Những gương mặt công an trên chính trường Việt Nam hiện nay

Những gương mặt công an trên chính trường Việt Nam hiện nay

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-03-08

000_Del8399418

Tướng Trần Đại Quang (giữa), thành viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an được chào đón bởi các đại biểu trong một buổi tiệc trà vào ngày thứ 6 của đại hội đảng cộng sản lần 12 tổ chức tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 1 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Sau đại hội toàn quốc lần thứ 12 của đảng cộng sản, nhiều nhân vật là công an được thăng tiến trong bộ máy chính trị tại Việt Nam. Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của một số nhà quan sát chính trị Việt Nam về những nhân vật này và vai trò của họ trong cải cách kinh tế chính trị Việt Nam hiện nay.

Trong những ngày đại hội đảng lần thứ 12 nhóm họp, đã có những lo ngại là những nhân vật thuộc cơ quan công an và an ninh sẽ nắm những trọng trách trong giai đoạn sắp tới. Linh mục Phan Văn Lợi, lúc ấy nói với đài Á Châu Tự Do:

Chúng tôi lo ngại vì nghe tin ông Trần Đại Quang sẽ lên làm chủ tịch nước. Ông ta sẽ giữ một chức cao hơn chức bộ trưởng công an trước đây. Khi làm bộ trưởng công an ông ta đã đàn áp rất mạnh mẽ rồi, nay lên làm chủ tịch nước có thể ông có quyền lực hơn để trấn áp.

Đại hội 12 đã đưa ra một thành phần lãnh đạo mới của Bộ chính trị 19 người mà có đến 4 nhân vật xuất thân từ ngành công an. Đó là ông Trần Đại Quang, đương kim Bộ trưởng bộ công an, được dự trù sẽ nắm chức Chủ tịch nước tới đây.

Người thứ hai là ông Tô Lâm, hiện Thứ trưởng Bộ công an.

Thứ ba là ông Trương Hòa Bình, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, và cũng xuất thân từ ngành công an.

Người thứ tư tuy tên tuổi còn xa lạ là ông Phạm Minh Chính nhưng có tới 15 năm làm việc trong ngành công an, và hiện đã lãnh trách nhiệm rất quan trọng là Trưởng ban tổ chức trung ương đảng.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, một nhà báo độc lập tại Sài gòn nhận xét:

“ Khi làm bộ trưởng công an ông ta đã đàn áp rất mạnh mẽ rồi, nay lên làm chủ tịch nước có thể ông có quyền lực hơn để trấn áp.
– Linh mục Phan Văn Lợi”

Ông Chính có một quá trình lâu như vậy, nay lại được đưa về một vị trí then chốt của Đảng là công tác tổ chức thay cho ông Tô Huy Rứa, như vậy nó sẽ dẫn đến những vấn đề gì trong tương lai gần? Đó là xu hướng bố trí tổ chức và công an hóa một số vị trí bên đảng lẫn bên chính quyền, mà người ta gọi là việc bố trí nhân sự. Có thể nói là công an hóa bộ máy chính quyền. Và vị trí Trưởng ban tổ chức trung ương có thể nói là vị trí có quyền tối cao quyết định chỉ sau Tổng bí thư.”

Ông Dũng nói tiếp là đối với các chế độ như Việt Nam thì vai trò của công an vốn dĩ rất quan trọng không phải chờ đến đại hội 12 mới có, nhưng nếu quyền lực của ngành công an lại gia tăng trong tình hình mà bản thân đảng cộng sản cũng tuyên bố là cần cải cách cơ chế kinh tế và chính trị là một điều không hay.

Đàn áp và Luật biểu tình

Đầu tháng ba năm 2016, khi nổ ra vụ Sầm Sơn, nhiều ngư dân phản đối việc nhà nước sử dụng bãi biển đụng chạm tới quyền lợi của họ đã có từ lâu đời, thì công an Thanh Hóa thoạt đầu đã nói là sẽ truy tố những người mà theo họ là gây rối. Tuy nhiên với sự phản ứng quá mạnh của dân chúng, sáng ngày 7/3 chính quyền tỉnh đã phải đối thoại với người dân. Ông Phạm Chí Dũng cho rằng với thói quen đàn áp sự phản kháng của người dân như bấy lâu nay của ngành công an, xã hội Việt Nam sẽ đi đến chổ bất ổn:

Nếu như ngư dân không phản đối thì cũng sẽ xảy ra các vụ bắt bớ hàng loạt như ở Bà rịa Vũng Tàu, như là ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Hà Tĩnh, ở Ninh Hiệp như ở Hà nội Gia Lâm vừa qua, tôi cho là đó là một xu hướng công an trị rất bất nhẫn. Nó gây ra một mầm mống nội loạn bên trong Việt Nam, cho chính trong lòng chế độ Việt Nam, rất căng thẳng.”

Trong thời gian qua, nhiều trí thức Việt Nam, thậm chí nhiều người nằm trong Quốc hội do đảng cộng sản kiểm soát lên tiếng nói rằng sự phản kháng một điều gì đó trong xã hội là một điều bình thường và cần thiết phải có luật biểu tình để mọi sự đề đạt nguyện vọng, ý kiến hay sự phản kháng của dân chúng được diễn ra trong vòng trật tự.

Theo sự ghi nhận của Tiến sĩ Dũng thì đã năm năm rồi dự án soạn thảo Luật biểu tình của Bộ công an vẫn không được tiến triển, và theo đánh giá của Bộ này thì phải sau năm 2020 Việt Nam mới có thể có luật biểu tình.

Mới đây Bộ công an lại viện dẫn những khó khăn đến từ phía Bộ Tư Pháp và Bộ Quốc phòng với nhiều ý kiến không thống nhất về luật biểu tình để trì hoãn. Bình luận về lý do trì hoãn được Bộ Quốc phòng đưa ra, ông Phạm Chí Dũng nói:

Trong đó có đưa ra một lý do là khi nào bảo đảm an ninh chính trị thì mới đưa ra luật biểu tình. Và cái thứ hai nữa là luật biểu tình liên quan đến đổi mới chính trị. Đó là cách trả lời nước đôi, chung chung, né trách trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, và đồng thời cũng có thể nói là trì hoãn Luật biểu tình càng lâu càng tốt.”

Trước và trong khi đại hội 12 diễn ra, nhiều quan chức cao cấp Việt Nam, trong đó có cả ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng một mục tiêu quan trọng của đảng trong thời kỳ mới là xây dựng đảng và chống tham nhũng.

“ Sự có mặt của các viên tướng công an là chưa có tiền lệ, nó có thể gây quan ngại đối với các nước phương Tây. Nó cũng nói lên một điều là Bộ chính trị mới đặt vấn đề an ninh của chế độ quan trọng hơn ngoại giao và kinh tế.
– Tiến sĩ Vũ Tường”

Khi được hỏi là liệu sự xuất hiện của nhiều viên chức ngành công an có phải là chỉ dấu cho thấy đảng sử sẽ dụng  công cụ trấn áp này trong công cuộc chống tham nhũng sắp tới hay không, thì nhiều ý kiến cho rằng không phải là như vậy. Theo ông Phạm Chí Dũng, nếu muốn thực sự chống tham nhũng, thì người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng là Ủy ban kiểm tra trung ương phải là một ủy viên Bộ chính trị, nhưng hiện nay chức vụ này chỉ giao cho một người không nằm trong bộ phận quyền lực lớn nhất này của quốc gia.

Ngoài việc công an hóa xã hội, như tiến sĩ Dũng đề cập, ông còn cho rằng đối với công việc đối ngoại thì những người công an đứng đầu quốc gia sẽ gây một hình ảnh không tốt đối với các quốc gia dân chủ.

Một nhà quan sát chính trị Việt Nam khác là Tiến sĩ Vũ Tường, từ Hoa Kỳ cho rằng:

Sự có mặt của các viên tướng công an là chưa có tiền lệ, nó có thể gây quan ngại đối với các nước phương Tây. Nó cũng nói lên một điều là Bộ chính trị mới đặt vấn đề an ninh của chế độ quan trọng hơn ngoại giao và kinh tế.”

Công an có thể cải tổ được không?

Trước câu hỏi này, ông Phạm Chí Dũng cho rằng theo ghi nhớ của ông thì trong hai mươi năm trở lại đây, chỉ có một viên tướng công an là có thái độ khá cởi mở, trả lời cả truyền thông nước ngoài, nhưng là một nhân vật không quan trọng, còn đa số những nhân vật xuất thân từ ngành công an là thuộc nhóm giáo điều và bảo thủ.

Một nhà quan sát khác xin giấu tên thì cho rằng chưa chắc các nhân vật gốc công an sẽ cản đường cải cách. Theo đánh giá của nhà quan sát này, mà chúng tôi xin được trích nguyên văn như sau: “Trong các ông công an hiện có mặt ở Bộ chính trị thì ông Phạm Minh Chính là cởi mở hơn cả, ông Tô Lâm là một người khôn ngoan, ông Trương Hòa Bình thì không có nhiều quyền lực, còn ông Trần Đại Quang là một ẩn số.”

Tiến sĩ Dũng thì chia nhóm tướng lĩnh công an trong nước, hiện đã lên tới con số 300 thành hai nhóm, một nhóm giáo điều, và một nhóm xu lợi sẳn sàng ngã theo bất cứ phe phái nào, kể cả sẽ có quan điểm thân phương Tây nếu phương Tây thõa mãn quyền lợi của họ. Nhưng ông cho là những người công an cũng phải đi theo con đường mà đảng cộng sản của họ phải theo trong tương lai là cải cách chính trị và kinh tế nếu muốn tồn tại cùng dân tộc.

Xã hội dân chủ và bầu cử

Xã hội dân chủ và bầu cử

Kính Hòa, phóng viên RFA

000_Hkg10118130

Cư dân địa phương và khách du lịch nước ngoài tại một quán ăn vỉa hè khu phố cổ Hà Nội ngày 13 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Sau đây là phần thời gian dành cho Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện. Phần trích lời trực tiếp của các blogger được thực hiện qua giọng đọc của các anh chị em ban Việt ngữ đài Á châu tự do.

Tập dân chủ

Du lịch thì có liên quan gì đến một xã hội dân chủ?

Nhà văn Phạm Thị Hoài cho rằng những tệ hại của nền du lịch Việt Nam hiện nay không nằm ngoài sự tệ hại của một xã hội Việt Nam:

Tôi không thấy nạn lừa gạt chặt chém du khách ở Việt Nam là cái gì quá khác thường. Người Việt lừa gạt chặt chém mọi lúc mọi nơi và trong mọi lĩnh vực, cớ sao ngành du lịch phải làm một ngoại lệ? Chính quyền thì tham nhũng và kém hiệu quả, dân chúng thì lầm than và mông muội, luật pháp thì bát nháo, luân lý thì chao đảo, văn hóa thì nhộn nhạo, ngôn ngữ thì thô bỉ phũ phàng, con người thì hành hạ nhau và là nạn nhân lý tưởng của nhau, thời của nước đục thả câu, một đất nước như thế ắt phải có một ngành du lịch như thế.

Nhà văn cho rằng người Việt Nam cũng như bao dân tộc khác, cũng mơ ước làm giàu, nhưng người Việt lại đang ở trong một giai đoạn, một hoàn cảnh đặc biệt:

Song giấc mơ Việt hoang đường hơn những giấc mơ ở nơi khác. Xuất phát từ một số không tròn hơn số không thông thường, hành trình từ không đến có của chúng ta nhuộm màu siêu thực. Là người đến muộn, chúng ta phải chạy nước rút. Phải cuống cuồng mọc cho bằng hết những ung nhọt của du lịch đại chúng khắp thế giới, cho đến khi cơ thể không còn chỗ nào lành. Như chúng ta đã học khóa cấp tốc về chủ nghĩa tư bản, để sống bản tóm tắt kinh dị của nó cho đến khi có lịch lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không muốn, không thể và không biết đợi, trong khi tất cả những gì tốt lành bền vững đều cần rất nhiều thời gian.

“ Dân chủ có thể đến với dân tộc ta chậm, nhưng chúng ta phải đi đúng đường, sợ nhất là đi lạc đường, rồi lạc lõng trước loài người.
– Nhà báo Lê Phú Khải”

Sự chờ đợi đó được nhà báo Lê Phú Khải gọi là Tập dân chủ trong bài viết của ông trên trang Bauxite Việt Nam. Trong giai đoạn Tập dân chủ đó, trách nhiệm cần có từ hai phía, những người cộng sản đang cầm quyền và dân chúng:

Con đường “tập dân chủ” của Việt Nam là con đường đúng đắn nhất. Tốt đẹp và vinh quang cho cả Đảng cầm quyền và dân tộc. Không súng đạn, xe tăng, đại bác, quân đội, công an nào chống lại được xu thế dân chủ của thời đại, của lịch sử. Dân chủ có thể đến với dân tộc ta chậm, nhưng chúng ta phải đi đúng đường, sợ nhất là đi lạc đường, rồi lạc lõng trước loài người.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, thì trong tình trạng nước Việt Nam ngày nay, những áp lực từ phía dưới lên, từ phía dân chúng là quan trọng nhất trong thời gian Tập dân chủ đó:

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất tác động tới sự chuyển động của cơ chế chính trị để dẫn tới các cải cách căn bản, đó là : áp lực từ bên dưới của dân chúng, áp lực đòi cải cách của xã hội. Từ « xã hội » ở đây có nghĩa là : các cá nhân trong xã hội, nghĩa là tất cả mọi người. Nếu thiếu áp lực này, hoặc nếu áp lực này không đủ mạnh, thì bộ máy lãnh đạo hiện tại (vốn đã quá trì trệ, quá ì ạch, quá tham nhũng, với hệ hình tư duy lạc hậu, đồng thời lại quá tự mãn về những thắng lợi trong quá khứ, mất cảnh giác, thiếu khả năng đối diện với thực tế, với sự thật) sẽ không có đủ động lực để cải cách. Nếu mỗi người (cũng có nghĩa là mọi người) còn có lý do để chấp nhận cơ chế chính trị này, thì nó vẫn sẽ tồn tại, và đảng sẽ không có nhu cầu cải cách.

Ứng cử và bầu cử

Chuyện Tập dân chủ từ phía người dân đang rất sôi động trong mùa xuân năm nay với phong trào tự ứng cử vào Quốc hội mới.

Các ứng viên độc lập không thuộc đảng cộng sản đang đứng trước nhiều thách thức rất lớn từ phía những người cầm quyền. Câu chuyện nổi bật nhất trong tuần là một nghệ sĩ hài tự ứng cử vào Quốc hội bị một tờ báo của nhà nước chỉ trích, và nhân đó chỉ trích tất cả những người dám ra tự ứng cử mà không cần sự giới thiệu của đảng cộng sản.

Trong khi đó thì trong một lần trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó ban tuyên giáo trung ương đảng cộng sản cho rằng việc các công dân ra ứng cử độc lập là một điều tốt.

Phân tích những chỉ trích đối với người nghệ sĩ hài, blogger Nguyễn Anh Tuấn cho rằng điều đó không phải đến từ một chủ trương tấn công người nghệ sĩ, mà đến từ những nhà báo cơ hội đã quen với không khí không lành mạnh của một xã hội toàn trị, và anh kêu gọi đảng cộng sản nên đưa những kẻ cơ hội này ra ánh sáng:

“ Họ muốn tạo ra một sân chơi tranh luận tại Quốc Hội với hy vọng thức tỉnh những cái đầu đã bị mê ngủ bấy lâu nay với cái tự sướng mà không dám nhìn rõ sự thật của đất nước này.
– Tác giả Vũ Hoàng Anh”

Ở những nước mà vai trò giáo điều ý thức hệ vẫn còn nặng nề như Việt Nam, nhưng kẻ hồng vệ binh nhất, bảo thủ cùng cực nhất lại chính là những kẻ CƠ HỘI NHẤT, vì lẽ ở vị trí bảo thủ đó, họ luôn luôn được an toàn và mặc sức phán xét bất kì động thái hoặc con người đổi mới nào bằng những cái mũ “thiếu kiên định”, “thiếu bản lĩnh”, “chệch hướng”…

Bởi vậy trong tư cách một đảng chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam một khi đã đưa ra thông điệp “đổi mới chính trị gắn liền với đổi mới kinh tế” thì cần chỉ ra kẻ thù lớn nhất của đảng này không ai khác là những thành phần bảo thủ, giáo điều, lớn tiếng về ý thức hệ, hay nói chuyện lý luận để phán xét người đổi mới. Đây là những kẻ cơ hội nhất trong những kẻ cơ hội. Không làm được điều này thì mọi người sẽ nghi ngờ thông điệp đổi mới của đảng.

Nhận định về hiện trạng của bầu cử hiện nay tại Việt Nam, một tác giả mang bút danh Café Ban Mê viết trên trang blog Ba Sàm rằng nó không mang tính chính danh, một sự không chính danh đến từ bản thân nền chính trị Việt Nam,

000_Hkg10250097-400

Các đại biểu giơ thẻ hội viên trong lễ bế mạc đại hội đảng 12 tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 1 năm 2016. AFP photo

Nói đến chính trị ở Việt Nam là một sự dè dặt, sợ sệt, không chỉ ở phía người dân mà ngay cả đối với các lãnh đạo trong nội bộ Đảng, từ đó tạo nên những vùng tối, vùng cấm hoặc những vùng mờ ảo mà người dân không còn muốn quan tâm tới các hoạt động chính trị. Dẫn đến quy trình, thủ tục bầu cử ra sao không được sự giám sát, quan tâm của người dân. Những con số hơn 90%, 100% phiếu bầu gần như trở thành những con số bình thường mặc dù điều đó nói lên sự phản khoa học, phản dân chủ trong một cộng đồng xã hội thực tế luôn đa dạng, luôn tồn tại tính đa nguyên.

Việc đi bầu cử đại biểu Quốc Hội là một hoạt động được coi là trực quan nhất, gần gũi nhất, nó thuộc vùng sáng hơn cả, tuy nhiên nó lại được bao bọc, chi phối bới các vùng tối, vùng mờ ảo và chúng ta sẽ không thể biết chắc chắn được vùng sáng đó là trung thực, phản ánh đúng sự lựa chọn của người dân hay không.

Và Quốc hội Việt Nam hiện nay với đại đa số là đảng viên cộng sản được Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc đặt tên là một chi bộ đảng mở rộng.

Những người tự ứng cử hoàn toàn biết được rằng Quốc hội Việt Nam hiện nay là một chi bộ đảng mở rộng như lời Giáo sư Quốc, nhưng họ vẫn quyết định ra ứng cử dù gặp nhiều trở ngại, là vì theo tác giả Vũ Hoàng Anh viết trên blog Ngàn Lau rằng,

Họ muốn tạo ra một sân chơi tranh luận tại Quốc Hội với hy vọng thức tỉnh những cái đầu đã bị mê ngủ bấy lâu nay với cái tự sướng mà không dám nhìn rõ sự thật của đất nước này. Họ muốn tạo ra nền móng dân chủ cho thế hệ kế tiếp. Họ muốn thế giới thấy được cái dân chủ giả hiệu trước và sau khi có sự tham dự của các ứng cử viên độc lập thì nền dân chủ này cũng chỉ là dân chủ giả hiệu bởi sẽ hoàn toàn không có dân chủ thật sự dưới cái cơ chế của hôm nay.

Một người đang sống ở nước ngoài là Bùi Nghĩa ca ngợi sự can đảm của những người này là phải vô cùng cố gắng trong một tình thế gần như hoang tưởng để có thể hưởng một không khí bầu cử và ứng cử như những quốc gia tự do khác.

Những gì cần phải làm

Đa số những người tự ra ứng cử trong mùa xuân năm nay là những người hoạt động mạnh mẽ trong các nhóm xã hội dân sự phát triển trong thời gia gần đây. Tuy vậy, theo blogger Nguyễn Vũ Bình, còn có rất nhiều khuyết điểm trong các nhóm  hoạt động xã hội và dân chủ đó,

Có thể nói, ngoài sự thống nhất về những mục đích rất lớn là dân chủ và nhân quyền thì những gì còn lại là một sự hỗn loạn trong nhận thức. Chúng ta hầu như không thống nhất được với nhau về thực trạng tình hình đất nước, về tình hình phong trào dân chủ, về nguyên nhân của những vấn nạn hiện nay và cuối cùng là về giải pháp để giải quyết các vấn nạn của đất nước. Là một người tham gia vào phong trào dân chủ khá lâu, tiếp xúc với rất nhiều người đấu tranh dân chủ đủ mọi lứa tuổi và thành phần, cá nhân tôi nhận thấy, sự khác biệt, chia rẽ và hỗn loạn trong nhận thức là một thực trạng nhức nhối của phong trào dân chủ Việt Nam.

Sự kiêu ngạo và bảo thủ, hướng ngoại và hình thức. Kiêu ngạo và bảo thủ khiến cho chúng ta không nhìn nhận được những hạn chế, sai sót và khiếm khuyết để bổ túc kịp thời, sửa chữa những sai lầm trong nhận thức. Hướng ngoại và hình thức thì không thể đi sâu tìm hiểu bản chất sự việc, khó tiếp cận được với dòng chảy của sự thật.

Nhận định về những gì mà người Việt Nam hiện nay cần phải làm để đi đến một xã hội tốt hơn, blogger Trần Minh Khôi cho rằng có một điều quan trọng là cần rút ngắn khoảng cách về nhận thức chính trị và dân chủ giữa một tầng lớp tinh hoa ở đô thị và những người lao động:

“ Cái khoảng cách giữa trí thức đô thị và người lao động ở vùng ngoài đô thị sẽ quyết định tính chất của một cuộc chuyển đổi chính trị xã hội, ở đây là dân chủ hoá. Ở Việt Nam, tại thời điểm này, khoảng cách này rất lớn.
– Blogger Trần Minh Khôi”

Cái khoảng cách giữa trí thức đô thị và người lao động ở vùng ngoài đô thị sẽ quyết định tính chất của một cuộc chuyển đổi chính trị xã hội, ở đây là dân chủ hoá. Ở Việt Nam, tại thời điểm này, khoảng cách này rất lớn. Và đây là điều đáng lo ngại nhất: ngay cả khi những đòi hỏi về quyền của trí thức đô thị, như các quyền tự do căn bản, được đáp ứng thì vấn đề công lý cho người lao động ngoài đô thị vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Điều quan trọng này cần được lặp lại: các quyền tự do căn bản tự chúng không giải quyết được vấn đề công lý cho người lao động. Đây chính là lý do tại sao vận động xã hội trở nên bức thiết. Nó giúp rút ngắn khoảng cách nhận thức giữa những công dân của một quốc gia.

Nhắn gửi những người hoạt động dân chủ đang dấn thân tại Việt Nam, blogger Nguyễn Lân Thắng nói rằng đối diện với một chế độ độc tài thì không bao giờ dễ dàng, nhưng ông tin  rằng khao khát tự do và mong ước được sống trong một xã hội bình đẳng, tôn trọng phẩm giá con người là những giá trị tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam chúng ta.

Còn nhà văn Nguyễn Đình Ấm thì cho rằng phong trào tự ứng cử đang là cơ hội vàng để Đảng Cộng sản Việt Nam “lặng lẽ” chuyển sang thể chế dân chủ, là chiến lược duy nhất để xây dựng đất nước hùng cường.

“Đội quân hacker” của Việt Nam chỉa mũi nhọn sang Mỹ và Pháp

Đôi lời: Đúng ngày này, ba năm trước, ngày 8-3-2013, “một đội quân hacker bí mật, ủng hộ chính phủ”, đã tấn công vào máy tính của tôi (Ngọc Thu), trước khi hack vào trang Ba Sàm và chiếm quyền kiểm soát trang này trong một thời gian. Sau khi tấn công vào máy tính của tôi, chúng đã lấy cắp một số thông tin, hình ảnh, rồi giả danh tôi viết một bài “tự thú”, trong đó chúng trộn những thông tin, hình ảnh thật với những thông tin, hình ảnh giả, nhằm đánh lừa các độc giả.

Kỷ niệm 3 năm, ngày tin tặc “chúc mừng” tôi nhân ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, xin được giới thiệu lại bài viết của phóng viên AP, Chris Brummitt, nói về cuộc tấn công này. Sau khi bị tấn công, tôi đã chuyển tất cả những chứng cứ mà hacker để lại trong máy tính của tôi, cho ông Morgan Marquis-Boire, là nhà nghiên cứu của Đại học Toronto, từng là nhà nghiên cứu tin tặc của Google. Ông Morgan là người đã trực tiếp điều tra vụ tấn công này.

Nhân dịp này, cũng xin được cám ơn một vị ân nhân ẩn danh, đã giúp tôi lấy lại trang Ba Sàm. Hai lần trang Ba Sàm bị tấn công và chiếm quyền kiểm soát trước đây, tôi không gặp trở ngại khi lấy lại, nhưng lần tấn công này, do tin tặc đã chiếm quyền kiểm soát tất cả các hộp thư của tôi, nên tôi không thể liên lạc với WordPress lấy lại. Vị ân nhân này đã liên lạc với Matt Mullenweg, là người sáng lập trang mạng xã hội WordPress, giúp tôi lấy lại trang Ba Sàm, gỡ bỏ bài viết giả danh của tin tặc.

8-3-2016

___

“Đội quân hacker” của Việt Nam chỉa mũi nhọn sang Mỹ và Pháp

Tác giả: Chris Brummitt/AP

Dịch giả: Lê Anh Hùng

20-01-2014

Trong bức ảnh ngày 14.5.2013 này, ba cô gái Việt Nam sử dụng laptop và điện thoại thông minh để lên mạng tại một quán cà phê ở Hà Nội. Các nhà hoạt động dân chủ và blogger Việt Nam đang chiến đấu chống lại một chiến dịch ngăn chặn, hack và do thám mà một đội quân bí mật ủng hộ chính phủ tiến hành trên mạng. Mặc dù họ không thể chứng minh được điều đó, song các nhà hoạt động và chuyên gia phân tích rất nghi ngờ sự dính líu của chính phủ Việt Nam trong chiến dịch, vốn đang kìm hãm phong trào dân chủ ở đất nước này. Ảnh: (AP Photo/Na Son Nguyen, File)

HÀ NỘI, Việt Nam (AP) – Một hôm, khi đang làm việc với blog của mình ở California, nhà hoạt động dân chủ Ngọc Thu bỗng cảm thấy có điều gì đó không ổn. Gõ bàn phím thì phải sau một lúc máy tính mới tiếp nhận. Lệnh cắt-dán thì không thực hiện được. Cô có “cảm giác như có ai đó” bên trong máy tính của mình. Trực giác của cô hoá ra là đúng.

Vài hôm sau, một số email và ảnh cá nhân của cô bị đăng trên chính blog đó, cùng với những thông điệp bôi nhọ. Cô không thể xoá chúng; cô bị chặn khỏi blog của mình một số ngày trong khi những kẻ tấn công tiếp tục đăng lên những thông tin chi tiết về đời tư.

“Họ khiến tôi và gia đình tôi bị tổn thương. Họ hạ nhục chúng tôi, để chúng tôi không làm việc với blog nữa”, cô Ngọc Thu – một công dân Mỹ – chia sẻ. Cô đã trở lại với việc đăng tải blog, nhưng giờ thì chính quyền Việt Nam lại chặn blog của cô.

Các nhà hoạt động và chuyên gia phân tích rất nghi vai trò của nhà cầm quyền Việt Nam trong vụ tấn công đó, cũng như hàng loạt vụ tấn công tương tự.

Theo họ, một đội quân hacker bí mật ủng hộ chính phủ đang chặn, hack và do thám các nhà hoạt động người Việt Nam trên khắp thế giới hòng cản trở phong trào dân chủ ở đất nước này.

Các chuyên gia IT đã điều tra vụ cô Ngọc Thu bị tấn công vào năm ngoái; họ cho biết, bọn hacker đã bí mật kiểm soát hệ thống của cô sau khi cô bấm vào một link chứa mã độc mà ai đó gửi cho cô qua email. Bằng cách cài đặt phần mềm theo dõi thao tác bàn phím, các hacker đã nắm được password và xâm nhập vào các tài khoản cá nhân của cô.

Cuộc điều tra tiếp theo còn phát hiện ra rằng một bản nâng cấp của phần mềm chứa mã độc kia, do chính nhóm đó gửi, đã được phát tán qua email tới ít nhất là 3 người khác: một phóng viên AP ở Hà Nội; một giáo sư toán học và là nhà hoạt động dân chủ người Việt ở Pháp; và một thành viên người Mỹ của tổ chức bảo vệ nhân quyền trên mạng Electronic Frontier Foundation (EFF) hiện đang sống ở Mỹ. Tuy nhiên, không một ai trong ba người này bấm vào cái link đó cả.

Đây dường như là vụ việc đầu tiên được ghi lại bằng chứng về hiện tượng những người ngoài quốc tịch Việt Nam bị tấn công bởi một nhóm hacker ủng hộ chính phủ, vốn đã thực hiện nhiều vụ tấn công nằm ngoài biên giới Việt Nam. Hoạt động của nhóm này dường như đã vi phạm pháp luật, ít nhất là ở Mỹ.

“Các bạn thấy là người ta đang tiến hành các chiến dịch nhằm vào những tiếng nói bất đồng chính kiến người Việt Nam ở những khu vực cách biệt về địa lý. Giờ thì chúng ta đã nhận ra một sự leo thang nhằm vào những người đưa tin về những tiếng nói như vậy.” Đó là nhận định của Morgan Marquis-Boire, nhà nghiên cứu của Đại học Toronto và là nhà hoạt động bảo vệ quyền riêng tư trên mạng, người đã phân tích mã độc và công bố phát hiện của mình với EFF. “Đây không thể là việc làm của một cá nhân cơ hội chủ nghĩa.”

Những nghi vấn về sự dính líu của nhà nước một phần là dựa trên thực tế theo đó những kẻ tấn công đã bỏ hàng chục ngàn dollar để thuê máy chủ ở nhiều nơi trên thế giới rồi từ đó phát động các vụ tấn công, thường là thay đổi chúng sau vài ngày. Theo Diêu Hoàng (một kỹ sư máy tính ở Australia, người vẫn đang cùng với một số nhà hoạt động khác giúp bảo vệ các nhà hoạt động Việt Nam trên mạng) thì điều này là vì những kẻ tấn công hiểu rằng các nhà hoạt động sẽ yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ gỡ bỏ các vụ tấn công kia.

Những nỗ lực theo dõi và sách nhiễu người bất đồng chính kiến trên mạng là sự phản chiếu nỗ lực của chính quyền hòng trấn áp họ ngoài đời thực, nơi các nhà hoạt động vẫn phản ảnh về tình trạng các nhân viên nhà nước thường xuyên sách nhiễu họ, thậm chí đôi khi còn dùng cả bạo lực. Theo tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch, năm 2013 nhà nước Việt Nam đã kết án ít nhất 63 blogger và các nhà hoạt động dân chủ ôn hoà khác về các tội hình sự.

Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt khi tìm cách do thám hoạt động thông tin liên lạc điện tử, như những tiết lộ gần đây về hoạt động của Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) ở Mỹ đã cho người ta thấy. Tuy nhiên, hoạt động của Việt Nam lại gây ra quan ngại đặc biệt bởi bức tranh toàn cảnh về nhân quyền của họ.

Khi được đề nghị bình luận về những nghi vấn liên quan đến sự dính líu của nhà nước trong hoạt động giám sát có chủ đích, cũng như vụ tấn công nhằm vào phóng viên AP, chính phủ Việt Nam đã đưa ra tuyên bố ngắn gọn sau: “Việt Nam chia sẻ mối quan tâm của các quốc gia khác trong việc đảm bảo an ninh cho mạng Internet và sẵn sàng hợp tác với các quốc gia khác trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm công nghệ cao nói chung và tội phạm Internet nói riêng.”

Việc trấn áp bất đồng chính kiến trên mạng tại Việt Nam trở nên khó khăn hơn vì mức độ sử dụng Internet ở đây đang tăng mạnh. Gần 40% trong tổng dân số 90 triệu người của Việt Nam có cơ hội tiếp cận Internet, và vì Việt Nam không hiệu quả như Trung Quốc trong việc hạn chế cơ hội tiếp cận đó, nên nhiều người vẫn xem được những tin tức không bị kiểm duyệt. Những người bất đồng chính kiến có thể liên kết với nhau và công khai hoá hoạt động của mình – cũng như hoạt động trấn áp của nhà nước – khá dễ dàng.

Các chuyên gia nghiên cứu về an ninh mạng đã phát hiện ra những chỉ dấu về việc Hà Nội có thể đang xứng phó với mối thách thức này như thế nào.

Năm 2010, Google và McAfee xác nhận rằng phần mềm mã độc đã được sử dụng để do thám hàng chục nghìn người Việt Nam đang sử dụng Internet. McAfee nói những kẻ tấn công “khả dĩ có một mức độ trung thành nào đó” với chính phủ Việt Nam. Năm ngoái, một nhóm nghiên cứu do Marquis-Boire (người cũng là kỹ sư an ninh mạng của Google) dẫn đầu đã tiết lộ bằng chứng cho thấy một phần mềm do thám mang tên FinFisher đang được sử dụng để theo dõi thông tin liên lạc qua thiết bị di động của các nhà hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam, thông qua các cơ quan truyền thông nhà nước, thừa nhận là đã chặn hàng ngàn “trang mạng và blog xấu, độc hại”, và các trang mạng của họ cũng bị tấn công, mà người ta cho là từ những người đồng cảm với giới bất đồng chính kiến. Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, phát biểu hồi năm ngoái rằng cơ quan này đã sử dụng tới 900 người để chống lại sự chỉ trích trên mạng.

Vụ tấn công nhằm vào blog của cô Ngọc Thu cho thấy biện pháp hack và chặn các trang mạng có thể trở thành “song kiếm hợp bích” hữu hiệu như thế nào để chặn đứng sự chỉ trích.

Blog mang tên “Ba Sàm” nói trên là một trong những xuất bản phẩm bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất. Nó chuyển tải những tin tức, quan điểm, video và hình ảnh liên quan đến Việt Nam mà truyền thông nhà nước không bao giờ đụng tới. Sau khi blog bị hack, cô Ngọc Thu phải mất một tuần mới giành lại được quyền kiểm soát, chuyển nó sang địa chỉ mới và đưa lên mạng trở lại.

Vài tuần sau, nhà chức trách Việt Nam bắt đầu ngăn chặn người sử dụng mạng trong nước truy cập vào Ba Sàm. Giờ đây, để xem blog này, người Việt Nam ở trong nước phải sử dụng một máy chủ proxy (proxy server), một kỹ thuật tương đối phổ biến để tránh kiểm duyệt nhưng đòi hỏi hỏi người sử dụng phải nắm được một vài bí quyết. Điều này cũng có nghĩa là lượng người xem blog ít đi.

Cô Ngọc Thu nói số lượt truy cập (page-view) suy giảm đáng kể, và cô buộc phải đóng phần bình luận vốn rất được ưa chuộng của mình bởi một chiến dịch lạm dụng và spamming (tin rác) có tổ chức nhằm vào phần đó.

“Quá nhiều rắc rối đến từ phần bình luận này”, cô nói. “Họ gửi cho tôi những thông điệp đe doạ, nói rằng ‘Tao sẽ đến thăm mày ở California.’”

Hack một trang mạng rồi sau đó chặn nó lại là một thủ thuật quen thuộc, Diêu Hoàng nói.

“Việc thay đổi giao diện và bôi nhọ do một lực lượng giấu mặt thực hiện phi chính thức”, anh nói. “Còn thế lực chính thức thì tiến hành chặn.”

Hầu như tất cả các phần mềm chống virus thương mại không phát hiện nổi thứ mã độc mà cô Ngọc Thu và những người khác nhận được. Các email kèm theo link chứa mã độc mà người ta gửi tới phóng viên AP thể hiện một ý đồ và mức độ chủ đích nào đó: một email tự nhận là từ Human Rights Watch, email còn lại là từ Oxfam. Hai email này được gửi vào tháng 11 và tháng 12 năm ngoái.

Chứng minh sự dính líu của nhà nước Việt Nam trong các vụ tấn công là một việc khó.
“Thông thường, việc chỉ ra chủ thể đứng sau là chuyện không hề dễ dàng. Điều này còn khó hơn nhiều so với việc mổ xẻ mã độc”, Eva Galperin – nhà hoạt động của EFF nhận được link chứa mã độc – nhận xét. “Tôi nghĩ nghi vấn là có cơ sở; tuy nhiên, tôi không nói được là tôi biết chính phủ Việt Nam đứng đằng sau chuyện này.”

Trong khi một số nhóm hoạt động ở hải ngoại tổ chức các khoá đào tạo về an ninh mạng cho các thành viên của mình thì giới hacker dường như sẽ giành chiến thắng, Diêu Hoàng nói.

“Xét về thời gian và nỗ lực, lực lượng và tiền bạc, chúng tôi không thể sánh với họ. Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ kiệt sức. Họ kìm hãm dân chúng, khiến người ta chán nản, khiến người ta sợ hãi. Họ sẽ khiến cho ngày càng ít người thể hiện chính kiến của mình.”

Nguồn: Lê Anh Hùng

Đoàn Hòa bình Mỹ đã bước vào tuổi 50 (The US Peace Corpsat its 50 th)

Đoàn Hòa bình Mỹ đã bước vào tuổi 50 (The US Peace Corpsat its 50 th)

Anniversary 1961 – 2011)

 Bài viết của Đoàn Thanh Liêm

Được thiết lập vào năm 1961, ngay trong những ngày đầu của

nhiệm kỳ Tổng thống John F Kennedy, đến năm 2011 này Đòan

Hòa bình đang hân hoan tổ chức kỷ niệm sinh nhật lần thứ 50,

thông qua rất nhiều chương trình sinh họat trong các lãnh vực

chính trị, xã hội và văn hóa nghệ thuật. Tính ra, trong vòng 50 năm

qua, đã có tổng cộng trên 200,000 thanh niên sinh viên Mỹ tự

nguyện tham gia phục vụ trong khuôn khổ họat động của Đòan

Hòa bình tại 139 quốc gia trên khắp thế giới.

Qua nửa thế kỷ với biết bao đổi thay, mà Peace Corps vẫn trung

thành với ý hướng căn bản đã được xác định ngay từ thuở ban đầu,

đó là góp phần xây dựng hòa bình và tình thân hữu trên thế giới,

thông qua 3 mục tiêu đơn giản, mà cũng thật lớn lao như sau:

1/ Giúp nhân dân các quốc gia liên hệ trong việc đào tạo chuyên

môn;

2/ Giúp nhân dân các nước hiểu rõ hơn về dân tộc Mỹ; và

3/ Giúp người dân Mỹ hiểu biết rõ hơn về các dân tộc khác.

Năm 2011, Peace Corps cũng đặc biệt tưởng nhớ đến công lao vĩ

đại của vị Giám đốc tiên khởi của mình, đó là Luật sư Sargent

Shriver, người em rể của Tổng thống Kennedy và là thân phụ của

Maria Shriver cựu Đệ nhất Phu nhân của California. Ông vừa qua

đời vào tháng Giêng 2011 ở tuổi thọ 95.

Nhằm cung ứng đến quý bạn đọc những chi tiết đáng ghi nhớ của

Peace Corps, người viết đã tham khảo nhiều thông tin trên Internet

và đặc biệt là tìm đọc trong cuốn sách mới nhất do nhà xuất bản

Beacon Press phát hành vào đầu năm 2011 của tác giả Stanley

Meisler, dưới nhan đề

When The World Calls – The Inside Story of The Peace Corps

And Its First Fifty Years. (Khi Thế giới Kêu gọi – Câu chuyện

bên trong của Đòan Hòa bình và Năm mươi Năm Đầu tiên của

Đoàn). Cuốn sách dài 272 trang, bìa cứng.

I – Sự nô nức hăng say phấn khởi của thanh niên Mỹ.

Thanh niên Mỹ đã thật sự sôi nổi nô nức trước lời kêu gọi hùng

hồn của Tổng thống Kennedy trong bài diễn văn nhậm chức vào

tháng Giêng năm 1961, lời kêu gọi bất hủ đó như sau : “Các bạn

đừng hỏi quốc gia có thể làm gì cho bạn, mà hãy hỏi bạn có thể

làm gì cho quốc gia của bạn” (Ask not what your country can do

for you, ask what you can do for your country). Và họ đã đua nhau

tự nguyện gia nhập Đoàn Hòa bình để đi đến phục vụ tại các quốc

gia xa lạ ở Phi châu, Á châu,châu Mỹ Latinh… Họ phải học nói

được ngôn ngữ của nước sở tại và nhất là phải sống trong những

điều kiện cực kỳ thiếu thốn khắc nghiệt của người dân địa phương.

Nhưng với tính tình hồn nhiên cởi mở của tuổi trẻ, với tấm lòng

hăng say nhiệt thành theo đuổi lý tưởng phục vụ nhân quần xã hội,

phần đông những thanh niên Mỹ này đã lần hồi vượt qua được mọi

thử thách, và tạo được sự thông cảm quý mến của các dân tộc nơi

họ sinh sống qua sự tự nhiên chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân

cũng như kiến thức và kỹ năng chuyên môn.

Khởi đầu với con số 3,000 đòan viên, Peace Corps từ năm 1964 trở

đi mỗi năm đã có đến trên 10,000 thiện nguyện viên, và con số

mấy năm gần đây từ 2003 đến 2009 trung bình ở vào khỏang gần

8,000 đòan viên.

II – Một số trường hợp điển hình ngộ nghĩnh tại miền đất xa xôi.

1/ Ông “Tổng thống Peace Corps”. Năm 1964, cô Nancy Deeds

được một gia đình người xứ Peru, Nam Mỹ cho ở chung trong nhà

tại làng đánh cá Chimbote phía bờ biển Thái bình dương. Cậu bé

Alejandro Toledo con trai chủ nhà có dịp học thêm tiếng Anh bằng

cách dậy tiếng Tây ban nha cho Nancy. Ít năm sau, cậu được qua

Mỹ học và được Nancy giúp đỡ hướng dẫn lúc học ở San

Francisco. Và với sự cố gắng phi thường cậu đã thành công với

bằng cao học và tiến sĩ về môn kinh tế học. Toledo đã lần lượt làm

việc cho Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Đại học Harvard,

Đại học Waseda ở Nhật và làm cố vấn kinh tế cho chính phủ nước

Peru… Vào năm 2000, ông còn được bầu vào chức vụ Tổng thống

của nước Peru nữa. Trong dịp gặp gỡ với giới lãnh đạo Peace

Corps tại Washington, Tổng thống Toledo đã xác nhận: “Một mảng

lớn con đường tôi trải qua – từ việc học tập và đi ra khỏi cái làng

tồi tàn Chimbote – thì Peace Corps đều có liên hệ với những

chuyện đó… Quý vị đều có trách nhiệm cho cái ông Tổng thống

này!”

2/ Những y tá người Mỹ của Peace Corps tại Afghanistan đã hết

sức tận tâm săn sóc bênh nhân địa phương, đến nỗi đã tạo được sự

chuyển biến rõ rệt trong lề lối phục vụ của các y tá bản xứ, vốn

xưa nay ít bị xúc động trước nỗi đau đớn bất hạnh quá dồn dập

trong đời sống thường ngày của đồng bào mình.

Alice O’Grady là một trong nhóm Peace Corps đầu tiên đến dậy

học ở xứ Ghana Phi châu từ năm 1961. Năm 1968 cô trở lại dậy

môn khoa học tại đây trong 4 năm. Năm 2008 Alice trở lại thăm

Ghana, thì được các học viên cũ – nay đã là những bác sĩ, kỹ sư rất

thành đạt – họ góp tiền lập một quỹ học bổng lấy tên cô giáo

“Alice O’Grady” để giúp cho thế hệ đàn em có cơ hội học tập tốt

hơn, và họ còn gửi vé may bay mời cô qua tham dự lễ trao học

bổng cho sinh viên đầu tiên được trúng giải. Trong buổi lễ trao học

bổng này, các cựu học viên đã hết lòng ca tụng “sự tận tâm, kỷ luật

và hăng say của cô giáo O’Grady là người đã nhóm lên ngọn lửa

say mê kiến thức khoa học cho lớp môn sinh của cô trên 40 năm

trước…”

3/ Niên lịch của Nhóm Cựu Thiện Nguyện Viên Peace Corps ở

Madison, Wisconsin.

Sau khi hết thời hạn phục vụ ở ngọai quốc, các thiện nguyện viên

trở về Mỹ thường tụ họp lại với nhau thành từng Nhóm Ái hữu, để

ôn lại những kỷ niệm và còn tìm cách phát triển và củng cố những

mối liên hệ thân thiết với các bạn từ những khu vực mà họ làm

việc, thông qua vô số những dự án nho nhỏ về giáo dục, về cải tiến

dân sinh tại các địa phương. Các nhóm Ái hữu này gia nhập tổ

chức National Peace Corps Association mà hiện nay có đến khoảng

30,000 thành viên (Hiệp hội quốc gia Peace Corps).

Riêng Nhóm Cựu Thiện nguyện viên ở thành phố Wisconsin lại có

một sáng kiến độc đáo là kêu gọi các bạn trên tòan quốc gửi hình

ảnh sinh họat tại các quốc gia để nhóm thực hiện cuốn lịch mỗi

năm và đem bán để gây quỹ giúp một số công trình tại các địa

phương. Trong loại niên lịch này, có nhiều chi tiết đáng chú ý, điển

hình như January 6 là Maroon Day ở Jamaica, April 27 là Lễ Độc

lập xứ Togo, July 13 là Jagannah Festival ở Ấn độ, và November 9

là Sinh nhật của Sargent Shriver. Kể từ năm 1988 đến nay, số thu

nhập từ việc bán các niên lịch này đã lên tới tổng cộng gần 1 triệu

US dollar. Và trong năm 2008, số tiền thu nhập được sử dụng để

mua máy quay roneo cho trường Tubman ở Liberia, xây dựng 15

nhà vệ sinh tại Cộng hòa Dominica, giúp đào tạo nữ hộ sinh tại

Moroco, bảo trợ câu lạc bộ chơi cờ ở Bolivia và yểm trợ một phần

cho 65 dự án nhỏ ở các nơi khác.

III – Peace Corps giữa thời kỳ chiến tranh lạnh.

Trong các thập niên 1960, 70 và 80, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh

đoàn viên Peace Corps ở nhiều nước thường gặp khó khăn do sự

tuyên truyền chống Mỹ của phe cộng sản. Cụ thể như vào năm

1961, chuyện tấm bưu thiếp của cô Margery Michelmore gốc từ

Boston gửi cho người bạn trai, trong đó cô mô tả về chuyện người

dân Ghana nấu ăn ngòai phố, buôn bán ngòai đường và cả đi vệ

sinh ở ngòai đường nữa. Tấm postcard này không hiểu làm sao lại

rơi vào tay người khác ở Ghana và liền bị sao chụp thành nhiều

bản để tung ra cho giới sinh viên học sinh ở thủ đô Accra. Từ đó

mà đã gây ra cả một chiến dịch rất mãnh liệt tố cáo “đế quốc Mỹ”

với lời hô hào vang dội khắp nơi “Yankees, go home” ( người Mỹ,

hãy cút về nước).

Tuổi trẻ vốn ngây thơ, hồn nhiên, nên các đoàn viên Peace Corps

tuy tự nguyện đi phục vụ tại nước ngoài, nhưng vẫn giữ tinh thần

độc lập, không muốn để cho mình trở thành “công cụ của chính

sách ngọai giao của chính quyền Mỹ”. Vì thế mà có sự đối kháng

căng thẳng trong mối liên hệ giữa Peace Corps và giới lãnh đạo

chính phủ Mỹ ở Tòa Bạch ốc. Điển hình như mấy trường hợp sau

đây:

1/ Phản đối việc quân đội Mỹ xâm chiếm Cộng hòa Dominica.

Năm 1965, nhân cuộc nội chiến tại địa phương, chính quyền

Johnson đã phái quân đội đổ bộ lên đảo quốc Dominica. Một số

đoàn viên Peace Corps đã không chịu di tản theo lệnh của tòa Đại

sứ, ở lại chăm sóc các nạn nhân tại thành phố thủ đô Santo

Domingo, và họ còn tỏ ra có thiện cảm với “phe nổi dậy” mà bị

chính quyền Mỹ đang tìm cách dẹp bỏ. Thái độ ngoan cường bất

tuân mệnh lệnh của các đoàn viên này đã làm Tổng thống Johnson

hết sức giận dữ và rút cuộc đã bắt đầu tìm cách thay thế cả vị Giám

đốc đày uy tín Sargent Shriver nữa. Sự kiện này chứng tỏ Peace

Corps tuy do chính phủ Mỹ lập ra và tài trợ, nhưng tổ chức này vẫn

giữ được vị thế độc lập riêng biệt của mình, chứ không chịu răm

rắp đứng trong khuôn khổ chật hẹp của nền ngọai giao Mỹ. Đây rõ

rệt là một đơn vị thuộc khu vực xã hội Dân sự, chứ không phải là

một cơ sở thuộc chính quyền Nhà nước.

2/ Peace Corps cũng không chịu qua Việt Nam và Lào

Đầu năm 1966, Tổng thống Johnson yêu cầu giới lãnh đạo Peace

Corps phải nghiên cứu việc đưa các đoàn viên sang công tác ở Lào

và Việt Nam. Nhưng sau chuyến đi khảo sát tình hình tại chỗ của

hai nhân viên đặc trách về khu vực Viễn Đông, Peace Corps đã

quyết định không tiến hành chương trình hoạt động tại hai quốc gia

này, bất kể chỉ thị của vị Tổng thống đầy quyền uy lúc đó. Cũng có

thể là vì hồi đó tại Việt nam đã có Đòan Thanh niên Chí nguyện

Quốc tế (IVS = International Voluntary Service) đã từ Mỹ đến họat

động sẵn từ năm 1957 rồi, nên Peace Corps xét thấy nên dành ưu

tiên cho những quốc gia khác chăng.

Đàng khác, nhiều đoàn viên Peace Corps lại còn tham gia tích cực

vào phong trào chống đối cuộc chiến tranh Việt Nam mỗi ngày một

sôi nổi lan rộng khắp nước Mỹ hồi cuối thập niên 1960 nữa. Và vì

sự chống đối này, mà Tổng thống Nixon rất giận dữ đến nỗi muốn

tìm cách dẹp bỏ cả Peace Corps đi. Nhưng vì sau năm 1972, ông

bị rắc rối nặng nề với chuyện Watergate, nên đã không thể làm gì

với ý muốn dẹp bỏ tổ chức này được nữa.

Tại nhiều quốc gia khác ở Phi châu, cũng như ở châu Mỹ Latinh,

các đoàn viên Peace Corps cũng gặp phải những khó khăn tương tự

phát xuất từ thái độ bài Mỹ và nhất là do ảnh hưởng của những

lãnh tụ marxist quá khích như Fidel Castro, Ché Guevara… Nhưng

kể từ khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt và sau khi Liên Xô giải

thể vào đầu thập niên 1990, Peace Corps đã có thể họat động tương

đối êm thắm thoải mái hơn lúc ban đầu vào thập niên 1960 – 70 rất

nhiều.

Ngân sách của Peace Corps vào năm 2010 vừa được Quốc hội Mỹ

thông qua đã lên tới 400 triệu dollar, nhiều hơn con số 373 triệu mà

Tổng thống Obama đề nghị với Quốc hội. Sự kiện này chứng tỏ

Peace Corps vẫn còn giữ được tín nhiệm lớn lao trong công luận

của nước Mỹ ngày nay vậy.

IV – Nhận định tổng quát về Peace Corps trong nửa thế kỷ qua.

Peace Corps được đánh giá là một thành tựu lâu bền đáng kể nhất

của chính phủ do Tổng thống Kennedy lãnh đạo. Chương trình này

được đa số người dân Mỹ ủng hộ tán thành và đã liên tục phát triển

và hoàn thiện cho đến ngày nay qua thế kỷ XXI.

1/ Giới truyền thông báo chí Mỹ vốn chuyên môn xét nét moi móc

những sai sót của chính quyền và không ngớt chỉ trích các nhân vật

trong giới lãnh đạo xã hội được coi như là những khuôn mặt của

công chúng (public figures). Nhưng nói chung, họ lại có thiện cảm

với việc làm của những thiện nguyện viên trẻ tuổi của Peace Corps

trên khắp thế giới, và họ đã mô tả khá chi tiết về các thành tựu và

ảnh hưởng của Peace Corps tại các quốc gia nơi Peace Corps có

chương trình hoạt động.

2/ Và giới báo chí tại các quốc gia địa phương nói chung cũng đều

đánh giá cao họat động của Peace Corps và đặc biệt là tác phong

cởi mở hòa nhã và hăng say phục vụ của các thiện nguyện viên.

Sự phản ánh dư luận báo chí ở Mỹ cũng như trên thế giới như thế

rõ ràng đã chứng minh được rằng Peace Corps đã đạt được mục

tiêu chính yếu của mình đã đề ra lúc khởi đầu, đó là : “Giúp cho

các dân tộc trên thế giới hiểu rõ hơn về người Mỹ”.

Tại quê quán và các đại học xuất phát của các thiện nguyện viên,

Peace Corps cũng đều nhận được sự yểm trợ và cảm tình rất bền

vững và các báo chí truyền thông địa phương cũng liên tục theo

dõi mọi công việc của thiện nguyện viên vốn là cư dân hay đồng

song với họ. Đó là một sự gắn bó liên kết chặt chẽ trong các cộng

đồng địa phương, nơi bản quán hay nơi trường học thân thương

yêu quý năm xưa (alma mater) của các thiện nguyện viên. Và như

vậy là Peace Corps đã “Giúp người dân Mỹ hiểu biết hơn về thế

giới” như là một mục tiêu đã được đưa ra lúc ban đầu.

3/ Con số đồ sộ của trên 200,000 Cựu Thiện nguyện viên đã là một

lực lượng tinh thần vĩ đại góp phần thật đáng kể trong việc làm

thay đổi nếp suy nghĩ và tình cảm của dân tộc Mỹ trước một thế

giới bao la rộng lớn với tất cả sự phong phú về văn hóa, lịch sử

phong tục, ngôn ngữ và với một tiềm năng vô biên của các quốc

gia đang vươn lên trên trường quốc tế ngày nay ở thế kỷ XXI.

Nhân tiện cũng xin ghi ra một số nhân vật nổi bật xuất thân từ

hàng ngũ của các Thiện nguyện viên Peace Corps. Về mặt chính

trị, thì có 2 Thương nghị sĩ Liên bang, đó là Paul Tsongas của

Massachusetts (công tác ở Ethiopia), và Chris Dodd của

Connecticut ( công tác ở Cộng Hòa Dominica). Rồi đến rất nhiều

Dân biểu Liên bang, điển hình như: Mike Honda của California (El

Salvador), Thomas Petri của Wisconsin (Somalia), Tony Hall của

Ohio (Thailand), Mike Ward của Kentucky (Gambia), James Walsh

của New York (Nepal)… Các Thống đốc Jim Doyle của Wisconsin

(Tunisia), Bob Taft của Ohio (Tanzania). Cũng như các Thị trưởng

của Pittsburgh, San Angelo, Texas và Urbana, Illinois. Hai chục vị

Đại sứ xuất thân từ Peace Corps, điển hình như Christopher Hill

(Cameroon) là thương thuyết viên chính về năng lượng hạt nhân

với Bắc Triều Tiên, và Robert Gelbard là Đại sứ tại Bolivia từ

1988 đến 1991 rồi làm Phụ tá Bộ trưởng Ngọai giao từ năm 2009;

ông này hồi thập niên 1980 đã từng phục vụ trong đoàn Peace

Corps ở Bolivia.

Về số nhà văn, nhà báo xuất thân từ Peace Corps, thì cũng có rất

nhiều, mà điển hình nhất là: Paul Theroux (Malawi), Peggy

Anderson (Togo), Peter Hessler (China), Chris Matthews của

MSNBC (Swaziland), Karen De Witt của ABC News (Ethiopia),

Al Kamen của Washington Post (Dominican Republic)…

Riêng trong số người Mỹ gốc Việt thì phải kể đến tên tuổi của anh

Bùi Văn Phú hiện dậy học và viết báo tại Bắc California. Sau khi

tốt nghiệp Đại học Berkeley vào đầu thập niên 1980, anh Phú đã

gia nhập Peace Corps và được cử đi dậy môn vật lý tại Togo Phi

châu là cựu thuộc địa của Pháp, nên anh Phú lại được dịp học thêm

tiếng Pháp để làm việc tại đây từ năm 1983 đến 85. Sau này cũng

còn nhiều sinh viên gốc Việt Nam cũng gia nhập Peace Corps như

anh Phú nữa. Người viết sẽ tìm hiểu chi tiết thêm về các Thiện

nguyện viên gốc Việt và sẽ trình bày trong một dịp khác vậy.

California, tháng Tám 2011

 Đoàn Thanh Liêm

Hình: Anh Bùi Văn Phú những ngày làm tình nguyện viên của

Peace Corps ở Togo, Phi châu

Ủy Hội Venice vừa tròn 20 tuổi .

Ủy Hội Venice vừa tròn 20 tuổi .

(The Venice Commission 1990 – 2010)

Đòan Thanh Liêm

Vào ngày 10 tháng Năm 1990, sau khi bức tường Berlin xụp đổ, thì 18

quốc gia thuộc Hội Đồng Âu châu (Council of Europe) đã quyết định

thành lập một cơ cấu chuyên môn mệnh danh là “ Ủy Hội Âu châu Xây

dựng Dân chủ thông qua Luật pháp” (The European Commission for

Democracy through law). Ủy hội này thường cũng được gọi là Ủy hội

Venice, vì lý do thường hội họp tại thành phố Venice của nước Italia.

Mục đích ban đầu của Ủy hội là nhằm giúp đỡ các quốc gia vừa thóat

khỏi các chế độ độc tài tòan trị xây dựng được những bản Hiến pháp và

các đạo luật căn bản khác sao cho thích hợp với các tiêu chuẩn của Hội

đồng Âu châu : đó là Dân chủ, Nhân quyền và Nền Pháp trị (the rule of

law). Đây là một cơ quan tư vấn về các vấn đề liên hệ đến Luật Hiến

pháp, mà thành phần gồm các chuyên gia được bổ nhiệm trên cơ sở kinh

nghiệm của họ trong các định chế dân chủ, hay sự đóng góp của họ vào

trong lãnh vực tăng cường luật pháp và khoa học chính trị.

Hầu hết các quốc gia “ cựu cộng sản” mới gia nhập vào Hội đồng Âu

châu trong thập niên 1990, thì đều được Ủy hội giúp đỡ trong việc sọan

thảo Hiến pháp của mỗi nước và chuẩn bị để được chấp thuận gia nhập

vào làm một thành viên của Hội đồng.

Ngòai những bản văn Hiến pháp ra, Ủy hội Venice cũng quan tâm đến

những khía cạnh khác của quá trình dân chủ hóa, cụ thể như việc cải tổ

ngành lập pháp, cải tổ tư pháp, việc thiết lập tòa án hiến pháp cùng lề lối

điều hành, chế độ liên bang và khu vực địa phương, và cả việc chuẩn bị

pháp chế mới về bàu cử, và những luật lệ nhằm bảo vệ các sắc dân thiểu

số. Ủy hội cũng tập chú vào việc tìm kiếm những phương cách pháp lý

nhằm giải quyết những tranh chấp về chính trị có nguồn gốc từ sự mâu

thuẫn chủng tộc.

Ủy hội cũng thường thực hiện những cuộc nghiên cứu đối chiếu về

những vấn đề pháp lý hiện hành, và tổ chức các “ seminars UniDem”

(Universities for Democracy) và các khóa huấn luyện riêng về những đề

tài có tính cách quan trọng đối với các nước tham dự viên.

Từ ngày thành lập, Ủy hội đã được khắp quốc tế thừa nhân như là trung

tâm quy chiếu (reference) cho các tiêu chuẩn cao về dân chủ ở Âu châu.

Ủy hội đã đóng góp hàng mấy trăm những ý kiến và phát triển hàng mấy

chục những nghiên cứu, bô luật và bản hướng dẫn về vô số đề tài của

luật Hiến pháp. Với sự gia nhập của Mexico và Tunisia vào năm 2010

mới đây, thì Ủy hội hiện có 57 quốc gia là thành viên thực thụ, kể cả số

quốc gia thành viên không nằm trong Âu châu; với khả năng phục vụ về

chuyên môn cho 1300 triệu người dân. Từ năm 2002, Tòa Án Âu châu

về Nhân quyền (European Court of Human Rights –ECtHR) thường xin

Ủy hội cho ý kiến về pháp lý, và đã thỉnh ý Ủy hội trong hơn 45 vụ án.

Ủy hội cũng còn đóng vai trò nòng cốt trong việc thiết lập Hội nghị

Quốc tế về Công lý Hiến định (the World Conference on Constitutional

Justice) nhằm khai mở hệ thống án lệ tòan cầu về Nhân quyền, và tính

cách độc lập của ngành tư pháp trên khắp thế giới.

Năm 2004, Ủy hội đã cho xuất bản một bộ sách gồm 2 cuốn dày tới

2,000 trang với đày đủ tòan văn các bản Hiến pháp của 46 quốc gia

thuộc Âu châu. Bộ sách có nhan đề chính là :“ Constitutions of Europe”

với phụ đề là “ Texts collected by the Council of Europe Venice

Commission”. Đây là bộ sách đày đủ nhất về hiến pháp của các nước Âu

châu, mà được cập nhật hóa cho đến năm 2002, đặc biệt là của các quốc

gia cựu cộng sản, kể cả Cộng hòa Liên bang Nga hiện nay vào đầu thế

kỷ XXI.

Nhân tiện cũng xin lưu ý về sự khác biệt giữa tổ chức Hội đồng Âu châu

( Council of Europe CE) hiện có 47 quốc gia hội viên, thì khác với tổ

chức Liên Hiệp Âu châu (European Union EU) mà hiện mới có 27 quốc

gia thành viên.

Nhằm đánh dấu 20 năm ngày thành lập, Ủy hội Venice đã quyết định sẽ

tổ chức một buổi lễ Kỷ niệm thật long trọng vào ngày 5 tháng Sáu 2010

săp tới tại thành phố Venice, với sự tham dự của các nhà Lãnh đạo Quốc

gia và nhiều nhân vật cao cấp khác. Khi được giới truyền thông báo chí

phỏng vấn vừa đây, Vị Chủ tịch của Ủy hội là Gianni Buquichio đã phát

biểu trong một tinh thần phấn khởi lạc quan, đại khái như sau : “ Mối

thử thách đối với chúng ta ngày nay, đó chính là phải củng cố cho vững

chắc được cái nền tảng của tương lai dân chủ tại Âu châu và còn đi xa

hơn nữa, bằng cách bắt rễ thật chặt xã hội chúng ta vào với những giá trị

của di sản hiến định truyền thống của Âu châu, mà chúng ta sẽ tiếp tục

củng cố và phát triển hơn mãi.”

Trải qua mấy thế kỷ chiến tranh đẫm máu và tranh chấp căng thẳng liên

tục tại khắp các vùng đất thuộc Âu châu, cũng như phải gánh chịu hai

nền độc tài khắc nghiệt, tàn bạo của Đức quốc xã và của cộng sản mới

đây trong thế kỷ XX, lúc này Âu châu mới bắt đầu có cơ duyên phục hồi

lại được nền Dân chủ Đa nguyên, Tinh thần Tôn trọng Nhân quyền và

các Tự do nền tảng, cũng như nền Pháp trị.

Và trong 20 năm qua, với sự ra đời của Ủy hội Venice, cũng như nhiều

định chế văn hóa xã hội cũng như chính trị khác nữa, thì người Âu châu

cũng như người ở những châu lục khác trên thế giới đã bắt đầu thấy

được một niềm hy vọng tràn đày lạc quan về một thế giới trật tự hơn, an

hòa hơn và nhân ái hơn nữa vậy./

Washington DC, Mùa Xuân Canh Dần 2010

 Đòan Thanh Liêm

NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

Nguyễn Đình Cống

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôi sinh năm 1937. Nhìn lại cuộc đời 80 năm qua có liên quan đến cộng sản (CS) tôi tạm chia thành 5 giai đoạn. 1- lúc còn nhỏ (trước 1945) thỉnh thoảng nghe nói về CS, được tiếp xúc với một số đảng viên bí mật đến vận động cha tôi làm cách mạng, tôi biết và có cảm tình với CS từ đó. 2- Từ 10 đến 30 tuổi, được nghe tuyên truyền, được học và hoàn toàn tin tưởng vào CS, vào Chủ ngĩa Mác Lênin (CNML). 3- Từ 30 đến 50 tuổi, khi đã thấy nhiều, biết nhiều, đặc biệt là qua chiêm nghiệm thực tế tôi có một số nghi ngờ về sự đúng đắn của CNML và CS. 4- Từ 50 đến 70 tuổi tôi thấy sợ vì nhiều người bị bắt bớ tù đày, bị thủ tiêu chỉ vì nói ra cái sai của CNML, hoặc bị Đảng CS nghi ngờ, vu oan giá họa. 5- Từ 70 tuổi trở đi, dần dần tôi vượt qua sự sợ hãi và dám công bố một số nhận thức, vạch ra cái sai lầm, độc hại của CNML. Tóm tắt 5 giai đoạn là : BIẾT, TIN, NGHI, SỢ, VƯỢT.

Sau khi tuyên bố ra Đảng (tháng 2-2016) tôi nhận được nhiều bình luận, có đồng tình, ủng hộ, có phê phán, thắc mắc, có cả chửi rủa, mạt sát. Tạm bỏ qua những lời đồng tình, ủng hộ với sự thông cảm chân thành, quên đi những lời chửi rủa, mạt sát mang đầy vu khống. Tôi chỉ xin đề cập đến những lời phê phán, những thắc mắc. Những điều này mới nghe qua thì thấy có lý, chứng tỏ người viết có suy nghĩ. Tuy vậy nó có thể đúng với người này, trong trường hợp này nhưng lại không đúng với người khác, trong ttường hợp khác mà chỉ khi suy nghĩ sâu sắc, khi có chiêm nghiệm rộng rãi mới nhận ra được. Xin tóm tắt thành các vấn đề sau:

1-Lúc trẻ đã mất công phấn đấu để xin vào Đảng, đến già tại sao lại dở chứng. Mà muốn ra thì lặng lẽ xin ra, việc gì phải công khai , phải chăng là muốn nổi tiếng.

2-Khi vào Đảng đã thề trung thành trọn đời đối với Đảng, với CNML, nay quay lại phê phán CNML và từ bỏ Đảng, như vậy là phản bội lời thề.

3-Nhờ có công ơn Đảng mới được đi học, được phong giáo sư tiến sĩ, về nghỉ có lương hưu, từ bỏ Đảng là việc làm của kẻ ngu dốt , vô ơn. Mục tiêu của Đảng là xây dựng đất nước hòa bình, tự do, dân chủ, hạnh phúc, văn minh. Ra Đảng phải chăng là chống lại mục tiêu cao đẹp đó. Biết bao nhiêu người theo Đảng, hy sinh xương máu để đem lại độc lập, thống nhất, việc từ bỏ Đảng là phản bội lại ông cha, là không thực hiện “uống nước nhớ nguồn”.

4- Chủ nghĩa không sai, Đảng không sai, xã hội có một số tệ nạn chỉ là do một số cán bộ thoái hóa biến chất, tại sao không dám trực diện đấu tranh với họ mà lại làm một việc dại dột là chống Đảng.

5- Tự cho là một trí thức chân chính sao không cống hiến hết mình mà lại từ bỏ Đảng.Việc ra Đảng chỉ làm mất uy tín, bị nhiều người phỉ nhổ. Có giỏi thì lập ra tổ chức để đấu tranh, vận động và dẫn đầu biểu tình chứ chỉ “ làm anh hùng bàn phím” thì là đồ mạt hạng.

6-Ông đã 80 tuổi, nên an hưởng tuổi già bên cháu chắt, vui với chim cá, cây cảnh, dây vào chính trị làm gì. Nếu không thích chế độ Xã hội chủ nghĩa do ĐCS lãnh đạo thì cuốn xéo ra nước ngoài mà ở.

Tôi sẽ lần lượt kiểm điểm từng vấn đề, xem rằng đó là việc tự nhìn lại cuộc đời đối với Đảng CSVN. Nghĩ rằng khá nhiều bạn cùng hoàn cảnh cũng có quan điểm tương tự nên xin dùng chủ ngữ “ chúng tôi” trong một số chỗ, để ngụ ý có một số người cùng nghĩ và làm như vậy chứ không phải chỉ một mình tôi.

VẤN ĐỀ 1. Phấn đấu vào Đảng và thông báo ra Đảng.

Ngược với nhiều đảng viên khác, chúng tôi vào Đảng không nhằm đạt được quyền lợi cá nhân nào đó và   không có việc phấn đấu để vào Đảng. Chúng tôi phấn đấu với mục tiêu trở thành người yêu nước chân chính, có trình độ cao về nhiều mặt, có đạo đức, có lý tưởng tốt đẹp. Mục tiêu đó cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn đảng viên. Khi tổ chức Đảng thấy cần kết nạp chúng tôi thì kết nạp mà không thì thôi. Chính vì lẽ đó mà nhiều trí thức thế hệ chúng tôi vào Đảng lúc đã là U50. Thời gian trước 1980 ( khoảng chừng) Đảng rất hạn chế kết nạp các trí thức trình độ cao, có dính dáng đến thánh phần thù địch giai cấp. Việc đó làm cho lực lượng Đảng ở các trường đại học không tương xứng với đội ngũ cán bộ khoa học và nhiệm vụ lãnh đạo công tác đào tạo. Từ 1980 về sau Đảng mới quan tâm hơn đến việc thu hút trí thức, mở rộng việc kết nạp những người xuất thân từ các thành phần bậc cao ( trong cải cách xã hội, ông bà, bố mẹ bị qui là địa chủ, phú nông, tư sản, quan lại ). Khi vào Đảng mọi người làm đơn xin, đối với chúng tôi đó chỉ là một thủ tục, chứ không phải là xin một quyền lợi, một vinh dự. Chúng tôi vào Đảng là để làm việc tốt hơn chứ không phải để có quyền lợi nhiều hơn, không nhằm đạt danh vọng hoặc vinh dự cao hơn. Đó là điều khác biệt với một số đông đảng viên khác. Điều này người ngoài ít khi nhận thấy. Những kẻ cơ hội xin vào Đảng để tìm quyền lợi hoặc danh vọng cũng như những người quen với suy nghĩ nông cạn không thể hiểu được điều đơn giản có thật vừa trình bày.

Vào Đảng để được làm việc tốt hơn, đến khi thấy vai trò đảng viên không còn tác dụng cho công việc, lại thấy quan điểm của Đảng và của cá nhân khác nhau ( kiên trì hay từ bỏ CNML) thì việc ra Đảng là chuyện bình thường, không vi phạm đạo đức, không phải là tội lỗi.

Đã có nhiều đảng viên khi nghỉ hưu đã lặng lẽ bỏ Đảng bằng nhiều cách. Đầu tiên tôi cũng định chọn cách lặng lẽ, nhưng thời gian vừa qua, khi tôi công bố một số bài phê phán CNML thì có nhiều bạn góp ý, cho rằng tôi chỉ là một thằng hèn khi một mặt phê phán CNML, mặt khác vẫn đeo bám Đảng, các bạn khuyên tôi nên từ bỏ càng sớm càng tốt. Trước đó chính tôi cũng tự thấy như vậy. Tôi công khai việc làm là có phần trả lời góp ý đó và tin là nhờ vậy mà các bài viết của tôi có tác dụng hơn. Tôi biết có nhiều đảng viên cũng đang phân vân giữa việc ở lại và ra vì chưa lường trước được hậu quả công việc. Tôi đã vượt qua sự đắn đo, sự sợ hãi, làm một phép thử để các bạn tham khảo. Tôi không làm đơn xin mà viết thông báo vì nghĩ rằng đơn xin là bị động, phải chờ đợi sự xét duyệt. Đã xin thì phải chịu sự lệ thuộc, có thể được cho hoặc không . Hơn nữa tôi không muốn làm mất thì giờ của một số cán bộ Đảng phải họp để thảo luận và xét. Thông báo chủ động hơn, tiết kiệm thời gian hơn, hiệu quả hơn. Còn muốn nổi tiếng ư ?. Không ! Tôi biết trước rằng khi công khai việc này sẽ nhận được không ít sự bất đồng, trách móc, phê phán, chửi rủa. Tôi phải chiến thắng sự sợ hãi và tâm lý an phận mới dám làm .

VẤN ĐỀ 2-Lời thề khi vào Đảng

Trong lễ kết nạp, đảng viên mới phải tuyên thệ. Lời thề thường gồm 4 nội dung : 1- Trung thành tuyệt đối với Đảng, với lý tưởng CS. 2- Học tập thấm nhuần, làm theo tư tưởng, đường lối của CNML, xem đó là kim chỉ nam. 3-Làm tốt mọi nhiệm vụ đảng viên. 4- Có liên hệ và công tác quần chúng tốt.

Đối với nhiều người khác thì lời thề ấy thường được soạn theo mẫu do Chi ủy hướng dẫn. Tôi biết trong nhiều trường hợp người ta đọc lời thề chỉ là làm cho đủ thủ tục hình thức , còn trong thâm tâm họ nghĩ khác. Khi vào Đảng tôi đã 48 tuổi và là phó giáo sư, tiến sĩ, trưởng bộ môn. Tôi không muốn làm kiểu sáo vẹt mà phải trung thực, vì vậy tôi tự soạn ra lời thề cũng gồm 4 nội dung, điều 3 và 4 gần gần như theo mẫu, còn điều 1 và 2 đã sửa theo cách khác. Xin chép lại : Điều 1- Xin thề tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh cho đất nước hòa bình, độc lập thống nhất, xây dựng xã hội tự do dân chủ, công bằng, vì sự phát triển của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Điều 2- Xin thề không ngừng học tập để nâng cao trình độ mọi mặt, nghiên cứu sâu sắc CNML, Chủ nhĩa cộng sản và con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

Bây giờ xem lại tôi thấy đã không vi phạm, không phản bội lời thề ở chỗ nào hết. Tôi thể tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp tốt đẹp chứ không thề trung thành với Đảng, bây giờ tôi vẫn trung thành với lý tưởng và sự nghiệp đó. Tôi thề nghiên cứu sâu sắc CNML, CNCS, con đường CNXH chứ không thề trung thành với những điều ấy. Chính nhờ nghiên cứu sâu sắc mà tôi phát hiện ra những sai lầm, những độc hại trong đó, thấy rồi tôi tìm cách nói lại với mọi người. Những ai cho rằng tôi đã phản bội lời thề vì họ tưởng nhầm tôi cũng đã đọc lời thề theo kiểu sáo vẹt như nhiều người khác. Mà nếu có ai đó khi được kết nạp có thề trung thành với Đảng, với CNML, bây giờ họ thấy đã bị nhầm, họ ra Đảng thì đồng thời họ có quyền xóa bỏ lời thề đã đọc, việc đó không có gì sai trái.

VẤN ĐỀ 3- Mục tiêu của Đảng, công ơn Đảng, uống nước nhớ nguồn

Đảng tuyên truyền rằng “ Mục tiêu là xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, dân chủ, công bằng, giàu mạnh, văn minh”. Đối chiếu vào thực tế thì thấy đó là mong ước của nhiều đảng viên, cũng là một phần mục tiêu của Đảng khi mà quyền lợi của dân tộc và của Đảng là thống nhất. Mà oái oăm thay, quyền lợi của Đảng, đặc biệt là quyền lợi của các nhóm lợi ích bậc cao trong Đảng có nhiều khi mâu thuẩn với quyền lợi dân tộc. Mục tiêu cao hơn của Đảng, mục tiêu chủ yếu là bảo vệ Đảng bằng bất kỳ giá nào, là kiên trì CNML, là giữ vững nền độc tài toàn trị. Còn mục tiêu của nhiều cán bộ từ thấp đến cao là lo thu hồi vốn bỏ ra khi chạy chức chạy quyền và làm giàu cá nhân, là lo bảo vệ lợi ích nhóm. Như vậy mục tiêu xây dựng đất nước như trên chủ yếu là để tuyên truyền, lôi kéo nhân dân đi theo. Đảng cũng bắt buộc phải nêu khẩu hiệu “ Đặt quyền lợi dân tộc lên trên”, nhưng đó chỉ là thủ đoạn tuyên truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng “VN là đất nước không chịu phát triển”, rằng để phát triển đất nước thì việc đầu tiên là phải cải cách thể chế chính trị. Như vậy, việc chúng tôi vạch ra những sai lầm của CNML, của thể chế và ra khỏi Đảng không phải nhằm chống lại mục tiêu tốt đẹp xây dựng đất nước mà là chống lại những cản trở để thực hiện mục tiêu đó, chống lại sự tuyên truyền ngụy biện, chống lại sự nô dịch về tư tưởng và thông tin.

Về công ơn Đảng. Một thực tế của lịch sử là ĐCS đã độc quyền lãnh đạo và quản lý đất nước trong thời gian qua, nhưng dân tộc được hay bị cái sự ấy thì xin tạm gác lại. Chỉ xin bàn đến vấn đề đối với từng cá nhân. Rõ ràng là có một số người nhờ có Đảng mà đã thoát cảnh lầm than, trở nên ông này bà nọ. Nhưng không phải toàn bộ dân VN đều như thế. Rõ ràng là Đảng đã lãnh đạo để có chiến thắng 30 tháng 4, nhưng nói về nó Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt có câu để đời: “ Triệu người vui và triệu người buồn”. Trong cải cách ruộng đất, nhiều bần cố nông vui mừng được chia quả thực, họ rất nhớ công ơn Đảng. Trong khi có hàng vạn phú nông, địa chủ, nhân sĩ trí thức, kể cả nhiều người có công với cách mạng và kháng chiến chống Pháp bị sát hại, bị “đạp đầu xuống bùn đen vạn kiếp”. Những nhà tư sản bị tịch thu tài sản, bị đuổi đến vùng kinh tế mới, những thuyền nhân mà không ít bỏ xác giữa biển , những người của Việt Nam cộng hòa bị bắt vào các trại cải tạo, những dân oan…. Những người vừa kể không bao giờ nhờ công ơn Đảng. Mà tất cả họ đều là người Việt.

Về các giáo sư tiến sĩ ( GSTS). Có rất nhiều người Việt trở thành GSTS, kể cả nhà khoa học lớn mà không nhờ gì đến công ơn ĐCSVN, thậm chí một số còn tích cực chống lại chủ thuyết CS, họ đang làm việc có hiệu quả khắp nơi trên thế giới. Một số trí thức lớn như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của v.v… đã phục vụ đắc lực cho ĐCS thì cũng không phải nhờ Đảng họ mới có tri thức và khả năng cần thiết.

Có khá nhiều GSTS được đào tạo từ dưới chính thể của ĐCSVN. Loại trừ một số GSTS dổm, chạy được học vị, học hàm nhờ vào mưu mô, thế lực hoặc tiền bạc thì cũng có một số trở thành GSTS thứ thiệt, có trình độ là nhờ công ơn Đảng. Số người này nếu không có Đảng nâng đỡ thì chưa chắc đã học xong phổ thông chứ nói gì đến GSTS. Nhưng một số khác thì không phải như vậy.

Đảng bắt đầu mở rộng đào tạo trí thức bậc cao vào khoảng từ 1960 trở đi bằng cách gửi người sang các nước XHCN. Bắt đầu chỉ chọn các đảng viên hoặc người xuất thân từ công nông, nhưng không đủ, bắt buộc phải mở rộng cho các thành phần khác. Khi cử người đi học thì mục tiêu của Đảng không phải là ban ơn cho một ai đó mà là đào tạo cán bộ để phục vụ Đảng.Trước khi ra nước ngoài chúng tôi được học chính trị, được chỉnh huấn, được cán bộ Đảng căn dặn rất kỹ càng là đi học cũng là một nhiệm vụ quan trọng do Đảng giao, phải học tốt để về phục vụ Đảng. Như vậy việc được đi học không phải là chịu sự ban ơn, đành rằng mỗi chúng tôi đều biết ơn trong việc cụ thể này. Việc được phong giáo sư cũng chủ yếu không phải là nhờ sự ban ơn của Đảng, mà chủ yếu là do sự nổ lực hoạt động khoa học của cá nhân, ai đã từng nhận danh hiệu này một cách chính đáng đều biết rõ như vậy.

Kể cả khi bạn thực sự nhờ công ơn Đảng mới có được học vị, học hàm xứng đáng thì đức tính trung thực và lòng tự trọng không cho phép bạn làm ngơ trước những sai lầm của CNML, không cho phép bạn tự biến mình thành kẻ chỉ biết phục tùng , cúi đầu phụ họa, chỉ biết ca ngợi một chiều để giữ được miếng cơm manh áo và sự yên ổn tạm thời cho bản thân và gia đình.

Về “ uống nước nhớ nguồn” tôi đã viết và công bố bài “Những ai đã phản bội ông cha” chứng minh rằng chính một số ông cha chúng ta đã chọn sai con đường theo CNML, nay chúng ta phải sửa sai, và bọn người thực sự phản bội sự hy sinh xương máu của ông cha chính là những kẻ đang củng cố sự độc quyền toàn trị và bọn lợi ích nhóm đang cố duy trì chế độ lỗi thời để tham nhũng, để vinh thân phì gia. Về đóng góp xương máu thì gia đình tôi có 5 liệt sĩ là cha tôi và 4 người con cháu của ông. Gần đây tôi đã xây dựng được nhà thờ để thờ tự các liệt sĩ và tổ tiên. Nói rằng việc làm của chúng tôi là sự phản bội ông cha, không thực hiện việc uống nước nhớ nguồn là không đúng, là vu cáo.

VẤN ĐỀ 4- Đảng không sai, chỉ có cá nhân sai.

Một số ngườ i cho rằng CNML luôn đúng, Đảng không sai, chỉ có một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất làm sai. Thì đấy , ngay như chuyện tham nhũng hoặc mất dân chủ, Đảng luôn kêu gọi chống lại, thế mà nó vẫn phát triển, chỉ là do cán bộ không thực hiện mà thôi. Những người nghĩ và tin như vậy thực ra đã được nghe tuyên truyền chỉ từ một nguồn, đã bị nhồi sọ bởi những lập luận ngụy biện. Chúng tôi hồi trẻ vẫn tin như thế, nhưng rồi dần dần, được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau và đặc biệt chiêm nghiệm từ cuộc sống thực tế, tự suy nghĩ sâu sắc một cách khoa học mới nhận ra không phải như vậy. Phần lớn những điều tốt đẹp mà Đảng nói tới chủ yếu chỉ là tuyên truyền ngụy biện, còn sự toàn trị của Đảng hàng ngày hàng giờ sinh ra và nuôi dưỡng các tệ nạn đủ thứ. Câu nói “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi xanh tươi” hoặc “Chớ cả tin vào lời người ta nói, hãy xét xem việc họ làm” đã được lịch sử nhân loại kiểm nghiệm, đúng cho mọi lý thuyết, cho mọi người, mọi tổ chức, không riêng gì cho CS.

Về các bài viết và việc làm của tôi, một số người cho là tôi cố ý chống lại ai đó ( lãnh đạo chẳng hạn), chống Đảng , chống CNML. Tự trong thâm tâm tôi không muốn chống ai cả mà chủ yếu là muốn cung cấp thông tin nhằm thức tỉnh những ai muốn tìm hiểu các quan điểm khác nhau. Còn đối với những người chỉ biết tin theo một nguồn, chỉ cố giữ chặt một quan điểm thì làm sao lay chuyển họ được. Kể ra tìm cho kỹ thì cũng có lúc tôi chống đối nhưng không chống ai cả mà là chống lại những quan điểm, những việc làm mà tôi cho là sai quy luật, là có hại cho dân tộc và nhân loại.

VẤN ĐỀ 5-Bàn về cống hiến

Đối với mỗi người cống hiến quan trọng nhất là trong việc phát triển đất nước và nhân loại. Tùy hoàn cảnh, tùy thời gian mà việc cống hiến này sẽ là tốt hơn khi ta ở trong hoặc ngoài Đảng. Trước đây thấy rằng vào Đảng sẽ có khả năng công tác tốt hơn nên chúng tôi gia nhập khi Đảng yêu cầu. Bây giờ thấy sự ra khỏi Đảng sẽ có tác dụng tốt hơn cho sự phát triển nền dân chủ của đất nước nên chúng tôi ra. Như vậy việc ra Đảng đã không làm giảm mà về khía cạnh nào đó còn làm tăng sự cống hiến, tất nhiên đó là cống hiến cho dân tộc chứ không phải là cống hiến, là hy sinh để bảo vệ những sai lầm của Đảng.

Riêng bản thân tôi, tự kiểm điểm trong cả cuộc đời cho đến bây giờ tôi đã làm việc hết sức mình để đóng góp vào sự phát triển của đất nước và đạt nhiều thành tích đáng kể, bạn bè, học trò của tôi, lãnh đạo những đơn vị và địa phương quản lý tôi đều biết rõ, tôi xin không kể ra vì đây không phải là nơi báo cáo thành tích.

Trong việc đấu tranh cho nền dân chủ, mỗi người tùy hoàn cảnh mà chọn cho mình công việc thich hợp. Việc lập tổ chức này khác, việc dẫn đầu biểu tình hoặc đi vận động việc nọ việc kia đã có nhiều người thich hợp hơn. Tôi, một giáo sư 80 tuổi, tôi chọn công việc thích hợp và không kém phần quan trọng là viết bài để thức tỉnh những ai còn ngộ nhận, những ai muốn tìm hiểu sự thật. Để làm việc đó cần trí tuệ và lòng dũng cảm, công việc cũng khá khó khăn, và làm được sẽ có lợi cho phong trào. Nếu làm như vậy mà có bị ai đó chê bai, trách móc, coi thường thì tôi cũng chấp nhận mà không có gì phải tự ái, không việc gì phải xấu hổ.

VẤN ĐỀ 6- Tuổi già và sự an nhàn

Tuổi gìa muốn được an nhàn, đó là tâm lý chung cần được tôn trọng. Nhưng có một số người già vẫn còn sức lực và trí tuệ, đặc biệt là vẫn còn nhiệt tình hoạt động giúp ích cho đời . Trong hoạt động vì độc lập tự do của đất nước, vì dân chủ và hạnh phúc của nhân dân nhiều chiến sĩ cách mạng thề phấn đấu đến hơi thở cuối cùng, nguyện trọn đời phục vụ nhân dân. Những người già như vậy càng nên được tôn trọng hơn chứ không nên tìm cách dè bỉu hoặc ngăn cản. Hồ Chí Minh có một số câu thơ : Năm 1947 Người viết tặng 3 cụ ở Cao Bằng : Tuổi cao chí khí càng cao. Múa gươm giết giặc ào ào gió thu….Năm 1960 Người viết : Càng già càng dẻo lại càng dai. Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai…

Tôi xin cám ơn những lời khuyên nên giữ an nhàn, đừng dây vào chính trị. Trong những lời khuyên đó có những tấm lòng tốt, lo cho sức khỏe và sự an nguy của tôi. Nhưng tôi không theo được vì tôi chưa muốn, chưa thể dẹp bỏ nguồn trí tuệ tìm kiếm chân lý, chưa dập tắt được ngọn lửa nhiệt tình muốn cống hiến cho xã hội tốt đẹp hơn. Tôi cũng nhận thấy trong một số lời khuyên có ẩn nấp sự sợ hãi. Ngoài những thứ sợ thông thường của kiếp người như sợ chết, sợ ốm đau, bệnh tật, tai nạn, sợ đói khổ, chia ly v.v… thì Đảng CS đã tạo ra và duy trì được nhiều nỗi sợ nữa cho nhân dân, cho đảng viên, cho cả các cán bộ cao cấp. Người ta sợ bị sát hại, bị đàn áp, tù đầy, sợ bị mang tiến phản bội, phản động, mang tội chống Đảng, chống chế độ, sợ bị vi phạm kỷ luật và những điều cấm, sợ bị mọi người xa lánh, sợ bị mất miếng cơm manh áo, sợ bị ảnh hưởng đến lý lịch và đời sống của con cháu…Sợ quá làm cho người ta trở nên hèn kém, mang nặng tâm lý nô lệ. Sợ quá làm người ta trở thành kẻ dối trá. Tôi đã sợ hãi như thế trong hơn 20 năm, một thời gian quá dài, nay đã phần nào vượt qua được.

Một số bạn xui tôi ra nước ngoài mà ở. Sao lại xui dại nhau thế, hay đấy là lời thách thức, một ý muốn xua đuổi . Tôi biết nhiều ngoại ngữ, lại có nhiều con cháu đang định cư tại nước ngoài, việc ra đó để sống nốt quảng đời còn lại đối với tôi là không có gì khó nhưng tôi không muốn. Tôi muốn và cần ở lại trong nước vì nhiều lý do chứ không chỉ cầu mong sự an nhàn của tuổi già.

LỜI KẾT

Tôi viết là nhằm trao đổi với những người bạn có thiện chí, muốn thực tâm tìm hiểu sự việc chứ không phải để tranh luận với những người chỉ biết mạt sát, chửi rủa một cách vô căn cứ. Kể ra để giải đáp được rõ hơn một vài thắc mắc thì cần viết mỗi vấn đề thành một tiểu luận với chứng minh chặt chẽ và nhiều dẫn chứng sinh động, tôi cũng có thể làm việc đó, nhưng xét ra cũng đã có nhiều người làm. Bài đã quá dài, xin tạm dừng, mong được thông cảm.

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Song Chi.

RFA

Mỗi năm ở VN trung bình có khoảng từ 8,700-11,500 người chết vì tai nạn giao thông, nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông cao trên thế giới. (Theo “List of countries by traffic-related death rate” (Wikipedia), tỷ lệ trung bình là 17.4 trên 100,000 người thì tỷ lệ của VN là 24.5. Còn theo đánh giá của tổ chức World Health Ranking về “Road traffic accidents death rate by country”, tỷ lệ số người chết tính trên 100, 000 người của VN là 23.10, thuộc vào khu vực được tô màu xanh, là khá cao).
Nghĩa là trung bình mỗi ngày có khoảng trên dưới 30 người rời khỏi nhà và vĩnh viễn không trở về. Chưa kể hàng ngàn người khác bị thương từ nhẹ đến nặng hoặc vĩnh viễn tàn phế. Tai nạn giao thông đã trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người VN mỗi khi phải bước chân ra đường. Báo chí, dư luận đã gióng lên hồi chuông báo động từ nhiều năm qua, rất nhiều giải pháp kiềm chế đã được đề ra, nhưng tai nạn giao thông vẫn không hề giảm đi.
Có nhiều nguyên nhân như cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện an toàn, thời tiết xấu…, bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn rất kém.

Thử nhìn lại mấy vụ tai nạn giao thông kinh hoàng mà báo chí đưa tin trong những ngày gần đây: Vụ chiếc xe Camry tông chết 3 người tại quận Long Biên, Hà Nội ngày 29.2, theo báo chí, người lái xe đã phạm cùng lúc nhiều tình tiết gây ra tai nạn: uống rượu trước lúc lái xe, không có bằng lái, lái với tốc độ nhanh, vượt sai làn đường rồi tông thẳng vào 2 ông cháu đi xe máy và 1 phụ nữ đi bộ. Trong video clip ghi lại vụ tai nạn, có thể thấy bản thân 2 ông cháu nạn nhân cũng không đội mũ bảo hiểm, người phụ nữ thì đang đi bộ dưới lòng đường, đường xá thì hẹp lại có thêm một chiếc ô tô đậu làm choán mất một phần đường. (“Vụ xe Camry tông chết 3 người: Lái xe không bằng lái, có hơi men”, Dân Trí, “Vụ Camry gây tai nạn và chuyện người Việt ‘nhờn luật’, VietnamNet)

Tất cả những sự bất cẩn, vi phạm luật giao thông này đã dẫn đến vụ tai nạn thảm khốc trên.
Ngày 4.3 tại xã Phù Ủng, Ân Thi, một chiếc xe biển xanh lấn làn tông trực diện vào một người phụ nữ chạy xe gắn máy đang mang thai 8 tháng, khiến cả bà bầu và thai nhi sắp sinh cùng tử vong. (“Xe biển xanh lấn làn tông chết bà bầu 8 tháng”, Người Lao Động)
Ngày 6.3, tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lại một người không có bằng lái, ngồi vào xe taxi của người khác, tông chết một người phụ nữ lớn tuổi và một cháu bé khi cả hai đang ở lề đường trước cửa một ngôi nhà (“Vụ taxi ‘điên’ đâm chết 2 bà cháu: Tài xế không có bằng lái”, Tiền Phong)

Ngày 6.3, tại Quảng Ngãi, một chiếc xe tải chạy rất nhanh, dù đèn đỏ nhưng vẫn ôm cua và tông thẳng từ phía sau một chiếc xe gắn máy chở ba khiến hai mẹ con chết tại chỗ, bé trai may mắn văng vào gầm xe taxi đang dừng chờ đèn đỏ nên thoát chết. Theo bài báo “Xe tải tông hai mẹ con chết thảm, bé trai văng gầm taxi thoát chết”, báo Tuổi Trẻ, “thời điểm xảy ra tai nạn tài xế Trần Quang Phu đã bị Công an huyện Ba Tơ tước giấy phép lái xe”.
Chỉ kể sơ qua vài vụ, đã chứng minh một trong những nguyên nhân chính gây tai nạn vừa nói ở trên: ý thức chấp hành luật giao thông rất kém của người dân. Nói thẳng ra là chúng ta coi thường luật, coi thường tính mạng người khác và cả của chính mình. Sâu xa bên trong là chúng ta không có đủ lòng nhân ái, chất nhân văn để biết nghĩ, biết quý trọng tính mạng của người như của mình.

Trong lĩnh vực chế biến, cung cấp thực phẩm cũng vậy.

Cũng như tai nạn giao thông, tình trạng thực phẩm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc…ở VN là một nỗi ám ảnh lớn cho tất cả mọi người. Không ai phủ nhận ẩm thực VN thuộc vào hàng ngon trên thế giới, nhiều món ăn Việt được phổ biến và được yêu thích rộng rãi tại nhiều quốc gia như phở, chả giò, gỏi cuốn, bánh mì thịt, cơm tấm, bánh xèo…Nhưng về mặt vệ sinh, an toàn thì thật đáng ngại.

Không chỉ hàng hóa thực phẩm bị nhiễm độc từ Trung Quốc tuồn qua đường chính ngạch lẫn buôn lậu, chính người Việt cũng đang thản nhiên giết người Việt bởi lối làm ăn chỉ biết có lợi nhuận trước mắt, không nghĩ gì đến sức khỏe, sinh mạng người khác. Người ta sẵn sàng phun nhớt thải cho rau muống xanh, trộn chất tạo nạc là chất cấm sử dụng trong chăn nuôi cho lợn để tăng trọng nhanh, cho phẩm màu, chất bảo quản, chất tăng trưởng, chất tẩy trắng vào trong rau củ, thực phẩm, bánh mứt, sử dụng chất huỳnh quang, hàn the trong công nghệ chế biến bún, phở, thậm chí có một dạo dư luận kinh hoàng về việc phát hiện phoóc môn (Formaldehyde, dùng làm chất tẩy uế, bảo quản tử thi…) được sử dụng trong bánh phở…

Lâu lâu báo chí lại đưa tin, hình ảnh quy trình chế biến nước tương bẩn, làm chả cá, giò sống, lạp xưởng, chà bông, làm sương sâm, sương xáo siêu bẩn…khiến người xem rùng cả mình. Còn hàng rong ngoài đường cho tới hàng quán, tiệm ăn suốt từ Nam ra Bắc, cũng là khuất mắt mà ăn chứ không thể đảm bảo có vệ sinh, an toàn hay không.
Điều đáng nói là ngay chính nhiều người chế biến thực phẩm cũng biết là bẩn nên chỉ để bán cho người khác, còn nhà mình thì không dám ăn!

Trong phiên họp Quốc hội tháng 11.2015, trong phần đặt câu hỏi với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát về vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm, đại biểu Quốc hội Trần Ngọc Vinh đã phát biểu: “Có thể nói con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”(“Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa chưa bao giờ ngắn đến thế”, báo Giáo dục VN)

Có thể kể ra vô số những ví dụ về thái độ coi thường sinh mạng người khác nhan nhản trong nhiều khía cạnh của đời sống xã hội VN hiện tại. Từ việc thản nhiên xả rác và những chất bẩn xuống sông ngòi bất chấp việc ô nhiễm nguồn nước; thấy người bị nạn, nhất là tai nạn giao thông nhưng ngại giúp đỡ vì không muốn phiền hà (trong vụ xe Camry tông chết 3 người nói trên, báo chí đưa tin em bé 6 tuổi tim vẫn còn đập đã phải chờ rất lâu sau xe cứu thương mới đến, còn một số xe taxi được người dân vẫy gọi thì không dừng lại…), những bữa cơm giá rẻ nấu cho sinh viên, công nhân với những thực phẩm kém chất lượng thậm chí thiu thối…Cho tới công nghệ tái chế, tái sử dụng rác thải không bảo đảm vệ sinh, đáng sợ nhất là rác thải y tế độc hại đã từng bị báo chí vạch mặt (“Rác thải y tế độc hại lọt từ bệnh viện ra thị trường: Sự thật khủng khiếp bên trong bệnh viện”, Lao Động), tình trạng làm ăn gian dối, không bảo đảm an toàn trong xây cất, trong lao động gây tai nạn v.v…

Ngay cả một số ngành nghề lẽ ra phải được người dân tin tưởng, trông cậy, tìm đến khi có việc như cảnh sát thì ở VN, cảnh sát/ công an lại là những hung thần trong mắt người dân. Có biết bao nhiêu trường hợp người dân chỉ vi phạm những lỗi nhỏ về giao thông nhưng bị công an rượt đuổi, mất bình tĩnh tự gây ra tai nạn có khi tử vong, hoặc chỉ vì những nguyên nhân vặt vãnh, bị đưa về đồn, đang trong quá trình điều tra, tạm giam nhưng lại bị công an đánh đập, bạo hành đến chết.

Hoặc những môi trường phải là nơi an toàn như mẫu giáo, trường mầm non, trường học, bệnh viện…thì chúng ta cũng đọc/xem thấy bao nhiêu vụ cô bảo mẫu bạo hành trẻ, thầy cô xúc phạm học sinh với những lời lẽ rất phản giáo dục, một số trường hợp học sinh vì bị xúc phạm nặng nề mà uất ức dẫn đến làm điều dại dột như tự sát…
Câu hỏi vì sao người Việt chúng ta ác với nhau như vậy, vì sao người Việt chúng ta coi thường tính mạng của người khác như vậy?
Không có một dân tộc nào ác, xấu hơn dân tộc khác.

Một mô hình thể chế chính trị độc tài, giành và giữ quyền lực bằng con đường bạo lực và dối trá, kìm hãm mọi tự do, dân chủ, chà đạp nhân quyền, bóp nghẹt nhân tính trong con người đồng thời cổ súy lối sống chạy theo vật chất danh lợi, bất chấp tất cả…là nguyên nhân. Một nền giáo dục ngu dân, không có triết lý, mục tiêu giáo dục đúng đắn và cao thượng, học để đi thi, học để có bằng cấp chứ không phải học để làm người, một nền giáo dục không dạy cho con người những điều nhỏ bé như biết sống tử tế, có trách nhiệm với mình và với xã hội, có lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại…là nguyên nhân. Khi niềm tin lẫn chỗ dựa từ pháp luật cho tới giáo dục, tôn giáo đều không còn, thì chẳng còn ranh giới gì khiến người ta do dự, sợ hãi trước khi làm điều xấu, điều ác cả.

Còn lại chỉ là mỗi người, mỗi gia đình phải tự giáo dục cho nhau và giáo dục chính mình để ngọn lửa nhân ái, sự tử tế bên trong mình, trong nhau không bị thui chột đi.
Bao giờ chúng ta biết nghĩ cho người khác, biết quý trọng sức khỏe, mạng sống của người khác như của chính mình? Biết quý trọng cái chung, môi trường sống chung? Nghĩ cho người khác, nghĩ vì cái chung cũng chính là nghĩ cho mình và cho con cháu mình trong một mái nhà chung nơi mà từng việc làm của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến những người khác, không thể tránh được.

Hòn ngọc Viễn Đông ‘mất duyên’

Hòn ngọc Viễn Đông ‘mất duyên’

Sài Gòn từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông'.

Sài Gòn từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông’.

Trà Mi-VOA

06.03.2016

Sài Gòn, nơi từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông’, đang ngày càng kém duyên và biến thành một đô thị xô bồ, ô nhiễm. Những ngợi khen về con người Sài Gòn chân tình, hào sảng đang dần mất dạng để nhường chỗ cho một xã hội bon chen, trộm cướp hoành hành.

Vì đâu nên nỗi? Làm cách nào lấy lại được những tiếng thơm đã mất và khôi phục lại vẻ đẹp vốn có của thành phố năng động này?

Đó là chủ đề của Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, với 3 khách mời là những cư dân trẻ của Sài thành: Phạm Văn Lộc, Nguyễn Trần Hoàng, và Hoàng Kim Sơn. Mời các bạn cùng gặp gỡ.

Trà Mi: Các bạn thấy hình ảnh Sài Gòn ngày nay khác xưa thế nào?

Phạm Văn Lộc: Sài Gòn bây giờ đã thay đổi rất nhiều, một thành phố khói bụi ô nhiễm, và đã mất đi nét văn minh của Sài Gòn xưa từ cách ứng xử của từng người. Ra đường chỉ cần một va quẹt nhỏ là người ta ứng xử với nhau thiếu văn hóa.

Trà Mi: So sánh Sài Gòn xưa và nay, Lộc nghĩ ngay tới những hình ảnh chưa đẹp. Còn Sơn, cảm nhận của bạn về Sài Gòn thế nào?

Hoàng Kim Sơn: Xưa dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn giữ được những nét cổ, đẹp theo văn hóa, quy hoạch của người Pháp. Nay, sau một thời quản lý của nhà nước này, có vẻ như hơi chệch choạt về quy hoạch đô thị cũng như về đạo đức con người. Dân ở đây giờ chủ yếu là dân nhập cư, chứ người gốc Sài Gòn rất ít. Do mặt bằng chung của xã hội và giáo dục đạo đức, không riêng ở Sài Gòn mà trên cả nước, đạo đức con người đã đi xuống, an sinh giáo dục cũng kém.  Nói chung do quản lý thôi.’

“ Sài Gòn bây giờ đã thay đổi rất nhiều, một thành phố khói bụi ô nhiễm, và đã mất đi nét văn minh của Sài Gòn xưa từ cách ứng xử của từng người. Ra đường chỉ cần một va quẹt nhỏ là người ta ứng xử với nhau thiếu văn hóa.

Phạm Văn Lộc, cư dân Sài Gòn, nói.”

Trà Mi: Nói tới Sài Gòn, người ta nghĩ ngay tới các tòa cao ốc, khu mua sắm, dinh thự nguy nga tráng lệ, hay những hàng quán sang trọng. Những hình ảnh đó không là niềm hãnh diện của Sài Gòn hay sao?

Hoàng Kim Sơn: Sài Gòn lâu nay vẫn là nơi giàu nhất Việt Nam mà.

Phạm Văn Lộc: Bây giờ rất xô bồ, không có nét gì để hãnh diện hết.

Trà Mi: Đất chật người đông, khó tránh được sự xô bồ hay ô nhiễm. Các bạn có thông cảm điều đó không?

Phạm Văn Lộc: Người lãnh đạo phải sáng suốt thì thành phố mới sạch, đẹp, văn minh. Đó chính là điều gây trăn trở. Sau năm 1975, nền giáo dục của mình xuống cấp. Những thế hệ sau bị nhồi sọ. Những sự dối trá từ miền Bắc đem vào. Tất cả ảnh hưởng đến thế hệ trẻ rất nhiều, chủ yếu từ nền giáo dục.

Hoàng Kim Sơn: Môi trường xã hội ảnh hưởng con người. Đạo đức con người là do môi trường xã hội. Khi cuộc sống quan trọng đồng tiền trên hết, người ta không còn quan tâm đến đạo đức và tự trọng nữa. Người ta làm mọi giá để kiếm được tiền dù làm chuyện xấu.

Trà Mi: Nếu cuộc do sống kim tiền khiến con người thay đổi thì xung quanh cũng có nhiều nơi phát triển hơn mình, họ chạy theo đồng tiền còn vội vã hơn nhưng vẫn giữ được nét văn minh-lịch sử, chẳng hạn như Thái Lan hay Singapore?

Hoàng Kim Sơn: Bần nông không được học lại lên làm cán bộ. Cho nên, chiếm vị trí trong xã hội không phải là người giỏi nhất mà là những kẻ giang hồ nhất. Họ làm điều xấu để họ vươn lên. Từ cái gốc đã xấu rồi thì cái ngọn đâu có đẹp nữa?

“ Môi trường xã hội ảnh hưởng con người. Đạo đức con người là do môi trường xã hội. Khi cuộc sống quan trọng đồng tiền trên hết, người ta không còn quan tâm đến đạo đức và tự trọng nữa. Người ta làm mọi giá để kiếm được tiền dù làm chuyện xấu.

Hoàng Kim Sơn”

Trà Mi: Có khách quan không khi đổ lỗi ở những người có vị trí, có trách nhiệm? Hay cũng có một phần nào đó do ý thức của từng cá nhân trong xã hội này?

Hoàng Kim Sơn: Đúng, mỗi người là một yếu tố trong xã hội. Bản thân mỗi người phải tự ‘vươn ra’, chứ cứ kiếm sống và an phận đến chết thì cuộc đời họ chỉ giống một con ốc trong một chuỗi ốc thôi, không được gì cả. Phải có ý chí ‘vươn ra ngoài’, vượt ra khỏi nhà tù nhỏ của cộng sản để đầu óc sáng sủa hơn, để biết cách sống và đóng góp cho xã hội, chứ không phải chỉ biết tích góp cho bản thân mà thôi.

Phạm Văn Lộc: Mình sống trong một xã hội không được tự do. Có rất nhiều nhân tài nhưng họ không được trọng dụng thì đất nước cũng khó phát triển. Sinh viên đại học bây giờ hai, ba bằng đại học vẫn không xin được việc làm vì không có thân thế. Con cháu của cán bộ thì được đưa vào. Nhân tài thì bị mai một. Đó là điều người trẻ trăn trở.

Trà Mi: Các bạn mong muốn những thay đổi như thế nào từ giới hữu trách?

Phạm Văn Lộc: Sống giữa chế độ độc đảng này, khó lắm, không thể nào nói được. Dân cất tiếng, họ vùi dập liền. Khi nào đất nước thật sự có tự do-dân chủ thì người trẻ mới phát huy được năng lực của mình.

Trà Mi: Ngoài những kỳ vọng ở giới hữu trách, trách nhiệm của người trẻ ra sao để thúc đẩy mọi việc khá hơn?

Nguyễn Trần Hoàng: Mỗi người trong xã hội đều phải có trách nhiệm. Từng người sống tốt thì xã hội tự nhiên sẽ tốt hơn. Đừng lường gạt, đừng hơn thua, đừng làm gì sai trái mà hãy sống một cách chân chính.

“ Ước muốn Sài Gòn ngày càng thay đổi tốt đẹp hơn phải từ con người thay đổi. Khi con người thay đổi, sống chân thật, tâm thiện, đối xử tốt với người khác thì xã hội mới đẹp hơn.

Nguyễn Trần Hoàng”

Phạm Văn Lộc: Mình mơ ước trước tiên thay đổi được nền giáo dục từ gốc thì mình mới tạo nên được những nét đẹp bên ngoài. Nếu vẫn theo nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thì các thế hệ tiếp nối sẽ khó giữ được nét đẹp trong con người để từ đó có thể xây dựng được một thành phố tốt đẹp hơn. Ra nước ngoài thấy nhiều nơi họ treo bảng đề phòng người Việt trộm cắp, mình thấy xấu hổ cho một nền giáo dục dối trá.

Nguyễn Trần Hoàng: Ước muốn Sài Gòn ngày càng thay đổi tốt đẹp hơn phải từ con người thay đổi. Khi con người thay đổi, sống chân thật, tâm thiện, đối xử tốt với người khác thì xã hội mới đẹp hơn.

Hoàng Kim Sơn: Với Việt Nam, không đơn giản chỉ thay đổi giáo dục là được, mà phải thay đổi từ hệ thống nhà nước, từ luật lệ. Giống như Tổng thống Obama nói, muốn thấy sự thay đổi, bản thân mỗi người hãy tự thay đổi. Chỉ cần 30% dân Việt Nam thay đổi thì sẽ thấy được sự ‘cách mạng’ , không cần phải gì đâu.

Trà Mi: Cảm ơn các bạn rất nhiều đã đóng góp trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay.

7 gương mặt Việt rạng danh

7 gương mặt Việt rạng danh

 trên top 30 Under 30 Châu Á của Forbes

26 Tháng Hai, 2016
Danh sách 7 người Việt lọt vào “Top 30 gương mặt nổi bật nhất Châu Á” của Forbes trong nhiều lĩnh vực như truyền thông, thương mại, điện tử, chăm sóc sức khỏe và khoa học.

  1. Đinh Nhật Nam, Urban StationĐinh Nhật Nam, 26 tuổi, là người sáng lập nên chuỗi cửa hàng cafe Urban Station. Hiện chuỗi cửa hàng mở rộng hệ thống lên con số 38 cửa hàng trên cả nước.

    30under30(1)
    Forbes cho biết, cùng với nhóm các nhà đầu tư mới, Nam đang chuẩn bị ra mắt chuỗi cửa hàng cafe mới tại Trung Quốc, nơi có mức tiêu thụ cà phê đang gia tăng và dự định nhập một số thương hiệu đồ uống cao cấp từ Singapore về Việt Nam.
    Anh được Forbes vinh danh trong danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực nghệ thuật.

  2. Trần Đức Việt – JVevermind

Trần Đức Việt, 24 tuổi, chính là vlogger mang tên JVevermind trên YouTube. JVevermind bắt đầu đăng tải video tự đạo diễn và sản xuất lên YouTube từ năm 2011.
30under30(2)

Anh cũng là người Việt Nam đầu tiên nhận giải ​

Golden Play Button Award của YouTube khi đạt hơn 1 triệu người ghi danh theo dõi.

Trần Đức Việt được vinh danh trong danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực quảng cáo, tiếp thị, truyền thông.

  1. Hà Lâm, Triip.me

Hà Lâm (Lâm Thị Thúy Hà), 29 tuổi, là người đồng sáng lập dự án khởi nghiệp du lịch Triip.me cùng chồng mình. Hai vợ chồng từng bán nhà để lấy vốn hỗ trợ cho dự án này.

30under30(3)

Mới đây, dự án được rót 500.000 USD từ quỹ đầu tư Singapore Gobi Partners. Nữ doanh nhân này được vinh danh trong danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực bán lẻ và thương mại điện tử.

4. Lê Hoàng Uyên Vy, VinEcom

Lê Hoàng Uyên Vy, 28 tuổi, hiện là phó giám đốc điều hành của VinEcom, công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử.

30under30(4)

Tốt nghiệp Đại học Georgetown trong ngành tài chính, Vy từng thành lập trang web thời trang Chon.vn vào năm 2009 cũng như Aiya, một chuỗi nhà hàng phục vụ đồ ăn đường phố của Việt Nam trong nhà.

Vy lọt vào danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực bán lẻ, thương mại điện tử.

5. Lương Duy Hoài, Giao Hàng Nhanh

Một người Việt khác cũng lọt vào danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực bán lẻ, thương mại điện tử là Lương Duy Hoài.

30under30(5)

Năm nay 27 tuổi, Hoài tốt nghiệp đại học ngành Công nghệ thông tin, là người sáng lập và CEO của Giao Hàng Nhanh với hơn 1.000 nhân viên. Anh đang làm việc với 5 đối tác để cung cấp dịch vụ vận chuyển.

Giao Hàng Nhanh làm việc với các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến nhỏ để hỗ trợ vận chuyển, trong đó bao gồm 30 trang thương mại điện tử và hàng trăm doanh nghiệp nhỏ khác. Tính đến cuối năm 2014, công ty đã vận chuyển được khoảng 10.000 đơn hàng mỗi ngày,

  1. Lê Hùng Việt Bảo

Lê Hùng Việt Bảo, 29 tuổi, hiện là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Đại học Chicago về chuyên ngành số học, một trong những lĩnh vực lâu đời nhất của toán học. Trước đó, anh tốt nghiệp tiến sĩ toán học, Đại học Harvard sau khi lấy bằng đại học tại Cambridge.

30under30(6)

Bảo gọi mối quan hệ của các con số là “một sự phức tạp đáng ngạc nhiên nhưng chưa đẹp đẽ”. Anh tin rằng lĩnh vực của anh sẽ có nhiều hữu ích trong việc phát triển công nghệ bảo mật. Bảo lọt vào danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực y tế và khoa học.

  1. Tạ Minh Tuấn, Help International

Tạ Minh Tuấn, 27 tuổi là người sáng lập Help International. Lấy động lực khi cha anh mắc bệnh ung thư, Tuấn đã thành lập nên Help International để hỗ trợ giới thiệu bác sĩ tư nhân cho bệnh nhân tại Việt Nam.

30under30(7)
Hiện tổ chức của anh giúp đỡ cho hơn 10.000 gia đình. Anh đồng thời cũng là chủ tịch của Junior Chamber International, một tổ chức phi lợi nhuận dành cho người từ 18 đến 40 tuổi.

Tuấn lọt vào danh sách 30 Under 30 trong lĩnh vực y tế và khoa học.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Nhà báo Phạm Chí Dũng: “Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân chủ”

Nhà báo Phạm Chí Dũng: “Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân chủ”

Nhà báo Phạm Chí Dũng hội luận với nhà báo Trần Quang Thành

7-3-2016

Lời giới thiệu : Mặc dù cai quản đất nước bằng một chế độ độc tài toàn trị, nhưng suốt 70 năm qua các bản hiến pháp được nhà nước cộng sản Việt Nam đưa ra thực thi đều phải ghi nhận một số quyền của người dân như quyền biểu tình.

Để hội nhập quốc tế cũng như trước sức ép đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phải hứa sớm đưa ra Luật Biểu tình trong nhiệm kỳ cuối của mình. Nhưng lời hứa đó cũng như nhiều lời hứa khác của ông đã không thành sự thật. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại thất hứa. Luật Biểu tình đã không được thông qua trong kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XIII sẽ diễn ra vào tháng 3 này. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã phải lên tiếng nhận xét, đây là một việc làm thiếu nghiêm túc của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Trong khi đó Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, môt tổ chức xã hội dân sự đã sớm đươc ra dự Luật Biểu tình và lấy ý kiến rộng rãi trên mạng xã hội. Dự luật Biểu tình đó cũng đã được gửi đến các cơ quan có thầm quyền như Quốc hội, Chính phủ, đã lâu nhưng không một lời hồi âm.

Nhân sự kiện chính phủ Nguyễn Tấn Dũng không hoàn tất soạn thảo dự Luật Biểu tình trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tich Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có cuộc hội luận với nhà báo Trần Quang Thành. Trong cuộc hội luận nhà báo Phạm Chí Dũng nói: Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân ch”

Nội dung cuộc hội luân như sau – Mời quí vị cùng nghe:

YouTube player

Trần Quang Thành : Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng.

Phạm Chí Dũng :  Vâng. Xin chào anh Trần Quang Thành và quí thính giả.

TQT Nhà báo Phạm Chí Dũng và Hội Nhà báo độc lập Việt Nam đã  từng soạn thảo Luật Biểu tình và đã từng công khai đưa lên lấy ý kiến dư luận. Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã từng ủng hộ phải có Luật Biểu tình và ông là người hăng hái nhất lúc đầu. Nhưng hiện nay vào cuối nhiệm kỳ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội không cho lùi thêm nữa thì chính ông Nguyễn Tấn Dũng lại là người nói chưa soạn thảo xong, chưa chuẩn bị xong nên ông dứt khoát không đưa trình Quốc hội trong kỳ họp cuối cùng của khóa XIII. Tại sao lại như vậy nhà báo Phạm Chí Dũng?

“Bài học xương tủy cho những người còn mơ màng về ông Nguyễn Tấn Dũng”

PCD: Tôi nghĩ có lẽ đây là một bài học đắt giá, một bài học xương tủy cho những người còn mơ màng về ông Nguyễn Tấn Dũng; cho một số trí thức ở trong nước và kể cả một số ít trí thức ở hải ngoại, những người còn mơ hồ ông Nguyễn Tấn Dũng là người ủng hộ dân chủ, là người “nắm chắc ngọn cờ dân chủ” như Thông điệp năm 2014 của ông đã nêu, và về việc ông là người “thoát Trung mạnh mẽ”.

Có một điều là chưa bao giờ ông Nguyễn Tấn Dũng thể hiện một cách triệt để và có hiệu quả đối với việc ủng hộ Luật Biểu tình, mặc dù tháng 11/2011 ông Nguyễn Tấn Dũng là người lãnh đạo cao cấp đầu tiên ra trước Quốc hội đề nghị cần có Luật Biểu tình. Chỉ có vài từ như vậy thôi mà báo chí ồn ào và lúc đó uy tín của ông Nguyễn Tấn Dũng tăng vọt. Lúc đó người ta hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng là  một người đổi mới (lúc đó chưa có cụm từ “cải cách thể chế” như hiện nay). Đơn thuần chỉ có từ “đổi mới”.

Từ sau năm 2011, năm nào ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nhắc đến Luật Biểu tình, nhưng có một điều là ông ta đã không làm gì để thúc đẩy tiến trình soạn thảo Luật Biểu tình. Mặc dù năm 2011 Chính phủ đã chính thức giao cho Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình kết hợp với một số bộ, ngành khác như Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc… Nhưng suốt gần 5 năm qua, dự thảo Luật Biểu tình vẫn giậm chân tại chỗ và năm nào cũng bị trì hoãn. Riêng năm 2015 đã bị trì hoãn 2 lần vào tháng 3 và tháng 12 đều do tác nhân là Bộ Công an trì hoãn đưa ra nhiều lý do trì hoãn, trong đó  có lý do như là chưa thống nhất giữa các bộ, ngành hay là “còn phức tạp lắm”. Đến tháng 2/2016  xuất thêm một tác nhân nữa trì hoãn Luật Biểu tình đó là Bộ Tư pháp cũng với lý do là chưa có sự thống nhất giữa các bộ, các ngành.

Cũng lúc đó xuất hiện thêm một tác nhân nữa là Bộ Quốc phòng. Nếu không có sự tiết lộ của một cán bộ cấp cao của Quốc hội thì có lẽ người ta không bao giờ biết được Bộ Quốc phòng có một quan điểm trì hoãn Luật Biểu tình và do đó là phản ứng lại hoạt động biểu tình chống Trung Quốc.

Bộ Quốc phòng, trong văn bản trả lời Quốc hội đề nghị lùi Luật Biểu tình, đã trả lời rằng Luật Biểu tình là một khái niệm có liên quan đến đổi mới chính trị. Tôi để ý rất sâu đậm vào cụm từ đổi mới chính trị. Bởi vì từ trước đến giờ đổi mới chính trị vẫn được coi là một vấn đề rất nhạy cảm, bằng cách nào đó vẫn có thể bị suy diễn là đi chệch phương hướng chỉ đạo đường lối của Đảng và Nhà nước. Cho nên nói  “đổi mới chính trị” thì rất dễ bị quy chụp là người hữu khuynh, là người rất dễ có quan điểm gần gũi với các “thế lực thù địch”. Khi Bộ Quốc phòng đưa ra lý do đổi mới chính trị như vậy, đồng thời đưa ra  lý do chỉ có thể bảo đảm an ninh, quốc phòng sau đó mới có Luật Biểu tình, có nghĩa là Bộ Quốc phòng cố ý muốn trì hoãn Luật Biểu tình, trong đó có động thái biểu tình chống Trung Quốc của người dân Việt Nam.

Như vậy có thể nhìn ra một chuỗi mắt xích, dây rợ liên quan giữa các bộ ngành như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp kéo lên đến chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng để có quan điểm thống nhất chưa thể ban hành Luật Biểu tình. Hay  nói cách khác, như một số quan chức đã từng tuyên bố rằng  Luật Biểu tình ở Việt Nam chỉ có thể ban hành sau năm 2020 chứ không phải là hiện nay!

Như chúng ta đã biết, đây là một quyền dân đã bị kéo dài nhiều năm lắm rồi. Trong Hiến pháp năm 1946 đã nói về Luật Biểu tình. Trong suốt hơn 70 năm cầm quyền của đảng Cộng sản đã luôn luôn nói về Luật Biểu tình nhưng không bao giờ ban bố cái quyền dân cấp thiết đến như vậy. Nếu tính từ Hiến pháp năm 1992 trở lại đây, có thể nói Luật Biểu tình đã bị trễ hẹn đến 1/4 thế kỷ.

Trong khi đó biểu tình thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân Việt Nam, một yêu cầu bức thiết của người dân Việt Nam bởi vì liên quan đến nhiều thành phần. Nếu như cách đây vài chục năm số thành phần đó còn ít, đến nay đã có đến hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân môi trường, và gần đây nhất chúng ta thấy tiểu thương như ở chợ Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội. Đó là những yêu cầu biểu hiện chính đáng của người dân. Dù chưa có Luật Biểu tình thì suốt từ năm 2005 đến nay, đã hơn 10 năm qua biểu tình và đình công của công nhân, của tiểu thương, của các nạn nhân môi trường, dân oan đất đai vẫn rầm rộ trên khắp  các miền đất nước Việt Nam. Chính điều đó làm cho nhà nước biết rằng rằng nhà nước phải giải quyết nhu cầu biểu tình. Vậy tại sao chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng lại không đáp ứng được điều đó?

Tôi cho rằng đây là một bước thụt lùi nghiêm trọng đối với dân chủ nói chung và thụt lùi nói riêng đối với ông Nguyễn Tấn Dũng đối với cái gọi là “uy tín cá nhân” của ông trong những ngày cuối cùng ông cầm quyền ở Việt Nam. Đáng lẽ ra một người như Nguyễn Tấn Dũng đã phát ra một thông điệp trong đó có cụm từ “nắm chắc ngọn cờ dân chủ”  (Thông điệp 2014) thì ông phải biết vận dụng điều đó, và nếu cho là mị dân đi nữa thì ông cũng phải làm ít điều gì đó dân chủ, cho dân chủ trong đó có Luật Biểu tình. Nhưng rất tiếc là ông đã không tận dụng hoặc không lợi dụng được điều đó. Đó là một trong những nguyên do làm cho ông thất bại và phải rời khỏi Bộ Chính trị  Đại hội XII của đảng cầm quyền tháng 1/2016. Cũng rất tiếc trong những ngày còn lại đó, có người nói thay vì ông Nguyễn Tấn Dũng để lại một chút gì dân chủ cho người dân thì ông lại đảo ngược xu thế đó. Và ông đã làm điều phi dân chủ. Như vậy ông đã không để lại được cái gì trong lòng dân chúng nếu không muốn nói là ngược lại.

“Khát nước giữa sa mạc”: Hãy nhìn vào việc làm của ông Nguyễn Tấn Dũng

TQT: Ông Nguyễn Tấn Dũng là người luôn nêu nhiều vấn đề mang lại sự quan tâm của rất nhiều người, trong dư luận cũng như trong người dân. Ông từng nêu lên phải kiện Trung Quốc; ông từng nêu lên phải cải cách thể chế ; ông từng nêu lên phải tự do internet, tự do thông tin cho dân; ông từng nêu lên vấn đề Luật Biểu tình. Nhưng tại sao những lời nói của ông lại không được thể hiện bằng hành động cụ thể, thưa nhà báo Phạm  Chí Dũng?

PCD: Chúng ta, người dân Việt Nam hãy nhìn vào hành động của ông Nguyễn Tấn Dũng chứ không chỉ nghe lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nói một cách khác là hãy nhìn vào ông Nguyễn Tấn Dũng làm như thế nào, chứ không chỉ nghe ông Nguyễn Tấn Dũng nói ba hoa.

Khi ông Nguyễn Tấn Dũng nói về vấn đề dân chủ, khi nói về Luật Biểu tình, khi nói về cải cách thể chế, về tự do internet hay là “chúng ta không thể ngăn cấm facebook đâu, không thể ngăn cấm các mạng xã hội đâu các đồng chí ạ?!”, hãy nhìn vào bộ sậu của ông, các cơ quan của ông – họ đã làm cái gì để thúc đẩy những điều đó? Không, họ không làm gì cả. Tôi thách bất kỳ ai ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại có thể chứng minh được một hành động dù chỉ nhỏ nhoi của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã làm để thúc đẩy dân chủ, nhân quyền trong suốt những năm vừa qua.

TQT:  Thế tại sao có những người ca ngợi ông ấy là con người cải cách, con người  cấp tiến?

PCD: Có hai thành phần:

– Một thành phần là những dư luận truyền thông mà chúng tôi hiểu đó là những người ủng hộ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Họ đã tập hợp lại thành một nhóm và nhóm này lại biết sử dụng truyền thông một cách triệt để và hiệu quả hơn hẳn nhóm của ông Nguyễn Phú Trọng và thậm chí hơn cả nhóm của ông Trương Tấn Sang.

– Thành phần thứ hai, tôi nghĩ ở Việt Nam luôn luôn có. Đó là những người nào đó, nói một cách mô phỏng là tâm lý “khát nước giữa sa mạc”. Họ đa số là những người lớn tuổi. Tôi đã gặp những người lớn tuổi đó và họ nói thành thật với tôi rằng họ già rồi, họ không còn bao nhiêu thời gian nữa và họ quá sốt ruột trước hiện tình quá ngổn ngang của đất nước. Họ chỉ mong có một bàn tay có bản lĩnh cầm trịch để có thể xoay chuyển được tình hình đất nước. Họ quá mong đợi vào một Gooc-ba-chốp, thậm chí quá mong đợi vào một Putin của Việt Nam. Vì thế họ quan niệm là trong những cái dở phải chọn cái nào ít dở hơn, và họ nghĩ là Nguyễn Tấn Dũng là người ít dở hơn. Họ nghĩ rằng Nguyễn Tấn Dũng là người tham nhũng nhưng ông ta vẫn là người có thể đổi mới, có thể giải tán được đảng Cộng sản. Họ nói thẳng với tôi rằng họ quá lớn tuổi, họ không còn bao nhiêu thời gian, thành thử họ buộc phải lựa chọn. Và từ thái độ buộc phải  lựa chọn ấy, nếu không là ủng hộ thì cũng là nghiêng về một ai đó trong Nguyễn Phú Trọng hoặc Nguyễn Tấn Dũng.

Có người nói với tôi đó là “tâm lý khát nước giữa sa mạc”. Họ như những người đi lang thang giữa sa mạc khô hạn, nóng gắt không có một giọt nước, để khi họ thấy một cái giếng thì họ rất mừng, mặc dù không biết ở dưới giếng đó có nước hay không. Tôi cho rằng có thể thông cảm được với tâm lý đó, nhưng chỉ thông cảm trong một chừng mực nào đó thôi. Vì nếu cảm thông hoàn toàn với tâm lý đó thì có khi lại dẫn tới một sự sai lầm. Đó không chỉ là một sự sai lầm theo nghĩa lựa chọn cá nhân mà nó là cả một sự sai lầm trong vấn đề lựa chọn một thể chế, và là sai lầm cho cả một thế hệ, có thể dẫn dân tộc Việt Nam đến một sai lầm khủng khiếp.

Lúc này, sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng không còn là Ủy viên Bộ Chính trị và nhất là sau khi được biết ông là người chỉ đạo ngưng lùi Luật Biểu tình thì đã có một số người trước đây ủng hộ ông đã nhìn nhận ông khác và thậm chí khác hẳn. Họ không thấy Nguyễn Tấn Dũng như một cơ may cho dân chủ. Không còn rơi rớt một cơ may nào dân chủ nữa. Họ đang phản ứng với ông và thậm chí phản ứng rất mạnh mẽ.

Ông Nguyễn Sinh Hùng đang có một sự thay đổi thầm kín tự thân?

TQT : Luật Biểu tình là một yêu cầu chính đáng của người dân; biểu tình là một yêu cầu chính đáng của người dân. Trong suốt 70 năm qua hiến pháp nào của nhà nước cộng sản cũng nêu lên điều đó. Nhưng tại sao họ lại sợ Luật Biểu tình đến thế? Như ông Nguyễn Tấn Dũng một người được gọi là cấp tiến, là dân chủ cũng lùi lại yêu cầu chính đáng đó của người dân, thưa nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng?

PCD : Đó là tâm lý cai trị độc trị ở Việt Nam. Cai trị một cách độc đoán được gọi là độc trị hay toàn trị. Quản không được thì cấm. Quản không được thì rất sợ. Họ chỉ có thể áp đặt một cách thành công thì họ mới bớt sợ. Nhưng khi biểu tình của người dân đã dâng cao, đặc biệt dân oan đất đai, thì họ rất sợ. Họ sợ Luật Biểu tình vô hình trung sẽ hợp thức hóa làn sóng biểu tình của bà con dân oan đất đai. Cho nên họ cố kéo dài, cố gắng trì hoãn, thậm chí vùi dập Luật Biểu tình không cho ra.  Tôi cho đó cũng là một lý do hoàn toàn dễ hiểu: họ yếu nên họ mới sợ.

TQT : Có một điều rõ ràng mà người dân thấy và ai cũng thấy. Người ta nói là  có 3 cơ quan : Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp. Nhưng mà là một cơ quan lập pháp Quốc hội, đại biểu Quốc hội hình như chưa thảo ra một luật nào mà hoàn toàn ỷ lại vào chính phủ soạn thảo luật rồi lại hướng dẫn thi hành luật.  Tại sao lại có tình trạng như vậy thưa nhà báo Phạm Chí Dũng?

PCD : “Cương lĩnh Đảng quan trọng hơn Hiến pháp” – như ông Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo. Tình trạng từ trước đến nay gần như là đảng cầm tay chỉ việc Quốc hội. Quốc hội chỉ là một cơ quan bù nhìn mà thôi, mặc dù về bản chất Quốc hội là một cơ quan độc lập có quyền hạn giám sát, kể cả giám sát Đảng.

Tôi thấy có rất nhiều bằng chứng cho thấy Quốc hội đã không làm tròn trách nhiệm của mình. Có nhiều lý do, nhưng nguyên nhân sâu xa là Quốc hội chưa thể hiện nổi vai trò của một cơ quan độc lập. Cho nên thời gian sắp tới Quốc hội muốn tỏ ra vì dân hơn, gần dân hơn thì tất nhiên cơ quan này phải có những động thái thay đổi.

Có một điều tôi hơi ngạc nhiên là  ông Nguyễn Sinh Hùng, trong một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng Hai vừa qua, lần đầu tiên ông đã lên tiếng chỉ trích thái độ thiếu nghiêm túc của chính phủ khi trì hoãn Luật Biểu tình. Trước đây chưa thấy biểu thị thái độ của ông Nguyễn Sinh Hùng nghiêm túc và gay gắt đến như thế. Tôi cho rằng cũng có tâm lý khi những người gần hết chức, hết quyền họ có thể nói ra thôi. Nhưng đó chỉ là một lý do.

Tôi cho rằng có một khả năng ông Nguyễn Sinh Hùng đã có một sự thay đổi tự thân – sự thay đổi rất thầm kín. Ông ta muốn để lại một dấu ấn nào đó về giai đoạn cuối đời làm việc của ông ta đối với người dân Việt Nam. Tất nhiên ông ta cũng muốn hậu sự của ông ta được mãn nguyện mà không bị bôi xấu. Thành thử là gần như ông Nguyễn Sinh Hùng đã có một sự thay đổi trong vòng một năm rưỡi vừa qua. Có thể nói, ông là một trong những quan chức cao cấp có những lời ăn tiếng nói tương đối mạnh mẽ nhất. Tôi cho đó dù sao cũng là một dấu hiệu thay đổi  có hướng tích cực, mặc dù động cơ của ông Nguyễn Sinh Hùng có thể chỉ là mị dân. Ở Việt Nam không có cái gì thay đổi nhanh chóng.

Còn ông Nguyễn Tấn Dũng, từ một con người được coi là dân chủ trong mắt một số người dân và trí thức, lại trở thành một người bảo thủ già cỗi, tôi cho đó là một sự bế tắc. Không chỉ bế tắc về chính trị, về dân chủ mà cả bế tắc về dân sinh và cuối cùng có lẽ là bế tắc toàn cục đối với ông Nguyễn Tấn Dũng.

Quốc hội phải chứng tỏ được rằng họ tự đi bằng đôi chân của mình

TQT : Trở lại Luật Biểu tình. Hội nhà báo độc lập Việt Nam nhẽ ra phải đưa ra khuyến nghị một cái luật về tự do báo chí hay là Luật Báo chí mới, nhưng đã tạm gác lại quyền lợi thiết thân nhất của tổ chức mình, của các nhà báo để làm một việc vì dân, vì nước – đó là đưa ra Luật Biểu tình.  Và Luật Biểu tình do Hội Nhà báo độc lập đưa ra đã được sự đồng tình và ủng hộ của dư luận xã hội nhất là dư luận trên các mạng xã hội. Ông đánh giá sao về Luật Biểu tình mà Hội Nhà báo độc lập đưa ra và hiện nay thái độ của cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đối với luật này như thế nào?

PCD : Cuối năm 2014, sau 5 tháng thành lập Hội Nhà báo độc lập, chúng tôi có ngồi lại bàn với nhau. Một trong những cải cách thể chế ở Việt Nam là cải cách làm luật. Một trong những liên quan đến cải cách làm luật là xã hội dân sự, vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam và Luật Biểu tình. Tất nhiên có thể bàn đến luật tương đối sát sườn, phù hợp với chuyên  môn của Hội nhà báo độc lập là Luật Tự do báo chí. Thế nhưng biểu tình là quyền gần gũi, sát sườn nhất ở Việt Nam, còn hơn cả Luật Lập hội nữa.. Có một số luật chúng tôi đã bàn: Thứ nhất Luật Biểu tình ; thứ hai Luật Lập hội ; thứ ba Luật Tự do báo chí ; thứ tư là Luật Tiếp cận thông tin ; thứ năm là Luật Xã hội dân sự. Cuối cùng chúng tôi chọn Luật Biểu tình là luật bức xúc nhất, sát sườn nhất  và có thể nói là nó tác động ngay đến đời sống của dân. Chúng tôi đã tiến hành soạn thảo dự thảo 4 lần Luật Biểu tình đưa lên mạng xã hội góp ý kiến và sau đó hoàn chỉnh Luật Biểu tình theo quan điểm của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam và đã gửi cho một số cơ quan liên quan như Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Tư pháp. Nhưng rất tiếc từ đầu năm 2015 đến nay không có bất kỳ sự hồi âm nào. Nhưng Hội Nhà báo độc lập Việt Nam không lấy đó làm ngạc nhiên vì đó là thói quen thường trực của các cơ quan nhà nước này.

Chúng tôi chỉ muốn nói là xã hội dân sự quan tâm đến vấn đề này. Chúng tôi muốn đóng góp như một ý kiến tham khảo khi Quốc hội soạn thảo Luật Biểu tình. Chúng tôi nhấn mạnh là Quốc hội soạn thảo Luật Biểu tình chứ không phải là Bộ Công an soạn thảo Luật Biểu tình thì có thể tham khảo ý kiến của Hội Nhà báo độc lập như là một tổ chức xã hội dân sự. Tất nhiên sự tham khảo ý kiến đó là với quan điểm của người dân chứ không phải là áp đặt người dân.

Chúng tôi hy vọng với xu thế không thể thoái thác trách nhiệm và xu thế của ngày càng dâng cao áp lực của đời sống, áp lực của nhân dân, có lẽ năm 2016 vào một thời điểm mà Quốc hội sẽ cần phải chứng tỏ được rằng họ tự đi bằng đôi chân của mình. Họ không phải là một mái đầu ngoan ngoãn nói gì nghe đó, nói gì làm đó và họ cũng phải đáp ứng được một số tối thiểu quyền dân. Đó là  luật để cho người dân biểu thị thái độ của mình trên đường phố. Lúc đó có thể bản văn dự thảo Luật Biểu tình của Hội Nhà báo độc lập sẽ được Quốc hội “để mắt” tới. Chúng tôi cho rằng đó là một điều đương nhiên. Đó là một việc Quốc hội phải lắng nghe.

TQT : Hy vọng mong muốn của Hội Nhà báo độc lập, của Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng sẽ trở thành hiện thực khi Quốc hội khóa XIV bước vào nhiệm kỳ của mình.

Mong Hội Nhà báo độc lập tiếp tục tiếng nói của mình góp phần cho Luật Biểu tình sớm ra đời, làm cơ sở cho mọi người thực thi quyền của mình như qui định trong Hiến pháp. Xin cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng.

PCD : Tôi cũng mong như vậy. Xin cảm ơn anh Trần Quang Thành.

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’
Nguoi-viet.com

Châu Văn Thi
(Gởi cho Người Việt từ Manila)

MANILA (NV) – “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.” Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc bình luận về những hành động quân sự mới đây của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cựu Nghị Sĩ Roilo Golez trình bày bản tham luận về những sự mở mang, cải tạo đảo của các quốc gia ở Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Sáng 4 Tháng Ba 2016, các tổ chức Xã Hội Dân Sự (XHDS) Việt Nam và Philippines tổ chức hội nghị Biển Đông lần thứ 2 tại Manila, Philippines.

Đến tham dự có tổ chức VOICE, nhóm họp mặt dân chủ của Việt Nam cùng với 2 liên minh MARCHA, USPGG của Philippines.

Đặc biệt có sự tham dự của ông Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu độc lập về Biển Đông đến từ Việt Nam. Ông Phúc cho rằng tổ chức ASEAN hiện giờ là một tổ chức yếu, các thiết chế còn lỏng lẻo và nếu không giải quyết những bất đồng nội bộ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa thì khó mà chống Trung Quốc được.

Ông cũng đề nghị, “Về mặt chiến lược quân sự thì nên chăng giữa Việt Nam và Philippines đàm phán vấn đề 2 đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây, biến nó thành hòn đảo nhân tạo và một căn cứ quân sự nhằm phá vỡ được trận địa trên 7 đảo nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.”

“Có một số người nói rằng, việc mà Trung Quốc triển khai radar, tên lửa là để cô lập và đối đầu với Mỹ, tôi thì không nghĩ như vậy!”

Nhà nghiên cứu bình luận: “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.”

Hội nghị có trên 20 người tham dự, đến từ 4 tổ chức XHDS Việt-Phi. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Tại hội thảo, ông Roilo Golez, cựu Thượng Nghị Sĩ Philippines trình bày bài phân tích về sự mở mang mới nhất của Trung Quốc ở vùng biển South China Sea (Philippines gọi là Tây Philippines, Việt Nam gọi là Biển Đông).

Ông Roilo Golez cho rằng cần có thêm nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc và nhiều những cuộc hội thảo như thế này nhằm giáo dục người dân về mối nguy cơ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuyên bố chung Việt-Phi

Kết thúc hội nghị, 4 nhóm Xã Hội Dân Sự của Việt Nam và Philippines cùng đồng ý ký tên vào tuyên bố chung Việt-Phi trong đó nêu rõ: “Các tổ chức Xã Hội Dân Sự cần phải có một tiếng nói độc lập.

“Chúng ta không muốn nói những gì chính quyền nói, chúng ta sẽ có tiếng nói riêng của mình.

“VOICE đồng ý để tiếp tục tổ chức những hội nghị như thế này.

“Các tổ chức Xã Hội Dân Sự như USPGG và MARCHA có thể tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc,” tuyên bố chung ký bởi 4 tổ chức cho biết những việc cần làm.

Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc đề nghị Việt-Phi hợp tác quân sự hóa 2 đảo Song Tử Đông, Song Tử Tây để đối chọi với Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Luật Sư Trịnh Hội, giám đốc điều hành của tổ chức VOICE cho biết hội nghị đã đồng ý 2 điều chính đó là: “Những người tham gia đồng ý sẽ tiếp tục vận động những tổ chức XHDS ở Philippines và Việt Nam cùng hợp tác để tiếp tục ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cùng đồng ý sẽ phải thúc đẩy chính phủ Việt Nam thực hiện điều tương tự là kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.”


Tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, một diễn giả của hội nghị Biển Đông lần 2 mất vào ngày 3 Tháng Ba khi đang trên máy bay từ Mỹ đến Philippines.

Hội nghị Biển Đông lần 2 dành 1 ghế trống để tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, diễn giả của hội nghị qua đời khi trên đường đến tham dự. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Trước khi bắt đầu hội nghị, mọi người cùng dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ về ông, đồng thời hội nghị để trống 1 ghế đề tên ông như có sự hiện diện của ông trong cuộc hội thảo lần này.

Theo dự định, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích sẽ có bài tham luận bàn về quan hệ Việt-Trung và ông cho rằng mối quan hệ 2 nước đang ở “một khúc quanh phức tạp.”

Thi hài của Giáo Sư Bích sẽ được đưa về Hoa Kỳ vào tối 6 Tháng Ba, 2016.

Lương và cuộc sống của công nhân

Lương và cuộc sống của công nhân

Hoàng Dung, thông tín viên RFA
2016-03-06

Các công nhân nữ trong một xưởng may.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Việt Nam được coi là một nước đang phát triển, với một lực lượng lao động trẻ, dồi dào và có nhiều tiềm năng, tuy nhiên lương của công nhân Việt Nam đang ở mức thấp và cuộc sống của công nhân gặp nhiều khó khăn.

Thu nhập của công nhân

Theo nghị định 122/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2016 quy định mức lương tính theo vùng, với mức lương tối thiểu, cụ thể: Đối với vùng 1 mức lương là 3.500.000đ/tháng, vùng 2 mức lương 3.100.000đ/tháng, vùng 3 – 2.700.000đ/tháng, vùng 4 – 2.400.000đ/tháng. Đây là mức lương tối thiểu mà khi doanh nghiệp phải thỏa thuận để trả cho các công nhân không bao gồm các khoản trợ cấp cũng như phụ cấp thêm hay là thời gian làm thêm giờ của công nhân.

So với các nước cùng khu vực thì mức lương tối thiểu của công nhân Việt Nam là thấp nhất.

Đó là quy định của chính phủ với mức lương tối thiểu cho công nhân, tuy nhiên thực tế thì không như vậy, có nhiều doanh nghiệp không trả lương cho công nhân theo quy định đó, có công ty lại bớt chỗ này để bù vào chỗ kia.

Một ngày em có thể làm được 15, 16 tiếng, có khi em làm thêm, phụ thêm để đủ ăn mà thôi.
– anh Trần Văn Điển

Anh Trần Văn Điển một công nhân làm ở công ty sản xuất giấy An Hòa, tỉnh Tuyên Quang cho biết, lương cơ bản của anh là 2.500.000đ/tháng, cộng tất cả các khoản trợ cấp và phụ cấp thì anh được 3.700.00đ/tháng, ngoài ra anh không được hỗ trợ nào thêm, dù làm việc trong môi trường rất ô nhiễm về chất hóa học.

Nhưng theo nghị định của chính phủ về việc tính lương theo vùng thì 1 tháng anh phải được 3.100.000đ/tháng không bao gồm các khoản phụ cấp và trợ cấp.

Anh Điển tiếp lời:

Lương làm của em là 2.500.000 ngàn đồng, cộng thêm các vào là 3.700.000, không có hỗ trợ gì nữa, tiền lương 3.700.000 là quá ít so với mặt bằng chung ở các tỉnh thành.

Chị Nguyễn Thị Yến, một công nhân quê ở Nghệ An làm tại khu công nghiệp Nam Cấm ở Nghệ An cũng cho biết.

“Lương cơ bản của em là 2.850.000, nếu tăng ca đều đều 1 tháng 48h thì 1 tháng được khoảng 4.500.000.”

Trong khi những tỉnh thành khác thì lương cơ bản khá thấp thì các khu công nghiệp trên địa bàn Tp Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai… cao hơn nhiều.

Chị Huệ làm trong công ty Sprinta ở Bình Dương cho biết:

“Lương cơ bản được 4.100.000, kể cả làm thêm giờ 1 tháng em được 6.000.000.”

Làm thêm giờ

Làm việc trong công ty sản xuất giấy An Hòa, anh Điển cho biết đây là công ty sản xuất theo dây chuyền nên không có tăng ca, thêm giờ, nên 1 tháng tất cả các công nhân chỉ nhận được 3.700.000đ, nhưng theo anh với mức tiền này công nhân họ chỉ đủ sống qua ngày, nhất là đối với những người không phải dân bản xứ phải đến thuê ở trọ, chứ chưa tính đến việc ốm đau hay là trợ giúp thêm cho gia đình. Còn anh Điển là dân bản xứ mọi sinh hoạt cùng với gia đình, ngoài ra mỗi khi làm ở công ty về anh còn kiếm việc để làm thêm nên thu nhập có khả hơn.

000_Hkg4153197.jpg

Một lao động Việt Nam của nhà máy phát điện tuabin đứng kế các thành phần tuabin gió bên trong một dây chuyền lắp ráp tại thành phố ven biển phía Bắc của Hải Phòng.

Anh Điển tiếp lời:

“Một ngày em có thể làm được 15, 16 tiếng, có khi em làm thêm, phụ thêm để đủ ăn mà thôi. Chứ còn như những người nào mà đến đây ở trọ mà để làm ăn thì với mức lương 3.700.000 thì chỉ gọi là ăn cho qua ngày thôi vì nó quá thấp. Còn chưa nói đến chuyện ốm đau hay là bệnh tật, hay là gia đình còn có ai ốm đau nữa thì chắc là không đủ sinh sống.”

Trong khi anh Điển ngoài thời gian làm việc ở công ty thì anh phải tìm thêm cho mình một công việc khác để tăng thu nhập cho cho mình thì phần lớn các công nhân làm việc trong các khu công nghiệp thì họ phải làm tăng ca để có thêm thu nhập cho cuộc sống, vì theo nhiều công nhân cho biết, lương cơ bản của họ thì chỉ để giúp họ chi trả cho cuộc sống trong tháng đó, nếu tháng đó không có ốm đau, không có đám cưới… thì như thể họ mới đủ. Còn tiền làm tăng ca thì đó mới là tiền để họ trợ giúp cho gia đình, vì khi ra đi làm thì gánh nặng gia đình, nuôi các em ăn học… đè nặng trên vai họ.

Theo quy định của công ty thì lương cơ bản của công nhân là một ngày làm việc 8 tiếng, nhưng vì gánh nặng gia đình nên nhiều công nhân làm việc mỗi ngày 10 tiếng, 12 tiếng, có những công nhân thậm chí làm đến 14 tiếng, 16 tiếng 1 ngày.

Chị Huệ làm công nhân ở công ty Sprinta (Bình Dương) cho biết, mỗi ngày chị phải làm tăng ca đến 14 tiếng, như vậy mỗi tháng chị mới đủ dư 2.000.000 để phụ giúp cho gia đình, đó là đối với những người tiết kiệm.

“Trước thì có 9 – 10 tiếng, nhưng giờ chỉ có 8 tiếng thôi, tùy theo từng người, nhưng mỗi tháng em có dư 2.000.000.”

Có nhiều công ty ngoài các khoản trợ cấp và phụ cấp, họ còn hỗ trợ cho các công nhân thêm nhiều khoản khác nữa như hỗ trợ thêm tiền xăng xe cho các công nhân người địa phương mà không thể ở trọ, hỗ trợ tiền sinh đẻ cho các công nhân nữ…

Chị Yến ở Nghệ An chia sẻ:

“Xăng xe khu vực là 400.000, tăng ca 1 tiếng được 15.000, phụ nữ sinh vẫn có bảo hiểm, nhưng khi sinh sau đi làm 6 tháng họ mới nhận được bảo hiểm.”

Thông tin từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2016, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 15.605 lao động, chưa kể đến số lao động đi làm ở các nước mà không qua dịch vụ.

Việt Nam được là một nước có nguồn lao động trẻ, theo một báo cáo mỗi năm có khoảng 1,1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, tuy nhiên vì ở trong nước không tìm được việc làm cũng như tiền lương ít ỏi nên nhiều công nhân Việt Nam phải tìm cách đi xuất khẩu lao động. Trong thời gian gần đây thị trường mà nhiều lao động Việt Nam tìm tới là Lào, Camphuchia và đặc biệt là Thái Lan.