Dấu Tay Trung Quốc Hay Vết Bẩn Trung Hoa

  Dấu Tay Trung Quốc Hay Vết Bẩn Trung Hoa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –

tuongnangtien's picture

tuongnangtien

RFA

Hễ cứ vô mạng là tôi lại nghe blogger Lê Anh Hùng đang la làng về một vụ gì đó, và toàn là những vụ động Trời:

“Chuyện chỉ có ở VN: Dự án nhiệt điện hàng tỷ USD được giao cho một công ty chuyên doanh…mực in!!! Suốt bao năm qua, người Việt Nam đã quá bội thực với những thông tin lặp đi lặp lại như tập đoàn X của Trung Quốc được chọn làm tổng thầu dự án nhiệt điện A, công ty Y của Trung Quốc ký hợp đồng làm tổng thầu dự án thuỷ điện B hay liên danh nhà thầu Trung Quốc Z làm tổng thầu dự án nhà máy xi-măng C, v.v. và v.v. Vì thế, dường như bất kỳ tin tức gì về việc một công ty nước ngoài nào đó không phải của ‘nước lạ’ được giao thực hiện một dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia cũng đều đem đến cho công chúng Việt Nam ít nhiều cảm giác phấn chấn.

Tuy nhiên, cũng đã không ít lần, khi chưa kịp tiêu hoá hết cái sự phấn chấn hiếm hoi đó, dư luận đã phải ngã ngửa vì những sự thật trần trụi về những công ty nước ngoài kia bị phơi bày. Và lần này cũng y như vậy.

Theo phần giới thiệu trên website công ty thì Toyo Ink được thành lập ngày 7/2/1979. Và từ đó đến nay, công ty này chỉ chủ yếu sản xuất mực in, vật liệu in và phẩm màu; buôn bán, xuất nhập khẩu mực in và thiết bị in… Nghĩa là, trong suốt thời gian tồn tại 37 năm của mình, Toyo Ink chưa hề có bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào liên quan đến ngành điện lực nói chung và nhiệt điện than nói riêng. Danh sách đối tác của Toyo Ink cũng toàn những công ty chuyên về mực in và thiết bị in ấn. (Ink trong Tiếng Anh có nghĩa là mực.) …

Một công ty chuyên về mực in, doanh số mỗi năm vỏn vẹn vài chục triệu USD, lợi nhuận hơn một triệu USD, mà lại được giao thực hiện một dự án thuộc một lĩnh vực hoàn toàn lạ lẫm với họ là nhiệt điện than, với tổng mức đầu tư lên tới 3,5 tỷ USD, tức hơn… 160 lần doanh thu hàng năm của chủ đầu tư. Xem ra trên thế gian này, những chuyện lạ đời như vậy chỉ có thể xẩy ra ở Việt Nam.”

Quả nhiên đây là “chuyện lạ đời” nhưng không “chỉ có thể xẩy ra ở Việt Nam” đâu. Bên Lào cũng y như vậy đó:

“Theo tạp chí The Diplomat [Sep 04, 2015] Quốc Hội Lào đã chính thức thông qua Dự án Đập Don Sahong, một dự án từ bấy lâu gây rất nhiều tranh cãi. Dự trù ban đầu con đập được Công ty Xây dựng Mã Lai MegaFirst khởi công vào cuối năm nay 2015…

Trong một bức thư ngày 2 tháng 2, 2015 của International Rivers Network / IRN Mạng Lưới Sông Quốc Tế gửi tới Sinohydro International Corporation bày tỏ quan điểm của tổ chức IRN chống lại Dự án Đập Thuỷ điện Don Sahong do những ảnh hưởng tác hại môi trường và xã hội trên dòng chính Sông Mekong.

Đoạn thư viết tiếp: “Chúng tôi được biết Sinohydro International được đấu thầu phần EPC/ Engineering Procurement Construction / thiết kế, quản lý và xây dựng cho Dự án Don Sahong, sự kiện ấy khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan tâm về mối liên hệ của Trung Quốc tới Dự án này. Chúng tôi nhận định rằng Sinohydro, một tổ hợp của Nhà nước Trung Quốc khi ký một hợp đồng liên quan tới triển khai dự án, điều ấy sẽ can thiệp vào tiến trình thương thảo. Đây chính là thời điểm vô cùng nhậy cảm cho toàn vùng đối với cái giá phải trả cho việc phát triển thuỷ điện trên Sông Mekong. Chúng tôi hy vọng Sinohydro sẽ hỗ trợ cho những cuộc thảo luận về sự cần thiết có thêm những cuộc nghiên cứu khoa học, và trên hết là sự tôn trọng những quyết định và các yêu cầu chính thức từ các chính phủ Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam”.

Như vậy bức màn của sự thật đã được vén lên: MegaFirst của Mã Lai chỉ là nhóm chủ thầu đầu tư/ Investor vào Don Sahong, một công ty không có kinh nghiệm xây dựng hay điều hành nào về thuỷ điện nên rõ ràng họ làm một bình phong / một lá chắn cho Sinohydro đứng phía sau, thực hiện phần kỹ thuật xây đập bất chấp tác hại ra sao đối với dân cư trong lưu vực.

Ai cũng biết Sinohydro International là một công ty quốc doanh khổng lồ xây đập trên toàn cầu của Trung Quốc, được xem là lớn nhất thế giới nhưng cũng đã từng mang rất nhiều tai tiếng về những con đập gây ra những tác hại môi sinh. Và có thể nói mà không sợ sai lầm Don Sahong sẽ là một con đập Made in China…” (Ngô Thế Vinh, “Đập Thủy Điện Don Sahong In Đậm Dấu Tay Trung Quốc” – VOA Jan. 10, 2015.)

Tôi chưa bao giờ có hân hạnh được gặp mặt nhà văn Ngô Thế Vinh. Giữa tôi và ông cũng không có giao tình đậm/lạt gì ráo trọi. Chúng tôi chả qua (và chả may) cùng phải lòng một thiếu phụ – một người đàn bà đã có tuổi, có chồng, và có rất nhiều con – nên cả hai đều đau khổ (triền miên) vì một mối tình vô vọng. Đồng bệnh tương. Bởi vậy, nên thỉnh thoảng chúng tôi cũng có lai rai email qua lại để an ủi nhau (chút đỉnh) trong những lúc cô quạnh quá thôi.

Tháng rồi hay tin tôi đang lông bông ở Phnom Penh nên ông anh nhắn nhủ: Đã thất tình rồi mà còn ở không thì buồn chịu sao cho thấu, và rượu đâu mà giải sầu cho đủ. Rảnh chạy tới chỗ tụi nó vừa khởi công xây cái đập Don Sahong chụp dùm mấy tấm hình, làm bằng chứng là có “dấu tay của tụi Tầu” nha.

Cái ông Ngô Thế Vinh này thiệt là quá rảnh và bao la hết biết luôn. Suốt đời chỉ bận tâm về những chuyện biển rộng sông dài không hà. Tui cũng rảnh luôn và rảnh lắm nhưng đi Lào thì nói nào ngay là có thấy hơi lạnh cẳng. Qua thủ đô Vientiane uống vài thùng bia chơi thì được, chớ xuống tuốt Hạ Lào sao thấy ngại quá chừng.

Nam Lào núi rừng trùng điệp và hoang vu lắm. Voi/cọp, beo/báo, rắn/rít, muỗi/mòng … (tùm lum) thấy ghê chết mẹ. Đã vậy, tui lại không biết nói và không biết viết chữ Lào. Nửa chữ cũng không.

Còn phân vân chưa biết tính sao thì may thay gặp ngay một ông bạn đồng nghiệp trẻ, thông tín viên thường trú của RFA tại Bangkok, đang đi làm phóng sự về cuộc sống của những người Việt bán vé số ở Cambodia. Thằng cha này (nghe đâu) tiếng Thái và tiếng Lào rành dữ lắm nên tôi liền nhào tới, tay bắt mặt mừng.

Anh Vũ – rõ ràng – là một tên rất ham đi, ham vui và dễ dụ nên tôi chưa nói dứt lời mà đương sự gật đầu lia lịa. Thế là hai thằng hăm hở (và hớn hở) đi liền.

Thác Khone Phapheng. Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016

Từ Miên, chúng tôi băng qua Lào bằng cửa khẩu Stung Treng. Tới địa phận Pakse, theo đường 13, đi khỏi thác Khone Phapheng chút xíu là thấy mũi tên rẽ trái vào bản VeunKham.

Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016

Chúng tôi nhờ may, chớ không phải hay, nên được một người dân địa phương chỉ lối vào nơi đang làm con đập Don Sahong. Đây là một con dốc rộng, mới khai phá chưa lâu, có chỗ rải sỏi chỗ không, đường đất gập ghềnh và bụi đỏ đóng dầy dưới ánh nắng chói chang.

Thêm một điều may nữa là chúng tôi đến nơi vào ngày trưa cuối tuần, công nhân nghỉ việc, và lịch nổ mìn ghi là từ 4:30 đến 6:00 chiều … nên công trường vắng vẻ.

Thời Biểu Nổ Mìn. Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016

Don Sahong mới khởi công hồi đầu năm nên chung cư của công nhân vẫn còn thấy dán những câu đối Tết tiếng … Tầu.

  • Mấy chữ này nghĩa là gì hả anh? Anh Vũ hỏi với đôi chút nghi ngại.

Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016

Tôi hơi đỏ mặt nhưng may là trời đang nóng hừng hực nên thằng chả không hay. Hồi đêm, nằm ở Muong Khone, tôi mới “nổ” là mình tốt nghiệp cao học văn khoa (ban Việt Hán) và là học trò ruột của danh sư Trần Trọng San. Tôi “nổ” quá lớn khiến chính mình cũng bị ù tai và còn hơi choáng váng nên đành phải quấy quá cho qua chuyện:

  • Thì đại khái là “vui xuân không quên nhiệm vụ” và “mừng xuân tăng gia sản xuất” thôi chớ có mẹ gì đâu…mà cũng hỏi (*).

Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016

Lần dò hồi lâu rồi chúng tôi cũng tìm được đúng cái mà anh Ngô Thế Vinh muốn có trong tay: Tấm bảng cảnh báo với tên SINOHYDRO ghi rành rành bên góc phải, cùng những hàng chữ – tiếng Lào, tiếng Anh, và tiếng Hoa – viết bằng cái thứ ngôn từ (thô lỗ và đe nẹt) chỉ thấy ở những nơi mà quyền sống, cũng như mạng sống, của người dân chả có nghĩa lý gì:

  • Entering Without Permission Will Be Punished And Prosecuted.
  • Tresspassers will Take All Responsibilities And Losses.

Tấm bảng này khiến tôi chợt nhớ đến lời lẽ “nhã nhặn” trong bức thư của Mạng Lưới Sông Ngòi Quốc Tế, cùng với một tiếng thở dài – cố nén: “Chúng tôi hy vọng Sinohydro sẽ hỗ trợ cho những cuộc thảo luận về sự cần thiết có thêm những cuộc nghiên cứu khoa học, và trên hết là sự tôn trọng những quyết định và các yêu cầu chính thức từ các chính phủ Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam.”

Ảnh chụp ngày 19 tháng 3 năm 2016 

Còn “hy vọng” với “thảo luận” cái mẹ gì nữa, hả Giời? Tụi nó đã đè con người ta ra, đâm thọc cho tan nát hết trơn rồi kìa. Người Trung Hoa đủ “nhẫn tâm” để biến đất nước của chính mình thành một cơ xưởng sản xuất hàng hoá rẻ tiền cho toàn thể nhân loại, bất chấp mọi tác hại về môi sinh. Nói với họ về những thảm hoạ môi sinh xẩy ra ở những nơi xa xôi, tận đâu đâu đó, làm chi cho nó phí thời giờ.

Nhắm đã đủ số ảnh cần thiết theo yêu cầu của anh Ngô Thế Vinh, và sợ  trước sau gì cũng bị an ninh công trường phát hiện nên tôi lấy cái sim trong máy hình ra dấu kỹ. Tôi muốn “rút” lẹ nhưng Anh Vũ vẫn còn cứ nấn ná, cố phỏng vấn cho bằng được ba mẹ con bà chủ quán (cái quán nước duy nhất) bên đường để thực hiện bài phóng sự (“Kẻ Dấu Mặt Tại Đập Thủy Điện Don Sahong”) theo dự tính của anh.

Rõ ràng là là thằng cha điếc không sợ súng. Cũng phần lỗi do tôi. Đáng lẽ tôi nên báo cho ông bạn đồng hành hay rằng mới cách đây hai tháng, vào hôm 24 tháng Giêng, Lào đã bắt giữ hai nhà hoạt động môi sinh Cambodia – hai anh em sinh đôi Chum Huot và Chum Hour – khi mon men đến Don Sahong để chụp mấy tấm hình. Họ là người địa phương nên dù gì cũng còn có gia đình, dân làng, và chính phủ của mình bênh vực. Còn chúng tôi chỉ là hai thằng ma cà bông, khi khổng khi không, như từ trên trời rơi xuống cái chỗ (lành ít dữ nhiều) này.

Huot and his brother were detained on Sunday while attempting to photograph the dam’s construction. Note and photo: RFA

Tôi lại bị bệnh suyễn kinh niên, đi đâu cũng phải thủ cái ống xịt thuốc (inhaler) trong túi. Sáng nay loay hoay sao đó nên quên mẹ nó ở khách sạn rồi. Tui vốn nhát nên nóng như hơ. Tụi nó mà túm được thì nếu không lôi thôi lớn (e) cũng lôi thôi lắm.  May quá, cuối cùng, Anh Vũ cũng “tác nghiệp” xong. Tôi thở phào nhẹ nhõm:

  • Nói cái đéo gì lắm thế?
  • Người ta than thở nghe tội lắm anh ơi nên em bỏ đi liền không tiện. Họ nói sự yên tĩnh thanh bình của cả vùng này đang bị phá vỡ bởi tiếng mìn phá đá, và tiếng máy móc thi công… Không chỉ con người ở đây cảm thấy bất ổn, mà kể cả con cá dưới sông hay con chim trên cây cũng dần bỏ đi nơi khác…
  • Ủa, bộ vẫn còn có nơi nào khác để đi sao?
  • !!!
    Tưởng Năng Tiến

(*) Mấy hôm sau, Tiến Sĩ Trần Huy Bích cho chúng tôi biết hai câu đối này có nghĩa như sau:
Nghênh xuân tiếp phúc nhân tài vượng
Hòa mục gia đình sự nghiệp hưng

Trao đổi thư tín ngày 23.04.2016

Trao đổi thư tín ngày 23.04.2016

Hòa Ái, phóng viên RFA
2016-04-23

Tàu sắt của Trung Quốc ngang nhiên đâm thẳng vào tàu cá Việt Nam hồi tháng 7 năm 2014 ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (ảnh minh họa)

File photo

Your browser does not support the audio element.

Thưa quý vị, thay mặt Ban Việt ngữ, Hòa Ái xin nói lời cáo lỗi cùng quý thính giả vì chương trình phát thanh buổi tối thứ Sáu, ngày 22 tháng 4 năm 206 bị lỗi kỹ thuật do mạng internet của đài bị sự cố ngay trong thời gian phát thanh qua làn sóng ngắn 25 và 31 mét cùng trên làn sóng trung bình 1503 Khz. Kính mong quý thính giả thông cảm.

“Những tháng ngày đen tối của dân tộc”

Trong tuần qua những tin tức liên quan đến Việt Nam được dư luận cho là “những tháng ngày đen tối của dân tộc”. Nhiều email của quý khán thính giả và độc giả gửi về đài nêu lên các vấn đề thời sự nóng bỏng như Mê-Kông cạn dòng, Biển Đông dậy sóng, tự do truyền thông bị sa sút ở thứ hạng 175/180 quốc gia, nợ công ngập đầu, cá chết trắng biển mà chưa rõ nguyên nhân, báo cáo nhân quyền mới nhất cho thấy Việt Nam vẫn không có cải thiện đáng kể về vi phạm nhân quyền… Hầu hết những câu hỏi dành cho đài tựu trung rằng nước nhà được thống nhất và độc lập để bây giờ thế này hay sao?

Quý khán thính giả quý mến, câu hỏi quý vị dành cho Đài RFA, có lẽ Hòa Ái hy vọng Chính phủ Hà Nội với đội ngũ lãnh đạo mới vừa được bầu chọn sẽ trả lời nhanh chóng đến tất cả những người Việt quan tâm tình hình quốc gia ngay thời điểm kỷ niệm 41 năm cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Còn trong chương trình hôm nay, Hòa Ái dành thời gian sơ lược các thông tin về chủ quyền độc lập lãnh thổ của nước Việt Nam hiện tại.

Tàu cá của Trung Quốc xâm lấn vào địa phận của Việt Nam, mắc cạn, bộ đội ta ra sức cứu, cứu xong ra khơi nó lại đâm cho hư hại tàu của ngư dân mình. Thật khó chấp nhận hành động này.
-Một thính giả

Tình hình căng thẳng ở Biển Đông ngày càng gia tăng, có thể nói giờ đây trở thành một trong những tâm điểm chú ý của thế giới. Mới đây nhất, Thứ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Antony Blinken trong chuyến viếng thăm Việt Nam cũng nói về vấn đề Biển Đông với hàng trăm sinh viên Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Trong quốc nội thì cử tri yêu cầu Quốc hội kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về việc lấn chiếm, xây dựng các đảo nhân tạo trên biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam cũng như đề nghị Nhà nước hạn chế các chính sách thỏa hiệp để đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền. Tuy nhiên, dư luận trong và ngoài nước bày tỏ thất vọng khi Bộ Ngoại Giao Việt Nam trả lời Quốc hội về các yêu cầu của cử tri đã không đề cập tới việc khởi kiện mà chỉ xác định kiên trì đấu tranh bằng sức mạnh tổng hợp cùng các biện pháp hòa bình mềm dẻo nhưng không nhân nhượng. Dư luận cũng chú ý đến thông tin Việt Nam và Trung Quốc tiến hành kiểm tra liên hợp nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ, rồi tin bộ đội biên phòng Việt Nam cứu hộ 3 ngư dân Trung Quốc và tàu của họ khi gặp nạn ngoài khơi Thừa Thiên- Huế trong khi đó tiếp tục có tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu lạ đâm, hàng chục ngư dân Việt bị bắt giữ ở Malaysia. Sau đây, Hòa Ái trích đăng các ý kiến liên quan:

“Tàu cá của Trung Quốc xâm lấn vào địa phận của Việt Nam, mắc cạn, bộ đội ta ra sức cứu, cứu xong ra khơi nó lại đâm cho hư hại tàu của ngư dân mình. Thật khó chấp nhận hành động này.”

“Sao bảo Việt Nam và Trung Quốc đang ‘tuần tra chung bảo vệ ngư trường’ mà lại để tàu lạ đâm là thế nào?”

“Cử tri 15 tỉnh thành VN đề nghị sớm kiện Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông ra tòa án quốc tế. Tôi nghĩ đây là cách làm rất hợp lòng dân trong và ngoài nước, chứ không riêng gì các cử tri. Nếu cử tri và người dân cả nước đã đồng tình thì tại sao vẫn còn chưa kiện, hay còn phải chờ chỉ thị của Đảng CSVN và Đảng Cộng sản Trung Quốc nữa?”

“Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc là một sự thật vì rằng người anh em ‘4 tốt 16 chữ vàng’ chưa bao giờ ngừng dã tâm thôn tín Việt Nam. Nói mọi người xuyên tạc là không công bằng, hơn thế lại càng vô tâm hơn nếu chúng ta là người Việt Nam. Tổ tiên ta đã đấu tranh từ bao đời nay rồi, không lẽ vì cớ gì đó mà buông tay cho giặc?”

Cá chết hàng loạt dọc bãi biển các tỉnh miền Trung

ca-chet-622.jpg

Cá chết hàng loạt ở ven biển miền Trung thuộc ba tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị.

Trong tuần qua, Hòa Ái cũng nhận được nhiều thắc mắc liên quan đến chủ quyền độc lập lãnh thổ của Việt Nam có phải đang bị xâm lấn một cách nghiêm trọng hay không khi hàng tấn cá chết trắng bờ dọc bãi biển các tỉnh miền Trung bị nghi là do nguồn nước ô nhiễm từ khu công nghiệm Vũng Áng ở Hà Tĩnh gây nên. Trong khi đó cơ quan chức năng Việt Nam lại lên tiếng chưa thể vào bên trong khu công nghiệp này để kiểm tra, ngoại trừ có chỉ đạo từ Trung ương. Tiếp theo trong chương trình, Hòa Ái gửi đến các ý kiến của quý khán thính giả cùng độc giả xoay quanh vấn đề thời sự đặc biệt này:

“Việt Nam chào đón họ đến làm ăn, không có nghĩa là họ muốn làm gì thì làm. Chúng ta là chủ nhà nếu họ sai thì buộc họ sửa, còn nếu họ đúng ta thanh minh bảo vệ uy tín cho họ. Điều quan trọng hơn hết là dù có phải hy sinh họ để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của người dân thì ta phải cương quyết làm.”

“Biển rộng mênh mông, ô nhiễm cá chết hàng loạt, đủ biết sự hủy diệt của thứ ô nhiễm này nó mạnh như thế nào. Thời buổi năm 2016 rồi phương tiện gặp hay liên lạc với nhau đâu có khó? Nội bộ với nhau, chuyện nghiêm trọng vậy mà kiểm tra cũng không xong.”

“Với máy móc, thiết bị phòng thí nghiệm đầy đủ như ngày nay, chuyện tìm ra nguyên nhân cá chết có gì là khó. Vấn đề là cấp lãnh đạo có cho phép phân tích mẫu cá chết và có cho phép công bố kết quả phân tích hay không? Liệu các nhà máy xây dựng dọc theo bờ biển miền Trung có thật sự xử lý nước thải trước khi đưa vào môi trường? Liệu các nhà máy do chủ đầu tư nước ngoài có thật sự tuân thủ quy định bảo vệ môi trường? Các cán bộ kiểm tra môi trường có nhận lót tay? Ai có lợi mà hậu quả người dân và quốc gia phải gánh chịu thiệt hại? Đừng bao giờ ăn những con cá trong vùng nước này vì chúng đã bị nhiễm độc. Đây chính là nguồn gây ung thư.”
“Bắt đầu rồi dân Việt Nam sẽ chết dần chết mòn vì giặc nằm ngay cạnh chúng ta. Nó dùng hoá chất đưa vào nước cho dân ta ăn uống rồi sẽ sinh bệnh, chết.”

Một nước có chủ quyền của mình mà không vào được chỗ của mình thì không biết nói sao cho đúng với những điều mà người dân đang lo lắng. Tổ quốc có còn hay đã mất dù không đạn nổ bom rơi?
-Một thính giả

“Một nước có chủ quyền của mình mà không vào được chỗ của mình thì không biết nói sao cho đúng với những điều mà người dân đang lo lắng. Tổ quốc có còn hay đã mất dù không đạn nổ bom rơi?”

“Nhục ơi là nhục, khổ ơi là khổ, bà con ơi, đất nước tôi ơi… Dân mình chỉ biết đấm ngực kêu trời không thấu, đất không nghe, sống làm sao được nữa mà sống đây?”

Trong phần còn lại, Hòa Ái gửi đến chia sẻ của quý thính giả khắp nơi về cảm xúc, suy nghĩ của họ trong thời điểm ký ức tháng 4:

“Lại sắp 30/4, 41 năm nhanh như chớp mắt. Bác Hồ nói rằng 10 năm trồng cây, 100 năm trồng người. Chế độ cộng sản do Bác Hồ đem về đã trồng người được 41 năm, từ năm 1975 và trước đó nữa. Bây giờ, tôi có ít lời để nói về 30/4/2016, tôi nói mà lòng đau như thắt, hết rồi những gì đẹp đẽ nhất, giá trị nhất của đất nước Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến đã dần dần bị chết đi bởi Cộng sản.”

“Tôi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, chỉ về thăm quê hương trong vòng có một tháng, vậy mà phải trở lại Australia. Con người ở VN bây giờ, mặt mũi lúc nào cũng y như chuẩn bị đánh nhau với ai đó, buôn bán thì trấn lột chặt chém, tệ nạn xã hội đầy đường, thất nghiệp tràn lan, tai nạn giao thông nhiều vô số kể, lừa đảo bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, tham nhũng khắp nơi, từ chuyện nhỏ nhặt đến chuyện đại sự đều phải dính đến tiền…Một xã hội băng hoại như thế, liệu người dân có còn muốn sống chung với nó nữa không?”

“Tôi tên Nguyễn Văn Phúc, là một trong số 500 con lai còn sót lại ở Việt Nam, cuộc sống không dễ dàng nhưng mình vẫn thở và vẫn tồn tại…đó là số phận, mỗi người đều có số…Có lẽ những người con lai là những người có sức chịu đựng, có sức mạnh để chịu áp lực lớn và những anh chị em lai còn kẹt lại ở Việt Nam thì lại là số có sức chịu đựng nhiều hơn…không ai khổ mà chết chỉ có hết thở thì mới hoàn tất một cuộc đời, nên còn thở là còn hi vọng. Điều mơ ước của anh em lai chúng tôi là được về Mỹ được tìm ra gốc gác của mình không phải để sướng hơn, không phải để đổi đời mà vì đó như là tâm nguyện, về Mỹ mới thực sự là có thể giống mọi người hơn, giống nhà hơn. Chúng tôi thường thử tưởng tượng nếu chúng tôi đứng trên đất Mỹ, chúng tôi giống tất cả mọi người ‘không khác biệt’ như ở Việt Nam, nơi mà chúng tôi sinh ra và lớn lên. Chúng tôi là người Việt nhưng không ai công nhận, chúng tôi luôn khác biệt, luôn lạ giữa đám đông và mọi người lại gọi chúng tôi là ‘Mỹ lai’. Tôi hi vọng sự nhiệt tâm của tất cả mọi người còn nghĩ đến chúng tôi, còn nhớ về chúng tôi sẽ được Ơn trên và dòng đời này cho trổ hoa kết trái. Tôi xin chúc mọi người luôn bình an và hạnh phúc trong cuộc sống của mình. Sau cùng tôi xin cám ơn ba mẹ đã cho tôi một kiếp được làm người, cám ơn cuộc đời này đã cho tôi tồn tại trong hai chữ mà mọi người thường gọi ‘trẻ lai’.”

“Chào Đài ACTD, tôi gửi đến ông Trọng: Ông ơi, từ ngày ông ở lại tại vị đến giờ, dân thì lòng tham, trời thì phạt hạn nắng tuyết rơi. Tôi yêu cầu ông xuống sớm giùm để dân tộc Việt Nam bớt khổ, để người phụ nữ Việt Nam không bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục. Cảm ơn Đài ACTD.”

“Hôm nay cho tôi xin mạo muội có một chút ý kiến. Mấy chục năm trôi qua chúng ta cũng đã thấy Đảng CSVN đã làm ngu dân cả một thế hệ. Thành ra bà con trong nước cũng đã thấy rõ Đảng CSVN làm chủ mọi lãnh vực, bất cứ cái gì cũng do Đảng chỉ đạo hết. Đảng CSVN này cho ăn bánh vẽ. Và điều chú ý quan trọng nhất là bà con hãy bình tĩnh tự mình liên kết, đoàn kết với nhau thực hiện những gì mình thấy có lợi cho bản thân, gia đình, xã hội và đất nước thì chúng ta nên hành động chứ đừng bao giờ nghe những gì Cộng sản nói. Kính chúc bà con thôi ráng, hết cơn bỉ cực sẽ tới hồi thới lai. Chúc sức khỏe bà con và sẵn đây tôi cũng chúc sức khỏe tất cả các anh chị xướng ngôn Đài ACTD. Chân thành cảm ơn.”

Mục “Trao đổi Thư tín” đến đây xin tạm dừng. Quý thính giả có thể liên lạc với chương trình qua email tại địa chỉ vietweb@rfa.org hay hoaai@rfa.org, hoặc qua hộp thư thoại tại số 202-530-7775. Trước khi dứt lời, Hòa Ái xin nhắn tin đến 3 quý thính giả Ho Dung, Phong Tây và Thu Trần; quý vị có thể gửi email liên lạc trực tiếp với đài để chúng tôi cung cấp thông tin liên lạc của Hội Tình Lai Không Biên Giới đến quý vị.

Cảm ơn thời gian theo dõi của quý vị cùng Hòa Ái trong mục “Trao đổi Thư tín”. Kính chúc quý vị 1 ngày mới an lành. Hòa Ái kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại lần sau.

Tháng Tư… thù hận

Tháng Tư… thù hận

Tạp Ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

Mới đọc qua nhan đề bài tạp ghi hôm nay, xin quý vị bình tĩnh, chớ có la lên: “Bây giờ mà nói chuyện thù hận, hãy xóa bỏ hận thù, quên đi quá khứ và cùng nhau hướng về tương lai, bắt tay cùng nhau xây dựng đất nước!” Câu nói này do bên thắng trận, nói đi nói lại đã nhiều lần, trở thành một câu nói sáo mòn, nghe như vô nghĩa. Ngày 30 tháng 4 lại đến, những người thua trận đã chịu bao nhiêu cảnh nghiệt ngã, đau xót, tha thứ mà không quên, khó quên thì dễ gì một sớm một chiều mà tha thứ.

Giết người buông súng.

Loài sói lang trên rừng mà biết nói chuyện nhân nghĩa, tay còn dính máu mà nói chuyện hãy bỏ qua hận thù. Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, những kẻ thắng trận lại khua chiêng, đánh trống, duyệt binh, bắn pháo bông ăn mừng, và nói những điều nhân nghĩa khó nghe. “Lòng nhân ái làm nên 30 tháng 4, 1975!” Đó là câu nói của Tướng Lê Đức Anh, người đã từng là bộ trưởng Quốc Phòng và chủ tịch nước CSVN. Tuyên bố với báo chí, y đã giải thích thêm:

“Không hề có cuộc trả thù ‘tắm máu’ nào, đội quân và bộ máy chính quyền Sài Gòn tan rã tại chỗ nên các đô thị của miền Nam hầu như nguyên vẹn, không bị tàn phá. Kết thúc chiến tranh có người thắng kẻ thua nhưng không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt.” Và:“ Việt Nam (Cộng Sản) là một dân tộc hiền hậu và vị tha…”

Tôi có một người anh họ là Đại Tá Lê Khắc Duyệt, nguyên giám đốc Công An Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung Phần dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau năm 1963, ông được thuyên chuyền về Tổng Nha Cảnh Sát, và những ngày cuối cùng ông đặc trách công việc của cơ quan Interpol tại Việt Nam. Trước ngày 30 tháng 4, ông cũng như bao người khác nghe lời đường mật qua thông cáo của Chính Phủ Cộng Hòa Lâm thời miền Nam Việt Nam: “Quân đội bỏ súng về quê!” có xe đến nhà rước lên phi trường, nhưng ông không đi. Sau đó, ông đi trình diện “học tập” đúng ngày như bao nhiêu công chức cao cấp khác của miền Nam.

Trong thời gian ông đang ở trong trại cải tạo, một người bà con đi tập kết từ năm 1954 trở về, tốt bụng đã nói chuyện với gia đình ông Duyệt:

– Những công chức cao cấp miền Nam giữ những chức vụ như anh, trước sau gì bọn chúng cũng giết. Nghe nói chúng sẽ đưa một số sĩ quan và viên chức cao cấp, nhất là giới tình báo ra Bắc. Vậy gia đình nên tìm cách vận động, chạy chọt để anh khỏi phải ra Bắc. Đằng nào cũng chết, nhưng nếu anh ở lại trong Nam, chị và các cháu còn có thể đem xác về chôn cất hương khói, còn như ra Bắc, thì chết xong, bọn nó vùi dập đâu đó, không biết đâu mà tìm.

Gia đình ông Duyệt nghe lời chỉ dẫn của người bà con, đã tìm đủ mọi cách “trải vàng” cho ông khỏi có tên trong danh sách những người được chở ra Bắc bằng máy bay C.130

vào một đêm cuối năm 1976. Nhưng ba tháng sau, ở trại Long Thành, ông bị một cơn cảm nhẹ, trại có nhã ý chích cho ông một mũi thuốc. Sau mũi thuốc này, ông bất tỉnh, không thở được, trại “khoan hồng” chuyển cho ông về bệnh viện Hồng Bàng, và ông qua đời một hôm sau đó. Gia đình đời đời nhớ ơn ông “cách mạng” này, đúng như lời chỉ dẫn thân nhân “có xác” của ông để mang về chôn cất. Thật ra mấy ai hiểu biết gì về Cộng Sản, ngay cả những người ở trong ngành tình báo, phản gián!

Những viên chức tình báo cao cấp sau đây đưa ra Bắc đã bị Việt Cộng giết trong tù:

1.Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu, phó tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm tư lệnh.

2.Đại Tá Dương Quang Tiếp, thuộc BTL Cảnh Sát Quốc Gia, phụ tá An Ninh Tình Báo Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên.

3.Đại Tá Nguyễn Xuân Học, trưởng Khối Phản Tình Báo đặc trách An Ninh Tình Báo – Phản Gián Nha An Ninh Quân Đội.

4.Đốc Sự Nguyễn Phát Lộc, giám đốc Nha Nghiên Cứu, người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình làm đặc ủy trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

5.Ông Nguyễn Kim Thúy, giám đốc Nha Nghiên Cứu Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Những viên chức tình báo cao cấp này khi đưa ra Bắc, đã bị đưa đi nhiều trại tù khác nhau, nhưng cái chết của họ giống nhau: được gọi đi “làm việc,” khai báo tội lỗi, và sau đó được trại “bồi dưỡng” một tô phở, ăn xong tô phở về đến trại, bị hộc máu chết ngay trong đêm đó.

Cộng Sản ở đâu cũng vậy, chữa bệnh thì không giỏi, nhưng đầu độc là “nghề chuyên môn của chàng.”

Ở trong Nam, Việt Cộng “không đánh người chạy đi, nhưng giết người chạy lại!” Họ xử bắn những người lính đã buông súng đầu hàng, xử tử ngay cả những viên chức Xã, Ấp, trung đội trưởng Nghĩa Quân, trong đó Hậu Nghĩa (Nam) và Quảng Ngãi (Trung) là hai tỉnh chịu sự trả thù tàn khốc nhất. Ở Quảng Ngãi, Thiếu Tá Hai, một tiểu đoàn trưởng địa phương Quân, bị treo ngược lên ở chợ Tịnh Châu, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, và mọi người dân đi qua đều bị Việt Công bắt cầm dao đâm vào người ông cho đến khi chết, chết rồi còn bị đâm tiếp. Nhiều nhân viên đảng phái, như Quốc Dân Đảng được gọi riêng đi “học tập” trong đêm cuối cùng tất cả đều bị chôn sống.

Toàn bộ nhân viên cảnh sát xã Trung Lập, Củ Chi, tỉnh Hậu Nghĩa đều bị xử tử. Nhiều viên chức cấp thấp ở tỉnh này như Trung Sĩ CS Tạ Văn Phúc, Cuộc Tân An Hội bị chặt đầu tại Phú Hòa Đông, Trung Sĩ CS Đặc Biệt Củ Chi Nguyễn Văn Chấp, bị tra tấn bằng cách dội nước sôi cho đến chết.

Ở Kiến Hòa, Đại Úy Nguyễn Xuân Thìn, phó trưởng Ty An Ninh Quân Đội ngày 30 tháng 4 cũng đã bị bắn và thả trôi sông.

Hầu hết những sĩ quan đặc trách tình báo, hay “Trưởng F đặc biệt” đều bị trả thù triệt để. Trung Tá Trương Văn Tỷ, Thiếu Tá Hồ Văn Còn, Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu (Tây Ninh) Đại Uy Lữ Kim Ba (Ba Xuyên) chuyên viên Tình Báo Phạm Gia Đại (Tòa Đại Sứ Mỹ)… đều nhận bản án thù hận 17 năm trời ròng rã.

Đây chỉ là những tin tức hạn chế trong trăm nghìn trường hợp “hiền hậu, vị tha” mà những người Cộng Sản Việt Nam đã dành cho “anh em” miền Nam thất trận, còn bao nhiêu tội ác có nhân chứng trong nước, nhưng dưới chế độ này, họ đành câm nín mang theo cho đến khi chết.

Trong một cuộc chiến, khi hai bên coi nhau như kẻ thù, đều muốn tìm hết khả năng và dùng mọi phương tiện để tiêu diệt nhau, nhưng khi đã ngưng tiếng súng, có bên thắng bên thua, trong tinh thần mã thượng, không thể dùng sức mạnh để truy lùng, tiêu diệt những kẻ yếu thế như trường hợp đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm. Như vậy, có thể dùng những danh từ hoa mỹ như “nhân ái,” “ hiền hậu,” “ vị tha” để mô tả những hành động ghê tởm này không?

“Không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt” thì làm sao trong một trại tù như Ba Sao, Nam Hà, từ 1975 cho đến 1988 lại có 626 người tù từ miền Nam ra, đã chết vì đói, bệnh và làm việc kiệt lực.

Một chế độ không dạy con người thù hận, làm sao có thể có những sự trả thù ghê gớm đến mức như vậy? Một cuộc chiến đã ngưng tiếng súng rồi, sao còn gọi nhau “máu kêu trả máu – đầu kêu trả đầu!”(Tố Hữu)

Những người sống bằng nhân nghĩa lại có “đức tính” mau quên, và những bài học hận thù viết bằng chữ máu, thì chẳng bao giờ thuộc.

(*)Theo lời vị trụ trì thuật lại với cô Phạm Thanh Nghiên, cách đây vài năm có một Phật tử đưa một cựu giám thị trại tù Ba Sao đến chùa. Người giám thị này trao cho sư một danh sách gồm 626 người tù từ miền Nam chết trong trại, ngỏ ý muốn làm một tấm bia đặt trong chùa để 626 vong linh này được hương khói tử tế. Danh sách này sau đó đã bị ông thầy thiêu hủy!

NỖI ĐAU NÀY KHÔNG CỦA RIÊNG AI. LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN.

NỖI ĐAU NÀY KHÔNG CỦA RIÊNG AI. LỊCH SỬ SẼ PHÁN XÉT TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN.

Trích:
“Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.”

Dominic Pham

21 hrs · Sài Gòn, Vietnam ·

Vượt biên.
87 người bị giết

Bà Nguyễn Thị Thương, 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo Sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo Sư Trần Quang Huy, Phân Khoa Trưởng Văn Khoa Đại Học Sài Gòn, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

Ghe mang số SS0646 IA dài 13,5 m, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01/12/1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp Thái Lan cặp 2 bên hông thuyền tỵ nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật quý. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tỵ nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tỵ nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tỵ nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo Sư Trần Quang Huy. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tỵ nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tỵ nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ 5, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tỵ nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan ra đón họ vào đất liền.

Không lâu sau đó Bà Nguyễn Thị Thương sinh thêm đứa con gái út trong trại tỵ nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông Trần Quang Huy. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà Thương đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.

st

Không phải tất cà ngư dân Thái Lan là hải tặc. Nhưng phần lớn hải tặc Thái xuất phát từ Phuket và phần lớn người dân Phuket theo đạo Hồi !!!

VN truy tìm thủ phạm vụ lừa 17 tỷ đồng để có quốc tịch Mỹ

  VN truy tìm thủ phạm vụ lừa 17 tỷ đồng để có quốc tịch Mỹ

Hai trong số 3 nghi can mà công an TP.HCM đang truy tìm liên quan đến vụ bị tố lừa gần 17 tỷ đồng, gồm: Trần Văn Tam (trái) và Tạ Văn Thảo (phải). Ảnh chụp từ trang Vietnamnet.

Hai trong số 3 nghi can mà công an TP.HCM đang truy tìm liên quan đến vụ bị tố lừa gần 17 tỷ đồng, gồm: Trần Văn Tam (trái) và Tạ Văn Thảo (phải). Ảnh chụp từ trang Vietnamnet.

Công an TP.HCM vừa phát lệnh truy nã 3 người đàn ông bị tố giác lừa đảo gần 17 tỷ đồng (khoảng 753.000 đôla) của một người dân thành phố để giúp gia đình người này có quốc tịch ở Mỹ.

Ba nghi can bị truy nã là Trần Văn Tam (sinh năm 1976), Tạ Văn Thảo (sinh năm 1974) và Nguyễn Thành Trí.

Theo tố cáo của nạn nhân, vào tháng 10/2015, 3 nghi can đó tự xưng là cán bộ công an và cán bộ của văn phòng chính phủ và nói có mối quan hệ để giúp cho gia đình bà được định cư và nhập quốc tịch ở Mỹ. Nhóm này nói họ được giao nhiệm vụ đặc biệt ở nước ngoài nên có thể giúp đỡ cho gia đình bà.

Nạn nhân cho biết bà tin lời nhóm này vì họ luôn xuất hiện trong sắc phục công an và còn đi xe ô tô có gắn còi hụ, thậm chí có lần bà còn thấy cả bao tiền đôla trong xe ô tô của Trần Văn Tam ‘để chuyển ra nước ngoài, phục vụ công tác đặc biệt’, theo giải thích của nhóm này.

Giá tiền nhóm này thỏa thuận với gia đình nạn nhân là 16,8 tỷ đồng, gồm 16 tỷ đồng để mua nhà ở Mỹ và 800 triệu đồng là chi phí để lo các thủ tục. Nhóm này cho biết số tiền của gia đình nạn nhân đưa sẽ được chuyển qua đường của Tổng cục Hầu cần-Kỹ thuật , do công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Hậu Cần làm đại diện, là công ty mà Thảo làm giám đốc và Trí là kế toán trưởng. Nhóm này còn dặn gia đình nạn nhân không được tiết lộ vụ việc với ai vì đây là ‘bí mật quốc gia’.

Số tiền thực hiện phi vụ trên đã được chuyển cho nhóm này 7 lần trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 11/2015.

Sau khi nhận đủ tiền, nhóm lừa đảo đã biến mất và gia đình nạn nhân mới biết công ty Hậu Cần chỉ là một công ty tư nhân và không có trụ sở ở địa chỉ đã được đóng dấu trên phiếu thu tiền mà gia đình bà nhận được.

Theo Thanh Niên, Vietnamnet.

Lại Chuyện Tháng Tư

Lại Chuyện Tháng Tư

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

tuongnangtien

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống, và Tổng Thống trong thời Đệ II Cộng Hoà – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô Trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục:

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người!

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy . Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn!

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng…không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi
đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuânhành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng Thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám
đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp!

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất…cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện:

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau:

“… chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng.”

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp.” Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi!

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới,” vào năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn.” Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ:

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người. Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa
ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn!
(“Thương Lắm Những Búp Non Ở Trên Cành”) Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Ảnh: Báo Lai Châu

Thôi chết mẹ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng
không?

– Thưa không! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm!”

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng?

– Thế còn đám công nhân?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay:

Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp TP.HCM:

Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển … mình ên! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có qúi ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Ngư dân phát giác ‘đường ống khổng lồ’ ở đáy biển Vũng Áng

Ngư dân phát giác ‘đường ống khổng lồ’ ở đáy biển Vũng Áng
Nguoi-viet.com

VIỆT NAM – Chưa rõ phát giác vừa kể có liên quan đến tình trạng các loại cá tại vùng biển suốt từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên – Huế đồng loạt chết, nổi trắng biển hay không.

Viên chức ở Quảng Trị kiểm tra tình trạng cá chết, nổi trắng khu vực bờ biển Quảng Trị. (Hình: Thanh Niên)

Báo chí Việt Nam cho biết, mới đây, khi lặn xuống biển săn hải sản, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, 36 tuổi, ngụ ở phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã tìm thấy một “đường ống khổng lồ” dài khoảng 1.5 cây số, đường kính khoảng 1.1 mét.

Theo ông Thành, đường ống này chạy từ Formosa Hà Tĩnh thuộc Khu Kinh tế Vũng Áng ra biển.

Formosa Hà Tĩnh là tên gọi dự án đầu tư của Tập Đoàn Formosa của Đài Loan tại Hà Tĩnh. Sau khi Formosa trình dự án đầu tư xây dựng nhà máy gang thép Formosa Hà Tĩnh, với tổng vốn đầu tư là $15 tỷ, tại khu kinh tế Vũng Áng, chính quyền Việt Nam đã quyết định giao cho tập đoàn này 2,000 héc ta đất và 1,200 héc ta mặt nước để làm cảng Sơn Dương.

Dự án vừa kể khiến 3,000 gia đình bị thu hồi đất, giải tòa nhà, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sinh kế của khoảng 20,000 người. Chưa kể có 15,000 ngôi mộ bị cải táng. 58 nhà thờ bị dỡ bỏ.

Chính quyền Việt Nam đã từng dành cho Tập Đoàn Formosa nhiều ưu đãi khi đầu tư Dự Án Formosa Hà Tĩnh: Cho thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả tiền thuê đất. Chỉ tính thuế thu nhập doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế và tỉ lệ chỉ là 10% thay vì phải 25% như thông lệ. Chưa kể khi có thu nhập chịu thuế còn được miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và trong 9 năm sau đó được giảm 50% tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

Dự Án Formosa Hà Tĩnh khởi công vào cuối năm 2012 và ngay sau đó trở thành túi chứa công nhân từ Trung Quốc sang Việt Nam làm việc.

Trong vài năm gần đây, bộ phận điều hành Formosa Hà Tĩnh liên tục đòi thêm nhiều ưu đãi khác. Ví dụ đề nghị cho phép lập “Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng” với Ban Quản Lý “trực thuộc văn phòng chính phủ.” Đề nghị thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép. Ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh. Trực tiếp vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài. Miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn. Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu… Chưa kể bộ phận điều hành Formosa Hà Tĩnh còn đề nghị “được cắt đất để bán cho khoảng 15,000 nhân viên mà nếu tính cả thân nhân thì khoảng 60,000 người nhằm xây dựng một thị trấn…”

Cách nay vài ngày, sau khi xảy ra tình trạng các loại cá tại vùng biển suốt từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên – Huế đồng loạt chết, nổi trắng biển, nhiều người bày tỏ nghi ngờ đó là do Formosa Hà Tĩnh lén lút xả nước thải và chất thải ra biển song giới hữu trách tại Việt Nam bác bỏ giả thiết này vì “thiếu chứng cứ.” Cho đến nay, giới hữu trách tại Việt Nam chỉ khuyến cáo dân chúng không nên mua bán, ăn cá chết và tổ chức vớt, thiêu hủy cá chết để tránh tình trạng cá chết khiến vùng biển gần bờ của bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế bị ô nhiễm. Trừ Quảng Trị loan báo đã vớt và tiêu hủy 30 tấn cá chết, ba tỉnh còn lại chưa công bố thống kê thiệt hại về nguồn lợi hải sản.

Trong khi giới hữu trách tại Việt Nam còn đang lúng túng trong việc xác định nguyên nhân thì phát giác của ngư dân Nguyễn Xuân Thành khiến nghi ngờ cá chết do Formosa Hà Tĩnh xả nước thải và chất thải ra biển trở thành mạnh mẽ hơn trước.

Ông Thành kể rằng “đường ống khổng lồ” mà ông đã thấy không đặt trên bề mặt đáy biển mà được che đậy bằng các bao cát và đá hộc. Ở điểm cách bờ khoảng 1.5 cây số, đường ống có đường kính 1.1 mét được tách ra thành ba đường ống nhỏ hơn, đường kính của mỗi đường ống nhỏ khoảng 40 centimeter.

Theo lời ông Thành thì nước được bơm rất mạnh từ trong lòng ống vào lòng biển và có màu vàng đục, sền sệt, nặng mùi. Ông Thành đã báo phát giác của ông cho Đồn Biên Phòng Đèo Ngang, thuộc Bộ Chỉ Huy Biên Phòng Hà Tĩnh.

Một viên trung tá là chỉ huy phó Đồn Biên Phòng Đèo Ngang cho biết, nơi này chưa làm gì cả vì cấp trên chưa chỉ đạo. Một viên vụ phó Vụ Nuôi-Trồng Thủy Sản thuộc Tổng Cục Thủy sản, Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, xác nhận đã biết phát giác vừa kể nhưng cơ quan này cũng đang chờ chỉ đạo vì khu kinh tế Vũng Áng “có yếu tố nước ngoài” nên không thể đột ngột xông vào kiểm tra. (G.Đ.)  Xem thêm:

Có khó xác định nếu cá chết vì xả thải của Formosa? (RFA)

ca-chet-hang-loat-formosa-622.jpg

Sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ?

Sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ?

Blog RFA

VietTuSaiGon

22-4-2016

Ông Nguyễn Văn Quý. Nguồn: FB Phạm Nguyên Trường

Vì sao phải nói rằng sự khốn nạn là kim chỉ nam của chế độ? Có lẽ phải quay trở lại câu chuyện của hai người đàn ông gặp xui xẻo trong tuần qua, mặc dù đây không hẳn là câu chuyện điển hình về tính khốn nạn nhưng nó mới nhất và cũng là ví dụ sinh động về điều nay.

Câu chuyện thứ nhất: Ông Nguyễn Văn Tấn phải nộp phạt 17 triệu đồng vì chưa kịp trình giấy phép kinh doanh của quán Xin Chào mà chỉ mới trình giấy hẹn cấp phép kinh doanh. Và sau khi có đầy đủ giấy tờ kinh doanh thì ông bị công an và viện kiểm sát huyện Bình Chánh, Sài Gòn truy tố hình sự về an toàn thực phẩm trong lúc quán Xin Chào chưa có khách hàng nào bị ngộ độc thực phẩm hay bị ảnh hưởng sức khỏe vì ăn uống ở đây.

Và vụ thứ hai: Ông Nguyễn Văn Bỉ, một nông dân nghèo, đang sống trong căn nhà cấp bốn xây theo diện nhà tình nghĩa cất chòi nuôi vịt và cũng bị công an, viện kiểm sát Bình Chánh khởi tố hình sự vì đã cất chòi nuôi vịt không có phép và ông có thể bị ghép tội xây dựng nhà trái phép. Mặc dù việc xây dựng nhà trái phép cũng không phải là tội hình sự.

Ở các hai câu chuyện của ông Tấn và ông Bỉ có những điểm chung: Quyết định khởi tố do ông Nguyễn Văn Quý – Trưởng công an Bình Chánh ký và hoàn tất hồ sơ khởi tố bởi Viện kiểm sát huyện Bình Chánh; Cả hai ông đều bị khởi tố hình sự trong lúc mọi tình tiết vi phạm (nếu có) của hai ông đều không thể đi đến khởi tố hình sự; Cả hai ông đều là người lao động chân chính và bị hại bởi công an, viện kiểm sát.

Thử đặt ngược vấn đề: Tại sao gần đây, bất kỳ vụ việc gì cũng có thể bị hình sự hóa? Và những vụ hình sự hóa trên đây nói lên điều gì?

Ở câu hỏi thứ nhất, hỏi mà cũng là trả lời, chắc chắn sắp tới đây, ngành công an sẽ bằng mọi giá hình sự hóa tất cả mọi chuyện. Vì hơn bao giờ hết, lòng dân đã hoàn toàn trống rỗng với chế độ Cộng sản. Và đây là mối nguy lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã thấy rõ ruột gan của nhà cầm quyền, thậm chí họ hiểu rõ tâm tính của kẻ cai trị họ.

Ông Tấn, chủ quán Xin Chào dù có mù mờ cũng thừa hiểu rằng ông đang sống trong chế độ mà công an có thể viện bất kì lý do nào đó để hù dọa ông, mục đích hù dọa là để kiếm phong bì, mè nheo, vòi vĩnh. Nhưng ông đã chơi quá cứng, đã làm đúng theo những gì pháp luật qui định nên bọn họ không xơ múi được gì, chuyển qua chơi bẩn với ông. Chuyện này không lạ!

Còn ông Bỉ, chuyện này chắc chắn là ông bị hình sự hóa rồi. Vì kinh nghiệm những vụ như Đoàn Văn Vươn đã cho thấy người dân sẵn sàng cho nổ tung bình gas để bày tỏ chính kiến trước những bất công do nhà cầm quyền mang lại. Người dân sẵn sàng để cho bình gas và bom xăng nói thay cho nỗi uất ức, bất công mà họ đã gánh chịu.

Chính vì người dân không còn tin tưởng vào nhà cầm quyền, vào đảng lãnh đạo nên nỗi sợ hãi của đảng Cộng sản đang ngày càng lớn dần. Dùng thủ đoạn hay dùng những đòn bẩn để hại dân nếu nói đơn giản thì đó là biểu hiện của tính tiểu nhân, của kẻ hèn hạ nhưng nếu nói rộng ra trên một đất nước thì đó là nỗi sợ hãi và mặc cảm đã thành hình. Càng sợ hãi mất chế độ thì đảng cầm quyền càng trở nên hung tợn và càng mặc cảm nhân dân hết tin vào mình thì đảng Cộng sản càng trở nên đê hèn trong các thủ đoạn.

Và người ta càng dùng thủ đoạn bao nhiêu, càng dữ tợn bao nhiêu càng cho thấy có quá nhiều thứ lỗi tương đương đang được che giấu, bọc kín bấy nhiêu. Ví dụ như khi so sánh câu chuyện giữa quán Xin Chào và tập đoàn Tân Hiệp Phát, mặc dù khác nhau về cấp độ và nhiều vấn đề khác nhưng có chung một vấn đề là cung cấp thực phẩm và nước uống, đều liên quan đến chuyện ăn uống.

Chủ quán Xin Chào bị đẩy vào tình tiết hình sự mặc dù chưa có bất kì thức ăn hay thức uống nào của ông Tấn cung cấp cho khách hàng bị hỏng. Trong khi đó, Tân Hiệp Phát đăng ký kinh doanh hàng sản xuất từ nguyên liệu thuần Việt nhưng lại dùng hương liệu và nguyên liệu của Trung Quốc, tung ra thị trường hàng trăm sản phẩm lỗi, có nguy cơ xấu cho sức khỏe. Nhưng những ai tố Tân Hiệp Phát đều phải vào tù. Ở đây, chỉ có một vấn đề duy nhất là ông Tấn của quán Xin Chào không có cái dù che chở, còn Tân Hiệp Phát thì khác!

Kế đến, vụ ông Bỉ, giả sử ông Bỉ cố tình làm nhà ở trên diện tích đất che chòi vịt, thì tương đương vụ ông Bỉ có đến cả trăm vụ xây dựng nhà, biệt thự trong rừng cấm, trong khu bảo tồn quốc gia, trong khu quân sự từ Ba Vì cho đến Hải Vân. Và chắc chắn những biệt thự xây dựng trong Ba Vì hay Hải Vân không có giấy phép xây dựng.

Nhưng chủ của những căn nhà ở Ba Vì hay Hải Vân có bị gì đâu?! Thậm chí bắt họ dở nhà chưa chắc họ đã dở. Trong khi đó, một người nghèo đang sống trong căn nhà tình nghĩa, muốn che một cái chòi trên mảnh đất hoang, không phải là rừng cấm, cũng không phải là khu vực quân sự để nuôi vịt thì bị ghép tội hình sự để mang ra tố tụng.

Giả sử ông Bỉ đang là chủ tịch huyện Bình Chánh mà che một cái chòi nuôi vịt thì không chừng ông đã thành anh hùng lao động, thành tấm gương thanh liêm và cao quí của một đảng viên Cộng sản và được ca ngợi không hết lời. Rất tiếc ông Bỉ là một người nghèo, đến đất nuôi vịt cũng không thuê nổi nên mới sinh sự ra vậy. Giả sử nếu ông có một cái phong bì dày cộm bỏ vào túi những kẻ nhũng nhiễu ông thì cớ sự không đến nỗi như vậy!

Hay ví dụ như ông Bỉ là ông Bríu Liếc, ông đang làm Bí thư huyện ủy giống ông Liếc thì ông có đào hầm miên mang dưới cái trại vịt cũng chẳng đến nỗi gì, nếu báo chí phát hiện thì ông Bỉ sẽ nói rằng ông thật là buồn cười cho xã hội, ông đào hầm để chưng cất rượu và Viện kiểm sát Bình Chánh hay Chủ tịch huyện, Trưởng Công an huyện sẽ nói rằng chưa bao giờ nghe nói đến cái hầm nào dưới chuồng vịt và hình như cái chuồng vịt dã chiến đó mới mọc cách nay mấy ngày thôi, không có vấn đề gì!

Vì sao lại có chuyện tréo ngoe như vậy? Bởi vì sự khốn nạn đã thấm vào từng chân tơ kẽ tóc, đã luân chuyển trong huyết quản của chế độ. Những kẻ tuy ngồi ghế quyền lực, tuy làm nhiệm vụ phục vụ xã hội thông qua bộ máy nhà nước và làm cho xã hội tốt đẹp hơn lại chính là những kẻ tội lỗi, thậm chí là những kẻ khốn nạn, lưu manh ra mặt và sẵn sàng đạp dân đen xuống hố để vừa lòng cấp trên hoặc để trả thù vì người ta đã không biết điều với y, đã không cho y thứ y muốn, không đút lót, hối lộ với y.

Và vì sao lại có quá nhiều lẻ khốn nạn trong chế độ Cộng sản? Bởi đơn giản, chế độ Cộng sản hình thành và phát triển trên nền tảng của sự khốn nạn. Sự khốn nạn vốn dĩ là kim chỉ nam của chế độ. Khi cả một hệ thống trưởng thành nhờ vào sự khốn nạn thì sự khốn nạn càng phát triển, chế độ càng tồn tại lâu dài. Ngược lại, giả sử đất nước Việt Nam bỗng dưng trở nên tử tế trong vòng mười ngày, nửa tháng, điều đó sẽ kéo theo hệ quả là chế độ Cộng sản không còn dấu vết nào trên đất nước này!

Quán phở Xin Chào và “nỗi oan” đại tá

Quán phở Xin Chào và “nỗi oan” đại tá

Dân Việt

Hữu Danh

Ông Nguyễn Văn Quý. Nguồn: internet

Vụ ông chủ quán phở bị Công an huyện Bình Chánh khởi tố hình sự vì chậm đăng ký kinh doanh khiến dư luận bức xúc. Trong cơn cuồng nộ của dư luận, lãnh đạo công an huyện – đại tá Nguyễn Văn Quý, người ký quyết định khởi tố chủ quán, bị cho rằng là người xử ép dân vì những lý do cá nhân.

Có luồng dư luận cho rằng, quán phở này cạnh tranh với căng tin của công an nên bị trù dập, luồng thông tin khác lại cho rằng vì đại tá Nguyễn Văn Quý muốn mua luôn lô đất “vàng” của quán Xin Chào nên mới “xử” chủ quán. Cấp trên của ông Quý – Tướng Phan Anh Minh, khẳng định vụ việc ở Bình Chánh nhỏ như cái móng tay. Ông nói thuộc cấp làm không sai, nhưng máy móc và nóng vội.

Và, trong lúc “cái móng tay” Bình Chánh đang nằm trên bàn Thủ tướng thì xuất hiện “cái móng chân” – cũng ở Bình Chánh, làm dư luận sục sôi. Hóa ra, không chỉ ông Nguyễn Văn Tấn – chủ quán Xin Chào bị khởi tố. Người cho ông Tấn thuê đất, ông Nguyễn Văn Bỉ – cũng bị khởi tố. Ông Bỉ mang “tội” dựng lại cái chuồng vịt trên đất nông nghiệp. Người ký quyết định, không ai khác, cũng là ông đại tá Quý. Sinh mệnh của người dân, chỉ bằng một chữ ký, đúng là móng tay, móng chân. Không hơn.

Câu chuyện khởi tố chủ quán phở, hay khởi tố ông chăn vịt, na ná câu chuyện “kênh kiệu phạt năm triệu ở An Giang”. Chỉ vì những chuyện nhỏ xíu, nhỏ như cái móng tay, móng chân ở Bình Chánh, và nhỏ như cái bấm “like” ở Long Xuyên, mà các cơ quan công quyền hè nhau xử lý “người vi phạm”. Bình Chánh và Long Xuyên, giống nhau đến kỳ lạ: Người bị phạt vì nói xấu ông chủ tỉnh nhà chung vách với ông chủ tịch; còn 2 người bị đại tá trưởng công an ký quyết định khởi tố thì chung vách với trụ sở của công an. Đến khi báo chí vào cuộc, cấp trên chỉ xuống, thì lòi ra đủ thứ chuyện sai trái xung quanh các quyết định xử lý.

H1Căn biệt thự hoành tráng của ông Quý. Ảnh: Dân Việt

Mấy ngày qua, dư luận cho rằng ông Nguyễn Văn Tấn – chủ quán Xin Chào bị khởi tố vì mở quán cạnh tranh với căng tin của công an. Có người còn cho rằng, ông Quý có người thân bán căng tin nên công an mới tìm mọi cách để “xử” ông chủ quán Xin Chào. Nói như thế là không đúng. Công an khẳng định, căng tin của công an chỉ bán nội bộ, và không cạnh tranh gì với bên ngoài. Nếu ai đến quán Xin Chào, sẽ thấy rằng chủ quán thiết kế không gian quán góp phần làm đẹp cho trụ sở công an. Ai đến trụ sở công an liên hệ làm việc, đập vào mắt sẽ là chữ “Xin Chào” hết sức thân thiện. Ông Tấn không dùng bê tông mà dùng cây xanh làm các khu nhà mát, kê bàn ghế để phục vụ thực khách, tạo mảng xanh không chỉ cho quán mà còn làm cho trụ sở công an trở nên gần gũi hơn. Ông chủ quán còn trang bị những tủ sách nhỏ, mua về những quyển sách “bán chạy nhất” để khách đọc miễn phí. Do đó, không có lý do gì mà công an, hay bản thân đại tá Quý, lại có thể trù dập ông Tấn.

Dư luận lại cho rằng, do vị trí khu đất mà ông Tấn thuê mở quán quá đẹp, đại tá Quý muốn mua lại khu này nhưng không được nên tìm cách “hất” ông Tấn, ông Bỉ ra khỏi đất. Chúng tôi tìm hiểu và thấy rằng thông tin này không có cơ sở. Thực tế, ông Quý đang ở trong một căn biệt thự rất hoành tráng, ốp đá hoa cương, kín cổng cao tường, nằm trên mặt tiền con phố toàn bộ là biệt thự cao cấp khu vực sầm uất nhất quận Bình Tân. Giới bất động sản đánh giá, nhà ông Quý trị giá vài chục tỷ.

Ông Quý nói, căng tin công an bán buôn toàn lỗ, không ai muốn vô.Ông Quý cũng nói, đất quán Xin Chào quy hoạch lộ giới đến 60m. Có tiền ông cũng không mua, vì sẽ bị giải tỏa. “Hồi trước tôi mua đất ở Quận 2 có 10.000 đồng/m2. Sau này giải tỏa, đất có giá, tôi được bồi thường mười mấy tỷ, cất nhà lớn sinh sống. Tôi không cạnh tranh căng tin, cũng không muốn mua đất gì cả, vì tôi có nhà rồi” – ông Quý nói.

Câu chuyện các cơ quan tố tụng ở Bình Chánh vội vàng hè nhau xử lý hình sự ông Tấn, ông Bỉ, rõ ràng không chỉ có mỗi mình đại tá Quý chịu trách nhiệm. Một mình ông, không thể làm được những chuyện kỳ quái như thế.

Nếu chỉ một mình ông chịu trách nhiệm, thì đúng là “nỗi oan đại tá”.

Độc quyền quyền lực và vấn đề đạo đức

 Độc quyền quyền lực và vấn đề đạo đức

Quốc Phương BBC Việt ngữ

  • BBC    TS. Nguyễn Thị Từ Huy Nguyễn Thị Từ Huy cho rằng có vấn đề về mặt đạo đức nếu một thể chế một đảng, và chế độ chuyên chính nắm quyền lực độc tôn quá lâu dài.

Việc nắm giữ quyền lực chính trị một cách độc tôn và quá lâu dài trong xã hội ngày nay có thể là một vấn đề về đạo đức đối với những chủ thể độc quyền quyền lực trong các thể chế một đảng và chế độ chuyên chính, theo một nhà nghiên cứu triết học chính trị từ Paris, Pháp.

Một chính thể ‘độc tài độc đảng’ ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp ‘vi phạm đạo đức’, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình, vẫn theo ý kiến này.

Trong cuộc phỏng vấn qua văn bản dành cho BBC hôm 23/4/2016, Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy, nhà nghiên cứu chính trị – xã hội Việt Nam, từ Đại học Paris Diderot, Pháp cũng đưa ra cảnh báo về hậu quả xã hội đối với một nền thống trị ‘độc tài toàn trị’ nếu sử dụng thủ đoạn ‘nói dối’ để nắm, giữ quyền lực.

“ Sức mạnh của kẻ bạo chúa được thiết lập trên sự hèn yếu và khiếp nhược của những người tự nguyện chấp nhận ách cai trị của hắn. Chính là do được những người dân tình nguyện ủng hộ mà kẻ độc tài có thể củng cố và mở rộng quyền lực vô giới hạn

Etienne de La Boétie “

“Dối trá mang tính chất căn nguyên của chế độ, một chế độ mà Hiến pháp tuyên bố rằng nhân dân có quyền làm chủ, nhưng quyền lực lại chỉ thuộc về một đảng chính trị duy nhất. Và sự dối trá này sẽ dẫn tới đâu?”, Tiến sỹ Từ Huy đặt vấn đề.

“Dẫn tới sự xói mòn dần tất cả các tiêu chuẩn đạo đức, sự sụp đổ mọi tiêu chí của sự tử tế, và sự hủy diệt trên diện rộng niềm tin vào những giá trị như sự thật, trung thành với nguyên tắc, sự thật thà, vị tha và danh dự…”

Vì sao còn tồn tại?

Mở đầu cuộc trao đổi với BBC, nhà nghiên cứu triết học chính trị trả lời câu hỏi: Tại sao các thể chế được cho là các nền độc tài, và chế độ chuyên chính vẫn còn tồn tại ngày nay ở một số nơi trên thế giới, hay là vì vẫn có những hình thức ‘độc tài’ hay ‘chuyên chính’ chấp nhận được với nhân loại?

Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy: Để trả lời câu hỏi này của ông cần phải làm một seminar nhiều kỳ, do tính phức tạp của vấn đề. Ở đây tôi xin phép chỉ nêu một trong số các nguyên nhân khiến cho các nền độc tài vẫn đang tiếp tục tồn tại. Nguyên nhân này không phải do tôi tìm ra, mà nó đã được trình bày trong bản luận văn nổi tiếng, “Luận văn về sự nô lệ tự nguyện” (Discours de la servitude volontaire), được Etienne de La Boétie viết vào thế kỷ XVI. Tôi nhắc lại nguyên nhân này, vì nó vẫn còn đúng cho cả thế giới hiện tại nơi chúng ta đang sống.

Stalin

Tranh cãi về công tội của các nhà độc tài và các chế độ chuyên chính mà họ nắm giữ có thể sẽ còn kéo dài trong lịch sử nhân loại.

Etienne de La Boétie đưa ra câu trả lời cho chính cái câu hỏi mà ông đặt ra cho tôi ngày hôm nay. Chàng trai 18 tuổi ấy viết luận văn này nhằm tìm hiểu một hiện tượng xã hội đã khiến cho một đầu óc tự do vô cùng ngạc nhiên: đôi khi trong lịch sử nhân loại đã xảy ra việc hàng bao nhiêu con người, bao nhiêu đô thành, bao nhiêu quốc gia lại chịu phục tùng một kẻ chuyên chế duy nhất, trong khi mà kẻ đó chỉ có thể có quyền lực khi những người bị áp bức chấp thuận trao quyền ấy cho hắn, và bao nhiêu người đã trao quyền lực cho kẻ chuyên chế để hắn làm hại mình. Thật ngạc nhiên khi thấy hàng triệu, hàng triệu người bị chế ngự, cam chịu cúi đầu phục tùng một người duy nhất. Tại sao có thể xảy ra một chuyện như vậy ?

Câu trả lời mà La Boétie tìm ra nằm ở trong mấy chữ này: “sự nô lệ tự nguyện”. Ông chỉ ra rằng sức mạnh của kẻ bạo chúa được thiết lập trên sự hèn yếu và khiếp nhược của những người tự nguyện chấp nhận ách cai trị của hắn. Chính là do được những người dân tình nguyện ủng hộ mà kẻ độc tài có thể củng cố và mở rộng quyền lực vô giới hạn của hắn.

La Boétie viết: “Chính là nhân dân đã tự nguyện chịu khuất phục và tự cắt cổ mình.” “Nếu mọi người không tuân lệnh nữa thì kẻ chuyên chế sẽ thất bại.”

Điều quan trọng mà La Boétie chỉ ra là: Nhân dân không cần phải đấu tranh, không cần dùng tới bằng bạo lực, chỉ cần không phục tùng, không tuân lệnh thôi là chế độ độc tài đã không thể tồn tại được nữa.

Chẳng phải điều này ngày nay vẫn đúng hay sao ? Hãy nhìn vào một sự việc vừa xảy ra: Hội nghị cử tri và hiệp thương vòng 3 của bầu cử Quốc hội kỳ này. Chẳng phải những người dân địa phương, và nhất là ban tổ chức bầu cử địa phương, Mặt trận Tổ quốc, đã tuân lệnh trên và dùng thủ đoạn để loại gần như tất cả ứng viên tự do, kể cả những người mà uy tín trong cộng đồng dân cư là không thể phủ nhận, và nếu xét từ quan điểm của chính quyền, họ không bị xếp vào hàng ngũ bất đồng, như Trần Đăng Tuấn, Nguyễn Cảnh Bình (việc cử tri của Nguyễn Cảnh Bình làm kiến nghị về kết quả bỏ phiếu là một việc có rất nhiều ý nghĩa)?

“ Chế độ độc tài là sản phẩm kết hợp giữa kiểu tư duy nô lệ và sự vô liêm sỉ của những người hưởng lợi từ hệ thống

Nguyễn Thị Từ Huy “

Trong khi nếu người dân và Mặt trận Tổ quốc bỏ phiếu cho những người đó thì họ cũng chẳng mất gì, có chăng chỉ mất xiềng xích nô lệ.

Thông tin về sự kiện này đã có nhiều, không cần phải nhắc lại. Ở đây, khi đề cập đến điều này tôi chỉ muốn xác nhận rằng những gì mà La Boétie nói từ thế kỷ XVI vẫn còn đúng cho thế giới hiện nay. Chỉ cần công dân làm đúng bổn phận của mình, chỉ cần như thế thôi (chứ không cần phải dùng đến bạo lực) thì quyền lực độc tài đã có thể bị vô hiệu hóa. Và cũng chẳng ai có thể trừng phạt họ được, bởi chẳng có lý do gì để trừng phạt họ khi họ làm việc theo bổn phận và lương tâm. Nhưng thực tế thì La Boétie nói hoàn toàn chính xác: quyền lực độc tài được củng cố bởi vì mọi người bị chìm đắm trong “sự nô lệ tự nguyện”.

Cũng theo La Boétie, muốn thoát khỏi sự nô lệ tự nguyện này, để đi tới thoát khỏi ách cai trị của kẻ độc tài, chỉ cần có một điều thôi: chỉ cần nhân dân muốn có tự do. Chỉ cần có ý muốn tự do.

Tại sao La Boétie cho rằng chỉ cần người dân muốn có tự do là đủ để khiến cho hệ thống độc tài sụp đổ ? Có lẽ chúng ta sẽ trở lại với ý tưởng này vào một dịp khác.

Sản phẩm của ‘cầm tù’?

BBC: Phải chăng thể chế, chế độ độc tài, ở một góc độ nào đó, là sản phẩm của tư duy bị ‘cầm tù’ và sự cầm tù của tư duy con người?

Mao Trạch Đông

Một người dân Trung Quốc cầm trong tay một bức hình của cố Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông với dòng chữ đề “Phụng sự nhân dân” bên ngoài một Văn phòng tiếp người dân khiếu nại.

Trở lại với vụ việc hội nghị cử tri và hiệp thương vòng 3 của bầu cử Quốc hội ta sẽ thấy rằng: Khi ta chứng kiến những người dân ở một xã nghèo không bầu cho luật sư Lê Luân, với những lý do hết sức ấu trĩ, do bị ảnh hưởng bởi hệ thống tuyên truyền các cấp, ta có cảm giác gần như là xót xa, bởi họ bị giới hạn trong một nhận thức nhất định nên mới làm như vậy.

Hiện tượng người dân ủng hộ chế độ độc tài do sự hạn chế của nhận thức có thể trùng hợp với điều mà ông gọi là “tư duy bị cầm tù”, xét từ phía nạn nhân, và “sự cầm tù tư duy con người”, xét từ phía những người cố tình tạo ra xiềng xích cho tư duy của người dân. Điều đáng nói là những người muốn trói buộc tư duy của người khác dường như không biết rằng chính tư duy của họ cũng bị cầm tù.

Nhưng khi ta chứng kiến cảnh đấu tố của những luật sư, của những người thuộc giới trí thức, khi ta chứng kiến cảnh kiểm phiếu diễn ra trong một ngôi miếu hoang, bất chấp mọi chuẩn mực hành chính, luật pháp, lương tâm và đạo lý, thì cảm giác được gợi lên chắc chắn không còn là xót xa nữa, mà là phẫn nộ. Đó cũng có thể là phản ứng xảy ra khi ta phải nghe những phát biểu của một đại biểu Quốc hội nhấn mạnh “cái hay” của hoạt động vi hiến do Quốc hội khóa 13 thực hiện khi bãi nhiệm toàn bộ chính phủ không có lý do.

Trong những trường hợp này, vấn đề không còn ở chỗ “tư duy bị cầm tù” nữa, mà vấn đề phải được gọi tên đúng như cách mà Hannah Arendt đã gọi (khi bà lý giải vì sao chủ nghĩa toàn trị có thể vận hành): sự vô liêm sỉ.

Sự vô liêm sỉ của những người tạo nên cái mạng lưới hỗ trợ cho trung tâm quyền lực toàn trị. Vô liêm sỉ, bởi những người đó hiểu rõ sự thối nát và phản nhân đạo của hệ thống, nhưng vẫn bảo vệ nó bất chấp sự hiểu biết của chính họ.

“ Một chính thể độc tài độc đảng ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp vi phạm đạo đức, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình 

Nguyễn Thị Từ Huy “

Vậy, để trả lời câu hỏi này của ông, có thể nói, chế độ độc tài là sản phẩm kết hợp giữa kiểu tư duy nô lệ và sự vô liêm sỉ của những người hưởng lợi từ hệ thống. Theo La Boétie thì hai yếu tố này có liên quan đến nhau, trong một chừng mực nào đó, cái này là nguyên nhân của cái kia: Thói hám lợi và sự vô liêm sỉ dẫn đến tư duy nô lệ, và ngược lại.

BBC: Một nền độc tài kéo dài trên dưới một thế kỷ, hay gần như thế, trong thế giới ngày nay, mà không cho phép một lực lượng chính trị nào khác trong nhân dân và xã hội được cạnh tranh chính thức, hoặc chia sẻ quyền lực, thì có vấn đề gì đáng bàn về đạo đức hay không?

Ông đặt vấn đề rất đúng: điều đó quả là thuộc về phạm trù đạo đức. Các chế độ độc tài cổ điển, mà La Boétie bàn đến trong bản luận văn đã nêu ở trên, khác với một số nền độc tài trong thế giới đương đại của chúng ta ở điểm căn bản mà tôi sẽ đề cập tới sau đây.

Những kẻ chuyên chế cổ điển, dù đoạt được quyền lực theo cách nào (do được dân bầu lên, do dùng vũ lực – thắng trận trong chiến tranh hoặc trong các cuộc tranh đoạt quyền lực, do được kế thừa theo dòng dõi), và dù sử dụng quyền lực theo ý muốn cá nhân bất chấp luật pháp, thì giữa lời nói và hành động cũng còn có sự trùng hợp. Bởi vì những kẻ độc tài cổ điển quan niệm rằng mình có quyền lực tối cao, còn người dân buộc phải phục tùng. Và nhân dân, một khi chấp nhận sự cai trị thì cũng thừa nhận mình bị cai trị.

Điều này khiến cho một vị vua như Louis XIV có thể tuyên bố: “Nhà nước chính là ta”. Như vậy, trung tâm quyền lực được xác định rõ, và kẻ độc tài tự nhận mình là độc tài. Sự việc được gọi đúng tên của nó.

Đạo đức bị hủy diệt

Việt Nam

Xã hội Việt Nam đang trong một quá trình chuyển đổi, với nhiều giá trị, chuẩn mực đang được thiết lập hoặc tái sắp xếp.

Nhưng một chính thể độc tài độc đảng ngày nay, để bảo tồn quyền lực chính trị, có thể rơi vào trường hợp vi phạm đạo đức, khi dùng Hiến pháp để quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và bất biến của đảng mình. Mặt khác, cũng trong Hiến pháp, lại quy định rằng nhân dân có quyền làm chủ, lại quy định rằng Nhà nước là của dân, do dân, và vì dân.

Nghĩa là chính đảng độc tài không thừa nhận tính chất độc tài của quyền lực do mình nắm giữ, và muốn nhân dân tin rằng đây là một chính thể dân chủ trong đó người dân có quyền tự do quyết định. Nhưng trên thực tế, nhân dân bị lệ thuộc vào quyền lực của đảng độc tài. Như vậy, trung tâm quyền lực không được xác định rõ, và đảng độc tài chối bỏ tính chất độc tài của mình. Sự việc không được gọi đúng tên của nó.

Hiến pháp 2013 của Việt Nam là một ví dụ điển hình cho trường hợp này. Điều 2 và điều 3 của Hiến pháp này quy định quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng điều 4 lại quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản. Những điều luật này, trên thực tế, loại trừ nhau, điều luật này khiến cho điều luật kia bị vô hiệu hóa. Và điều luật này sẽ khiến cho điều luật kia trở thành dối trá.

Nếu nhân dân có quyền làm chủ thì quyền lãnh đạo của đảng cộng sản không thể là tuyệt đối và vĩnh viễn. Bởi vì trong trường hợp này, nhân dân có thể lập nhiều đảng khác nhau và có thể chọn bất cứ đảng nào làm lãnh đạo, theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu đảng cộng sản có quyền lãnh đạo tuyệt đối và vĩnh viễn thì có nghĩa nhân dân không có quyền chọn lãnh đạo cho mình. Trường hợp Việt Nam cho thấy điều 2 và điều 3 Hiến pháp 2013 chỉ là những lời nói dối.

Khủng hoảng tinh thần và đạo đức vẫn sẽ còn tiếp tục, cho đến một ngày người dân Việt Nam tự nhủ: đủ rồi, dối trá thế đủ rồi, tự hủy diệt mình như thế đủ rồi, chúng ta cần một cuộc sống đúng nghĩa, sống trong sự trung thực, lương thiện và với phẩm giá xứng đáng

TS. Nguyễn Thị Từ Huy

Vì thế, đúng như cách đặt vấn đề của ông, việc một nền độc tài dùng hiến pháp để chính danh hóa quyền lực của mình là một sự vi phạm đạo đức, do tính chất dối trá của nó. Đây là sự dối trá mang tính chất căn nguyên của chế độ, một chế độ mà Hiến pháp tuyên bố rằng nhân dân có quyền làm chủ, nhưng quyền lực lại chỉ thuộc về một đảng chính trị duy nhất. Và sự dối trá này sẽ dẫn tới đâu?

Nó chỉ có thể “dẫn tới sự xói mòn dần tất cả các tiêu chuẩn đạo đức, sự sụp đổ mọi tiêu chí của sự tử tế, và sự hủy diệt trên diện rộng niềm tin vào những giá trị như sự thật, trung thành với nguyên tắc, sự thật thà, vị tha và danh dự. Cuộc sống – trong quá trình đồi phong bại tục như thế, tức là quá trình có xuất xứ từ việc người ta mất hết mọi hy vọng và mất hết niềm tin rằng cuộc sống có một ý nghĩa nào đó – phải chìm xuống mức tồn tại sinh học, chẳng khác gì cây cỏ. […] Giá phải trả là tinh thần bị tê liệt, tình thương không còn và cuộc đời bị tàn phá. […] Giá phải trả là sự khủng hoảng cả về mặt tinh thần lẫn đạo đức.”

Kết luận này tôi trích lại của Vaclav Havel, bởi ông ấy nói quá chính xác, nếu ta quy chiếu nhận định này về thực tế của chúng ta ngày nay. Hãy nhìn những đàn cá đang chết trên quê hương. Cá phải chết là bởi đời sống tinh thần của con người đã chết, trách nhiệm đã chết, đạo đức của con người đã bị hủy diệt.

Khủng hoảng tinh thần và đạo đức vẫn sẽ còn tiếp tục, cho đến một ngày người dân Việt Nam tự nhủ: đủ rồi, dối trá thế đủ rồi, tự hủy diệt mình như thế đủ rồi, chúng ta cần một cuộc sống đúng nghĩa, sống trong sự trung thực, lương thiện và với phẩm giá xứng đáng.

Hoặc là cho đến một ngày những người lãnh đạo hiểu ra những nguy hiểm, những sự hủy diệt mà họ đang gây ra cho dân tộc, cho chính họ, và cho con cháu của họ, để đi tới quyết định áp dụng một nền chính trị cho phép phục hồi các giá trị đạo đức và tinh thần, đảm bảo một đời sống trong sạch và lành mạnh cho toàn xã hội, cho phép xây dựng và phát triển quốc gia một cách vững mạnh; nghĩa là đi tới một quyết định sáng suốt như quyết định mà ông Thein Sein đã thực hiện ở Miến Điện.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Từ Huy có bằng tiến sĩ văn chương bảo vệ tại Pháp năm 2008 và từng giảng dạy tại một số trường đại học ở Việt Nam. Hiện bà đang làm luận án tiến sĩ về triết học chính trị tại Đại học Paris Diderot, Pháp.

Cá chết đồng loạt do ‘độc chất mạnh’

Cá chết đồng loạt do ‘độc chất mạnh’

 

Một người dân thu thập cá chết trên bãi biển ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Cá biển miền Trung chết bất thường là do “độc chất mạnh song chưa biết nơi nào phát tán”, báo Việt Nam tường thuật lời ông Nguyễn Viết Nghĩa, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu hải sản.

“Sở Nông nghiệp Quảng Bình thống nhất ý kiến với cơ quan cùng cấp Hà Tĩnh xác nhận, nguyên nhân gây cá chết là nguồn nước biển ô nhiễm và có yếu tố gây độc từ khu công nghiệp Vũng Áng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) lây lan vào Quảng Bình theo dòng hải lưu Bắc Cực – Xích đạo”, trang Zing News dẫn lời ông Nghĩa trong cuộc họp bốn tỉnh miền Trung hôm 23/04.

Tình trạng cá chết được ngư dân phát hiện tại vùng biển tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh) từ hôm 6/4 và những ngày sau tiếp diễn tại tỉnh Quảng Bình.

Các loài cá chết dạt vào bờ được cơ quan chức năng ghi nhận “đều sống ở tầng đáy và vùng biển gần bờ”.

Trả lời về việc người dân tìm thấy đường ống xả thải của Formosa chạy ngầm dưới biển, đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết điều này hoàn toàn hợp pháp.

“Việc báo chí thông tin người dân lặn biển để tìm nguyên nhân khiến dư luận hiểu nhầm rằng Formosa xả trộm bằng đường ống khổng lồ dưới đáy biển. Tôi khẳng định Formosa được phép xả thải”, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân nói, theo Vietnamnet.

Ông Như Văn Cẩn, Vụ trưởng Vụ nuôi trồng thủy sản, nói với hãng AFP hôm 21/4: “Chúng tôi chưa bao giờ thấy cảnh tượng cá chết hàng loạt như vậy”.

‘Thảm họa môi trường’

Truyền thông Việt Nam đưa tin Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đi ‘kiểm tra tiến độ dự án Formosa’ hôm 22/04 nhưng chưa thấy nhắc tới vụ cá chết hàng loạt

Hôm 23/4, ông Lê Quang Bình, nhà nghiên cứu xã hội tại Hà Nội viết trên mạng xã hội: “Mọi con mắt đang đổ dồn về Vũng Áng vì Hà Tĩnh là phần đầu của dòng hải lưu, và cá chết từ Hà Tĩnh vào tận Thừa Thiên Huế.

“Cộng vào đó là ngư dân phát hiện ra ống thải khổng lồ ngoài biển của Formosa. Hơn nữa, Formosa là một nhà máy khổng lồ về quy mô cũng như rác thải, và chính nó đã có tiền lệ đổ trộm chất thải ra môi trường gây hại cho người dân”.

“Chưa có kết luận là nguồn thải từ Vũng Áng. Nhưng nếu đó là sự thật thì là một sự thật khủng khiếp. Chưa biết Formosa mang lại lợi ích gì cho người dân Hà Tĩnh nói riêng và người Việt nói chung, nhưng hàng triệu ngư dân Việt Nam đã lĩnh đủ, và thảm họa môi trường là khó tránh khỏi.

“Tự hỏi, tại sao lãnh đạo chúng ta có nhiều quyết sách như thế này?”.

Cùng ngày, báo Thanh Niên tường thuật “Đoàn công tác của Bộ Tài nguyên – Môi trường đến làm việc với lãnh đạo Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 và Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (đóng tại Khu kinh tế Vũng Áng). Tuy nhiên, báo chí không được tham dự và các thông tin về buổi làm việc cũng không được tiết lộ”, báo này viết.

Hôm 22/4, nhiều báo Việt Nam đồng loạt đưa tin Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hà Tĩnh nhưng không liên quan về vụ cá chết hàng loạt mà là để “kiểm tra mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khu dân cư mẫu nông thôn mới và tiến độ dự án Formosa”.