THẾ GIỚI MỞ, TÂM HỒN KHÓA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín!”.

Chưa bao giờ thế giới “mở” như hôm nay: “AI”, công nghệ và kết nối khiến mọi khoảng cách gần như biến mất. Nhưng nghịch lý thay, càng mở ra với thế giới bên ngoài, con người càng khép kín bên trong.

Kính thưa Anh Chị em,

Một chi tiết rất Gioan trong Tin Mừng lễ Hiện Xuống đáng để chúng ta suy nghĩ: “các cửa đều đóng kín”. Đó không chỉ là cánh cửa của căn phòng, nhưng còn là cánh cửa của sợ hãi, thất vọng và cô độc. Không chỉ ngày trước, nhưng cả hôm nay nữa. Vậy mà Chúa Phục Sinh vẫn bước vào chính nơi đóng kín ấy – ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’.

Lý do Gioan tiết lộ khi cửa phải khoá: “các ông sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ đến từ người Do Thái, nhưng còn từ sự vỡ vụn của những trái tim: họ từng bỏ chạy, từng chối Thầy, từng chứng kiến mọi hy vọng của mình bị đóng đinh. Vì thế, “cửa đóng kín” không đơn thuần là một chi tiết lịch sử, nhưng là hình ảnh của một con tim bị thương đang tự nhốt mình lại. Có lẽ đó cũng là điều đang xảy ra nơi chúng ta hôm nay. “Nỗi cô độc của con người bắt nguồn từ nỗi sợ rằng, nếu người khác biết hết con người thật của mình, chúng ta sẽ không còn được yêu nữa!” – Henri Nouwen.

Điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh không phá cửa để đi vào. Gioan cố ý giữ lại chi tiết ấy để cho thấy: quyền năng phục sinh không huỷ bỏ con người, nhưng đi xuyên qua những gì đang đóng kín nơi họ. Sau đó, Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ – động từ “enephysēsen” gợi lại hơi thở của Thiên Chúa trong trình thuật tạo dựng Ađam. Hiện Xuống không chỉ là một an ủi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Thánh Thần không đơn giản giúp con người “cảm thấy khá hơn”, nhưng làm họ sống lại từ bên trong.

Sống lại từ bên trong là không còn để mình bị nhốt trong nỗi sợ. Thánh Thần không cất các môn đệ khỏi thế giới, nhưng biến những kẻ từng im lặng và co cụm thành những con người có thể bước ra để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” – bài đọc một. Điều đã chết nơi họ không phải thân xác, nhưng là lòng can đảm và khả năng yêu thương. Chính nơi những tâm hồn khoá kín ấy, Thánh Thần bắt đầu tái tạo. Thiên Chúa không phá cửa lòng, Ngài chờ một vết rách của hoán cải để bước vào. “Nhờ Thánh Thần, con người được phục hồi về địa đàng!” – Basiliô Cả.

Anh Chị em,

Chưa bao giờ thế giới năng động như hôm nay, cũng chưa bao giờ con người vong thân như hôm nay. Nhiều người vẫn sống, làm việc, kết nối và cười nói mỗi ngày, nhưng đang chết dần trong sợ hãi, cô đơn và chai lì. Vì thế, phép lạ lớn nhất của Hiện Xuống không phải là nói được nhiều thứ tiếng, nhưng là một con tim tưởng đã chết lại có thể yêu, tin và có thể bước ra khỏi chính mình. Có lẽ, giữa một thời đại ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’, nhân loại vẫn đang thiếu một hơi thở của Thánh Thần cho linh hồn mình.

Sống mà không có Thánh Thần chỉ là sự tồn tại của những xác chết biết cười!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở những cánh cửa khoá phía trong của lòng con; bẻ gãy các chấn song và đưa con ra khỏi mọi chốn tù đày mà không còn luyến tiếc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 20,19-23

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”


 

Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)- Cha Vương

Cuối tuần Memorial Day tràn đầy hồng ân của Thiên Chúa nhé. Chúa thương bạn rất nhiều đó, xin đừng lãng quên… mà ngoảnh mặt đi…

Cha Vương

Thứ 7: 23/05/2026.     (n27-23)

TIN MỪNG: Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)

HOA QUẢ THỨ 5: Nhân Hậu—là một nhân đức hiền từ, dễ tính, hấp dẫn người khác nhờ lời nói nhỏ nhẹ, cung cách bao dung, nó bắt nguồn từ tâm hồn đạo đức, từ nếp sống chính trực và được thể hiện qua hành động yêu thương, quan tâm, âu yếm đối với tha nhân.

SUY NIỆM: Trong đời sống xã hội, lòng nhân hậu được bộc lộ qua lời nói: nó diễn tả mối quan tâm và kính trọng đối với tha nhân. Qua lời nói, con người bộc lộ chính bản thân của mình. Lời nói không chỉ chuyển tải một sứ điệp mà nhất là chuyển tải bản thân của sứ giả. Điều này có thể thấy rõ trong “Lời của Thiên Chúa”, tức là Đức Kitô. Theo thánh Gioan, Ngôi Lời chuyển đạt cho chúng ta những chuyện thân mật của Chúa, tình yêu giữa Ba ngôi. Lời ấy là chân lý và tình yêu: Đức Kitô không chỉ nói đến tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà cả tình yêu của Người đối với Thiên Chúa.

Ngoài ra, sách Tin mừng còn mô tả lời nhân hậu của Đức Giêsu, khi đón tiếp người tội lỗi (Lc 15:1-2), những người bệnh tật (Lc 18:35-43), các trẻ nhỏ (Mc 10:13-36). Những đối thủ của Người, tuy bất đồng ý kiến trong cách giải thích đạo lý, nhưng nhìn nhận rằng lời lẽ của Người có sức thu  hút đám đông. Đức nhân hậu biết sử dụng lời lẽ hòa nhã để tiếp xúc với tha nhân. Hẳn nhiên, kẻ nhân hậu sẽ không dùng lưỡi để nói xấu người khác hay để gây ra tranh cãi (Tt 3:2). Họ cũng biết sử dụng lời lẽ cách khôn khéo để phục vụ Chúa. Họ biết lắng nghe người khác, tuy không ngại phát biểu những điều xác tín của bản thân. Đôi khi vì trung thành với Sự Thật, mà họ sẵn sàng để cho người khác sửa sai mình và cũng không thiếu lần cảm thấy mình cô đơn, vì không được người khác hiểu biết.  Ước mong nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần lòng nhân hậu của bạn được bộc lộ ra bên ngoài, qua nét mặt hồn nhiên, cởi mở với mọi người, tế nhị trong cách giao tiếp hàng ngày.

LẮNG NGHE: Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:31-32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng trí con để con đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm, xin cho lời nói và việc làm của con được cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa để mọi người nhận ra con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Trong mọi tương quan của ngày hôm nay, mời bạn hãy tự hỏi chính mình: “Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này?” Rồi tự thay đổi lời ăn tiếng nói của mình để tình huống trở nên tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

*****************************************

Bài ca lòng nhân hậu -tinmung.net

NÀO AI CHỨA NỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”.

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ. Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình. Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” – Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”. Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng”: nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách. Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô – Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ. Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” – một kiểu cường điệu thần học Gioan – nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô. Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa. Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài. Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra. “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” – thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình. Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài. Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình. Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng – bài đọc một. Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếm, thuộc về và loan báo. Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” – Thánh Vịnh đáp ca. Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn. “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” – Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi. Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa. Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến. Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VII Phục Sinh

Chính môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 21,20-25

20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy ?” 21 Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?”

24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.


 

BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng, không phải là những ngày không có chuyện buồn, không có mất mát, không có va chạm, không có hiểu lầm, không có nước mắt. Nếu bình yên chỉ là khi mọi sự đều theo ý mình, thì có lẽ cả đời này chẳng mấy ai thật sự bình yên. Vì cuộc đời vốn không phải mặt hồ không gợn sóng. Cuộc đời có khi là một dòng sông đầy đá ngầm, có khi là biển lớn nổi gió, có khi là bầu trời đang nắng bỗng kéo mây đen, có khi là một buổi chiều rất bình thường nhưng lòng người lại bất chợt giông bão.

Có những ngày ta mệt không phải vì làm quá nhiều, mà vì đã chịu đựng quá lâu. Có những nụ cười trên môi nhưng bên trong là cả một vùng thương tích. Có những người vẫn đi làm, vẫn trả lời tin nhắn, vẫn hỏi thăm người khác, vẫn chu toàn bổn phận, nhưng thật ra trong lòng đã có biết bao lần muốn buông xuống tất cả. Người ngoài nhìn vào tưởng ta ổn, nhưng chỉ mình ta biết, để đứng vững đến hôm nay, mình đã phải đi qua bao nhiêu đêm dài không ngủ, bao nhiêu lần tự lau nước mắt, bao nhiêu lần tự nhủ: “Cố thêm một chút nữa thôi.”

Bình yên thật sự không phải là không có bão. Bình yên thật sự là sau khi bão đi qua, lòng ta không còn tan tác như trước nữa. Là khi ta vẫn nhớ những điều đã làm mình đau, nhưng không còn để chúng điều khiển mình. Là khi ta vẫn gặp những người từng khiến mình tổn thương, nhưng trái tim không còn run lên vì oán hận. Là khi ta nhìn lại một đoạn đời đầy nước mắt mà không còn trách trời, trách người, trách mình, nhưng lặng lẽ hiểu rằng: nhờ những ngày ấy, ta đã lớn hơn, sâu hơn, trầm hơn và biết thương mình hơn.

Ai cũng thích bình yên, nhưng không phải ai cũng hiểu cái giá của bình yên. Có những bình yên phải đổi bằng rất nhiều lần im lặng. Có những bình yên phải đổi bằng quyết định bước ra khỏi một mối quan hệ làm mình kiệt sức. Có những bình yên phải đổi bằng việc thôi giải thích với những người không muốn hiểu mình. Có những bình yên phải đổi bằng nước mắt của đêm nay, để sáng mai đủ can đảm mỉm cười. Và có những bình yên chỉ đến sau khi ta học được bài học khó nhất: không phải chuyện gì mình cũng kiểm soát được, không phải ai mình thương cũng sẽ thương mình đúng cách, không phải điều mình cố giữ cũng sẽ ở lại, và không phải mất mát nào cũng là dấu chấm hết.

Có khi Chúa để giông bão đi ngang đời ta không phải để nhận chìm ta, mà để dạy ta nhận ra đâu là nền đá, đâu là cát lún. Khi trời yên biển lặng, ai cũng có thể nói mình mạnh mẽ. Nhưng khi mất mát ập đến, khi bị hiểu lầm, khi bị quay lưng, khi lời cầu nguyện tưởng như không được đáp lại, khi những gì mình xây rất lâu bỗng sụp đổ, lúc đó ta mới biết lòng mình đang tựa vào đâu. Tựa vào tiền bạc thì khi tiền bạc lung lay, ta hoảng sợ. Tựa vào danh tiếng thì khi người đời đổi ý, ta chao đảo. Tựa vào người khác thì khi họ rời đi, ta trống rỗng. Nhưng nếu tựa vào Chúa, dù vẫn đau, ta không tuyệt vọng; dù vẫn khóc, ta không mất hướng; dù vẫn ngã, ta vẫn có thể đứng lên.

Bình yên của người có đức tin không phải là thứ bình yên rẻ tiền, kiểu “không sao đâu” trong khi mọi thứ rõ ràng đang rất đau. Bình yên của người có đức tin là dám nhìn thẳng vào sự thật mà không bị sự thật ấy nuốt chửng. Là biết mình yếu nhưng không buông xuôi. Là biết đời có những điều không như ý nhưng vẫn tin rằng Thiên Chúa không bỏ rơi mình. Là biết có những cánh cửa đóng lại không phải vì Chúa ghét mình, mà vì phía sau cánh cửa ấy có thể là điều không còn dành cho mình nữa. Là biết có những người rời khỏi đời mình không phải để mình cô đơn, mà để mình học cách trở về với chính mình và với Chúa sâu hơn.

Cứ mỉm cười rồi mọi chuyện sẽ qua. Nhưng nụ cười ấy không phải là giả vờ vui. Không phải là che giấu vết thương để người khác khỏi hỏi. Không phải là ép mình mạnh mẽ trong khi lòng đang vỡ. Nụ cười ấy là một lời tuyên xưng âm thầm rằng: “Tôi vẫn còn ở đây. Tôi đã đau, nhưng tôi chưa thua. Tôi đã khóc, nhưng tôi chưa mất hy vọng. Tôi đã đi qua những ngày tối, nhưng tôi vẫn tin bình minh sẽ đến.” Có những nụ cười đẹp nhất không phải vì đời dễ dàng, mà vì người mỉm cười đã từng đi qua rất nhiều điều không dễ dàng.

Thật ra, mọi chuyện rồi sẽ qua. Nỗi buồn nào rồi cũng nhạt màu. Vết thương nào rồi cũng lên da non. Người từng làm mình đau rồi cũng trở thành một phần ký ức. Những ngày tưởng như không thể vượt qua rồi cũng sẽ nằm lại phía sau. Điều quan trọng không phải là giông bão đã đến dữ dội thế nào, mà là sau giông bão, ta còn giữ được gì trong lòng. Còn giữ được niềm tin không? Còn giữ được lòng nhân hậu không? Còn giữ được sự tử tế không? Còn giữ được khả năng yêu thương không? Nếu sau tất cả, ta vẫn không trở thành người cay nghiệt, thì đó đã là một chiến thắng rất lớn.

Đừng xấu hổ vì mình từng yếu đuối. Đừng trách mình vì từng khóc. Nước mắt không làm ta nhỏ bé. Nước mắt chỉ chứng minh rằng ta đã từng sống thật, thương thật, hy vọng thật và đau thật. Một người chưa từng tổn thương có thể dễ dàng nói lời mạnh mẽ. Nhưng một người đã từng vỡ vụn mà vẫn chọn sống tử tế, chọn tha thứ, chọn bước tiếp, chọn không trả thù đời bằng sự lạnh lùng, người ấy mới thật sự là người mạnh mẽ.

Bình yên đôi khi bắt đầu từ một quyết định rất nhỏ: hôm nay mình không tự hành hạ mình nữa. Hôm nay mình không đọc lại những tin nhắn cũ làm mình đau nữa. Hôm nay mình không cố giải thích với người đã quyết hiểu sai mình nữa. Hôm nay mình không so sánh đời mình với đời người khác nữa. Hôm nay mình không ép trái tim phải lành ngay lập tức nữa. Hôm nay mình cho phép mình thở, cho phép mình nghỉ, cho phép mình chậm lại, cho phép mình được Chúa ôm lấy trong thinh lặng.

Có những chuyện càng giằng co càng đau, càng giữ càng mệt, càng nghĩ càng rối. Thôi thì đặt xuống. Không phải vì mình thua, mà vì lòng mình cần được sống. Không phải vì người kia đúng, mà vì mình không muốn tiếp tục uống độc dược của oán hận. Không phải vì quá khứ không quan trọng, mà vì tương lai của mình còn quan trọng hơn. Đặt xuống không phải là quên hết, mà là không để điều đã qua tiếp tục lấy mất hiện tại.

Sau giông bão, cây nào còn đứng được thường là cây đã cắm rễ sâu. Con người cũng vậy. Những ai đã từng đi qua khổ đau mà không đánh mất linh hồn mình, thường có một vẻ đẹp rất lặng. Họ không cần nói nhiều để chứng minh mình mạnh. Họ không cần khoe mình đã vượt qua những gì. Họ chỉ sống chậm hơn, thương sâu hơn, nhìn đời hiền hơn, và biết quý những điều rất nhỏ: một buổi sáng còn được thức dậy, một bữa cơm đơn sơ, một người còn ở bên, một lời cầu nguyện trong thinh lặng, một ngày bình thường không có biến cố. Sau nhiều giông bão, người ta mới hiểu: bình thường cũng là một phép lành.

Vì thế, đừng cầu xin một đời không có bão. Hãy xin một trái tim đủ vững khi bão đến. Đừng cầu xin mọi người đều hiểu mình. Hãy xin một tâm hồn đủ sáng để không đánh mất mình vì những lời hiểu lầm. Đừng cầu xin không bao giờ đau. Hãy xin ơn biết đau mà không tuyệt vọng, biết mất mà không hóa cay đắng, biết bị thương mà vẫn còn khả năng yêu thương.

Rồi một ngày, ta sẽ cảm ơn cả những đoạn đường gồ ghề. Cảm ơn những lần bị từ chối đã dạy ta tự trọng. Cảm ơn những lần mất mát đã dạy ta biết trân quý. Cảm ơn những lần cô đơn đã dạy ta trở về với Chúa. Cảm ơn những lần thất bại đã dạy ta khiêm nhường. Cảm ơn những người rời đi đã dạy ta rằng không phải ai xuất hiện trong đời mình cũng có bổn phận ở lại đến cuối cùng. Cảm ơn cả những cơn bão, vì nhờ chúng, ta mới biết trong mình vẫn còn một sức sống âm thầm mà chính ta cũng không ngờ tới.

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng. Bình yên là khi lòng ta đã đi qua những xô lệch mà vẫn tìm lại được trục đứng bên trong. Là khi ta không còn cần đời phải hoàn hảo mới có thể mỉm cười. Là khi ta hiểu rằng hôm nay có thể chưa tốt, nhưng không có nghĩa là mãi mãi sẽ tối. Là khi ta tin rằng sau đêm dài, mặt trời vẫn mọc; sau mùa đông, cây vẫn đâm chồi; sau nước mắt, lòng người vẫn có thể dịu lại.

Vậy nên, cứ mỉm cười. Không phải vì mọi chuyện đã dễ dàng, mà vì Chúa vẫn còn đó. Cứ mỉm cười. Không phải vì lòng không đau, mà vì đau rồi cũng sẽ qua. Cứ mỉm cười. Không phải vì mình mạnh hơn tất cả, mà vì mình không đi qua tất cả một mình. Cứ mỉm cười, vì sau những giông bão dữ dội nhất, điều còn lại không chỉ là những vết sẹo, mà còn là một tâm hồn trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, bao dung hơn và bình yên hơn.

Và khi một ngày nào đó nhìn lại, ta sẽ nhận ra: mình đã không chết trong cơn bão ấy. Mình đã được thanh luyện. Mình đã được lớn lên. Mình đã học được cách buông điều cần buông, giữ điều cần giữ, tha thứ điều cần tha thứ, và yêu thương chính mình trong ánh mắt nhân từ của Thiên Chúa.

Bình yên là vậy: không phải không còn giông bão, mà là sau giông bão, ta vẫn còn biết ngước nhìn trời, hít một hơi thật sâu, mỉm cười thật nhẹ và nói với lòng mình: “Ơn Chúa đủ cho con. Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

BA LẦN CHỐI, BẢY LẦN YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh có yêu mến Thầy không?”.

Năm 1795, Joséphine phải lòng Napoléon; một năm sau, họ thành hôn. Napoléon đắm đuối, còn Joséphine lại công khai phản bội ông với nhiều tình nhân. Lên ngôi hoàng đế, Napoléon vẫn triệu bà vào cung và phong làm hoàng hậu. Tại sao một người phản bội vẫn được yêu? Một học giả trả lời, “Tội lỗi có thể trở thành động lực cho tình yêu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý đầy hy vọng: chính nơi gãy đổ và tội lỗi sâu nhất của con người, tình yêu vẫn có thể được tái sinh – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Con người gãy đổ đó là Phêrô. Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu gặp lại ông bên một bếp than hồng. Gioan rất tinh tế khi dùng lại chi tiết này: bên bếp than của dinh thượng tế, Phêrô đã chối Thầy; và giờ đây, cũng bên một bếp than, Đấng Phục Sinh đưa ông về với vết thương lòng. Ngài không hỏi, “Tại sao con phản bội?”; nhưng, “Con có yêu Thầy không?”. Đó là điều kỳ diệu của lòng thương xót: Thiên Chúa không xoá ký ức tội lỗi, Ngài biến chính nơi gãy đổ thành nơi tình yêu tái sinh. “Đừng sợ. Đức Kitô biết điều gì trong lòng người; chỉ mình Ngài biết!” – Gioan Phaolô II.

Gioan còn cho thấy một điều đau đớn hơn. Chúa Giêsu hỏi Phêrô có yêu Ngài không bằng động từ agapaō – tình yêu hiến trao; nhưng Phêrô chỉ dám đáp lại bằng phileō – tình yêu như tình bạn. Sau lần chối Thầy, ông không còn đủ can đảm để hứa hẹn lớn lao. Nhưng Chúa Giêsu đã bước xuống dùng lại thứ tình yêu mong manh ấy khi hỏi lần thứ ba. Đó là một kỳ diệu khác của lòng thương xót: Thiên Chúa gặp con người không nơi họ tưởng mình phải là, nhưng nơi họ đang là.

Không còn là một cuộc tra hỏi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Ba lần chối đã không khép lại ơn gọi của Phêrô; trái lại, nó cho ông hiểu rằng, ông không thể theo Chúa Giêsu bằng nhiệt thành của ý chí, nhưng bằng lòng thương xót được đón nhận. Có lẽ từ giây phút ấy, Phêrô mới thật sự trở thành đá tảng của Hội Thánh – không vì mạnh mẽ, nhưng vì biết mình yếu đuối mà vẫn được yêu. Đó cũng là kinh nghiệm của mọi Kitô hữu: đôi khi, chỉ sau những đổ vỡ sâu nhất, chúng ta mới bắt đầu yêu mến Thiên Chúa thật sự. Kẻ chưa từng nếm mùi đổ vỡ sẽ không bao giờ hiểu được vị mặn của lòng thương xót! Với Hans Urs von Balthasar, chỉ ai đi qua thương tích của tình yêu mới thật sự học biết yêu.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh đã tìm lại một Phêrô biết yêu sau gãy đổ. Đó cũng là cách Chúa Phục Sinh bước vào đời sống chúng ta. Có những vết thương khiến con người xấu hổ, những ký ức muốn chôn vùi, những lần cặp bồ với đủ loại hình ngẫu tượng mà chúng ta không muốn quay lại; thế nhưng, Ngài vẫn âm thầm chờ chúng ta bên “bếp than hồng” của đời mỗi người và hỏi, “Con có yêu Thầy không?”. Chỉ khi biết mình từng chối Chúa sâu đến đâu, con người mới có thể yêu Ngài thật đến đó. Chỉ khi biết mình đã từng là một Giuđa, ta mới có thể yêu Chúa bằng trái tim của một Phêrô – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sau mỗi lần phản bội, xin dạy con biết yêu Chúa sâu hơn thay vì bỏ chạy xa hơn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VII Phục Sinh

Hãy chăn dắt chiên của Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 21,15-19

15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”


 

CHÚA THÁNH THẦN HIỆN DIỆN – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

 Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

Trước khi về trời, nhiều lần Chúa Giêsu đã nói và đã hứa với các môn đệ: Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống.  Lời hứa đó đã được hoàn tất trong ngày lễ Ngũ Tuần, tức là lễ ngày thứ 50 tính từ lễ Vượt Qua của người Do Thái, và từ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, lễ này được gọi là lễ Hiện Xuống.  Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa và biến đổi các ông thành những con người mới.  Như vậy, Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá là điều kiện để ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội.  Và khi được vinh quang bên hữu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sai Chúa Thánh Thần xuống và ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội như linh hồn của Giáo Hội. 

Đối với Giáo Hội nói riêng và đối với toàn thể nhân loại nói chung, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thật là quan trọng, vì đánh dấu một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần, kỷ nguyên áp dụng ơn cứu độ, thời kỳ cuối cùng, thời kỳ cánh chung, trước khi Chúa Kitô trở lại để xét xử kẻ sống và kẻ chết.  Nhưng tại sao chúng ta có thể nói hay dám nói Chúa Thánh Thần được ví như linh hồn của Giáo Hội?  Bởi vì những lý do sau đây: 

Thứ nhất, cũng như linh hồn quan trọng đối với thân xác thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng quan trọng đối với Giáo Hội như vậy.  Bởi vì Giáo Hội được ví như một thân thể nhiệm mầu, mà Chúa Kitô là đầu và tất cả chúng ta là thân mình.  Vậy nếu đã là một nhiệm thể thì cần phải có một linh hồn, linh hồn của Giáo Hội là Chúa Thánh Thần. 

Thứ hai, cũng như linh hồn ở khắp thân thể và ở trong từng phần thân thể, thì Chúa Thánh Thần cũng ở trong toàn thể Giáo Hội và trong từng người.  Linh hồn là nguyên lý, là căn bản của sự sống tự nhiên của thân thể, không có linh hồn thì chúng ta không sống được, không có linh hồn thì thân thể chúng ta là cái xác chết.  Chúa Thánh Thần cũng là nguyên lý căn bản siêu nhiên nơi đầu là Chúa Kitô và nơi các chi thể là chúng ta, Ngài trực tiếp ban ơn cho từng thành phần để sinh hoa quả là những việc lành. 

Thứ ba, cũng như nơi con người, linh hồn hoạt động qua trí khôn, ý chí, tình cảm.  Cũng vậy, Chúa Thánh Thần hoạt động qua những khả năng siêu nhiên là bảy ơn Chúa Thánh thần, qua ba nhân đức đối thần là tin, cậy, mến.  Chúa Thánh Thần gìn giữ, thánh hóa, biến đổi từng tâm hồn.  Chẳng hạn: 12 tông đồ trước kia nhút nhát, sợ hãi, Chúa Thánh thần đã làm cho họ mạnh bạo can đảm.  Rồi suốt hai mươi thế kỷ qua, biết bao gương anh dũng của các thánh đồng trinh, hiển tu, tử đạo… và hôm nay cả tỉ con cái Chúa đang được Chúa Thánh Thần thôi thúc bước mau về trời, Ngài hướng dẫn, trợ giúp chúng ta trên đường về trời. 

Thứ tư, cũng như một linh hồn hiện diện nơi mỗi người làm cho người đó thành một người riêng biệt, khác với những người khác, thì Chúa Thánh Thần cũng hiện diện nơi mỗi tín hữu, để làm thành những tín hữu khác nhau: Chúa Giêsu, Đức Maria, các thánh, kẻ lành… và ơn Chúa Thánh Thần khác nhau, nên có những loại thánh khác nhau, rồi lại có những ơn sủng khác nhau, tùy theo chức bậc: người truyền giáo, người làm cha mẹ, người đi tu, v.v… 

Ngoài ra, ngày lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống dưới hình lưỡi lửa.  Hình ảnh này thật đầy ý nghĩa: Giáo Hội của Chúa được ví như một đống củi, được lửa của Chúa Thánh thần đốt cháy lên và sưởi ấm trần gian lạnh lẽo.  Không có Chúa Thánh Thần, Giáo Hội chỉ là một tổ chức trần gian như bao hội khác trên đời này, nhưng suốt hai mươi thế kỷ qua, Chúa Thánh Thần luôn ở giữa Giáo Hội, hướng dẫn mọi hoạt động của Giáo Hội và Ngài vẫn tiếp tục hoạt động mãi cho đến tận thế. 

Mỗi người chúng ta đều đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần ngày chúng ta chịu phép Rửa tội, và nhất là khi lãnh nhận phép Thêm sức, Ngài luôn ở cùng chúng ta, hướng dẫn và trợ giúp chúng ta.  Vậy chúng ta chớ dập tắt Chúa Thánh Thần.  Nếu dập tắt Chúa Thánh Thần thì chẳng khác gì chiếc tàu bỏ bánh lái, đoàn xe lửa bỏ đầu tàu, con người bỏ trái tim.  Chúng ta có thể dập tắt Chúa Thánh Thần thế nào? 

Nhiều cách lắm, chẳng hạn: chúng ta không sử dụng tối đa những ân huệ Ngài ban, những khả năng, những tiền bạc Chúa ban để chúng ta làm lợi cho linh hồn, cho gia đình, chúng ta sử dụng vào những việc có hại cho mình và người khác.  Chẳng hạn: Chúa cho chúng ta cơ hội để phục vụ Chúa và Giáo Hội, nhưng chúng ta không lợi dụng những cơ hội đó, bỏ dịp tốt qua đi đó là dập tắt Chúa Thánh Thần. 

Đàng khác, Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ.  Phù trợ chứ không phải là làm thay chúng ta.  Chúng ta phải làm hết sức mình, hết khả năng mình, phải học hỏi, phải nghiên cứu, phải thực hiện hết sức của mình, Chúa Thánh Thần sẽ phù trợ thiện chí của chúng ta.  Ngài không bao cấp làm thay chúng ta.  Nếu chúng ta không cố gắng đổi mới chính mình, đổi mới môi trường của mình, nếu chỉ cậy trông suông, khoán trắng cho Chúa Thánh Thần, thì Chúa Thánh Thần sẽ không làm thay.  Bởi vì trách nhiệm ấy thuộc về chúng ta, những người Chúa đã trao cho những khả năng để có thể làm được, không nhiều thì ít, không việc lớn thì việc nhỏ, ai cũng có khả năng làm việc tốt. 

Xin Chúa Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta những nguồn sinh lực mới, để chúng ta biết quyết tâm đổi mới chính mình, biết quyết tâm góp phần xây dựng thời đại chúng ta.  Sự quyết tâm này chúng ta sẽ gửi gấm nơi Chúa Thánh Thần.  Ngài sẽ ban phép lành cho chúng ta, Ngài sẽ phù trợ cho chúng ta thực hiện.  Mặc dầu hôm nay chúng ta không thấy kết quả nhưng hãy kiên trì nhẫn nại như những người gieo giống, mùa màng không thấy ngay, nhưng mùa màng nếu làm đúng, làm với cố gắng, với ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, chắc chắc sẽ thành công và hiệu quả sẽ phong phú. 

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

From: Langthangchieutim

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống- Lm. Nguyễn An Ninh

Chúa Nhật thứ 8 Phục Sinh

Ngày 24 tháng 5, 2026

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống

Sách Tông Đồ công vụ

Các Tông đồ đang họp trong nhà. Cửa đóng kín. Có gió lùa vào. Có từng ngọn lửa đậu xuống trên  đầu mỗi người. Họ bắt đầu nói nhiều tiếng lạ.

Lúc ấy ở Jerusalem có nhiều người từ khắp thiên hạ tới. Mỗi người đều nghe các Tông đồ nói tiếng  riêng của họ.

Các Tông Đồ hầu hết là những người đánh cá, là những thường dân ít học. Các ngài lại đang nhút nhát sợ hãi những ngày sau khi Chúa chịu nạn.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu bảo các Ngài Các con cứ ở lại đây, cho đến khi Thày sai Thánh Thần xuống. Ngài sẽ dậy chúng con mọi điều Thày đã nói với chúng con.

Thì hôm nay, Thánh Thần Chúa xuống trong hình lưỡi lửa, ban cho các Ngài sự hiểu biết và sức mạnh, để các Ngài can đảm rao giảng về Chúa chịu đóng đinh, chịu chết, và đã phục sinh:

Điều lạ lùng là các Tông Đồ đều là người Do Thái, mà không ai ăn học gì, ngoại trừ Thánh Luca, thày thuốc. Chắc các Ngài chỉ nói tiếng Do Thái thôi. Thế mà mọi người từ các nước, các vùng ngoài Do Thái, với hàng chục các ngôn ngữ khác nhau. Thế mà mỗi người đều hiểu được, như các  Tông Đồ nói tiếng của riêng họ vậy.

 Chỉ có Chúa mới làm nên sự lạ lùng ấy.

Chúa Thánh thần còn làm sự lạ lùng khác nữa, là từ những người chài lưới lại nhút nhát ấy, Ngài  đã khiến họ nên thông minh như các thần học gia, lại bạo dạn mà rao giảng về Chúa Giêsu Phục Sinh, mà mấy ngày trước đó là điều cấm kỵ, họ không được nói tới, và không dám nói, không dám ra đường, mà chỉ ở trong nhà, cửa còn đóng kín, cài kỹ.

Người Tin Lành họ thuộc Kinh Thánh vanh vách, họ mạnh bạo gõ cửa từng nhà, xin vào giảng đạo. Người Công giáo chúng ta đã không thuộc Kinh Thánh, lại cũng lơ mơ về giáo lý, con cái chúng đi học về hỏi, còn không trả lời được, thì làm sao dám đi rao giảng Lời Chúa cho dân ngoại? Cho những anh em lương dân sống trong cùng xóm ngõ với chúng ta?

Trên sân banh quốc tế, trước những trận đấu giữa các nước, trên truyền hình, chúng ta thấy có những cầu thủ người Nam Mỹ, họ  quỳ xuống  làm dấu Thánh giá. Chúng ta có dám làm dấu mình là người Công giáo như vậy trước công chúng không? Hay ngồi ăn tô phở, cũng phải “làm Dấu” cách dấm dúi, sợ người ở bàn xung quanh họ biết?

Sao đức tin của chúng ta tệ thế?

Anh chị em có nhớ Lời Chúa: Ai xưng Thày trước mặt người thế gian , Thày cũng xưng nhận nó trước mặt cha Thày. Ai chối Thày trước mặt người đời, Thày cũng chối nó trước mặt Cha Thày.

Anh chị em nghĩ sao?

Tự vấn

  1.     Có lần nào tôi  Làm Dấu mà ngại ngùng trước mặt người khác không?
  2.     Tôi có dám dạy con tôi học giáo lý bao giờ không?
  3.     Là phụ huynh, tôi có trau dồi kiến thức để có khả năng dạy dỗ và làm chứng cho Chúa trước mặt con cái tôi không?

 *****

Cái Chết Thánh Thiện Của Đôi Vợ Chồng Già

Ông Archilêô là bạn của Thánh Phanxicô Assisi thời niên thiếu. Sau trở thành thương gia giầu có. Ông bà gia nhập dòng Ba Thánh Phanxicô đem hết của cải trao cho Dòng Ba, để nuôi những người bệnh tật già yếu. 

Đến tuổi già, ông bà chỉ giữ lại 1 sào đất vườn, làm căn nhà nhỏ. Chung quanh vườn, trồng rau, củ quả, cũng để đem cho người nghèo khó chung quanh. 

 Đêm bà Archilêô hấp hối, ông quỳ bên giường cầu nguyện cho bà xong, ông nói: Em ơi, mình sống với nhau yêu thương suốt đời, sao mình không cùng chết với nhau nhỉ?

Nói đoạn, ông làm dấu và chúc lành cho bà.

Rồi ông sang giường của ông. Ông ôm lấy Thánh Giá, ông hôn tượng Chúa chịu nạn. Ông quay sang giường bà, thấy bà đã tắt thở, ông ôm chặt lấy tượng chịu Nạn, mà kêu: Lạy Chúa Giêsu, con xin Chúa nhận lấy linh hồn con.

Nói thế rồi, ông tắt thở, ra đi rất nhẹ nhàng. 

Lm. Nguyễn An Ninh

From: NguyenNThu


 

Hoan Lạc—Lòng bạn tràn ngập niềm vui hạnh phúc vì bạn có Chúa. – Cha Vương

 Một ngày tràn đầy hoan lạc trong Chúa nhé. Không quên cậu nguyện cho nhau và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thư 4: 20/05/2026.   (n24-23)

TIN MỪNG: Còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban. (1Thx 1:6)

HOA QUẢ THỨ 2: Hoan Lạc—Lòng bạn tràn ngập niềm vui hạnh phúc vì bạn có Chúa. Đây là trạng thái của  tâm hồn. Thiên Chúa là Đấng rất gần gũi với bạn còn hơn bạn biết chính bạn nữa. Ngài là Cha yêu thương, là Con đến cứu độ và là Thánh Thần ban sự sống. Càng gần Thiên Chúa qua lối sống “hợp với lẽ phải” thì lòng bạn tràn đầy hoan lạc. Hoan lạc và hạnh phúc dựa trên bản lĩnh nội tại chứ không dựa trên chiếm hữu của cải bên ngoài; chúng gắn liền với đời sống nội tâm của ta. Nói cách khác, cuộc thăng tiến đời sống thánh thiện là con đường để đạt đến  hoan lạc và hạnh phúc. Kẻ sống thánh thiện thì cũng sống hoan lạc và hạnh phúc. Vì vậy mới có câu “tiền bạc không mua được hạnh phúc được”. 

SUY NIỆM: Trong một bài giảng, thánh Gioan Kim khẩu khẳng định rằng: “Không ai có thể làm cho ta bất hạnh nếu chúng ta không làm cho mình bất hạnh; cũng vậy, không ai làm cho chúng ta hạnh phúc nếu chúng ta không tự làm cho mình hạnh phúc.” Hoan lạc (cũng như hạnh phúc) nằm ở trong ta, và được nâng đỡ nhờ các động lực nội tại mang lại một lý tưởng sống cao thượng. Nếu bạn tích cực sống hiền hoà, nhã nhặn, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong đức ái, trong tinh thần “tương thân tương ái” thì những hành động, dù có nhỏ nhoi đến đâu cũng mang lại cho bạn và cho những người chung quanh một niềm vui nội tâm khó tả. Đó là hoa quả của Chúa Thánh Thần được phát ra từ đức ái và tạo nên một sự hiệp nhất và gần gũi với Chúa và tha nhân. Trái lại nếu bạn chỉ biết nghĩ đến cái tôi, luôn căng thẳng cau có, chìm đắm trong phiền muộn, hạn hẹp trong tư tưởng, lời nói và hành động thì cuộc sống của bạn chẳng đem lại lợi ích gì cho chính mình và cho tha nhân cả.

LẮNG NGHE: “Con ơi, hãy tin tưởng! Xin Đức Chúa trên trời cho buồn phiền của con biến thành hoan lạc. Cứ tin tưởng đi con!” (Tb 7:17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin hướng con về đường ngay chính trực để được sống bên Chúa luôn mãi vì “trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!”

THỰC HÀNH: Kết hiệp với Chúa bằng cách tăng thêm giờ cầu nguyện trong ngày.

From: Do Dzung

**************************

Sống gần mẹ – tinmung.net

NGÀI CẦU CHO TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con!”.

Trong nhiều trại tập trung, tù nhân thường cố sống thêm chỉ vì biết tên mình vẫn còn được ai đó nhắc tới bên ngoài. Bị quên lãng đôi khi còn đáng sợ hơn đói khát và gông cùm.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một sự thật đầy an ủi: giữa giờ phút đen tối nhất đời mình, Chúa Giêsu vẫn cầu nguyện cho chúng ta – ‘Ngài cầu cho tôi’.

Gioan rất ý tứ khi viết: Chúa Giêsu không chỉ cầu nguyện cho các môn đệ, nhưng còn đem họ đến trước Chúa Cha. Động từ erōtaō – “cầu xin” – ở đây không mang sắc thái van nài của kẻ yếu thế, nhưng diễn tả sự thân mật của Con với Cha. Lời nguyện ấy không chỉ là một hành vi đạo đức, nhưng là tiếng lòng của Người Con dành cho những kẻ Ngài yêu mà Cha đã trao phó. Ngài biết họ sắp tan tác, bách hại đang chờ phía trước; nhưng thay vì xin cất họ khỏi thế gian, Ngài xin Cha gìn giữ họ. Đó là chiếc ‘mỏ neo’ sâu nhất của Kitô giáo: chúng ta đứng vững không nhờ sức riêng, nhưng nhờ lời cầu nguyện của Chúa Kitô – ‘Ngài cầu cho tôi’.

Điều an ủi nhất của Kitô giáo là Mục Tử Giêsu chưa bao giờ ngừng nhớ đến chiên của Ngài. Thư Hipri sẽ nói, Ngài “hằng sống để chuyển cầu cho họ”. Nghĩa là, sau Phục Sinh, Chúa Giêsu vẫn mang những kẻ Ngài yêu vào trước mặt Chúa Cha. Nhờ đó, Hội Thánh sơ khai đã đứng vững giữa những bách hại không chỉ nhờ lòng can đảm, nhưng vì xác tín rằng, họ đang được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của một Đấng đã đi qua thập giá và chiến thắng sự chết. Với Paul Claudel, Đức Kitô không đến để xoá bỏ đau khổ, nhưng để bước vào đó bằng chính sự hiện diện của Ngài.

Sự nâng đỡ ấy được cảm nhận cụ thể nơi Phaolô, người đứng trước Thượng Hội Đồng giữa những lời kết án và chia rẽ của đám đông – bài đọc một. Chính trong đêm ấy, Chúa hiện ra và nói với ông, “Hãy vững lòng!”. Có lẽ đó cũng là kinh nghiệm của người Kitô hữu: những lúc họ tưởng mình bị bỏ mặc nhất lại là lúc Chúa ở gần nhất. Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu!”.

Anh Chị em,

Điều đẹp nhất trong lời nguyện của Đức Giêsu không phải là Ngài xin cho các môn đệ được bình an hay thành công, nhưng là “Con muốn những kẻ Cha đã ban cho Con cũng ở với Con”. Ngài không chấp nhận mất một ai trong những kẻ Ngài yêu. Ngài biết họ sẽ yếu đuối, sẽ bỏ chạy, sẽ phản bội; nhưng vẫn muốn họ ở gần mình, ở lại trong tình yêu mà Chúa Cha đã yêu Ngài từ trước muôn đời. Có lẽ đó là trung tâm của Kitô giáo: trước cả khi cố giữ lấy Chúa, chúng ta đã được yêu, được nhớ đến và được cưu mang trong lời cầu nguyện Ngài dâng lên Cha – ‘Ngài cầu cho tôi’. “Trước khi chúng ta lên tiếng, Ngài đã biết; trước khi chúng ta cầu xin, Ngài đã yêu!” – Gioan Kim Khẩu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi đức tin con chao đảo, thuyền đời con trôi dạt, cho con biết thả neo trong lời cầu nguyện của Chúa; vì con tin rằng, Chúa đang cầu nguyện cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần VII Phục Sinh

Xin cho họ được hoàn toàn nên một.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 17,20-26

20 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, 21 để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. 22 Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một : 23 Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.

24 “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. 26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”


 

Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty… sẽ được phong chức linh mục.

Tuan Pham

 Ngày 23 tháng 5 năm 2026, tại Giáo phận Fresno, Cali… một người đàn ông từng sống giữa ánh đèn Hollywood, xe sang và những buổi tiệc xa hoa, sẽ quỳ xuống trước bàn thánh để được phong chức linh mục. Người ấy là Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty, thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng từng mang về cho ông khối tài sản khổng lồ. Nhưng ít ai biết rằng, phía sau nụ cười thành đạt ấy là một khoảng trống mà tiền bạc không thể lấp đầy. 

⸻ Đêm đó ở Los Angeles, trong một buổi tiệc sang trọng đầy ánh đèn và tiếng nhạc, Scott đứng lặng bên ly rượu vang. Chung quanh ông là những ngôi sao điện ảnh, người mẫu, doanh nhân… tất cả đều cười nói vui vẻ. 

Một người bạn vỗ vai ông: — “Scott, anh đang sống giấc mơ của hàng triệu người đó! Nhà đẹp, xe sang, danh tiếng… còn thiếu gì nữa?” Scott im lặng vài giây rồi khẽ đáp:

 — “Thiếu bình an…” Người kia bật cười:

 — “Anh đùa sao? Người ta sẵn sàng đánh đổi cả đời để được như anh.” Scott nhìn xa xăm:

 — “Tôi cũng từng nghĩ vậy… cho đến khi có tất cả.” Đêm ấy, khi trở về căn biệt thự rộng lớn nhưng lạnh lẽo, ông ngồi một mình trong bóng tối rất lâu. Không tiếng nhạc. Không tiếng cười. Chỉ còn sự trống trải đè nặng trong tim. Ông kể rằng chính khoảnh khắc ấy, ký ức tuổi thơ bỗng ùa về. Một cậu bé 10 tuổi ngày nào từng quỳ trong nhà thờ, từng cảm nhận một tiếng gọi rất sâu trong lòng.

 “Con hãy theo Ta…” 

⸻ Sáng hôm sau, Scott đến thăm mẹ. Người mẹ già ngạc nhiên khi thấy con trai ngồi trầm lặng khác thường. 

— “Con ổn không Scott?” Ông nhìn mẹ, đôi mắt đỏ hoe: 

— “Mẹ… nếu một ngày con bỏ hết mọi thứ thì sao?” Bà sững người:

 — “Ý con là gì?” Scott cúi đầu: 

— “Con nghĩ Chúa đã gọi con từ rất lâu rồi… chỉ là con trả lời quá muộn.” Người mẹ lặng im. Rồi bà nắm lấy tay con trai:

 — “Nếu đó là điều làm con bình an… mẹ sẽ cầu nguyện cho con.” ⸻ Ít lâu sau, giới kinh doanh Hollywood chấn động. Scott-Vincent Borba bán xe sang. Rời bỏ công ty. Từ bỏ thế giới hào nhoáng. Và trao phần lớn tài sản của mình cho từ thiện. Nhiều người không tin nổi. Một cộng sự cũ từng gọi cho ông: 

— “Scott, anh điên rồi sao? Anh đang đứng trên đỉnh cao!” Ở đầu dây bên kia, Scott nhẹ giọng: 

— “Không… lần đầu tiên trong đời, tôi mới thật sự biết mình đang đi đâu.” 

“Anh bỏ hàng triệu đô để đổi lấy cuộc sống tu viện nghèo khó?” Scott mỉm cười:

 — “Tiền bạc cho tôi tiện nghi… nhưng không cho tôi ý nghĩa.” 

Ở tuổi 42, ông bước vào chủng viện St. Patrick’s Seminary, Menlo Park, California. Từ một doanh nhân nổi tiếng, ông trở thành một chủng sinh sống đời giản dị như bao người khác. Không còn vest đắt tiền. Không còn tiệc xa hoa. Không còn những cuộc họp triệu đô. Chỉ còn tiếng chuông nhà nguyện, những giờ cầu nguyện lặng lẽ và cuộc sống phục vụ tha nhân. Một người sống gần chủng viện từng hỏi ông:

 — “ Thầy có bao giờ nhớ cuộc sống cũ không?” Scott nhìn cây thánh giá trên tường rồi đáp: 

— “Có chứ… nhưng tôi không nhớ tiền bạc. Tôi chỉ tiếc mình đã không đáp lời Chúa sớm hơn.”

 ⸻ Ngày phong chức đang đến gần. Nhiều người xem hành trình của Scott-Vincent Borba như một phép lạ giữa thời đại mà con người chạy theo danh vọng và vật chất. Một người đàn ông đã có tất cả… nhưng vẫn dám từ bỏ tất cả… để tìm điều mà tiền không mua được: 

Đức tin. Sự bình an. Và ý nghĩa thật sự của cuộc đời. Có lẽ câu nói của ông sẽ còn làm nhiều người suy nghĩ mãi: 

— “Chúa gọi tôi từ năm tôi 10 tuổi… chỉ là tôi trả lời quá muộn.”

Giuse Phạm Sơn liêm

Chủng sinh Scott Borba trong ngày thụ phong phó tế June 21-2025. 

Ảnh EWTN #linhmuc #jesus #ongoithanhhien

 


 

SAI NHỮNG KẺ MONG MANH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Như Cha đã sai con đến thế gian, con cũng sai họ đến thế gian”.

Ngày kia, Thomas Edison đem về cho mẹ một tờ giấy. Đọc xong, bà ôm con và nói, “Con là một thiên tài; trường này quá nhỏ cho con!”. Nhiều năm sau, Edison mới biết mảnh giấy thật sự viết, “Con bà quá chậm, chúng tôi không nhận!”. Ông đã khóc và viết, “Một người mẹ anh hùng đã biến một đứa trẻ bị loại thành thiên tài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu có một bà mẹ kỳ vọng vào con, thì Chúa Giêsu càng kỳ vọng vào các môn đệ của Ngài. Họ không chỉ thay đổi thế giới, nhưng còn dự phần cứu độ nó! Tin Mừng hôm nay tiết lộ niềm tín nhiệm đầy nghịch lý ấy: Thiên Chúa không sợ ‘sai những kẻ mong manh’.

Điều đáng kinh ngạc trong Tin Mừng Gioan là Chúa Giêsu không xây dựng Hội Thánh bằng những con người hoàn hảo. Phêrô sẽ chối Thầy, Tôma sẽ nghi nan, các môn đệ sẽ bỏ chạy; vậy mà Ngài vẫn sai họ đi. Động từ Hy Lạp apostellō – “sai đi” – không chỉ mang nghĩa giao nhiệm vụ, nhưng còn diễn tả việc được tham dự vào chính sứ mạng ấy. Vì thế, Kitô hữu không phải là những người mạnh mẽ hơn người khác, nhưng là những kẻ mong manh được Thiên Chúa tín nhiệm và trao phó Tin Mừng.

Thiên Chúa thường gửi đi những con người “đủ yếu” cho sứ mạng họ nhận lãnh. Vì thế, sự mong manh không phải điều cản trở, nhưng lại là nơi quyền năng Thiên Chúa biểu lộ. Chúa Giêsu không chờ các môn đệ hoàn hảo rồi mới sai họ; Ngài ‘sai những kẻ mong manh’ giữa yếu đuối và thất bại, để họ học biết cậy dựa vào Ngài. Bình sành có nứt thì Ánh Sáng bên trong mới toả ra. “Nếu mục tiêu là sự lệ thuộc vào Thiên Chúa, thì yếu đuối lại là một lợi thế!” – Alistair Begg.

Phaolô hiểu rất rõ sự mong manh ấy. Ông biết “sói dữ”, xiềng xích và chống đối chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Vì Phaolô không cậy dựa vào sức riêng, nhưng vào “Lời ân sủng” – bài đọc một. Vậy mà giữa một thế giới đầy bất an, Thánh Vịnh đáp ca vẫn có thể reo lên, “Hỡi vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”; vì Tin Mừng chưa bao giờ được trao cho những kẻ bất khả chiến bại, nhưng cho những kẻ dễ vỡ. Kẻ tưởng mình bất khả chiến bại là kẻ đầu tiên bị loại khỏi cuộc chơi của ân sủng.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “Đấng được sai đi” đầu tiên – Đấng đã tự nguyện mang lấy mọi mong manh của phận người. Ngài bước vào thế gian không bằng quyền lực, nhưng với một thân xác có thể bị phản bội, tổn thương và đóng đinh. Thế nhưng, chính trong sự yếu hèn ấy, quyền năng cứu độ của Chúa Cha được biểu lộ. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là trở nên bất khả tổn thương, nhưng là dám để đời mình được Ngài sử dụng, ngay trong yếu đuối. Sự thánh thiện không nằm ở chiếc áo không tì vết, nhưng ở bàn chân lấm bùn vẫn dám bước đi. Có lẽ đó là lý do Chúa Giêsu vẫn tiếp tục ‘sai những kẻ mong manh’. “Thiên Chúa không đòi chúng ta thành công, nhưng để mình được Ngài sử dụng!” – Madeleine Delbrêl.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không mạnh mẽ như con tưởng; nhưng nếu Chúa vẫn còn tin con, xin cho con đủ can đảm đứng dậy và tiếp tục đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VII Phục Sinh

Lạy Cha, xin cho họ nên một như chúng ta.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 17,11b-19

11b Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14 Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. 18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.”


 

Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Vùng Matabele ở miền nam Zimbabwe là một miền đất khô cằn, đầy gió và im lặng. Nơi đây từng chìm trong tuyệt vọng khi đại dịch HIV/AIDS đạt đến đỉnh điểm tại châu Phi. Nhưng giữa bóng tối ấy, một tia hy vọng đã được khơi lên nhờ trái tim đầy lòng trắc ẩn của nữ tu Ludbirga Schumacher. Chính chị đã thành lập Trung tâm Sketimpilo, mở ra con đường hy vọng cho biết bao người nghèo khổ và bị bỏ rơi.

—–

Trung tâm Sketimpilo, do các Nữ tu Thừa sai Máu Châu Báu điều hành dưới sự quản lý của nữ tu Felistar Dube, CPS, đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng được tái sinh. “Sketimpilo” có nghĩa là “hãy chọn sự sống” – và đó cũng là tinh thần được sống mỗi ngày tại nơi đây.

Trung tâm được thành lập năm 1998 bởi nữ tu Ludbirga Schumacher, người Đức, trong giai đoạn đen tối nhất của Zimbabwe khi HIV/AIDS tàn phá đất nước, để lại phía sau biết bao trẻ mồ côi, người bệnh tật, bị loại trừ và gạt ra bên lề xã hội. Khi ấy, sự kỳ thị còn mạnh hơn lòng cảm thương, và nhiều người đã hoàn toàn mất hy vọng.

Một gốc cây khô lại đâm chồi

Nữ tu Ludbirga nhận ra nhu cầu cấp thiết phải nâng đỡ những trẻ em và người lớn nghèo khổ, dễ bị tổn thương, đang nhiễm bệnh hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Chị quy tụ các nhóm thiện nguyện, đào tạo những người chăm sóc cộng đồng, tổ chức các chuyến thăm viếng tại gia đình và dần khôi phục phẩm giá cho những người từng bị đánh mất giá trị của mình. Chị luôn nhắc nhở họ rằng, dù bị kỳ thị và xa lánh, cuộc đời họ vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Niềm hy vọng dần được hồi sinh. Hình ảnh một gốc cây khô mọc lên những chồi non trở thành biểu tượng của dự án – dấu chỉ rằng ngay giữa đổ vỡ và đau khổ, sự sống vẫn có thể nảy mầm. Hơn hai thập niên sau, nữ tu Felistar vẫn tiếp tục sứ mạng ấy với cùng một lòng can đảm.

Trung tâm của sự phát triển

Sketimpilo không tách trẻ em khỏi cộng đồng của các em, nhưng đem sự trợ giúp đến tận gia đình của những người dễ bị tổn thương. Nhờ sự hỗ trợ của các ân nhân, đặc biệt từ Đức và Tây Ban Nha, trung tâm hiện đóng học phí cho gần 120 trẻ em, hỗ trợ tâm lý và giúp các em không cảm thấy bị bỏ rơi trong đau khổ.

Những hoa trái đã dần xuất hiện. Hai em từng được trung tâm hỗ trợ hiện đã vào đại học – một em học ngành công tác xã hội, em còn lại học ngành phát triển cộng đồng – và nay chính các em quay trở về để phục vụ nơi từng nâng đỡ mình.

Những kỹ năng làm thay đổi cộng đồng

Một trong những sáng kiến nổi bật nhất của trung tâm là chương trình đào tạo kỹ năng thực hành. Mỗi năm, khoảng 60 bạn trẻ được đào tạo về may mặc, nông nghiệp, điện dân dụng, xây dựng và làm bánh.

Những người học xây dựng giúp dựng nhà cho các gia đình khó khăn, còn các học viên ngành điện lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho trường học và nhà dân ở vùng quê.

Một số học viên tốt nghiệp từ Sketimpilo hiện đang làm việc cho các công ty lớn trong nước, kể cả ngành điện lực Zimbabwe, qua đó xây dựng tương lai cho chính họ và cộng đồng của mình.

Đức tin và sự kiên trì

Điều hành một sứ mạng như thế giữa vùng đất đầy khó khăn kinh tế không phải điều dễ dàng. Nguồn nước khan hiếm, tài trợ luôn bấp bênh, và các gia đình đông con chỉ có thể sống tạm nhờ phần lương thực ít ỏi trung tâm phân phát mỗi tháng.

Tuy nhiên, giữa muôn vàn thử thách ấy, nữ tu Felistar vẫn nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động.

“Có những lúc chúng tôi nghĩ mình không thể tiếp tục nữa: không lương, không tiền, không có cả thực phẩm để phân phát,” chị chia sẻ. “Nhưng lời cầu nguyện giúp chúng tôi đứng vững, và niềm tín thác vào Thiên Chúa giúp chúng tôi tiếp tục bước đi.”

Niềm xác tín của chị thật đơn sơ nhưng sâu sắc: Thiên Chúa luôn mở đường cho những ai biết chọn sự sống.

Một nơi âm thầm nhưng tạo ảnh hưởng lớn

Do tình hình kinh tế khó khăn tại Zimbabwe và nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, các nữ tu cố gắng giúp người dân tự lập bằng cách trao cho họ kỹ năng và cơ hội việc làm.

Để duy trì các hoạt động bác ái, Sketimpilo hiện có một số phòng lưu trú, một hội trường nhỏ và dịch vụ nấu ăn. Nguồn thu từ đó được dùng để trả lương nhân viên và duy trì hoạt động của trung tâm.

Dẫu vậy, nhiều khó khăn vẫn còn đó. Các tòa nhà đã cũ kỹ, nhiều nơi được xây từ những ngày đầu năm 1998 và cần được sửa chữa. Chung quanh trung tâm cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở hiện đại hơn, nhưng nhiều người vẫn chọn Sketimpilo bởi sự bình an, tinh thần phục vụ và lòng hiếu khách nơi đây.

“Nhiều người biết rằng đây là nơi của sự chăm sóc,” nữ tu Felistar nói, “và họ đến vì họ cảm thấy an toàn.”

Luôn sống với một mục đích

Hiện nay, nữ tu Felistar là nữ tu duy nhất phục vụ toàn thời gian tại trung tâm. Dù cộng đoàn nhỏ bé, chị vẫn mang trong mình một quyết tâm lớn lao. Chị hy vọng một ngày nào đó Sketimpilo sẽ phát triển thành một trung tâm đào tạo nghề – điều mà giới trẻ trong vùng đang rất cần.

“Chúng tôi cùng nhau làm việc như những nữ tu và những người được phục vụ; tất cả đều là của lễ dâng lên Thiên Chúa,” chị nói trong tâm tình biết ơn. “Tôi cảm ơn các gia đình mà chúng tôi đang hỗ trợ – ngay cả những điều nhỏ bé chúng tôi trao tặng, quý vị luôn trân trọng. Chính lòng biết ơn ấy tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi. Và với các ân nhân, chúng tôi không thể đứng vững nếu thiếu quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho quý vị.”

Công việc của Sketimpilo hiện được nâng đỡ nhờ sự quảng đại của các đối tác như German Friends và Manus Unitas. Nhờ đó, các nữ tu CPS tiếp tục mang đến sự sống, giáo dục và phẩm giá cho những người dễ bị tổn thương nhất.

Nữ tu Christine Masivo, CPS

Nguồn: Vatican News