Thời gian và đời người…

Bài giảng của cha Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm trong thánh lễ tạ ơn mừng thượng thọ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương: Thời gian và đời người…

_____

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Lời Chúa hôm nay hết sức thấm thía. Bài đọc I, sách Giảng viên (Gv 1, 2-11), có thể coi như một lời cầu nguyện xin Chúa cho con được bước theo con đường của Chúa. Bài đọc II của Thánh Phaolô (Ep 1,3-14) nhắc cho chúng ta, dù thân phận cát bụi, nhưng có thể nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – “cát bụi tuyệt vời”, bởi vì đã được dự định, đã được tuyển chọn ở trong ý định tình yêu của Thiên Chúa, đến nỗi mỗi khoảnh khắc cát bụi của chúng ta là ân sủng tuyệt vời của Thiên Chúa.

Hôm nay, có lẽ là lúc thuận tiện nhất để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời của mình, dưới khía cạnh thời gian, đời người. Chúng ta suy nghĩ gì khi mừng một người thầy 95 tuổi? Có lẽ có rất nhiều điều để suy nghĩ, nhưng khi nói về thời gian, chúng ta đều biết câu nói của thánh Augustinô: “Không đặt câu hỏi thì hầu như ai cũng có cảm tưởng mình biết thời gian là gì, nhưng hễ đặt câu hỏi lại lúng túng, không biết thời gian thực sự là gì!”. Để phần nào trả lời cho câu hỏi khó khăn đó, xin được chia sẻ với cộng đoàn ba ý tưởng.

Trước hết, thời gian, đơn giản là khoảnh khắc. Thứ hai, thời gian là lịch sử. Thứ ba, thời gian là vĩ sử, có nghĩa là lịch sử của những gì vĩ đại, của những gì đáng nhớ.

Trước hết, thời gian là khoảnh khắc. Triết lý Đông phương cũng đã cảm nhận điều này và sách Giảng viên cũng thế: “Phù vân trên mọi phù vân, mọi sự đều là phù vân”, mọi sự chỉ là vô thường. Mỗi người chúng ta có thể sở hữu rất nhiều thứ, nhưng có một điều duy nhất chúng ta không thể sở hữu được, đó là thời gian. Chúng ta không bao giờ sở hữu được hai khoảnh khắc thời gian, một khoảnh khắc cũng không được. Thời gian dưới khía cạnh là khoảnh khắc, nhắc nhở cho chúng ta sự mau qua của đời người, “đời người như bông hoa sớm nở chiều tàn”. Thế nhưng, ý thức về vô thường, ý thức về khoảnh khắc lại làm cuộc sống trở nên vô cùng quý giá. Tại sao? Tại vì mỗi khoảnh khắc là duy nhất, chúng ta đừng lầm tưởng chúng ta nhắc lại hai điều trong cùng một thời gian. Thánh lễ hôm nay là độc nhất không thể lặp lại được, những con người mà chúng ta gặp gỡ hôm nay cũng không gặp lại được, đúng như lời của triết gia Heraclitus: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Chính vì thế, khi ý thức về thời gian là một khoảnh khắc nhắc cho chúng ta hãy ý thức lại từng giây phút mà Chúa ban cho chúng ta, đừng phung phí nó. Bởi vì chúng ta không biết khoảnh khắc mà chúng ta sẽ ra đi là khi nào? Khoảnh khắc có khi là một ngày rất dài, nhưng có khi đến 50, 70 năm mà như một hơi thở, như tựa đề của một câu chuyện rất cảm động của một nữ văn sĩ người Pháp, Anne Philipe, Thời gian như một tiếng thở dài! (le temps d’un soupir). Thời gian như một tiếng thở dài nhắc nhở chúng ta hãy biết lựa chọn trong cuộc sống của mình cái gì là tùy phụ, cái gì là chính yếu, cái gì cần giữ lại, cái gì cần bỏ đi, cái gì cần phải tích trữ và cái gì cần phải quên đi. Tuy nhiên, điều đơn giản đó lại không nằm trong ý thức của mình, hay đúng hơn, hãy ý thức cái vô thường và hướng tới cái thường, còn nếu như không có ý thức đó, chúng ta sẽ biến cuộc đời mình thành tầm thường.

Thứ hai, thời gian như là lịch sử. Theo tiếng Hán Việt, lịch có nghĩa là xảy ra theo nhịp độ. Một người từng trải ta gọi là lịch duyệt hay lịch lãm.

Hôm nay mừng lễ thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương 95 tuổi, người Việt chúng ta thường nói tới “tam thập, tứ thập, ngũ thập, thất thập”. Dĩ nhiên thất thập cổ lai hy, nhưng hôm nay mừng một người thọ 95 tuổi cho nên thất thập chưa phải là cổ lai hy. Chúng ta nói điều đó như một điệp khúc, và nó cạn hết ý nghĩa đến nỗi bây giờ sống đến 70 tuổi mà chưa đau ốm người ta gọi đó là sống thọ. Tuy nhiên, trong triết học của đạo Khổng khi nói tới “tam thập, tứ thập, ngũ thập…”, thực ra là một tiến trình trưởng thành trong đời sống tâm linh. Mười lăm năm đầu là thời gian để học “thập hữu ngũ nhi chí vu học”. Ba mươi tuổi “tam thập nhi lập” là người phải biết gây dựng sự nghiệp. Bốn mươi tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” là người có khả năng quyết định chịu trách nhiệm về đời sống của mình, không còn chao đảo trong nghi ngờ. “Ngũ thập tri thiên mệnh” là con người biết được mệnh của trời. “Lục thập nhi nhĩ thuận” là thấu hiểu được nhân tình thế thái. “Thất thập nhi tùng tâm sở dục”, đó là con người an nhiên, bình an trong thân phận giới hạn của mình. Kinh Thánh khi nói đến thời gian theo nghĩa này cũng là nói đến những quãng thời gian trưởng thành tâm linh. 40 năm dân Israel trong sa mạc, 40 ngày đêm tiên tri Êlia lên núi thánh của Chúa, 40 ngày Chúa Giêsu chịu cám dỗ trong sa mạc, để chiến thắng sở hữu, chiến thắng quyền lực, chiến thắng vinh danh, để cuối cùng đi theo con đường mà Cha đã định cho mình. Cho nên câu hỏi đối với chúng ta bây giờ thường là đau bệnh gì? Chứ không phải là câu hỏi chúng ta đã nên người như thế nào?

Cách đây gần 40 năm Thầy Stêphanô giới thiệu cho tôi một cuốn sách của Marcel Légaut mang tựa đề L’homme à la recherche de son Humanité – Con người, kẻ tìm kiếm ý nghĩa của chữ “người”. Chúng ta là người, nhưng đã nên người chưa, đó là tất cả câu hỏi? Người như thế nào mới là đúng, mới là thật, mới là tốt, mới là đẹp. Chúng ta có lý do để chiêm ngưỡng một khuôn mặt như của thầy Stêphanô để tự hỏi xem cuộc đời đó có thật không, có tốt không, có đẹp không?

Thứ ba, thời gian là Vĩ sử. Thực ra trong tiếng Việt không có từ này. Nhưng đó là một gợi ý rất hay của một triết gia người Đức có tên là Nietzsche. Ông ta nói: Lịch sử theo nghĩa thời gian thì đã đành nhưng lịch sử đáng kể là lịch sử của những gì vĩ đại, gọi là histoire monumentale, tức là những gì đáng để nhớ, những biến cố không thể quên được.

Trong bài Tin Mừng hôm nay (Lc 9, 7-9), chúng ta nghe Hêrôđê nói: “Ông ấy là ai”? là một tiên tri, một ai đó đã sống lại… Nhưng những người Kitô hữu biết Ngài là ai và Ngài đã thay đổi lịch sử đến mức như thế nào. “Thầy là đường là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), chính con người đó đã làm thay đổi lịch sử của nhân loại, đến nỗi lịch sử bây giờ được tính từ Đức Giêsu Kitô. Hôm nay là ngày 24/9/2020, nhưng chúng ta đừng quên, tại sao chúng ta lại tính là 2020, bởi vì quy chiếu về Đức Giêsu Kitô. Nếu không có Đức Giêsu, cuộc đời của chúng ta không như vậy, và có lẽ cuộc đời của thầy Stêphanô cũng không như vậy, thậm chí hoàn toàn khác. Nếu như văn chương không có một Nguyễn Du thì để làm gì? Nếu chính trị không có một Lê lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung thì lịch sử chúng ta có cái gì? Trong đời sống thiêng liêng, nếu không có một Phanxicô Assisi, không có Mẹ Têrêsa Cacutta, không có Maximilian Kolbe… thì lịch sử thiêng liêng của chúng ta có gì?

Ở điểm này, xin được trở lại với thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương, thầy là một con người độc đáo đến nỗi rất nhiều người trong chúng ta cuộc đời đã khác nếu không được gặp thầy. Và mỗi người có lý do để tạ ơn thầy, tạ ơn Chúa… vì cuộc đời của mình đã gặp được một con người như thế.

Vì đã gặp được một con người như thế. Vậy, con người đó như thế nào? Xin được trích lại bài thơ của thầy, bài Sở nguyện (nguyện ước sâu xa), để chúng ta cảm nhận đôi chút.

Sở nguyện

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.

Xin được chú giải một chút như để thay cho lời kết. Thầy nói về cuộc đời của mình như là hành giả, tức là người ra đi, nhưng đi có nhiều nghĩa, đi từ Bắc vào Nam cũng là đi, nhưng đi trên bình diện địa lý. Còn có cái đi sâu xa hơn nữa là cuộc hành trình tinh thần, đi rất xa, đến đâu, đến với bao nhiêu con người, chứ không phải đến đây hay đến đó (nơi chốn). “Hành giả dừng chân tạm vỉa hè/Tấm thân đất chở với trời che”. Con người ra đi đó có không gian vô cùng lớn, đó là trời với đất. Nhà chúng ta ở được định vị, được xác định, được giới hạn, rất nhỏ, ngay cả những cung điện được xây lên. Không gian lớn nhất là trời đất, đi giữa trời đất, vô cùng tự do, rất thênh thang, nhưng để làm gì? Thưa, xin được lấy 4 chữ đầu của câu thơ tiếp, đó là “Cảm-Thương-Trần-Thế”. Đó phải chăng là trái tim của Phật? Nhưng đối với chúng ta còn hơn thế nữa, một trái tim bị đâm thâu bởi phận người. Đi mãi nhưng chưa thấy hết, bởi còn muốn gặp những con người trên con đường đi của mình, với vui buồn của họ. Cho nên ở đây tôi không nghĩ tới triết lý của Đông phương cho bằng lời của thánh Phaolô: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 14). Có ai vui mừng mà tôi không cảm thấy mừng vui, có ai đau khổ mà tôi không cảm thấy khổ đau, có ai yếu hèn mà tôi lại không cảm thấy hèn yếu!

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể/Nguyện lót chân êm khách vỉa hè”, bao giờ cát bụi trở về với nguyên thể, trở về với nghĩa sâu xa nhất mà cát bụi mang lấy khi nó được tạo dựng như là ơn của Thiên Chúa. Cho nên, cát bụi hoàn nguyên thể là trở về với tình trạng uyên nguyên, thật nhất của chữ “người”, của kiếp người cát bụi, cho nên ngay cả cát bụi cũng có thể đem lại một chút êm, một chút ấm cho con người, cho tha nhân, cho bao kẻ lang thang đây đó trong cuộc đời, dù là cát bụi thì vẫn tốt cho ai đó, như thể để lót chân cho người ta cũng được.

Vậy, một cuộc đời như thế có ý nghĩa gì? Chúng ta có muốn là một người học trò với một người thầy như vậy không? Chúng ta có muốn là một người môn đệ đi theo một người thầy như vậy không? Đó là câu hỏi mà mỗi chúng ta tự trả lời. Bởi vì có những người môn đệ đi theo nhưng không học cái gì cả và cũng có những người học rất nhiều mà không hề đi theo.


 

HÀNH GIẢ KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU

The Nang Nguyen

HÀNH GIẢ KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU

Thánh Lễ An Táng Thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Bài giảng của Lm. Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA

  1. TỪ MỪNG THỌ ĐẾN “TRƯỜNG THỌ” TRONG THIÊN CHÚA

Trọng kính quý Đức Cha, quý cha, quý tu sĩ nam nữ, những người trong gia đình linh tộc, huyết tộc, và tất cả những người yêu mến thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương.

Trong nhiều năm gần đây, những người yêu mến thầy, cùng với một nhóm đệ tử thân tình, vẫn thường tổ chức lễ sinh nhật cho thầy. Năm thì mừng thượng thọ, năm thì mừng đại thọ.

Chúng ta còn nhớ có lần lễ mừng thọ được tổ chức rất long trọng tại Nhà thờ Chính tòa Văn Hạnh, Giáo phận Hà Tĩnh, quê hương của thầy. Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã tổ chức một Thánh lễ thật long trọng để mừng người con xuất thân từ vùng đất Hà Tĩnh này.

Năm nay hơi khác một chút.

Nhóm chúng tôi cũng đã quyết định tổ chức lễ sinh nhật cho thầy. Một phần vì có một linh mục, một người con thiêng liêng của thầy, vừa mới du học ở Mỹ về và có dịp trở lại gặp thầy.

Nhưng điều chúng tôi không ngờ tới là vào khoảng tám giờ tối, đúng vào giờ lẽ ra anh em, học trò quây quần bên thầy, thì thầy lại trả về cho Thiên Chúa hơi thở mà Thiên Chúa đã trao ban cho thầy.

Một đời người khép lại.

Chúng ta không còn mừng đại thọ.

Chúng ta không còn mừng thượng thọ.

Nhưng hôm nay, chúng ta có thể mừng “trường thọ” của thầy.

Bởi vì chỉ ở trong Thiên Chúa, con người mới thật sự trường thọ.

Người Việt chúng ta vẫn thường nói:

“Sinh ký, tử quy” – sống gửi, thác về.

Cuộc đời này là một cuộc gửi thân tạm bợ.

Cái chết lại là một cuộc trở về.

Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới thật sự tìm được sự sống trường tồn.

Và có lẽ hôm nay, thầy đã đạt đến điều mà cả đời thầy thao thức đi tìm.

  1. “SỞ NGUYỆN” – CHÂN DUNG MỘT HÀNH GIẢ

Hành trình sống của thầy được biểu lộ rất rõ trong bài thơ “Sở nguyện”, một bài thơ mà nhiều người trong chúng ta đã biết.

Thầy, với bút hiệu Thế Tâm, viết:

SỞ NGUYỆN

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.

Cảm người bươn chải vòng cơm áo,

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.

Đọc những vần thơ ấy, chúng ta có cảm giác mình đang bước đi qua cả một hành trình tư tưởng của thầy.

Từ triết lý Trung Hoa.

Qua tư tưởng nhà Phật.

Và cuối cùng quy tụ nơi mầu nhiệm Kitô giáo.

“Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,

Tấm thân đất chở với trời che.”

Ta nghe ở đó âm vang một vũ trụ quan rất quen thuộc của Đông phương: trời cha, đất mẹ; trời che, đất chở.

Con người hình thành và sống trong mối tương quan với trời đất, với vũ trụ, với thiên nhiên.

Rồi:

“Trần sắc mười phương đau đớn thấy,

Thế âm bốn cõi xót xa nghe.”

Ở đó, hình như ta nghe tiếng ai oán của nhà Phật, với cái nhìn rất sâu về nỗi khổ của kiếp nhân sinh.

Đời là bể khổ.

Con người sinh ra, lớn lên, yêu thương, mất mát, bệnh tật và cuối cùng phải đối diện với cái chết.

Nhưng thầy không dừng ở đó.

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Ta bước sang một chân trời khác: con người từ bụi đất, nhưng bụi đất ấy đã được Thiên Chúa tạo dựng, được trao một phẩm giá, được gọi vào một vận mệnh vượt quá chính mình.

Và cuối cùng:

“Công tội trông nhờ cây khổ giá,

Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi.”

Đây chính là nơi hành trình tìm kiếm dừng lại.

Không phải dừng lại trong một hệ thống triết học.

Không phải dừng lại trong một học thuyết.

Nhưng dừng lại nơi Thập Giá Đức Kitô, và trong sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria.

Tất cả công và tội của một đời người, cuối cùng, thầy “trông nhờ cây khổ giá”.

Tất cả vui buồn của kiếp nhân sinh, thầy “ký thác chuỗi Mân Côi”.

III. MỘT CON NGƯỜI HỘI TỤ NHIỀU DÒNG VĂN HÓA

Kính thưa cộng đoàn,

Người đang nằm trước mặt chúng ta trong những giây phút ly biệt này đã được rất nhiều người yêu mến và kính trọng từ tận đáy lòng.

Người thì gọi thầy là “nhà tư tưởng”.

Người gọi thầy là “triết gia”.

Có người thậm chí nhìn thầy như một “nhà thần học”.

Người khác coi thầy là một “nhà giáo uyên thâm”, với những suy tư rất độc đáo.

Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì nhìn nơi thầy như một sự kết tinh rất đặc biệt, một cuộc hội tụ độc đáo giữa tư tưởng Đông và Tây.

Nơi thầy có một cuộc lương duyên rất đẹp giữa những tinh hoa văn hóa, giữa những gì mà thần học gọi là “hạt giống Ngôi Lời”, với đức tin Kitô giáo.

Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì lại nhìn thầy như một “bậc chân tu”.

Dù thầy không khoác trên mình chiếc áo cà sa.

Dù cuối đời thầy cũng chẳng có một chiếc áo dòng để xác định thầy thuộc dòng nào.

Đối với chính mình, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương thường nhìn mình như một “hành giả”.

Một người đi.

Một người tìm kiếm.

Một kẻ truy tìm chân lý cho đời mình và bằng chính đời mình.

Và rồi, như một hồng ân của Thiên Chúa, thầy đã gặp được Đấng mà cả đời thầy mong đợi.

Nhưng để đi đến chân lý ấy, thầy cũng phải chấp nhận rất nhiều cuộc **tử đạo trong đời thường**.

  1. NHỮNG CUỘC “TỬ ĐẠO” TRÊN HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CHÂN LÝ

Bài đọc thứ nhất trong sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể cho chúng ta về Thánh Stêphanô, vị thánh bổn mạng của thầy.

Thánh Stêphanô chịu tử đạo.

Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn gầy gò của thầy.

Thầy không bị giết bằng đá như Thánh Stêphanô.

Nhưng để chọn lựa Đức Kitô, trái tim của thầy cũng đã có những lúc “rướm máu”.

  1. Cuộc tử đạo đầu tiên: bước vào đức tin Kitô giáo

Như chúng ta đã biết, thầy sinh ra trong một gia đình Nho giáo.

Từ nhỏ, thầy Nguyễn Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí đã từng nhìn tôn giáo này bằng sự khinh thường.

Nhưng vì một biến cố trong việc học, thầy vào Trường Thiên Hựu ở Huế.

Tại đây, thầy có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu đức tin.

Và năm 1949, tại Nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội và nhận tên thánh Stêphanô.

Việc trở thành Kitô hữu đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là từ người mẹ của thầy.

Người mẹ thân yêu ấy từng chất vấn:

“Ông bà tổ tiên của mày có tội gì mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?

Tội của mày là tội bất hiếu.

Tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không rửa sạch được, vậy chỉ có một chút nước trên đầu thì làm sao rửa sạch được?”

Chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của thầy.

Một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau ấy.

Và chính thầy cũng biết mẹ mình hết mực thương con.

Tình thương của người mẹ ấy có lúc đã khiến bà phải tự hỏi:

“Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?”

Cũng như Đức Giêsu có lần “băng qua giữa họ mà đi”, thầy cũng phải băng qua nhiều thứ để bước theo tiếng gọi mà mình đã nhận ra.

Băng qua dư luận.

Băng qua truyền thống.

Băng qua ý kiến của dòng tộc.

Băng qua sự phản đối của gia đình.

Băng qua nỗi đau của chính mình.

Để đến với Đức Kitô.

  1. Cuộc tử đạo của đời tu

Thầy không dừng lại ở việc “vào đạo”.

Thầy còn chọn con đường tu trì.

Thầy đi vào đời sống thánh hiến với ba lời khấn: “vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh”.

Đó cũng là con đường Đức Kitô đã đi.

Đó là con đường các vị như Phanxicô, Biển Đức và biết bao nhiêu người nam nữ đã đi qua.

Người ta thường nói rất đẹp về đời tu.

Nhưng ai đã sống đời tu thì hiểu rằng đời tu cũng là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính của nó.

“Khiết tịnh” giống như một lưỡi gươm đi vào con tim, bởi trái tim bằng thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu.

Nó đụng đến chính những ước muốn rất sâu của thân xác và tâm hồn con người.

Vâng lời giống như một vòng gai đặt trên đầu, bởi con người luôn có khuynh hướng muốn làm chủ, muốn tự quyết định, muốn chính mình có tiếng nói cuối cùng.

“Khó nghèo” giống như việc bị đóng đinh lên thập giá, bởi bản năng tự nhiên của con người luôn muốn giữ lại những gì cần thiết cho mình, những gì bảo đảm cho mình.

Với một con người có tư tưởng rộng mở, luôn vượt ra ngoài những khuôn mẫu và những hình thức truyền thống; với một hành giả thích lang thang trên dòng đời, thì chắc chắn những kỷ luật của đời tu không phải lúc nào cũng là những viên đá dễ dàng đón nhận.

Và mỗi lần phải chọn lựa đi hay ở, ra hay vào, cũng là một lần trái tim rướm máu.

  1. Cuộc tử đạo sau biến cố 1975

Có lẽ một trong những giai đoạn đau đớn nhất là sau biến cố 1975.

Một giáo sư từng giảng dạy triết học và văn học tại Đà Lạt và Sài Gòn, một người đã quen với sách vở, với tri thức, với lớp học, nay phải bước vào một môi trường hoàn toàn khác.

Thầy bị đưa đi “học tập cải tạo”.

Một người thích fromage, bánh mì, một chút rượu vang đỏ, giờ đây phải học một nhịp sống khác, phải sống trong thiếu thốn, phải lao động, phải đối diện với những giới hạn rất thực của phận người.

Có lẽ hơn bao giờ hết, chính giai đoạn ấy làm thầy cảm nghiệm sâu sắc mầu nhiệm “thật – giả”, mầu nhiệm của kiếp nhân sinh.

Lâu nay thầy vẫn giảng về thật và giả.

Nhưng lúc này, thầy phải “sống” mầu nhiệm thật – giả bằng chính thân phận mình.

Và có lẽ nơi đó thầy hiểu sâu hơn Đức Kitô và Thánh Stêphanô, bổn mạng của mình.

Không oán thù.

Không trả thù.

Không để lòng mình bị nuôi dưỡng bằng căm giận.

Đức Giêsu đã cầu nguyện:

“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”

Thánh Stêphanô cũng cầu xin Thiên Chúa đừng chấp tội những người đang giết mình.

Những ai gặp thầy sau những năm tháng ấy có thể nhận ra nơi Nguyễn Khắc Dương một cung cách khác.

Một “hành giả”.

Một môn đệ đã đi ngang qua phần nào mầu nhiệm của Đức Kitô chịu đóng đinh.

  1. MẢNH ĐẤT BÌNH THUẬN: NƠI TỪNG GIAM GIỮ, RỒI LẠI ÔM ẤP THẦY

Hôm nay, khi nhìn lại, chúng ta thấy một điều rất lạ.

Chính mảnh đất Bình Thuận này, nơi ngày trước thầy từng bị đưa đi cải tạo, cuối cùng lại trở thành mảnh đất ôm ấp thầy trong những năm tháng cuối đời.

Chính nơi đây, nhờ sự chăm sóc tận tình của những anh em thuộc Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ, thầy đã có một nơi dừng chân vào cuối hành trình.

Và cũng chính mảnh đất từng chứng kiến những tháng ngày đau đớn ấy, giờ đây lại mở lòng đón lấy thân xác thầy.

Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì đường lối của Đấng Quan Phòng cũng thật kỳ diệu và bất ngờ.

  1. CUỘC HÀNH TRÌNH TỪ ĐÔNG SANG TÂY – VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH VÀO CHÂN LÝ

Con đường hành giả của thầy không chỉ là một con đường địa lý.

Từ quê hương Hương Sơn.

Ra thành phố Vinh.

Từ miền Bắc vào Nha Trang, miền Nam, trong thời đất nước còn chia cắt.

Rồi từ Đông sang Tây.

Từ miền quê đến “kinh thành ánh sáng” Paris.

Đó là hành trình về mặt địa lý.

Nhưng sâu xa hơn là một cuộc hành trình tinh thần.

Một cuộc đi tìm.

Một cuộc chọn lựa.

Một cuộc đi từ những điều đã nhận được từ gia đình, văn hóa, Nho giáo, Phật giáo, triết học, rồi cuối cùng dừng lại nơi Đức Kitô.

Chính thầy có lần lý giải tại sao mình bỏ truyền thống gia đình để theo đạo.

Theo cách thầy diễn tả:

Nho giáo là một tôn giáo rất đẹp, dành cho người trí thức, nhấn mạnh đời sống thanh cao, nhưng nhiều khi dường như đứng “trên” người khác, khó đến được với những người bình dân.

Phật giáo thì nhìn đời như bể khổ, và con người tìm con đường giải thoát khỏi khổ đau.

Nhưng Kitô giáo, theo cảm nghiệm của thầy, lại đi một hướng khác.

Đức Giêsu vốn là Con Thiên Chúa, nhưng đã “bước vào đời”.

Ngài sống như một người nghèo.

Ngài chia sẻ thân phận làm người.

Ngài vui niềm vui của con người.

Ngài đau nỗi đau của phận người.

Ngài yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người.

Đây là một tôn giáo “ở với con người”.

Một tôn giáo “gắn liền với con người”.

Một đạo của “tình yêu”.

Kitô giáo không phải là một thứ thuốc phiện để ru ngủ con người.

Trái lại, niềm tin vào Thiên Chúa Sáng Tạo thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo, tiếp tục lao động, tiếp tục làm cho thế giới này đẹp hơn.

Mầu nhiệm “Nhập Thể” của Đức Kitô trong thân xác làm người khiến chúng ta biết trân trọng thân xác, trân trọng lịch sử, trân trọng kiếp người.

Còn biến cố “Phục Sinh trong thân xác” mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng vĩnh cửu:

Sự sống sẽ chiến thắng sự chết.

VII. ĐỨC KITÔ ĐỨNG – THIÊN CHÚA ĐỨNG ĐỂ ĐỠ NÂNG CON NGƯỜI

Khi Stêphanô nhìn lên trời, ngài thấy Đức Kitô đứng bên hữu Thiên Chúa.

Đây là một hình ảnh rất đặc biệt.

Trong những triều đình vua chúa mà thầy từng biết qua lịch sử, những bậc quyền thế thường ngồi ở chỗ cao.

Người dưới phải đứng hầu.

Nhưng Đức Kitô của chúng ta lại “đứng”.

Đứng như một người sẵn sàng thắt lưng để phục vụ.

Thiên Chúa của chúng ta đứng.

Đứng để đỡ nâng.

Đứng để phục vụ con người.

Đứng như Đấng Tớ Trung.

Và có lẽ đây cũng là điều hấp dẫn thầy Nguyễn Khắc Dương:

Một Thiên Chúa không đứng xa con người.

Một Thiên Chúa không chỉ ngồi trên ngai.

Một Thiên Chúa cúi xuống.

Một Thiên Chúa bước vào thân phận của con người.

Một Thiên Chúa phục vụ.

VIII. “CON NGƯỜI KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU”

Để đi đến cửa trời, người hành giả thân yêu của chúng ta đã đi theo một Đức Kitô “không có nơi gối đầu”.

Chúa Giêsu nói:

“Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

Quả thật, Đấng tạo thành muôn loài, Đấng toàn năng, từ khi bắt đầu hành trình nhập thể cho tới trên đỉnh Thập Giá, lại là Đấng không có chỗ tựa đầu.

Khi chết trên Thập Giá, Đức Giêsu “gục đầu và trao Thần Khí”.

Nhưng có lẽ nói đúng hơn, Người tựa đầu vào cung lòng Chúa Cha:

“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Ở một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng là một con người “không có nơi gối đầu”.

Thầy không có nhà cao cửa rộng.

Thầy không sở hữu bao nhiêu quần áo.

Thầy lang thang đây đó.

Hai nơi thầy dừng chân tương đối lâu vào những năm cuối có lẽ là những cộng đoàn Bác Ái, đặc biệt Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ.

Nhưng nhà tạm thật sự của thầy là “trái tim của học trò”.

Và nhà vĩnh hằng của thầy là “cung lòng Thiên Chúa”.

Thầy đến.

Rồi thầy lại đi.

Góc xó nào thầy cũng có thể ngủ.

Nơi nào cũng có thể dừng chân.

  1. KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU, NHƯNG LẠI TÌM CHỖ GỐI ĐẦU CHO NGƯỜI KHÁC

Điều làm nên một nghịch lý rất đẹp nơi thầy là thế này:

Thầy không có nơi gối đầu cho mình.

Nhưng thầy lại là một người luôn tìm nơi gối đầu cho người khác.

Ai cô đơn, thầy nâng đỡ.

Ai thất tình, thầy ủi an.

Ai túng thiếu, thầy cho ít tiền.

Ai học giỏi, thầy cho một cuốn sách.

Ai thất nghiệp, thầy tìm cách giới thiệu việc làm.

Ai muốn tu trì, thầy tìm cách giới thiệu đến một nhà dòng.

Có những người gọi thầy là cha.

Có những lúc thầy lại đóng vai như một người mẹ.

Có lẽ chính vì không có quá nhiều thứ phải giữ cho riêng mình mà thầy thanh thoát.

Nhẹ nhàng.

Đi đây đi đó.

Như Đức Kitô.

  1. MỘT HÀNH GIẢ GẶP CHÚA “GIỮA CHỢ ĐỜI TRƯA SỚM”

Có một con người như thế, không còn đóng khung đời sống thiêng liêng vào một nơi duy nhất để gặp Thiên Chúa.

Thầy có thể gặp Chúa nơi mọi người.

Và gặp mọi người giữa cuộc đời.

“Giữa chợ đời trưa sớm”, như cách chính thầy diễn tả.

Những ai từng hẹn gặp thầy ở một nhà thờ, một nhà dòng hay một nơi nào đó, thường có kinh nghiệm này:

Khi mình tới thì thầy đã tới trước.

Và người ta thường thấy thầy quỳ ở một góc nhà nguyện, với bộ tràng hạt trong tay.

Hành giả ấy đi vào cuộc đời.

Nhưng cũng luôn tìm một chỗ để quỳ.

Đi giữa thế gian.

Nhưng vẫn biết nơi nào là quê hương cuối cùng.

  1. THẬP GIÁ – ĐIỀU KHÔNG THỂ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI LẠI CÓ THỂ ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA

Hành giả của chúng ta đã tìm được sức mạnh siêu nhiên của Thập Giá.

Với thầy, có những điều nơi con người là bất khả thể.

Thầy từng dùng một hình ảnh rất đơn giản:

Nếu một con bò rơi xuống giếng, thì phải có một người ở bên ngoài đưa nó lên.

Con vật ở dưới giếng không thể tự mình kéo chính mình ra khỏi giếng.

Con người cũng vậy.

Ngay cả sự công chính nơi con người – vốn là một điều tốt đẹp được Thiên Chúa Tạo Hóa đặt vào lòng chúng ta – vẫn có thể bị lệch lạc bởi tội lỗi, bởi sự hữu hạn, bởi lòng ích kỷ của chính con người.

Cho nên, cần đến một khả năng vượt quá con người.

Cần đến sức mạnh thần linh.

Cần đến “cây Thập Giá”.

Chỉ có Máu Con Chiên vô tì tích mới xóa được tội trần gian.

Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người lên trời.

Chỉ có Đấng vô hạn mới đưa con người ra khỏi giới hạn cuối cùng của mình.

Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới mở cho con người sự sống vĩnh hằng.

Chỉ có Đấng đã sống lại trong thân xác mới có thể làm cho thân xác con người được phục sinh sau cõi chết.

Đó là niềm hy vọng Kitô giáo.

XII. MỘT CON NGƯỜI RẤT SIÊU THOÁT – NHƯNG CŨNG RẤT “NGƯỜI”

Với thầy, sự dữ thật sự đã đi vào thế gian dưới muôn hình muôn vẻ.

Và một trong những biểu tượng rất mạnh mà thầy thường nhắc đến là tiền bạc.

Có lúc thầy nói rất mạnh về tiền bạc, xem nó như một thứ biểu tượng của quyền lực và cám dỗ của thế gian.

Nhưng ở đây chúng ta cũng gặp một nghịch lý khác nơi người thầy rất đáng yêu của chúng ta.

Thầy nói mình từ bỏ vật chất.

Nhưng thầy lại rất dễ thương trước những chuyện rất đời.

Có người đưa cho thầy một tờ đô la xanh, thầy vui vẻ cầm lấy, thậm chí còn có những cử chỉ rất hóm hỉnh với “đồng bạc xanh”.

Phải kể cả những chuyện vui như thế để nhớ rằng hành giả của chúng ta vẫn là “một con người”.

Rất người.

Rất thật.

Không phải một pho tượng thánh bằng đá.

Có lẽ chính vì vậy thầy rất say mê một tư tưởng về việc Thiên Chúa đã tạo dựng con người từ bùn đất.

Con người là bụi đất.

Nhưng là bụi đất mà Thiên Chúa đã chạm tới.

Bụi đất mà Thiên Chúa yêu.

Bụi đất mà Thiên Chúa muốn đưa vào sự sống của Người.

XIII. “NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ”

Hôm nay chúng ta đưa thầy về với cát bụi.

Đúng như thầy từng viết:

“Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.”

Nhưng đồng thời, chúng ta trao linh hồn thầy vào bàn tay của Đấng Từ Bi.

Thầy đã lang thang tìm Chúa trên cõi đời.

Giờ đây, xin cho hành giả ấy được gặp Đấng mà cả đời mình tìm kiếm.

Xin cho người đã không có nơi gối đầu ở trần gian được tựa đầu vào lòng Chúa.

Xin cho người từng tìm chỗ gối đầu cho biết bao người khác, hôm nay tìm được nơi an nghỉ của chính mình.

XIV. DƯỚI ÁO MẸ MARIA

Và chúng ta trao thầy cho Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, người Mẹ mà thầy hết lòng yêu mến.

Trong bài thơ “Ave Maria”, thầy viết:

Ave Maria!

Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc,

Con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên,

Và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt

Đấng muôn trùng đoái nhận đời con.

Đó có lẽ cũng là tâm tình của thầy hôm nay.

Một đời người.

Một đời đi.

Một đời tìm.

Một đời vui buồn, công tội.

Tất cả dâng lên Thiên Chúa.

Và cuối bài thơ ấy, thầy viết:

Ave Maria!

Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,

Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu.

Xin Đức Maria đón lấy người con đã yêu mến Mẹ.

Xin Mẹ dẫn thầy đến với Chúa Tình Yêu.

Xin Cha cho người hành giả đã lang thang tìm Cha trên cõi đời này, giờ đây được gặp Cha.

Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa đầu vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi đến muôn đời. Amen.


 

KHÔNG ĐI MỘT MÌNH – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi!” – bài đọc một.

“Nếu Chúa sai chúng ta đi trên những con đường đầy đá, Ngài sẽ cung cấp những đôi giày bền. Sai chúng ta đến một nơi xa lạ, Ngài sẽ chuẩn bị một người bạn đường. Và nếu muốn cứu độ chúng ta đời đời, Ngài ban Con Một!” – Alexander Maclaren.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Thiên Thần bản mệnh cho thấy, giữa những chặng đường đầy đá, xa lạ và đôi khi tối tăm nhất của cuộc đời, người tín hữu vẫn có thể tin rằng, họ ‘không đi một mình’.

“Này Ta sai thiên sứ đi trước ngươi!”. Bản Hípri viết malʾāḵ – “sứ giả”. Thiên thần không được định nghĩa trước hết bằng bản tính, nhưng bằng sứ mạng. Vì thế, các ngài không chỉ hiện diện để bảo vệ, nhưng còn để dẫn đường. Từ sa mạc thời Xuất Hành đến lộ trình đức tin của mỗi người, Thiên Chúa luôn đi trước. Ngài biết những khúc quanh, những hiểm nguy và đích đến mà chúng ta chưa thể thấy. Sự hiện diện của các ngài là dấu chỉ rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ mặc con người. Nhiều khi, cô đơn lớn nhất không phải là không có ai bên cạnh, nhưng là không nhận ra tình yêu đang lặng lẽ đồng hành. “Các ngài là những người bạn trung tín nhất!” – Gioan Vianney.

Thật kỳ diệu khi nghĩ rằng không ai bước qua cuộc đời này một mình. Thiên thần bản mệnh không làm thay phần việc của chúng ta, nhưng âm thầm cùng bước trên từng chặng đường. Vì tôn trọng tự do, các ngài không ép buộc; nhưng bằng muôn cách kín đáo, các ngài soi sáng, nâng đỡ và cản ngăn chúng ta khỏi điều xấu. “Chỉ ở trên thiên đàng, chúng ta mới hiểu được bao nhiêu hiểm nguy đã được thiên thần gìn giữ, và bao nhiêu tình yêu các ngài đã tuôn đổ mà không ai nhìn thấy!” – Henry Newman.

Sự hiện diện ấy không có nghĩa là cuộc đời sẽ không còn thử thách. Thiên thần bản mệnh không cất khỏi chúng ta mọi gian nan, nhưng giúp chúng ta đi qua chúng. Nếu Thiên Chúa để chúng ta bước vào một thung lũng tối, Ngài cũng thắp lên một ngọn đèn soi bước; nếu Ngài trao một thập giá phải mang, Ngài không để chúng ta mang một mình. Tình yêu của Thiên Chúa không luôn cất đi con đường khó, nhưng luôn ban Đấng hiện diện để nâng đỡ chúng ta trên con đường ấy.

Anh Chị em,

Nếu thiên thần bản mệnh là người được sai đến để dẫn đường, thì Đức Kitô là chính Thiên Chúa đến ở cùng chúng ta. Ngài không chỉ đi trước để mở đường, nhưng còn đi vào mọi nẻo đường của phận người, kể cả con đường đau khổ và sự chết. Vì thế, điều bảo đảm rằng chúng ta không đơn độc không chỉ là sự hiện diện của các thiên thần, mà còn là chính Chúa Phục Sinh. Bởi vậy, người môn đệ có thể bước qua những chặng đường tối tăm nhất với một niềm xác tín: tôi ‘không đi một mình’.

Khi Đấng Phục Sinh từ nấm mồ bước ra, không còn ngõ cụt nào có thể giam hãm chúng ta. Đức Kitô ở cùng chúng ta – Ngài đã mang lấy thập giá để không con đường nào còn quá cô đơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con tưởng mình cô đơn, xin mở mắt đức tin; khi con chùn chân, xin nâng đỡ; và khi đường về còn xa, xin giữ con gần Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Các Thiên Thần Hộ Thủ, 

02/10 -Thứ Sáu Tuần XXVI Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/02.html 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” 2 Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3 và nói: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

4 “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.

5 “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy.

10 “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”


 

PHƯƠNG DIỆN KHẮT KHE CỦA THIÊN CHÚA –  Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng hình dung sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Chúng ta thi hành điều này cả với Thiên Chúa

 Bảy trăm năm trước khi Đức Giêsu giáng sinh, ở Hy Lạp có một ông thầy nổi tiếng là Aesop.  Một lý do khiến ông nổi tiếng là vì ông dùng nhiều câu chuyện để dậy bảo.  Ông kể một câu chuyện và từ đó rút ra một chân lý quan trọng.

Thí dụ, một trong những câu chuyện của ông là về sự tranh luận giữa con sư tử và con người về vấn đề ai mạnh hơn ai.

 Con người quả quyết rằng loài người thì mạnh hơn.  Để minh họa điểm này, hắn đưa con sư tử ra một công viên và chỉ cho nó thấy bức tượng của một người đàn ông dùng đôi tay giang rộng hàm của con sư tử.  Con sư tử nhìn bức tượng và nói, “Điều đó chẳng có nghĩa gì cả!  Bức tượng này là do con người làm ra.”

 Điểm mà ông Aesop muốn nói là: Loài người chúng ta có khuynh hướng miêu tả sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Nói cách khác, chúng ta thường bóp méo sự thật để nó trở thành điều mà chúng ta muốn, thay vì những gì đúng như vậy. 

Một số thần học gia lo rằng các Kitô Hữu ngày nay cũng đang thi hành điều đó khi đề cập đến Thiên Chúa.  Họ lo rằng chúng ta đang bóp méo ý tưởng về Thiên Chúa trong Kinh Thánh.  Đó là họ lo rằng chúng ta đang biến Thiên Chúa thành một vị chúa mà chúng ta muốn.

 Chúng ta thi hành điều này bằng cách chú trọng đến những đặc tính của Thiên Chúa mà chúng ta muốn trong khi lại coi thường những đặc tính mà chúng ta không thích.

 Thí dụ, chúng ta nhấn mạnh đến tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa và coi thường sự thật rằng Thiên Chúa còn là một thẩm phán chính trực mà một ngày nào đó chúng ta phải trả lời với Người về đời sống của chúng ta.

 Điều này đưa chúng ta đến dụ ngôn đáng kể của Đức Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay.  Tôi nói “đáng kể” vì chỉ có một vài dụ ngôn có tính cách dậy bảo như vậy. 

Trước hết, nó tóm lược toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Để tôi minh họa thêm.

 Vườn nho tượng trưng cho dân Israel, như bài đọc một hôm nay nói rõ.

Chủ vườn nho tượng trưng cho Thiên Chúa.

Các tá điền tượng trưng cho các thượng tế và người Biệt Phái, là những người mà Thiên Chúa giao cho trách nhiệm với dân của Chúa.

Các đầy tớ trong nhóm thứ nhất, những người mà chủ vườn sai đến gặp các tá điền để thu hoa lợi, là các ngôn sứ thời tiên khởi mà Thiên Chúa đã sai đến với dân Israel.

Các đầy tớ trong nhóm thứ hai là các ngôn sứ thời sau này.

Con của chủ vườn, bị các tá điền giết chết, là Đức Giêsu.

Các tá điền mới, những người mà chủ vườn cho thuê vườn nho, là các Tông Đồ của Đức Giêsu.  Họ thế cho các thượng tế và Biệt Phái làm người lãnh đạo mới của dân Chúa.

Sau cùng, sự thuê mướn vườn nho lúc đầu tiên ám chỉ giao ước cũ.  Và sự thuê mướn vườn nho lần thứ hai ám chỉ giao ước mới.

 Và vì thế dụ ngôn này là một tóm lược mỹ miều về toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Đó là một cuốn Kinh Thánh thu nhỏ trong bộ Kinh Thánh.

 Ngoài việc đem cho chúng ta một tóm lược về câu chuyện cứu độ, dụ ngôn này còn đem cho chúng ta một cái nhìn tóm lược trong Kinh Thánh về Thiên Chúa.

 Nó cho chúng ta thấy cả hai diện của Thiên Chúa: Thiên Chúa như một cha mẹ kiên nhẫn và Thiên Chúa là một thẩm phán chính trực.

 Cũng như chủ vườn nho trong dụ ngôn, Thiên Chúa cho thấy sự kiên nhẫn vô bờ với các người lãnh đạo Israel.  Người đã cho họ cơ hội này đến cơ hội khác để thay đổi đường lối của mình.  Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ.

 Tuy nhiên, khi hiển nhiên thấy rằng sự kiên nhẫn đều vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

 Trong bài đọc một chúng ta cũng thấy như vậy.  Bài này cho thấy Thiên Chúa rất kiên nhẫn với dân của Người.  Nhưng khi thấy rằng sự kiên nhẫn này vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

 Và vì vậy, các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa thì không chỉ như một người cha kiên nhẫn, luôn luôn yêu thương chúng ta, nhưng Người còn là một thẩm phán, buộc chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của chúng ta.

 Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, phản ánh hai chiều kích này của Thiên Chúa.  Đôi khi chúng ta quên rằng Đức Giêsu, cũng như Thiên Chúa, cũng có một “phương diện khắt khe.”

 Chính Đức Giêsu đầy lòng thương xót, là người từng nói với dân chúng, “Hãy đến với ta, tất cả những ai gánh nặng, và ta sẽ cho các ngươi nghỉ ngơi” (Mt 11:28) thì cũng nói với những ai không đếm xỉa đến người nghèo, “Hãy xa khỏi ta, hỡi những người bị Thiên Chúa nguyền rủa!  Hãy đi vào lửa đời đời” (Mt 25:41). 

Và cũng chính Đức Giêsu nhân từ, là người từng nói với dân chúng, “Hãy học nơi ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29) thì cũng “lấy dây kết thành roi” (Gioan 2:15) và xua đuổi những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ.

 Và cũng chính Đức Giêsu dễ thương, là người nói rằng “Những ai công khai tuyên bố thuộc về ta, ta cũng sẽ thi hành như vậy cho họ trước mặt Cha ta ở trên trời.  Nhưng ai công khai chối bỏ ta, ta sẽ chối bỏ họ trước Cha ta ở trên trời” (Mt 10:32-33).

 Và vì vậy chúng ta thấy Đức Giêsu phản ánh hai chiều kích như Thiên Chúa.

 Sự áp dụng những điều này vào đời sống chúng ta thì hiển nhiên.  Chúng ta cần biết rằng Thiên Chúa là một cha mẹ nhân từ.  Vì quá nhiều năm Thiên Chúa bị coi là người thích trừng phạt hơn là yêu thương.

 Tuy nhiên, giờ đây, quả lắc đang nguy hiểm vung về phía trái ngược và đem cho chúng ta một hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa.  Tuy nhiên, những hình ảnh sai lầm này không phải là những gì chúng ta cần trong giây phút này của lịch sử.  Điều chúng ta cần là sự thật.

 Và đó là điều chúng ta tìm thấy trong các bài đọc hôm nay: phúc âm chân lý về Thiên Chúa.  Thiên Chúa vừa là một cha mẹ kiên nhẫn và là một thẩm phán chính trực.

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu của Đức Giáo Hoàng Clement XI.  Lời này có cả hai khía cạnh của Thiên Chúa:

 Lậy Chúa, con tin ở Chúa; xin ban cho con đức tin vững vàng.
Con hy vọng nơi Chúa; xin ban cho con niềm hy vọng chắc chắn.
Con yêu mến Chúa; hãy giúp con yêu Chúa nhiều hơn.

Con tôn thờ Chúa như Khởi Đầu của con,
và con khao khát Chúa như Cùng Đích của con.
Con ngợi khen Chúa như Ân Nhân bất biến của con,
và con kêu cầu Chúa như Đấng Bảo Vệ độ lượng của con.

Xin hãy hướng dẫn con trong sự khôn ngoan của Chúa,
hãy cản trở con bởi sự công chính của Ngài,
hãy an ủi con bằng sự thương xót của Ngài,
hãy bảo vệ con bằng sức mạnh của Ngài.

Con dâng lên Chúa
các ý nghĩ của con, chỉ để hướng đến Chúa;
các lời nói của con, để Chúa là chủ đề các lời ấy;
hành động của con, để thi hành theo thánh ý của Ngài.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

THEO CHÚA  – CHÚA THEO – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo!”.

“Xin ban cho con đức khiết tịnh và tiết độ, nhưng chưa phải bây giờ!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời thú nhận của Augustinô khiến chúng ta cười thầm, nhưng chợt nhận ra mình trong đó. Trong Tin Mừng hôm nay, có người xin theo Chúa Giêsu “bất cứ đâu”, lại có người xin làm một việc “trước đã”. Vậy ‘theo Chúa’ hay ‘Chúa theo?’.

Người đầu tiên nói rất rộng: “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo!”. Chúa Giêsu đáp rất thật: chồn có hang, chim có tổ, Ngài không chỗ tựa đầu. Ngài không kể khổ, cũng không thử lòng anh bằng một việc khó; Ngài chỉ cho anh biết mình sắp theo ai: Đấng đang đi về Giêrusalem, nơi thập giá chờ. “Bất cứ nơi đâu” nghe thật rộng; nhưng nó có còn rộng khi con đường không dẫn tới nơi chúng ta mong đợi?

Với hai người khác, câu chuyện theo Chúa chuyển từ “đi đâu” sang “đi lúc nào”. Một người xin về chôn cất cha, người kia xin từ biệt gia đình. Cả hai đều có một việc “trước đã”; và dường như họ cùng thưa: “Được, nhưng chưa phải bây giờ!”. Chôn cất cha và từ biệt người nhà đâu có gì xấu; nhưng chính những việc tốt có lý đó lại có thể mở ra hết lần trì hoãn này đến lần khác. Đến khi mọi việc đã xong, liệu chúng ta còn muốn lên đường? “Nếu những điều tốt đẹp trên đời trở nên quan trọng hơn việc theo Chúa, thì đã có điều gì đó lệch chỗ!” – Robert Barron.

Với Gióp, “mọi việc đã xong” lại là lúc tai hoạ chồng chất, những gì ông từng có đều vuột khỏi tay. Thế mà Gióp vẫn thưa: “Này Người bắt đi, ai giành lại được? Ai dám hỏi Người: ‘Ngài làm gì thế?’” – bài đọc một. Gióp không hiểu đường Thiên Chúa và cũng không còn gì để bảo đảm ngày mai sẽ khá hơn; nhưng ông vẫn hướng về Ngài, “nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – chờ đợi nơi Ngài điều ông không thể tự làm cho đời mình.

Chúng ta cũng thường thưa “con theo Chúa”, rồi âm thầm vạch sẵn đường cho Ngài đi. Chúng ta cầu xin, nhưng muốn Ngài trả lời đúng lúc; sẵn lòng phục vụ, miễn việc ấy không xáo trộn điều mình đã định. Một người cần được lắng nghe lại đến giữa lúc chúng ta bận; một việc tốt cần làm lại phải nhường chỗ cho việc mình thích hơn. Chúng ta vẫn muốn làm điều lành, nhưng chỉ mong được chọn giờ và chọn cách. “Chúng ta muốn được cứu, nhưng theo cách của mình, chứ không theo cách của Chúa!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Chưa một lần Đức Kitô nói không với Chúa Cha; cũng chưa một lần Ngài nói “chưa phải bây giờ”. Ngài biết Giêrusalem đang chờ mình mà vẫn bước lên; biết thập giá ở cuối đường mà không quay lại. Ngài đi trước, còn các môn đệ bước theo với bao điều chưa hiểu lẫn sợ hãi. Đến khi họ bỏ chạy, Ngài vẫn đi trọn con đường ấy, rồi mở cho họ lối trở về. Lối ấy mở từ chính nơi các ông tưởng mọi sự đã khép lại: thập giá. Chúng ta tưởng theo Chúa là cố sức đi cho kịp Ngài. Nhưng chính lúc không còn theo nổi, chúng ta mới biết Ngài vẫn đi tìm mình: ‘theo Chúa – Chúa theo’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con hẹn rày hẹn mai; lúc con chùn chân, xin dẫn con đi tiếp; khi con lạc đường, xin tìm con, đưa con về!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXVI Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/30.html

 ✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

57 Khi ấy, đang khi Đức Giê-su đi đường cùng các môn đệ, thì có kẻ đến thưa Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” 58 Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

59 Đức Giê-su nói với một người khác: “Anh hãy theo tôi!” Người ấy thưa: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” 60 Đức Giê-su bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.”

61 Một người khác nữa lại nói: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã.” 62 Đức Giê-su bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.”


 

NHỮNG HỮU THỂ KHÔNG GIAN DỐI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối”.

Một em bé có người bạn qua đời; suốt mấy ngày, em đều sang nhà bạn. Mẹ em hỏi, “Con giúp được gì cho họ?”. Em đáp, “Con ngồi vào lòng mẹ bạn con”. Một câu nói nhỏ bé, nhưng trong suốt đến mức nỗi đau người khác có thể đi thẳng vào nó.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ các Tổng Lãnh Thiên Thần mở ra cho chúng ta hình ảnh những hữu thể hoàn toàn trong suốt trước Thiên Chúa – chuyển trao tình yêu, sự thật và thánh ý của Ngài – ‘những hữu thể không gian dối’.

Điều đáng kinh ngạc nơi các thiên thần không nằm ở quyền năng, nhưng ở sự “trong suốt” của các ngài trước Thiên Chúa. Micae bảo vệ thánh ý Chúa mà không tìm vinh quang cho mình; Gabriel chuyển trao sứ điệp của Chúa mà không thêm bớt; Raphael chữa lành mà không giữ công trạng. Các ngài hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa đến mức không còn gì “cong vẹo” nơi bản thân. Có lẽ vì thế, vừa gặp Nathanael, Chúa Giêsu nhận ra ngay một trái tim “không gian dối” – một trái tim giống các thiên thần hơn giống thế gian.

Điều đáng sợ nơi con người không phải là yếu đuối, nhưng là một trái tim bị chia đôi. Augustinô gọi đó là cor duplex – một trái tim vừa muốn Thiên Chúa vừa muốn chính mình. Vì thế, gian dối không chỉ là nói sai, nhưng là sống không thật trước Thiên Chúa. Đóng kịch trước mặt Trời cao là đỉnh cao của sự khờ dại! Các thiên thần thì khác: không che giấu, không thương lượng với sự dữ, không sống hai mặt. Có lẽ vì thế, trong thị kiến Đaniel, các ngài được đứng gần ngai Thiên Chúa – nơi mọi giả trá đều tan biến – bài đọc một. Và cũng vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới reo lên, “Lạy Chúa, giữa chư vị thiên thần, này con xin đàn hát xướng ca!”.

Đó cũng là lý do tại sao trình thuật Nathanael được chọn đọc hôm nay. Điều làm Chúa Giêsu kinh ngạc nơi ông không phải sự thông minh hay đạo đức, nhưng là một trái tim “không gian dối” dù từng chê bai: “Tự Nazareth nào có cái chi hay!”. Chỉ ai đủ trong suốt mới có thể thấy “trời rộng mở” và nhận ra các thiên thần “lên lên xuống xuống trên Con Người”. Bởi lẽ, thiên đàng không mở ra cho những kẻ hoàn hảo, nhưng cho những ai dám sống thật. Theo Richard Rohr, sự minh bạch trong lòng là bước đầu của tự do nội tâm. Trong suốt không phải là không có tì vết, nhưng là không có gì để giấu giếm!

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô chính là con người duy nhất hoàn toàn không gian dối. Nơi Ngài không có khoảng cách nào giữa lời nói và trái tim, giữa thánh ý Cha và ý muốn bản thân. Chính vì thế, Ngài trở thành chiếc “thang” nối trời với đất. Và do đó, nên thánh không phải là nên giống thiên thần ở quyền năng, nhưng giống Đức Kitô và các thiên thần của Ngài với một trái tim không chia đôi – một trái tim của ‘những hữu thể không gian dối’. Thế gian chê bỏ kẻ yếu đuối, nhưng Thiên Chúa khước từ kẻ giả hình. “Sự cao cả của con người nằm ở việc biết mình khốn cùng!” – Blaise Pascal.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con mang quá nhiều mặt nạ; xin chữa nơi con mọi quanh co giả trá; cho con biết sống với một trái tim trẻ thơ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Kính Các Tổng Lãnh Thiên Thần Micael, Gabriel và Raphael

29/9, Thứ Hai Tuần XXVI Thường Niên:

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

47 Khi ấy, Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người: “Làm sao Ngài lại biết tôi?” Đức Giê-su trả lời: “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en!” 50 Đức Giê-su đáp: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”


 

KHÔNG CÓ GÌ – VẪN CÓ CHỖ  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy!”.

“Những người cần được phục vụ trên hết là những người cần được đón nhận, những người không thể đáp lại bằng bất cứ điều gì!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Các môn đệ đang nghĩ xem ai là người lớn nhất. Chúa Giêsu không nói người ấy sẽ là ai, phải thế nào; Ngài chỉ đặt một em nhỏ bên cạnh mình. Em nhỏ chẳng có địa vị, cũng chẳng có gì để đền đáp. Vậy mà vẫn được ở bên Ngài – ‘không có gì – vẫn có chỗ’.

“Ai tiếp đón em nhỏ này”. Động từ “tiếp đón” lặp lại bốn lần trong lời Chúa Giêsu: đón em nhỏ là đón Ngài; đón Ngài là đón Đấng đã sai Ngài. Không có ba cuộc tiếp đón tách rời; cuộc gặp này mở sang cuộc gặp kia. Em nhỏ ấy đại diện cho những người yếu hèn, dễ tổn thương, không có tiếng nói. “Nếu tôi không mở cửa lòng cho người nghèo, cánh cửa ấy vẫn đóng!” – Phanxicô.

Cánh cửa ấy trước hết cần mở ngay giữa các môn đệ. Chỗ các ông muốn giành lấy, Chúa Giêsu dành cho người chẳng thể giành. Ngài không bảo các ông rời đi; Ngài cho thấy chỗ bên cạnh mình không thuộc riêng về ai. Muốn ở gần Ngài, các ông phải học ở gần cả người Ngài vừa đón. Đón những người bé nhỏ, chúng ta phải nhường chỗ trong lòng và trong đời mình cho họ, cùng với những nhu cầu thật của họ. Việc ấy xem ra chẳng làm chúng ta lớn hơn; nhưng nơi người bé nhỏ ấy, chính Chúa Giêsu muốn được đón vào.

Chúa Giêsu còn nói tiếp: “Ai tiếp đón Thầy, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Từ một em nhỏ chẳng có gì để trao, cánh cửa mở tới tận Chúa Cha. Không phải em nhỏ dẫn chúng ta đi xa khỏi đời thường để gặp Thiên Chúa; Chúa Cha cho chúng ta gặp Ngài ngay trong việc đón nhận Người Con, Đấng từ cung lòng Chúa Cha xuống với con người. Bởi đó, người bé nhỏ ấy không đứng ngoài mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa: cách chúng ta đón người ấy chạm đến chính Chúa Cha.

Có khi chúng ta sẵn lòng đón một người, nhưng lại không đón điều tốt từ họ khi họ không cùng nhóm với mình. Gioan cũng thế, ông ngăn một người trừ quỷ vì người ấy không cùng đi với các ông. Một lần nữa, các môn đệ muốn giữ quyền định đoạt chỗ của người khác. Chúa Giêsu không đồng ý: “Đừng ngăn cản người ta!”. Chúng ta có thể mở cửa cho một người nhưng vẫn đóng lòng trước điều Chúa đang làm qua họ. “Người biết yêu nhìn thấy nơi người khác một điều tốt mà nhiều người không thấy!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã vào thế gian như một Người Con cần được đón nhận, nhưng cuối cùng, người ta lại treo Ngài trên thập giá. Vậy mà từ trên đó, cả nhân loại vẫn ở bên cạnh Ngài, trong lòng Ngài. Anh trộm lành là hình ảnh của chính thân phận mỗi người chúng ta: cả một đời không thể làm lại, chỉ xin được nhớ đến. Anh không được xuống khỏi thập giá; nhưng ngay tại đó, Đức Kitô hứa cho anh một thiên đàng, một tương lai vượt qua cái chết: được ở với Ngài, ‘không có gì – vẫn có chỗ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mở lòng con trước người yếu thế, mở mắt con trước điều tốt của anh em, và mở tay đón con khi con chẳng còn gì!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXVI Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/28.html

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

46 Khi ấy, một câu hỏi chợt đến với các môn đệ : Trong các ông, ai là người lớn nhất ? 47 Đức Giê-su biết điều các ông đang tự hỏi trong lòng, liền đem một em nhỏ đặt bên cạnh mình 48 và nói với các ông : “Ai tiếp đón em nhỏ này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy ; và ai tiếp đón Thầy, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy. Thật vậy, ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất.”

49 Ông Gio-an lên tiếng nói : “Thưa Thầy, chúng con thấy có người nhân danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không cùng với chúng con đi theo Thầy.” 50 Đức Giê-su bảo ông : “Đừng ngăn cản người ta. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta !”


 

Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta – Cha Vương

Hôm nay Chúa Nhật chúc bạn một ngày thật ấm áp trong vòng tay âu yếm của Chúa và Mẹ Maria nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé.

Cha Vương

CN: 27/09/2026.       (n26-21)

TIN MỪNG: Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi. (Mc 9: 40,43)

SUY NIỆM: Năm phụng vụ một lần nữa nhanh chóng kết thúc, ngày trở nên ngắn đêm trở nên dài, các bài đọc trong lịch phụng vụ đang mời gọi bạn suy nghĩ đến thời khắc mà bạn sẽ phải gặp Chúa, vào giây phút cuối cùng của cuộc đời, cũng như của vũ trụ vật chất này. Liệu vào lúc ấy, bạn có đến với Chúa bằng đôi tay chất đầy những việc lành phúc đức và những gương sáng và hay không hay là đầy những hành động ích kỷ gương xấu của tội lỗi? 

Nếu như phải tính sổ cuộc đời với Chúa, thì bạn đã sử dụng những món quà Ngài trao trao ban cho bạn như thế nào? Món quà sự sống, món quà đức tin bạn, và các tài sản thiên nhiên… đang nằm trong tay bạn, bạn đang làm gì với những món quà đó? 

Trong ngày phán xét cuối cùng, điều chủ yếu mà Thiên Chúa phán xét bạn chính là tình yêu của bạn đối với tha nhân và những việc bạn làm để thể hiện tình yêu ấy. Điều tốt lành nhất bạn có thể làm cho tha nhân chính là giúp họ trở nên công chính và tốt lành trước mặt Thiên Chúa qua chính việc lành phúc đức và những gương sáng của mình: Ngày ấy, “những ai làm cho người người nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Đn 12:3). Đó cũng chính là cách tốt nhất để chuẩn bị ngày ta ra trước tòa Thiên Chúa. Ước mong bạn hãy bắt tay vào việc ngay bây giờ đi, đừng đợi ngày mai nhé.

LẮNG NGHE: Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, / đừng để tính xấu này thống trị con. / Như thế con sẽ nên vẹn toàn / không còn vương trọng tội. (Tv 18B:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu, và trọn cả ý muốn của con, cùng hết thảy những gì con có, và những gì thuộc về con. Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con, lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa. Tất cả là của Chúa, xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa. Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng. Được như thế, con hoàn toàn mãn nguyện.  AMEN (Thánh I-Nhã)

THỰC HÀNH: Làm một gương sáng hay một cử chỉ đẹp cho một người nào đó  với hết lòng yêu mến Chúa.

From: Do Dzung

*****

Hãy Tiếp Nhận Con – Nguyễn Hồng Ân

KHÔNG NHÚC NHÍCH – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy”.

“Sao bạn cứ cậy vào sức mình để rồi vẫn không đứng nổi? Hãy phó mình cho Chúa; Ngài sẽ đón lấy và chữa lành bạn!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Augustinô đã từng đau vì thấy bao người bước tới, còn mình vẫn không đứng nổi. Tin Mừng cho thấy điều đau hơn nơi các thượng tế: những người họ khinh miệt đã tin lời Gioan và đổi đời ngay trước mắt, mà lòng các ông vẫn ‘không nhúc nhích’.

Hai người con không khác nhau ở lời đầu tiên, nhưng khác ở điều họ làm sau đó. Người thứ nhất nói “không” rồi đi; người thứ hai nói “vâng” mà không đi. Cuối dụ ngôn, Chúa Giêsu xoáy vào chính điểm ấy khi nói với các thượng tế: họ đã thấy những người thu thuế và gái điếm tin lời Gioan; còn họ, thấy mà vẫn không chịu hối hận để tin. “Lòng đạo của họ trở thành thói quen, và Thiên Chúa không còn quan trọng với họ!” – Bênêđictô XVI.

“Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. “Trước” không có nghĩa là cửa đã đóng; nó chỉ lấy khỏi những người tự cho mình là công chính đặc quyền được bước vào mà không cần đổi hướng. Họ vẫn có thể bước theo; nhưng muốn thế, phải thôi dùng quá khứ của người khác để khỏi phải nhìn vào hiện tại của mình. Chỉ khi thôi nói “tội của họ”, người ta mới có thể thưa với Chúa: “Đây là tội của con!”.

Êzêkiel chạm đúng lời thú nhận ấy. Dân trách đường lối Chúa không ngay thẳng; Chúa hỏi lại: “Hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?”. Người công chính vẫn có thể lìa bỏ điều ngay; kẻ gian ác vẫn có thể quay về và được sống – bài đọc một. Trước Thiên Chúa, không ai tự cho là xứng đáng nhờ quá khứ của mình, cũng không ai được phép chết trong quá khứ ấy. Vì thế, “Xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu của Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – là lời xin cho cả người đang bước về lẫn người chưa chịu nhúc nhích.

Giữ một người trong lỗi cũ, chúng ta khỏi phải hỏi tiếng “vâng” của mình đã đi được bao xa. Sự trở về của người khác đáng lẽ là niềm vui; nó lại trở thành một lời chất vấn. Bởi thế, “Hãy khiêm nhường coi người khác hơn mình!” – bài đọc hai – không chỉ dạy chúng ta nhường chỗ, mà còn chỉ ra nơi chúng ta tưởng mình không cần hoán cải. “Lạy Chúa, đây là tội của con, không phải của người này hay người kia. Xin Chúa mang lấy chúng!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô đứng vào chỗ của những người tưởng không còn đường về. Ngài không hỏi họ đã từng nói “không” bao nhiêu lần; nhưng mang lấy cái giá của những lần ấy để họ còn có thể thưa một lời “vâng”. Và Ngài cũng đứng trước những người vẫn quen nói “vâng”, không để kết án, nhưng để họ thấy mình cũng cần được cứu. Những người thu thuế có thể bước vào; các thượng tế có thể bước theo. Đường đã mở cho cả hai bằng chính mạng sống của Người Con. Lẽ nào lòng chúng ta vẫn ‘không nhúc nhích?’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra ân sủng nơi người con coi thường; đủ thật lòng để gọi tội là của con; và đủ tin vào lòng thương xót Chúa để ra khỏi chỗ con đã đứng quá lâu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế) 

*****

  LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM A:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/27.html

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

28 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: ‘Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.’ 29 Nó đá: ‘Con không muốn!’ Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: ‘Thưa ngài, con đây!’ nhưng rồi lại không đi. 31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ trả lời: “Người thứ nhất.” Đức Giê-su nói với họ: “Tôi bảo thật các ông : những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.”


 

TÂM LINH VÀ SỰ KIÊN ĐỊNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một điều gì đó bên trong khiến chúng ta chẳng thể hài lòng với những điều bình dị.  Có một điều gì đó nơi chốn bình thường khiến ta dễ nghĩ rằng những thói quen lặp lại, những nhịp sống gia đình và sự tận tụy với bổn phận có thể đè nặng, nhấn chìm và níu kéo chúng ta ra khỏi những dòng chảy tươi đẹp hơn của đam mê, lãng mạn, sáng tạo, khiêu vũ và lễ hội.

 Chúng ta thường hay đố kỵ và lên án những điều bình dị.  Tôi nhớ một sinh viên trẻ của mình từng chia sẻ trong lớp rằng nỗi sợ lớn nhất đời cô là đầu hàng trước những điều bình thường, “để rồi kết thúc bằng sự hài lòng khi trở thành một người nội trợ kiêm người mẹ nhỏ bé, vui vẻ làm quảng cáo bột giặt!”

 Nếu bạn là một nghệ sĩ hoặc có tâm hồn nghệ sĩ, bạn rất dễ rơi vào thứ cảm xúc này.  Đó là một trong những khuynh hướng của người làm nghệ thuật.  Chẳng hạn, Doris Lessing từng nhận xét rằng George Eliot có lẽ đã có thể trở thành một nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá coi trọng đạo đức.”  Điều mà Lessing muốn ám chỉ là Eliot đã giữ mình quá neo chặt vào những điều bình dị, quá an toàn, quá vững chãi và quá xa rời những bờ vực nguy hiểm.

 Kathleen Norris, trong tác phẩm tiểu sử The Virgin of Bennington, đã chia sẻ về việc khi còn là một người viết trẻ, cô từng là nạn nhân của tư tưởng này như thế nào: “Tôi từng tin rằng các nghệ sĩ quá nghiêm túc để có thể sống một cuộc đời tỉnh táo và bình thường.  Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể tránh khỏi trong một thế giới vô cảm, họ được định sẵn cho một cuộc đấu tranh không thể tránh, đôi khi chết chóc, nhưng luôn luôn cao thượng với sự u ám và diệt vong.”

 Một cuộc vật lộn đầy cao cả với nỗi u sầu và tuyệt vọng!  Điều đó nghe thật cuốn hút, nhất là đối với những ai trong chúng ta tự coi mình là người có tâm hồn nghệ sĩ, trí tuệ uyên bác hay thiên về đời sống tâm linh.  Đó là lý do vì sao vào một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy một sự thương hại trịch thượng đối với những người đạt được niềm hạnh phúc đơn sơ.  Chúng ta nghĩ: Thật dễ dàng cho họ, nhưng họ đang tự hạ thấp giá trị của mình!  Đó chính là tiếng nói của người nghệ sĩ bên trong chúng ta.  Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một nghệ sĩ đi đóng quảng cáo bột giặt!

 Xin đừng hiểu lầm tôi.  Không phải tất cả những điều này đều tồi tệ.  Chính Đức Giê-su cũng từng nói rằng con người sống không chỉ nhờ cơm bánh.  Không một nghệ sĩ nào cần phải giải thích điều đó.  Họ biết rằng những thói quen an toàn, trách nhiệm tẻ nhạt và một khoản thế chấp đã thanh toán hết chưa chắc đã tạo nên thiên đường.  Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp, sắc màu và sự ăn mừng.

 Doris Lessing, một nghệ sĩ vĩ đại, đã gia nhập đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng sau đó đã rời bỏ khi trưởng thành hơn.  Tại sao bà lại rời đi?  Một câu nói đã gói gọn tất cả.  Bà nói rằng mình rời bỏ đảng cộng sản “vì họ không tin vào sắc màu!”

 Đức Giê-su quả quyết với chúng ta rằng cuộc sống không được thiết kế để sống theo hai màu đen và trắng, tức là đơn thuần chỉ là một chuỗi tuần hoàn vô tận của việc thức dậy, tắm rửa, đi làm, hoàn thành công việc một cách trách nhiệm, trở về nhà, ăn tối, chuẩn bị những thứ cho ngày hôm sau và rồi lại đi ngủ.

 Thế nhưng, có rất nhiều điều đáng nói về nhịp điệu dường như tẻ nhạt ấy.  Nhịp điệu của những điều bình dị, đến cuối cùng, lại chính là nguồn cội sâu xa nhất để chắt lọc niềm vui và ý nghĩa.  Kathleen Norris, sau khi kể cho chúng ta nghe về sự cám dỗ thời trẻ là né tránh những điều bình thường để lao vào cuộc chiến cao quý hơn với sự ảm đạm và diệt vong, đã chia sẻ cách một người thầy tuyệt vời –  Betty Kray – đã giúp cô thoát khỏi cái bẫy đó.  Kray khuyến khích cô hãy viết ra từ niềm vui cũng như từ sự ảm đạm của mình, và hãy “từ bỏ sự lãng mạn hóa điên rồ như một trò giả tạo.”  Như Norris đã diễn tả: “Bà ấy đã cố gắng hết sức để thuyết phục tôi về điều mà những người bạn từng phải điều trị tâm thần của bà biết rất rõ: rằng sự trân trọng thuần khiết, đơn sơ đối với những điều bình dị, hằng ngày là một kho báu không gì trên đời so sánh được.”

 Đôi khi một người thầy khác lại dạy chúng ta bài học này.  Khi chúng ta phục hồi sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, phải nghỉ làm và rời xa những thói quen, nhịp điệu sinh hoạt bình thường, không có gì ngọt ngào bằng việc được trở lại với những điều bình dị – công việc, lịch trình và những điều quen thuộc của cuộc sống thường nhật.  Chỉ sau khi nó bị tước đoạt rồi được trả lại, chúng ta mới nhận ra rằng sự trân trọng đơn sơ, trong lành đối với những điều hằng ngày chính là kho báu quí giá nhất.

 Dù vậy, các nghệ sĩ vẫn có một phần đúng.  Những điều bình dị có thể đè nặng chúng ta, giữ chúng ta ở bên ngoài những vùng nước sâu hơn của sự sáng tạo, lãng mạn, sắc màu và sự hoang dại giúp ta cất bước nhảy múa.  Tuy nhiên, khi đã thừa nhận điều đó, mỏ neo và sức nặng cũng có một chức năng tích cực.  Chúng giữ cho chúng ta không bị cuốn trôi.  Chúng neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Chúng giữ cho chúng ta vững vàng.  Nhịp điệu của những điều bình dị có lẽ là mỏ neo mạnh mẽ nhất để giữ chúng ta trong sự tỉnh táo.

 Paul Simon, trong một bài hát thập niên 1970 có nhan đề An American Tune, đã hát về việc đối mặt với sự hỗn loạn, sai lầm, sự phản bội và những sự kiện làm tan vỡ sự bình yên của chúng ta.  Và ông kết thúc bản khúc ca khá buồn ấy một cách vô cùng bình yên bằng những lời ca: “Nhưng ngày mai vẫn sẽ là một ngày làm việc khác, và tôi đang cố gắng nghỉ ngơi một chút.  Tất cả những gì tôi đang cố gắng, chỉ là nghỉ ngơi một chút thôi.”

 Sự tuân phục mệnh lệnh đó giúp neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta.  Có rất nhiều điều tuyệt vời để nói về việc trở thành một người bình thường, biết hài lòng, được neo giữ trong nhịp điệu của những điều bình dị, và cố gắng nghỉ ngơi một chút khi kết thúc một ngày làm việc mệt mỏi.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC VỖ TAY, NÓI CHUYỆN NỘP – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Con Người sắp bị nộp vào tay người đời!”.

“Chúng ta thản nhiên lao xuống vực sau khi đặt trước mắt một vật gì đó để khỏi thấy vực sâu!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Những lời ngưỡng mộ cũng có thể che khuất một vực sâu. Tin Mừng hôm nay cho biết, giữa lúc mọi người kinh ngạc trước những việc Chúa Giêsu làm, Ngài nói với các môn đệ rằng Thầy của họ sắp bị nộp vào tay người đời – ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

“Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy”. Điều làm họ vấp váp là một nỗi sợ chưa gọi thành tên: Đấng vừa tỏ quyền năng trước mắt mọi người lại sắp rơi vào tay người đời. Có thể họ đã nhận ra một Đấng mạnh hơn sự dữ; nhưng chưa thể nhận ra Ngài trong dáng vẻ của một người không tự cứu mình. Họ muốn ở lại với hình ảnh một vị Thầy đầy quyền năng; lời “sắp bị nộp” làm hình ảnh ấy rạn ra. Vì thế, câu hỏi nghẹn lại trong cổ họ. Tiếng vỗ tay bên ngoài càng lớn, sự im lặng giữa Thầy và trò càng sâu.

Các môn đệ sợ hãi; Chúa Giêsu rồi cũng sẽ sợ hãi. Nhưng Ngài không giấu nỗi sợ, mà đưa nó vào cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con!”; rồi thưa tiếp: “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!”. Sự khác biệt không nằm ở chỗ ai can đảm hơn, mà ở chỗ nỗi sợ được đưa về đâu. “Chúng ta cần xin ơn để không chạy trốn khi thập giá đến!” – Phanxicô.

Giảng Viên cũng chỉ ra con đường không ai tránh khỏi: “Đừng chờ đến ngày tai ương ập tới” – bài đọc một. Tác giả không gọi tuổi trẻ là phù vân vì nó đẹp; ông gọi nó là phù vân vì ngay lúc đang đẹp, nó đã trôi. Chúng ta không thể trú ẩn trong điều đang trôi khỏi tay mình. Đừng đợi thân xác hao mòn mới hỏi đời mình đi về đâu. Vì thế, lời đáp ca “Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn” phải được cất lên từ bây giờ trong hoán cải và đổi mới.

Trong cuộc sống, như các môn đệ, một lời khen có thể giữ chúng ta ở lại với thành công lâu hơn chính thành công ấy. Nhưng một mất mát, một nỗi sợ bất ngờ nào đó vẫn có thể kéo chúng ta về với điều mình muốn chạy trốn. Hãy đem nỗi sợ ấy vào lời cầu nguyện và nhớ đến ngày cuối, ngày không làm hôm nay tối đi; nó nhắc chúng ta đang sống trước mặt Ai. “Người có niềm hy vọng sống khác đi; người hy vọng đã được ban tặng hồng ân của một đời sống mới!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Thập giá là nơi lời “nộp vào tay người đời” đi tới tận cùng. Tiếng tung hô đã tắt; từ tay người đời, Đức Kitô trao mình vào tay Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. Cha không cất cái chết khỏi Con, nhưng dang tay đón lấy Con. Phục Sinh là lời đáp của Cha, không cần một tiếng vỗ tay. Vực sâu vẫn còn đó; nhưng Con Thiên Chúa không đặt gì trước mắt chúng ta để che nó. Ngài đã đi qua và mở một lối về tay Cha. Không lạ gì, ‘được vỗ tay, nói chuyện nộp!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ngày con vui, cho con nhớ ngày cuối; ngày con sợ, cho con biết cầu nguyện; và khi phải buông tay, xin dang tay đón con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

 Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/26.html

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43b Khi ấy, đang lúc mọi người còn bỡ ngỡ về tất cả các việc Đức Giê-su làm, thì Người nói với các môn đệ rằng: 44 “Phần anh em, hãy lắng tai nghe cho kỹ những lời sau đây: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời.” 45 Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa. Nhưng các ông sợ không dám hỏi lại Người về lời ấy.


 

ĐÚNG – VẪN PHẢI IM – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa!”.

“Thinh lặng là một thành phần thiết yếu của truyền thông; thiếu nó, những lời giàu nội dung không thể tồn tại!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, có những lời đúng vẫn cần thinh lặng cho đến khi có thể nói trọn nghĩa. Phêrô gọi Chúa Giêsu là “Đấng Kitô”; nhưng chỉ thập giá và Phục Sinh mới tỏ hết danh xưng ấy. Vì thế, Phêrô ‘đúng, vẫn phải im’.

Trước hết, câu hỏi “Anh em bảo Thầy là ai?” chỉ đến sau cuộc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Luca ghi: “Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người”. Các ông ở bên Thầy, nhưng có lẽ chưa cùng Thầy cầu nguyện. Phêrô trả lời đúng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”; nhưng lời ấy xem ra chưa được sinh ra từ sự hiệp thông với Thầy trong cầu nguyện. Nó còn mang dáng dấp một kết luận từ những điều người ta truyền nhau về Thầy. Ông gọi đúng tên, nhưng chưa hiểu điều tên gọi ấy đòi hỏi. “Chúa Giêsu có nhiều người yêu mến Nước Trời của Ngài, nhưng ít người mang thập giá Ngài!” – Thomas à Kempis.

Vì thế, Chúa Giêsu nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai. Ngài không bác lời Phêrô; Ngài thanh luyện ý nghĩa ông đặt vào đó. “Đấng Kitô” rất dễ gợi vinh quang và quyền lực. Ngay sau đó, Ngài nói đến đau khổ, sự loại trừ, cái chết và Phục Sinh. Trước khi rao giảng Đấng Kitô, Phêrô phải cùng Thầy sống trọn danh xưng ấy. Bằng không, ông có thể dùng một lời đúng để loan báo một Đức Kitô không đúng. Bởi thế, ông ‘đúng, vẫn phải im’.

Giảng Viên gọi đúng khoảnh khắc ấy: “Một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng”. Phêrô đang đứng giữa hai thời: đã có lời đúng, nhưng chưa đến lúc nói, vì chưa hiểu trọn nghĩa. Sự im lặng không xoá lời tuyên xưng; nó để Thiên Chúa “làm mọi sự hợp thời nên xinh đẹp”. Có những lời cũng phải được thời gian của Chúa làm cho chín. Trong khi chờ đợi, Thánh Vịnh đáp ca chỉ cho người môn đệ biết phải nương vào đâu: “Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn”. Tựa vào Núi Đá, người môn đệ không cần đi trước giờ của Thiên Chúa.

Như Phêrô, chúng ta có thể nói về Chúa khi chưa sống đủ lâu với Ngài. Điều đáng sợ không chỉ là nói sai, nhưng còn là nói đúng quá sớm: miệng đã tuyên xưng, đời sống chưa theo kịp. Có lúc, im lặng không phải hèn nhát, nhưng là thành thật nhận rằng mình còn phải hoán cải cho kịp lời mình nói. “Thà im lặng mà sống thật, còn hơn nói mà đời mình không như thế!” – Ignatiô Antiôkia.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ giải nghĩa danh xưng ấy bằng lời; Ngài sống nó đến cùng. Trước những người kết án, Ngài không biện hộ; trên thập giá, Ngài để tình yêu nói Ngài là ai. Phục Sinh là lời Chúa Cha nói sau sự vâng phục đến chết của Người Con. Từ đó, lời Phêrô không còn dựa trên điều người ta nói, nhưng trên những dấu đinh, ngôi mộ trống và câu hỏi của Thầy bên bờ hồ: “Con có yêu mến Thầy không?”. Trước Vượt Qua, ông ‘đúng, vẫn phải im’; sau Vượt Qua, ông không thể không nói.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con im khi chưa hiểu; ở lại khi chưa đến giờ; và biến lời tuyên xưng thành chứng từ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XXV Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://tonggiaophanhue.net/loi-chua/bai-doc-trong-thanh-le/…

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

18 Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng : “Dân chúng nói Thầy là ai?” 19 Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.” 20 Người lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa.” 21 Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.

22 Người còn nói: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.”