Chúng Ta Có Đang Sống Trong Thời Đại Bách Hại Đức Tin?

Nhà thờ Ethiopia

Các tín đồ Chính thống giáo cầu nguyện tại Nhà thờ Chúa Ba Ngôi ở Addis Ababa, Ethiopia [Ảnh: Michael Tewelde/AFP]

Vụ sát hại hàng chục tín đồ Chính thống giáo tại vùng Oromia của Ethiopia một lần nữa khiến thế giới phải suy ngẫm về một thực tế đau lòng: bách hại tôn giáo không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà vẫn đang diễn ra trong thời đại hiện nay.

Theo các lãnh đạo Giáo hội Chính thống Tewahedo Ethiopia, ít nhất 60 tín hữu đã thiệt mạng, nhiều người khác bị thương và nhà cửa bị đốt phá trong các cuộc tấn công liên tiếp. Những con số đó không chỉ phản ánh tổn thất về sinh mạng mà còn cho thấy nỗi sợ hãi, đau khổ và bất an mà nhiều cộng đồng tôn giáo đang phải đối mặt.  No photo description available.

 

Hồi tháng 7 năm 2026 cũng đã xảy ra một vụ tấn công khác.

Vụ tấn công bằng máy bay không người lái gây chết nhiều người vào Tu viện Thánh Arsema ở Ethiopia, Giáo hội mô tả đây là một cuộc tấn công kinh hoàng nhằm vào các tín đồ Chính thống giáo. Theo tuyên bố, vụ tấn công xảy ra vào ngày 22 tháng 7 năm 2026, trong lúc cử hành Thánh lễ, khiến sáu linh mục và hai nữ tu thiệt mạng. Vụ tấn công cũng làm bị thương nặng một số phụ nữ địa phương đang phục vụ tại tu viện và gây ra sự tàn phá trên diện rộng cho khu phức hợp tu viện, bao gồm cả nhà thờ.

Hội đồng đã kêu gọi chấm dứt ngay lập tức bạo lực nhắm vào các tín đồ Chính thống giáo ở Ethiopia và kêu gọi các nhà lãnh đạo tôn giáo và dân sự trên toàn thế giới cầu nguyện cho hòa bình và lên tiếng chống lại sự đàn áp đang diễn ra.

Nguồn: Hội đồng Thường trực các Giáo hội Chính thống Đông phương (Tuyên bố chính thức trên Facebook)

 

 

Nhiều người thường cho rằng thế kỷ XXI là thời đại của văn minh, khoa học và nhân quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở nhiều nơi trên thế giới, con người vẫn bị đe dọa, kỳ thị, thậm chí bị giết hại chỉ vì đức tin của mình. 

Những bi kịch như tại Ethiopia nhắc nhở rằng hòa bình, sự tôn trọng khác biệt và quyền tự do tín ngưỡng không phải là điều hiển nhiên. Chúng cần được bảo vệ bằng trách nhiệm, lòng khoan dung và sự lên tiếng của toàn xã hội.

Sự kiện này làm chúng ta liên tưởng đến vô số các chứng nhân anh hùng tử đạo tiên khởi, thời Văn Thân ở Việt Nam. Đồng thời liên đới chia sẻ nỗi đau và cầu nguyện cho Giáo Hội Phương Đông ở Ethopia, Phi Châu

Reuters nhận định bong bóng AI ở Trung Quốc bắt đầu vỡ

Bài viết do nhóm thị trường châu Á của Reuters thực hiện. Bổ sung thông tin từ Gregor Stuart Hunter tại Singapore. Biên soạn bởi Tom Westbrook, Kevin Buckland

FILE PHOTO: Unitree G1 Humanoid Robots dance during an uveiling event to announce new services by GMO AI & Robotics Corporation (GMO AIR) in Tokyo, Japan, September 8, 2026. REUTERS/Issei Kato/ File Photo

Trong khi cổ phiếu công nghệ toàn cầu đang chao đảo, tại Trung Quốc, chúng đã lao dốc khi định giá cao ngất ngưởng sụp đổ do lo ngại về nhu cầu AI và các hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc.

Sự sụp đổ này, khiến chỉ số STAR50 của các công ty hàng đầu về trí tuệ nhân tạo và bán dẫn trên thị trường Trung Quốc giảm 40% trong vòng chưa đầy bốn tháng và làm bốc hơi khoảng 480 tỷ đô la giá trị thị trường.

Kể Đi Tìm nhận định:

Trong khi các tổ chức tài chính phương Tây như Goldman Sachs duy trì góc nhìn lý thuyết khi khuyến nghị “mua vào” dựa trên kỳ vọng về các gói hỗ trợ của chính phủ, thực tế thị trường và góc nhìn của giới đầu tư trong nước lại chỉ ra một sự thật trái ngược: Bong bóng định giá P/E xấp xỉ 100 lần của công nghệ Trung Quốc là không thể cứu vãn chỉ bằng tiền.

Sự khác biệt cốt lõi nằm ở bản chất của nghành Trí tuệ nhân tạo (AI). Nếu như với EV, Trung Quốc thành công nhờ làm chủ tài nguyên đất hiếm, chuỗi cung ứng pin và quy mô sản xuất công nghiệp, thì ngành AI và bán dẫn lại là bài toán thuộc về rào cản khoa học cơ bản và độc quyền công nghệ toàn cầu. Các lệnh cấm vận của Mỹ đối với dòng chip cao cấp NVIDIA cùng việc ASML ngừng cung cấp máy quang khắc EUV đã tạo ra một “nút thắt cổ chai” vật lý không thể vượt qua trong ngắn hạn.

TRÍ TUỆ AI ĐANG THAY THẾ CON NGƯỜI – LÀN SÓNG SA THẢI TIẾP TỤC GIA TĂNG

Trong lịch sử phát triển kinh tế, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động. Nếu máy hơi nước thay thế sức lao động chân tay, máy tính thay thế nhiều công việc hành chính, 

thì ngày nay trí tuệ nhân tạo (AI) đang nổi lên như một làn sóng mới có khả năng thay thế cả những công việc đòi hỏi tư duy và tri thức. 

Yahoo News

Hôm thứ Hai 26-10-2026, Microsoft ( MSFT ) thông báo rằng họ đang đề nghị chương trình tự nguyện nghỉ việc cho khoảng 60.000 nhân viên nhằm tái cấu trúc tổ chức của mình cho kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.

Theo các nguồn tin, công ty đang chào mời các nhân viên ở Canada, Ấn Độ, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ ở cấp bậc lương hạng 70 trở xuống, bao gồm cả một số nhân viên cấp cao xin nghỉ việc để lãnh gói phụ cấp từ 8 đến 39 tuần lương.

Trong năm 2026 đã có ba đợt sa thải lớn bao gồm đợt sa thải nhân viên của bộ phận Xbox, thiết kế game, đợt khuyến nghị về hưu non vào tháng 5-2026 cho  9000 nhân viên, và chương trình tình nguyện nghỉ việc công bố hôm nay, 26-10-206, cho 60000 viên chức.

Thay vì chống lại công nghệ AI, con người cần chủ động thích nghi, phát triển những kỹ năng sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng giao tiếp, những lĩnh vực mà AI vẫn khó có thể thay thế hoàn toàn nhưng có thể làm một phụ tá giỏi giang. 

Chính phủ và Công ty cần phối hợp hành động biến AI thành công cụ hữu dụng nhưng không được kiểm soát hay thay thế con người. Chúng không được đánh lừa hay qua mặt con người.

AI cần dành cho hết mọi người, không chỉ riêng người có lợi thế. Trên trường quốc tế cần gia tăng phương cách tiếp cận AI cho các nước nghèo, kém phát triển được có cơ hội thăng hoa nhờ sự góp sức của AI trong tính toán, lập kế hoạch và vận hành.

Lời Thức Tỉnh Từ British Columbia: Chính sách mị dân cho con nghiện chích choác tự do, cho cướp phá hôi của đã hết thời

Cuộc bầu cử tại tỉnh bang British Columbia, Canada vào tháng 10 năm 2026 đã ghi dấu một bước ngoặt lịch sử khi Đảng Bảo thủ giành chiến thắng đa số và áp đảo, kết thúc gần một thập kỷ cầm quyền của Đảng Tân dân chủ (NDP). 

Sự thay đổi diện mạo chính trị lớn này không chỉ đơn thuần là kết quả của một cuộc bỏ phiếu thông thường, mà còn là sự bộc phát từ những bức xúc dồn nén của cử tri trước các chính sách y tế và xã hội gây ra nhiều tranh cãi.

Con Đường Dễ Dãi Và Con Đường Hẹp

Nhìn lại toàn bộ quá trình thực thi chính sách phi tội phạm hóa và cung cấp chất gây nghiện tự do, người ta nhận ra một bài học sâu sắc về nhân sinh và quản trị xã hội. Lời Kinh Thánh từng nhắc nhở:

“Hãy vào cửa hẹp; vì cửa rộng và đường khoảng-khoát dẫn đến sự hư-mất, kẻ vào đó nhiều lắm. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ tìm thấy thì ít.”

— Ma-thi-ơ 7:13-14

Chính sách nới lỏng và cung cấp chất kích thích giống như một “con đường rộng rãi, dễ dãi” — đưa ra giải pháp ngắt ngọn ngắn hạn nhưng để lại hậu quả dài hạn là sự tàn phá thể xác, tinh thần và trật tự xã hội. Ngược lại, con đường phục hồi, cai nghiện triệt để và giữ vững kỷ cương tuy là “con đường chật, cửa hẹp” đầy gian khổ, đòi hỏi nỗ lực kiên trì của cả cá nhân lẫn cộng đồng, nhưng đó mới là con đường duy nhất dẫn đến sự phục hồi và sự sống chân chính.

2. Sự Thất Bại Của Chính Sách “Cung Cấp An Toàn” Và Nỗi Đau Xã Hội

Tại B.C., chính sách thí điểm từng được kỳ vọng mang tính nhân văn đã nhanh chóng bộc lộ những mặt tối. Việc sử dụng ma túy công khai xuất hiện khắp các công viên, trạm xe buýt và khu thương mại. Tình trạng tuồn thuốc ra thị trường tự do (diversion) cùng sự bùng nổ của độc tố fentanyl đã gia tăng áp lực đè nặng lên hệ thống y tế khẩn cấp, lực lượng cảnh sát và đời sống người dân.

OPINION: Opioid deaths hit record high, again, as governments dither ...

Thay vì giúp người nghiện thoát khỏi cạm bẫy, việc bình thường hóa chất gây nghiện vô hình trung duy trì sự phụ thuộc, làm xói mòn trách nhiệm cá nhân và đe dọa an toàn của con trẻ.

Canada’s fix to the opioid crisis: Vending machines that distribute ...

3. Khôi Phục Hình Ảnh Một Canada Thịnh Vượng Và Văn Minh

Trong nhiều thập kỷ, Canada — và đặc biệt là British Columbia — luôn là biểu tượng toàn cầu về sự an toàn, văn minh, phát triển kinh tế thịnh vượng và chất lượng cuộc sống cao. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa khủng hoảng nghiện ngập, chi phí sinh hoạt đắt đỏ và tình trạng mất an ninh trật tự đã làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh ấy.

Cảm nhận chung của cử tri B.C. trong cuộc bầu cử này là mong muốn quyết liệt từ bỏ con đường dễ dãi gây hại, khôi phục lại các giá trị cốt lõi: một cộng đồng an toàn, sự nghiêm minh của pháp luật, và hệ thống hỗ trợ dựa trên sự chữa lành và cai nghiện thực sự.

Vancouver One of Best City in The World - Gets Ready

4. Hướng Đi Cho Tương Lai

Kết quả bầu cử phản ánh thông điệp rõ ràng từ người dân B.C. đòi hỏi một định hướng mới:

  • Tái thiết An ninh Công cộng: Chấm dứt tình trạng sử dụng ma túy tràn lan nơi công cộng, bảo vệ không gian sống của gia đình và cộng đồng.

  • Tập trung vào Phục hồi & Điều trị: Chuyển ngân sách sang mở rộng các trung tâm cai nghiện, giường điều trị tâm lý và chương trình tái hòa nhập xã hội.

Teen Alcohol And Drug Rehab Centers

  • Tái thiết Thịnh vượng: Cắt giảm thủ tục hành chính, thúc đẩy kinh tế để khôi phục lại chất lượng cuộc sống vốn có.

NHÀ KHOA HỌC CÓ CHỈ SỐ THÔNG MINH, IQ 276 VÀ CÂU HỎI LỚN NHẤT: THIÊN CHÚA CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Bình luận của Phan Sinh Trần cùng với  sự tổng hợp cua AI Gemini và Copilot

Khi một người bình thường nói về Thiên Chúa, thì đó thường chỉ được xem là quan điểm cá nhân. Nhưng khi người đưa ra nhận định ấy là YoungHoon Kim, nhà khoa học Hàn Quốc được nhiều tổ chức ghi nhận là người có chỉ số IQ cao nhất thế giới hiện nay với IQ 276, câu chuyện lập tức thu hút sự chú ý trên toàn cầu. 

 
“Thiên Chúa có thật 100% và Chúa Giêsu là Thiên Chúa.”    

Kim Hoon Young

Ngoài thành tích đạt điểm tuyệt đối trong nhiều bài kiểm tra trí tuệ, Kim còn giữ nhiều vai trò trong các tổ chức quốc tế về trí nhớ, tư duy và trí tuệ nhân tạo. Ông cũng sở hữu bằng thần học của Yonsei University và từng gọi thần học là “ngành học tối hậu của mọi lĩnh vực nghiên cứu“.

Năm 2025, ông công khai tuyên bố, “God is real 100% and Jesus is God.” Ông còn tiếp tục khẳng định, “Christ is my logic –  Đức Kitô là luận lý của tôi”.

Điều đáng chú ý là Kim không xem đức tin như sự đối lập với khoa học. Trái lại, ông cho rằng chính hành trình tìm kiếm chân lý bằng khoa học đã đưa ông đến những câu hỏi vượt khỏi giới hạn của khoa học hiện tại.

Ý thức con người có kết thúc sau cái chết?

Theo ông, khoa học vẫn chưa giải thích đầy đủ bản chất của ý thức. Chúng ta có thể quan sát hoạt động của não bộ, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu tại sao con người lại có trải nghiệm chủ quan, cảm xúc, nhận thức về bản thân và ý niệm về cái tôi.

“Ý thức không chỉ là hoạt động của não bộ mà còn là điều gì đó sâu sắc hơn”.

Dựa trên các khái niệm trong vật lý lượng tử và lý thuyết thông tin, Kim nêu giả thuyết rằng nếu thông tin không thực sự biến mất mà chỉ chuyển đổi trạng thái, thì ý thức có thể tiếp tục tồn tại theo một hình thức nào đó sau khi cơ thể vật lý chấm dứt.

“Cái chết không phải là sự hủy diệt mà là một sự chuyển tiếp.” 

DNA, sự sống và câu hỏi về Đấng Thiết Kế

Kim và nhiều người có đức tin không phủ nhận tiến hóa.

Họ chấp nhận rằng, có đột biến gene xảy ra, chọn lọc tự nhiên có thể đang diễn ra và Sinh vật luôn thích nghi với môi trường, sự sống thay đổi qua thời gian.

Đó đều là những quan sát khoa học đã được xác lập. Nhưng họ đặt thêm một câu hỏi khác:

Ai tạo ra hệ thống có khả năng tự vận hành kỳ diệu như vậy?

Nếu DNA là một hệ thống lưu trữ thông tin tinh vi bậc nhất mà con người từng biết đến, thì nguồn gốc của hệ thống đó do đâu?

Artificial Intelligence Catalyzes Gene Activation Research and Uncovers ...

Nếu DNA của mỗi con người là  độc nhất trong số hàng tỷ con người trên hành tinh, bộ óc siêu việt nào đã tạo ra một cơ chế có thể liên tục sáng tạo vô số biến thể khác nhau trong cùng một dạng sự sống?

Vẻ đẹp của vũ trụ có ý nghĩa gì?

Đối với người có đức tin, vẻ đẹp không chỉ là sản phẩm của vật chất mà còn là dấu vết để lại cho đời của một Đấng Sáng Thế vô cùng tài giỏi, một nghệ sĩ tạo tác vô cùng trác tuyệt.

 

 

Có người nhìn qua kính hiển vi và thấy phân tử.

Có người nhìn qua kính thiên văn và thấy các thiên hà.

Có người nghiên cứu DNA và thấy các chuỗi gene.

 

YoungHoon Kim, đặt ra vẫn là một câu hỏi sâu sắc nhất của nhân loại:

Nếu vũ trụ là một cỗ máy phi thường, liệu nó chỉ đơn thuần tự xuất hiện, hay đằng sau nó tồn tại một Đấng Sáng Tạo vượt ngoài hiểu biết hiện tại của chúng ta? 

 

 

 

Tâm sự của Ông Cố Truyền Giáo Ngô Phúc Hậu

CUỘC ĐỜI TRUYỀN GIÁO Ở NĂM CĂN, CÀ MAU, … KHÓ KHĂN CỠ NÀO MÀ ĐỨC GIÁM MỤC KHÔNG NỠ BÀI SAI CHA NÀO. “NHẬT KÝ TRUYỀN GIÁO” SẼ CÓ CÂU TRẢ LỜI.

NHẬT KÝ TRUYỀN GIÁO

tập hợp những ghi chép, suy tư và câu chuyện có thật trong gần 40 năm truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu tại vùng sông nước Cà Mau, Năm Căn, Cái Rắn và nhiều nơi nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ

 
Cha Hậu kể lại hành trình sống giữa người dân nghèo, cùng họ vượt qua đói nghèo, thiên tai, bệnh tật và những khó khăn đời thường.

Muốn truyền giáo hiệu quả phải yêu thương con người thật sự, hiểu hoàn cảnh của họ và tôn trọng những giá trị tốt đẹp trong văn hóa của họ.

“Nhật Ký Truyền Giáo” là câu chuyện về một linh mục sống giữa dân nghèo miền Tây, dùng tình yêu, sự thấu hiểu và phục vụ để loan báo Tin Mừng hơn là dùng lời giảng dạy

Theo nhiều độc giả Công giáo, đây được xem là tác phẩm sâu sắc nhất của Cha Piô Ngô Phúc Hậu vì nó phản ánh chân thực kinh nghiệm truyền giáo thực địa và tư tưởng canh tân của ngài. [tgpsaigon.net], [tusachnuocman.com]

Nhiều người vỗ tay khen cuốn sách, nhưng điều quan trọng hơn là có bao nhiêu người thật sự lắng nghe và đem những thao thức truyền giáo đó vào đời sống thực tế.

“Viết Cho Em” của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu là tuyển tập gồm 68 câu chuyện và thư tâm tình dành cho người trẻ, các bậc cha mẹ và những người đang đối diện với khó khăn trong cuộc sống
Mỗi bài viết bắt đầu từ một câu chuyện đời thường: gia đình, tình yêu, học hành, nghề nghiệp, lòng hiếu thảo, đức tin, thất bại và thành công.

Đại Dũng và Vingroup: Hai Con Đường Phát Triển Doanh Nghiệp Đối Lập tại Việt Nam XHCN

Bài của Copilot AI và Phan Sinh Trần

Trong các ngành công nghiệp cực khó như ô tô, hàng không, chip bán dẫn hay robot hình người, thương hiệu nằm ở đỉnh kim tự tháp.
Thứ quyết định thành bại  là nền móng kỹ thuật và kinh nghiệm bên dưới cái kim tự tháp. Nếu nền móng chưa đủ dày, càng xây cao càng dễ đổ. Đây là lý do nhiều quốc gia phải mất 20-50 năm tích lũy năng lực kỹ thuật trước khi xuất hiện các thương hiệu công nghiệp hàng đầu thế giới.
Điều tất nhiên tại  Việt Nam XHCN mà ai cũng biết, đó là, các công ty còn phải thêm vào các quan hệ lợi ích nhóm,  sự quen biết,  quan hệ với các tứ trụ triều đại Cộng Sản, biết cách hối lộ mạnh và đúng nơi, đúng mức. Trong đó, phải kể Đại Dũng CEO gốc từ sĩ quan Công An, Vin Group gốc cán bộ du học và CEO có quan hệ với Tổng Bí Thư và Bộ Trưởng Công An .

Cách làm của công ty Đại Dũng

Công Trình tiêu biểu

Đại Dũng công bố đạt nhiều chứng chỉ quốc tế quan trọng để đủ điều kiện tham gia như là một nhà thầu phụ cho các dự án tổng thầu quốc tế của các tập đoàn lớn tại Mỹ, châu Âu, Trung Đông và điện gió ngoài khơi.

Chứng chỉ hàn và kết cấu thép

EN 1090 (Châu Âu), ISO 3834

  • Tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng hàn.
  • Được xem là một trong những chứng nhận quan trọng nhất đối với doanh nghiệp chế tạo kết cấu thép.

EN 1090 EXC4

  • Cấp cao nhất của tiêu chuẩn EN 1090.
  • Áp dụng cho Cầu lớn, Sân vận động,Công trình đặc biệt có tải trọng lớn. Nhiều doanh nghiệp trong khu vực Đông Nam Á không đạt được cấp này.

 

Chứng chỉ của Hoa Kỳ, AISC Certification (American Institute of Steel Construction)

  • Một trong những chứng nhận danh giá nhất ngành kết cấu thép.
  • Là điều kiện để tham gia nhiều dự án thép tại Mỹ.
  • Chứng minh năng lực về Thiết kế, Chế tạo, Kiểm soát chất lượng

Chứng nhận cho điện gió ngoài khơi

Để tham gia các dự án điện gió ngoài khơi tại Đài Loan, Châu Âu, Trung Đông. Doanh nghiệp thường phải đáp ứng thêm các yêu cầu và đánh giá của DNV (Na Uy), Lloyd’s Register (Anh), Bureau Veritas (Pháp)

Cách làm của TSMC, NVDIA, Samsung, Toyota

Trong thực tế kinh doanh tại Việt Nam, nguồn lực chính trị, mối quan hệ với bộ máy quản lý, chính sách ưu đãi đất đai, thủ tục cấp phép… đóng vai trò rất lớn trong việc giúp doanh nghiệp tích tụ vốn ban đầu hoặc mở rộng quy mô nhanh chóng.

Kỹ thuật cuối tuần: Roadster Xe lượn bổng trên cao của Tesla vừa ra mắt

Xe có thể nhảy lượn qua chướng ngại vật đang lúc chạy nhanh

Bộ đẩy khí nén (kỹ thuật của SpaceX) bên trong Tesla Roadster được thiết kế chủ yếu để tăng tốc bứt phá (0–100 km/h dưới 1 giây) và hỗ trợ ôm khúc cua ở tốc độ cao

Các bộ đẩy hướng  có thể phụt khí nén mạnh để ép chặt bánh xe vào mặt đường, bất kể xe đang ở tư thế nào (nghiêng, thẳng đứng, hay lộn ngược đỉnh đầu).

Những thách thức thực tế

Mặc dù đúng về mặt lý thuyết vật lý, việc triển khai xe lượn trong thực tế vẫn gặp các rào cản lớn:

  • Thời gian hoạt động của bình khí nén: Các bình nén khí carbon tổng hợp (COPV) chỉ chứa đủ không khí nén cho vài giây xả lực cực đại. Do đó, xe chỉ có thể đi qua các đường cong/vòng lặp ngắn chứ không thể chạy liên tục trên một trần nhà hay đường cong thẳng đứng kéo dài quá xa.

 

  • Yêu cầu về bề mặt đường: Bề mặt đường cong phải chịu được lực ép khổng lồ (kết hợp giữa trọng lượng xe, lực nén của bộ đẩy và lực ly tâm) mà không bị sụt lún hay hư hỏng.

 

  • Giới hạn chịu đựng của con người: Gia tốc sinh ra khi đi qua đường cong thẳng đứng kết hợp với lực đẩy có thể tạo ra trọng  lực  gravity rất cao, gây hiện tượng ngất xỉu (blackout) cho người lái nếu không có đồ bảo hộ chuyên dụng.

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: Các Câu Chuyện hay của Cha Lê Quang Uy

Bài của AI Gemini.

1. Phép lạ khởi đi từ lòng tin kiên trung và sự hiệp thông cầu nguyện
Một trong những điểm then chốt trong các câu chuyện phép lạ được Cha Lê Quang Uy chia sẻ là vai trò của đức tin sống động và lời cầu nguyện kiên trì.

Ví dụ điển hình qua câu chuyện “Phép lạ trong mùa Covid”, giữa tâm dịch Vũ Hán nghiệt ngã, khi mọi giải pháp y tế và con người dường như bất lực trước nguy cơ bị cách ly và cái chết, lời cầu nguyện đơn sơ nhưng trọn niềm phó thác của người con dâu Công giáo đã làm thay đổi toàn bộ cục diện.

Câu chuyện xảy ra vào tháng 05/2020 tại Vũ Hán (Trung Quốc) trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát dữ dội. Một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hoa,  làm dâu hơn 10 năm tại Trung Quốc, bà bị ngăn cấm không được phép công khai thể hiện đức tin Công giáo hay làm dấu thánh giá trong nhà để gia đình khỏi bị chính quyền làm khó. Đến một ngày nọ trong dịch Covid, cả gia đình chồng bị sốt cao, ho khan, nằm la liệt. Hàng xóm phát hiện gia đình có triệu chứng nên họ đã báo công an đến kiểm tra cưỡng chế đưa đi cách ly 

    • Sự can thiệp thiêng liêng:

Chị con dâu Việt Nam liền vội làm một cây thánh giá đơn sơ treo lên tường, lấy tràng hạt Mẫu Mơ ( tràng hạt Mân Côi) và kêu gọi cả nhà cùng quỳ xuống cầu nguyện. Đến nước cùng trước cái chết tuyệt vọng, cả gia đình chồng (vốn không theo đạo) đã đồng lòng quỳ xuống hướng về Thánh Giá cầu nguyện. Đến khi lực lượng công an xông vào đo nhiệt độ từng người, dù trước đó mọi người đang sốt cao vật vã, kết quả đo lại hoàn toàn bình thường. Công an xác nhận không ai có triệu chứng và họ rời đi khỏi nhà. Sau sự kiện này, cả gia đình chồng phục hồi sức khỏe hoàn toàn. Người chồng tự tay treo lại cây Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trang trọng trên tường, anh cũng đồng ý cho các con học đạo và chịu phép rửa tội.

2. Lời cầu nguyện gắn liền với sự chữa lành và biến đổi tâm hồn
Phép lạ không dừng lại ở sự chữa lành thể xác (như thoát khỏi bệnh tật hay tai ngộ), mà quan trọng hơn là phép lạ của sự biến đổi tâm hồn: Chữa lành mối quan hệ gia đình, sự trở lại của những tâm hồn xa Chúa: 

3. Phương thế cầu nguyện: Chuỗi Mẫu Mơ  (Mân Côi) và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Điểm đặc trưng trong linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế mà Cha Lê Quang Uy theo đuổi là việc cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Chuỗi Mẫu Mơ (Kinh Mân Côi), nhịp cầu nối kết trái tim con người với Trái Tim Mẫu Tâm của Mẹ.

Nhắc nhở về sự hiện diện của Thiên Chúa: Trong một thế giới thực dụng và đầy biến động, phép lạ là lời nhắc nhở rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người trong cơn gian nan.


Cầu Nguyện và trao quyết định cho Chúa

Sức mạnh của Kinh Kính Mừng trong  lúc khẩn cấp

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời,  Thì hơn tin cậy ở người trần gian                                 

Giải tội cho người điên    

 

Gương Mục Tử trung tín thời bách Đạo

ĐGM chui Pham văn Dụ và tấm gương hy sinh cho chiên

Giám Mục 3 không:

  • Không tấn phông, không mũ, chờ đội trong 19 năm rồi đuọc tấn phong chui ở Tòa Giám Mục Bắc Ninh.
  • Không tòa giám mục, không văn phòng, không phụ tá, không tùy tùng. Không được phép đi xa khỏi nhà quá 5 cây số, bị công an quản chế 33 năm theo lệnh của chính quyền trung ương.
  • Không bị rũa nát thi hài sau khi qua đời được 23 năm.

Ơn Thánh:

  • Sống giữa đoàn Chiên để chăm sóc Chiên, cùng lao động như Chiên. Theo Chúa trong mọi hoàn cảnh khó khăn, đau khổ.
  • 30 năm lặn lội phục vụ trong miền núi rừngThất Khê, biên giới phía cực Bắc.
  • Đức Cha chuyên cần dậy giáo lý cho các cá nhân tín hữu trong mọi cơ hội để giữ gìn Đức Tin cho Chiên.

TIỂU SỬ ĐỨC CHA PHẠM VĂN DỤ

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
Đức cha Vinh Sơn PHẠM VĂN DỤ,
Giám mục Chính Tòa tiên khởi GP Lạng Sơn
(1960 – 1998)

Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.

Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)

Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.

Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.

Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.

Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.

Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.

Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:

“Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”

Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”

Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”

Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:

“Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.

Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”

Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”

Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)

Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.

Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.

Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:

“Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.

Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.

Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.

Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.

Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.

Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành.

Tòa Giám Mục Lạng Sơn do Đức Cha Dụ xây dựng

Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

 

[Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

Cập Nhật Bệnh Trạng Ung Thư của Đức Giáo Hoàng Leo 14

Reuters

Theo Hãng tin Reuters, Tòa thánh Vatican cho biết Giáo hoàng Leo XIV đã được phẫu thuật cắt bỏ thùy dưới của phổi phải trong ngày 13-10 và được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến phổi (lung adenocarcinoma), một dạng ung thư phổi phổ biến.

Vị giáo hoàng 71 tuổi được đưa vào Bệnh viện Gemelli ở Rome (Ý) vào hôm 13-10 để phẫu thuật cắt bỏ một khối u ở phổi được các bác sĩ phát hiện trong đợt kiểm tra sức khỏe gần đây.

Bác sĩ phẫu thuật chính của Đức Giáo hoàng, ông Stefano Margaritora, và bác sĩ riêng của ngài, ông Luigi Carbone, cho biết ca phẫu thuật kéo dài khoảng 90 phút, diễn ra thành công và không có biến chứng.

“Để điều trị triệt căn, chúng tôi đã cắt bỏ thùy dưới của phổi phải bằng kỹ thuật có hỗ trợ video” – hai bác sĩ cho biết, đồng thời nhấn mạnh mục tiêu của ca phẫu thuật là loại bỏ toàn bộ mô ung thư.

Phổi người có 5 thùy, trong đó phổi phải có ba thùy và phổi trái có hai thùy.

Một chuyên gia y tế cho biết để đánh giá tình trạng của Giáo hoàng, cần biết kích thước khối u và liệu ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết hay chưa. Vatican chưa cung cấp ngay những thông tin này.

Giáo hoàng đã tỉnh lại bình thường và đang nghỉ ngơi trong phòng bệnh. Trước đó, Vatican nói rằng Giáo hoàng dự kiến nằm viện một tuần để hồi phục và tất cả sự kiện trước công chúng của ngài đã bị hủy cho đến ngày 20-10.

 

toàn bộ phần khoanh tròn trong hình màu xanh là phần thùy dưới phải, bị cắt bỏ, nó là một mảnh khá lớn của lá phổi. Thùy dưới phổi phải chiếm khoảng 25% đến 30% tổng dung tích phổi.

Trong một phẫu thuật cắt thùy phổi tiêu chuẩn, các bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ toàn bộ thùy phổi đó chứ không chỉ cắt riêng nốt khối u nhỏ. 

Các điểm chính về thủ thuật này:

  • Độ chính xác trong phẫu thuật: Việc cắt bỏ toàn bộ thùy phổi (phẫu thuật cắt thùy) giúp đảm bảo loại bỏ sạch sẽ các rìa mô xung quanh nốt ung thư để ngăn ngừa tái phát, thay vì chỉ cắt bỏ một miếng mô nhỏ.

  • Sự bù đắp của cơ thể: Vì các thùy phổi còn lại (thùy trên phải, thùy giữa phải và cả hai thùy phổi trái) sẽ giãn nở để lấp đầy khoảng trống, hầu hết mọi người đều phục hồi tốt và duy trì được sinh hoạt bình thường sau khi lành vết thương.

Hãng tin AFP dẫn một nguồn tin từ Vatican cho biết các xét nghiệm bổ sung đang được tiến hành để xác định liệu ung thư đã di căn hay chưa.

“Dù đã có chẩn đoán, chúng ta vẫn chưa biết bệnh đang ở giai đoạn nào. Điều này rất quan trọng đối với tiên lượng và điều trị” – bác sĩ Stephen Liu, chuyên gia ung thư phổi tại Đại học Georgetown (Mỹ), cho biết.

Ông giải thích: “Nếu khối u ở phổi còn nhỏ và ung thư chưa lan đến các hạch bạch huyết, chỉ riêng phẫu thuật nhiều khả năng đã có thể chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, nếu kết quả phân tích cuối cùng cho thấy ung thư đã lan rộng hơn, điều đó đồng nghĩa với tiên lượng kém khả quan hơn”.

Các tín hữu và cộng đồng trên khắp thế giới đang hướng về Tòa thánh Vatican, gửi những lời cầu nguyện chân thành nhất cho sức khỏe và sự phục hồi nhanh chóng của Đức Giáo hoàng. Sự quan tâm và tình cảm ấm áp từ mọi nơi là nguồn động viên lớn lao trong thời gian Ngài dưỡng bệnh sau phẫu thuật.

Buôi lần hạt cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng ở nhà nguyện bênh viện Gemelli, Rô Ma.

Sau ca phẫu thuật trên, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho biết ông và vợ cùng cầu nguyện cho sức khỏe của Giáo hoàng Leo sau khi ngài được chẩn đoán mắc bệnh. “Cầu xin Chúa ban sức mạnh cho ngài” – ông Rubio viết trên mạng xã hội X.

Thủ tướng Úc Anthony Albanese cho biết ông cũng cầu nguyện cho Giáo hoàng, đồng thời gọi ngài là “tiếng nói vì hòa bình, lòng nhân ái và lý trí trong thế giới hiện đại của chúng ta”.

NGƯỜI BỊ ĐUỔI KHỎI TỔNG Y VIỆN CỘNG HOÀ NGÀY 30 THÁNG 04, 1975 ĐÃ QUA ĐỜI…

 
Nhân vật trong bức ảnh lịch sử ngày 30 Tháng Tư 1975 đã qua đời.
Tin từ Bình Phước cho hay, cựu Quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần vì những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài.
Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà sau khi VC tràn vào, đuổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang mổ giữa chừng.
Đôi mắt buồn và ngơ ngác trước sự thật quá phũ phàng của người quân nhân Võ Phùng Dương trong bức ảnh, được sử dụng nhiều trên các tờ báo nước ngoài về cuộc ngừng bắn vào buổi trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên).
Thương phế binh Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, tạ thế vào 23g45, ngày 3 Tháng Ba 2023, (hưởng thọ 69 tuổi).
Linh cữu của ông được quàn tại nhà ở thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, Bình Phước – vốn là một miếng đất của Ông chủ vườn… đã thuê mướn ông từ giai đoạn “kinh tế mới”, thương tình cho… để cất nhà.
Từ năm 1979 ông sống ở đó, trồng rau nuôi gà để mưu sinh.
Trong một phóng sự đi tìm nhân vật chứng nhân lịch sử với bức ảnh nổi tiếng, chúng tôi đã tìm đến nhà Ông và thăm hỏi, chia sẻ và thương mến một Công dân VNCH không khuất phục thời thế và cuộc đời của mình.
(Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
Lúc đó, nhắc về nguyên cớ của việc có bức hình này… Ông Dương kể với giọng buồn buồn: “Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài.
Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn.
Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy” !
Ông Dương nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó”.
Sau năm 1975, khi có các phái đoàn quốc tế đến tìm hiểu cách ứng xử với các cựu quân nhân VNCH sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhiều nhân chứng có kể về việc họ bị đẩy ra khỏi giường bệnh, bị đuổi ra đường không có thuốc men chuẩn bị cho các ngày kế.
Nhưng không ai có mang giá trị lịch sử đầy sức nặng như ông Võ Phùng Dương, vì ông là người chứng kiến, là nạn nhân trực tiếp, và hình ảnh xuất hiện trên khắp thế giới.
Nhắc lại giờ phút đó, ông Võ Phùng Dương nói, suýt bật thành tiếng chửi thề:
“Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày, cút ra hết”.
Tất cả phải lặng lẽ kéo nhau ra bằng Cổng sau, vì phía quân Bắc Việt không muốn bị dân chúng nhìn thấy cảnh tàn nhẫn này.
Ông Võ Phùng Dương là Thương phế binh VNCH, nhưng chưa một lần ghé đến được Chương trình Tri ân TPB VNCH của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì quá xa xôi và đi đứng bất tiện.
Ông nói mình chỉ muốn gặp anh em là chính, chứ đời sống thì có thể tự lo toan được.
Quà hỗ trợ, ông nói là để nhường cho anh em khó khăn hơn.
Sự ra đi của ông Dương cũng là điều buồn và tiếc nuối của những người có lòng với di sản VNCH và khát khao ghi lại những chứng tích lịch sử, mà chưa có cơ hội để thực hiện.
Y Nguyên
(Sài Gòn trong tôi/ SàiGònNhỏ)