẳng thắn, chẳng hề dè dặt e ngại gì cả.

Điển hình như chuyện bà mô tả cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc

nằm tại bệnh viện sau lúc bị bắn trọng thương trong vụ chỉ huy phản

công chống lại quân cộng sản xâm nhập đợt hai vào Saigon hồi tháng

5 năm 1968, thì ông tỏ ra là con người chẳng còn một chút dũng khí gì

cuả một ông Tướng chỉ huy ngành cảnh sát quốc gia đày quyền uy và

rất là năng nổ trước đó. Tác giả cũng kể lại cuộc gặp gỡ với ông

Nguyễn Ngọc Linh với lời lẽ không mấy thiện cảm, đại khái như là ăn

diện rất trau chuốt kiểu cách, nói tiếng Anh cũng như tiếng Pháp đều

rất trôi chảy, nhưng mà lại xa rời quần chúng v.v… Nói chung, thì

cũng như nhiều ký giả quốc tế vào hồi đầu thập niên 1970, Oriana

không có mấy thiện cảm với các nhân vật lãnh đạo của chế độ Việt

nam Cộng hòa, trái lại họ có vẻ nghiêng về phía Việt cộng, mà họ cho

là có lý tưởng, có chính nghĩa hơn.

  1. d) Nhưng sau 1975, thì Oriana cũng như nhiều nhà báo thượng thặng

khác như Jean Lacouture của Pháp lại có cơ hội tìm hiểu rõ nét hơn về

thực chất của chế độ cộng sản Việt nam. Và bà đã có sự “đánh giá, xét

lại” về phong trào cộng sản ở Việt nam. Bà đã trao đổi chuyện này với

tác giả David Horowitz là người rất nổi tiếng vì đã thay đổi lập trường

180 độ, từ phía cực tả “thân cộng sản” sang phía “cực hữu”, khiến gây

sôi nổi trong công luận thế giới vài chục năm gần đây. Câu chuyện

xung quanh nhân vật David Horowitz “gây nhiều tranh cãi” nổi cộm

này (controversial figure), cũng như sự thay đổi quan điểm của Oriana

Fallaci kể từ sau thập niên 1980 trở đi, sẽ là đề tài cho một bài tìm

hiểu chi tiết hơn, mà người viết sẽ cống hiến với quý bạn đọc trong

một dịp khác vậy nhé./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

 

Việt Nam cuồng tiền

Việt Nam cuồng tiền

Người Buôn Gió

Ảnh: Cafe F

Ảnh minh họa. Nguồn: Cafe F

Năm 2016, Việt Nam sẽ phát hành trái phiếu 220 nghìn tỷ Việt Nam đồng. Nhà nước Việt Nam coi việc phát hành trái phiếu là một thành công kinh tế, thực ra trái phiếu phát hành cũng như một khoản vay nợ giá cao. Khoản trái phiếu này không nằm trong những khoản vay ưu đãi của các nước tư bản đối với nước chậm phát triền. Vì thế cần phải có lãi suất hấp dẫn mới khiến người mua trái phiếu móc hầu bao mua trái phiếu.

Lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam hiện nay rơi vào khoảng 6,5%  đến 7% một năm. Lãi suất này thấp hơn các nước như Venezuela, Gambia, Ghana, Malawi, Angola, Guinea. Zimbabwe. Những nước này lãi suất đều rơi vào khoảng 8 đến 9%.  Riêng Veuzuela là 12%.

Tiến sĩ Phạm Thế Anh của trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội trả lời phóng viên báo Tuổi Trẻ vào năm 2014 cho biết, tính đến thời điểm năm 2014 mỗi năm Việt Nam phải trả lãi 6 tỷ USD. Đó là ông Anh tính trên con số cống bố của chính phủ tổng nợ công năm 2014 là 90 tỷ USD. Ông Anh nói: “Nếu số chính thức VN công bố thì nợ công hiện nay là 55,7% GDP (tức khoảng 90 tỉ USD). Đây là mức chúng ta coi là vẫn an toàn. Nhưng gánh nặng nợ là không nhỏ. Tôi chỉ tính sơ bộ, khoảng một nửa, tức 45 tỉ USD chúng ta vay trong nước với lãi suất trung bình 10%/năm thì mỗi năm VN phải bỏ ra khoảng 4-5 tỉ USD trả lãi. Khoảng 45 tỉ USD vay nước ngoài, lãi suất trung bình 2,5%/năm thì mỗi năm cần trên 1 tỉ USD nữa trả lãi. Như vậy, chưa tính trả gốc, riêng tiền trả lãi trung bình đã cần khoảng 6 tỉ”.

Ông Anh cũng cho biết đồng hồ thông báo nợ công ở Hoa Kỳ thông báo từng giây, nhưng ở Việt Nam nợ công thường thống kê con số của 2 năm trước. Ông Anh cho rằng, nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước thì số nợ sẽ là 180 tỷ USD. 90 tỷ USD của chính phủ nợ và 90 tỷ USD của doanh nghiệp nhà nước nợ đó là thời điểm của năm 2012.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nguyên vụ trưởng vụ tài khoản thống kê của Liên Hợp Quốc cho RFA biết về nợ công như sau. “Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm”.

Số nợ công của chính phủ Việt Nam được Ngân Hàng Thế Giới cho biết vào năm 2014 là 110 tỷ USD.  Nếu như theo lời tiến sĩ Phạm Thế Anh nói năm 2014 Việt Nam trả lãi 6 tỷ cho 90 tỷ USD vay thống kê năm 2012, thì năm 2015 Việt Nam phải trả khoảng 8 tỷ USD tiền lãi cho số khoản vay 110 tỷ thống kê năm 2014.

Đến năm 2016 này, chúng ta chưa có con số thống kê nợ công của Việt Nam là bao nhiêu. Nhưng mới đầu năm đã có thông báo chính phủ chuẩn bị bán 10 tỷ USD trái phiếu trong năm 2016. Điều đó có nghĩa, số nợ công trước đó không hề giảm và nó đang tiếp tục tăng nhanh chóng đến cả chục phần trăm.

Nếu như 750 triệu USD trái phiếu của chính phủ phát hành đầu tiên vào năm 2006 có kỳ hạn 10 năm, thì lần phát hành 10 tỷ trái phiếu phát hành năm 2016 có đến hơn phân nửa là kỳ hạn không quá 5 năm. Tức 5,5 tỷ USD có thời hạn thanh toán dưới 5 năm kể từ khi bán.

Dường như Việt Nam đã hết cửa vay mượn từ các nơi với lãi suất ưu đãi. Nay chỉ còn nước bán trái phiếu lãi suất cao để mượn tiền từ nước ngoài. Trong hai năm qua, không thấy nói gì đến việc ngân hàng thế giới hay quỹ tiền tệ quốc tế hoặc chính phủ nước nào đó cho Việt Nam vay tiền. Trái lại là một thông báo đến năm 2017, tức chỉ 1 năm nữa Việt Nam có thể bị dừng những khoản vay ưu đãi.

Đến giờ không có cách gì khả dĩ để giảm được nợ gốc. Các phương án của Việt Nam đưa ra bây giờ chỉ là làm sao đi vay được tiền trả lãi, hoãn được trả nợ gốc, kéo dài thời hạn thanh toán thêm năm nào tốt năm đó. Với sự thúc bách như thế thì đương nhiên trái phiếu chính phủ bán ra ngày càng phải nhiều hơn mới đáp ứng được việc trả lãi và xin kéo dài hạn thanh toán.

Có lẽ khi không có phương án nào khác để trả nợ, chắc Việt Nam chỉ còn cách học Miến Điện đổi mới thể chế. Đó là cách giảm nợ công nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nhưng ở đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay vì để được xoá nợ công như Miến Điện thì ông ta, Nguyễn Phú Trọng, TBT ĐCSVN lại làm điều ngược lại là ép Việt Nam đi tiếp con đường bảo thủ. Đó là con đường sẽ khiến những món nợ ngày càng dày thêm trên cổ những người dân Việt Nam.

Việc đưa thống đốc Nguyễn Văn Bình vào Bộ Chính Trị là điều bất đắc dĩ của trung ương đảng CSVN khoá 12, mục đích để Bình tiếp tục cùng với Vương Đình Huệ, Nguyễn Xuân Phúc  chèo lái dây dưa được chuyện nợ nần vài năm nữa. Tránh chuyện vỡ nợ xảy ra trong nhiệm kỳ thứ hai của Trọng làm TBT.

5 năm sau nữa, các món nợ và tiền lãi sẽ càng trở nên kinh khủng. Nhưng Nguyễn Phú Trọng cần gì biết 5 năm sau nữa đổ ra Việt Nam sẽ thế nào. Năm nay ông ta đã 72 tuổi, 5 năm nữa ông ta 77 tuổi. Ông ta chỉ cần biết làm sao để cái chủ nghĩa xã hội mà ông lý tưởng tôn thờ, cái chủ nghĩa mang cho ông quyền lực và danh vọng tột đỉnh ấy sẽ tồn tại với song song với ông 5 năm đó.

Còn khi ông đã 77 tuổi và từ giã chính trường, đất nước nợ bao nhiêu đâu là cái bắt buộc ông phải lo. Ở tuổi 80, một Nguyễn Phú Trọng nếu còn sống sẽ là một ông cụ tóc bạc phơ, nụ cười nhân hâu như một tiên ông, cụ đã thoát tục khỏi phàm trần.

Lúc ấy 15 tỷ USD hay 20 tỷ USD mà đất nước, nhân dân oằn mình trả lãi, không phải là việc của ông.

17.2.1979-17.2.2012.

17.2.1979-17.2.2012.

Song Chi.

RFA

Bài cũ nhưng vẫn còn giá trị.

BBT

17.2.2012. Đúng vào ngày này, 33 năm trước, Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới đường bộ giữa hai nước. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt với hệ lụy kéo dài nhiều năm sau cho phía VN cũng như những trận chiến sau đó giữa 2 bên vào những năm 1984, 1988 đã không bao giờ được nhà nước VN công khai nhắc đến.

Rất nhiều người dân bình thường nếu không theo dõi thông tin từ các nguồn bên ngoài, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau năm 1979, sẽ không biết gì về những cuộc chiến này, kể cả thực tế một số khu vực, vủng đất dọc biên giới mà TQ vẫn còn chiếm giữ từ đó. Vụ Hoàng Sa, Trường Sa cũng chỉ mới được công khai nói đến nhiều vài năm gần đây, sau rất nhiều cuộc biểu tình tự phát phản đối TQ xâm lược Hoàng Sa Trường Sa của người dân tại 2 thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn. Nói một cách ngắn gọn, trong toàn bộ mối quan hệ giữa hai đảng và nhà nước cộng sản VN-TQ từ bao nhiêu năm nay, chưa bao giờ có cái gì được công khai, minh bạch cả. Đất nước là của chung nhưng 85 triệu người dân VN lại không có quyền được biết những gì đã xảy ra với chính đất nước mình, dân tộc mình. Trái ngược hẳn với cách tuyên truyền nhồi sọ nhân dân được đảng và nhà nước VN tích cực áp dụng đối với hai “cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp, chống Mỹ”-cho đến tận ngày hôm nay.

Một cuộc chiến cố tình bị lãng quên. Những trang lịch sử như không hề tồn tại. VN từ ngày đảng và nhà nước cộng sản lên nắm quyền có bao nhiêu ngày tháng, sự kiện lịch sử không tồn tại như thế, hoặc tệ hơn nữa, được viết lại một cách méo mó, sai lệch hoàn toàn?

Thiệt thòi chính là tuổi trẻ VN. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi được hiểu biết đầy đủ, chính xác về chính mình và thế giới, về quá khứ hiện tại lẫn tương lai. Để có thể có được những chọn lựa, những bước đi sáng suốt. Có lần một chị bạn nhà văn của tôi đã nói một câu: bi kịch của dân tộc VN là trước phần lớn những sự lựa chọn có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, họ lại thường có những lựa chọn sai. Và đã phải trả giá quá đắt cho những chọn lựa sai lầm vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch đó.

Còn từ khi có đảng và nhà nước cộng sản, đảng và nhà nước đã giành cho mình cái quyền nghĩ thay, chọn lựa, quyết định thay cho nhân dân, nhưng lại luôn luôn dán cái nhãn nhân dân: nhân dân chọn lựa, nhân dân đồng tình với đảng, nhân dân đứng về phía đảng, nhân dân bất bình chuyện này chuyện kia…

Người dân không cần suy nghĩ, quan tâm gì nữa-chuyện chính trị đã có đảng và nhà nước lo.

Khi một dân tộc bị tước đi quyền suy nghĩ, chọn lựa, dân tộc ấy không thể trưởng thành.

Trước kia, đảng cộng sản VN thắng Pháp, thắng Mỹ-hay ít ra họ tưởng là như thế, (bởi còn phải định nghĩa lại thế nào là thắng, thua, được, mất…), đó là vì ít ra họ không sợ hãi và biết cách tuyên truyền làm cho người dân không sợ hãi.

Chỉ riêng đối với TQ, nhà cầm quyền VN không chỉ sợ mà còn truyền cái nỗi sợ ấy cho nhân dân, làm cho dân tộc VN trở nên hèn yếu đi. Điều này càng nguy hiểm hơn bởi kẻ thù mà chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai gần đã từng là kẻ thù nghìn năm trước, kẻ thù của hôm qua và cả hôm nay, trong cái lớp vỏ tình anh em hữu nghị. Một kẻ thù/người láng giềng mà người VN không thể tránh né. Sau cuộc chiến, Pháp, Mỹ rút đi, nhưng TQ thì luôn luôn còn đó, núi liền núi sông liền sông với VN. Và tệ hại hơn, thâm hiểm hơn gấp nhiều lần những kẻ thù khác. Một nhà cầm quyền khinh thường mọi quy ước, luật lệ của quốc tế và của nhân loại văn minh trong mọi lĩnh vực từ ngoại giao, kinh tế cho đến nhân quyền, sẵn sàng tàn bạo với chính người dân của mình thì có hy vọng gì tử tế với các dân tộc khác?

Trong khi đó thì người VN lại không được công khai học những bài học lịch sử từ trong mối quan hệ giữa hai bên và những cuộc chiến sai lầm trong quá khứ để chuẩn bị cho tương lai.

Trong khi đó thì người VN lại đang bị chính nhà cầm quyền làm cho bạc nhược đi trong sự lãng quên, vô cảm với chính số phận của đất nước.

Như sự lãng quên đang diễn ra ở VN vào đúng cái ngày 17.2 này.

Ba bảy đường hèn

Ba bảy đường hèn
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Ông nhạc sĩ Tô Hải viết tập sách “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” xuất bản năm 2009, ai cũng khen ông là người can đảm, không ai chê ông đã hèn trong một thời gian quá lâu như thế, qua những câu chuyện “hèn” được viết lại. Nhưng qua câu chuyện người ta kể, khi vào Sài Gòn, đi thăm mộ thân phụ ông, thấy cái bia mộ do người “nghĩa tế” trong quân đội miền Nam là một trung tướng “phụng lập,” thì ông nổi giận đùng đùng, bắt phải đập bỏ ngay tấm bia ấy. Hèn đã không phụng dưỡng được cha, ông lại hèn mang mặc cảm của người thắng trận, hèn để chứng tỏ “lập trường giai cấp” quyết tâm triệt hạ tất cả cái gì của miền Nam, dù cái đó là nét đẹp đạo lý của chữ hiếu, chữ nghĩa!

3 monkeys

Người ta có thể tha thứ cái hèn trong thời gian “kháng chiến” của ông Tô Hải nhưng khó có thể chấp nhận được cái hèn khi ông tỏ ra cái “khí phách” của người đi theo nương nhờ súng đạn những người mới thắng thế.

Người ta không chê ai đã cúi đầu trước bạo lực, cường quyền, trong một xã hội công an trị đã làm cho con người tê cứng vì sợ hãi trước gông cùm và song sắt. Chúng ta thành tâm mà nói, ở vào vị trí như thế, chúng ta làm gì hơn được. Trong chuyện Hán Sở Tranh Hùng, Hàn Tín thuở hàn vi, chưa lập nghiệp lớn, lòn trôn thằng bán thịt giữ chợ mà người đời sau không ai gọi là thằng hèn. Hèn cho qua buổi, hèn để nuôi chí lớn.

Trên cõi đời này thường người ta hèn không phải vì một lý do duy nhất mà tới ba lý do: sợ hãi vì thế yếu, không bị ép buộc nhưng vì mưu lợi và cuối cùng là cái hèn trong thế thượng phong, thắng thế. Vậy thì hèn cũng có ba bảy đường hèn!

-Cái hèn thứ nhất thường được người ta tha thứ vì sự yếu đuối của con người. Dưới họng súng, lưỡi lê, tra tấn, nhà tù của những chế độ bạo ngược, người dân đành thúc thủ, câm nín. Thời Việt Minh, chúng dùng thủ đoạn ám sát, chặt đầu, thả trôi sông, gây sự khiếp hãi, nên không ai dám không theo Việt Minh Cộng Sản, không ai dám lên tiếng phê bình hay chống đối. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí của con người, phải hèn cho qua thời buổi khó khăn.

Trong các trại tù tập trung của cộng sản, người ta có thể thông cảm cho phần lớn những người chịu hèn, chịu cảnh “nín thở qua sông,” “giả dại qua ải”… “an tâm, học tập tốt, lao động tốt” chẳng qua cũng vì sợ hãi, sợ trả thù và khổ nhục.

Dưới chế độ kìm kẹp của cộng sản, cũng không ai trách người dân ta hèn vì không dám chống lại bạo lực, nhưng người trách giới văn nghệ trí thức hèn vì không chỉ phải câm nín mà còn theo đường lối chỉ thị, múa môi, múa bút tâng bốc lãnh tụ, ơn đảng là những điều mà chính lòng họ không tin. Trong một chế độ người ta dùng lương thực như một vũ khí để trấn áp người đối nghịch cũng như để nuôi dưỡng lòng trung thành của kẻ thuộc hạ thì chế độ “tem phiếu” quả là hữu hiệu. Ðó là thái độ hèn vì miếng ăn. Những người chưa đói, chưa thấy cảnh vợ con nheo nhóc mà xót xa thì chưa hiểu nổi vì sao cộng sản luôn luôn dùng “chính sách bao tử” để khống chế con người.

Hiện nay tại Việt Nam, chế độ công an trị, roi vọt, giam cầm từ nửa thế kỷ nay, hà khắc hơn cả chế độ thuộc địa, khiến cho người dân phải cúi đầu chịu đựng, chấp nhận cái hèn, biết sợ để sống còn, những con người dũng cảm không hề hèn, thì phải chịu bao nỗi thiệt thòi.

-Cái hèn thứ hai là hèn vì lợi dục. Không ai kê súng vào đầu, không ai bắt buộc, dù không làm cũng chẳng sao, vì nó không cần thiết, bị dồn vào thế ép buộc phải làm.

Không ai bắt một ông bộ trưởng khi vào gặp tổng thống lúc quay ra phải đi giật lùi vì sợ thất lễ, để đến nổi phải vấp và làm bể cái đôn sứ. Cũng không ai bắt chúng ta xu thời, đổi đạo để đổi lấy địa vị chức tước. Cả hai chuyện này không cần phải làm vì không nguy hiểm đến mạng sống của con người, động lực chính chẳng qua chỉ vì chức tước, danh vọng, vì từ chức quyền danh vọng có thể đưa đến giàu sang, quyền lực. Người liêm sỉ không cần phải có chức vụ, quyền lực hay ơn mưa móc nên không cần phải cúi mình.

Trong thời loạn, nhiều kẻ hèn đã tự nguyện dâng vợ cho cấp trên, dắt gái cho cấp chỉ huy, tư cách như một tên “ma cô” để đổi lấy những ân sủng, mà chúng đã những không biết hổ thẹn, mà còn lấy làm hãnh diện vì những ơn mưa móc này.

Trong hoàn cảnh khó khăn tận cùng của đời giam cầm tù tội, cũng có những người tù chấp nhận số phận, nhưng cũng có những thằng hèn thủ đoạn, chịu hèn hạ để tố cáo đồng đội, ton hót bọn cai tù để thêm được một cái phiếu quà, được thêm giờ thăm nuôi hay được tin cậy trong những chức vụ nhằm khống chế, kiểm soát đồng đội. Ðó là hèn để mưu lợi lộc.

Một ca sĩ bỏ nước ra đi rồi trở về nước ca hát để kiếm tiền, đâu cần phải ca ngợi cái chính quyền của đất nước mà họ đã chối bỏ ngày trước, đó cũng là chuyện hèn vì lợi nhuận.

Tố Hữu cũng không cần phải khóc Staline như khóc ông nội hay ca tụng ông Hồ là cha già, nhưng Tố Hữu cũng cần dùng ngòi bút và cái lưỡi để tiến thân mà tiến thân vượt bực. Nhờ đó, dù sở học không bao nhiêu, Tố Hữu cũng lên đến chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế (!)nên Việt Nam có một đồng bạc mà trên thế giới không ai có, đó là đồng bạc $30. Cái hèn của Tố Hữu trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn là sự ganh tỵ, đố kỵ với những người giỏi hơn mình, và muốn làm lãnh tụ văn nghệ vì thực tế tác phẩm của Tố Hữu chỉ là loại truyền đơn phục vụ cho tuyên truyền, không có giá trị lâu dài.

Ai đó đã nói một câu nghe thấm thía: “Muốn sống, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn bác!”

-Còn một cái hèn không biết xếp hạng vào đâu là cái hèn của bọn người mọi rợ. Trong cuộc tranh chấp đảo Ðiếu Ngư giữa Nhật và Trung Cộng vừa qua, dân Trung Cộng không những biểu tình đốt phá khu thương mãi của Nhật, đốt xe Nhật, họ còn bắt một con chó Nhật giống Akita, trói vào gốc cây đánh đập cho đến chết trước sự hoan hỷ của “quần chúng.” Không chơi nổi tàu chiến, máy bay, những dân hèn Trung Cộng này trút đòn thù lên đầu một con chó, chỉ vì đó là một con chó giống Nhật!

Còn “hèn với giặc, ác với dân!” thì ai cũng biết đó là thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dưới sự chỉ đường của đảng cộng sản.

-Cuối cùng là cái hèn của người thắng trận. Cái hèn đáng nguyền rủa nhất là sự trả thù của người thắng trận. Câu chuyện trả thù này chúng tôi đã có dịp nói nhiều rồi. Câu nói “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” là một khẩu hiệu dối trá. Chúng ta thua trận nhưng chỉ tiếc là đã thua những con người dã man, hèn hạ nên nhân phẩm của chúng ta bị chà đạp, quyền sống của chúng ta bị tước đoạt nên để lại bao nhiêu khổ lụy cho gia đình khi chúng ta đang phải vào nhà tù. Không những trả thù những người khác trận tuyến, người cộng sản còn trả thù giai cấp bằng cách tước đoạt tài sản, và đày đọa những người giàu có hơn chúng vì lòng ganh tỵ, để cuối cùng tạo ra một giai cấp mới, thế chỗ, còn tham lam tàn độc hơn là chế độ tư sản cũ, bởi sự bóc lột được nâng đỡ, yểm trợ bằng quyền lực và súng đạn, nhà tù.

Khi người “bộ đội cụ Hồ” chỉ có một bộ áo quần, cái nón cối, đôi dép râu, cái “xắc cột” (sacoche), cái chén ăn cơm, đôi đũa, vợ con ở nhà có hợp tác xã lo, thì dễ nói chuyện lý tưởng. Bây giờ thắng trận, có tài sản có chức phận thì phải giữ.

“Thà mất nước, không thà mất đảng,” vì đảng chính là xôi thịt, nên dù bị chửi bới, xấu hổ cũng phải giữ rịt lấy đảng. Bỏ đảng là mất ghế. Những anh bỏ đảng đều là những người bị thất sủng, vô công rỗi nghề, không còn chức vụ, cái thẻ đảng chẳng còn giá trị, trả lại hay đốt đi cũng chẳng anh hùng gì! Chẳng thấy ai đang có chức quyền, nhà cao cửa rộng, mỗi tháng kiếm năm ba triệu đô la, con đang du học ngoại quốc, mà bỏ đảng?

Tôi cho biểu tượng về “cái hèn” của những con người cộng sản đang cầm vận mệnh đất nước Việt Nam hiện nay là ba con khỉ Mizaru, Kikazaru và Iwazaru bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Bịt tai để không nghe tiếng ta thán của trăm họ, bịt mắt để không thấy cảnh khổ của lê dân, bịt miệng để khỏi phải nói tiếng nói chính trực với giặc. Bịt miệng cũng đồng nghĩa với “ngậm miệng ăn tiền,” bất cố liêm sỉ.

Nhưng người dân Việt Nam đã bắt đầu dõng dạc lên tiếng, lắng nghe tiếng gọi của nước non và mở rõ mắt nhìn thấy bộ mặt thực của chế độ.

Chúng tôi không là Việt Kiều

Chúng tôi không là Việt Kiều

Nếu là người Mỹ gốc Việt thì nên đọc bài viết này để bảo vệ bản thân và gia đình khi đi sang nước ngoài, nhất là Việt Nam.

Viet Kieu 1Viet Kieù 2

 

 

 

Năm ngoái, một cô du sinh Việt Nam theo học chương trình tiến sĩ ở Hoa Kỳ phỏng vấn tôi cho luận án của cô ấy với đề tài: Cách nào để chính quyền Việt Nam đến với Việt kiều ở Mỹ.
“Trước hết hãy ngưng gọi chúng tôi là Việt kiều,” tôi trả lời.
Thấy cô ấy lúng túng, tôi giải thích: “Chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, không phải công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”
Chính quyền Việt Nam muốn xem người Việt ở hải ngoại là công dân Việt mang “hộ chiếu” nước ngoài.
Cứ xem thái độ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang của họ thì rõ. Khi gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama ở Toà Bạch Ốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ông Sang cảm ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn không đúng cương vị. Chính phủ Mỹ lo cho dân Mỹ là việc đương nhiên; hà cớ gì Ông Sang cảm ơn nếu không là muốn nhận vơ chúng tôi là dân của ông ấy?
Nhận vơ như vậy không ổn, vì nhiều lý do.

Trước hết, rất nhiều người chưa hề một ngày là công dân của nhà nước cộng sản Việt Nam: những người ngoài Bắc di cư vào Nam trước khi đảng cộng sản lập ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và những người trong Nam bỏ nước ra đi trước khi đảng cộng sản ấy xâm chiếm miền Nam.
Kế đến là những người bỏ nước đi tị nạn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, tị nạn có nghĩa từ bỏ sự bảo vệ của chế độ cầm quyền ở quốc gia nguyên quán. Theo nguyên tắc này, khi chúng ta đang xin hay còn mang quy chế tị nạn mà đặt chân về Việt Nam, dù chỉ để thăm gia đình, thì xem như tự đặt mình trở lại dưới sự bảo vệ của chế độ cầm quyền và sẽ tự động mất tư cách tị nạn. Pháp áp dụng đúng nguyên tắc này trong khi một số quốc gia khác thì nhân nhượng hơn.

Dù không thuộc các thành phần trên, một khi giơ tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, mỗi người trong chúng tôi đã chính thức từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Trước luật pháp Hoa Kỳ, chúng tôi là công dân Mỹ chứ không là công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Cô sinh viên tiến sĩ xem chừng hiểu ra câu trả lời: chúng tôi không là Việt kiều. Chúng tôi là người Mỹ gốc Việt,.”
Tôi giải thích thêm: “Cái gốc Việt ấy cho phép chúng tôi lên tiếng về các vi phạm nhân quyền và một số vấn đế khác nữa ở Việt Nam. Chúng tôi có thân nhân bị đàn áp. Chúng tôi có tài sản bị cưỡng chiếm. Đó là những vấn đề quyền lợi của công dân Mỹ, khi bị xâm phạm thì chính quyền Mỹ có nhiệm vụ can thiệp. Hơn nữa, chúng tôi có sự hiểu biết sâu sắc về hiện tình xã hội Việt Nam để giúp cho sự can thiệp ấy đạt hiệu quả.”
Nói đi thì cũng phải nói lại. Khi nhà nước cộng sản Việt Nam nhận vơ thì lỗi của họ chỉ có phân nửa. Phân nửa còn lại là lỗi của chúng ta.

Gần đây, cộng đồng Việt ở vùng Hoa Thịnh Đốn xôn xao về cuộc phỏng vấn video của một người Việt bị chặn ở phi trường, không được nhập cảnh, khi về thăm nhà ở Việt Nam. Cuộc tranh luận đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: Cả hai phía của cuộc tranh luận đứng trên cương vị Việt kiều hay trên cương vị công dân Mỹ?
Khi công dân Mỹ bị gây khó dễ ở phi trường, thì người ấy dứt khoát đòi liên lạc với toà lãnh sự Mỹ ở Việt Nam; nếu bị công an câu lưu “làm việc” thì người ấy tuyệt nhiên không hợp tác cho đến khi đã nói chuyện được với toà lãnh sự Mỹ; nếu bị tống tiền, chèn ép bởi giới chức chính quyền Việt Nam thì cũng báo ngay cho toà lãnh sự Mỹ. Khi về lại Hoa Kỳ thì nạn nhân phải báo động ngay với Bộ Ngoại Giao.
Chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ công dân Mỹ. Khi nhận được nhiều báo cáo từ các công dân Mỹ bị sách nhiễu, thì chính quyền Mỹ sẽ phải đặt vấn đề với phía Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam có dám đối xử tệ với những công dân Mỹ khác đâu, mà chỉ sách nhiễu người Mỹ gốc Việt. Chẳng qua chúng ta cho phép họ làm vậy. Lỗi ấy là của chúng ta.

Thành ra, muốn khẳng định “chúng tôi không là Việt kiều” với nhà nước Việt Nam thì trước hết chúng ta phải tự nhủ và nhắc nhở lẫn nhau:“Chúng ta không là Việt kiều”. Khi người người trong chúng ta ý thức điều này và hành xử đúng cương vị thìnhà nước Việt Nam sẽ phải thay đổi theo. Tôi tin là vậy.

Giàu nghèo ở Việt Nam ‘phân cực rõ’, triệu phú tăng nhanh

Giàu nghèo ở Việt Nam ‘phân cực rõ’, triệu phú tăng nhanh

Cửa hàng Louis Vuitton tại trung tâm mua sắm Tràng Tiền Plaza ở Hà Nội.

Cửa hàng Louis Vuitton tại trung tâm mua sắm Tràng Tiền Plaza ở Hà Nội.

VOA Tiếng Việt

11.02.2016

Có tình trạng “người ăn không hết, kẻ lần không ra” trong 20 năm tiến hành đổi mới vừa qua ở Việt Nam, trong khi có nhận định rằng người siêu giàu ở Việt Nam sẽ tăng nhanh nhất thế giới trong 10 năm tới.

Theo báo cáo mới công bố có tên “Xu hướng bất bình đẳng về mức sống ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới”, tiến sỹ Đỗ Thiên Kính của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cho biết rằng “sự phân hóa giàu nghèo hiện nay ở Việt Nam có xu hướng phân thành hai cực rõ rệt”.

Khái niệm “mức sống” trong cuộc nghiên cứu kéo dài từ đầu những năm 90 cho tới năm 2012 được đo lường qua các dữ liệu về: thu nhập, chi tiêu ngoài ăn uống và giá trị tài sản nơi ở chính.

Đã có những hiện tượng báo chí đã nêu lên rằng một số quan chức có thu nhập quá cao với rất nhiều nhà đất và con cái tiêu xài một cách xa hoa, lãng phí. Đấy là điều đáng lo ngại của Việt Nam, trong khi một số người dân, nhất là trẻ em ở những vùng sâu và hẻo lánh hiện nay thiếu cả quần áo ấm để mặc…

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói.

Theo ông Kính, nếu thể hiện bằng biểu đồ, hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam có hình kim tự tháp với tầng lớp cao (phần chóp) theo thứ tự từ trên xuống bao gồm lãnh đạo, quản lý; doanh nhân và chuyên gia có chuyên môn cao. Tầng lớp giữa gồm nhân viên, công nhân, buôn bán dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp. Tầng lớp thấp bao gồm lao động giản đơn và nông dân.

Về khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay, kinh tế gia Lê Đăng Doanh nhận định với VOA Việt Ngữ:

“Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đang tăng lên một cách đáng lo ngại và là sự quan tâm của công luận. Khoảng cách giàu nghèo đó không được thể hiện một cách đầy đủ qua các con số bởi vì ở Việt Nam có một khối lượng tiền lớn vẫn được sử dụng bằng tiền mặt, cho nên việc kiểm soát thu nhập thực của người ta rất khó khăn. Đã có những hiện tượng mà báo chí đã nêu lên rằng một số quan chức có thu nhập quá cao với rất nhiều nhà đất và con cái tiêu xài một cách xa hoa, lãng phí. Đấy là điều đáng lo ngại của Việt Nam, trong khi một số người dân, nhất là trẻ em ở những vùng sâu và hẻo lánh hiện nay thiếu cả quần áo ấm để mặc, cũng như có cuộc sống rất là khó khăn. Tôi hy vọng rằng điều đó sẽ được chú ý và sẽ được cải thiện trong thời gian sắp tới đây, khi mà Việt Nam có những bước cải cách thể chế và sẽ công khai, minh bạch hơn quá trình kiểm soát thu nhập của người dân.”

Trong khi đó, theo dự báo của hãng tư vấn bất động sản toàn cầu Knight Frank, số người siêu giàu ở Việt Nam sẽ “tăng nhanh nhất thế giới trong một thập kỷ tới”.

Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam đang tăng lên một cách đáng lo ngại và là sự quan tâm của công luận. Khoảng cách giàu nghèo đó không được thể hiện một cách đầy đủ qua các con số bởi vì ở Việt Nam có một khối lượng tiền lớn vẫn được sử dụng bằng tiền mặt, cho nên việc kiểm soát thu nhập thực của người ta rất khó khăn.

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh nhận định.

Theo công ty tư vấn có trụ sở ở London, trong 10 năm tới, số người có tài sản từ 30 triệu đôla trở lên ở quốc gia Đông Nam Á này sẽ tăng hơn gấp đôi, lên con số 300 người với tỷ lệ tăng hơn 150%.

Thống kê mới nhất của Knight Frank cho biết rằng hiện Việt Nam có 116 người siêu giàu, và cho tới năm 2024, Việt Nam sẽ có 3 tỷ phú đôla.

Tiến sỹ Doanh nhận định với VOA Việt Ngữ rằng người siêu giàu ở Việt Nam “do có những mối quan hệ và có thể tiếp cận được với các tài nguyên, họ vẫn tiếp tục giàu lên một cách nhanh chóng”.

Kinh tế gia này nói thêm rằng họ là những người “không có đóng góp gì mới về khoa học và công nghệ”.

Hồi năm 2013, ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch tập đoàn Vingroup, được tạp chí Forbes đánh giá là tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam.