Đốt chết người tình trẻ, bà ở Đà Lạt uống thuốc trừ sâu tự sát

Ba’o Nguoi-Viet

January 16, 2024

LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Một bà 43 tuổi ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đã đổ xăng đốt chết người tình 37 tuổi do mâu thuẫn.

Báo Tuổi Trẻ hôm 16 Tháng Giêng dẫn điều tra ban đầu cho biết bà Hoàng Thị Thúy, 43 tuổi, và ông Huỳnh Văn Hoàng, 37 tuổi, đều đã có gia đình riêng và đã ly hôn.

Hiện trường nơi xảy ra sự việc ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt. (Hình: N.X/VietNamNet)

Do có quan hệ tình cảm, cả hai thuê nhà trọ ở làng hoa Thái Phiên, phường 12, thành phố Đà Lạt, chung sống với nhau. Gần đây, họ thường xuyên cãi vã do liên quan đến chuyện tình cảm và tiền bạc.

Vào rạng sáng cùng ngày, hai người lại xảy ra mâu thuẫn. Do ghen tuông và bực tức nhiều chuyện, bà Thúy đã đổ xăng đốt nhà.

Nhiều người dân phát hiện căn nhà nơi họ sinh sống bị cháy nên chạy đến dập lửa. Khi đến nơi thì thấy ông Hoàng đã chết trong tình trạng bị thiêu cháy. Cạnh đó, bà Thúy đang bất tỉnh, xung quanh nồng nặc mùi thuốc trừ sâu. Họ vội đưa nạn nhân đi cấp cứu, đồng thời báo cơ quan hữu trách.

Công An Tỉnh Lâm Đồng đã đến khám nghiệm hiện trường, giảo nghiệm tử thi và làm việc với những người liên quan để điều tra vụ án.

Việc tẩm xăng đốt người tình mỗi khi xảy ra mâu thuẫn là cách được khá nhiều người ở Việt Nam thực hiện trong thời gian gần đây.

Theo báo Tuổi Trẻ, hôm 14 Tháng Mười, 2023, do bị người tình là bà ĐTMN, 54 tuổi, có ý định chấm dứt tình cảm, ông HVC, 50 tuổi, ở thành phố Biên Hòa, canh lúc bà N. vừa đi tập thể dục về, cầm theo một chai đựng xăng đến tiệm thuốc Mỹ Nhân của bà này “nói chuyện.”

Sau đó, ông C. bất ngờ kéo bà N. vào nhà rồi đổ xăng lên người cả hai và châm lửa đốt. Bà N. kịp vùng chạy ra ngoài nên may mắn thoát nạn.

Ông C. thiệt mạng tại hiện trường do phỏng nặng trong lúc tiệm thuốc bị cháy nám đen.

Sự việc thu hút hàng trăm người dân hiếu kỳ kéo đến theo dõi việc nhà chức trách dập tắt đám cháy.

Xe cứu thương chở thi thể nạn nhân rời hiện trường. (Hình: M.V/Tuổi Trẻ)

Trong một vụ tương tự xảy ra hồi đầu Tháng Chín, 2023, theo tờ Người Lao Động, do xảy ra mâu thuẫn với người yêu, ông DQH, 31 tuổi, ở tỉnh Hà Nam đã đi mua một can xăng, mang tới nhà người yêu đổ xăng ra sàn và tưới lên người mình với ý định tự thiêu.

May mắn là sau khi nhận tin báo, công an viên ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, xuất hiện kịp thời, đá rơi cái bật lửa trên tay ông H.

Nghi can DQH sau đó bị công an khống chế đưa về đồn trong lúc công an mở cuộc điều tra.

Báo Người Lao Động hồi trung tuần Tháng Ba, 2023, tường thuật vụ ông ĐNP, 50 tuổi, ở Sài Gòn, do hận người tình nên lái xe Camry đến trước cổng nhà bà này ở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, rồi tự thiêu trong xe.

Sự việc gây ra tiếng nổ lớn, người dân gần đó định cứu giúp nạn nhân nhưng bất thành. Ngọn lửa đã thiêu rụi gần như hoàn toàn phần nội thất của chiếc xe.

Khi khám nghiệm hiện trường, công an phát giác trong xe có một can nhựa vẫn còn sót lại một ít xăng, trên thi thể nạn nhân cũng nồng nặc mùi xăng. (Tr.N) [qd]


 

5 nữ Tiến sĩ nổi tiếng Việt Nam là những Nữ tu Công Giáo.

5 nữ Tiến sĩ nổi tiếng Việt Nam là những Nữ tu Công Giáo. Tạ ơn Chúa!

Nguon: Minh Nguyen Quang & Peter Vũ Thoại

Đóng góp của một số nữ tu Công Giáo trong giảng dạy, thực hành và nghiên cứu tâm lý học ở Việt Nam.

  1. TS. SR. FRANCOIS TÔ THỊ ÁNH (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Nữ tu dòng Đức Bà – Sơ Tô Thị Ánh là nữ Tiến sĩ trị liệu tâm lý đầu tiên của Việt Nam. Bà là một học trò của Carl Rogers – người sáng lập trường phái trị liệu nhân vị trọng tâm (Person-Centered Psychotherapy). Dưới sự tự do học thuật ở miền Nam trước năm 1975, bà Tô Thị Ánh du học tại Đại học United States International, Mỹ và tốt nghiệp tiến sĩ vào năm 1972 với luận án tiến sĩ “Eastern and Western Cultural Values, Conflict or Harmony?” (To, 1972) do đích thân Giáo sư Carl Rogers hướng dẫn. Bà được xem là người đi tiên phong và đặt nền tảng vững chắc cho ngành Tâm lý Trị liệu tại Sài Gòn từ trước năm 1975, sau năm 1975 Sơ vẫn được tham gia giảng dạy tại Khoa Công tác Xã hội, đại học Mở TP. HCM. Sinh viên tâm lý học ở Việt Nam ít ai chưa từng đọc qua tác phẩm kinh điển “Tiến trình thành nhân” của Carl Rogers với tựa tiếng anh là “On becoming a person”. Người dịch tác phẩm đó sang tiếng Việt một cách sâu sắc vào năm 1992 là bà Tô Thị Ánh. Bà cũng là đồng dịch giả một tác phẩm khác có tựa “Sa mạc nở hoa” với tác phẩm gốc là “Dibs in Search of Self” của tác giả Virginia Axline, đây là một trong những tác phẩm kinh điển về tâm lý trị liệu trẻ em.

  1. TS. SR. MARIA THECLA TRẦN THỊ GIỒNG (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Bà Trần Thị Giồng là một nữ tu Công Giáo dòng Đức Bà và cũng là một tiến sĩ tham vấn và trị liệu tâm lý với hoạt động nghề nghiệp rất “lặng lẽ” ở Việt Nam, bà hoàn thành luận án tiến sĩ tại Đại học De La Salle từ năm 1993 và đã tham gia giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam, cũng như một số các chương trình đào tạo thần học liên dòng cho các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm (Joachim, 2015). Dưới sứ vụ tôn giáo, Sơ Giồng từng là Sơ giám tỉnh của dòng Đức Bà (C.N.D) tại Việt Nam. Sơ Giồng là một trong những nữ tu Công giáo đầu tiên được chính quyền “cho phép” đi du học trở lại vào cuối những năm 1980 sau khi Việt Nam vừa chấm dứt chiến tranh. Sơ Giồng là người hiếm hoi sau năm 1975 du học ngành tâm lý học nhưng không phải ở Liên Xô như những người khác được nhà nước chỉ định. Vì vậy sau giải phóng, bà là một trong những nhân vật đầu tiên quay trở lại tiếp cận tâm lý học hiện đại – như miền nam Việt Nam đã từng làm trước năm 1975. Năm 1991 bà tốt nghiệp thạc sĩ với luận văn “Accompanied and unaccompanied adolescent Vietnamese refugees in Palawan: their problems, self concept and security level” (Giong, 1991); cho tới năm 1993, bà tốt nghiệp tiến sĩ với luận án “The effects of spiritual-psychological synthesis on anxiety, depression, and mental health of Vietnamese refugees.” (Giong, 1993); Thời điểm này ở Việt Nam,Tâm lý học Mác-xít đang chiếm một vị trí độc tôn (Sirikantraporn & Nguyen, 2020).

  1. TS. SR. TERESA TRÌ THỊ MINH THÚY (DÒNG MẾN THÁNH GIÁ THỦ THIÊM – MTGTT)

Tiến sĩ Trì Thị Minh Thúy hiện đang là giảng viên các chương trình cao học tại Khoa tâm lý học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM. Trước đây Sơ Thúy cũng từng là giảng viên của trường Đại học Văn Hiến. Năm 2012, sơ tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học De La Salle với luận án “Roles of filial piety, parental control and parental warmth in parent adolescent conflict among Vietnamese families” (Thuy, 2013). Không chỉ dấn thân vào các hoạt động phục vụ cộng đồng, Sơ cũng đóng góp cho ngành khoa học tâm lý ở Việt Nam với vai trò tác giả và đồng tác giả hàng loạt các công bố và báo cáo khoa học quốc tế và sách; một số nghiên cứu có thể kể đến như “Expression of basic emotions in pictures by German and Vietnamese art therapy students – A comparative, explorative study” (Danner-Weinberger et al., 2019). “Parental burnout around the globe: A 42-country study” (Roskam et al., 2021). “Gender Equality and Maternal Burnout: A 40-Country Study” (Roskam et al., 2022). “Parenting Culture(s): Ideal-Parent Beliefs Across 37 Countries” (Lin et al., 2023). “Three reasons why parental burnout is more prevalent in individualistic countries: a mediation study in 36 countries” (Roskam et al., 2023). Sơ cũng là đồng tác giả Chương 1: “Enhancing Resilience in Youth: Sustainable Systemic Effects in Different Environments” trong tựa sách “Enhancing Resilience in Youth – Mindfulness-Based Interventions in Positive Environments” thuộc nhà xuất bản Springer (Steinebach et al., 2019)

4-TS. SR. HOÀNG MINH TỐ NGA (DÒNG ĐỨC BÀ: CONGRÉGATION NOTRE DAME – C.N.D)

Sơ Hoàng Minh Tố Nga là một nữ tu dòng Đức Bà tại Việt Nam. Sơ tốt nghiệp cử nhân tiếng Anh và khi giảng dạy với tư cách là giảng viên đại học, sơ Nga đã tham gia vào công việc tình nguyện với bệnh nhân HIV/ AIDS và thấy rằng chăm sóc sức khỏe tâm thần là mối quan tâm thực sự của sơ. Năm 2004, sơ Nga lấy bằng thạc sĩ tham vấn tâm lý tại Đại học De La Salle với luận văn “Counselor academic training, counseling experience, and counselor self-efficacy as predictors of counselor psychological well-being” và tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành Trị liệu hệ thống và gia đình tại Đại học Minnesota, Hoa Kỳ với luận án “Borderline Features in Vietnamese Adolescence: The Roles of Childhood Trauma, Parental Bonding, and Family Functioning” vào tháng 8 năm 2014 (Hoang, 2014). Sơ Tố Nga là giảng viên Khoa Tâm lý học tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. HCM từ 2007 đến tháng 3/2022 và hiện nay Sơ Tố Nga là giảng viên tại đại học Fulbright Việt Nam. Năm 2000, sơ Tố Nga thành lập Tâm lý Việt An, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp dịch vụ đào tạo, trị liệu tâm lý và trị liệu gia đình cho các cá nhân, gia đình và tổ chức, đặc biệt dành cho những người có thu nhập thấp, sẽ nhận được dịch vụ tư vấn miễn phí tại đây (HOANG to Nga, 2020; Hoang Minh To Nga, 2022).

  1. TS. SR. NGUYỄN THỊ THANH TÚ (DÒNG PHAN SINH THỪA SAI ĐỨC MẸ: FRANCISCAN MISSIONS OF MARY – FMM)

Sơ Nguyễn Thị Thanh Tú là một nữ tu Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM). Sơ tốt nghiệp tiến sĩ ngành Tâm lý trị liệu năm 2014, sau đó cô phụ trách dạy môn Sang chấn tâm lý và Trị liệu nghệ thuật cho chương trình thạc sĩ tại Đại học Saint Paul, Ottawa, Canada (2015-2017). Hiện nay, sơ là giảng viên các chương trình cao học thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM. Sơ Tú chuyên nghiên cứu về Sang chấn tâm lý và về sức bật tinh thần dưới góc nhìn của Trị liệu nghệ thuật và Liệu pháp tường thuật, bên cạnh đó Sơ cũng quan tâm tới các nghiên cứu về can thiệp tâm lý tích hợp các can thiệp tôn giáo và tâm linh cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục. Sơ đã có những công bố với vai trò tác giả chính và cũng là tác giả các chương sách tâm lý học thuộc các tập san Tâm lý học và Tâm lý học tôn giáo uy tín trên thế giới, một số có thể kể đến như “Grieving the loss linked to childhood sexual abuse survivor: A narrative therapy in search of forgiveness” (Nguyen et al., 2013). “Faith in God and posttraumatic growth: A qualitative study among Vietnamese Catholic immigrants” (Nguyen et al., 2014). “Women survivors of sex trafficking: A trauma and recovery model integrating spirituality” (Nguyen et al., 2014). “God images and resilience: A study of Vietnamese immigrants” (Nguyen et al., 2015). “Images of God and the imaginary in the face of loss: a quantitative research on Vietnamese immigrants living in Canada” (Nguyen et al., 2018). Đồng tác giả Chương “L’éthique professionnelle en counselling et en psychothérapie: une éthique de l’ordre de la rencontre” trong tác phẩm “From Psychology to Spirituality / De la psychologie a la spiritualite” (Malette et al., 2019) và tác giả đầu Chương “Art Therapy and Resilience in Child Sexual Abuse: A Case Study Report concerning Ethical Issues in Vietnam” trong tác phẩm “Positive Psychology and Spirituality in Counselling and Psychotherapy” (Nguyen et al., 2022). Đầu năm 2023, Giáo Trình thực Hành Tâm Lý Lâm sàng do Sơ Tú chủ biên vừa được xuất bản (Tú, 2023).


Tạ ơn Chúa về những điều vĩ đại. Nguyện xin Chúa đồng hành và soi sáng cho Giáo hội và quê hương Việt nam chúng con. Amen!
_______________
THAM KHẢO TỪ CÁC NGUỒN TIN TRÊN INTERNET:

  1. To, T. A. (1972). Eastern and Western Cultural Values, Conflict Or Harmony?. United States International University.
  2. Joachim, P. (2015). Q & A with Sr. Thecla Tran Thi Giong. Global Sisters Report. https://www.globalsistersreport.org/blog/q/trends/q-sr-thecla-tran-thi-giong-27356
  3. Giong, M. T. T. (1991). Accompanied and unaccompanied adolescent Vietnamese refugees in Palawan: their problems, self concept and security level. De La Salle University.
  4. Giong, M. T. T. (1993). The effects of spiritual-psychological synthesis on anxiety, depression, and mental health of Vietnamese refugees. De La Salle University.
  5. Sirikantraporn, S., & Nguyen, H. A. (2020). CHAPTER THIRTY TEACHING PSYCHOLOGY IN VIETNAM. Teaching Psychology around the World, 5.
  6. Thuy, T. T. M. (2013). Filial Piety, Parental Control and Parental Warmth as Predictors of Parent-Adolescent Conflict among Vietnamese Families. Philippine Journal of Counseling Psychology, 15(1), 1-1.
  7. Danner-Weinberger, A., Puchner, K., Keckeis, M., Brielmann, J., Tri, M. T. T., The Huy Le Hoang, Nguyen, L. H., Köppelmann, N., Rottler, E., Gündel, H., & von Wietersheim, J. (2019). Expression of basic emotions in pictures by German and Vietnamese art therapy students – A comparative, explorative study. Frontiers in Psychology, 10. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2019.00975
  8. Roskam, I., Aguiar, J., Akgun, E., Arikan, G., Artavia, M., Avalosse, H., Aunola, K., Bader, M., Bahati, C., Barham, E. J., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., … Mikolajczak, M. (2021). Parental burnout around the globe: A 42-country study. Affective Science, 2(1), 58–79. https://doi.org/10.1007/s42761-020-00028-4
  9. Roskam, I., Gallée, L., Aguiar, J., Akgun, E., Arena, A., Arikan, G., Aunola, K., Bader, M., Barham, E. J., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., … Mikolajczak, M. (2022). Gender equality and maternal burnout: A 40-country study. Journal of Cross-Cultural Psychology, 53(2), 157–178. https://doi.org/10.1177/00220221211072813
  10. Lin, G.-X., Mikolajczak, M., Keller, H., Akgun, E., Arikan, G., Aunola, K., Barham, E., Besson, E., Blanchard, M. A., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., Dunsmuir, S., Egorova, N., Escobar, M. J., … Roskam, I. (2023). Parenting culture(s): Ideal-parent beliefs across 37 countries. Journal of Cross-Cultural Psychology, 54(1), 4–24. https://doi.org/10.1177/00220221221123043
  11. Roskam, I., Aguiar, J., Akgun, E., Arena, A. F., Arikan, G., Aunola, K., Besson, E., Beyers, W., Boujut, E., Brianda, M. E., Brytek-Matera, A., Budak, A. M., Carbonneau, N., César, F., Chen, B.-B., Dorard, G., dos Santos Elias, L. C., Dunsmuir, S., Egorova, N., … Mikolajczak, M. (2023). Three reasons why parental burnout is more prevalent in individualistic countries: a mediation study in 36 countries. Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology. https://doi.org/10.1007/s00127-023-02487-z
  12. Steinebach, C., Langer, Á. I., & Thuy, T. T. M. (2019). Enhancing resilience in youth: Sustainable systemic effects in different environments. Enhancing Resilience in Youth: Mindfulness-Based Interventions in Positive Environments. 3–17.
  13. HOANG to Nga. (2020, August 6). Harvard-Yenching Institute. https://www.harvard-yenching.org/person/hoang-to-nga/
  14. Hoang Minh To Nga. (2022, August 18). Fulbright University Vietnam. https://fulbright.edu.vn/our-team/hoang-minh-to-nga/
  15. Hoang, T. N. M. (2014). Borderline features in Vietnamese adolescence: The roles of childhood trauma, parental bonding, and family functioning. University of Minnesota.
  16. Nguyen, T.-T., & Bellehumeur, C. (2013). Grieving the loss linked to childhood sexual abuse survivor: A narrative therapy in search of forgiveness. Counselling and Spirituality / Counseling et spiritualité, 32(1), 37–58. https://psycnet.apa.org/record/2014-02857-003
  17. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C. R., & Malette, J. U. D. I. T. H. (2014). Faith in God and posttraumatic growth: A qualitative study among Vietnamese Catholic immigrants. Counseling et Spiritualite, 33(2), 137-155.
  18. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C. R., & Malette, J. (2014). Women survivors of sex trafficking: A trauma and recovery model integrating spirituality. Counselling and Spirituality / Counseling et spiritualité, 33(1), 111–133.
  19. Nguyen, T. T., Bellehumeur, C., & Malette, J. (2015). God images and resilience: A study of Vietnamese immigrants. Journal of Psychology and Theology, 43(4), 271–282. https://doi.org/10.1177/009164711504300405
  20. Nguyen, T. T. T., Bellehumeur, C., & Malette, J. (2018). Images of God and the imaginary in the face of loss: a quantitative research on Vietnamese immigrants living in Canada. Mental Health, Religion & Culture, 21(5), 484–499. https://doi.org/10.1080/13674676.2018.1499715
  21. Malette, J., Bellehumeur, C. R., & Nguyen, T. T. (2019). L’éthique professionnelle en counselling et en psychothérapie: une éthique de l’ordre de la rencontre. In J. Malette, M. Rovers, & L. Sundaram (Eds.), From Psychology to Spirituality / De la psychologie a la spiritualite (Vol. 7, pp. 127–150). Peeters Publishers. https://doi.org/10.2307/j.ctv1q26wnf.9
  22. Nguyen, T. T., Malette, J., & Trinh, T. V. (2022). Art Therapy and Resilience in Child Sexual Abuse: A Case Study Report concerning Ethical Issues in Vietnam. In J. Malette, C. R. Bellehumeur, C. Kam, & B. Maisha (Eds.), Positive Psychology and Spirituality in Counselling and Psychotherapy (pp. 161–176). Peeters Publishers. https://doi.org/10.2307/jj.1357310.10
  23. Tú, N. T. T. (2023). Giáo Trình Thực Hành Tâm Lý Lâm Sàng. NXB Thế Giới

 Văn Hóa Đốt Sách – Học giả Nguyễn Hiến Lê

 Học giả Nguyễn Hiến Lê sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984.

Trước 75 trong Nam không học sinh nào không đọc sách Nguyễn Hiến Lê. Ưu điểm của cụ Lê là cụ giản lược những đề tài rộng lớn, phác thảo những đại cương trong khuôn khổ một cuốn sách dễ đọc, dễ hiểu, nhờ vào lối văn giản dị không cầu kỳ như bản thân đời sống của cụ. Sách Nguyễn Hiến Lê hầu hết viết cho ban Tú tài nhưng không phải vì vậy đã không có những công trình lớn: Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Kinh Dịch, Bách Gia Tranh Minh… là những tập sách dày công nghiên cứu, đã đem đến vô vàn kiến thức cho thanh niên miền Nam buổi ấy. Chính vì sau hai thập niên Việt hóa học đường, không còn một học sinh nào, từ Nam ra Bắc đọc thông một quyển sách chữ Hán cũng như chữ Pháp. Thế hệ Nguyễn Hiến Lê là chiếc cầu nối tuổi trẻ Việt Nam với kho tàng thế giới. Trên 120 đầu sách, Nguyễn Hiến Lê cống hiến sở học của mình.

Sau 75 cụ Lê còn là nhân chứng của công cuộc giải phóng thô bạo trên nửa phần đất nước. Vào ngày giỗ muộn màng thứ 39, hãy cùng đọc lại ghi chép của Nguyễn Hiến Lê về nạn đốt sách của phía chiến thắng. Là những trang chữ bị kiểm duyệt.

[Trần Vũ]

*******

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp 5,6 bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn. Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Observateur (của khối thân Cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có propriétés cho biết cách dùng, trị bệnh gì… mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất 2 tháng, có khi 4 tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến … mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại 3,4 giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy 3 trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê- Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL

From: TU-PHUNG


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dương Trung Quốc

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Lúc bé, tôi vẫn thường xem phim cọp. Lý do, giản dị, chỉ vì tôi rất ít khi có tiền mua vé. Lúc có, tôi lại muốn dùng tiền để mua những thứ khác (bắp nuớng, đậu phụng rang, cà rem, bánh kẹo…) để nhai lai rai trong lúc coi phim cơ.

Nhưng làm thế nào để vào cửa cọp mới được chớ? Ít nhất cũng có hai cách. Thứ nhất là đứng xớ rớ truớc cửa rạp, thấy một ông hay một bà trông có vẻ bảnh bao và dễ tính là mình xà ngay đến:

  • Thưa chú, thưa dì, thưa cô, thưa bác… con muốn coi cái phim này hết sức nhưng không có tiền, làm ơn dắt con vô luôn nha?

Nếu họ gật đầu là kể như… khỏe. Theo lệ, mỗi nguời lớn đi xem phim có quyền dắt theo một trẻ em – miễn phí.

Lối thứ hai rắc rối hơn một chút, kém đàng hoàng hơn một tí, và cần một ít vốn đầu tư. Mấy đứa phải hùn hạp đủ tiền cho một thằng hay một con nào đó mua vé đàng hoàng. Sau đó, nó sẽ len lén mở cửa hông cho cả lũ vào luôn!

Có lần vì giông bão rạp chiếu bóng cũng chỉ có mấy ngoe mua vé vào xem. Lũ nhi đồng chúng tôi quên chi tiết đó, vẫn tiếp tục rủ nhau coi cọp. Không những thế, nhiều đứa còn “mời” cả anh chị và bố mẹ “đi” luôn. Dân trong xóm tôi đều nghèo, đều rất ham… vui; do đó, gặp ngày mưa buồn bã và rảnh rỗi (rạp hát lại gần nhà) nên mọi nguời đều vui vẻ… nhận lời!

Chủ rạp kinh ngạc khi thấy vé không bán được bao nhiêu mà bên trong rộn rã tiếng cười đùa vỗ tay của trẻ con, rôm rả tiếng bàn tán nói cười của nguời lớn. Không cần phải thông minh lắm nguời ta cũng tìm được lý do, không lâu, sau đó.

Thế là bất ngờ, sau một lời xin lỗi ngắn ngủi qua hệ thống phát thanh, đèn bật sáng trưng, nhân viên ào vào soát vé. Lần lượt từng mạng một, không phân biệt già trẻ lớn bé, không sót một ai, cả xóm bị “mời” ra khỏi rạp bằng những lời lẽ hoàn toàn … không nhã nhặn.

Ðã có lúc vui miệng, tôi kể cho mấy đứa con nghe về cái kỷ niệm ấu thơ (không mấy êm đềm) này. Chúng đều tỏ vẻ ái ngại và vô cùng thất vọng về thái độ rất thiếu đàng hoàng, lương thiện của một người làm cha không lấy gì làm khả kính:

  • It’s not fun.Như vậy đâu có vui bố.
  • And it’s not fair, either!Cũng không công bằng mấy bố à.
  • Ờ thì bố cũng thấy là không vui gì cho lắm và có hơi kỳ kỳ một chút.
  • Kỳ một chút sao được. It’s cheating,như vậy là ăn gian!

Tôi miễn cưỡng đồng ý với tụi nó mà bụng dạ (nói thiệt) có hơi buồn. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã gian lận gì nhiều trong chuyện xem phim cọp cả. Cũng như tất cả những nguời dân lớn nhỏ khác của cả xóm mình, tôi chỉ có tội nghèo mà ham… vui (và hơi láu cá chút đỉnh) thế thôi.

Láu cá (rõ ràng) không phải là một đức tính, dù nhìn theo quan niệm đạo đức của bất cứ ai. Bởi vậy, càng già tôi càng đàng hoàng thấy… rõ! Những nguời tử tế, biết phục thiện, và tử tế như tôi – tiếc thay – hơi ít.

Tạp chí Khởi Hành số 34, phát hành tháng 8 năm 99, từ California, có bài viết “Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”, của Trần Anh Tuấn, về những nguời… rất không đàng hoàng như thế. Những kẻ mà đến lúc chết vẫn còn (vô cùng) láu cá!

Một phần của bài viết, ông Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam – Những Gương Mặt Trí Thức, tập I, do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập, Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ông Trần Anh Tuấn ghi nhận như sau:

Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa V.N.)”.

Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.”

Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Cứ theo như lời của ông Trần Anh Tuấn thì “nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách”. Là kẻ hậu sinh, tôi không hề dám có nghĩ tranh luận hay bút chiến với một nguời cầm bút vào hàng truởng thượng – và nặng ký – như ông Trần Anh Tuấn. Tuy nhiên vì đã lỡ biện minh cho chuyện vào cửa cọp của chính mình, tôi tự thấy có bổn phận phải lên tiếng để bênh vực cho một số những nguời vừa được vinh danh là “trí thức Việt Nam tiêu biểu” – trong nửa thế kỷ qua.

Theo tôi thì qúi ông Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo, Hoàng Xuân Hãn… đều dư sức dắt theo ba trự lóc nhóc cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… đi vào lịch sử mà khỏi cần mua vé. Như đã thưa, tuy không bằng luật nhưng theo lệ (ít nhất cũng là lệ ở những thành phố miền Nam) mỗi nguời đi xem phim có quyền dắt theo một nhi đồng – miễn phí. Hồi nhỏ tụi tôi vẫn đi xem phim ké theo kiểu đó mà. Ðiều này đâu có gì là gian lận mà ông Tuấn phải phàn nàn và nặng lời dữ vậy?

Giữa chuyện ham vui (của lũ bé con chúng tôi, ngày truớc) và chuyện ham danh (của những ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam, bây giờ) có một điểm này chung: túng làm liều. Ðiểm chung đó, với ít nhiều chủ quan, tôi tin tưởng là thông cảm và chia sẻ được.

Nếu không, nghĩa là nếu ông Trần Anh Tuấn không đồng ý, tôi xin đề nghị chúng ta nên nhìn vấn đề theo cách khác – dựa vào hình ảnh, kinh nghiệm phổ cập hơn với phần lớn mọi người, và cũng vẫn với phong thái nhẹ nhàng tương tự. Hãy tưởng tượng đến cảnh quá giang.

Chiếc bè chở những “gương mặt trí thức Việt Nam tiêu biểu” của nửa thế kỷ qua đi vào lịch sử mà chỉ có vài ba ông cỡ như Ðào Duy Anh, Trần Ðức Thảo và Hoàng Xuân Hãn… thì ngó bộ hơi neo đơn và cũng (có phần) phí phạm. Nó còn rộng chỗ nên quí ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh… xin được quá giang – vậy thôi.

Nguời ta mượn lời để diễn ý. Ðặng ý thì bỏ lời. Thiên hạ mượn bè để qua sông. Miễn sao họ qua lọt thì thôi. Câu nệ quá tôi sợ… mất lòng và, chắc chắn, cũng sẽ mất vui!

Tôi chỉ tận tình chia sẻ nỗi bất bất bình của ông Trần Anh Tuấn về việc những vị sử quan đương đại – Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân, và Tạ Ngọc Liễn – theo chỉ thị, đã mở cửa hông cho thêm cả đống ông nữa (tổng cộng lên đến 33 mạng) ào ạt nhào luôn vào lịch sử.

Cũng như đi coi phim cọp, đi quá giang – dù là bằng thúng, bằng mủng, bằng bè, bằng ghe tam bản, bằng thuyền ba lá, bằng ca nô, bằng tầu (hay bằng thủy phi cơ… chăng nữa) cũng đều nên tránh chuyện đàn đúm, kéo bè, kết đảng đông đảo quá. Xô đẩy, giành giật, chen lấn là cảnh (luôn luôn) rất khó coi và dễ gây hiểu lầm là một vụ thủy tặc hay không tặc. Ðó là chưa kể chuyện quá tải, rất không an toàn.

Chìm xuồng, cả lũ, như chơi.

Gần cả thế kỷ qua dân Việt dở sống dở chết. Giữa lúc muôn họ lầm than, nhân tâm ly tán, nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sớm; danh nhân, trí thức, kẻ sĩ… ở đâu mà hăm hở chen lấn đi vào lịch sử đông dữ vậy – hả Trời? Chợ chưa họp mà kẻ cắp đã đến đủ mặt như thế thì (ngó) cũng kỳ.

Mới đây ông Nguyễn Chính còn khám phá ra vụ này, ngó bộ, còn kỳ dữ nữa về chuyện khai thác bauxite ở Việt Nam: “Quốc hội chưa họp, nghĩa là chưa ai có ý kiến gì, ông dân biểu Dương Trung Quốc đã phát ngôn trên báo Tuổi Trẻ rằng “Nhưng Bộ Chính trị đã quyết rồi thì bây giờ ta chỉ bàn làm sao cho tốt, cho an toàn thôi” khiến nhiều cử tri rất ngỡ ngàng.”

Tôi thì không ngỡ ngàng gì cho lắm vì đã được họp tập trước về việc “Đảng chỉ tay, Quốc hội vỗ tay, dân trắng tay” tự lâu rồi. Chỉ hơi ngờ ngợ vì cái tên của ông Dương Trung Quốc nghe (có vẻ) quen quen. Té ra, ông chính là một trong ba nhân vật đã sưu tầm và biên tập cuốn Lịch sử và văn hoá Việt Nam – Những gương mặt trí thức (tập I) do Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998.

Tưởng sao chớ “đi ra, đi vô cũng cái thằng cha khi nẫy” chớ ai! Mười năm trước ông Dương Trung Quốc tô vẽ cho nhiều kẻ bất hảo trở thành “Những gương mặt trí thức” của lịch sử và văn hoá Việt Nam. Bây giờ thì ông mở đường để con những người này mang đất nước ra băm xẻ, cho bằng thích.

Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì… đen là phải!


 

Một thiếu nữ ở Nghệ An lừa bán em gái ruột sang Trung Quốc ‘làm vợ’

January 15, 2024

Ba’o Nguoi-Viet

NGHỆ AN, Việt Nam (NV) – Hôm 15 Tháng Giêng, Tòa Án Tỉnh Nghệ An đã tuyên án hai bị cáo Cụt Thị Ngọc và Ven Thị Hoài, mỗi người 12 năm tù về tội “mua bán người dưới 16 tuổi.”

Hội Đồng Xét Xử nhận định hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp “đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội với nhiều người,” do đó cần đưa ra hình phạt tương xứng để “răn đe, phòng ngừa chung.”

Hai bị cáo Ven Thị Hoài (trái) và Cụt Thị Ngọc tại tòa. (Hình: KH/Thanh Niên)

Báo Dân Trí dẫn cáo trạng cho biết bị cáo Hoài, 21 tuổi, trú huyện Kỳ Sơn, và bị cáo Ngọc, 27 tuổi, ở huyện Quế Phong, cùng tỉnh Nghệ An, quen nhau khi làm công nhân tại Thái Bình.

Tháng Mười, 2022, Ngọc nhắn tin cho Hoài nói có người thân đang ở Trung Quốc, nếu tìm được phụ nữ đưa qua biên giới bán làm vợ cho người bản địa thì sẽ được trả tiền công hậu hĩnh.

Ngay sau đó, Hoài phản hồi có em gái 14 tuổi, sẽ về thuyết phục gia đình.

Để không bị thoát “con mồi,” Ngọc nói với Hoài nếu đưa được em gái sang Trung Quốc sẽ được trả 30 triệu đồng ($1,225) tiền công và gia đình được nhận khoản tiền 120 triệu đồng ($4,902).

Nói là làm, Ngọc sau đó chuyển trước cho Hoài 4.5 triệu đồng ($183) để trả nợ và làm chi phí đưa đón nạn nhân. Đồng thời Ngọc hứa sẽ trả thêm cho bạn đủ số tiền đã thỏa thuận nếu phi vụ trót lọt.

Đến Tháng Sáu, 2023, Hoài về thuyết phục mẹ cho em gái là VTK, 14 tuổi, “đi làm công ty” ở Bắc Giang và được mẹ đồng ý.

Hai ngày sau, người thân em Moong Thị N,14 tuổi, ở cùng xã đến nhà Hoài chơi, biết Hoài sắp đưa em đi làm “việc nhẹ lương cao” nên cũng về đặt vấn đề xin theo.

Sau đó Hoài gọi điện cho Ngọc thông báo đã kiếm được hai người, yêu cầu trả 60 triệu tiền công ($2,450) và 240 triệu đồng ($9,804) để đưa cho các gia đình.

Đầu Tháng Bảy, 2023, Hoài cùng hai bé gái đón xe đò từ huyện Kỳ Sơn xuống thành phố Vinh để đi ra Hà Nội. Tuy nhiên, khi đến xã Chiêu Lưu thì bị công an phát hiện bắt giữ.

Hai ngày sau, biết Hoài bị bắt, Cụt Thị Ngọc tới công an đầu thú.

Phản ảnh trên báo VNExpress, nhiều người tỏ ra phẫn nộ.

Độc giả “Truongson thuydung” bất bình viết: “Con chị đốn mạt, vì vài chục triệu mà bán em ruột sang xứ người, phải người gia đình tôi thì xin để gia đình xử lý trước, sau đó pháp luật trừng trị sau.”

Trong khi đó, độc giả “Cù Kim Ngọc” ngán ngẫm: “Trời ơi, tôi đang đọc cái gì thế này? Chị em thương nhau không hết…. lại nỡ, không hiểu nổi?!” (Tr.N)


 

Sau ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy…-Trương Nhân Tuấn

 Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

15-1-2024

“Sinh, lão, bịnh, tử” là chuyện gắn liền với mỗi cá nhân con người, tức là chuyện “bình thường”. Ai rồi cũng phải trải qua một trong bốn giai đoạn đó trong cuộc đời mình. Ông Trọng cũng vậy. Ông không phải là thần thánh.

Tuy nhiên, ông Trọng là lãnh đạo tối cao của Việt Nam hiện nay. Bất cứ chuyện gì xảy ra đối với ông Trọng, trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên quan đến Việt Nam. Sự vắng mặt của ông những ngày qua làm dấy lên những đồn đoán, ngay cả ở báo chí nước ngoài. Người ta đặt vấn đề về “hậu sự” của ông Trọng.

Cá nhân tôi từ hơn hai thập niên qua luôn giữ quan điểm rằng, yếu tố cần thiết để Việt Nam có thể phát triển lành mạnh và bền vững là vấn đề “pháp trị hóa nhà nước”. Các quốc gia Nam Hàn, Đài Loan, Singapore… từ ba thập niên 1970, 1980 và 1990 của thế kỷ trước đều là các quốc gia “độc tài”. Khác với Việt Nam, các quốc gia trên đều là các “Quốc gia pháp trị – Etat de Droit” và kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa.

Nhớ lại những năm cuối nhiệm kỳ 1 của ông Trọng, ước muốn của ông được báo chí ghi lại: “Xây dựng một bộ máy nghiêm minh đồng thời hoàn thiện thể chế, chính sách, luật pháp tới mức không còn những ‘khoảng trống’, ‘kẽ hở’ cho tham nhũng, để không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không còn muốn tham nhũng“.

Đến nay đã giữa nhiệm kỳ 3. Khách quan nhận xét thì rõ ràng những ước muốn của ông Trọng vẫn còn xa xôi lắm.

Cốt lõi của vấn đề là ở thể thức phân bổ quyền lực. Quyền lực tập trung vào đảng. Đảng lãnh đạo toàn diện, về mọi mặt, nhà nước và xã hội.

Thử nhìn vào nơi nào trong xã hội này mà không thúi nát? Ngay cả ở các nơi chốn tôn nghiêm. Câu thơ (của Bùi Minh Quốc): “Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa“, chưa bao giờ đúng như lúc này.

Ông Trọng đã thất bại toàn tập trong vấn đề “nhốt quyền lực vào cái lồng lập pháp”. Những biện pháp như “bỏ phiếu tín nhiệm” chỉ là trò cười đối với cán bộ tham nhũng, hủ bại. Những con sâu chúa trong hệ thống quyền lực này vẫn an toàn vô sự, bất chấp cái “lò” của ông Trọng nóng hơn bao giờ hết.

Người ta chỉ có thể diệt trừ tham nhũng ở một số người nhưng không bao giờ diệt tham nhũng ở cả một tập đoàn. Qua các vụ Việt Á, “các chuyến bay giải cứu”, người ta đã thấy đảng CSVN thúi nát từ trên tới dưới, từ trong ra ngoài.

Đảng viên CSVN đối xử với dân chúng như những con thú. Chỉ hiện hữu trong xã hội loài thú, khi một con thú bị thương, con thú này trở thành con mồi cho những con thú khác.

Đảng CSVN xây dựng cái gì mà một người Việt gặp hoạn nạn là cơ hội tốt cho đảng viên cộng sản lạm dụng. Có khác gì xã hội của loài thú đâu?

Theo tôi thấy, với cái đà này “sau” ông Trọng sẽ là cơn đại hồng thủy. Không “pháp trị hóa nhà nước” thì không có bất cứ cái gì ngăn cản được sự hủ bại của quyền lực.

Tôi nghĩ rằng thời gian còn lại của ông Trọng không nhiều. Tôi rất bi quan về tiền đồ của đất nước. Mô hình phát triển của Trung Quốc mà ông Trọng lấy về áp dụng cho Việt Nam chỉ là một cái áo quá khổ so với Việt Nam.


 

Nguyễn Phú Trọng tuy ốm yếu và mệt mõi đã xuất hiện trong phiên họp Quốc Hội CHXHCN Việt Nam

Theo Đài RFA

Ông Trọng có thể tự đứng lên và ngồi xuống khi được giới thiệu, tuy nhiên ông Võ Văn Thưởng ngồi kế bên phải quay sang giữ ghế giúp.

Phiên khai mạc kéo dài hơn 17 phút sau đó chuyển sang phần thảo luận, đèn hội trường tối xuống, chương trình trực tiếp gián đoạn vài phút. Sau đó khi trở lại không còn thấy ông Nguyễn Phú Trọng trong hội trường.

Hôm 12/1, một số báo nước ngoài như Reuters và Bloomberg đã đưa tin về sự vắng mặt của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trước công chúng khoảng hơn hai tuần qua. Bloomberg dẫn các nguồn tin giấu tên cho biết ông Trọng ốm và phải nhập viện. Đây cũng là thông tin được mạng xã hội đồn đoán suốt vài ngày nay.

Theo Báo Lề Phải

  • Theo thông báo của tổng thư ký Quốc hội, kỳ họp bất thường lần thứ 5 Quốc hội khóa XV diễn ra trong 2,5 ngày theo hình thức họp tập trung. Quốc Hội bù nhìn sẽ thông qua luật đất đai và ra luật tín dụng để trám các sơ hở làm mất 12 tỷ đô từ vụ ngân hàng SCB vay nợ bằng trái phiếu khống và quỵt nợ.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ khai mạc trọng thể kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV sáng 15-1 - Ảnh: VGP

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (trông thật yếu và chậm chạp) cùng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ khai mạc trọng thể kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV sáng 15-1 – Ảnh: VGP

  • Trông ông Trọng vừa cáu kỉnh vừa buồn hiu, càng làm Đảng càng tham lạm và yếu, hết khủng hoảng này lại đến tai biến khác. Thị trường Bất Động Sản bong bóng, tín dụng suy sụp và có thể nhiều đại gia bị vỡ nợ, dân chúng thất nghiệp, thị trường tết ảm đạm, … Vụ Việt Á đang xử chưa xong lại đến Vạn Thạnh Phát dùng ngân hàng SBC vay và quỵt nợ 12 tỷ đô, và còn nhiều đại ăn, đại án khác nữa nào là Điện EVN, xăng dầu VietOil, …
  • Đáng ra, Ngài Trọng phải buồn vỡ tim mới phải, có lẽ thuốc men của Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương còn làm cho Ngài sống thêm vài ba hay mươi tháng nữa chăng?

Nhân tài chạy xe ôm -Trân Văn

Trân Văn
Posted by GLN

Phạm Quốc Thái đang chạy Grab.

Tờ Thanh Niên vừa nhỏ thêm một… giọt sầu vào bể sầu: Phạm Quốc Thái, 26 tuổi, cựu sinh viên từng theo học chương trình “Kỹ sư tài năng” thuộc Khoa Kỹ thuật xây dựng của Đại học Bách khoa TP.HCM, từng là một trong sáu người được Intel – một tập đoàn công nghệ của Mỹ – chọn trao học bổng, trị giá 65.000 Mỹ kim để theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ tại Đại học Arizona, đang vừa làm việc cho Ban Quản lý An toàn thực phẩm (BQL ATTP) của TP.HCM, vừa chạy xe ôm nhưng không đủ… sống (1).

Trước đây, sau khi tốt nghiệp đại học, Thái từng được một doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Việt Nam tuyển dụng, lương 12 triệu đồng/tháng. Vì muốn tiến xa hơn, Thái nộp hồ sơ xin học bổng và được cả chính phủ Ý lẫn Intel cùng chọn để trao học bổng. Thái bỏ học bổng do chính phủ Ý cấp để đi theo chương trình mà Intel vạch ra: Hỗ trợ chính quyền TP.HCM thực hiện “Chương trình Đô thị thông minh” bằng cách chọn trao sáu học bổng – đài thọ cho sáu người mà Intel tin là sau khi hoàn tất chương trình tu nghiệp, cả sáu sẽ giúp chính quyền TP.HCM triển khai thành công “Chương trình Đô thị thông minh”.

Tốt nghiệp, Thái quay về Việt Nam, trình diện chính quyền TP.HCM và được phân công về BQL ATTP. Nơi này giao cho Thái “nhập liệu”. “Nhập liệu” – tên gọi loại việc vốn xa lạ với nhiều người – chỉ là chuyển dữ liệu từ giấy tờ vào máy tính, còn nói theo kiểu bình dân, “nhập liệu” là… đánh máy vi tính. Thái đã làm công việc “nhập liệu” hơn nửa năm. Thu nhập một tháng tròm trèm… 2,8 triệu đồng, thua cả phụ hồ! Bởi không thể bỏ việc vì đã cam kết sẽ phục vụ chính quyền TP.HCM ít nhất ba năm, để không chết đói, không thành vô gia cư vì không trả được tiền thuê nhà, buổi tối, Thái chạy… xe ôm.

Vào lúc này, công việc duy nhất mà Thái làm, có liên quan đến chuyên môn mà nhờ vậy, được thiên hạ tuyển chọn, cấp học bổng là tham dự một chương trình do một tổ chức ngoại quốc tài trợ, cứ vào cuối tuần, Thái theo xe buýt đến Tây Ninh, truyền bá kiến thức khoa học cho dân chúng vùng sâu, vùng xa! Thái không phải là trường hợp cá biệt. Cậu chỉ là một ví dụ. Trong kế hoạch trợ giúp TP.HCM thực hiện “Chương trình Đô thị thông minh”, Intel đã chi khoảng 400.000 Mỹ kim để đào tạo sáu thạc sĩ các chuyên ngành: Công nghệ thông tin, Vật liệu xây dựng, Giao thông Vận tải, Môi trường,… Khi quay về, chỉ có 2/6 may mắn được sắp đặt vào những vị trí đúng chuyên môn!
***

Tờ Thanh Niên xem trường hợp của Phạm Quốc Thái là một bằng chứng về chuyện lãng phí nhân tài. Với kẻ viết bài này, nhìn như thế chưa đúng bản chất của vấn đề.
Trong mười năm vừa qua, tình trạng cử nhân, thạc sĩ tại Việt Nam thất nghiệp, phải làm những công việc trái với chuyên môn càng ngày càng trầm trọng.

Một số “chuyên gia” và hệ thống truyền thông Việt Nam giải thích, tình trạng có học vấn cao nhưng thất nghiệp là do… cha mẹ đương sự và chính đương sự… lệch lạc về mặt nhận thức, sính bằng cấp, chỉ thích làm “thầy” chứ không không muốn làm “thợ” và do… hệ thống, chương trình đào tạo lạc hậu, không bắt kịp chuyển động của thị trường lao động (2). Thậm chí một số “chuyên gia” và cơ quan truyền thông còn lên án những cá nhân thuộc nhóm có học vấn cao đang thất nghiệp là thiếu cố gắng tự đào tạo, tự thích nghi…

Với kẻ viết bài này, lối giải thích và lập luận theo hướng đã kể là một kiểu ngụy biện thiển cận và tàn nhẫn để che đậy lỗi của vấn nạn.

Thời nào và ở đâu, người ta cũng tin học vấn và cố gắng vươn lên không ngưng nghỉ là con đường tốt nhất giúp cá nhân thành đạt. Ở Việt Nam cũng thế, nếu có khác thì khác biệt chỉ nằm ở chỗ cả phụ huynh lẫn học sinh phải đổ nhiều mồ hôi, nước mắt hơn để con cái có thể đi xa hơn, vững vàng hơn trên con đường mở mang học vấn.
Nhiều triệu người Việt thuộc nhiều thế hệ đã đi hết con đường mở mang học vấn trải bằng mồ hôi, nước mắt, sức lực của cha mẹ ít nhất cũng hai thập niên. Cha mẹ càng nghèo, con đường mở mang học vấn của con cái càng đẫm mồ hôi, nước mắt.

Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, sức lực đã trở thành vô dụng khi hàng trăm ngàn cá nhân có học vấn cao thất nghiệp? Chẳng có ai thèm thống kê nhưng con số đó chắc chắn rất lớn.

Khi nỗ lực học hành, vươn lên bằng học vấn không còn là lối để thay đổi số phận, để lập thân, chẳng phải chỉ có hàng trăm ngàn cá nhân đã và đang thất nghiệp bế tắc mà còn có thêm nhiều trăm ngàn phụ huynh tuyệt vọng vì đã vắt kiệt mồ hôi, nỗ lực hết mức nhưng vẫn không thể thấy gì khác hơn sự vô vọng về tương lai con cái. Tại sao càng ngày càng nhiều cá nhân thuộc nhóm có học vấn cao thất nghiệp hoặc phải làm những công việc trái với chuyên môn, với mơ ước?

Thất nghiệp là hệ quả có tính tất nhiên của suy thoái, sản xuất – kinh doanh lụn bại. Suy thoái là con đẻ của chính sách, phương thức điều hành – quản lý kinh tế, xã hội tồi tệ, phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác.

Làm sao Việt Nam có thể thoát khỏi suy thoái khi việc lựa chọn viên chức cho hệ thống chính trị, hệ thống công quyền các cấp phụ thuộc vào “quy hoạch”, “qui trình” mà xét về bản chất chỉ nhằm hỗ trợ cha con, dâu rể, vợ chồng, anh em, thân bằng quyến thuộc, huynh đệ cùng băng nhóm tiếp tục nắm giữ quyền lực?

Tại sao Thành ủy TP.HCM dành rất nhiều thời gian để sắp đặt công việc cho ông Đoàn Ngọc Hải, Phó Chủ tịch quận 1 (3) nhưng lại không bận tâm đến những trường hợp như Phạm Quốc Thái dù cả hai cùng là đảng viên, sự khác biệt nếu có, chỉ nằm ở chỗ Thái học rất giỏi nên được vận động vào đảng?

Tại sao chính quyền thành phố Cần Thơ lại dụng công sắp đặt, thuyết phục ông Nguyễn Thành Nhơn, Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Hậu Giang chuyển công tác về Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hậu Giang để giới thiệu bầu làm Phó Chủ tịch hội này dù ông Nhơn không ưng và rõ ràng là cả kiến thức và kỹ năng của ông Nhơn không phù hợp với công việc mà chính quyền thành phố Cần Thơ muốn dành cho ông (4)?

Khi hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tham gia tính toán, sắp đặt nhân sự theo kiểu bất cận nhân tình cho cả những cá nhân như ông Nhơn, những tổ chức vốn đề cao yếu tố thiện nguyện, nhân đạo như Hội Chữ thập đỏ thì xứ sở này còn chỗ nào cho những người thật sự tâm huyết và có khả năng?

Toàn đảng đang hối hả quy hoạch nhân sự lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ địa phương đến trung ương tại Việt Nam cho nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Hồi thượng tuần tháng này, kẻ viết bài này từng đề nghị, muốn biết việc lựa chọn, sắp đặt nhân sự lãnh đạo từ địa phương đến trung ương có chặt chẽ, khách quan trong việc lựa chọn cán bộ, có nâng được chất lượng nhân sự lên cao hơn, có sàng lọc, loại bỏ được những người bất xứng, có thể xem như bằng chứng về sự thận trọng, bài bản hay không thì cứ ngắm nghía, ngẫm nghĩ kỹ về hai scandal Đoàn Ngọc Hải và Nguyễn Thành Nhơn. Giờ xin đề nghị thêm: Hãy tham khảo trường hợp Phạm Quốc Thái!

Khi hết thế hệ này đến thế hệ khác vẫn chỉ “cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, xem “qui hoạch”, “qui trình” tuyển dụng, bổ nhiệm viên chức như một thứ quyền “mặc định” của đảng, bất kể thế nào cũng “đời đời ơn đảng” thì chắc chắn các bi kịch sẽ còn hoài và trầm trọng hơn.

Trân Văn

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen


 

Nhiều dấu hiệu SCB ‘dẹp tiệm’ trước ngày Trương Mỹ Lan hầu tòa

January 14, 2024

Ba’o Nguoi-Viet

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ngân hàng SCB thuộc sở hữu của bà Trương Mỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát, vừa thông báo mời thầu về việc tháo gỡ 21 tấm pano quảng cáo tại 16 cơ sở kinh doanh.

Báo Dân Trí hôm 14 Tháng Giêng đưa tin này và cho biết hành động nêu trên diễn ra sau khi SCB đóng cửa hàng loạt phòng giao dịch tại nhiều tỉnh, thành ở Việt Nam.

Một phòng giao dịch của ngân hàng SCB. (Hình: Dân Trí)

Thông báo mời thầu ấn định hạn chót tiếp nhận hồ sơ chào giá là hôm 19 Tháng Giêng.
Trước đó, SCB loan báo đóng cửa cùng lúc 39 phòng giao dịch trong năm 2023.

Tiếp đến, vào đầu Tháng Hai, ngân hàng này xác nhận dừng hoạt động năm phòng giao dịch tại thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, nâng tổng số phòng giao dịch dừng hoạt động lên đến 44 trong một năm qua.

Đến hôm 8 Tháng Giêng, SCB lại gây chú ý khi rao thanh lý 23 chiếc xe hơi chuyên dành để chở tiền.

Cụ thể, lô xe thanh lý gồm 17 chiếc Mitsubishi Pajero và sáu chiếc Hyundai Starex, tất cả đều mang bảng số Sài Gòn trong giai đoạn 2004-2011.

Ngân hàng này ra điều kiện không bán riêng lẻ từng xe mà bán cả lô với giá khởi điểm 3.9 tỷ đồng ($159,151) cho 23 chiếc.

Bản tin của báo Dân Trí cho biết thêm, trước các hành động nêu trên, ngân hàng SCB đã bị Ngân Hàng Nhà Nước đưa vào diện “kiểm soát đặc biệt” từ Tháng Mười, 2022.

Ngân Hàng Nhà Nước được cho là đang xem xét đề nghị tham gia tái cơ cấu SCB của một số nhà đầu tư.

Bốn ngày trước, báo Thanh Niên cho hay, phiên tòa xử bà Trương Mỹ Lan dự trù diễn ra “ngay sau Tết Giáp Thìn 2024.”

Bà Trương Mỹ Lan sẽ phải hầu tòa với ba tội danh “tham ô tài sản, đưa hối lộ và vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.”

Viện Kiểm Sát cáo buộc từ năm 2012 đến Tháng Mười, 2022, bà Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo lập khống hồ sơ và ngân hàng SCB giải ngân hơn 2,500 khoản cho nhóm Vạn Thịnh Phát chiếm đoạt số tiền hơn 304,000 tỷ đồng ($12.4 tỷ), phạm vào tội “tham ô tài sản.”

Ngân hàng SCB hôm 8 Tháng Giêng rao thanh lý 23 chiếc xe hơi chuyên dành để chở tiền. (Hình: Thanh Niên)

Đặc biệt, để che giấu thực trạng yếu kém của SCB, bà Lan còn chỉ đạo chi $5.2 triệu để hối lộ cho bà Đỗ Thị Nhàn, cựu cục trưởng Thanh Tra, Giám Sát Của Ngân Hàng Nhà Nước, và chi tiền “lót tay” mua chuộc, tác động người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước làm trái công vụ.

Khoản tiền $12.4 tỷ mà bà Lan bị cáo buộc chiếm đoạt được xác định là tiền của người dân, khách hàng gửi tiết kiệm.

Khoản tiền này đến nay ngân hàng SCB tuyên bố là “không thể chi trả cho khách hàng.” (N.H.K)


 

Đường vượt biên vào- Mỹ hôm nay của người Việt-Tuấn Khanh

Ba’o Tieng Dan

Tuấn Khanh

14-1-2024

Trong một bản tin của Đài RFA vào đầu tháng Một năm 2024, cho biết, người Việt đang có mặt ở Canada và nhiều quốc gia Trung Mỹ để tìm cách vượt biên giới, nhập cư lậu vào Mỹ. Trong một đoạn video ngắn của một trong những người tham gia đi lậu, xuyên qua hàng rào biên giới để đến với giấc mơ Mỹ post trên facebook, có vài người thoáng qua trước ống kính, cho thấy passport đeo trước ngực là của Việt Nam.

Như vậy là sau 50 năm được gọi là thống nhất đất nước, người Việt đã tạo ra nhiều con đường để đi khỏi đất nước, tìm đến một vùng đất mới trong nhiều thân phận như du lịch, lao động, du học… và nay thì có cả vượt biên bằng đường bộ vào Mỹ, qua biên giới Mexico, Nicaragua, Canada…

Ai đã tạo ra các tuyến đường này, và đã trở thành những hướng dẫn viên “đen” để vạch ra lộ trình đầy mới mẻ này cho số đông người Việt? Một phóng sự mới đây của CNN cho biết, dẫn đầu của ngành công nghiệp bí mật đưa người sang Mỹ, là Trung Quốc, và nhiều người Việt Nam (chủ yếu là phía Bắc) đã tìm và gõ cánh cửa này.

Khác với miền Nam, vốn là nơi cứ vài gia đình là có một người ở nước ngoài, và cũng là nơi có kết nối chặt với nguồn tiền kiều hối giàu có hàng năm, người Việt miền Bắc tìm một con đường đến các nước tư bản phát triển ít nhiều khó khăn hơn, đặc biệt là họ phải bỏ ra những số tiền cho những đường dây buôn người và kết quả rất khó đoán. Mục đích của những người Việt ở miền Bắc là để thay đổi cuộc sống, tương lai, chủ yếu với việc làm ra tiền.

Trong các số liệu nhập cư lậu bằng đường bộ vào Mỹ, CNN ghi nhận, đứng đầu là người Trung Quốc. Các biến động ở Trung Quốc là do người Trung Quốc vay mượn, đánh liều những số tiền dành dụm cả đời, cho một chuyến đi quyết không quay về. Điều khó nghĩ, là những người di dân bất hợp pháp (phần lớn là tuổi trẻ) đang chạy trốn khỏi nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và là một siêu cường mới nổi. Người Việt Nam xuất hiện trong những đoàn quân đó, cũng từ một quốc gia luôn quảng bá về mình là một quốc gia thăng tiến và đầy hứa hẹn sẽ nằm trong top các cường quốc kinh tế.

Những hình ảnh ghi nhận, cho thấy những nhóm người chia nhau tiến vào các chặng đã hẹn trước, nằm bên kia bờ rào biên giới nước Mỹ. Họ mang theo ba lô, mang theo một ít quần áo dự phòng một ít tiền và điện thoại không quá đắt tiền, để không bị bọn tội phạm hoặc băng đảng cướp trên đường đi đến biên giới. Hầu hết đều kiệt sức vì căng thẳng của hành trình về phía bắc.

Giống như hàng trăm ngàn người xung quanh cũng phải đi bộ hàng tuần để đến được Hoa Kỳ, họ bị thúc đẩy bởi nỗi tuyệt vọng phải trốn thoát và tạo dựng một cuộc sống mới, bất chấp những gì không chắc chắn ở phía bên kia. Hoa Kỳ như một chiếc chén đựng những ước mơ mà họ đã đọc, đã nói với nhau. Vì vậy, phải làm mọi thứ để vào được nước Mỹ rồi thì mới định được phần tiếp theo.

Một người Việt giấu tên, nói anh có người thân đã đi vào Mỹ bằng cách này. Người nhà anh may mắn có hẹn trước với một người đưa đón với giá $1200, ngay khi đặt chân đến biên giới gần San Diego, thì được nhận diện và chở đi ngay. Nhưng không phải nhóm người Trung Quốc nào cũng may mắn tìm được đường dây đưa đón nhanh như vậy.

Đi theo chân một nhóm di dân lậu, phóng viên Yong Xiong cho biết khi vào được đất Mỹ, nhiều nhóm dựng lều, mặc áo hoodie và thêm áo khoác; họ tụ tập quanh đống lửa và chỉ chờ cho đến khi các nhân viên kiểm soát biên giới Hoa Kỳ đi tuần và phát hiện, đưa họ đi xử lý. Với họ, đó là thành công bước đầu, vì họ tin như vậy sẽ là khởi đầu cho cuộc sống của họ ở Mỹ, nhờ vào các chính sách nhân đạo của chính phủ.

Những người Trung Quốc, xen lẫn Miến Điện, Ấn Độ, Việt Nam đi dọc theo biên giời Mexico -Mỹ (Ảnh chụp màn hình từ CNN video)

Dữ liệu của chính phủ cho thấy, trong 11 tháng đầu năm 2023, hơn 31.000 công dân Trung Quốc đã bị cơ quan thực thi pháp luật bắt giữ khi vượt biên trái phép vào Hoa Kỳ từ Mexico – so với mức trung bình khoảng 1.500 người mỗi năm trong thập kỷ trước. Ngoài người Trung Quốc, người ta còn thấy khoảng 400 người Miến Điện, Ấn Độ, Việt Nam… vào danh sách hồi giữa tháng Năm 2023.

Câu hỏi đặt ra, là vì sao Trung Quốc lại dẫn đầu trong các đường dây buôn người đi lậu vào Mỹ? Ba năm phong tỏa và hạn chế vì Covid-19 đã khiến người dân khắp Trung Quốc mất việc làm – và vỡ mộng trước sự kiểm soát ngày càng chặt chẽ của Đảng Cộng sản cầm quyền đối với mọi khía cạnh của cuộc sống dưới thời Tập Cận Bình. Giờ đây, hy vọng rằng hoạt động kinh doanh sẽ phục hồi hoàn toàn sau khi các hạn chế kết thúc một năm trước đã tan biến, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng ghen tị của Trung Quốc đang chững lại.

Một phần khác trong số những người ra đi, là sự nhận thấy những hạn chế đối với đời sống cá nhân ở Trung Quốc, nơi Tập Cận Bình đã giám sát một cuộc đàn áp sâu rộng về tự do ngôn luận, xã hội dân sự và tôn giáo ở đất nước 1,4 tỷ dân này. “Chúng tôi là những người theo đạo Cơ đốc”, một người đàn ông trung niên ăn mặc chỉnh tề trả lời đơn giản khi được hỏi, điều gì đã dẫn anh đến đó – một khu trại trống trải cách nhà hàng ngàn dặm.

Những lời tâm tình này làm chúng ta nhớ đến hàng ngàn người Việt đang tị nạn vất vưởng ở Thái Lan, trong đó có hơn 1000 người các sắc tộc thiểu số khai trong hồ sơ nạp Cao uỷ Nhân quyền, là họ muốn được sống yên ổn với niềm tin tôn giáo của mình. Khoảng 10% những người Việt tỵ nạn ở Thái, là về vấn đề chính trị. Lý do của việc những người Việt ở đây không thể tham gia vào làn sóng di dân lậu đường bộ vào Mỹ, bởi yếu tố đầu tiên là họ không được cấp đủ giấy tờ ở quê nhà, và không đủ tiền cho một hành trình dài như vậy. Hơn nữa, các chuyến đi của họ đều bí mật và cấp bách.

CNN đã phát hiện ra thông tin về một loạt các lựa chọn và gói du lịch được tiếp thị cho những người đến từ Trung Quốc muốn thực hiện chuyến hành trình đến biên giới Mỹ. Với giá từ $9.000 đến $12.000, khách có thể trả tiền cho những kẻ buôn lậu để sắp xếp phương tiện di chuyển cho các phần của hành trình về phía bắc, cũng như một chiếc thuyền và hướng dẫn viên để băng qua rừng nhiệt đới tùy chọn, bao gồm tất cả.

Những người tị nạn chờ các nhân viên biên phòng Mỹ xét hỏi và cho vào trại tị nạn (Ảnh chụp màn hình từ CNN video)

Đối với những người có khả năng chi tiêu nhiều hơn, ít nhất là 20.000 USD, lộ trình sẽ trở nên dễ dàng hơn. Ví dụ: Trợ giúp xin thị thực nhập cảnh nhiều lần vào Nhật Bản, cho phép nhập cảnh miễn thị thực vào Mexico và vận chuyển đến biên giới.

Hầu hết những người vào Mỹ đều làm giấy xin tị nạn chính trị và tôn giáo, nhưng xác suất thành công đang ngày càng thấp, vì số người nộp đơn mỗi lúc một nhiều. Nhưng đơn tị nạn vì tự do, là một chuyện thực tế – nhiều nhất được nhìn thấy. Một phụ nữ tên Chen nói với Reuters rằng, họ ra đi vì chồng cô bị chính quyền Trung Quốc giam giữ và đánh đập vì anh ta lên tiếng về chính trị và đi nhà thờ.

Năm 2023, Việt Nam cũng chứng kiến nhiều luật sư và trí thức trẻ chạy ra khỏi nước, tị nạn để tìm sự an toàn chính trị cá nhân. Sau khi ra đi, một luật sư nói ông không cảm thấy yên ổn hành nghề trong nước, và bản thân mình có thể bị bắt bất cứ giờ nào.

(Tổng hợp từ CNN, Reuters… và các số liệu của chính phủ Mỹ)


 

Nếu ông Trọng chết thì…

Nếu ông Trọng chết thì…

Ba’o Nguoi-Viet

January 12, 2024

Hiếu Chân/Người Việt

Tin đồn ông Nguyễn Phú Trọng, ổng bí thư đảng CSVN, đã hôn mê, đang thoi thóp trong bệnh viện, thậm chí đã chết, rộ lên khắp nước hiện nay dù guồng máy tuyên truyền hùng hậu của đảng hết sức kín tiếng. Cái chết của ông Trọng, nếu tin đồn là đúng, báo hiệu điều gì?

Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: Luong Thai Linh/Pool/AFP via Getty Images)

Hãng tin Reuters và trang VOA ngày 12 Tháng Giêng chỉ đưa vắn tắt “Lãnh đạo đảng của Việt Nam dự kiến không tiếp quốc khách giữa lúc có lo ngại về sức khỏe.” Trang tin tài chính Bloomberg nói rõ hơn là ông Trọng được đưa vào bệnh viện đầu tuần này vì một căn bệnh chưa rõ, và trung ương đảng phải hủy một cuộc họp trong tuần này, theo tin từ hai cán bộ ẩn danh biết chuyện.

Trên trang Tiếng Dân, cây bút Lê Văn Đoành, người nhiều lần đưa tin khá chính xác về những sự kiện thâm cung bí sử ở Hà Nội, cho biết ông Trọng bị hôn mê, được chẩn đoán bị nhồi máu não (stroke) ở bán cầu não bên phải và đang nằm trong phòng hồi sức cấp cứu (ICU) khu A2, tầng 11 của bệnh viện Quân Y 108 ở Hà Nội. Tất cả các lối đi, hành lang, thang máy đến nơi ông nằm đều bị phong toả. Nếu tin này đúng thì đây là lần thứ ba ông Trọng bị xuất huyết não.

Vì sao có tin đồn ông Trọng chết?

Trên các mạng xã hội, người dân bàn tán khá sôi nổi tin đồn về sức khỏe của ông Trọng, nổi bật nhất là nỗi vui mừng, hân hoan không thèm che giấu. Người người rủ nhau mua bia “uống mừng quốc tang,” kêu gọi nhau “ai có bia uống bia, ai có rượu đế dùng rượu đế…” thật rôm rả. Blogger Bùi Thanh Hiếu, tức Người Buôn Gió, sơ kết trên trang Facebook của ông: “Sau hai tiếng [đăng tin ông Trọng nằm bệnh viện] có hơn 5,000 người thả cảm xúc, trong đó có khoảng 3,500 người thích, khoảng 1,500 người thả mặt cười, hơn 120 người giận, chỉ có tám người thả nước mắt.” Một cây bút trong nước châm chọc: “Chẳng biết lãnh đạo xứ Đông Lào ăn ở ra làm sao mà cứ ai ốm, ai bệnh, là dân tình rần rần, hoan hỉ cứ như ai cũng trúng Vietlott vậy, cứ thấy ‘bác’ nào ở trung ương được cáo phó trên báo lại thi nhau thả mặt cười. Xứ gì mà dân tình đểu thế. Mà cũng phải nghĩ lại, mình ăn ở sao thì dân mới thế, phỏng?”

Chuyện người dân bàn tán về cái chết, nếu có, của ông Trọng không phải là lạ. Đảng CSVN quy định thông tin về sức khoẻ của lãnh đạo là “bí mật quốc gia,” các thông tin đó bị giấu như mèo giấu cứt, công chúng không có cách nào biết được sự thật. Trong hoàn cảnh người dân hầu như không còn tin vào hệ thống báo đài của đảng thì tin đồn truyền miệng ở các quán nhậu, quán cà phê và trên mạng Facebook, gọi chung là “thông tấn xã vỉa hè,” có sức mạnh lan tỏa đáng kể.

Có những cơ sở khiến cho người ta tin rằng ông Trọng đã qua đời. Ông không xuất hiện trước công chúng kể từ ngày 26 Tháng Mười Hai, 2023, sau khi phát biểu tại đại hội đại biểu Hội Nông Dân Việt Nam và tiếp ông Shii Kazuo, chủ tịch Đoàn Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Nhật. Ông không dự hội nghị đầu năm giữa chính phủ và chính quyền địa phương cả nước để hoạch định những công tác lớn năm 2024. Đặc biệt, trái với thông lệ, ông Trọng đã không tiếp Thủ Tướng Sonexay Siphandone của Lào và Tổng Thống Joko Widodo của Indonedia, đang viếng thăm Hà Nội với nhiều nội dung quan trọng về hợp tác song phương và khu vực Biển Đông.

Ông Nguyễn Phú Trọng, 79 tuổi, làm tổng bí thư ba nhiệm kỳ liên tiếp bất chấp điều lệ đảng. Là một nhà lý luận giáo điều về “xây dựng đảng,” tâm nguyện của ông là làm sao phục hồi vai trò lãnh đạo toàn diện của đảng CSVN trong mọi phương diện của đời sống xã hội, từ chính trị đến kinh tế và văn hoá, giống như đàn anh của ông là Chủ Tịch Tập Cận Bình đang làm bên Trung Quốc. Để thực hiện tâm nguyện đó, ông Trọng một mặt ra sức tiêu diệt bất cứ ai có ý đồ phản kháng như vụ Đồng Tâm, đàn áp dã man những tiếng nói đòi dân chủ nhân quyền, đập tan các tổ chức xã hội dân sự dù đó là những tổ chức vận động cho môi trường hoặc chống âm mưu xâm lược của Trung Quốc. Mặt khác, ông phát động công cuộc “đốt lò” – trừng trị các quan chức tham nhũng, các tập đoàn công ty cá mập để “làm trong sạch bộ máy,” thực chất là loại trừ những phe phái không cùng phe với ông. Ngoài “xây dựng, chỉnh đốn đảng,” ông Trọng hầu như không có viễn kiến nào về điều hành kinh tế xã hội trong một thế giới đầy biến động về địa chính trị và công nghệ, ngoại trừ sao chép những chính sách của Trung Quốc.

Ai sẽ thay ông Trọng?

Chuyện ông Trọng còn thoi thóp hay đã chết buộc người ta phải nghĩ tới những tình huống sắp tới: Ai sẽ thay ông? Cái chết của người đứng đầu đảng CSVN sẽ có ảnh hưởng như thế nào tới thời cuộc, có báo hiệu một sự thay đổi nào đó trong vận mệnh đất nước hay không?

Dư luận của giới thạo tin trong nước đồn rằng, người thay thế ông sẽ là Bộ Trưởng Công An Tô Lâm – người nổi tiếng với “scandal” “ăn thịt bò dát vàng.” So với các nhân vật còn lại trong “tứ trụ” như Chủ Tịch Nước Võ Văn Thưởng, Thủ Tướng Phạm Minh Chính, và Chủ Tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ, ông Lâm có nhiều lợi thế hơn hẳn. Trong cả hai “sự nghiệp” kể trên, ông Trọng hầu như đều dựa vào “thanh kiếm và lá chắn” là Bộ Công An. Trong 10 năm trở lại đây, công an Việt Nam đã trở thành một thế lực đáng sợ trùm lên mọi mặt cuộc sống của người dân và giới chức, làm nhiều chuyện càn rỡ tai hại cho quốc gia mà không ai dám phản kháng, một chế độ công an trị. Ông Thưởng thì chưa đủ tiêu chuẩn ngồi vào ghế tổng bí thư. Ông Chính thì có nhiều vấn đề trong thời kỳ lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh và bao che cho tập đoàn AIC của kẻ đào tẩu Nguyễn Thị Thanh Nhàn. Tội lỗi của ông Huệ trong thời gian làm phó thủ tướng và lối sống sa đọa chắc chắn đều đã có hồ sơ dày cộm ở Bộ Công An, nghĩa là đường quan lộ của ông Chính và ông Huệ tùy thuộc vào ông Lâm nên chắc chắn sẽ không dám cạnh tranh chiếc ghế quyền lực nhất mà ông Trọng để lại. Vụ ngã ngựa của ba ông Nguyễn Xuân Phúc (chủ tịch nước), Phạm Bình Minh (phó thủ tướng thường trực), và Vũ Đức Đam (phó thủ tướng) giáp Tết năm ngoái để lại vết xe mà ông Chính và ông Huệ sẽ không dám đi vào.

Ông Lâm cũng được cho là người được Bắc Kinh hậu thuẫn. Chỉ vài hôm trước, ngày 10 Tháng Giêng, trong cuộc gặp ông Trần Tư Nguyên, thứ trưởng Bộ Công An Trung Quốc, tại Hà Nội, ông Tô Lâm đã đề nghị lãnh đạo Bộ Công An Trung Quốc giúp đỡ về lý luận và thực tiễn trong việc duy trì vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giới lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN đều hết lòng thần phục Trung Quốc nhưng chưa ai công khai kêu gọi Bắc Kinh hỗ trợ để bảo vệ chế độ như ông Tô Lâm.

Giáp Tết năm ngoái, có tin ông Tô Lâm từ chối chiếc ghế chủ tịch nước mà ông Nguyễn Xuân Phúc để lại. Khi đó đã có nhận định ông Lâm nấn ná chờ thời thay thế “tổng” Trọng chứ không muốn làm chủ tịch nước hữu danh vô thực, nặng phần nghi lễ mà không có quyền hành.

Tình hình sẽ càng xấu hơn?

Xã hội Việt Nam đang rất ngột ngạt vì guồng máy cai trị mục ruỗng vì tham nhũng, kinh tế đình đốn vì chính sách sai lầm lạc hậu, văn hoá băng hoại vì giá trị đạo đức luân lý bị đảo lộn tận gốc.

Bất cứ ai thao thức với vận mệnh đất nước, với tương lai của quê hương xứ sở, đều mong mỏi một ngày đảng Cộng Sản từ bỏ tham vọng quyền lực, thực hành dân chủ và trả lại quyền tự do cho dân, hòa nhịp với văn minh của nhân loại. Thậm chí khi có tin ông Trọng hôn mê, bà Đặng Bích Phương trong nước lên mạng Facebook tiếc nuối “ bác Trọng mà đi thật, thì cơ hội cuối cùng bác lập công chuộc tội với dân tộc, là tuyên bố giải tán đcs – vĩnh viễn ko còn nữa!”

Ông Dương Quốc Chính, một nhà bình luận chính trị trong nước, cho rằng cái chết của lãnh tụ chuyên chế có khả năng dẫn tới sự thay đổi lớn và dẫn chứng từ những sự thay đổi ở Liên Xô, Trung Quốc, và Việt Nam sau cái chết của Stalin, Mao Trạch Đông, Lê Duẩn, với hàm ý cái chết của Nguyễn Phú Trọng hiện nay cũng có khả năng mang lại sự thay đổi. “Lãnh tụ càng quyền lực thì khả năng [thay đổi] đó càng cao,” ông Chính nhận định trên trang Tiếng Dân.

Tôi không nghĩ như vậy.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng là một người cộng sản, một nhà độc tài tham quyền cố vị, nhưng ông ấy chưa đủ trình độ chuyên chế khát máu như các lãnh tụ cộng sản tiền bối, chưa tạo được một “tôn giáo” tôn sùng lãnh tụ như Stalin hay Mao. Cái chết của ông Trọng chắc sẽ mang lại một sự thay đổi nào đó nhưng sẽ không có thay đổi lớn, và tình hình sẽ xấu hơn nhiều nếu người lên thay ông Trọng là viên tướng công an Tô Lâm – kẻ thù của các nỗ lực vận động dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước.

Ông Trọng còn sống hay đã chết xem ra không quan trọng. Guồng máy cai trị của đảng CSVN vẫn sẽ được vận hành theo kiểu độc tài chuyên chế, “vũ như cẩn,” dưới cái bóng của Cộng Sản Trung Quốc, trong hoàn cảnh hoàn toàn thiếu vắng các tiếng nói phản biện, các cơ chế kiểm soát quyền lực. [đ.d.]