KHÔNG TIN, VẪN ĐƯỢC SAI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng”.

“Đức tin không phải là kết quả của suy nghĩ, nhưng là kết quả của một cuộc gặp gỡ!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không khen ngợi một niềm tin vững vàng rằng Thầy đã sống lại, nhưng là những lời khiển trách vì các môn đệ không tin và cứng lòng. Đức tin không đến từ suy nghĩ, nhưng từ gặp gỡ; và ‘dù không tin’, họ ‘vẫn được sai’ – một nghịch lý khó chấp nhận.

Marcô đã tài tình tóm tắt các lần hiện ra của Chúa Phục Sinh; tuy nhiên, qua đó, việc các môn đệ “không tin” không chỉ là một phản ứng tâm lý, nhưng là việc họ không nhận ra Đấng đã tỏ mình; không phải vì thiếu chứng từ, nhưng vì lòng chưa mở ra. Vì thế, điều Chúa Giêsu khiển trách không chỉ là sự nghi ngờ, nhưng là một sự “chậm mở” trước một thực tại mang tính quyết định đã xảy đến; và đó cũng là điều có thể xảy ra nơi chúng ta. Đôi khi, không phải vì thiếu ánh sáng, nhưng vì chúng ta chưa sẵn sàng để thấy.

Vậy mà, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc họ không tin, Ngài lập tức sai các ông đi. Incredulitas không loại trừ missio, nhưng mở ra chính sứ vụ; không phải khi họ đã hoàn toàn tin, nhưng ngay khi họ còn đang trên đường đến với đức tin. Và cũng chính nơi đó, chúng ta nhận ra mình: Chúa không đợi đến khi chúng ta vững vàng rồi mới sai đi, nhưng ngay trong những chần chừ và nghi hoặc, lời sai đi vẫn không ngừng vang lên – ‘không tin – vẫn được sai!’. “Thiên Chúa không chọn người xứng đáng, nhưng làm cho người được chọn trở nên xứng đáng!” – Phanxicô.

Vì thế, điều xảy ra nơi các tông đồ không dừng lại ở kinh nghiệm riêng, nhưng trở thành lời chứng: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” – bài đọc một. Đức tin – một khi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ – không thể khép kín, nhưng tự nó mở ra thành sứ vụ. Đức Phanxicô nhấn mạnh: đức tin hoặc mang chiều kích truyền giáo, hoặc không còn là đức tin; không phải để giữ cho mình, nhưng để trao ban, không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống. Và khi đó, điều đã thấy không thể giữ lại, điều đã tin không thể không nói ra.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, đức tin không còn là một tiến trình phải đi tới, nhưng là một tương quan được sống trọn vẹn. Ngài tin Cha một cách tuyệt đối, không chỉ trong vinh quang, nhưng cả trong khổ đau; ngay tại vườn Dầu, khi mọi sự dường như sụp đổ, Ngài vẫn thưa: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha”. Vì thế, nơi Ngài, không có khoảng cách giữa tin và được sai; chính trong sự phó thác trọn vẹn ấy, sứ vụ đạt tới cùng đích và trở thành ơn cứu độ. Và cũng từ đó, chúng ta nhận ra rằng, đức tin không lớn lên khi mọi sự rõ ràng, nhưng khi dám phó thác, ngay trong những điều mình chưa hiểu. “Để đạt tới điều ngươi không biết, ngươi phải đi qua con đường ngươi không biết!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, dù lòng con chưa vững, xin vẫn cứ sai con. Xin cho con biết yêu mến việc gặp Chúa mỗi ngày, để không giữ lại điều đã thấy, và không nín lặng điều đã tin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************

 Lời Chúa Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 16,9-15

9 Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giê-su hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Mác-đa-la, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ. 10 Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người mà nay đang buồn bã khóc lóc. 11 Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin.

12 Sau đó, Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê. 13 Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này.

14 Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy. 15 Người nói với các ông : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.”


 Thế giới đã có biến đổi gì nhờ việc Chúa Giêsu sống lại? – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới, chúc bạn được tràn đầy hy vọng vào Chúa Phục Sinh nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 10/04/2026. (n22-22)

GIÁO LÝ:  Thế giới đã có biến đổi gì nhờ việc Chúa Giêsu sống lại? Vì cái chết từ nay không còn là “chấm dứt” mọi sự nữa, nên niềm vui và hi vọng đã đến với thế giới. Cái chết không còn cai trị trên Chúa Giêsu (Rm 6,9). Chết cũng không còn quyền trên chúng ta, là những người thuộc về Chúa Giêsu nữa. (YouCat, số  108)

SUY NIỆM: Ám ảnh bởi cái chết luôn rình rập ở bên, người ta đã cố gắng tìm hiểu về cái chết nhưng đều đi đến chỗ bế tắc, không giải quyết được vì, thực ra, sự sống hay cái chết là một huyền nhiệm. Vì vậy người ta mới có nhiều cách khác nhau để diễn tả đến cái chết: sợ chết, trốn chết, quên chết, hoặc đón nhận cái chết. Mỗi người có một quan niệm về sự chết. Nhưng riêng với người Kitô giáo, họ tin rằng chết là ngưỡng cửa đi vào cuộc đời hay chết là con đường đưa tới sự sống. Nói cách khác, chết không phải là hết, là mất mát, là đi vào ngõ cụt, đi vào cõi hư vô mà chết là một sự chuyển đổi như trong kinh Tiền tụng lễ An táng có viết :”Đối với chúng ta là những Kitô hữu, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi trú ngụ dưới trần bị tiêu hủy, chúng con sẽ về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời”.

❦  Người nào đã nhận được sứ điệp Phục Sinh không thể nào còn bước đi với bộ mặt bi thảm và sống cuộc sống không có niềm vui của một người không có hy vọng. (Friedrich Schiller, 1759–1805, văn sĩ và kịch gia Đức) (YouCat, số 108 t.t)

LẮNG NGHE: Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. (Ga 6:47)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, cuộc sống là một hành trình đi về quê trời. Hành trình ấy chấm dứt sớm hay muộn không ai biết, chỉ biết chắc một điều là có ngày chấm dứt, ngày đó là giờ chết. Xin giúp con biết chuẩn bị cho chính mình một hành trang qua việc dấn thân làm việc lành phúc đức để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

THỰC HÀNH: Giả sử như hôm nay là ngày cuối của bạn, hành trang đem theo với bạn là những gì?

From: Do Dzung

************************

Sự sống thay đổi mà không mất đi

MẺ CÁ KHÔNG TỪ BIỂN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đến mà ăn!”.

“Thiên Chúa luôn vượt quá điều con người có thể nghĩ tới!” – Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc lại: Thiên Chúa luôn vượt quá điều con người có thể nghĩ tới. Với Chúa Phục Sinh, bắt đầu lại không phải là quay về nếp cũ – Phêrô trở lại biển mà tay vẫn trắng; nhưng là một khởi đầu khác – một ‘mẻ cá không từ biển’.

Khi thất bại, người ta thường tìm về nơi quen thuộc để trú ẩn. Với Phêrô, đó là nghề cũ; ông ra đi, các bạn cùng đi, mang theo cảm giác có lỗi với Thầy. Nhưng không phải lúc nào nếp cũ cũng trả lại điều đã mất; đêm ấy, họ không bắt được gì. Không chỉ là đêm trắng tay, nhưng là một khoảng trống không thể lấp đầy; và chính trong sự trống rỗng ấy, Chúa Giêsu đến. “Khi sức con người cạn kiệt, quyền năng Thiên Chúa bắt đầu!” – Grêgôriô Cả.

Ngài đứng đó, nhưng họ không nhận ra; không xoá đi đêm rỗng, nhưng nói một lời khác: “Cứ thả lưới bên phải mạn thuyền”. “Bên phải” không chỉ là một hướng, nhưng là một “chuyển hướng”; và ký ức lần đầu ùa về: một mẻ cá, một lời mời, một khởi đầu! Nhưng lần này, không còn là bước theo một Thầy đi ra từ hoang địa sau bốn mươi ngày, mà là nhận ra một Thầy đi ra từ nghĩa địa sau ba ngày; và lúc đó, ‘mẻ cá không từ biển’ lại xảy ra.

Mẻ cá ấy là dấu chỉ của một sứ vụ bắt đầu lại; không còn là nỗ lực của những người trở lại biển, nhưng là sự quy tụ từ lời của Đấng Phục Sinh. Lưới được thả không còn từ kinh nghiệm, nhưng từ Lời; và điều được kéo lên không chỉ là cá, nhưng là những con người. Chính từ đó, một cộng đoàn được hình thành, không bởi khả năng, nhưng bởi lời gọi; không khởi đi từ sức người, nhưng từ chính quyền năng của Đấng đã sống lại.

“Bước lên bờ, các ông thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa”. Với Phêrô, đó là một ký ức. Ánh lửa của đêm chối Thầy sống lại, nhưng không còn là lửa của sợ hãi, mà là lửa của xót thương. Cũng nơi ấy, ‘Người Ấy’ không nhắc lại lời chối Thầy; thay vào đó, “Đến mà ăn!”. Ký ức không bị xoá, nhưng được cứu chuộc – memoria redempta; chính nơi từng vấp ngã, ơn tha thứ chạm đến và biến đổi.

Anh Chị em,

“Đến mà ăn!”. Bữa ăn ấy không chỉ là phục hồi, nhưng mang âm vang của Thánh Thể; nơi Ngài trao mình. Với Chúa Phục Sinh, mọi sự có thể bắt đầu lại, kể cả đổ vỡ và phản bội. Phêrô, người đã chối Thầy, nay không còn sợ hãi: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!” – bài đọc một và Thánh Vịnh đáp ca. Từ đó, điều gãy đổ trở thành điểm xuất phát; không chỉ được chữa lành, nhưng được biến đổi. Điều được kéo lên không chỉ là cá, nhưng là con người; và điều được hình thành là một Hội Thánh được quy tụ và được sai đi – một ‘mẻ cá không từ biển’. “Khi lưới đời ta trống rỗng, không phải là lúc để quay về với những trò tiêu khiển cũ, nhưng để bắt đầu lại và ra khơi với Chúa Giêsu!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường trở về nếp cũ mà lòng vẫn trống, cho con nhận ra Chúa đang đứng đó, để dám bắt đầu lại theo lời Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho môn đệ ; rồi cá, Người cũng làm như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 21,1-14

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Người tỏ mình ra như thế này. 2 Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. 3 Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông : “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp : “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.

4 Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. 5 Người nói với các ông : “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời : “Thưa không.” 6 Người bảo các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. 7 Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : “Chúa đó !” Vừa nghe nói “Chúa đó !”, ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. 8 Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

9 Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. 10 Đức Giê-su bảo các ông : “Đem ít cá mới bắt được tới đây !” 11 Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. 12 Đức Giê-su nói : “Anh em đến mà ăn !” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai ?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. 13 Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông ; rồi cá, Người cũng làm như vậy. 14 Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.


 

Sau khi sống lại Chúa Giêsu có mang cùng một thân xác như trước khi Người qua đời không?- Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, nguyện xin Mẹ Maria đồng hành với bạn trên mọi lẻo đường hôm nay nhé.

Xin Chúa ở cùng bạn và gia đình luôn mãi nhé. Hãy nhớ nhau và thế giới trong cầu nguyện.

Cha Vương

Thư 5: 09/04/2026.  (n21-22)

GIÁO LÝ: Sau khi sống lại Chúa Giêsu có mang cùng một thân xác như trước khi Người qua đời không? Chúa Giêsu đã cho các môn đệ đụng chạm đến xác Người, Người ăn uống với họ, cho họ thấy vết đâm nơi cạnh sườn Người. Nhưng thân xác Người không còn hoàn toàn thuộc về trần gian, mà thuộc về Thiên đàng nơi Chúa Cha đang ngự trị. (YouCat, số 107)

SUY NIỆM: Đức Kitô sống lại còn mang theo các vết thương khi chịu đóng đinh thập giá, nhưng không còn ở trong không gian hay thời gian nữa. Người có thể vào trong một phòng đã đóng kín cửa, và có thể hiện ra với các môn đệ ở nhiều nơi khác nhau với vẻ bề ngoài mà các ông không thể nhận ra ngay lập tức được. Chúa sống lại không phải là lại sống như đời sống thường trước kia, nhưng đã đổi sang một đời sống khác: Chúa Kitô một khi đã sống lại từ cõi chết thì không còn chết nữa, sự chết không còn quyền gì đối với Người nữa (Rm 6,9). (YouCat, số 107 t.t.)

❦  Chúa Giêsu hiện ra với bà Maria Magdala mà bà đã không nhận ra ngay được liền. Chúa Giêsu nói: “Maria”. Bà quay lại và nói với Chúa: “Rabbouni” có nghĩa là “Lạy Thầy”. Ga 20,16

LẮNG NGHE: Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28:20b)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, ma quỷ đang tìm cách gieo vào cuộc sống hiện đại hôm nay những nghi ngờ và bất đồng làm con sợ hãi hoang mang, xin biến con trở nên khí cụ của bình an, xua tan sợ hãi, lan toả yêu thương và chiếu sáng niềm hy vọng trong cuộc đời.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Kính Mến

From: Do Dzung

*******************

TTM-Giêsu ơi, ở cùng con luôn mãi

CUỘC SÁNG TẠO MỚI – Lm Ignatiô Trần Ngà

Lm Ignatiô Trần Ngà

 Ngày thứ nhất của nhân loại cũ

 Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam.  Mới đầu thân thể ông chỉ là một khối đất bất động, không hề có dấu hiệu của sự sống. 

Thế rồi, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam (St 2,7), tức thì Ađam bắt đầu mở mắt, cựa mình và vươn vai chỗi dậy thành một con người đầy sức sống và được trở thành thuỷ tổ loài người đông đảo trên khắp trái đất.

 Đó là ngày thứ nhất của lịch sử loài người, ngày khai sinh nhân loại cũ, khởi đi từ con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, thông ban sự sống và những phẩm tính cao đẹp của Ngài. 

Tiếc thay, con người tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại lâm vào vòng sa đọa, đánh mất phẩm chất cao đẹp mà Thiên Chúa đã phú cho và phải mang lấy án phạt đời đời nên Thiên Chúa phải thực hiện kế hoạch kiến tạo một nhân loại mới. 

Ngày thứ nhất của nhân loại mới 

Thế rồi, “vào ngày thứ nhất trong tuần – và cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử nhân loại mới – nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.  Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!” (Ga 20, 19-22) 

Kế đó, như thời khởi thuỷ, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam để thông truyền sự sống cho ông, thì nay Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các tông đồ đang co cụm như những xác không hồn để thông ban Chúa Thánh Thần cho họ: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22)

 Thế là từ đây, các tông đồ bắt đầu đón nhận sức sống mới, các ông được hồi sinh, được trở nên can đảm mạnh mẽ, thoát ra khỏi căn phòng đóng kín như hầm mộ u tối chôn vùi các ông suốt mấy tuần qua để ra đi khắp các nẻo đường, hô vang Tin Mừng cứu độ.

 Đó là ngày thứ nhất trong tuần đồng thời cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử của nhân loại mới.

 Ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ

 Vậy mà cho đến hôm nay, sau hơn hai ngàn năm Chúa Giêsu khai sinh nhân loại mới, vẫn còn trong ta sự ương ngạnh của Ađam, muốn sống theo dục vọng của mình bất chấp lời giáo huấn của Thiên Chúa.  Vẫn còn trong ta tính ù lì khiếp nhược của các tông đồ sau biến cố Thầy Giêsu thụ nạn, tự giam mình trong phòng kín như mộ địa tối tăm.  Vẫn còn trong ta con người ích kỷ chỉ biết sống cho mình, cho gia đình mình mà chưa mở ra với tha nhân và lối xóm.

 Thế nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần Chúa Giêsu hiện đến thổi hơi truyền ban Thần Khí cho chúng ta như Ngài đã thực hiện cho các tông đồ xưa, để chúng ta được hồi sinh, được vượt ra khỏi ngục tù do lòng tham lam ích kỷ dựng nên, thoát ra khỏi mộ địa do chính sự hèn yếu của chúng ta vây bọc. 

 Và nhờ đó, ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ được khai mở trong ta.

 Lm Ignatiô Trần Ngà

From: Langthangchieutim


 

CHƯA TIN, VÌ QUÁ MỪNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ông còn chưa tin, vì mừng quá!”.

“Hãy tin để hiểu!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy tin để hiểu!”. Nhưng với các môn đệ, Lời Chúa hôm nay cho thấy: niềm vui đi trước, và đức tin theo sau. Không phải vì thiếu bằng chứng, nhưng vì niềm vui quá lớn; họ ‘chưa tin, vì quá mừng’.

Luca ghi lại một chi tiết hiếm hoi. Các môn đệ chưa tin Đấng Phục Sinh đang đứng đó, vì tràn ngập niềm vui. Không phải thiếu ánh sáng, nhưng là một ánh sáng quá mạnh. Ở đây, trật tự quen thuộc đảo ngược: không còn là “tin rồi mới vui”, nhưng niềm vui đến trước, buộc đức tin mở ra – gaudium đi trước fides. Một điều gì đó vượt quá khả năng tiếp nhận; chính vì thế, họ dừng lại, không phải trong nghi ngờ, nhưng trong sự chững lại của một người đang đứng trước một điều quá tốt để có thể tin ngay. Và như thế, không phải con người chạm tới Thiên Chúa trước, nhưng là Thiên Chúa chạm tới con người trước – cả khi con người còn chưa kịp tin.

Ngay trong lúc họ còn chần chừ, Chúa Giêsu nói: “Bình an cho anh em!”. Ngài không làm giảm niềm vui, nhưng đặt vào đó một sự lắng lại từ bên trong, để điều đang tràn ra có thể được đón nhận. Bình an ấy không thay thế niềm vui, nhưng làm cho nó trở nên có thể tin; và chỉ khi đó, điều quá lớn mới dần trở nên có thể đón nhận. Chính vì thế, điều xảy ra nơi các môn đệ không khép lại nơi họ, nhưng vẫn tiếp diễn nơi chúng ta.

Với chúng ta, có những lúc, niềm vui chạm đến, nhưng chúng ta vẫn chậm lại; không phải vì không muốn tin, nhưng vì hồng ân quá lớn. Khi đó, điều chúng ta thiếu không phải là bằng chứng, nhưng là một bình an đủ để tin.

Chúa Giêsu không giải thích thêm, nhưng nói: “Nhìn chân tay Thầy coi!”; “Cứ rờ xem!”. Không phải một ý tưởng để hiểu, nhưng là một thân xác để chạm. Ngài không xoá đi những dấu thương tích, nhưng giữ lại chúng – và chính qua đó, Ngài tỏ mình: một thân xác đã bị đóng đinh, nay hiện diện giữa họ; không phải để chứng minh, nhưng để họ bước vào một thực tại mới. Chính ở đó, điều họ chưa thể tin bắt đầu trở nên có thể – khi niềm vui không còn ở ngoài, nhưng chạm đến được. “Những dấu thương ấy không còn là nơi của oán hận, nhưng là nơi của một tình yêu đã đi qua tất cả; không phải để trách móc, nhưng để khẳng định một tình yêu mạnh hơn mọi bất trung” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Chúa Giêsu, nghịch lý của các môn đệ được sống đến cùng. Ngài không chỉ đón nhận niềm vui, nhưng sống trong niềm vui, vì luôn ở trong tương quan với Chúa Cha. Ngay cả khi bị khước từ, bị đóng đinh, Ngài vẫn không ngừng tín thác. Ngay cả trong giờ phút ê chề nhất, Ngài vẫn không rời khỏi tình yêu và ý muốn của Cha. Nơi Ngài, niềm vui và đức tin là một, không bao giờ bị đứt đoạn. Chính vì thế, từ thập giá đến phục sinh, nơi Ngài chỉ còn là sự hiệp nhất với Cha đến cùng. “Ngay trong sự bị bỏ rơi, sự hiệp nhất giữa Cha và Con không bị phá vỡ!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đặt trong con sự bình an của Chúa, để niềm vui không còn làm con chững lại, nhưng mở lòng con ra để tin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Có lời Kinh Thánh chép rằng : Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 24,35-48

35 Khi ấy, hai môn đệ từ Em-mau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

36 Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo : “Bình an cho anh em !” 37 Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. 38 Nhưng Người nói : “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? 39 Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” 40 Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. 41 Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : “Ở đây anh em có gì ăn không ?” 42 Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. 43 Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông.

44 Rồi Người bảo : “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.” 45 Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh 46 và Người nói : “Có lời Kinh Thánh chép rằng : Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại ; 47 phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. 48 Chính anh em là chứng nhân về những điều này.” 


 

Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không?- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày thứ 4 bát nhật Phục Sinh tràn đầy niềm vui nhé. Cầu nguyện cho nhau và cho thế giới trong thời không bình an nhé 

Cha Vương

Thứ 4: 08/04/2026  (n20-22)

GIÁO LÝ:  Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không? Không có bằng chứng theo khoa học về việc Chúa Giêsu sống lại. Nhưng có những chứng cớ rất mạnh của cá nhân cũng như tập thể của nhiều người đương thời tại Giêrusalem. (1Cr 15,3-6; Lc 24,2-3; Ga 20,8). (YouCat, số 106)

SUY NIỆM: Bằng chứng cổ xưa nhất ghi chép Chúa Giêsu sống lại là thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, viết khoảng 20 năm sau cái chết của Chúa Giêsu: “Trước hết tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Sau đó Người đã hiện ra với năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống nhưng một số đã an nghỉ (1Cr 15,3-6). Ở đây thánh Phaolô nói về một truyền thống sống động ngài gặp trong cộng đồng Kitô giáo sơ khởi, khi chính ngài vừa mới trở thành Kitô hữu, hai ba năm sau cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu – theo sau cuộc gặp gỡ ngao ngán với Chúa đã phục sinh. Các môn đệ đã cho rằng ngôi mộ trống là chỉ dẫn đầu tiên về thực tại Chúa sống lại (Lc 24,5-6). Đây là việc các phụ nữ đã khám phá thấy – theo luật thời đó thì bằng chứng của họ không được chấp nhận. Dù người ta nói rằng tông đồ Gioan đến mộ, đã thấy và đã tin (Ga 20,8), việc xác tín rằng Chúa Giêsu sống lại chỉ phát triển nhờ một loạt các lần hiện ra. Chỉ sau khi Chúa về trời, mới không còn những gặp gỡ với Đấng đã sống lại. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn tiếp tục có những gặp gỡ với Chúa Giêsu, Người vẫn sống. (YouCat, số 106 t.t.)

❦ Tình yêu Thiên Chúa đi tới chỗ sáng như chớp. Như một tia chớp Chúa Thánh Thần đi qua đêm của mỗi người. Đấng Phục Sinh bắt lấy bạn, đảm nhận mọi sự, mang trên Người tất cả những gì bạn không mang nổi. Chỉ như thế mà sau này, đôi khi rất lâu sau này điều đó mới rõ ràng: Chúa Kitô đã đi qua và đã phân phát những gì quá đầy của Người. (Frère Roger Schutz)

LẮNG NGHE: Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:27-29)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho con!

THỰC HÀNH: Tự suy ngẫm coi có những gì chung quanh bạn tuy mắt người phàm không thấy nhưng bạn tin là nó có thật?

From: Do Dzung

***********************

CHO CON THẤY CHÚA – Sr. Hiền Hòa

LỜI BỪNG LỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”.

“Lòng chúng ta khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Ngài!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus hôm nay cho thấy, không phải đôi mắt mở ra trước; nhưng là lòng. Và chỉ khi lòng bừng cháy, con người mới nhận ra Đấng mình khắc khoải tìm – ‘Lời bừng lửa!’.

Trong trình thuật độc quyền của Luca, có một động từ âm thầm nhưng quyết định: aperiebat – “mở ra”. Chúa Giêsu mở Kinh Thánh, và cũng mở lòng hai môn đệ. Đó không phải là hai hành vi; nhưng là một chuyển động: mở Lời; và mở lòng. Vì thế, điều xảy ra không phải là các môn đệ hiểu thêm; nhưng là họ được biến đổi từ bên trong. Chính trong tiến trình ấy – không chớp nhoáng – trước khi mắt họ được mở, lòng họ đã bừng cháy. “Yêu là biết!” – Grêgôriô Cả.

Luca không mô tả một cảm xúc; nhưng một kinh nghiệm: cor ardens – một trái tim được đánh thức từ bên trong. Điều lạ là họ vẫn chưa nhận ra Thầy: đôi mắt còn bị giữ lại; nhưng lòng đã bừng cháy. Vì thế, lửa đến trước nhận ra. Không phải hai môn đệ thấy rồi mới tin; nhưng chính khi Lời chạm tới, lòng họ bừng lên. Và đó cũng là điều rất gần với chúng ta: có những lúc chúng ta nghe rất nhiều; nhưng không có gì xảy ra. Không phải vì thiếu ‘Lời bừng lửa’; nhưng vì lòng chưa mở ra để Lời có thể chạm tới.

Bởi thế, vấn đề không phải là họ nghe ít; nhưng là họ chưa để Lời đi vào nỗi thất vọng, mất mát – có khi là sụp đổ. Chỉ khi Lời chạm tới đúng nơi đang đau, lòng người mới bừng cháy. Và chỉ khi lòng bừng cháy, bước chân đang đi xa mới có thể quay về.

Niềm tin mang tính quyết định – Thầy đã sống lại – không nằm ở lúc hai môn đệ nghe; nhưng ở lúc họ nhận ra: họ nhận ra Ngài đúng vào lúc Ngài biến mất! Không phải khi Ngài hiện diện trước mắt; nhưng khi Ngài không còn ở đó. Trong Luca, nhận ra không đến từ việc giữ lại một hình ảnh; nhưng từ một kinh nghiệm làm lòng bừng cháy. Vì thế, sự vắng mặt không xoá đi sự hiện diện; trái lại, làm viên mãn nó. Và từ đó, họ “không còn cần thấy” Ngài nữa; vì Lời đã bừng cháy trong họ, đủ để họ quay lại thành. “Dưới lớp tro của vỡ mộng vẫn còn một đốm than hồng sống động, chỉ chờ được nhóm lại; không có đêm nào là vĩnh cửu!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không chỉ được nói; nhưng cháy lên trong chính đời Ngài. Lời ấy không dừng lại ở đầu môi; nhưng đi vào phận người, đi qua đêm tối và thập giá vì yêu; bừng sáng trong phục sinh để cứu độ. Bởi thế, khi chạm tới con người, Lời không chỉ soi sáng; nhưng làm cho lòng bừng lửa. Và chỉ khi lòng đã bừng cháy, con người được thôi thúc để nhen nhóm nơi người khác. Tại cửa Đẹp đền thờ, Phêrô đã làm điều đó. ‘Lời bừng lửa’ đã đốt cháy lòng, biến khắc khoải thành hỷ hoan. “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới đầy lời lắm tiếng, xin cho con nghe được Lời Chúa; khi con mệt mỏi và vỡ mộng, xin giữ trong con một đốm lửa nhỏ, đủ để con quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 24,13-35

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.


 

Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  – Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Nguyện xin Chúa Phục Sinh sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay nhé.không quên nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhe

Cha Vương

Thứ 3: 07/04/2026. (n19-22)

GIÁO LÝ:  Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  Không. Thánh Phaolô viết: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích” (1Cr 15,14). Vậy, Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại? Đầu tiên, các ông mất hết hy vọng, nhưng dần dần, các ông đã đi đến chỗ tin Chúa sống lại, vì sau khi Người chết, họ đã thấy Người trong nhiều dịp khác nhau, các ông đã nói chuyện với Người, đã có kinh nghiệm rõ ràng là Người đang sống. (YouCat, số 104 & 105)

SUY NIỆM: Những biến cố Phục Sinh diễn ra ở Giêrusalem khoảng năm 30 không phải là chuyện bày đặt ra. Bị sốc vì cái chết của Chúa và vì sự nghiệp chung thất bại, các môn đệ đã trốn mất. Chúng tôi hy vọng rằng Người là Đấng sẽ giải thoát Israel (Lc 24,21). Hoặc các ông ẩn núp sau những cửa đóng kín. Chỉ nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô sống lại họ mới được giải thoát khỏi bị ức chế và được đầy niềm tin phấn khởi vào Chúa Giêsu, Chúa của sự sống và sự chết. (YouCat, số 105 t.t.)

❦   Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người. (Đức Bênêđictô XVI, 19-10-2006)

❦  Ai hiểu biết lễ Vượt Qua thì không thể thất vọng nữa. (Dietrich Bonhoeffer, 1906–1945, thần học gia Tin lành và chống Hitler bị xử tử trong trại tập trung Flossenbürg)

LẮNG NGHE: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Kitô phục sinh, Chúa là Đường  để con bước đi, là Sự Thật để con tín thác, là Sự Sống để con được sống muôn đời. Xin đừng để con xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: “Đấng Cứu Thế đã bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện hữu hình của Người ở giữa chúng ta, ngang qua Lời Chúa và bí tích Thánh thể.” Trong Mùa Phục Sinh này mời bạn hãy tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn

From: Do Dzung

***********************

Ngọn Nến Phục Sinh – Sáng tác: Sr. Têrêxa – Phương Thảo

SỐNG ĐƠN GIẢN – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong kho tàng văn chương tu đức Ấn Giáo có chuyện kể như sau:

Ở một làng nọ, có vị đạo sĩ, Sadhu, tu thân lâu ngày, gần đạt đến bậc thánh nhân.  Dân chúng ngưỡng mộ, quý mến nhà đạo sĩ, đến thỉnh ý, tầm thầy học đạo.

Một ngày kia, thấy vị đạo sĩ rách rưới, kẻ qua đường biếu nhà đạo sĩ manh vải che mình.  Những lúc Sadhu ngồi thiền niệm, bầy chuột tưởng tượng gỗ, rúc vào tấm vải gặm nhấm.  Tội nghiệp, có kẻ qua đường thấy thế, biếu Sadhu con mèo bắt chuột.  Dân trong làng thương tình, thay nhau đem sữa nuôi con mèo.  Rồi ngày nọ, có kẻ hành hương từ phương xa, nghe tiếng thơm nhân đức, đến viếng nhà đạo sĩ.  Người đàn bà giàu có ấy tặng đạo sĩ Sadhu con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Để nuôi con bò, người ta làm cho nó cái chuồng.  Từ dạo đó, con bò có chuồng, vị đạo sĩ không có nhà.  Thấy thế không ổn, dân trong làng làm cho nhà đạo sĩ chiếc chòi lá.

Từ ngày ấy, nhà đạo sĩ không còn nhiều thời giờ tu niệm như xưa, bận rộn nuôi con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Nuôi con mèo để đuổi lũ chuột.  Phải lo sửa sang căn nhà.  Dân trong làng không muốn nhà đạo sĩ mất thời giờ săn sóc con bò, họ gởi một người đàn bà đến cắt cỏ nuôi con bò, săn sóc con mèo thay cho nhà đạo sĩ có giờ thiền tu.

Nhà đạo sĩ đã có tấm vải che thân, có con mèo đuổi chuột, có con bò cho sữa, có căn nhà để ở, có người đàn bà săn sóc cuộc đời mình.  Chẳng bao lâu, nhà đạo sĩ không còn thời gian tĩnh mịch nữa, ông đầy đủ hết rồi.

Đâu là con đường tu đạo?  Ông lấy người đàn bà làm vợ, thế là chấm dứt cuộc đời hạnh tu…

Sống đơn giản đưa Shadu vào đời sống tu hạnh.  Mất đơn giản, ông mất lý tưởng.  Trong Giáo Hội, tất cả các đại thánh đều có đời sống đơn giản.  Không phải trong Giáo Hội Công Giáo mà thôi, tất cả thánh nhân trong tôn giáo khác cũng vậy. (x. Những trang nhật ký của một linh mục, Nguyễn Tầm Thường, SJ).

*****

Bài đọc 1 hôm nay kể chuyện Êlisa quyết tâm theo Êlia để làm Ngôn sứ.  Êlisa là nông dân, đang cày ruộng với 12 cặp bò.  Nghe Thầy Êlia kêu gọi, Êlisa đã chẻ cày làm củi, giết bò làm lễ vật, thiêu đốt tất cả để dâng tiến Chúa, rồi lên đường theo Thầy.  Ruộng đất, trâu bò, cày cuốc là tài sản của nông dân.  Đốt cày cuốc, làm thịt trâu bò, có nghĩa là từ bỏ tài sản, là đoạn tuyệt với nghề nghiệp cũ.  Đó là một lựa chọn dứt khoát.  Ra đi không vướng bận, không luyến tiếc những gì đã có.  Đó là thái độ dứt khoát và phó thác, vâng phục hoàn toàn.

 Khác với thái độ của Êlisa, Tin Mừng hôm nay thuật chuyện ba người muốn theo Chúa Giêsu, xin được làm môn đệ.  Chúa đòi hỏi họ phải dứt khoát trong chọn lựa.

 Người thứ nhất hăng hái xin theo Chúa đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, không ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x.1Pr 2,11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu.  Chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ.  Chỗ tựa đầu cuối là thập giá.

 Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.  Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x. Mt 15,3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng. 

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh ta dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa. 

Ba người muốn xin đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu.  Thế nhưng, họ không dứt khoát chọn lựa như Êlisa, họ vẫn còn đắn đo kỹ lưỡng, chần chừ vì những lý do xác thịt và bịn rịn gia đình.  Chúa Giêsu trả lời cho cả ba trường hợp là “hãy theo Ta” và đặt giá trị thiêng liêng lên trên mọi của cải vật chất.  Theo Chúa lên Giêrusalem là đánh đổi cuộc đời quá khứ để lấy một tương lai mới, tuy vô định, đầy gian nan, bất trắc nhưng tươi sáng và chân thật hơn.  Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu.  Ba lời đối thoại trên cũng là ba đòi hỏi hướng đến điều răn thứ nhất: “Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22, 37). 

Theo Chúa phải can đảm, phải chọn lựa và ưu tiên tìm kiếm và loan báo về Nước Thiên Chúa trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau.  Con đường đi tìm Chúa là con đường con đường của từ bỏ… Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn trong tinh thần dứt khoát.

 Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.  Nếu cuộc đời người Kitô hữu là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút giây trong cuộc sống. 

Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường hay chọn mình: sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình của mình…  Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân.  Nhưng Đức Giêsu lại dạy: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). 

Ơn gọi của Êlisa đến trong lúc ông đang cày ruộng, đang làm những công việc hàng ngày.  Ơn gọi của Phêrô xảy đến khi ông đang thả lưới, của Môsê khi ông đang chăn chiên, của Mathêu khi ông đang ngồi bàn thu thuế…  Ơn gọi tiêu biểu của mỗi cá nhân là ở trong bổn phận hàng ngày.  Sống ơn gọi của mình là biết chọn lựa và ưu tiên.  Đó cũng là lời mời gọi, hãy đơn giản hoá cuộc sống.

 Cuộc sống thật đơn giản vì nó vốn rất đơn giản.  Khi còn nhỏ thì đơn giản, lớn lên trở nên phức tạp.  Khi nghèo khó thì đơn giản, lúc giàu có trở nên phức tạp.  Khi thất thế thì đơn giản, lúc có địa vị thì trở nên phức tạp.  Tự nhận bản thân đơn giản, đánh giá người khác phức tạp.  Thật ra, thế giới này rất đơn gỉan chỉ có lòng người là phức tạp.  Mà suy cho cùng thì lòng người cũng đơn giản, chỉ vì có lợi ích chi phối nên con người mới trở nên phức tạp.  Đời người, đơn giản thì vui vẻ.  Nhưng người vui vẻ được mấy người.  Đời người, phức tạp thì phiền não.  Nhưng người phiền não thì quá nhiều.  Trong cuộc đời mỗi người đều không thể tránh khỏi những lúc buồn phiền, lo lắng thậm chí là đau khổ.  Người vui vẻ không phải là người không có buồn phiền, mà là người không để cho những nỗi buồn và niềm đau ấy khống chế” (St).  Để sống bình an vui vẻ hạnh phúc, chúng ta chỉ cần sống đơn giản.  Chúa Giêsu là người thích sống đơn giản và bình thường.  Suốt ba năm rao giảng, Ngài mặc những chiếc áo, mang những đôi dép giản dị.  Ngài không nghĩ mình là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình trở nên như tôi tớ rửa chân cho các môn đệ, để đến với người nghèo, bệnh nhân và tội nhân.  Chúa Giêsu thích sự đơn sơ và bé nhỏ giữa đời thường.  Bởi vậy, Ngài mới nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời ” (Mt 18,4).  Chúa Giêsu đã gieo vào lòng thế giới giá trị của yêu thương và phục vụ trong đơn giản âm thầm.

 Đơn sơ là một đức tính quý báu trong linh đạo “thơ ấu thiêng liêng” của thánh Têrêxa Hài Đồng.  Sống đơn sơ và giản dị.  Đối với những tâm hồn đơn sơ, không cần có những phương thế phức tạp.  Nếp sống của Têrêxa luôn trong sáng, thành thực và tự nhiên.  Con đường thơ ấu thiêng liêng là sống cuộc sống đơn sơ, yêu mến Chúa, hướng tới trọn lành.  Sống đơn giản mới có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng, chúng ta mới nhạy bén để sống theo hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt, vì “anh em được gọi để hưởng tự do.”

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

CHẾT VÀ SỐNG LẠI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

 Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

 Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo. 

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”. 

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613). 

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết. 

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời. 

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta. 

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau, Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim