Mất trắng hàng chục ngàn tỉ vì dùng công nghệ Trung Quốc

Mất trắng hàng chục ngàn tỉ vì dùng công nghệ Trung Quốc
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Việt Nam hiện có bảy nhà máy sản xuất ethanol (một loại cồn chiết xuất từ khoai mì để pha vào xăng, tạo thành xăng sinh học) đã ngưng hoạt động vì sử dụng công nghệ của Trung Quốc.

Ðó là nội dung của một báo cáo do Bộ Công Thương của Việt Nam vừa công bố. Báo cáo này khiến dân chúng Việt Nam sốc nặng sau khi mới bị sốc trước các thông tin liên quan đến nhà máy Bio Ethanol Dung Quất.


Một góc nhà máy Bio Ethanolo Dung Quất. (Hình: Dân Trí)

Tuần trước, báo chí Việt Nam cho biết, ngoài 1,900 tỉ đồng đã chi cho dự án xây dựng nhà máy Bio Ethanol Dung Quất và nay coi như mất trắng, mỗi tháng, nhà máy Bio Ethanol Dung Quất đang ngốn thêm hai tỉ nữa dù đã tạm ngưng hoạt động.

Lý do chính khiến nhà máy Bio Ethanol Dung Quất, tọa lạc tại Quảng Ngãi phải ngưng hoạt động vì sản phẩm có giá thành quá cao. Nhà máy này bắt đầu vận hành vào tháng 2 năm 2012 và chưa bao giờ có lời mà còn lỗ nặng vì chi phí quá lớn, giá thành của sản phẩm cao hơn giá bán trung bình của sản phẩm cùng loại trên thị trường tới 2,000 đồng một lít.

Bởi càng sản xuất càng lỗ, kể từ tháng 4 năm ngoái đến nay, nhà máy Bio Ethanol Dung Quất đã ngưng hoạt động. Ðáng nói là trong 12 tháng vừa qua, mỗi tháng, công quỹ Việt Nam mất thêm hai tỉ đồng để trả lãi và chi phí bảo trì.

Nói cách khác, ngoài 1,900 tỉ vốn đầu tư, tổng thiệt hại trong 12 tháng vừa qua là 48 tỉ đồng và mức độ thiệt hại sẽ còn tiếp tục tăng.

Tuy nhiên Việt Nam không chỉ có một nhà máy sản xuất ethanol như nhà máy Bio Ethanol Dung Quất, ngoài nhà máy Bio Ethanol Dung Quất, Việt Nam hiện có sáu nhà máy tương tự. Sáu nhà máy này giống hệt nhà máy Bio Ethanol Dung Quất ở chỗ, sau khi ngốn rất nhiều tiền đều đã ngưng hoạt động vì càng hoạt động thì mức độ thua lỗ càng lớn.

Trong báo cáo mới nhất liên quan đến các nhà máy sản xuất ethanol tại Việt Nam, Bộ Công Thương Việt Nam giải thích, lý do có tới bảy nhà máy sản xuất ethanol tại Việt Nam ngưng hoạt động là vì sử dụng công nghệ Trung Quốc.

Bốn trong số bảy nhà máy sản xuất ethanol đã ngưng hoạt động sử dụng 100% cả công nghệ lẫn thiết bị của Trung Quốc. Ba trong số bảy nhà máy còn lại tuy có sử dụng công nghệ của một số quốc gia khác nhưng thiết bị vẫn là của Trung Quốc. Sau khi khánh thành, thời gian vận hành của cả bảy nhà máy chỉ khoảng một hoặc hai năm rồi đóng cửa.

Tại sao trong khi có rất nhiều quốc gia đã và đang tăng mức độ sử dụng xăng sinh học (xăng pha ethanol) trong sinh hoạt xã hội thì các nhà máy sản xuất cồn ethanol (để pha vào xăng thường, tạo thành xăng sinh học) tại Việt Nam lại lại phải ngưng hoạt động?

Bộ Công Thương của Việt Nam trả lời, đó là do công nghệ hoặc thiết bị mà những nhà máy này sử dụng đều thuộc loại lạc hậu, Trung Quốc không sử dụng nữa mới bán lại cho Việt Nam. Ngoài yếu tố giá thành cao, ethanol do những nhà máy này sản xuất ra không đủ chất lượng để pha vào xăng thường, tạo thành xăng sinh học. (G.Ð)

Chuyện tử tế

Chuyện tử tế

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-04-04

Tân Chủ tịch nước Trần Đại Quang (phải) nhận hoa từ cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau khi ông được bầu làm Chủ tịch mới tại Quốc hội, Hà Nội ngày 02 tháng 4 năm 2016

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tạp chí điểm blog tập hợp những bình luận của các blogger trên trang cá nhân, trên các trang mạng xã hội… xung quanh những sự kiện lớn của đất nước.

Tử tế

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc cho các chính khách đồng nghiệp của ông và cho chính ông là về hưu sẽ ráng làm người tử tế.

Đã có rất nhiều quan chức Việt Nam khi về hưu hay sắp về hưu có những phát ngôn được cho là thành thật, là mạnh dạn, nay lời nói của Thủ tướng còn hơn thế nữa vì nó chứa đựng cả một lời khuyên đạo đức.

Và câu nói của Thủ tướng được báo chí chính thống của Việt Nam đưa lên hàng đầu trong tuần qua.

Dù sao, từ những suy tư và nỗi lòng, các vị khuyên nhau chân tình vậy cũng đáng khích lệ, đã không tử tế, nay phải sống tử tế (nhé!).
– Nhà văn Bùi Văn Bồng

Blogger Nguyễn Hoa Lư nhận xét:

Gặp điều gì khó khăn lắm người ta mới nhắc nhở nhau mà “ráng lên”. Chuyện “làm người tử tế” là chuyện đương nhiên của một con-người-ra-người, đám thảo dân mắt toét sau lũy tre làng còn biết vậy mà tay VietNamnet nâng lên thành chuyện lớn lao, tâm huyết của ngài (cựu) thủ tướng!

Chỉ với một cái tựa đề ngắn, cá nhân tôi cúi đầu ngả nón trước VietNamnet. Làng báo An Nam, khi mà “nhân tài như lá mùa Thu”, đang trong cảnh “trông người người càng vắng bóng mịt mù” thì cái hùng tâm của VietNamnet thật xứng đáng được kính trọng vậy!

Cái chữ “ráng” mà thủ tướng dùng làm cho nhiều người ngạc nhiên một cách thú vị. Nhà văn Bùi Văn Bồng viết rằng:

Dù sao, từ những suy tư và nỗi lòng, các vị khuyên nhau chân tình vậy cũng đáng khích lệ, đã không tử tế, nay phải sống tử tế (nhé!). “Các đồng chí phải ráng làm người tử tế”, phải ‘ráng’ kia đấy, nhưng khó, già cả rồi, tre già khó uốn, cái tật thường lớn hơn cái tuổi!

Một nhà văn khác là Lưu Trọng Văn nhân chuyện này kể lại một kỷ niệm cá nhân với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ông còn là người đứng đầu tỉnh Kiên Giang. Khi đó Thủ tướng nói thẳng rằng địa phương của ông phải sống bằng nghề buôn lậu trong một tình hình kinh tế bi đát cách đây mấy mươi năm.

Lưu Trọng Văn cho rằng đó là sự thành thật, ông không biết là sau mấy mươi năm Thủ tướng có còn tính thành thật đó hay không nhưng ông có một niềm tin rằng lời chia tay trước quyền lực “ráng làm người tử tế” của ngài là một lời đầy tâm trạng sâu nặng có cay đắng và quan trọng nhất là rất thật.

Chuyện Tử tế thứ nhất

Muốn có được những chuyện tử tế trong xã hội hiện nay là một điều không đơn giản. Đối với blogger Khải Đơn là chuyện vượt qua nỗi sợ, và trong tuần qua nhiều người dân Sài gòn đã vượt qua nỗi sợ để đòi chính quyền không được chặt đi những cây cổ thụ hàng trăm năm của thành phố này.

Khải Đơn nhớ lại một lần bày tỏ chính kiến chống Trung Quốc xâm lược:

Chúng tôi đã nhìn nhau rất nhiều lần im lặng. Thế hệ của tôi, có lẽ là biểu trưng hùng hồn nhất của sự bất lực trong tâm can. Nỗi sợ và sự khôn ngoan nhiều hơn tất cả. Sự chấp nhận và số lần im lặng cũng nhiều hơn tất cả. Tôi đã học cách tin vào nỗi sợ – những kẻ sợ khôn ngoan và toan tính trong con ốc an toàn.

Và hôm nay Khải Đơn viết cho những người hôm nay xuống đường gìn giữ cây xanh:

Sẽ đến một lúc nào đó, những thế hệ lãnh cảm như chúng tôi chắc phải chết hết đi, để những người ôm cây không biết đến mùi sợ hãi, sạch nước cản, và lớn lên tự do vô cùng trong dòng suy nghĩ của họ.

000_983CS-400

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch Quốc hội tại Hà Nội ngày 31 tháng 3 năm 2016. AFP photo

Họ sẽ chất vấn khi những giảng viên doạ đuổi học họ.

Họ sẽ tranh biện với ông thầy – khi ông nhân danh cái gì – để giáo dục họ về sự tự do của suy nghĩ.

Họ sẽ hỏi những kẻ gán ghép người khác bằng các danh từ sặc mùi âm mưu – rằng liệu có gì ẩn giấu sau mật ngữ “tôi yêu cây xanh”?

Chẳng có gì cả, khi những tâm hồn tự do lớn lên.

Trong khi ấy, ở Văn khoa Sài Gòn (aka trường Nhân Văn) – nơi đã sản sinh ra một thế hệ hát vì tự do hàng chục năm trước, nơi đã sinh ra những thế hệ giảng viên đấu tranh vì tự do và hoà bình – chúng tôi được dạy hãy câm mồm và lờ đi tất cả.

Cũng nói về nỗi sợ, nhà báo Sương Quỳnh viết trên trang Bauxite Việt Nam rằng:

Dù rằng từ nhận thức đến lên tiếng và rồi hành động là cả một khoảng cách. Nhất là xưa nay những việc này luôn bị các nhà chức trách bưng bít thông tin và ngăn cản, đe dọa và cả bắt bớ làm người Dân trở thành hèn nhát và thụ động dẫn đến vô cảm. Nhưng nếu biết trách nhiệm công dân, vượt qua nỗi sợ và hiểu được QUYỀN CON NGƯỜI thì chỉ cần như một cái vỗ cánh của một con bướm cũng có thể gây ra cơn bão để quét đi những điều làm tai hại cho môi trường, cộng đồng và cả xã hội.

Chuyện tử tế thứ hai

Chuyện tử tế thứ hai hiện nay có lẽ là việc phải tìm ra người chịu trách nhiệm các vấn nạn của xã hội như blogger Tuấn Khanh đề cập đến trong bài mới nhất của ông:

Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm. Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.

Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này. Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

Tuấn Khanh cho rằng tất cả những xáo trộn, bất an đó của xã hội đến từ sự mất lòng tin của dân chúng, một sự mất niềm tin mà tác giả cũng thấy ở một quốc gia láng giềng có cùng thể chế chính trị là Trung quốc.

Trong sự mất niềm tin nơi một xã hội vô trách nhiệm, blogger Minh Văn tìm thấy một mẩu số chung nơi các quốc gia cộng sản:

Theo truyền thông của nhà nước Cộng Sản, các đối tượng sau luôn là kẻ có lỗi: Thiên tai (ông trời), người dân, các thế lực phản động và thù địch.

Còn nhà nước thì chẳng liên quan gì cả, hoặc là có lỗi rất ít, không đáng kể.

Chuyện tử tế lớn nhất

Khi thủ tướng lên tiếng về chuyện tử tế khi về hưu cũng là lúc nhà nước Việt Nam tiến hành một việc chưa có tiền lệ, đó là Quốc hội sắp mãn nhiệm lại bầu các chức danh quan trọng cho chính phủ sắp tới. Nhiều người cho rằng việc đó chứng tỏ chính phủ hay đảng cộng sản đang lấn lướt quyền hành của Quốc hội.

000_8Y5WG-620-400

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến tham dự phiên họp cuối cùng của Quốc hội tại Hà Nội hôm 21 tháng 3 năm 2016.                 AFP photo

Blogger Kami cho rằng không phải như thế, vì trên thực tế bấy lâu nay Quốc hội Việt Nam chẳng có quyền lực gì.

Blogger Dân Nguyễn viết trên trang Ba Sàm một lời khuyên dành cho thủ tướng nếu ông muốn làm một chuyện tử tế có ý nghĩa:

Việc “tử tế” có ý nghĩa nhất, và cũng không quá khó với ngài thủ tướng, (dù biết khi đó ngài đã là thảo dân), không phải là việc quan hệ tốt với ông hàng xóm hay vâng lời vợ đuổi gà trong vườn thay vì đi nhậu nhẹt… mà là phải lên tiếng bênh vực cái đúng, lên án cái sai, cái xấu, cho dù cái xấu đó ở đâu, núp dưới danh gì. Sự “tử tế” đầu tiên khiến ông ghi điểm ngay, đó có thể là việc lên tiếng ủng hộ cho những ứng cử viên độc lập trong kỳ bầu cử Quốc Hội khóa 14 sắp tới đây. Trong thâm tâm ông cũng thừa biết họ là những con người tử tế mà còn có thể thêm chữ “rất” ở đầu…

Một trí thức lão thành là ông Nguyễn Khắc Mai cũng đưa ra lời khuyên là những người cầm quyền Việt Nam nên chấp nhận một xã hội dân sự qua việc cho phép những ứng viên độc lập tranh cử vào Quốc hội, ông viết:

Hãy để cho người dân tự do bầu cử, ứng cử, nhiều nhóm công dân sẽ tham chính, tự họ sẽ kiểm soát được lẫn nhau. Chuyện chạy chức chạy quyền chắc chắn sẽ được kiểm soát. Ai chạy, chỉ toàn đảng viên cộng sản. Chạy ai, cũng chỉ là cán bộ cộng sản. Những dân đen cũng có chạy, nhưng chỉ chạy để làm đầu sai. Chỉ có đám quan chức “không bao giờ mắc sai lầm” thì mới chạy để săn tìm quyền lực, và lợi ích bẩn thỉu.

Blogger Song Chi thì cảnh báo là nếu tình trạng hiện nay không có gì thay đổi thì những người chủ thực sự của đất nước này sẽ đứng lên, lúc đó đảng cộng sản sẽ thất bại.

Để đến một ngày những người chủ ấy sẽ đứng lên buộc đảng và nhà nước cộng sản phải rút lui trong một cuộc bầu cử công khai chính thức để một chính đảng khác xứng đáng hơn, có trách nhiệm hơn lên lãnh đạo, chấm dứt kiểu hành xử nắm quyền mà như đang ở trọ đối với đất nước, dân tộc.

Và theo blogger Viết từ Sài gòn thì sự thất bại đó sẽ chính là niềm mong mỏi lớn nhất của nhân dân:

Theo truyền thông của nhà nước Cộng Sản, các đối tượng sau luôn là kẻ có lỗi: Thiên tai (ông trời), người dân, các thế lực phản động và thù địch.
– Blogger Minh Văn

Cái chết hay sự cáo chung hay nói sang hơn một chút là sự về hưu của đảng Cộng sản mới là niềm mong mỏi của nhân dân. Lời nói chia tay của một thực thể đảng Cộng sản mới gây cảm động. Chứ ông Dũng hay ông Hùng, ông Sang có nói một ngàn lời chia tay chăng nữa thì đó cũng là câu chuyện (có gian lận, có đấu đá, có hạ sát nhau) giữa các ông với nhau. Điều này chẳng gây cảm động gì đối với nhân dân. Bởi, khi nhân dân đã ngán ngẩm, đã mệt mỏi thì ông nào nói lời chia tay cũng vậy mà thôi!

Những lời chia tay ấy, theo lời blogger Hiệu Minh, thì không cần có một lời tâm sự nhắc nhở đầy tính đạo đức như của ngài Thủ tướng, nếu như các quan chức đều tử tế, khi về hưu sẽ được dân chúng nhớ đến.

Một trong những người hy vọng rằng các qaun chức của đảng cộng sản sẽ trở thành người tử tế, rằng đảng cộng sản sẽ cải cách sau đại hội 12 vừa rồi để tìm cách phá sự bế tắc của xã hội Việt Nam, là Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, nhưng một thời gian sau đại hội đảng lần thứ 12, bà quan sát thấy sự đàn áp những người bất đồng chính kiến chỉ có tăng lên chứ không giảm, bà đang nghĩ rằng mình đã đưa ra một dự báo sai lầm về đảng cộng sản.

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

  Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

tuankhanh

RFA

Cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai phe phụ huynh vẫn không ngớt về nạn bắt cóc trẻ em, hiện râm ran trong từng gia đình.Người ta kể về những chuyện giành giật lại con cháu mình từ bọn bắt cóc ở ngã tư, có người may mắn, có người thì chỉ còn khóc hận.
Cuộc tranh cãi dữ dội hơn, ngay sau khi có lời tuyên bố của trung tá Nguyễn Quang Thắng, phó phòng tham mưu Công an TPHCM rằng không thể có nạn bắt cóc tràn lan trên đường phố.
Theo ông Quang Thắng thì cơ quan công an điều tra chỉ tiếp nhận duy nhất một vụ như vậy mà thôi.
Thật đáng phân vân, một bên là lời đoan chắc của hệ thống công quyền, còn một bên là an nguy của chính mình.
Báo Phụ nữ Việt Nam thì khẳng định rằng nhiều trường đã ra thông báo cho phụ huynh về tình trạng này, mà nhiều nơi đang xảy ra như ở trường Đặng Thuỳ Trâm (quận 7, TPHCM), trường mầm non Anh Tú (quận Tân Bình), trường Phan Như Thạch (phường 9, Lâm Đồng)…
Thật bất ngờ khi trong những lời cảnh báo về nạn bắt cóc trẻ em, có cả thông báo chính thức của Bộ Giáo dục vào ngày 13/1. Vụ trưởng vụ Công tác học sinh sinh viên Ngũ Duy Anh đã kêu gọi các trường học phải đề cao cảnh giác, tăng cường đảm bảo an ninh cho các em.
Trên truyền hình, các bài học võ thuật cơ bản nhằm chống cướp con trên tay cũng xuất hiện.
Vậy thì ai đúng, ai sai? Trong một xã hội mà mỗi ngày càng có nhiều biến động, người ta không thể răn đe việc tán phát tin đồn trong sự bất an của dân chúng, mà phải có những phương pháp giải quyết khủng hoảng hợp lý và tích cực của chính quyền.
Việc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược chỉ làm mọi thứ thêm rối rắm, và cuối cùng chỉ có người dân là nạn nhân.
Xã hội Việt Nam nhận được rất nhiều các phát ngôn của các quan chức và chính quyền địa phương. Nhưng có vẻ như ít khi nào tìm thấy được ai thật sự là người chịu trách nhiệm trước mắt người dân, hoặc chịu trách nhiệm của bản thân mình.
Ngược lại, đôi khi người có trách nhiệm thường thoái thác rằng “bận họp” hoặc cúp máy đột ngột khi trả lời phỏng vấn. Dường như có ai đó phải chịu trách nhiệm, phải hành động trên đất nước này là điều mơ hồ, xa xôi.
Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng tại Hà Nội, bị một nhóm người lạ mặt tấn công dã man bằng gậy vào ngày 23/3 ngang nhiên như trong phim xã hội đen.
Vụ tấn công diễn ra giữa ban ngày, như một nỗi nhục của nền báo chí quốc gia mà cho đến khi kết thúc không hề có bóng dáng công an viên nào xuất hiện. Sau khi đi cấp cứu, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng phải tự mình ra công an của khu vực đó để trình báo.
Lúc này, có rất nhiều nhà báo, rất nhiều sinh viên truyền thông dõi theo sự kiện này với nỗi phập phồng về tương lai và nghề nghiệp của mình, nhưng có vẻ vụ án như “bế tắc”. Và không ai phải chịu trách nhiệm về việc mất an ninh kỳ quặc như vậy ngay giữa thủ đô Hà Nội.
Trong sự kiện nữ học sinh Lê Thị Hà Vi, 15 tuổi ở Cư Kuin, Dăk Lăk bị bệnh viện địa phương chẩn đoán sai khiến phải cưa chân, ai cũng bất ngờ khi bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đến động viên và nói “bác hứa sẽ giúp cho con thi đậu vào ngành y”.
Sự kiện tắc trách của ngành y tế khiến ai cũng đau lòng, khiến một nữ sinh phải tàn tật suốt đời, nhưng để “đền” cho chuyện đó, mà một nữ sinh có nguyện vọng học ngành công an, đột nhiên được động viên chỉ cần học một năm là sẽ được giúp đậu ngành y, khiến ai cũng ngạc nhiên.
Nguyên gốc câu nói đó có thể trở thành vấn đề của pháp luật. Thi cử và học vấn là vấn đề thiết yếu của quốc gia, không thể tuỳ tiện như vậy. Ở vị trí là một người có học và có trách nhiệm, bà Tiến không thể tuỳ tiện. Việc “hứa giúp” của bà Tiến có thể đặt vào thế bị Bộ Giáo dục Việt Nam khởi kiện.
Nhưng tiếc thay, có vẻ như Bộ Giáo dục Việt Nam cũng không có ai thấy mình có trách nhiệm để cần phải lên tiếng.
Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm.
Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.
Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này.
Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

9 người chết tại Sacramento vì dùng phải thuốc giả

9 người chết tại Sacramento vì dùng phải thuốc giả
Nguoi-viet.com
SACRAMENTO, California (NV) – Hôm Thứ Sáu, Sở Y Tế và Xã Hội Sacramento County cho hay số người thiệt mạng trong vùng thủ phủ Sacramento của California do dùng thuốc fentanyl quá liều đã lên tới chín người, nguồn tin đài KCRA cho biết.

(Hình minh họa: pallimed.org)

Các giới chức y tế cho hay những viên thuốc giảm đau giả hiệu Norco, thật ra làm bằng chất fentanyl và được bán lẻ ngoài đường, đã gây ra 28 trường hợp bệnh nhân bị trúng độc vì thuốc, khiến tám người chết tại Sacramento County và một người nữa chết tại Yolo County.

Trong số các nạn nhân thiệt mạng vì loại thuốc giả Norco, có một thiếu niên 18 tuổi tên là George Berry, cư dân El Dorado Hills, và ông David Alfaro, 53 tuổi, cư dân Manteca.

Chất fentanyl được ước lượng có hiệu quả mạnh hơn thuốc an thần morphine tới 80 lần và mạnh hơn chất heroine tới cả trăm lần. Những người chết vì thuốc nằm trong lứa tuổi từ 18 tới 59, trong đó, phân nửa số nạn nhân là đàn ông.

Theo lời chuyên gia Casey Rettig, thuộc Cơ Quan Kiểm Soát Ma Túy, chất fentanyl hiện đang được sản xuất đại quy mô tại Trung Quốc và nhập qua Mexico cho các tổ chức buôn ma úy tại đây, rồi chất này được buôn lậu vào Hoa Kỳ. (V.P.)

Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

 Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

(A Reflection on Our Vision)

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Từ xa xưa, cha ông ta vẫn thường nói : “Người sĩ phu quân tử thì phải biết

nhìn xa trông rộng”, tức là phải cố gắng mà tìm hiểu cho rành mạch sâu sắc

hơn về tình hình chung của xã hội, của đất nước đang biến chuyển ra sao – để

rồi từ đó đề ra được một chương trình hành động sao cho thích hợp với nhu

cầu đòi hỏi của tình thế. Mà nói theo lối văn hoa, thì đó là cái “viễn kiến”.

Ngược lại, thì dân gian cũng bày tỏ sự coi thường đối những kẻ gàn dở,

ngang bướng, tự cao tự mãn – ví họ như lọai “ếch ngồi đáy giếng coi trời

bằng vung”, tức là lọai người có cái nhìn chật hẹp không làm sao mà trông

thấy hết được cái bàu trời bao la rộng mở của không gian thể lý vật chất,

cũng như của vũ trụ tâm linh tinh thần.

Là một người có duyên may được tiếp cận học hỏi với nhiều bậc thức giả

chuyên viên ở trong nước cũng như ngòai nước, tôi xin được chia sẻ với quý

bạn đọc một vài ý kiến sơ khởi mộc mạc về cái tầm nhìn của chúng ta trong

thế kỷ XXI hiện nay qua bài viết có nhan đề “ Suy nghĩ về Tầm nhìn của

chúng ta” (A Reflection on Our Vision) như được trình bày trong mấy điểm

sau đây.

 

I – Quá trình nhận thức vấn đề.

 Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện, tôi xin tường thuật vắn tắt theo thứ

tự thời gian một số điều mình đã tai nghe mắt thấy, đại khái như sau.

 

* Trước tiên, vào năm 1960, trong thời gian tập sự tại Thư Viện Quốc Hội

Mỹ ở Washington, tôi có dịp thấy tại nơi đây có một nhóm nghiên cứu riêng

về “Space Law” (Luật Không gian). Là một chuyên viên nghiên cứu về luật

pháp (legal analyst) cho Quốc Hội Việt Nam thời Đệ nhất Cộng Hòa, tôi thật

sửng sốt trước nhóm nghiên cứu này, bởi lý do là trong giới luật gia ở Việt

Nam hồi đó không hề có một ai mà lại có thể đề cập đến vấn đề mới lạ và

rộng lớn như thế. Nhưng đối với một siêu cường như nước Mỹ, thì quả thật là

họ có khả năng và tầm nhìn rộng lớn để khởi sự công trình nghiên cứu về

lãnh vực “Luật Không Gian” như vậy. Sự kiện này đã khơi gợi cho tôi một

tầm nhìn sâu sắc rộng lớn hơn trong lãnh vực nghiên cứu luật pháp ở Việt

Nam

Vào năm 1964 – 65, Tổng thống De Gaulle cũng đã lên tiếng kêu gọi giới

thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Chúng ta cần phải có một tầm nhìn vũ

trụ“ (vision cosmique). Vào giữa thế kỷ XX, thì nước Pháp cũng như nước

Anh không còn là một lọai cường quốc hàng đầu trên thế giới nữa. Tuy vậy,

do trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật cũng như về văn hóa học

thuật, thì nước Pháp vẫn còn có một tầm ảnh hưởng đáng kể trên trường quốc

tê, vì thế mà nhà lãnh đạo De Gaulle mới phát biểu kêu gọi khuyến khích giới

thanh niên nước Pháp phải có một tầm nhìn rộng lớn bao quát như vậy.

* Cũng trong thời gian đó, thì tại nước ta, các nhà giáo dục ở miền Nam lại

đưa ra chủ trương này : “ Nền giáo dục của chúng ta phải được xây dựng theo

cả ba tiêu hướng – đó là Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng”. Chủ trương này

rõ rệt là theo đúng với trào lưu của thế kỷ XX trên thế giới, nhất là sau cuộc

tàn sát từ 2 cuộc thế chiến 1914 – 18 và 1939 – 45, thì nhiều quốc gia đã cố

gắng tìm cách xây dựng một xã hội theo tinh thần tôn trọng phẩm giá và

quyền con người một cách triệt để hơn. Mà điển hình là sự công bố Bản

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc đưa ra tại Paris vào

năm 1948.

* Nhưng sau năm 1975, khi đổi tên nước ta thành “Cộng hòa Xã Hội Chủ

Nghĩa Việt Nam”, thì giới lãnh đạo cộng sản lại nêu khẩu hiệu kêu gọi tòan

thể dân tộc phải : “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã

hội ”. Vào thời gian đó, thì tôi được một anh bạn tên là anh Năm – vốn quen

biết trong giới Phật tử chuyên làm công tác xã hội từ hồi thập niên 1960 – 70

– anh Năm tâm sự với tôi đại khái như sau : “Vấn đề cần thiết cho chúng ta

lúc này, đó chính là cái tầm nhìn phải vừa đủ xa, đủ rộng để có thể từ đó mà

đề ra được một đường hướng tiến bộ thích hợp với những đòi hỏi thực tế mà

cấp bách của thời đại…”

* Vào cuối thập niên 1980, trước khi bị công an cộng sản tại Việt nam bắt

giữ, thì tôi được đọc trên báo chí nước ngòai cái khẩu hiệu được giới trẻ trên

thế giới rất tâm đắc, khẩu hiệu đó viết bằng Anh ngữ chỉ gồm vẻn vẹn có 4

chữ ngắn gọn như thế này : “Think globally – Act locally” ( Suy nghĩ tòan

cuộc – Hành động trong tầm tay).

* Và gần đây, người trong nước còn hay sử dụng từ ngữ “Đó là người vừa

có Tâm, mà lại vừa có Tầm” để đề cao một số nhân vật vừa có cả tâm hồn

nhân hậu và cả trí tuệ sắc bén. Hai tính chất Tâm và Tầm đó cũng tương tự

như nội dung ba phẩm cách “Nhân, Trí, Dũng” mà bất kỳ người Sĩ phu Quân

tử nào cũng phải có được – theo bức thang giá trị truyền thống xưa nay của

dân tộc chúng ta (Our Traditional Values System).

 

II – Những cản trở trong Tầm nhìn của người Việt ở hải ngọai.

Hiện có đến trên 4,5 triệu người Việt sinh sống tại trên 60 quốc gia và lãnh

thổ khắp thế giới. Trong số này, thì riêng tại Bắc Mỹ gồm Canada và Hoa kỳ

đã có đến 2 triệu rồi. Ở Âu châu gồm cả các nước thuộc Tây Âu và Đông Âu,

thì cũng đến con số cả 1 triệu người. Tại Úc châu và các nước thuộc Á châu,

thì cũng đến con số trên 1 triệu người.

Về mặt khách quan, thì phần lớn các nước mà người Việt chúng ta đã chọn

đến định cư sinh sống đều có nền kinh tế phát triển thịnh vượng, có trình độ

khoa học kỹ thuật cao và nhất là có chế độ chính trị dân chủ, tự do thông

thóang. Nhờ vậy, mà các thế hệ thứ hai, thứ ba là lớp con, lớp cháu của các

gia đình người Việt đã có thể dễ dàng hội nhập sâu sắc vào môi trường văn

hóa xã hội địa phương sở tại. Do đó mà trình độ hiểu biết và tầm nhìn của thế

hệ trẻ Việt nam ở hải ngọai cũng không khác biệt là bao nhiêu so với các bạn

cùng trang lứa thuộc dòng chính của quốc gia nơi cha mẹ mình đã chọn để

cho cả gia đình đến định cư lập nghiệp lâu dài.

Con số trên 500,000 sinh viên tốt nghiệp tại các đại học ngọai quốc trong

mấy chục năm gần đây là một dấu chỉ tích cực rất đáng phấn khởi cho tòan

thể dân tộc chúng ta vậy. Đó quả thật là một nguồn tài nguyên trí tuệ đồi dào

phong phú, một thứ “valuable asset” (tích sản quý giá) trong kho tàng sản

nghiệp cuả cha ông chúng ta trên quê hương đất nước Việt Nam này (Our

National Patrimony).

Có thể ví như khối trên 4 triệu người Việt nam hiện đang định cư lập nghiệp

tại khắp nơi trên thế giới thì như là một đàn cá từ nơi sông hồ chật hẹp trong

nội địa mà nay thóat ra ngòai biển cả mênh mông – thì mặc sức mà “vãy vùng

cho thỏa chí tang bồng”, thi đua nhau đem phát triển tối đa cái khả năng vốn

tiềm ẩn sâu kín trong bản thân mình từ bấy lâu – hầu gặt hái được những

thành tích to lớn như lòng mong ước ấp ủ suốt bao năm trường.

 

* Nhưng riêng đối với một số người tương đối lớn tuổi, thì cái việc hội

nhập, thích nghi với môi trường văn hóa xã hội mới lạ như thế không phải là

một việc đơn giản dễ dàng chút nào – so sánh với trường hợp của lớp con

cháu còn trẻ tuổi. Trong ý nghĩ của lớp người lớn tuổi này, hiện vẫn còn tồn

đọng những lấn cấn với những luyến tiếc về cái hào quang khi xưa của thế hệ

mình, vào cái thời mà họ còn đóng vai trò chủ động trên quê hương đất nước

Việt nam vào những thập niên 1960 – 70. Ta có thể ghi ra một số trở ngại

trong việc hội nhập này như sau :

 

1 – Lối suy nghĩ theo cái ước vọng của riêng mình (Wishful Thinking).

Vẫn có một số người không chịu tìm cách suy nghĩ tìm hiểu vấn đề theo lối

khách quan khoa học, mà lại suy nghĩ dựa theo những thành kiến có sẵn hay

theo cái ước vọng chủ quan của mình. Do vậy mà sự hiểu biết về sự việc, về

con người lại thiếu tính chất chính xác. Điển hình như chuyện một số người

vẫn tin là có chuyện vị Đại sứ Pháp ở Saigon hồi năm 1975 – tên là Jean-

Marie Mérillon – viết cuốn Hồi ký có nhan đề là “Saigon et Moi” tường thuật

về những chuyện xảy ra chung quanh ngày 30 tháng 4 năm đó. Thực ra đây là

một bài báo ngụy tạo, hòan tòan bịa đặt ra mấy chuyện vớ vẩn do một người

viết vô trách nhiệm tung ra vào năm 1987. Thế nhưng, một số bà con mình

lại coi chuyện đó là phù hợp với ước vọng của riêng mình, nên đâm ra tin đó

là điều có thật. Mặc dầu chính ông Mérillon – lúc đó là Đại sứ Pháp ở Liên

Xô vào cuối năm 1990 – đã đích thân viết thư trả lời cho Giáo sư nổi tiếng

chuyên về Sư học là Hòang Ngọc Thành rằng : “Bản thân tôi thì không hề

viết một cuốn Hồi ký nào có nhan đề là “Saigon et Moi “ như thế.”

 

2 – Lối nhận định sự việc theo cảm tính (Emotional Reasonning).

Cuộc chiến tranh Quốc Cộng ở Việt nam kéo dài từ cuối thập niên 1940 trong

bối cảnh của Chiến tranh Lạnh giữa hai khối Mỹ và Nga – gây ra bao nhiêu

thảm cảnh cho người dân chúng ta – mà đặc biệt đối với những nạn nhân của

chính sách tàn bạo của đảng cộng sản, thì mối hận thù ân óan vẫn còn rất sâu

đậm, khó mà có thể hàn gắn dẹp bỏ đi được. Vì thế mà mặc dầu qua thế kỷ

XXI, với cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã chấm dứt từ trên 20 năm nay,

kể từ khi khối Xô Viết bị giải thể, thì vẫn còn nhiều người Việt ở hải ngọai

giữ nguyên cái não trạng của những năm 1950 – 60.

Do vậy, mà họ không chú trọng nhiều đến những đổi thay lớn lao trong cục

diện thế giới – để rồi từ đó mà có sự điều chỉnh lại cái phương thức hành

động khả dĩ thích hợp với tình hình thực tế hiện nay trong bối cảnh của một

thế giới đã tiến bước mạnh mẽ dứt khóat vào giai đọan tòan cầu hóa. Cái lối

nhận định sự việc theo cảm tính như thế quả thật đã trở thành một hạn chế tai

hại cho hiệu năng trong lề lối sinh họat, cũng như trong họat động của chúng

ta trong hiện tại và cả tương lai nữa vậy.

 

3 – Sự thiếu tiếp cận trao đổi với dòng chính trong xã hội sở tại.

Một phần vì do cách biệt ngôn ngữ, một phần vì lối sống quần tụ riêng giữa

các gia đình người Việt với nhau, nên hầu như nhiều người vẫn còn tự cô lập

mình, không chịu hòa nhập với cộng đồng địa phương. Điều này rõ rệt là

đang đi ngược lại với lời nhắc nhủ của cha ông chúng ta từ xa xưa qua câu

ngạn ngữ quen thuộc : “ Nhập gia tùy tục”. Tình trạng này, người Mỹ gọi là

lối sống khép kín, tự cô lập nơi các “Ghetto” – nó ngăn trở kìm hãm cái quá

trình hội nhập êm thắm giữa thế hệ người mới nhập cư vào với dòng chính

của xã hội Mỹ. Mà tình trạng đó cũng làm xa cách thêm cái khỏang cách

ngay trong nội bộ nơi các thế hệ cha mẹ với con cháu trong cùng một gia

đình (Widening Generation Gap) người Việt chúng ta đang cư ngụ làm ăn

sinh sống ở khắp nơi tại hải ngọai nữa.

 

4 – Không chịu nhìn tòan cảnh bức tranh xã hội hiện đại.

Bạn Đỗ Trọng Linh ở San Jose là một người thành công trong ngành Bảo

hiểm và Địa ốc. Nhiều lúc thảo luận trao đổi với tôi, bạn Linh hay nói thế này

: “ Cái khuyết điểm của nhiều người ở hải ngọai là không chịu nhìn cho thật

rõ ràng được cái “big picture” của xã hội quanh mình. Có thể coi đó là một

cái nhìn hời hợt, thiển cận. Vì thế mà không thể đánh giá cho xác thực được

cái môi trường văn hóa xã hội rất đa dạng phức tạp trong thế giới hiện đại –

để mà từ đó đề xuất ra được những hành động hợp lý, hợp thời với hiệu quả

cao trong công việc của cá nhân hay của tập thể mình theo đuổi được. Hậu

quả của lối nhìn thiển cận này là nhiều bà con cứ loay hoay bận rộn và bực

bội với những “ chuyện ruồi bu, vô bổ “ mà không làm sao giải quyết dứt

khóat được tình trạng bế tắc của mình – cũng như tìm ra được cái hướng đi

có tính chất khai phóng tiến bộ cho cả tập thể cộng đồng của mình… “ Tôi

hòan tòan chia sẻ cái lối phân tích vấn đề một cách thông suốt rốt ráo như thế

của anh bạn trẻ này.

 

III – Để tóm lược lại.

 Bài viết lan man đã dài rồi, tôi xin tóm tắt lại với hai điểm như sau :

* 1 – Từ gần 40 năm qua, người Việt chúng ta đã phải rời bỏ quê hương đất

nước để ra đi lập nghiệp sinh sống ở khắp các châu lục trên thế giới. Sau

những vất vả cực nhọc những năm đầu nhập cư trên xứ sở xa lạ, đa số chúng

ta đã bắt đầu xây dựng được một cuộc sống ổn định – và đặc biệt là thế hệ

thứ 2, thứ 3 là lớp con, lớp cháu trong các gia đình đều đã gặt hái được những

thành công đáng kể về nhiều mặt khoa học kỹ thuật chuyên môn, cũng như

về mặt kinh tế, xã hội văn hóa. Nói chung, thì đó là một điểm thuân lợi lớn

lao – trong cái rủi ro chật vật lúc phải trả giá nặng nề để tìm đường chạy

thóat khỏi ách độc tài cộng sản ở trong nước, chúng ta đã được nhiều quốc

gia mở rộng vòng tay đón tiếp và cưu mang các gia đình người tỵ nạn. Nhờ

sự tiếp cứu đày tình nhân đạo cao quý này, mà đa số bà con chúng ta đang

được thụ hưởng những tiện nghi thuận lợi của nếp sống văn minh trong thế

giới hiện đại. Cái ân nghĩa này, chúng ta không bao giờ mà có thể coi nhẹ hay

bỏ quên đi được.

Mặt khác, chúng ta cũng không quên được những bà con ruột thịt đang còn

phải sống dưới chế độ tham nhũng thối nát và độc tài ác nhân ác đức do

người cộng sản gây ra ở bên quê nhà. Thành ra, bất kỳ người Việt nào ở hải

ngọai cũng đều có cả hai cái nghĩa vụ phải góp phần vun đắp cho quê hương

nguyên quán của mình – cũng như cho quê hương mới hiện đang cưu mang

cho mình – như cha ông chúng ta vẫn thường nhắc nhở trong câu : “Ăn cây

nào, rào cây ấy”. Cả hai nghĩa vụ này đều nặng nề, không thể nào sao lãng bỏ

qua bất kỳ một trách nhiệm bổn phận nào được.

Lại nữa, trong thời đại của thế kỷ XXI hiện nay, thì giữa các quốc gia càng

ngày càng gắn bó liên đới với nhau khăng khít chặt chẽ hơn. Do đó, mà

người Việt hiện đang sinh sống ở hải ngọai, thì cần phải cố gắng hòa nhập

thuận thảo hơn vào với xã hội sở tại – để nhờ đó mà mở rộng được một tầm

nhìn khóang đạt rộng rãi hơn vê bối cảnh chính trị xã hội cũng như văn hóa

trên thế giới hầu đề ra được phương thức hành động thích nghi với tình thế

mới – cũng như giúp chúng ta hòan thành tốt đẹp được cả hai nhiệm vụ đối

với quê hương bản quán, cũng như đối với quê hương mới hiện đang hết sức

chăm sóc cưu mang cho mình vậy.

 

* 2 – Trong phần I ở trên, tôi đã ghi ra cái khẩu hiệu “ Think Globally – Act

Locally “ mà giới trẻ trên thế giới rất tâm đắc. Nay để kết thúc bài viết này,

tôi xin được thêm vào khẩu hiệu đó cái vế thứ 3 cũng chỉ gồm có 2 từ ngữ

nữa – như thế này : “ Love Totally “ (Hãy Yêu Thương Trọn Vẹn). Nói khác

đi, mỗi người trong chúng ta cần phải có được một trái tim thật nhân hậu – để

mà sẵn sàng hy sinh nhẫn nại trong công cuộc xây dựng trường kỳ gian khổ –

hầu đưa đất nước và dân tộc ta tới được một cuộc sống tươi đẹp, văn minh

nhân ái xứng đáng với phẩm giá cao quý của mỗi người và của tất cả mọi

người nữa.

Lọai công việc xây dựng tích cực như thế đòi hỏi phải có một đội ngũ những

người có quyết tâm cùng nhau sát cánh thật chặt chẽ ăn ý nhịp nhàng thuận

thảo với nhau – như là một thứ “perfect team” – thì mới mong đạt tới kết quả

lý tưởng tốt đẹp mong muốn được./

 

Westminster California, đầu tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Xin bạn đọc chớ vội dị ứng khi thấy hai tiếng Việt Nam được viết đi liền với tên Hồ Chí Minh. Đây chính là một sự gán ghép tệ hại, xấu xa nhất của lịch sử trong hơn nửa thế kỷ này.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bà Nguyễn Thị Nhuận, một điều dưỡng viên hiện đang làm việc tại Nam Úc, đã kể lại một câu chuyện trên VnExpress, nghe đến nát lòng!

Bà được bệnh viện gửi đến nhà một người khuyết tật, bị bại liệt hai chân, để giúp chăm sóc thường ngày, giúp ông tắm rửa, ăn sáng, dùng máy nâng ông vào ghế tắm và đặt lại giường nằm. Vừa làm, bà vừa giải thích cho ông biết, nhân viên ngày thường đến chăm sóc ông hôm nay bị bệnh nên bà được cơ quan y tế cử đến thay thế.

Bỗng nhiên bà nghe ông hỏi, bà đến Úc lâu chưa?

Bà trả lời:

-Thưa ông, mới hai năm nay và tôi đến từ Việt Nam!

Nghe chưa dứt hai tiếng Việt Nam, ông già bỗng giận dữ quát to, một cách thô lỗ:

-Mày ra khỏi nhà tao ngay! Ra ngay!

Người điều dưỡng viên trong câu chuyện này ấp úng:

-Nhưng, ông đang trong nhà tắm…

-Không! Ra ngay, ra ngay!

Bà Nhuận nhẫn nhục để ông trên ghế tắm, khoác cái áo choàng cho ông và đi ra gọi điện báo về văn phòng. Họ bảo bà cứ yên tâm ra về, họ sẽ cử người đến làm tiếp và an ủi bà:

-Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!

Bà Nguyễn Thị Nhuận kể lại: “Tôi cảm thấy tủi thân, trào nước mắt. Tôi mới từ Việt Nam qua với tâm trạng tuy mình còn kém tiếng Anh, nhưng người Việt Nam cũng ‘nổi tiếng anh hùng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo…’ Bà cũng chẳng có tội tình gì với ông già, được đến để chăm sóc ông, và cũng tự đánh giá mình là người tử tế. Nhưng tại sao lại bị đối xử như vậy? Chẳng lẽ chỉ vì bà là người Việt Nam?”

Lẽ cố nhiên người điều dưỡng viên trong câu chuyện này không được bệnh nhân cao niên kia giải thích vì sao ông lại khinh miệt một người Việt đến như thế! Có thể trước đây, một người Việt Nam nào đó đã làm những điều xấu xa, hay đối với ông tồi tệ thế nào, khiến giờ đây ông ghét tất cả người Việt.

Cơ quan y tế cử bà Nguyễn Thị Nhuận đến giúp đỡ cho người đàn ông Úc cao niên kia đã an ủi bà: “Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!”

Phải, câu chuyện này không phải là của riêng bà, một người Việt đang làm việc tại Úc mà của tất cả thanh danh của người Việt đang ở nước ngoài. Người ta cũng mường tượng ra, một người Việt Nam nào đó đã đối xử xấu xa hay làm một điều gì đó khiến cho một người Úc căm giận đến thế?

Du học ở Úc, bà Nguyễn Thị Nhuận cũng đã được bạn bè, ngay cả những người Châu Á, than phiền về lối sống vô trách nhiệm của sinh viên Việt tại đây, biết đến những thanh niên Việt Nam đang can dự vào các tội buôn bán ma túy tại nơi đã cưu mang họ, và bà cũng mới nghe tin hai người Việt bị bắt vì tội trộm cắp ở Thụy Sĩ.

Cũng như chúng ta, bà Nguyễn Thị Nhuận lâm vào hoàn cảnh này hẳn phải tức giận và xấu hổ, trăn trở tự hỏi: “Ai đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh trái ngang này?”

Câu kết luận của bà Nguyễn Thị Nhuận là: “Có lẽ mỗi ngày tôi và các bạn nên nhìn thẳng vào tấm gương thực (chứ không phải những tấm gương nịnh mặt) để thấy những vết nhọ của mình.”

Khi mà mặt mình mang nhọ, đừng nghĩ là không ai thấy, có ra đường thì chớ vênh váo thêm nhục!

Bạn thử đứng vào vị trí một nhân viên quan thuế tại phi trường Changi, Singapore, khi cầm sổ thông hành của một cô gái Việt mới đến đây, mà không thể không liên tưởng đến chuyện tối nay, anh có thể gặp cô này trên con đường Joo Chiat Road tấp nập của Singapore. Hay một nhân viên phi trường Nhật nào đó cầm một cái sổ thông hành Việt Nam trong tay, mà không nghĩ đến bao nhiêu người Việt, kể cả các quan chức là lũ ăn cắp, buôn lậu.

Không phải không có lý do hay phát biểu hồ đồ mà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ!” Thay vì nhìn nhận sự thật, “soi gương” thì chính quyền Hà Nội, thông qua truyền thông Việt Nam, đã bắt bẻ, đặt vấn đề về lòng yêu nước của ông, cuối cùng áp lực cho ông được về hưu sớm hơn so với kế hoạch.

Sau Tháng Tư, 1975, dân Bắc, ai đi Nam về cùng có chung một nhận xét “trẻ con trong Nam hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính vòng hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, ngoài đường, xe cộ nếu có đụng chạm thì cũng không dẫn đến xô xát, chửi bới nhau như ngày nay.”

Sau năm 1975, “đất lành chim đậu,” nhiều đợt di dân mới ồ ạt từ Bắc vào Nam, tạo điều kiện cho Nam Bắc gần gũi nhau, nhưng cũng chính từ đó, thói hư tật xấu dễ lan tràn, đồng hóa hơn là học hỏi được điều tốt, và ngày nay cái tên “thành phố Hồ Chí Minh” cũng lấm lem không thua gì Hà Nội.

Sau Cách Mạng Tháng Mười, 1917 của Nga, nhà văn Maxim Gorki đã có nhận xét rằng “cuộc cách mạng đã có tác dụng tích cực lật đổ được chế độ phong kiến, nhưng với sự nắm quyền và quản lý xã hội của giai cấp vô sản ít học, nước Nga sẽ phải đối đầu với một tình trạng còn nguy hiểm hơn, đó là ‘lâm nguy văn hóa.’”

Đó là Việt Nam ngày nay. Muốn cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như của mọi công cuộc cải cách khác, trước hết phải cải cách chính trị, nói chung là thay đổi chính quyền. Từ đâu mà từ nửa thế kỷ nay vấn đề đạo đức – văn hóa – giáo dục của đất nước chúng ta trở nên tồi tệ như hôm nay, và hai tiếng Việt Nam trở thành một mối bận tậm, hổ thẹn của người Việt Nam, khi đi ra nước ngoài!

Tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới xẩy ra đây thôi.

Ba năm nay, ở Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia, vào dịp lễ Quốc Khánh 2 Tháng Chín, tòa đại sứ CSVN đều tổ chức một buổi tiệc “buffet” và mời đại diện đại sứ quán các nước khác và người lao động Việt Nam ở Malaysia tham dự. Buổi tiệc chưa bắt đầu, trước con mắt của quan khách ngoại quốc, dân Việt Nam đã nhào vào bàn tiệc lấy thức ăn, đến mức khách tham dự không còn gì ăn, tạo ra một khung cảnh hỗn loạn vô cùng xấu hổ. Năm sau, rút kinh nghiệm, tòa đại sứ tổ chức hai nơi, một ngoài trời và một trong hội trường cho quan khách. Người Việt Nam sau khi đã ăn ở ngoài trời, lại nhào vào hội trường vơ vét thức ăn. Vừa xấu hổ và vì danh dự, đại diện tòa đại sứ Việt Nam tại đây phải chắp tay xin lỗi quan khách!

Câu chuyện đạo đức hôm nay không phải là chuyện đạo đức mà chúng ta trước kia đã có và đã nói tới, mà chính là thứ đạo đức được nhồi nặn trong chủ nghĩa Cộng Sản, thứ “đạo đức cách mạng” sản xuất từ ngay vận nước suy vi, mùa Thu 1955, khi mà dân tộc Việt Nam “vô phúc” nhập cảng nhầm cái chủ nghĩa độc hại, không khác gì thực phẩm độc hại giết người của Trung Cộng hiện nay, là chủ nghĩa Cộng Sản.

Đó cũng là từ ngày hai tiếng Việt Nam được kẹp đôi và gắn bó với cái tên Hồ Chí Minh, như bài hát của “đứa con bất hiếu” Phạm Tuyên, mà những tên ăn bả của Việt Cộng đã nhảy cỡn lên mà reo hò trong các đại hội “Việt Kiều:” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”

Chúng ta đã rõ! Cái tên Việt Nam chưa bao giờ nhận được sự bẽ bàng, khốn khổ, khinh miệt từ ngày nó được ghép theo cái tên Hồ Chí Minh!

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Nhà văn Phạm Thành bị an ninh triệu tập

Pham Thanh

Nhà văn Phạm Thành (áo vest xám nhạt, đứng giữa) trong vụ xử blogger Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh.

Một nhà văn, nhà báo và cựu phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam nói ông đã bị an ninh Việt Nam triệu tập “làm việc” lần thứ tư vì có thể bị ghép vào điều 258 Bộ luật hình sự.

Nhà văn Phạm Thành, chủ blog Bà Đầm Xòe cho hay giấy triệu tập của an ninh điều tra, công an Thành phố Hà Nội với ông viết ”nội dung liên quan đến tin báo của Hội nhà văn và công ty điện toán, truyền số liệu’.

Trả lời BBC Tiếng Việt từ Hà Nội hôm 03/4/2016, ông Thành cho hay ông được mời lần thứ tư để “làm việc về nội dung liên quan đến tin báo của Hội Nhà văn và công ty VNPT” về “20 bài báo ký tên Bà Đầm Xòe Phạm Thành, đó là những bài báo đăng từ năm 2012, 2013.

“Năm 2014 thì họ triệu tập tôi lên làm việc, thì từ năm 2014 đến giờ họ liên tục triệu tập.”

Ông nói với những bài báo bị thu thập, ông nghĩ mình “có khả năng” bị ghép vào vi phạm điều 258, điều 88 như Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh hay blogger Trương Duy Nhất.

Tác phẩm khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi

Nhà văn Phạm Thành

Điều 258 Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam quy định:

“Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Một phần nội dung khiến ông bị triệu tập theo ông có thể liên quan đến tiểu thuyết “ Cò hồn xã nghĩa” mà ông viết.

Ông nói với BBC:

“Tác phẩm này tôi chính thức gửi Hội nhà văn dự thi. Tôi cũng chưa xuất bản gì mà chỉ in vài bản để tặng bạn bè”. Ông nói ông đã bị “Hội Nhà văn tố cáo”.

Quyển tiểu thuyết của ông được đăng tải trên mạng từ năm 2014. Tuy nhiên, ông Thành chưa xuất bản cuốn sách tại Việt Nam.

Ông Thành mô tả tác phẩm là “khái quát giai đoạn Cộng sản Việt Nam đã mang học thuyết Marx – Lenin về với những chiêu bài làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và “làm cho dân miền Bắc đến chỗ đau đớn khổ sở, đạo đức bị suy đồi”.

Ông Phạm Thành tự ứng cử trong kỳ bầu cử đại biểu quốc hội 2016 và nói là để “khai dân trí”

Ông cho biết quyển sách của mình mang “bóng hình các lãnh đạo” và “đậm đặc nhất là nhân vật lãnh tụ cộng sản vĩ đại nhất của Việt Nam là ông Hồ Chí Minh, là người cầm trịch để mang ánh sáng Marx – Lenin về, người cầm trịch cải cách ruộng đất…”. Ông gọi tác phẩm của mình là “bi hài kịch”.

Ông Thành cáo buộc Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam đã “tố cáo” ông vì tác phẩm này.

Tự ứng cử

Ông Phạm Thành là chủ một blog tên Bà Đầm Xòe, bàn luận về các vấn đề chính trị xã hội tại Việt Nam.

Trong đợt bầu cử đại biểu quốc hội 2016, ông Thành tuyên bố tự ứng cử.

Ông nhận định: “Không như một số ứng viên khác, về thủ tục địa phương không gây khó khăn gì cho tôi.”

Đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó. Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa

Nhà văn Phạm Thành

Nhưng ông Thành tin rằng ông cũng sẽ bị “đấu tố” – theo cách mà các ứng cử viên tự do gọi việc họ bị tấn công bằng các ý kiến tại hội nghị cử tri địa phương.

Ông Thành cho biết:

“Mặt Trận tổ quốc phường mời tôi ra hỏi có yêu cầu gì không để chuẩn bị lấy ý kiến cử tri. ”

“Tôi đề nghị có một trợ lý giúp việc tôi, những câu hỏi bà con hỏi tôi quên thì người trợ lý nhắc.

“Thứ hai, đây là việc làm công khai minh bạch, nên người giúp việc tôi sẽ chụp ảnh, ghi âm tất cả ý kiến cử tri. Thì họ không đồng ý việc đó.

“Luật không cấm những việc này. Nếu họ không đồng ý, tôi sẽ tuyên bố ngưng không tham gia tranh cử nữa,” ông Thành nói với BBC Tiếng Việt.

Thời gian ông Thành được an ninh Việt Nam triệu tập theo ông cho biết cũng nằm trong những ngày cuối cùng trước khi hết hạn lấy ý kiến cử tri ngày 12/4.

Ông Thành cho hay ông sẽ làm việc với cơ quan an ninh điều tra vào thứ Hai 4/4, trước đó, ông bị cấm xuất cảnh từ tháng 12/2015.

BBC chưa có điều kiện kiểm chứng các cáo buộc của ông Phạm Thành đối với các cơ quan, tổ chức mà ông đề cập như Hội nhà văn Việt Nam, hay Hội Liên hiệp Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc

Hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ ở ngoại quốc
Nguoi-viet.com
VIỆT NAM – Mãi tới hôm 31 Tháng Ba, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam mới lên tiếng xác nhận về hàng loạt vụ công dân Việt Nam bị bắt giữ trong thời gian vừa qua.

Ảnh chụp 38 ngư dân Việt Nam bị Hải Quân Thái Lan bắt giữ hôm 25 Tháng Ba. (Hình: Trang Facebook của Second Naval Area Public Relations)

Vụ đầu tiên được xác nhận vì được công chúng Việt Nam quan tâm nhiều nhất là sự kiện 108 người Việt bị Trung Quốc bắt giữ.

Những người Việt này đã bị bắt giữ hồi đầu Tháng Ba, đang bị giam tại thành phố Bằng Tường. Tuy vụ bắt giữ đã xảy ra cách nay cả tháng nhưng mãi tới ngày 30 Tháng Ba, sau khi báo chí Trung Quốc đưa tin, cảnh sát Quảng Tây đã bắt một nhóm chín người tình nghi đưa 108 người Việt đến làm việc tại các nhà máy ở Quảng Đông và Phúc Kiến, công chúng Việt Nam mới biết về sự kiện đó.

Ngoài việc xác nhận tin mà báo chí Trung Quốc đã đưa là đúng. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói thêm, sở dĩ Trung Quốc tạm giam 108 nạn nhân là để điều tra, tìm kiếm những kẻ chủ mưu.

Sau khi cuộc điều tra kết thúc, Trung Quốc sẽ trục xuất 108 nạn nhân bằng cách trao trả họ cho chính quyền Việt Nam. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam trấn an công chúng rằng các nạn nhân được Trung Quốc đối xử rất nhân đạo, không ai có vấn đề về sức khỏe.

Ngoài ra phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam còn thừa nhận mới có 25 ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ. Vụ bắt giữ này xảy ra hôm 24 Tháng Ba. Dựa trên những thông tin do hải cảnh Malaysia cung cấp, báo chí Malaysia loan báo, có ba tàu đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ vì “đánh bắt trái phép trong hải phận Malaysia.” Theo báo chí Malaysia, trị giá số ngư cụ mà hải cảnh Malaysia tịch thu lên tới 600,000 Mỹ kim.

Trong cuộc họp báo mới nhất về tình trạng nhiều người Việt bị bắt giữ tại ngoại quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam không đả động gì đến một số vụ bắt giữ khác cũng xảy ra trong tháng vừa qua. Chẳng hạn hồi trung tuần tháng ba, trong hai ngày 10 và 11, hải cảnh Malaysia từng bắt giữ 42 ngư dân Việt Nam, tịch thu toàn bộ tàu, ngư cụ và 8 tấn hải sản trị giá khoảng 48,000 Mỹ kim. Hoặc hôm 25 Tháng Ba, Hải Quân Thái Lan bắt giữ bảy tàu đánh cá và 38 ngư dân Việt cũng vì “đánh bắt trái phép.” Vụ bắt giữ do Hải Quân Thái Lan thực hiện xảy ra tại vùng biển được cho là cách bờ biển tỉnh Nakhon Si Thammarat khoảng 30 hải lý. Cả ba tàu đánh cá lẫn 38 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cảnh sát Thái Lan, họ sẽ bị giam và sẽ bị đưa ra tòa.

Ở cuộc họp báo vừa kể, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ đề cập thêm một trường hợp công dân Việt Nam bị ngoại quốc bắt giữ là vụ 29 ngư dân Việt bị Úc bắt giữ hôm 27 Tháng Ba. Vụ này người ta cũng chỉ biết qua báo chí Úc. Theo đó, tuần duyên của Úc đã phát giác và bắt hai tàu đánh cá cùng với 29 ngư dân Việt với cáo buộc họ đã bắt trộm hải sâm tại bãi Great Barrie của Úc. Bãi Great Barrie nằm gần Lockhart River, một thị trấn ở Đông Bắc tiểu bang Queensland. Great Barrie là một công viên hải dương, nơi có đủ loại sinh vật biển cư trú. Tuy 29 ngư dân vừa kể đã được chuyển giao cho cơ quan di trú của Úc tạm giam và chắc chắn họ sẽ phải hầu tòa vừa vì xâm nhập hải phận Úc, vừa vì đánh bắt trái phép nhưng sự kiện này vẫn còn làm xôn xao dư luận Úc. Nhiều viên chức và dân chúng Úc chưa hết kinh ngạc khi ngư dân Việt Nam băng qua hàng chục ngàn cây số ở Thái Bình Dương để tìm đến Great Barrie. Ông Wayne Butcher, thị trưởng Lockhart River nói với báo giới Úc rằng, bãi Great Barrie rất gần đất liền nhưng hai tàu đánh cá của Việt Nam có thể dễ dàng xâm nhập, bắt tới ba tấn hải sâm mới bị phát giác là những hồi chuông cảnh báo cả về sơ suất trong phòng vệ biển lẫn nguy cơ thất thoát nguồn lợi tự nhiên.

Có lẽ cũng nên nhắc lại là trong vài năm gần đây, ngoài Trung Quốc, ngư dân Việt Nam còn bị Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan rượt đuổi, bắn, bắt, giam giữ, buộc nộp phạt, tịch thu phương tiện sinh nhai với cáo buộc xâm nhập và đánh bắt trái phép trong lãnh hải của những quốc gia đó! Dù đã có nhiều đợt phóng thích song người ta ước đoán vẫn còn tới hàng ngàn ngư dân Việt bị các lân bang giam giữ vì “xâm nhập và đánh bắt trái phép.” Trong đó có những người đã bị giam giữ hơn hai năm. Một trong những ngư dân bị bắt và được Thái Lan phóng thích hồi giữa tháng 12 năm ngoái, kể rằng, lúc bị bắt, thời tiết trên biển rất xấu, mưa to, gió lớn họ không xác định được đâu là biển Việt Nam, đâu là biển Thái Lan.

Đáng chú ý là chính quyền Việt Nam thường im lặng, không xác nhận đúng – sai trong tất cả các vụ bắt giữ tàu đánh cá và ngư dân vừa kể, trừ vụ cảnh sát biển Thái Lan xả súng vào sáu tàu đánh cá của Việt Nam ở vịnh Thại Lan hồi Tháng Chín năm ngoái, khiến một ngư dân chết, hai trọng thương. (G.Đ)

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan dỡ bỏ 500 di tích tượng đài thời Xô viết

Ba Lan do bo 500 di tich tuong dai thoi Xo viet - Anh 1

Dự án dỡ bỏ tượng đài ở Ba Lan thời Xô viết sẽ được chuyển tới các chính quyền địa phương trong vài tuần tới.

Những tượng đài Liên Xô tượng trưng cho “uy quyền của hệ thống cộng sản ở Ba Lan” phải được dỡ bỏ và đưa vào bảo tàng, người đứng đầu Viện Ký ức quốc gia Ba Lan, Lukasz Kaminski tuyên bố.

Theo cổng thông tin Onet.pl., quyết định đề cập tới hơn 500 di tích được dựng ở những địa điểm công cộng “bày tỏ sự biết ơn đối với Liên Xô”.

“Công việc hiện nay là thống kê các vị trí có di tích tượng đài Xô viết. Cho đến tháng 6, chúng tôi sẽ đề xuất một chương trình giúp chính quyền địa phương thực hiện việc dỡ bỏ trước khi pháp luật phù hợp được ban hành,” ông Kaminski nói.

Sau khi dỡ bỏ, các di tích sẽ được đưa tới viện bảo tàng và trở thành “bằng chứng của thời kỳ khó khăn”.

Các di tích tượng đài đặt ở nghĩa trang những người lính Xô viết sẽ được giữ nguyên. Theo Viện Ký ức quốc gia, chính phủ Ba Lan sẽ chăm nom những di tích này.

Trước đó, Bộ Ngoại giao Nga đã kêu gọi Ba Lan “chấm dứt cuộc chiến với các tượng đài”.

Theo Sputnik

Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

 Nữ sinh Việt bỏ xác con mới sinh ở ga tàu điện ngầm Hàn Quốc

Hình minh họa.

Hình minh họa

02.04.2016

Một nữ sinh Việt Nam đã bị bắt hôm thứ Sáu vì bỏ thi thể con mới sinh của mình tại một ga tàu điện ngầm ở Uijeongbu, tỉnh Gyeonggi, giáp với thủ đô Seoul của Hàn Quốc và bị camera giám sát ghi lại.

Nữ sinh này theo học tiếng Hàn tại một trường đại học ở Hàn Quốc. Tại thời điểm nhập học, cô đã có thai 6 tháng với bạn trai ở Việt Nam.

Người mẹ 19 tuổi nói trong lời khai với cảnh sát Uijeongbu: “Tôi nghĩ nếu tôi bỏ thi thể ở ga tàu điện ngầm, một trong nhiều người đi qua sẽ phát hiện ra đứa bé và tổ chức tang lễ cho nó”.

Nữ sinh này giấu việc mang thai vì lo ngại sẽ cản trở mối quan hệ của cô với cha mẹ và gây ra những rắc rối ở trường học tại Hàn Quốc.

Vào hôm thứ Tư, một tháng trước ngày dự kiến sinh nở, cô bất ngờ có cơn đau chuyển dạ và sinh một bé trai trong phòng tắm ký túc xá. Tuy nhiên, bé trai đã qua đời không lâu sau đó.

Người mẹ trẻ nói trong lời khai: “[Em bé] không ở trong tình trạng khỏe mạnh. Tôi đã cố gắng cho em bé ăn sữa bột nhưng em bé đã chết 3 giờ sau đó”.

Bốn tiếng rưỡi sau khi sinh, nữ sinh này đã bỏ một chiếc túi có chứa thi thể con trai mình trên cầu thang của trung tâm mua sắm ở ga tàu điện ngầm Uijeongbu. Một cô bạn gái 19 tuổi đã giúp người mẹ trẻ thực hiện những hành vi này.

Cảnh sát đã bắt giữ hai người phụ nữ này.

Các cơ quan chức năng có liên quan sẽ tiến hành khám nghiệm tử thi em bé để xác minh nguyên nhân cái chết.

Theo The Korea Herald, Ngày nay

Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

 Tổng thống Zuma xin lỗi vì tiền sửa nhà

AFP

Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma xin lỗi người dân Nam Phi trong cố gắng chấm dứt bê bối kéo dài về việc dùng tiền nhà nước xây nhà cho ông.

“Việc này đã gây nhiều bức xúc và xấu hổ, và tôi xin lỗi,” ông nói trên truyền hình.

Ông tuyên bố sẽ tuân theo phán quyết của tòa rằng ông phải trả lại tiền chính phủ dùng để nâng cấp căn nhà sang trọng của ông ở nông thôn.

Phe đối lập đã đòi ông từ chức.

Trong bài nói hôm thứ Sáu trên tivi, tổng thống Nam Phi nói ông “không cố tình vi phạm hiến pháp”.

Một cơ quan chống tham nhũng hồi năm 2014 nói rằng 23 triệu đôla đã được dùng để xây nhà cho tổng thống ở tỉnh KwaZulu-Natal.

Hai đảng đối lập, EFF và DA đã đưa vụ này ra tòa.

Nhiệm kỳ tổng thống của ông Zuma bị hoen ố vì cáo buộc tham nhũng và lạm quyền.

Ông được bầu lần đầu năm 2009 và sẽ rời chức vụ năm 2019.

Đảng cầm quyền ANC vẫn ủng hộ ông Zuma.

Sau diễn văn, tổng thư ký của đảng ANC, Gwede Mantashe, gọi đòi hỏi từ chức của phe đối lập là “phản ứng quá đà”.

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Quốc hội khóa 13 và Quốc hội khóa 14 và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Viet-studies

Nguyễn Thị Từ Huy

31-3-2016

Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 11. Nguồn: internet

Tại sao Quốc hội Việt Nam khóa 13 lại vượt quá quyền hạn của mình, vội vàng bầu bốn chức vụ chủ chốt của bộ máy quyền lực? Câu hỏi này đã lan truyền trong nhân dân từ khi thông tin về về việc này được đưa ra, và cũng đã có nhiều diễn giải.

Việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14 và bầu các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của nhà nước cho nhiệm kỳ của Quốc hội khóa 14 là một bằng chứng hùng hồn cho việc Hiến pháp Việt Nam chỉ là một mớ giấy lộn. Những người soạn thảo Hiến pháp và thông qua Hiến pháp (tức là Quốc hội) lại là những người coi nó không ra gì, sẵn sàng vi phạm nó, chà đạp nó bằng các quyết định và các việc làm tùy tiện của mình. Trong khi đòi người dân tôn trọng luật pháp, thì cơ quan lập pháp tự mình ngồi xổm lên pháp luật. Điều này chứng minh một nhận định của Hannah Arendt từ những năm 50 của thế kỷ trước: trong một thế chế toàn trị «tất cả đều có thể xảy ra».

Hệ lụy của những hành vi vi phạm Hiến pháp của Quốc hội là gì? Có nhiều hệ lụy, ở đây tôi chỉ nêu ra một hệ lụy, chắc sẽ còn có nhiều phân tích khác của những người khác.

Cho dù về mặt cá nhân, tôi kính trọng chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, thì lo-gic thông thường buộc tất cả người dân Việt Nam (trong đó có tôi) phải nhận ra rằng: Quốc hội 14 do bà Nguyễn Thị Kim Ngân lãnh đạo sẽ là một Quốc hội bù nhìn, số phận bù nhìn này vừa được tuyên bố một cách công khai, một Quốc hội đã bị tước hết tất cả các quyền cơ bản và quan trọng (quyền bầu chủ tịch của mình, quyền bầu các chức danh lãnh đạo của nhà nước, vốn được ghi trong Hiến pháp) ngay từ khi chưa ra đời. Và kéo theo đó, việc «toàn dân» bầu Quốc hội khóa 14 chỉ còn là một việc làm vô nghĩa, chỉ còn là một hình thức chia chác tiền ngân sách cho các đơn vị tổ chức bầu cử mà thôi.

Tuy nhiên, nếu, một ngày đẹp trời, trong tương lai, trên 50% đại biểu của Quốc hội 14 đột nhiên tìm lại lòng tự trọng của mình, đột nhiên muốn giành lại phẩm giá và quyền tự quyết cho mình, đột nhiên không muốn làm bù nhìn nữa, và họ tuyên bố rằng bà Nguyễn Thị Kim Ngân không do họ bầu ra, vì thế bà không phải là chủ tịch của họ. Bà do Quốc hội khóa 13 bầu ra, vậy bà là chủ tịch của Quốc hội khóa 13, chứ không phải là chủ tịch của Quốc hội khóa 14. Đối với Quốc hội khóa 14, bà Nguyễn Thị Kim Ngân là một lãnh đạo không chính danh và không hợp pháp. Vì thế, họ sẽ bầu lại một chủ tịch mới, một chủ tịch đích thực của họ, do họ bầu ra. Về cơ bản, Quốc hội khóa 14 hoàn toàn có quyền làm như vậy. Và các chức danh lãnh đạo do Quốc hội khóa 13 bầu ra cũng có thể rơi vào tình trạng tương tự. Cách làm của Quốc hội khóa 13 (lưu ý là chưa từng xảy ra trong lịch sử Quốc hội Việt Nam) đã tước mất tính chính danh và tính hợp pháp của các chức vụ lãnh đạo chủ chốt, khiến cho nhiệm kỳ của họ sẽ bị rơi vào một tình thế khó khăn, nếu có một lúc nào đó, Quốc hội 14 quyết định truy xét lại tính hợp pháp của họ.

Việc Quốc hội khóa 14 đòi thực hiện quyền của mình, quyền đã được hiến định, quyền của cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia, là điều bình thường, và hoàn toàn có thể xảy ra, trong một đất nước pháp quyền, nơi pháp luật được tôn trọng và có giá trị thực trong sinh hoạt xã hội.

Dĩ nhiên, không thể hình dung một kịch bản như thế trong một thế chế độc tài. NHƯNG, lịch sử có những bất ngờ mà đôi khi không ai có thể dự đoán được.

Ngoài ra, nếu nhìn từ một góc độ khác, có thể thấy: hiện nay, một trong những nguyên tắc hoạt động của đảng cầm quyền ở Việt Nam là «tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách», và lãnh đạo theo nguyên lý «dân chủ tập trung». Nguyên lý và nguyên tắc này dẫn đến hệ quả tất yếu là trong hoạt động quyền lực, trên thực tế, mọi việc đều do Bộ Chính trị (BCT) quyết, kể cả hoạt động của Quốc hội. BCT là đầu não, là trung tâm quyền lực. Vì thế mới có thể xảy ra việc Quốc hội khóa 13 bầu chủ tịch cho Quốc hội khóa 14, và bầu luôn cả các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Dĩ nhiên, nếu BCT không chỉ đạo thì sẽ không bao giờ có việc đó. Dù sao trong Quốc hội 13 cũng có những đầu óc hiểu biết, và vẫn còn có những người có liêm sỉ, nếu được tự quyết thì họ sẽ không làm một việc như vậy, và trước hết là họ không đặt ra vấn đề đó như một nhiệm vụ của họ, vì họ biết rõ việc đó vượt khỏi quyền hạn được phép của họ.

Vậy, BCT mới có 19 người, và có bốn người ở các vị trí chủ chốt: tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội. Như vậy, 4/19 là thiểu số. Nếu mai kia, một ngày đẹp trời, 15/19 thành viên của BCT muốn thay toàn bộ bốn chức danh chủ chốt này, thì với tiền lệ vừa được Quốc hội 13 tạo ra, họ sẽ thi hành ngay lập tức. Bốn vị này sẽ phải viết đơn từ nhiệm, và Quốc hội sẽ lại bầu bộ tứ mới. Đã có tiền lệ rồi mà, có việc gì là không làm được? Lúc đó, hãy hình dung điều gì có thể xảy ra.

Quốc hội 13, bằng sự phục tùng vô điều kiện của mình, bằng việc từ bỏ chức trách của mình khi thực hiện vô điều kiện các đòi hỏi của BCT, đã vừa tạo ra tiền đề cho những khủng hoảng rất có thể sẽ xảy ra về sau ở bộ phận cao nhất của cơ quan quyền lực.

Câu hỏi tự động được đặt ra là: điều gì đang xảy trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam? Phải chăng đấy là một việc làm có tính toán phục vụ cho một mục đích dài hạn của một nhóm người nào đó hay một thế lực nào đó?

Nhưng câu hỏi cũng có thể đươc đặt ra theo kiểu khác (đúng là «mọi điều đều có thể»!):

Phải chăng, cách làm việc và các quyết định hết sức tùy tiện, vi phạm luật pháp, hiến pháp, như đang diễn ra hiện nay, là để chuẩn bị cho những rối loạn không thể tránh khỏi trong tương lai? Và những rối loạn này sẽ buộc Việt Nam phải thay đổi một cách triệt để hệ thống chính trị của mình? Phải chăng đấy là chủ ý của những người đang âm thầm chuẩn bị cho các rối loạn này, bởi vì hiện tại họ quá đơn độc, không thể trực tiếp và công khai thực hiện các cải cách mà họ mong muốn? Nếu quả thật như vậy thì chúng ta sẽ phải cảm ơn vị (hoặc một số vị) đạo diễn tài ba, khôn khéo, đang lặng lẽ chuẩn bị cho những khủng hoảng sẽ dẫn tới chuyển biến mang tính lịch sử của chính trị Việt Nam.

Tuy nhiên, những chuyển biến đó chỉ có thể xảy ra khi và chỉ khi người dân và trí thức Việt Nam hiểu được ngầm ý của các vị «đạo diễn» đó để có các hành động phối hợp nhịp nhàng với họ. Nếu Quốc hội khóa 13 vi phạm Hiến pháp nhưng Quốc hội khóa 14 và người dân đều chấp nhận, thì sẽ chẳng có gì xảy ra. Và hẳn nhiên, khi người dân Việt Nam quyết định hành động, và hành động một cách đồng bộ, mạnh mẽ, thì dù có hay không sự tồn tại của các vị «đạo diễn» kia, hệ thống chính trị buộc sẽ phải chuyển động.

Paris, 31/3/2016

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 31-3-16