MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO- (Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

Maria Mai Tâm

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO

(Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

  1. Bệnh quá khứ cục bộ.

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: “Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!”.

Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại !

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở:

“Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !”.

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống.

Quá khứ không bao giờ trở lại.

Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói:

“Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn”.

Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

  1. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì “để xem đã”, hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu “không làm nổi đâu” !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity).

Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện:

Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan.

Kẻ tiêu cực bi quan.

Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói:

Đừng trách rằng tối;

tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi !

Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: “Đừng sợ”, vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

  1. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng:

Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế …

Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

  1. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay: Người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này:

Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ.

Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui:

Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha (ĐTC). Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không.

ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ.

– Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn.

Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi, tôi đi đường tôi, anh đi đường anh.

  1. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể:

Hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc.

Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng… Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: Tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

  1. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người công giáo kiểu đó thường hay trở thành công giáo tùy thời: Thịnh thì công giáo, suy thì chối.

Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn.

Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt…mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái, tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận.

Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai.

Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh cha nói: “không cần ai bỏ phiếu cho sự thật” vì sự thật vẫn là sự thật.

  1. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe.

– Chứ con xin điều gì ?

– Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi!

– Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây!

– Dạ Chúa đợi gì con đây?

– Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn.

Ông gặp thánh Phêrô.

Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại:

– Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ?

– Có.

– Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không?

– Có.

– Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ?

– Có.

– Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

  1. Bệnh tùy hứng vô định

– Người không có lý tưởng rõ ràng.

– Đời vô định hướng.

– Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại.

Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và Mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được.

Nhưng phải định hướng cho trúng.

Truyện kể:

– Có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới.

– Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình.

– Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

  1. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng:

Thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó.

Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

  1. Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm, vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người.

Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học:

Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức.

Có nhiều người “phạm tội vì Chúa”: lấy lý do “vì Chúa” mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta.

Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh này nên có câu châm ngôn: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác”. Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn:

“Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con” (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin.

Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: “Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô”.

H.Y. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

—————————

(Bài nói chuyện của Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khi còn làm Tổng Giám mục, với giới trẻ Việt Nam hải ngoại tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.9.1998) 


 

PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Suy ngẫm về lời cầu xin

Lạy Chúa, con cầu xin ơn Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ.

Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.

Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.

Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết, con cần đến Chúa.

Con cầu xin có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để được hưởng mọi sự.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.

Lạy Chúa, hoá ra, con lại là người may mắn hơn hết trên cõi đời này bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn. Amen

(trích trong Lịch Phụng Vụ Ất Tỵ 2025 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ, tháng 06 trang 127)


 

Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội?- Cha Vương

Xin Chúa gìn giữ bạn và gia quyến để bạn đừng xa lạc con đường Chân Thiện Mỹ nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới nhe 

Cha Vương

Thứ 5: 04/06/2026.     (n8-23)

GIÁO LÝ: Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội? Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên chi thể của thân thể Chúa Kitô, anh chị em của Đấng Cứu chuộc, con cái Thiên Chúa. Chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, thoát khỏi sự chết, được lãnh số phận sống vui trong Đấng Cứu chuộc ta. (YouCat, số 200)

SUY NIỆM: Được rửa tội có nghĩa là lịch sử đời tôi được chìm đắm trong dòng chảy tình yêu của Chúa. Đức Bênêđictô XVI nói: “đời tôi thuộc về Chúa Kitô chứ không còn thuộc về tôi nữa… Được Chúa tháp tùng, vâng, được Chúa đón nhận vào tình yêu của Người, tôi được thoát khỏi sợ hãi. Chúa bao bọc tôi và mang tôi đi tất cả nơi nào tôi đi, Người là chính sự sống”. (YouCat, số 200 t.t.)

❦  Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6,4)

❦  Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (1 Tm 2,4)

Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3,5)

❦  Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. (Rm 14,8)

❦  Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. (1 Cr 12,13)

LẮNG NGHE: Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người. (Rm 8,17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua bí tích rửa tội, Chúa đã cho con được tái sinh nhờ nước thánh tẩy, để nên một với Đức Kitô. Xin Chúa thương phù trì, giúp con luôn chiến thắng tội lỗi và trung thành đáp lại tình thương của Chúa.

THỰC HÀNH: Bạn có nhớ người lãnh nhận bí tích Rửa tội thề hứa những gì không? Từ bỏ ma quỷ, xa lánh tội lỗi, tin kính Thiên Chúa Ba Ngôi và giữ lề luật của Ngài. Hôm nay, xin bạn hãy cố gắng sống theo lời hứa của mình nhé.

From: Do Dzung

************************

[THÁNH CA] – ĐOAN HỨA | PHƯƠNG THẢO

KHÔNG VỪA KHUÔN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng!”.

Tương truyền, khi được hỏi làm sao tạo nên tượng Đavít, Michelangelo trả lời: “Bức tượng vốn đã ở trong khối đá; tôi chỉ loại bỏ những gì không phải Đavít!”. Con người thường làm điều ngược lại: họ cố đẽo Đức Kitô cho vừa với những mong đợi và khuôn mẫu của mình.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Đức Kitô không vừa với bất cứ khuôn mẫu nào con người dựng lên. Ngài không chỉ là “con vua Đavít”; Ngài còn là “Chúa Thượng của Đavít”. Ngài là Đấng ‘không vừa khuôn’.

Với người Do Thái, gọi Đấng Messia là “con vua Đavít” đã là một tước hiệu rất cao. Đó không chỉ là một danh xưng, nhưng hàm chứa khát vọng phục hồi Israel. Nhưng Chúa Giêsu đi xa hơn: nếu Đavít gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng”, thì Ngài không thể chỉ là hậu duệ của Đavít; nghĩa là, Thiên Chúa luôn lớn hơn mọi hình dung tôn giáo, chính trị hay lịch sử con người dựng lên. Bi kịch lớn nhất là bắt Trời cao phải làm đầy các nhu cầu ích kỷ của một linh hồn tham lam. “Thiên Chúa luôn là mầu nhiệm vượt quá khả năng nắm bắt của con người!” – Karl Rahner.

Khi gọi Đấng Kitô là Kyrios – Chúa Thượng, Chúa Giêsu mở tung mọi giới hạn con người áp đặt cho Thiên Chúa. Người ta muốn một vị thần giải quyết vấn đề, bảo vệ lợi ích hay đứng về phía mình; nhưng Thiên Chúa luôn là Deus semper maior – Đấng lớn hơn mọi định nghĩa. Ngài không đến để xác nhận những mong đợi của con người, nhưng để hoán cải chúng. Chúa Giêsu liên tục làm người đương thời khó chịu: Ngài không vừa với tham vọng chính trị của người Pharisêu, không vừa với thứ đạo đức khép kín của giới kinh sư, cũng không vừa với giấc mơ quyền lực của các môn đệ. Đẽo gọt Thiên Chúa cho vừa với ý mình là đang tạo ra một ngẫu tượng thay vì thờ phượng Ngài. “Chỉ Thiên Chúa mới hiểu thấu Thiên Chúa!” – Karl Barth.

Bình an không đến từ một Thiên Chúa vừa khít với các nhu cầu của mình, nhưng từ việc để chính mình được biến đổi theo ý Ngài. Timôthê được mời gọi trung thành với chân lý đã lãnh nhận – bài đọc một. “Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái!” – Thánh Vịnh đáp ca – bởi lẽ, chỉ khi thôi bắt Thiên Chúa phải vừa với ý mình, con người mới bắt đầu nếm cảm sự bình an! “Thiên Chúa vượt khỏi mọi điều con người có thể nắm bắt hay gọi tên!” – Angelus Silesius.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để vừa với những khuôn mẫu con người dựng lên; Ngài đến để phá vỡ chúng. Là Kyrios – Chúa Thượng, Ngài không thể bị thu nhỏ trong bất cứ khuôn mẫu nào. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ một Thiên Chúa vừa tầm với mong đợi của tôi, nhưng là dám để đời tôi bị phá vỡ và tái tạo bởi một Thiên Chúa luôn lớn hơn. Nhiều khi, con người không gặp được Chúa Kitô không phải vì Ngài quá xa, nhưng vì họ chỉ muốn một Thiên Chúa vừa khuôn với mình. Đức tin không nhằm giúp ai an vị trong vùng đất cũ, nhưng là cuộc phá vỡ để bước vào Đấng lớn hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, như nhà điêu khắc đã loại khỏi khối đá những gì không phải Đavít; xin đẽo khỏi đời con những gì không thuộc về Chúa, để Đức Kitô thành hình nơi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Sao người ta nói Đức Ki-tô là con vua Đa-vít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,35-37

35 Khi ấy, khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su lên tiếng hỏi : “Sao các kinh sư lại nói Đấng Ki-tô là con vua Đa-vít ? 36 Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói : Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi : bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con.

37 “Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được ?” Đám người đông đảo nghe Đức Giê-su cách thích thú.


 

LUÔN CÓ NHỮNG TÊN MẬT THÁM – Lm. Mark Link, S.J.


Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng cho là dĩ nhiên những quà tặng đặc biệt như Mình Thánh Chúa và cha ruột của chúng ta.

 Cha Walter Ciszek bị lính Nga bắt trong Thế Chiến II.  Người bị kết tội là “gián điệp của Vatican” và bị 23 năm tù trong các trại lao động ở Siberia.  Sau cùng khi ra khỏi tù, cha đã viết một cuốn sách về các cảm nghiệm này.  Cha lấy tên sách là Người Đã Dẫn Dắt Tôi.

 Trong sách có nhiều câu chuyện cảm động về những hy sinh của các tù nhân khi rước Mình Thánh Chúa trong tù.  Một câu chuyện đáng được nhắc đến.  Trước khi chia sẻ câu chuyện ấy, chúng ta cần biết một chút về quá khứ.

 Trong thời Thế Chiến II, trước khi có Công Đồng Vatican II, luật Giáo Hội buộc phải kiêng ăn uống 24 giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa.  Hãy nhớ đến điều này khi lắng nghe Cha Ciszek kể trong sách:

 Tôi từng thấy… các tù nhân đành mất giấc ngủ cần thiết và thức dậy sớm trước khi chuông reo để dự Thánh Lễ cách lén lút…  Chúng tôi sẽ bị phạt nặng nếu việc tham dự Thánh Lễ bị khám phá, và luôn luôn có những tên mật thám…

 Tất cả những điều này gây khó khăn khi có nhiều tù nhân tham dự, do đó chúng tôi thánh hiến thêm bánh và phân phát Mình Thánh cho các tù nhân khác khi có thể.  Đôi khi điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ có thể gặp họ khi trở về doanh trại vào ban đêm trước khi ăn tối.

 Tuy thế, những người này thực sự đã giữ chay cả ngày dài và lao động kiệt lực mà không ăn uống gì từ sau bữa ăn tối hôm trước, chỉ để rước Mình Thánh Chúa – đó là ý nghĩa của bí tích này đối với họ! 

 Nói cách khác, nó giống như bạn và tôi không ăn uống gì kể từ lúc này ngày hôm qua.  Trong khi đó, chúng ta còn phải lao động muốn gẫy lưng trong nhiệt độ dưới số không.  Đó là ý nghĩa của Mình Thánh đối với Cha Ciszek và các tù nhân.

 Câu chuyện này là một câu chuyện thích hợp cho lễ Mình Thánh Chúa.  Chữ Corpus Christi tiếng Latinh có nghĩa “thân thể của Chúa Kitô.”  Vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa chúng ta tôn kính Thân Thể của Chúa Kitô.

 Tại sao chúng ta lại dành riêng một ngày để kính Thân Thể Chúa Kitô?  Không phải là chúng ta kính Mình Thánh Chúa trong mọi Thánh Lễ hay sao?  Vậy tại sao lại có ngày đặc biệt này?

 Chúng ta cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa với cùng lý do như chúng ta cử hành Ngày Người Cha.  Đó là vì loài người chúng ta có khuynh hướng cho là điều dĩ nhiên những món quà đặc biệt như Mình Thánh Chúa Kitô và như các người cha của chúng ta.

 Đó là một trong những thảm kịch lớn của đời sống khi chúng ta có khuynh hướng đánh mất sự cảm kích một số quà tặng rất quý báu mà chúng ta có.  Tại sao lại như vậy?

 Các nhà tâm lý nói rằng nếu chúng ta chú ý đến mọi tiếng động nghe được hoặc mọi mầu sắc thấy được, có thể nói chúng ta sẽ trở thành điên.  Để bảo vệ chúng ta khỏi bị điên, chúng ta quen thuộc hóa các tiếng động và mầu sắc này.  Chúng ta cản trở và gạt chúng ra ngoài sự chú ý.

 Tỉ như, nếu chúng ta nghe tiếng lạch cạch đánh máy chữ ở phòng bên cạnh, tai chúng ta không còn nghe được âm thanh ấy nữa.  Các nhà tâm lý gọi tiến trình này là “quen thuộc hóa.”

 Nhưng quen thuộc hóa có một khía cạnh tiêu cực.  Nó có sự hạn chế.  Chúng ta có khuynh hướng quen thuộc hóa mọi thứ sau một thời gian – cảnh hoàng hôn, bông hoa, bạn hữu, cha mẹ, và ngay cả Mình Thánh Chúa Kitô.  Chúng ta mất sự nhận thức về các điều ấy.  Chúng ta không còn phấn khởi về các điều ấy.  Chúng ta coi các điều ấy là điều dĩ nhiên.

 Quen thuộc hóa là một trong những lý do chính tại sao thiền trở nên phổ thông.  Mục đích của thiền là giúp chúng ta đừng quen thuộc hóa.  Nó giúp chúng ta lại trở nên nhạy cảm trước cảnh đẹp của hoàng hôn, bông hoa, và bạn hữu.

 Để có ý tưởng về cách hoạt động này, thử chú ý đến một vật quen thuộc, tỉ như một cánh hoa, như thể bạn nhìn thấy nó lần đầu tiên.  Hoặc chú ý đến ai đó bạn yêu mến, như cha của bạn, như thể lần đầu tiên bạn nhìn thấy người và muốn in sâu vào tâm khảm hình ảnh cuối cùng này của ông.

 Điều này đưa chúng ta trở về Mình Máu Thánh Chúa.  Ngày lễ này đề ra cho chúng ta một lời mời và một thách đố.

 Trước hết, lời mời.  Mình Máu Thánh Chúa mời chúng ta tự hỏi, Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta?  Chúng ta có còn quý trọng như trước đây chúng ta rước lễ lần đầu tiên không?  Điều này có ý nghĩa thật nhiều đối với chúng ta như đối với các tù nhân trong sách của Cha Ciszek không?

 Nếu câu trả lời của chúng ta là không, chúng ta đối diện với một thách đố.  Nó cũng giống như thách đố mà Ngày Người Cha đặt ra cho chúng ta.  Nó như thế này:

 Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng Thánh Thể một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng người cha của chúng ta một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta lại trở nên phấn khởi coi hai điều này như quà tặng quý báu cho chúng ta?

 Một cách thi hành là làm những gì người thiền thi hành.  Cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể bạn mới khám phá ra điều đó lần đầu tiên.

 Emilie Griffin, bà là người ở trong kỹ nghệ quảng cáo Nữu Ước, và trở nên người Công Giáo vài năm trước đây.  Bà viết một cuốn sách thu hút được gọi là Turning.  Bà viết:

 Một sự sùng kính Thánh Thể ngày càng gia tăng – và một niềm tin vào sự Hiện Diện Thật – đã lôi kéo tôi về với Giáo Hội Công Giáo…  Khi sự sùng kính Thánh Thể của tôi gia tăng, tôi lại càng hấp dẫn với đạo Công Giáo.

 Và như thế chúng ta phải cố gắng suy niệm về Thánh Thể theo cách bà Emilie Griffin đã làm khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn lường này lần đầu tiên.

 Tôi có thể kết thúc với hai đề nghị được không?

 Thứ nhất, trong tuần lễ trước mặt hãy thêm một lời cảm tạ trong phần kinh nguyện hàng ngày của bạn vì món quà của Chúa Kitô là Thân Thể của Người ban cho chúng ta.

 Thứ hai, trong Thánh Lễ khi bạn xếp hàng lên rước lễ, hãy tập trung tư tưởng đến người mà bạn sẽ lãnh nhận khi thừa tác viên thánh thể nâng bánh lễ lên và nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.”

 Bạn sẽ lãnh nhận Thân Thể sống động của Chúa Kitô.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã sinh ra ở Bêlem.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chết trên thập giá.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.

 Khi bạn nghĩ về điều này, nó thật vô cùng khó khăn để mường tượng.  Nhưng qua đức tin, chúng ta biết đó là sự thật.

Chỉ có một Thiên Chúa đầy yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một món quà không thể tưởng được như thế. 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? – Cha Vương 

Mỗi ngày Chúa trao cho bạn một tờ giấy trắng. Bạn sẽ là người vẽ lên đó, vì thế hãy vẽ sao cho đẹp lòng Chúa nhé. Chúc bình an! Mời bạn tiếp tục suy niệm những bài Giáo Lý căn bản trong quyển Giáo Lý YouCat.

Cha Vương 

Thứ 4: 3/06/2026.     (n4-25)

GIÁO LÝ: Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không? Đối với những ai đã đón nhận Tin Mừng và đã biết Lời Chúa Giêsu dạy: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14,6), bí tích Rửa tội là con đường duy nhất cho họ đến cùng Thiên Chúa để được cứu độ. Nhưng vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người, và mọi người đều được mời gọi để được cứu độ nên dù một người không có cơ hội học biết về Chúa Kitô và đức tin, mà họ tìm Chúa cách chân thành và sống theo lương tâm mình, họ cũng gặp ơn cứu độ. Họ được rửa tội bằng lòng muốn. (YouCat, số 199) Trong Hội thánh Công giáo, có 3 hình thức rửa tội, nó cho chúng ta biết những người chưa được rửa tội có thể đến được cửa thiên đàng như thế nào.

  1. RỬA TỘI BẰNG NƯỚC: Rửa tội bằng nước là hình thức “thông thường” quen thuộc nhất mà chúng ta thấy.
  2. RỬA TỘI DO LÒNG MUỐN: Hình thức rửa tội thứ hai này khó hiểu nhất và cũng là một trong những hình thức giải thích cởi mở nhất. Ví dụ rõ ràng nhất về hình thức rửa tội do lòng muốn, tức là khi một người đang trên tiến trình nhận phép rửa nhưng không thể hoàn thành nó. “Đối với những người dự tòng chết trước khi được rửa tội, nếu họ minh nhiên ước muốn được rửa tội, đồng thời sám hối tội lỗi và sống đức mến, thì họ được bảo đảm ơn cứu độ, dù chưa thể lãnh nhận bí tích” (GLCG 1259)
  3. RỬA TỘI BẰNG MÁU: Sau rửa tội bằng nước, hình thức rửa tội này là rõ ràng nhất. Về cơ bản đó là khi một người chưa được rửa tội nhưng chết vì đức tin Kitô giáo. “Hội Thánh luôn xác tín rằng những người chịu chết vì đức tin mà trước đó chưa được rửa tội, thì coi như đã được thanh tẩy, vì đã chết cho Đức Kitô và với Đức Kitô” (GLCG 1258).

SUY NIỆM: Thiên Chúa đã liên kết việc cứu rỗi với các bí tích. Vì thế Hội thánh phải không ngừng trao ban cho nhân loại. Từ chối sứ mệnh này là phản bội lệnh truyền của Chúa. Nhưng chính Chúa không bị trói buộc vào các bí tích của Người. Nơi nào Hội thánh chưa đến được, hoặc không làm được – dù do lỗi của Hội thánh hoặc vì các lý do khác – chính Chúa mở ra cho con ngưởi một đường khác để được cứu rỗi. (YouCat, số t.t.)

LẮNG NGHE: Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12:50)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin chỉ cho con biết tầm quan trọng của ơn cứu rỗi để con sống thánh thiện hơn mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Kiểm tra lại lối sống của bạn coi nó có minh chứng cho đức tin của bạn không?

From: Do Dzung

*****************************

Đường con theo Chúa -tinmung.net

 THIẾU MỘT BƯỚC CUỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!”.

“Nhiều người thuộc về Thiên Chúa mà Hội Thánh không có; và nhiều người Hội Thánh có lại không thực sự thuộc về Thiên Chúa!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể về một kinh sư: ông hỏi đúng, hiểu đúng và trả lời đúng; nhưng Chúa Giêsu chỉ nói: “Ông không còn xa…”. Hoá ra, người ta có thể rất gần Thiên Chúa qua dáng vẻ đạo đức, mà vẫn ‘thiếu một bước cuối’ để thật sự bước vào Nước Ngài.

Vị kinh sư không còn mắc kẹt trong thứ đạo đức hình thức. Ông hiểu rằng, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Nhưng Chúa Giêsu vẫn không bảo đảm ông đã ở trong Nước Trời; bởi lẽ, Kitô giáo không dừng ở chỗ hiểu đúng về Thiên Chúa, nhưng là để toàn bộ đời mình bước vào tương quan với Ngài. Khoảng cách cuối cùng không nằm ở tri thức, mà ở sự dấn thân của toàn bộ hiện hữu; giữa biết điều phải sống và thật sự dám sống điều đã biết. “Kitô giáo không phải là một lý thuyết để hiểu, nhưng là một sự sống để bước vào!” – Karl Rahner.

Vì thế, Chúa Giêsu không nói: hãy yêu Thiên Chúa bằng một cảm xúc đạo đức nào đó, nhưng bằng “toàn thể” con người. Marcô dùng bốn từ rất mạnh: kardia, psychē, dianoiaischys. Nghĩa là, Thiên Chúa không muốn con người nhường cho Ngài một góc nhỏ đạo hạnh trong đời sống; Ngài muốn trọn con người ấy. Chính ở đây, nhiều người vẫn “không xa” Nước Trời, nhưng chưa thật sự bước vào: họ dành cho Chúa một phần thời gian, một phần niềm tin hay chút thiện chí; nhưng chưa bao giờ thật sự phó thác cho Ngài. Bố thí cho Thiên Chúa một góc nhỏ cuộc đời là một hình thức sỉ nhục Trời cao. Thông suốt giáo lý mà không dám dấn thân chỉ là đứng ngắm Nước Trời từ xa. Người ta có thể nói rất đúng về Nước Trời, nhưng không ai bước vào đó bằng kiến thức.

Phaolô nhắn nhủ Timôthê: “Hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô!” – bài đọc một. Nghĩa là, đức tin Kitô giáo không hệ tại ở việc ghi nhớ một giáo huấn, nhưng ở việc để chính Đức Kitô chiếm lấy đời mình. Vì thế, điều con người cần không chỉ là biết đường về Nước Trời, nhưng là thật sự bước đi trên con đường ấy. Biết đường mà không cất bước vẫn là kẻ lưu vong. “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết!” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải là lời xin thêm kiến thức, nhưng là lời xin được dẫn vào một lối sống mới.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về giới răn yêu thương; chính Ngài là Đấng đã sống trọn giới răn ấy. Ngài yêu Chúa Cha không bằng một phần đời mình, nhưng bằng toàn bộ hiện hữu – đến tận thập giá. Và tại đó, Ngài yêu con người bằng cách trao hiến toàn thân cho họ. Vì thế, theo Chúa Kitô không chỉ là biết điều phải làm, mà là dám bước qua khoảng cách cuối cùng giữa hiểu biết và trao hiến. Có những người rất gần Nước Trời, nhưng vẫn đứng ngoài vì chưa bao giờ thật sự đặt đời mình vào tay Thiên Chúa. Họ ‘thiếu một bước cuối’. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với quá ít!” – Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều giằng xé lòng con, xin dạy con biết dành cho Chúa không phải một phần nhỏ, nhưng toàn bộ cuộc sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

 Anmai CSsR 

KHI TRUYỀN THÔNG CỦA GIÁO HỘI ĐƯỢC TRAO CHO MỘT NGƯỜI NỮ GIÁO DÂN

Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV bổ nhiệm bà Maria Montserrat Alvarado, hiện là Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của EWTN News, làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông của Tòa Thánh không chỉ là một quyết định nhân sự. Đây là một dấu chỉ. Một dấu chỉ rất mạnh mẽ về cách Giáo hội đang bước vào thời đại mới của truyền thông, thời đại mà Tin Mừng không chỉ được rao giảng trên tòa giảng, trong sách vở, trong nhà thờ, nhưng còn phải hiện diện giữa dòng chảy cuồn cuộn của hình ảnh, âm thanh, mạng xã hội, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và những biến động không ngừng của tâm thức con người hôm nay.

Bà Maria Montserrat Alvarado, sinh tại thành phố Mexicô, từng được đào tạo tại Đại học Quốc tế Florida và Đại học George Washington. Trước khi bước vào EWTN News, bà đã có nhiều năm làm việc tại Quỹ Becket vì Tự do Tôn giáo, nơi bà tham gia các hoạt động bảo vệ tự do tôn giáo và cổ võ phẩm giá con người. Từ năm 2023, bà đảm nhận vai trò lãnh đạo tại EWTN News, một hệ thống truyền thông Công giáo có tầm ảnh hưởng quốc tế, sản xuất nội dung qua nhiều ngôn ngữ và nhiều nền tảng khác nhau: truyền hình, phát thanh, báo in, kỹ thuật số và mạng xã hội. Chính kinh nghiệm ấy cho thấy bà không chỉ là một người làm truyền thông, nhưng là một người hiểu truyền thông như một sứ mạng, nơi chân lý cần được nói bằng ngôn ngữ của thời đại mà vẫn không đánh mất linh hồn của Tin Mừng.

Quyết định bổ nhiệm này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 2026. Bà Alvarado sẽ kế nhiệm ông Paolo Ruffini, người được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm năm 2018 và là giáo dân đầu tiên đứng đầu một Bộ thuộc Giáo triều Rôma. Nếu ông Ruffini là dấu mốc cho thấy người giáo dân có thể đảm nhận những trách nhiệm cao trong cơ cấu phục vụ của Tòa Thánh, thì bà Alvarado lại mở ra một dấu mốc mới: một phụ nữ giáo dân, không thuộc đời sống thánh hiến, được trao phó vai trò lãnh đạo một Bộ của Tòa Thánh. Điều đó không chỉ nói về sự hiện diện của nữ giới trong Giáo hội, nhưng còn nói về sự trưởng thành của một Giáo hội biết nhìn nhận đặc sủng, khả năng, kinh nghiệm và trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa.

Bộ Truyền thông không phải là một cơ quan phụ bên lề đời sống Giáo hội. Trong thế giới hôm nay, truyền thông là một “mặt trận” thiêng liêng và nhân bản rất lớn. Qua truyền thông, con người có thể được nâng lên, được khai sáng, được an ủi, được nối kết; nhưng cũng qua truyền thông, con người có thể bị thao túng, bị chia rẽ, bị đầu độc bởi tin giả, hận thù, cực đoan, giật gân và sự nông cạn. Vì thế, người đứng đầu Bộ Truyền thông không chỉ cần kỹ năng quản trị, nhưng cần một tầm nhìn mục vụ: làm sao để tiếng nói của Giáo hội không bị chìm giữa ồn ào, không bị biến thành khẩu hiệu, không bị mắc kẹt trong cơ chế, nhưng trở thành tiếng nói của sự thật, lòng thương xót, hiệp thông và hy vọng.

Đức Giáo hoàng Lêô XIV, qua quyết định này, tiếp nối con đường cải tổ mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khởi xướng: một Giáo triều không khép kín trong não trạng giáo sĩ trị, nhưng biết mở ra cho sự cộng tác của giáo dân; một Giáo hội không chỉ nói về phẩm giá người nữ, nhưng trao trách nhiệm thực sự cho người nữ; một cơ cấu phục vụ không chỉ vận hành bằng chức vị, nhưng bằng khả năng, lòng trung thành, sự chuyên nghiệp và tinh thần sứ vụ.

Điều đáng suy nghĩ là người được bổ nhiệm không xuất thân từ một môi trường thuần túy hành chính, nhưng từ một môi trường truyền thông Công giáo sống động, trực diện với những thách đố của thời đại. Điều đó cho thấy Tòa Thánh hiểu rất rõ rằng truyền thông hôm nay không còn là việc “phát đi thông cáo” hay “đưa tin sau sự kiện”. Truyền thông hôm nay là hiện diện, lắng nghe, phân định, đối thoại, giải thích, làm chứng và nối kết. Giáo hội không thể chậm chân trước những ngôn ngữ mới của nhân loại. Nhưng Giáo hội cũng không được đánh mất chiều sâu thiêng liêng khi bước vào các nền tảng mới. Vấn đề không chỉ là Giáo hội có mặt trên mạng xã hội hay không, nhưng là Giáo hội hiện diện ở đó với gương mặt nào: gương mặt của Chúa Kitô hay gương mặt của quyền lực, tranh luận và hơn thua?

Trong lời phát biểu sau khi được bổ nhiệm, bà Alvarado nói rằng việc bổ nhiệm này là điều bất ngờ, nhưng bà đón nhận với lòng chân thành mong muốn phục vụ Đức Thánh Cha khi ngài bắt đầu triều đại giáo hoàng của mình. Câu nói ấy đáng được chú ý. Truyền thông Kitô giáo trước hết không phải là nơi để xây dựng tên tuổi cá nhân, nhưng là một cách phục vụ. Người làm truyền thông của Giáo hội không được phép biến mình thành trung tâm. Trung tâm phải là Chúa Kitô. Không phải sự nổi tiếng, không phải lượt xem, không phải tốc độ lan truyền, không phải sự hào nhoáng kỹ thuật, nhưng là Tin Mừng được truyền đạt với sự thật, lòng bác ái và sự khiêm nhường.

Ông Paolo Ruffini, trong thư gửi các nhân viên của Bộ Truyền thông, đã dùng hình ảnh “trao lại ngọn đuốc trong khi vẫn tiếp tục chạy”. Đó là một hình ảnh rất đẹp. Giáo hội không đứng yên. Sứ mạng không dừng lại ở một người. Người này đến, người kia đi, nhưng Tin Mừng vẫn phải tiếp tục được loan báo. Ngọn đuốc không phải là quyền lực để giữ lấy, nhưng là ánh sáng để chuyền tay. Người phục vụ thật sự biết đến lúc phải trao lại; người kế nhiệm thật sự biết đón nhận không phải để xóa bỏ quá khứ, nhưng để tiếp tục hành trình trong tinh thần hiệp thông.

Bản tin này vì thế không chỉ là tin về một phụ nữ được bổ nhiệm vào một chức vụ cao. Đây là một lời mời gọi Giáo hội suy nghĩ lại về chính cách mình truyền thông. Chúng ta đang nói gì với thế giới? Chúng ta đang nói bằng cung giọng nào? Chúng ta có đang truyền thông như những người xây cầu, hay như những người dựng thêm bức tường? Chúng ta có đang làm cho người ta gặp Chúa Kitô, hay chỉ làm cho người ta thấy những tranh cãi nội bộ của người Công giáo? Chúng ta có dùng truyền thông để chữa lành, hay để kết án? Để hiệp thông, hay để chia rẽ? Để loan báo Tin Mừng, hay để bảo vệ cái tôi của mình?

Trong thời đại mà một lời nói có thể đi khắp thế giới chỉ trong vài giây, người Công giáo càng phải học lại sự thận trọng, hiền lành và trách nhiệm. Truyền thông không chỉ là kỹ thuật đưa tin. Truyền thông là luân lý. Truyền thông là mục vụ. Truyền thông là linh đạo. Một bản tin sai có thể làm tổn thương người vô tội. Một lời bình ác ý có thể giết chết danh dự một con người. Một hình ảnh bị cắt xén có thể tạo nên hiểu lầm. Một tiêu đề giật gân có thể làm nghèo đi sự thật. Vì thế, truyền thông Công giáo phải khác: không phải chậm vì thiếu khả năng, nhưng chậm đủ để trung thực; không phải nhạt vì sợ hãi, nhưng sâu vì có Tin Mừng; không phải ồn ào để thắng thế, nhưng sáng trong để phục vụ sự thật.

Việc bà Maria Montserrat Alvarado được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Truyền thông cũng nhắc cho mọi giáo dân rằng Giáo hội không chỉ là chuyện của hàng giáo sĩ. Giáo hội là Dân Chúa. Mỗi người đã chịu phép Rửa đều có phần trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Có người loan báo bằng giảng dạy. Có người loan báo bằng phục vụ người nghèo. Có người loan báo bằng đời sống gia đình. Có người loan báo bằng nghề nghiệp. Và có người loan báo bằng truyền thông. Khi một giáo dân được trao một trách nhiệm lớn trong Giáo triều, đó không phải là sự “thay thế” hàng giáo sĩ, nhưng là sự cộng tác đúng nghĩa trong thân thể mầu nhiệm của Hội Thánh, nơi mỗi chi thể có một vai trò, một ơn gọi và một cách phục vụ riêng.

Tin vui này cũng là một lời nhắc cho những người làm truyền thông Công giáo ở mọi cấp độ: từ Vatican đến giáo phận, giáo xứ, hội dòng, nhóm tông đồ, trang cá nhân, kênh YouTube, Facebook, TikTok. Làm truyền thông cho Giáo hội không phải chỉ là đăng thật nhiều, nói thật nhanh, làm thật đẹp. Điều quan trọng hơn là làm sao để mỗi nội dung mang được hương thơm của Tin Mừng. Một tấm ảnh đẹp nhưng thiếu sự thật thì không còn là truyền thông Công giáo. Một bài viết hay nhưng đầy kiêu căng thì chưa phải là phục vụ Tin Mừng. Một video nhiều người xem nhưng gây chia rẽ, khinh miệt và kết án thì không thể gọi là truyền giáo. Truyền thông Công giáo phải giúp người ta yêu Chúa hơn, yêu Giáo hội hơn, yêu con người hơn, sống thật hơn và hy vọng hơn.

Bởi vậy, việc bổ nhiệm bà Alvarado không chỉ là một điểm son trong lịch sử cải tổ Giáo triều. Đó còn là một lời mời gọi rất sâu: hãy làm cho truyền thông trở thành nơi hiệp thông. Hãy làm cho kỹ thuật phục vụ con người. Hãy làm cho mạng xã hội bớt độc hại hơn bằng những nội dung có trách nhiệm. Hãy làm cho tiếng nói của Giáo hội không chỉ đúng, mà còn đẹp; không chỉ mạnh, mà còn hiền; không chỉ rõ ràng, mà còn đầy lòng thương xót.

Một Giáo hội biết truyền thông không phải là một Giáo hội biết quảng bá chính mình, nhưng là một Giáo hội biết đưa con người đến gặp Chúa Kitô. Và có lẽ đó là thách đố lớn nhất cho Bộ Truyền thông trong giai đoạn mới: giữa một thế giới quá nhiều tiếng nói, phải giúp nhân loại nghe lại được tiếng nói của Tin Mừng; giữa một thế giới quá nhiều hình ảnh, phải giúp con người nhận ra dung mạo của Chúa Kitô; giữa một thế giới quá nhiều kết nối kỹ thuật, phải giúp con người tìm lại sự hiệp thông thật sự.

Nếu truyền thông chỉ làm cho Giáo hội được chú ý hơn, thì vẫn chưa đủ. Nếu truyền thông làm cho Chúa Kitô được nhận biết, yêu mến và bước theo, lúc đó truyền thông mới thật sự trở thành sứ mạng.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

Tất cả những gì của con đều là của Cha – Cha Vương

 Một ngày bình yên và hãy yêu như Chúa đã yêu nhé. Nhớ nhau trong nguyện cầu, không quên cho thế giới được hòa bình nhé

Cha Vương

Thứ 3: 2/6/2026.       (n3-25)

TIN MỪNG: Tất cả những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con; và con được tôn vinh nơi họ. Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. (Ga 17:10-11)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trước khi từ giã các môn để của Ngài. Sự ra đi nào cũng để lại những khoảnh khắc xúc động lưu luyến bùi ngùi. Chúa về trời để lại con sống giữa thế gian được coi như là một “bể khổ”.  Là người Ki-tô hữu, tuy chân chạm đất nhưng bạn thuộc về Chúa qua bí tích rửa tội và nhờ đức tin. Đây là một giằng co lớn của người tín hữu trước sức mạnh cám dỗ của thế gian. Để giữ lòng chung thuỷ với Chúa trong ơn gọi, bạn cần phải liên lỉ kết hiệp mật thiết với Chúa để khỏi bị mất đi phẩm giá cao cả của người môn đệ theo Chúa. Là con Chúa, tuy chân chạm đất nhưng lòng phải luôn hướng về cõi trên để dù phải đau khổ hy sinh bạn vẫn can đảm sống trọn vẹn cho vinh quang Chúa và cho phần rỗi của linh hồn.

LẮNG NGHE: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. (Rm 10:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong môi trường sống và làm việc của mình.

From: Do Dzung

**************************

Yêu Chúa Yêu Người | Sáng tác: Nguyễn Trung Hải (Tin Yêu)

KHÔNG AI SỞ HỮU AI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ?”.

“Con cái các bạn không phải là con cái của các bạn. Chúng đến qua các bạn, nhưng không từ các bạn!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Điều khó chấp nhận nhất không phải là mất người mình yêu, nhưng là nhận ra họ chưa bao giờ thực sự thuộc về mình. Tin Mừng hôm nay hé mở một sự thật lớn hơn mọi quyền sở hữu: trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Sau khi kể về một người phụ nữ lần lượt kết hôn với bảy anh em, người Sađucêô chỉ quan tâm một điều: khi sống lại, bà sẽ là vợ của ai? Trong toàn bộ câu chuyện, bà không có một tiếng nói, không một lựa chọn, chỉ xuất hiện như một đối tượng được chuyển từ người đàn ông này sang người đàn ông khác. Vì thế, điều họ thực sự quan tâm không phải là sự sống lại, nhưng là quyền sở hữu. Định nghĩa bản thân bằng những gì mình có là khởi đầu của sự vong thân. Chúa Giêsu đã tháo gỡ tận gốc não trạng ấy. “Khởi đầu của yêu thương là để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Chúa Giêsu nhìn bà khác hẳn. Với Ngài, bà không phải là một hồ sơ pháp lý hay một hồ sơ hôn nhân của ai; nhưng là một persona – một ngôi vị sống trước mặt Thiên Chúa. Mà ngôi vị thì không ai có thể sở hữu. Người ta có thể làm chủ một cánh đồng, một ngôi nhà; nhưng không thể sở hữu một con người. Biến người mình yêu thành vật sở hữu là đang tự tay tước đi ngôi vị của họ!

Người Sađucêô nhìn con người qua lăng kính sở hữu; Chúa Giêsu nhìn họ trong tương quan thuộc về. Với Ngài, vấn đề không phải “của ai”, hay ngay cả “ai thuộc về ai”, nhưng tất cả đều thuộc về Thiên Chúa. “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”. Vì thế, Abraham, Isaac và Giacóp không thuộc về quá khứ. Nước Trời không có tủ đựng hồ sơ. Trước mặt Thiên Chúa, không ai là một ký ức đã khép lại; tất cả đều sống trong Ngài. “Nếu tôi là những gì tôi có, và những gì tôi có bị mất đi, thì tôi còn là ai?” – Erich Fromm.

Phaolô hiểu rất rõ điều đó, ông không định nghĩa mình bằng những gì đang sở hữu, nhưng bằng Đấng mình thuộc về. Từ ngục tù, giữa thử thách và cô đơn, Phaolô vẫn xác tín: “Tôi biết tôi tin vào ai” – bài đọc một. Đó là một lời tuyên xưng tín thác. Biết mình tin vào ai, người tín hữu có thể ngước nhìn lên cao giữa mọi bất định của cuộc đời: “Lạy Chúa, con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là con người tự do nhất, vì Ngài thuộc về Chúa Cha cách trọn vẹn nhất. Ngài không chiếm hữu ai, nhưng luôn dẫn mọi người về với Cha. Trên thập giá, Ngài phó thác tất cả trong tay Cha. Vì thế, Phục Sinh mặc khải một chân lý lớn lao: con người không được dựng nên để sở hữu nhau, nhưng để cùng thuộc về Thiên Chúa. Yêu mà không dám buông tay để họ đến với Thiên Chúa chỉ là thứ tình cảm vị kỷ. Trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con yêu mà không chiếm hữu, gắn bó mà không nắm giữ, hầu dẫn mọi người con yêu về với Chúa, vì chúng con đều thuộc về Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

TIỀN TRUNG THÀNH HƠN NGƯỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

Chỉ cần nhìn một đồng xu, nhà sưu tập tiền cổ có thể biết ngay nó thuộc triều đại nào, đúc ở đâu, giá trị bao nhiêu. Nhưng khi được hỏi điều gì là quan trọng nhất trong đời, ông lúng túng.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà sưu tập biết gốc gác một đồng tiền cổ; nhưng không biết gốc gác của mình. Tin Mừng hôm nay đưa ra một nghịch lý: đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; con người mang hình Thiên Chúa nhưng không phải lúc nào cũng thuộc về Ngài. Bởi thế, có lúc ‘tiền trung thành hơn người’.

Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi có nên nộp thuế không; Ngài chỉ xin xem đồng tiền và hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Từ được dùng ở đây là eikōn – “hình ảnh”; nhưng Kinh Thánh còn nói đến một eikōn khác: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, câu hỏi của Ngài không dừng lại ở đồng tiền: đã hẳn, đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; còn con người mang hình Thiên Chúa thì thuộc về ai?

Điều nghịch lý là những người chất vấn Chúa Giêsu, chống lại việc nộp thuế cho Caesar, lại muốn kéo Ngài vào cuộc; đang khi chính họ vẫn rủng rỉnh Caesar trong túi. Chúa Giêsu không vội trả lời; Ngài để chính đồng tiền lên tiếng. Vấn đề vì thế không còn là thuế, nhưng là sự thật về chính mình. Đôi khi điều tố cáo chúng ta không phải lời nói, mà là những gì chúng ta đang nắm giữ. “Giá mà người ta hiểu được sự ngọt ngào của một tâm hồn không giữ lại gì cho mình trước mặt Thiên Chúa!” – Thérèse Couderc.

Điều đáng suy ngẫm là Chúa Giêsu không nói: “Dâng cho Thiên Chúa”, nhưng: “Trả về Thiên Chúa”. Người ta chỉ trả lại điều vốn thuộc về chủ của nó: Caesar nhận lại đồng tiền của mình; còn con người phải được trả về cho Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài đòi hỏi không phải là một phần, nhưng là toàn bộ con người. Vấn đề không phải chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu, nhưng giữ lại cho mình bao nhiêu.

Con người có thể quên mình thuộc về ai; Thiên Chúa thì không bao giờ quên con người thuộc về Ngài. Vì thế, Phêrô mời gọi các tín hữu lớn lên trong ân sủng và sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô – bài đọc một. Đó là hành trình trở về sâu hơn với Đấng đã in dấu Ngài nơi chúng ta. Và qua bao thế hệ, Kitô hữu vẫn chỉ có một nơi trú ẩn không đổi thay: “Trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nếu có lúc ‘tiền trung thành hơn người’, thì Đức Kitô cho thấy con người được tạo dựng để trung thành hơn cả đồng tiền. Ngài là hình ảnh Chúa Cha và hoàn toàn thuộc về Cha; không quyền lực, đám đông hay thập giá nào khiến Ngài phản bội tư cách làm Con. Chính nhờ sự trung tín của Người Con mà chúng ta được trở nên nghĩa tử, và được đưa về với Đấng đã nắn đúc nên mình. Với chúng ta, để vật chất định đoạt giá trị bản thân là đang tự xoá hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. “Con người đáng giá vô cùng hơn những gì mình sở hữu!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con thuộc về những gì con đang nắm giữ, hay những gì đang nắm giữ con; nhưng thuộc trọn về Đấng đã in dấu Ngài nơi linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,13-17

13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.