Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Cha Vương

Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Mình và Máu Thánh Chúa, ước mong bạn cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn mình nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện và thế giới nhe 

Cha Vương

CN: 07/6/2026.        (n11-23)

TIN MỪNG: Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6:58)

SUY NIỆM: Thánh Cyrillô thành Alexandria mô tả sự tác động của Bí Tích Thánh Thể đối với người Kitô hữu Công Giáo như sau: “khi sáp nóng chảy được kết hợp với một loại sáp khác.” Cũng như vậy hành trình của người Kitô hữu là một cuộc hành trình để trở nên giống Chúa Kitô, để “ở lại trong Ngài” và Ngài ở trong chúng ta. Bí Tích Thánh Thể là nơi xảy ra điều này. Việc đón đón nhận Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể (BTTT) tháp nhập con người chúng ta vào thân thể của Chúa Kitô. BTTT là Bí Tích của sự hiệp nhất! Khi bạn rước Mình và Máu Thánh Chúa bạn được trở nên như Chúa (you become what you eat). Điều này có thực sự xảy ra trong tâm hồn bạn hay không? Nếu bạn càng được kết hiệp gần gũi với Chúa Kitô trong BTTT, thì bạn càng được kết hợp chặt chẽ với tất cả những người khác. Nói cách khác, Bí Tích Thánh Thể giống như chất keo kết nối bạn với Chúa Giêsu và với mọi anh chị em khác trong Giáo Hội. Thế mà khi rước Chúa vào lòng, đôi khi lòng bạn vẫn còn đầy ắp những thù hằn ghen ghét… Thảm nào Chúa dạy rằng: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5:23-24) 

Việc làm hoà với nhau là “điều kiện trước hết” trước khi rước Chúa vào lòng! Nếu làm được như vậy thì việc rước Chúa sẽ mang lại hiệu quả quá tuyệt vời không những cho chính bạn và cho những người chung quanh nữa. 

Thánh Tôma Aquino mô tả như sau: “Cao quý và lạ lùng thay bữa tiệc của Chúa, bữa tiệc mang lại ơn cứu độ và đầy dịu ngọt! Quả thật, còn gì quý giá hơn bữa tiệc ấy? Ở đó không phải là thịt bê thịt dê như trong luật cũ nữa, mà là chính Đức Ki-tô, Thiên Chúa thật, được dọn ra cho chúng ta rước lấy. Còn gì kỳ diệu hơn bí tích này? Nếu bạn muốn trở nên dịu ngọt trong hành động, lời nói và tư tưởng, bạn hãy chạy đến Chúa trong Bí Tích Thánh Thể đi. Càng rước Chúa thì bạn càng trở nên dịu ngọt. Mình Máu Thánh Chúa là linh dược cao quý lạ lùng, và là nguồn mạch của hạnh phúc cho những ai kết hợp với Ngài.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì luôn kết hợp với tôi, và tôi luôn kết hợp với người ấy.” (Ga 6:56)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, xin cho con biết một niềm sùng kính mến yêu bí tích kỳ diệu này, để luôn được nghiệm thấy ơn Chúa cứu chuộc con qua việc rước Mình và Máu Thánh Chúa vào lòng thường xuyên hơn.

THỰC HÀNH: Thường xuyên kiểm tra lại tâm hồn mình trước khi rước Chúa vào lòng nhé.

From: Do Dzung

*********************************

Mình Máu Chúa – Lm Quang Uy DCCT- Lãng Du 

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV-Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ 

CHƯƠNG V

NỀN VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

  1.   Sau khi xem xét cách thức mà AI đang biến đổi một số khía cạnh của đời sống và xã hội, đặc biệt là những hệ lụy nghiêm trọng đối với phẩm giá con người, giờ đây chúng ta phải hướng sự chú ý đến một vấn đề còn bi thảm hơn nữa, đó là chiến tranh. Ở đây, câu hỏi không đơn thuần là hiệu suất của các công cụ mới, mà còn là nguy cơ công nghệ khi tách rời khỏi đạo đức và trách nhiệm sẽ làm cho các quyết định sinh tử trở nên nhanh chóng và phi nhân hơn, đồng thời biến việc sử dụng vũ lực thành một lựa chọn tức thì và khả thi. Trong một thế giới càng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, hòa bình không chỉ đơn thuần là một vấn đề trong số những vấn đề khác, mà là điều kiện tiên quyết cho công ích phổ quát và thước đo sự trưởng thành về đạo đức của các dân tộc, đặc biệt là những người có trách nhiệm cai trị.
  2.   Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang thay đổi bản chất của các xung đột. Bên cạnh chiến tranh truyền thống, đã xuất hiện các hình thức hỗn hợp như tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và việc tự động hóa các quyết định chiến lược. AI đóng vai trò như một nhân tố thúc đẩy trong các tiến trình này, đặc biệt là trong bối cảnh mà nhiều công nghệ vốn mang tính lưỡng dụng (có thể dùng cho cả mục đích tốt lẫn xấu). Do đó, những gì được tạo ra để phòng thủ có thể nhanh chóng bị chuyển đổi công năng sang tấn công, và ranh giới mong manh giữa bảo vệ và xâm lược trở nên mờ nhạt. Dù AI có thể tăng cường khả năng phòng thủ và bảo vệ thường dân, nó cũng có thể hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng vũ lực, che chắn con người khỏi trách nhiệm và dung dưỡng một nền văn hóa mà trong đó kẻ thù bị giảm xuống thành một con số thống kê, và nạn nhân trở thành “thiệt hại ngoài ý muốn”. Đối mặt với những biến đổi này, chúng ta phải nhắc nhớ các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội — nhân phẩm, công ích, mục tiêu phổ quát của của cải, tính bổ trợ, tính liên đới và công lý — vì đó là những tiêu chuẩn để phán đoán xem liệu công nghệ có đang thực sự phục vụ nhân loại hay đang khuất phục họ. Do đó, chúng ta nên coi các nguyên tắc này như những hướng dẫn cho việc đưa ra quyết định của mình.
  3.   Vì vậy, trong chương này, tôi sẽ so sánh hai cách tiếp cận đối lập nhau mà tôi đã gợi lên qua hình ảnh Thánh Kinh trong phần Mở đầu. Một bên là sự cám dỗ xây dựng Tháp Babel, dựa vào quyền lực và sự kiêu ngạo. Bên kia đòi hỏi sự kiên nhẫn để tái thiết Giêrusalem “từng viên gạch một”, như thời ngôn sứ Nehemia, bằng cách bảo vệ nhân loại và lợi ích chung.
  4.   Nếu xem xét các động lực toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng hơn sự lan rộng của một nền văn hóa quyền lực có tính đặc trưng của sự phân cực và bạo lực. Tháp Babel hiện đại không chỉ được nhìn thấy trong mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, mà còn trong cuộc đụng độ từ xa giữa các chủ nghĩa đế quốc đối lập, giữa các cường quốc muốn bảo tồn quyền tối thượng của mình và những thế lực khát khao giành lấy quyền tối thượng đó, dẫn đến vô số xung đột cục bộ. Hơn nữa, dường như không có giới hạn nào cho cuộc đua — vốn được thúc đẩy bởi một tham vọng phi nhân — nhằm phát triển các công nghệ càng ngày càng mạnh mẽ hơn hoặc nhằm đảm bảo quyền kiểm soát chúng. Tuy nhiên, bất chấp vòng xoáy đi xuống này, chúng ta vẫn có thể thoáng thấy một phần lớn nhân loại đang nỗ lực để giữ gìn nhân tính và làm việc để xây dựng thành thánh của sự chung sống và hòa bình. Trớ trêu thay, chúng ta thường là những thợ xây vô tình và những kiến trúc sư vụng về của thành đô này, có khả năng thực hiện những nghĩa cử hào phóng nhưng lại thiếu một tầm nhìn tổng thể. Dự án xây dựng này chậm hơn, ít dễ thấy hơn và ít hào nhoáng hơn, đang chờ đợi một sự thấu hiểu tốt hơn và sự phối hợp lớn hơn để có thể trở thành trách nhiệm có ý thức và rõ ràng của mọi cộng đồng, từ các gia đình cho đến các Quốc gia, và các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Chính triển vọng dấn thân này, công trường xây dựng niềm hy vọng này, là điều chúng ta gọi là “nền văn minh tình thương”.

Nền văn minh tình thương trong kỷ nguyên kỹ thuật số

  1.   Khi Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặt ra cụm từ “nền văn minh tình thương”[177], thế giới đang ở giữa thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chạy đua vũ trang và bất ổn kinh tế trầm trọng. Trong bối cảnh đó, Hội Thánh đã đề ra một con đường thay thế cho con đường đối đầu ý thức hệ giữa các hệ thống, và hình dung ra một trật tự xã hội trong đó công lý và bác ái đan quyện vào nhau, và tình thương trở thành nguyên tắc dẫn đường cho đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngày nay, chúng ta phải kiên quyết khôi phục tầm nhìn này, vì nền văn minh tình thương không phải là một điều không tưởng và ngây thơ, mà là một dự án đòi hỏi khắt khe, bao gồm việc chuyển hóa bác ái thành các cấu trúc của công lý, tạo hình thức thể chế cho tình huynh đệ và coi những người khác — dù là cá nhân hay các dân tộc — như những đồng minh cần thiết để xây dựng công ích. Như Thông điệp Fratelli Tutti đã nhắc nhở chúng ta, chỉ có tình yêu xã hội này mới có thể trở thành một nền văn hóa và một chuẩn mực, và từ đó mang lại một trật tự quốc tế ổn định, biến sự chung sống vũ trang đơn thuần tuý thành một cộng đồng với một tương lai chung.[178]
  2.   Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, nhận định này càng cho thấy ý nghĩa nền tảng của nó. Các mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự phát triển của AI tạo ra các mối ràng buộc càng ngày càng chặt chẽ hơn, liên kết, theo thời gian thực, các quyết định được đưa ra ở một nơi với những hệ quả mà chúng tạo ra ở những nơi khác. Theo nghĩa này, những lời của Công đồng Vaticanô II về sự phụ thuộc lẫn nhau càng ngày càng gia tăng giữa các dân tộc vẫn mang tính thời sự, vì công ích đang có một chiều kích càng ngày càng phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại.[179] Do đó, dự án về một nền văn minh tình thương phải đảm nhận nhiệm vụ chuyển hóa sự phụ thuộc lẫn nhau có tính áp đặt này thành một sự liên đới có tính tự nguyện và được lựa chọn. Đây chính là nguyên tắc dẫn đường cho các tiến trình công nghệ. Trí tuệ nhân tạo giúp chúng ta hiệu quả hơn hoặc kết nối hơn thì chưa đủ; nó còn phải phục vụ cho việc xây dựng một gia đình nhân loại phổ quát, với các quyền và nghĩa vụ chung, trong đó sự gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự cho việc gặp gỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Nền văn hóa quyền lực

  1.   Trong thời đại chúng ta, một nền văn hóa quyền lực đang ngự trị, trong đó sự sẵn có của các nguồn lực và khả năng thống trị có khuynh hướng áp đặt các chương trình nghị sự và tiêu chuẩn cho việc đưa ra quyết định. Bằng cách này, lợi ích chung của nhân loại bị đẩy lùi vào hậu trường và bi kịch cụ thể của các dân tộc trong chiến tranh bị hạ xuống thành một cân nhắc thứ yếu so với các lợi ích chiến lược. Nền văn hóa quyền lực này xâm nhập vào xã hội, thay đổi các mối quan hệ và hành vi, và lớn mạnh bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi sức mạnh quân sự càng ngày càng lớn hơn, tận dụng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa hiện thực sai lầm, vốn khăng khăng rằng không có sự lựa chọn nào khác.

Sự bình thường hóa chiến tranh

  1.   Vào năm 1965, những lời của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã vang lên mạnh mẽ tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Đừng bao giờ có chiến tranh nữa, đừng bao giờ có chiến tranh nữa!”[180] Chúng ta phải thừa nhận rằng, bất chấp những mong muốn và tuyên bố vì hòa bình, sáu mươi năm qua đã bị ghi dấu bởi các xung đột với sự tàn bạo đáng kinh ngạc, thường ảnh hưởng đến các thường dân trên một bình diện rộng lớn, dẫn đến cái chết của các nạn nhân vô tội, di dân hàng loạt, bất ổn xã hội và những vết thương lâu dài. Tuy nhiên, trên diễn ngôn công cộng, từng có một niềm tin phổ quát rằng chiến tranh chỉ nên là giải pháp cuối cùng, phải tuân theo các giới hạn đạo đức và pháp lý nghiêm ngặt, và luôn định hướng theo một tầm nhìn chính trị về hòa bình. Tiếp theo những bước phát triển trong giai đoạn ngay sau Đệ nhất Thế chiến, một bước ngoặt đã xảy ra sau Đệ nhị Thế chiến: hòa bình đã được đặt làm trọng tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, với ý định “cứu thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh,”[181] Tương tự như vậy, hiến pháp của nhiều quốc gia đã hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các hoàn cảnh cực đoan và bị giới hạn nghiêm ngặt. Ngay cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất chấp sự tồn tại của các xung đột nghiêm trọng, ý thức rằng phải tránh một cuộc thế chiến mới bằng mọi giá vẫn luôn hiện hữu.
  2.   Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô thức thực sự trong các cuộc thảo luận công cộng và trong các quyết định liên quan đến việc tái vũ trang, với sự hồi sinh đáng lo ngại của chiến tranh như một công cụ của chính trị quốc tế, trong khi chính những nguyên tắc luân lý vốn trước đây đã từng giới hạn việc sử dụng chiến tranh lại đang bị suy giảm. Các xung đột khu vực kéo dài theo thời gian, căng thẳng leo thang và các sự đe dọa lẫn nhau đang trở thành chuyện gần như bình thường, và các hình thức xung đột được thúc đẩy bởi khát vọng bành trướng lãnh thổ, vốn được cho là đã thuộc về qua khứ, nay lại đang tái xuất hiện. Các tường thuật truyền thông có tính phân cực, thường được khuếch đại bởi các thuật toán ưu tiên cho xung đột và đối đầu, đang dần hình thành và điều kiện hóa dư luận quần chúng.
  3.   Chúng ta cũng đang chứng kiến một sự mất mát đáng lo ngại về ký ức lịch sử, khi những nhân chứng trực tiếp của nạn diệt chủng Holocaust và hai cuộc Thế chiến đang dần biến mất. Điều này dẫn đến việc viết lại quá khứ một cách có chọn lọc hoặc bóp méo, trong một bối cảnh mà các tin giả và sự thao túng các câu chuyện che mờ các bài học đã được rút ra. Không có một ký ức sống động về những nỗi kinh hoàng của chiến tranh, các quyết định chính trị có nguy cơ được đưa ra chỉ dựa trên quyền lực, mà không có bất kỳ sự cân nhắc nào cho những hậu quả lâu dài.
  4.   Đối với tất cả những điều này, các chiều kích truyền thông và kỹ thuật số đang thêm vào các yếu tố mới và có tính quyết định. Các mạng lưới truyền thông, các môi trường thông tin bị phân mảnh và các thuật toán vốn ưu tiên các nội dung gây xung đột có thể phóng đại sự phân cực và oán hận, gia tăng tuyên truyền và làm cho việc phân định chung trở nên khó khăn hơn. Do đó, chiến tranh không chỉ được chiến đấu bằng vũ lực, mà còn bị điều kiện hóa về mặt văn hóa qua các tường thuật đơn giản hóa, tâm lý bạn-hay-thù, thông tin sai lệch và sự sợ hãi. Khi ký ức lịch sử phai mờ và các nguyên tắc đạo đức bảo vệ thường dân cũng như những người dễ bị tổn thương nhất bị suy yếu, việc biện minh cho bạo lực là điều cần thiết, không thể tránh khỏi hoặc thậm chí là “đã được thanh lọc” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bối cảnh này, nhân loại đang trượt dài vào một nền văn hóa quyền lực bạo tàn, trong đó hòa bình không còn xuất hiện như một trách nhiệm phải gánh vác, mà là một cuộc đình chiến mong manh giữa các cuộc xung đột. Ngày nay, hơn bao giờ hết, mà không làm tổn hại đến quyền tự vệ theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, điều quan trọng là phải tái khẳng định rằng học thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn đã quá thường xuyên bị lạm dụng để biện minh cho bất kỳ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời[182]. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thăng tiến sự sống con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ảnh một sự nghèo nàn trong mối quan hệ vốn luôn để lại những hệ lụy thảm khốc cho quần chúng thường dân.

Sức mạnh không giới hạn

  1.   Sự phát triển của tổ hợp công nghiệp-quân sự đã trở thành một đặc điểm định hình bối cảnh chính trị hiện nay và đã trở nên một ngành then chốt trong nền kinh tế của nhiều quốc gia khác nhau. Mối liên kết chặt chẽ giữa các lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự và các quyết định chính trị tạo ra một “quốc gia vũ trang”, trong đó chiến tranh xuất hiện như một phần mở rộng tự nhiên của chính trị, và thị trường vũ khí trở thành một động lực tự trị đằng sau các quyết định quân sự. Chúng ta cũng không thể phớt lờ các lợi ích kinh tế khổng lồ đằng sau chiến tranh. Ngành công nghiệp vũ khí, và các quốc gia cung cấp vũ khí, thu lợi nhuận từ một thị trường phát triển rất mạnh chính nhờ vào các cuộc xung đột. Theo nghĩa này, cũng có những lợi ích tài chính góp phần thúc đẩy những căng thẳng ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
  2.   Các kho vũ khí quân sự đang nhận được sự chú ý trở lại. Trong quá khứ, việc nhận thức được mối đe dọa từ các loại vũ khí có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại đã thúc đẩy các con đường hướng tới giảm bớt căng thẳng và đàm phán  giải trừ quân bị . Tiếc thay, cách tiếp cận này đã bị bỏ lại phía sau, và sự tiến hóa của các kho vũ khí hạt nhân — bao gồm cả triển vọng sử dụng “chiến thuật” của nó — làm cho việc sử dụng các loại vũ khí như vậy có vẻ ít bất khả thi hơn trước. Trong bối cảnh này, Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân, có hiệu lực vào năm 2021 với sự ủng hộ của hơn bảy mươi quốc gia, là một bước đi quan trọng. Tuy nhiên, nó có nguy cơ phần lớn chỉ có tính biểu tượng vì các cường quốc hạt nhân lớn đã không đồng ý tham gia. Điều này dẫn đến niềm tin sai lầm nhưng lan rộng rằng răn đe hạt nhân là một điều kiện tiên quyết không thể thiếu được cho sự an ninh. Điều này cũng góp phần vào một cuộc tranh đua vũ trang mới, vốn khó kiểm soát và đi kèm với việc dỡ bỏ dần các thỏa thuận cắt giảm hạt nhân, cũng như phát triển các vũ khí “thu nhỏ”, khiến việc sử dụng chúng dường như là một lựa chọn khả thi hơn.
  3.   Lý luận tương tự cũng áp dụng cho chiến tranh truyền thống. Lực lượng quân sự, các sáng kiến ngoại giao yếu ớt và sự phức tạp của các lợi ích liên quan góp phần vào các xung đột có khuynh hướng trở nên kéo dài, với chi phí cực kỳ cao về nhân lực và môi trường. Khởi đầu một cuộc chiến dễ dàng hơn nhiều so với việc chấm dứt nó, vậy mà, cuộc thảo luận về phòng ngừa xung đột vẫn có tính bên lề một cách bi thảm.
  4.   Tình hình càng trở nên bất ổn do sự hiện diện của các tác nhân vũ trang mới, chẳng hạn như các nhóm thánh chiến, dân quân tư nhân và các mạng lưới tội phạm đánh dấu sự chấm dứt quyền độc quyền sử dụng vũ lực của Chính quyền. Thường các nhóm này đan xen các động cơ ý thức hệ mơ hồ với các lợi ích kinh tế cụ thể, biến chiến tranh thành một “lối sống” cho cả thế hệ thanh thiếu niên và trẻ em. Ở đây, mục tiêu không còn là một chiến thắng dứt điểm, mà là sự kéo dài xung đột như một nguồn quyền lực và thu nhập.

Vũ khí và trí tuệ nhân tạo

  1.   Tình hình được đề cập ở trên gắn liền với sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí, đặc biệt là những hệ thống có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Trong thời gian gần đây, Tòa Thánh đã nhận định rằng việc triển khai các hệ thống vũ khí tự động càng ngày càng trở nên dễ dàng hơn đang làm cho chiến tranh có vẻ “dễ thực hiện” hơn, đồng thời càng ngày càng ít chịu sự kiểm soát trực tiếp của con người. Điều này vi phạm nguyên tắc rằng quân lực chỉ nên được sử dụng như một giải pháp cuối cùng trong các trường hợp tự vệ chính đáng.[183] Vì lý do này, việc phát triển và sử dụng AI trong chiến tranh phải chịu những ràng buộc đạo đức nghiêm ngặt nhất, để đảm bảo sự tôn trọng phẩm giá con người và tính thánh thiêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc đua phát triển các loại vũ khí như vậy.[184]
  2.   Đôi khi có người nói về “các tác nhân đạo đức nhân tạo”, như thể máy móc có khả năng phân biệt giữa đúng và sai một cách nhất quán hơn một con người. Tuy nhiên, phán đoán đạo đức không thể bị giảm xuống thành tính toán, vì nó liên quan đến lương tâm, trách nhiệm cá nhân và việc nhận ra người khác như một con người. Do đó, không được phép phó thác các quyết định chết người hoặc các quyết định gây ra những hậu quả không thể đảo ngược cho các hệ thống nhân tạo. Không thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt luân lý. AI không loại bỏ tính phi nhân vốn có của xung đột; thực ra nó chỉ có thể làm cho xung đột xảy ra nhanh hơn và ngày càng trở nên phi nhân hơn, hạ thấp ngưỡng cửa sử dụng bạo lực, biến phòng thủ thành dự đoán các mối đe dọa, và do đó hạ các nạn nhân xuống thành dữ liệu. Bằng cách này, nó sẽ tập cho chúng ta quen với ý nghĩ rằng bạo lực là điều không thể tránh khỏi và chỉ cần được tối ưu hóa. Điều đó không làm giảm bớt tầm quan trọng của việc truyền dẫn, trong mức độ có thể, các giá trị và phán đoán đúng đắn vào các hệ thống nhân tạo mà chúng ta xây dựng, để chúng có thể đóng góp vào một hệ sinh thái đạo đức, mà trong đó con người có khả năng lắng nghe lương tâm của chính họ tốt hơn, cũng như cho phép các mô hình AI thiết lập các ranh giới phù hợp.
  3.   Chỉ kêu gọi một loại đạo đức chung chung là chưa đủ. Các tiêu chuẩn cụ thể cho việc phân định phải được thiết lập. Tiêu chuẩn thứ nhất liên quan đến trách nhiệm cá nhân. Khi một quyết định tấn công trở nên tự động hóa hoặc mơ hồ, nguy cơ chối bỏ trách nhiệm sẽ tăng lên. Vì lý do này, chuỗi trách nhiệm phải có thể nhận diện và có thể kiểm chứng được; những người thiết kế, huấn luyện, cấp phép và sử dụng công nghệ phải chịu trách nhiệm về các quyết định của họ. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến khung thời gian đạo đức để đưa ra phán đoán. Trong khi AI có khuynh hướng đẩy nhanh các tiến trình đưa ra quyết định, tốc độ và hiệu suất không bao giờ được là động lực tối cao cho các quyết định không thể đảo ngược được đưa ra trong bối cảnh chiến tranh. Tiêu chuẩn thứ ba là nhận diện và bảo vệ thường dân. Bất kỳ công nghệ nào tạo điều kiện cho các cuộc tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt của con người đều làm hạ thấp ngưỡng cửa đạo đức của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không được nhầm lẫn giữa binh lính và người không tham chiến, cũng như phải nghĩ đến tác động trên quần chúng không có khả năng tự vệ.
  4.   Các tiêu chuẩn này đưa đến một số đòi hỏi không thể thương lượng được. Thứ nhất, tất cả các hệ thống được sử dụng trong bối cảnh chiến tranh phải đảm bảo khả năng truy vết và tái dựng các tiến trình đưa ra quyết định, để trách nhiệm giải trình và lỗi lầm không bị đổ hoàn toàn cho “máy móc”. Thứ hai, quyết định sử dụng vũ lực gây chết người không thể được ủy quyền cho các tiến trình mơ hồ hoặc tự động hóa, mà phải nằm dưới sự kiểm soát hiệu quả, tự ý thức và có trách nhiệm của con người. Cuối cùng, điều cấp bách là phải thiết lập một khuôn khổ chung — cả ở cấp độ quốc tế — nhằm kiềm chế cuộc chạy đua vũ trang công nghệ và đảm bảo sự bảo vệ mạnh mẽ cho thường dân và các cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự sống còn của họ.

Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương

  1.   Nền văn hóa quyền lực cũng xuất phát từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Các thể chế được thành lập để bảo vệ khái niệm về một tương lai chung cho tất cả các dân tộc và một lợi ích chung toàn cầu dường như đã bị suy yếu. Điều này không chỉ do những giới hạn về cấu trúc, mà còn do sự thiếu vắng thường xuyên ý chí chung để hỗ trợ và cải cách chúng, hoặc để công nhận thẩm quyền đạo đức của chúng. Thay vì đạt được tiến bộ, chúng ta đang thụt lùi so với bước ngoặt quan trọng của thế kỷ thứ hai mươi. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở châu Âu được theo sau bởi một sự toàn cầu hóa chủ yếu về kinh tế, vốn thiếu một khuôn khổ chính trị đầy đủ có khả năng duy trì đối thoại và hòa bình. Một niềm tin gần như mù quáng đã được đặt vào khả năng của thị trường trong việc tạo ra sự thịnh vượng, dân chủ và ổn định. Trên thực tế, thay vì tự động tạo ra sự thống nhất và hòa bình, việc toàn cầu hóa đã kích động các phản ứng có tính cực đoan, dựa trên bản sắc và chủ nghĩa dân tộc. Kết quả hoàn toàn xa với là chủ nghĩa đa phương đích thực; thay vào đó, một tình trạng đa cực thiếu trật tự và đầy xung đột đã xuất hiện, trong đó tinh thần nghi kỵ đang chiếm ưu thế.
  2.   Đồng thời, một cám dỗ mới đã tái xuất hiện là bịa ra một căn tính tập thể dựa trên sự đối lập với kẻ thù, được thúc đẩy bởi những tường thuật trong đó mỗi bên tự coi mình là nạn nhân và do đó có quyền được bồi thường hoặc phạt báo oán (retribution). Việc giảm thiểu các vấn đề phức tạp thành các phạm trù đơn giản hóa — “tôi là trên hết”, “bạn hay thù”, “chúng ta hay họ” — tạo điều kiện cho các quyết định thường thiếu trách nhiệm và làm xói mòn lòng tin lẫn nhau giữa các quốc gia. Sức mạnh của luật pháp quốc tế do đó bị thay thế bởi tuyên bố rằng “lý kẻ mạnh là lý phải”. Hậu quả là, các tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các Quốc gia hoặc xử lý các tội ác chiến tranh thường bị suy yếu hoặc bị lờ đi, để lại những hệ lụy tàn phá đối với văn hóa chính trị và sự gắn kết xã hội.[185]
  3.   Trong bối cảnh này, việc xây dựng hòa bình đã bị đẩy xuống vai trò thứ yếu. Hợp tác vì sự phát triển, giải trừ quân bị, phòng ngừa xung đột và thiết lập lòng tin lẫn nhau bị bỏ bê nhân danh chính trị quyền lực. Những thành tựu của luật nhân đạo cũng đang bị tổn thương. Thực vậy, nguyên tắc tương xứng trong việc đáp trả hành vi xâm lược, việc bảo vệ quyền tiếp cận nguồn nước, thực phẩm và các nhu yếu phẩm, và sự tôn trọng mạng sống của thường dân, đặc biệt là trẻ em, lại bị coi là những tàn tích ngây thơ của quá khứ.

Một chủ nghĩa hiện thực chính trị giả định

  1.   Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mù quáng đáng kể về tinh thần và văn hóa. Một thứ chủ nghĩa thực dụng sai lầm thôi thúc chúng ta cắt đứt cội nguồn lịch sử của mình, như thể có thể khai mào một loại “sáng tạo mới” tách rời khỏi quá khứ. Ngay cả những người viện dẫn các nguyên tắc đạo đức quan trọng cũng có thể rơi vào thứ chủ nghĩa hư vô lịch sử này, khi lầm tưởng rằng những sự tàn bạo của thế kỷ thứ hai mươi không bao giờ có thể xảy ra nữa. Tuy nhiên trong thực tế, chính những động lực đó đang trỗi dậy dưới những diện mạo mới. Ý tưởng cân bằng và răn đe vũ trang dường như đang tự tái khẳng định. Tuy nhiên ngày nay, trái ngược với động lực hai bên của Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng của các gián điệp và chiến trường làm cho ý tưởng này càng ngày càng trở nên mong manh. Các xung đột leo thang dẫn đến các cuộc chiến tranh bất cân xứng và “hỗn hợp”, được chiến đấu không chỉ trên chiến trường mà còn trên các mặt trận kinh tế, tài chính và không gian mạng, nơi thông tin sai lệch và các chiến dịch nuôi dưỡng nỗi sợ hãi của con người được sử dụng để thao túng dư luận. Ở nhiều quốc gia, bao gồm cả những quốc gia ở Nam Bán cầu, việc gia tăng chi tiêu quân sự được trình bày như là đáp ứng duy nhất đối với một tương lai bất định hoặc các mối đe dọa được người ta cảm thấy. Trong khi đó, chi phí thực tế lại đè nặng lên những người nghèo nhất, những người thấy các nguồn lực dành cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.
  2.   Cốt lõi của các vấn đề này là một chủ nghĩa hiện thực sai lầm, dựa không chỉ trên não trạng thống trị của vũ lực, mà còn trên niềm tin văn hóa và nhân chủng học rằng, chiến tranh là một phần không thể tránh được của bản tính con người. Người ta nói rằng mọi thứ luôn luôn như vậy, trừ những khoảng ngưng chiến tạm thời, và sẽ luôn luôn như vậy! Kết quả là, mối bận tâm không còn là việc tìm kiếm hòa bình — vốn đã bị mất đi như một điểm tham chiếu trên trường quốc tế — mà là làm thế nào và khi nào thì thực hiện hành động quân sự. Chính lập luận này duy trì quan điểm rằng, sẽ là vô trách nhiệm nếu không chuẩn bị cho xung đột. Tuy nhiên, tôi muốn lập luận rằng, điều thực sự vô trách nhiệm chính là Realpolitik, hình thức “chủ nghĩa hiện thực” chính trị gieo rắc vào lương tâm và xã hội một thái độ cam chịu trước tính không thể tránh được của chiến tranh, và bác bỏ hòa bình cũng như đối thoại như những lập trường không tưởng hoặc phi lý, vốn phớt lờ các rủi ro liên quan. Trên thực tế, hòa bình không phải là một niềm hy vọng ngây thơ, cũng không đơn thuần là sự vắng bóng chiến tranh; thay vào đó, nó luôn khả thi như là hoa quả của công lý và bác ái.
  3.   Trong một bầu không khí như vậy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng đan quyện vào nhau và cuối cùng bình thường hóa các sai lầm nghiêm trọng. Chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và sự cuồng tín dựa trên bản sắc liên minh với các chính sách kinh tế phi lý, trong khi chính trị thường quay về phía thông tin sai lệch và chế giễu đối thủ, đồng thời nuôi dưỡng các nỗi sợ hãi và oán hận một cách có hệ thống. Do đó, sự đa dạng càng ngày càng bị coi như một mối đe dọa, điều này thúc đẩy khát vọng chiếm hữu, ý muốn thống trị, các tham vọng bá quyền, lạm dụng quyền lực và một nỗi sợ hãi đối với những người khác mình, từ đó tạo ra một môi trường trong đó các xung đột mới có thể phát triển một cách gần như vô hình.[186]
  4.   Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến tranh mới, có lẽ còn nguy hiểm hơn những cuộc chiến trong quá khứ, vì chúng có khuynh hướng coi thường mọi giới hạn đạo đức. Những gì từng bị coi là không thể chấp nhận được, giờ đây có thể được thực hiện hầu như không chút do dự, trong khi phản ứng quốc tế càng ngày càng bị ảnh hưởng bởi lợi ích của từng Chính phủ riêng lẻ hơn là bởi mức độ nghiêm trọng khách quan của các tình huống. Các quyết định giờ đây dường như được thúc đẩy gần như duy nhất bởi các tính toán kinh tế, được biện minh qua các sự bóp méo về truyền thông, sự nhiệt tình được dàn dựng và những “giấc mơ” vốn chắc chắn sẽ tan vỡ, tạo ra sự thất vọng và bạo lực sâu sắc hơn. Khi con người tin rằng không có gì là thực sự chân thật và các nguyên tắc chỉ là những lời nói rỗng tuếch, thì ngòi nổ trong tim họ đã được thắp lên cho những đợt bùng phát mới của sự bất khoan dung và hung hãn.
  5.   Trong các tình cảnh này, vấn đề về các biện pháp bảo vệ cụ thể để ngăn ngừa bạo lực trong tương lai vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một con đường nguy hiểm mở ra, ở chỗ những gì dường như không thể tưởng tượng nổi ngày hôm nay có thể trở nên chấp nhận được ngày mai nhân danh sự hữu dụng hoặc an ninh. Ở các quốc gia bị đánh dấu bởi các căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả năng một số nhà lãnh đạo có thể coi xung đột vũ trang như một cách hiệu quả để chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề nội bộ, và là một công cụ bất chấp đạo lý để quản lý các khó khăn.
  6.   Một trách nhiệm đặc biệt đè nặng lên vai những người làm việc trong lãnh vực nghiên cứu. Tất cả các bên đóng vai trò chính trong lãnh vực này — các khoa học gia, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các vị hữu trách trong lĩnh vực học thuật, chính trị gia và những người khác — phải làm việc với một đầu óc minh bạch và có trách nhiệm, đồng thời duy trì một nhận thức nhạy bén về bối cảnh rộng lớn hơn của các tiến bộ công nghệ mà họ góp phần nuôi dưỡng, bao gồm cả những tiến bộ liên quan đến AI. Khi con người tự giới hạn mình vào việc chỉ nhìn đến lãnh vực riêng của họ, họ có thể tự lừa dối mình khi tin rằng họ đang thực hiện các hành động trung lập về mặt đạo đức và né tránh các câu hỏi về những mục đích tối hậu dẫn dắt một số thử nghiệm. Bằng cách này, họ có nguy cơ hợp tác — có lẽ một cách vô tình — với các dự án đáng ngờ vốn thúc đẩy các hình thức bạo lực, thao túng và thống trị mới.

Xây dựng nền văn minh tình thương

  1.   Việc xây dựng một thế giới trong trạng thái xung đột vĩnh viễn là một sự dữ và phải được gọi đúng tên của nó. Cách miêu tả này về tình hình hiện tại của chúng ta có vẻ ảm đạm hoặc bi quan, nhưng tôi coi đó là điều cần thiết phải làm. Tuy nhiên, viễn cảnh Kitô giáo không giới hạn ở việc lên án sự dữ. Chúng ta nhìn nhận lịch sử dưới ánh sáng của Chúa Chịu Đóng đinh và Phục sinh, Đấng mà Chúa Cha đã ban cho “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Chúng ta không coi hiện tại như một số phận được định đoạt sẵn, mà là một cơ hội cho sự hoán cải cá nhân và tập thể. Hơn nữa, chúng ta tin quyền năng của Nước Trời, vốn lớn lên từ kích thước nhỏ bé của một hạt cải, một khi được gieo xuống, sẽ nảy mầm và lớn lên (x. Mc 4,26-32). Trong khi sự hỗn loạn của việc nhầm lẫn ở khắp chung quanh chúng ta, điều thiện vẫn âm thầm lớn lên từ lòng đất. Theo lời của ngôn sứ Isaiah: “Này, Ta sắp làm một việc mới, việc đó đang nảy chồi, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,19).
  2.   Một phân tích kỹ lưỡng hơn về lịch sử xác nhận điều này. Ngay cả trong những đêm tối tăm nhất, Chúa vẫn khơi dậy những người nam và người nữ không chịu bỏ cuộc, những người kiên trì làm điều thiện, những người bảo vệ kẻ dễ bị tổn thương và mở ra các con đường dẫn đến hòa giải. Ký ức về các vị thánh, những người công chính và những người xây dựng hòa bình thường bị lãng quên chỉ ra cho chúng ta thấy rằng ân sủng không loại bỏ xung đột một cách thần kỳ, nhưng thay vào đó, nó khơi nguồn cho sự kháng cự tích cực đối với sư dữ và một sự sáng tạo đáng kinh ngạc trong việc làm điều thiện. Các Kitô hữu nhìn thấy bóng tối và thừa nhận nó đúng như bản chất của nó, nhưng họ không chỉ nhìn chằm chằm vào nó một cách thụ động, vì họ biết ánh sáng và hiểu rằng bóng tối đã không thể thắng được ánh sáng và không thể đánh bại nó (x. Ga 1,5). Vì lý do này, ngay cả khi sự đau khổ dường như là điều quyết định, các Kitô hữu vẫn phục vụ điều thiện và được nâng đỡ bởi một niềm hy vọng thần học vốn mang lại cho thực tại cả ý nghĩa và phương hướng.

Tất cả chúng ta đều có thể góp phần

  1.   Tuy nhiên ở thời điểm này, một sự cám dỗ tinh vi có thể xuất hiện, cụ thể là suy nghĩ rằng các vấn đề quá lớn và chúng ta quá nhỏ bé, và do đó các lựa chọn của chúng ta không thể tạo ra sự khác biệt. Đây là một hình thức từ bỏ lịch sự, thường được ngụy trang dưới danh nghĩa là chủ nghĩa hiện thực. Chắc chắn, không phải ai cũng có cùng quyền lực để tạo ra sự khác biệt. Có những người quản trị, đưa ra quyết định đầu tư, lãnh đạo các thể chế, tiến hành nghiên cứu, giáo dục, sản xuất hoặc cung cấp thông tin, và rồi có những người dường như chỉ sống cuộc sống hàng ngày của họ. Tuy nhiên, không ai là không có trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều có những lãnh vực hành động của riêng mình, và chính tại đó — chứ không phải nơi nào khác — chúng ta phải lựa chọn xem nên nuôi dưỡng não trạng vũ lực (ngay cả khi chỉ qua sự thờ ơ, hoài nghi, dối trá hoặc thù hận), hay gìn giữ tư duy hòa bình (bằng sự thật, điều độ, gần gũi và chăm sóc).
  2.   Tác giả Công giáo thế kỷ thứ hai mươi J.R.R. Tolkien, qua lời của một nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết của ông, đã mô tả trách nhiệm của chúng ta cách này: “Phần của chúng ta không phải là làm chủ tất cả các đợt thủy triều của thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để nâng đỡ thời đại mà Thiên Chúa đã đặt chúng ta vào, nhổ tận gốc sự dữ trên những cánh đồng mà chúng ta biết, ngõ hầu những người sống sau này có thể có đất sạch để cày cấy.”[187] Nền văn minh tình thương sẽ không trỗi dậy từ một nghĩa cử đơn lẻ hay hào nhoáng, mà từ tổng số những hành động trung tín nhỏ bé và kiên định vốn phục vụ như một bức tường thành chống lại sự phi nhân. Vì lý do này, thật xứng đáng để dừng lại suy ngẫm về một số khía cạnh của cách thức mà chúng ta, mỗi người theo cách riêng của mình, có thể hợp tác trong việc xây dựng nền văn minh tình thương. Mà không có ý định thâu tóm toàn bộ chủ đề này, tôi muốn đề nghị năm con đường hướng tới trách nhiệm hàng ngày và công cộng: nhu cầu giải giới ngôn từ, xây dựng hòa bình qua công lý, nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân, nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh và hồi sinh đối thoại cũng như chủ nghĩa đa phương.

Nhu cầu giải giới ngôn từ

  1.   Đóng góp thứ nhất mà chúng ta có thể thực hiện để hướng đến một nền văn minh nhân đạo hơn là lưu tâm đến lời nói của mình. “Chúng ta hãy giải giới ngôn từ và chúng ta sẽ giúp giải trừ vũ khí của thế giới.”[188] Lời nói có sức mạnh to lớn, là một điều chúng ta kinh nghiệm trong các tương tác hàng ngày của mình; thí dụ, lời nói được thốt ra có thể thay đổi tâm trạng của chúng ta theo hướng tốt hơn hoặc xấu hơn. “Hòa bình bắt đầu với mỗi người trong chúng ta: trong cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác và nói về người khác. Theo nghĩa này, cách chúng ta truyền thông có tầm quan trọng căn bản: chúng ta phải nói ‘không’ với cuộc chiến của ngôn từ và hình ảnh, chúng ta phải từ bỏ mô hình chiến tranh.”[189] Do đó, tất cả chúng ta phải xét mình về những lời nói mà chúng ta sử dụng, những định kiến chúng ta có và sự hung hãn rõ ràng hay ngầm ẩn tiềm bên trong chúng. Chúng ta có một cơ hội thực sự để đóng góp cho công ích mỗi khi chúng ta nói sự thật, đưa ra lời khuyên bảo khôn ngoan, nâng đỡ những người cần sự an ủi, lên án bất công và lên tiếng thay cho những người không có tiếng nói.

Xây dựng hòa bình qua công lý

  1.   Tất cả chúng ta, ở mọi cấp độ, đều có thể đóng góp vào việc xây dựng nền tảng của hòa bình, đó chính là công lý. Chúng ta không đơn thuần tìm kiếm bất kỳ loại hòa bình nào — chẳng hạn như sự vắng bóng xung đột bằng mọi giá — nhưng thay vào đó, một nền hòa bình đích thực phát sinh từ công lý. “Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa công lý của cá nhân và hòa bình của mọi người.”[190] Bình luận về câu thánh vịnh “công lý và hòa bình đã ôm hôn nhau” (Tv 84,11), Thánh Augustinô đã viết: “Không ai là không khao khát hòa bình, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng thi hành công lý… Nhưng hãy thực hiện các công việc của công lý, hãy nhớ rằng công lý và hòa bình đã ôm lấy nhau; chúng không mâu thuẫn với nhau. Tại sao bạn lại chống lại công lý? Ở đây, chẳng hạn, công lý bảo bạn không được trộm cắp, nhưng bạn không thèm để ý đến; không được ngoại tình, và bạn giả điếc làm ngơ; không được làm cho người khác những gì bạn không muốn người khác làm cho mình; không được nói về người lân cận những điều bạn không muốn người khác nói về mình… Vậy bạn có muốn đạt được hòa bình không? Thì hãy thực thi công lý!”[191] Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý!

Nhìn bằng quan điểm của các nạn nhân

  1.   Có những lúc, để vẫn còn là con người, chúng ta phải gạt bỏ các sự dè dặt của mình và bày tỏ lập trường. Trong một số xung đột, thật bất công khi giữ thái độ trung lập, và chỉ tuyên bố rằng chúng ta không đồng lõa là chưa đủ.[192] Khi chứng kiến việc ném bom vào thường dân, tấn công vào bệnh viện, trường học hoặc cơ sở hạ tầng thiết yếu, và bạo lực ảnh hưởng đến trẻ em, chúng ta đang đối diện với những việc xấu xa làm tổn thương chính nhân loại. Vì lý do này, chúng ta không thể tự giới hạn mình ở cấp độ phân tích trừu tượng. Đức Phanxicô đã khuyến khích chúng ta “chạm vào da thịt bị thương tổn”[193] của những người đau khổ, nhìn vào khuôn mặt của họ, lắng nghe câu chuyện của họ và thừa nhận những vết thương của họ. Các sự kiện đau thương đòi hỏi cả lịch sử lẫn ký ức, vế trước để kể lại các sự thật, vế sau để làm chứng cho các kinh nghiệm đã sống.
  2.   Việc dành chỗ cho các quan điểm và tiếng nói của các nạn nhân qua truyền thông và giáo dục giúp chúng ta nhận thức được vực thẳm của sự dữ vốn có trong chiến tranh, và nói chung trong mọi hình thức bạo lực. Nó giúp chúng ta từ chối sự bình thường hóa xung đột; không ngoành mặt đi khi phẩm giá con người bị vi phạm; và phục hồi cho các nạn nhân phẩm giá được công nhận và được lắng nghe.[194] Việc chú ý đến các tiếng nói này củng cố niềm tin rằng, ngoại trừ các nhóm thiểu số bạo lực, nhân loại không hề khao khát chiến tranh. Bằng một cách thế đặc biệt, Hội Thánh có thể là một nơi lưu giữ ký ức sống động cho các nạn nhân. Như Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nhắc nhở, Hội Thánh cảm thấy mình phải biến tiếng nói của những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh quá khứ và tiếng nói của những người còn sống mà ngày nay vẫn mang vết thương thành của chính mình, để những tiếng kêu than của họ có thể trở nên một lời kêu gọi cho hòa bình và sự hòa hợp chứ không phải là khúc dạo đầu cho các xung đột mới.[195]

Nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh

  1.   Chúng ta đang cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh để tránh cả chủ nghĩa lý tưởng chính trị lẫn chủ nghĩa hoài nghi. Có một loại chủ nghĩa lý tưởng, để bảo tồn thế giới quan của riêng mình, có xu hướng lựa chọn các sự thật một cách có chọn lọc, bóp méo và tái đặt tên chúng. Những người ủng hộ chủ nghĩa này cuối cùng cư ngụ trong một thực tại được xây dựng để phù hợp với niềm tin của riêng họ. Ngược lại, cũng có một hình thức chủ nghĩa hiện thực hạ đẳng, vốn lẩm lẫn sự quan sát với sự cam chịu, lập luận rằng vì vũ lực ngự trị nên nó sẽ luôn luôn ngự trị. Chủ nghĩa hiện thực đích thực không từ bỏ việc thay đổi thế giới; thật vậy, chủ nghĩa này bắt đầu bằng việc nhận diện rõ ràng các lợi ích, các nỗi sợ hãi, các ràng buộc và các động lực quyền lực, chính là để xác định những gì có thể đạt được, và các biện pháp cần thiết để đạt được chúng. Nó không giản lược chính trị thành đạo đức; nó cũng không đầu hàng trước bạo lực. Thay vào đó, nó tìm kiếm các con đường khả thi để làm cho hòa bình trở nên nhiều hơn đơn thuần là một từ ngữ, qua các thể chế đáng tin cậy, các bảo chứng có thể kiểm chứng được, các cuộc đàm phán kiên nhẫn, phòng ngừa xung đột và bảo vệ thường dân.

Hồi sinh đối thoại

  1.   Để xây dựng nền văn minh tình thương, chúng ta cần phải dấn thân vào đối thoại, vì đây là phương tiện hàng đầu cho sự chung sống giữa con người và các quốc gia. Nó cũng là giải pháp thay thế cho xung đột công khai. Vào đêm trước của Thế Chiến Thứ hai, Đức Piô XII đã khẳng định rằng không có gì bị mất với hòa bình, trong khi với chiến tranh mọi sự đều có thể bị mất sạch. Ngài nhấn mạnh rằng con người phải quay lại nói chuyện với nhau, bởi vì một cuộc đối thoại chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng của một giải pháp danh dự.[196]
  2.   Thật vậy, đối thoại là một phần bình thường của đời sống con người và không chỉ liên quan đến các mối quan hệ giữa các Quốc gia. Nó bao gồm việc đạt được một thái độ tìm cách rèn đúc các mối dây nối kết tình huynh đệ được xây dựng trên sự lắng nghe, một phong thái cởi mở, dành thì giờ cho nhau và thậm chí là lãng phí thời gian cùng nhau. Vì nếu chúng ta trải nghiệm những cuộc gặp gỡ đích thực với tha nhân, với những người khác biệt, những người xa lạ và người di cư, thì việc thậm chí chỉ nghĩ đến chiến tranh thôi cũng trở nên khó khăn bội phần.
  3.   Ở cấp độ chính trị, có một nhu cầu cấp bách phải chuyển từ “nền văn hóa quyền lực” sang một “nền văn hóa thương lượng” chân chính, trong đó đối thoại và ngoại giao trở thành các phương tiện chuẩn mực để giải quyết xung đột. Giorgio La Pira đã bày tỏ hy vọng rằng “phương pháp chiến tranh được thay thế bằng phương pháp hòa bình, là phương pháp thương lượng, gặp gỡ, hội tụ, nghĩa là phương pháp đích thực của con người!”[197] Nhận thức rằng tất cả các dân tộc đều chia sẻ một tương lai chung đòi hỏi “nền văn hóa thương lượng” phải trở nên một cam kết chính trị và văn hóa càng ngày càng được chia sẻ rộng rãi, có khả năng từ từ dẫn dắt nhân loại thoát khỏi vòng xoáy của bạo lực.
  4.   Gửi đến những người có vinh dự và trách nhiệm quản trị, tôi muốn lặp lại những lời mà tôi đã nói vào lúc bắt đầu Triều đại Giáo hoàng của mình: “Các dân tộc trên thế giới của chúng ta khao khát hòa bình, và gửi đến các nhà lãnh đạo của họ, tôi kêu gọi với tất cả tâm can: Chúng ta hãy gặp gỡ, hãy nói chuyện, hãy thương lượng! Chiến tranh không bao giờ là không thể tránh khỏi. Vũ khí có thể và phải bị làm cho im tiếng, vì chúng không giải quyết được các vấn đề mà chỉ làm chúng gia tăng. Những người làm nên lịch sử là những người xây dựng hòa bình, chứ không phải những người gieo rắc hạt giống đau khổ. Những người lân cận của chúng ta trước hết không phải là kẻ thù của chúng ta, mà là đồng bào của chúng ta; không phải là tội phạm để bị thù ghét, mà là những người nam và người nữ khác mà chúng ta có thể trò chuyện cùng. Chúng ta hãy từ bỏ những quan niệm nhị nguyên kiểu tà giáo Mani (Manichean notions), vốn rất đặc trưng của não trạng bạo lực, chia thế giới thành những người tốt và những người xấu..”[198]
  5.   Trong việc từ bỏ thái độ bạo lực, đối thoại liên tôn đóng một vai trò quyết định, bởi vì ở trọng tâm của các con đường tinh thần lớn lao đều nằm một thông điệp hòa bình.[199] Trong khi những người dùng danh nghĩa Thiên Chúa để hợp thức hóa chủ nghĩa khủng bố, thì bạo lực hoặc chiến tranh phản bội bản tính chân thật của Ngài, vì chiến đấu nhân danh tôn giáo có nghĩa là tấn công chính tôn giáo.[200] “Tinh thần Assisi”, được gợi lên bởi Thánh Gioan Phaolô II và được tiếp nối bởi Đức Phanxicô — chẳng hạn như qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của Al-Azhar — cho thấy rằng các tín đồ có thể kín múc từ các nguồn mạch chân thật nhất của các truyền thống tinh thần đặc thù của họ, ở đó không có chỗ cho “sự thù hận được thánh hóa”.

Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương

  1.   Trong các mối quan hệ quốc tế, đối thoại là một công cụ ngoại giao không thể thay thế được để phòng ngừa các xung đột và xây dựng lại các mối dây liên kết của lòng tin. Đối diện với các buổi phát sóng bốc đồng, những luận điệu hung hãn và chính trị quyền lực đặc trưng cho thời đại của chúng ta, “vị trí của ngoại giao là thúc đẩy đối thoại với tất cả các bên, bao gồm cả những bên đối thoại bị coi là kém ‘thuận tiện’ hoặc không được coi là hợp pháp để thương lượng.”[201] Do đó, chúng ta nên được sử dụng từng chút khiêm tốn và kiên nhẫn để nuôi dưỡng ngay cả những dấu chỉ thiện chí nhỏ nhoi nhất giữa các bên trong xung đột, nhằm thúc đẩy tiến trình hòa bình.
  2.   Không gian mạng (cyberspace) cũng đã trở thành một chiến trường. Các cuộc tấn công mạng (cyberattack), thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng, được dàn dựng với sự trợ giúp của AI, có thể làm bất ổn toàn bộ các quốc gia ngay cả trước khi xung đột vũ trang công khai bùng nổ. Hơn nữa, trong lãnh vực này, việc quy trách nhiệm thường không chắc chắn. Khi không rõ ai đã thực hiện một cuộc tấn công, nguy cơ phản ứng không tương xứng, tính toán sai lầm và leo thang xung đột sẽ tăng lên. Vì thế, ngoại giao phải có khả năng hoạt động hữu hiệu trong môi trường mới này, bằng cách thương thảo các quy tắc chung cho việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số, nhằm bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi các hình thức bạo lực “vô hình” nhưng có thật.
  3.   Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, là các công cụ thiết yếu để cổ võ một nền văn minh tình thương, vì các tổ chức này có thể thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia và khuyến khích việc giải quyết các xung đột bằng con đường hòa bình, sự phát triển toàn diện của các dân tộc, sự bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ quân bị và chăm sóc cho công trình tạo dựng. Qua những nỗ lực đó, cộng đồng quốc tế có thể góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người tị nạn và các nhóm thiểu số, chuyển các nguồn lực từ chi tiêu quân sự sang phát triển con người, đồng thời bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta. Tòa Thánh ủng hộ và đồng hành với các nỗ lực này, đồng thời cũng nhận ra rằng những yếu điểm hiện tại của Liên Hiệp Quốc và hệ thống chính trị quốc tế cho thấy cần phải có những cải tổ sâu rộng. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề điều chỉnh về mặt kỹ thuật, bởi vì cuộc khủng hoảng về niềm tin và các giá trị, vốn cũng ảnh hưởng đến những nền tảng luân lý của các quốc gia, đang làm cho việc định hướng chủ nghĩa đa phương vào công ích đích thực trở nên khó khăn hơn.[202]
  4.   Trong bối cảnh quốc tế, chính sách ngoại giao của Tòa Thánh chọn nguyên tắc lòng thương xót của Tin Mừng như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đây là một trong những cách thức mà Tòa Thánh đặt mình vào việc phục vụ nhân loại, từ đó kêu gọi các lương tâm nhân danh đức ái và chân lý, bảo vệ phẩm giá của mọi người và lên tiếng thay cho người nghèo, người di cư và các nạn nhân của chiến tranh. Bằng cách này, nền ngoại giao của Giáo hoàng bày tỏ tính phổ quát của Hội Thánh và đóng góp vào việc xây dựng một nền văn minh tình thương, ở đó ngay cả các công nghệ mới cũng có thể được hướng về công ích.

Cầu nguyện và hy vọng

  1.   Các con đường thực thi trách nhiệm này được nâng đỡ bởi cầu nguyện, và đến phiên chúng lại nuôi dưỡng cầu nguyện. Thực ra, đối với mỗi người trong chúng ta, hòa bình trước hết đến “từ Thiên Chúa, Thiên Chúa Đấng yêu thương tất cả chúng ta, một cách vô điều kiện.”[203] Đó là một món quà được Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của Người vào ngày Phục Sinh: “Bình an cho các con! Đó là sự bình an của Đức Kitô Phục sinh. Một sự bình an không vũ trang và giải trừ vũ khí, khiêm tốn và kiên trì.”[204] Với những lời này, tôi đã chào chúc Hội Thánh và thế giới vào ngày tôi được bầu vào Tòa thánh Phêrô. Tôi ước ao lặp lại chúng bây giờ, và kính mời mọi người cầu xin món quà này. Chúng ta hãy không bao giờ mệt mỏi cầu nguyện cho hòa bình và dấn thân đạt được nó trong các mối liên hệ của chúng ta và trong xã hội.

 From: NguyenNThu

 [177]   X. Thánh Phaolô VI, Kinh Truyền Tin (17 tháng 5, 1970): Insegnamenti di Paolo VI, vol.  VIII, 506.

[178]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.

[179]   X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[180]   Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 881.

[181]   Liên Hiệp Quốc, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, San Francisco (26 tháng 6, 1945), Preamble.

[182]   X. Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: “Trong những thập niên gần đây, mọi cuộc chiến tranh đơn lẻ dường như đều được “biện minh” một cách bề nổi. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo có nói đến khả năng tự vệ chính đáng bằng lực lượng quân sự, điều này đòi hỏi phải chứng minh được rằng một số “điều kiện nghiêm ngặt về tính hợp pháp luân lý” đã được đáp ứng. Thế nhưng, người ta rất dễ rơi vào một cách giải thích quá rộng rãi về quyền tiềm năng này. Bằng cách đó, một số người cũng sẽ biện minh một cách sai lầm cho cả các cuộc tấn công “phòng ngừa” hoặc các hành vi chiến tranh mà khó có thể tránh khỏi việc kéo theo “những tác hại và hỗn loạn nghiêm trọng hơn chính sự dữ cần phải loại bỏ.’”

[183]   X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hoá và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et Nova (14 tháng 1, 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.

[184]   X.  ibid., 103: AAS 117 (2025), 204.

[185]   X. Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Phiên họp toàn thể của “Hiệp hội các cơ quan viện trợ các Giáo hội Đông phương (ROACO)” (26 tháng 6, 2025): AAS 117 (2025), 847-849.

[186]   X. Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 53 (8 tháng 12, 2019): AAS 112 (2020), 54-61.

[187]   J.R.R. Tolkien, The Lord of the Rings. The Return of the King, Phần III, Sách 5, Chương IX, New York 1965, 190.

[188]   Diễn văn dành cho các đại diện truyền thông, (12 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 682.

[189]   Ibid.

[190]   Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 31, (1 tháng 1, 1998), 1: AAS 90 (1988), 147.

[191]   Thánh Augustine, Enarrationes in Psalmos, 84, 12: CCSL 39, Turnhout 1956, 1172-1173.

[192]   X. Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24 tháng 10, 2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.

[193]   Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.

[194]   X. ibid., 261: AAS 112 (2020), 1062.

[195]   X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 20 (4 tháng 10, 1965): AAS 57 (1965), 878-879.

[196]   X. Piô XII, Sứ điệp truyền thanh: Giờ khắc nghiêm trọng (24 tháng 8, 1939): AAS 31 (1939), 334.

[197]   Giorgio La Pira, Riflessioni sul Concilio.  Bài nói chuyện của Giáo sư Giorgio La Pira, Thị trưởng Florence, với Phong trào Hướng đạo Nữ Công giáo Pháp “Guides de France”(Rome, 4 tháng 9, 1962), Florence 1962, 6.

[198]   Diễn từ dành cho các đại biểu tham dự Đại Năm Thánh các Giáo hội Đông phương (14 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 686.

[199]   X.  Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (3 tháng 10, 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.

[200]   X. Phanxicô, Lời kêu gọi hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình với chủ đề: ‘Khát khao Hòa bình: Đối thoại giữa các Tôn giáo và các Nền văn hóa” (20 tháng 9, 2016): AAS 108 (2016), 1124.

[201]   Phanxicô, Diễn văn dành cho các thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh (9 tháng 1, 2025): AAS 117 (2025), 110.

[202]   X. Phanxicô, Diễn văn dành cho các đại biểu tham dự Hội nghị lần thứ 38 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) (20 tháng 6, 2013): AAS 105 (2013), 616-617.

[203]   Phép lành “Urbi et Orbi” Lần Đầu (8 tháng 5, 2025): AAS 117 (2025), 660.

[204]   Ibid.


 

NĂM PHÉP LẠ THÁNH THỂ HÀNG ĐẦU MÀ CHÂN PHƯỚC CARLO ACUTIS LIỆT KÊ 


NĂM PHÉP LẠ THÁNH THỂ HÀNG ĐẦU MÀ CHÂN PHƯỚC CARLO ACUTIS LIỆT KÊ 

Chân phước Carlo Acutis đã liệt kê 32 phép lạ Thánh Thể — Đây là 5 phép lạ hàng đầu 

Chúa Giêsu nói với Thánh Thôma, “Có phải vì đã thấy Thầy nên anh đã tin?  Phước cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20:29). 

Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ, một điều gì đó tuyệt vời xảy ra.  Theo lời của Kinh Tin Kính dân Chúa:

 Chúa Kitô không thể hiện diện như vậy trong bí tích Thánh Thể trừ khi biến đổi thực tại của bánh thành Thân thể Người và biến đổi thực tại của rượu thành Máu Người, chỉ giữ nguyên các đặc tính của bánh và rượu mà giác quan chúng ta cảm nhận được. Sự thay đổi bí ẩn này được Giáo hội gọi một cách rất thích hợp là sự biến thể. 

Nói cách khác, Giáo hội dạy rằng “bản chất” – “nature” của bánh và rượu thay đổi khi truyền phép, nhưng “chất thể” – “substance” vẫn giữ nguyên. Trước và sau khi truyền phép, Mình và Máu có mùi, hình dạng, vị và cảm giác giống như bánh và rượu trước đó. 

Đôi khi, rất hiếm khi, trong Thánh lễ, những chất thể của bánh và rượu dường như thay đổi theo một cách nào đó cùng với bản chất. Những điều này được gọi là phép lạ Thánh Thể. 

Chân phước Carlo Acutis đã tạo ra một trang web liệt kê các Phép lạ Thánh Thể trên khắp thế giới. Trong khi danh sách của ngài bao gồm 32 Phép lạ Thánh Thể cho Ý, thì năm phép lạ này là những phép lạ nổi tiếng và được viếng thăm nhiều nhất.

 1.Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena

Ở vùng Umbria thấp hơn là thị trấn cổ Orvieto.  Được bảo tồn trong nhà thờ trang trí công phu của thành phố là Phép lạ Thánh Thể ở Bolsena.  Phép lạ này dẫn đến lễ Mình Máu Thánh Chúa hay Corpus Christi. 

Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang trên đường hành hương đến Rôma, khi ngài dừng chân tại Bolsena.  Theo truyền thuyết, ngài đã nghi ngờ về giáo lý Công Giáo về Sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể.  Ngay sau khi truyền phép, bánh thánh bắt đầu chảy máu.  Quá kinh ngạc, ngài đã hoãn Thánh lễ và đi thẳng đến Orvieto, nơi Đức Giáo Hoàng Urban IV đang cư trú.

 Đức Giáo Hoàng đã điều tra về bánh thánh kỳ diệu và khăn thánh đẫm máu (vải bàn thờ bằng vải lanh) và xác nhận tính xác thực của nó.  Ngài đã thiết lập một lễ mới trong lịch phụng vụ: Lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô thường được gọi là lễ Corpus Christi. 

2.Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano 

Phép lạ Thánh Thể ở Lanciano, xảy ra tại vùng Abruzzo, là phép lạ nổi tiếng nhất trong Giáo Hội Công Giáo. 

Phép lạ xảy ra vào thế kỷ thứ tám trong một nhà thờ do các tu sĩ Basilianô quản lý.  Tương tự như ở Bolsena, một trong những linh mục đã nghi ngờ Sự Hiện Diện Thực Sự.  Khi ngài đọc lời truyền phép, bánh thánh đã biến thành thịt, rượu thành máu.  Thân thể mang hình dạng của một trái tim, và Máu đông lại thành năm giọt hình dạng không đều. 

Năm 1970, phép lạ này đã được khoa học kiểm chứng.  Các bác sĩ kết luận rằng phần thịt là mô tim người và máu là máu của người.  Cả hai đều thuộc cùng nhóm máu AB. 

Ngày nay, thánh tích được bảo quản trong một nhà thờ Phanxicô.  Mặc dù thường khó để phân biệt chi tiết của các phép lạ Thánh Thể khác, Lanciano là độc nhất.  Có thể đến gần nhờ một cầu thang ngay phía sau thánh tích.  Thịt được bảo quản trong một mặt dây chuyền bằng bạc, các giọt máu trong một chén pha lê. 

3.Phép lạ Thánh Thể ở Siena 

Vào ngày 14 tháng 8 năm 1730, bọn trộm đã lấy trộm một hộp đựng bánh thánh bằng bạc từ một nhà thờ Phanxicô ở Siena.  Hộp đựng bánh thánh chứa 351 bánh thánh đã được thánh hiến, nhiều bánh thánh đã được thánh hiến vì lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày hôm sau.  Ba ngày sau, những bánh thánh bị đánh cắp đã được tìm thấy trong một nhà thờ gần đó và được trả lại cho nhà thờ Phanxicô. 

Các tu sĩ dòng Phanxicô xác minh rằng những chiếc bánh thánh này là bánh thánh bị đánh cắp.  Năm thập niên sau, vào ngày 14 tháng 4 năm 1780, những chiếc bánh thánh này được kiểm tra và phát hiện là “không có bất kỳ sự thay đổi nào.” 

Vào các năm 1789, 1889, 1815 và 1854, nhiều cuộc kiểm tra khác đã được tiến hành.  Trong một lần, một số bánh thánh chưa được thánh hiến đã được niêm phong trong hộp thiếc trong 10 năm.  Khi mở lại, ủy ban chỉ tìm thấy giun và các mảnh mục nát thay vì bánh thánh. 

Trong một cuộc điều tra khác vào năm 1914, theo sáng kiến của Đức Giáo Hoàng Pius X, báo cáo cuối cùng nêu rõ: 

Các hạt dường như được bảo quản tốt, không có bất kỳ dấu hiệu biến đổi hoặc nấm mốc nào, cũng không bị hư hỏng do sự biến đổi của sâu mọt hoặc các loại ký sinh trùng khác, thường thấy ở các sản phẩm bột mì.

 Ngoài ra, tuyên bố còn nêu rõ: 

Các hạt tạo nên một hiện tượng kỳ lạ, có liên quan phong phú, đảo ngược các định luật tự nhiên về bảo toàn vật chất hữu cơ.  Đây là một sự kiện độc đáo được lưu giữ trong biên niên sử khoa học. 

Năm 1980, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Siena trong một chuyến viếng thăm mục vụ.   Khi chứng kiến phép lạ, ngài đã thốt lên: “Đây là Sự Hiện Diện Thực Sự!” 

4.Phép lạ Thánh Thể ở Cascia

Trong Thung lũng Valnerina của Umbria, gần thành phố nơi Thánh Bênêđíctô thành Nursia sinh ra, là Cascia.  Trong khi hầu hết những người hành hương đến đó để tỏ lòng tôn kính Thánh Rita, sinh năm 1371 và qua đời năm 1447, bên dưới vương cung thánh đường lưu giữ hài cốt của thánh nữ vẫn còn lưu giữ một phép lạ Thánh Thể khác. 

Vào năm 1330, một linh mục đang chuẩn bị đến thăm một giáo dân đang hấp hối không xa Siena.  Ngài đã bất cẩn đặt một bánh thánh đã thánh hiến vào sách kinh nguyện của mình thay vì trong một hộp đựng bánh thánh.  Khi đến nhà người đàn ông bệnh tật, ngài đã nghe ông xưng tội và ban phép xá giải cho ông.  Khi mở sách kinh nguyện, ngài phát hiện ra bánh thánh đang chảy máu, cả hai trang đều dính đầy máu.  Một trong những trang được bảo quản tại Cascia. 

5.Phép lạ Thánh Thể ở Macerata

Phép lạ Thánh Thể ở Macerata theo mô hình ở Bolsena và Lanciano.  Năm 1356, một linh mục đang cử hành Thánh lễ và nghi ngờ về Sự Hiện Diện Thực Sự.  Trong khi truyền phép, máu tuôn ra từ bánh thánh đã truyền phép rơi vào chén thánh, cũng như trên khăn trải bàn thờ. 

Sau thánh lễ, vị linh mục đã nhanh chóng báo cáo sự việc với Giám mục, và vị Giám mục đã mở một cuộc điều tra theo giáo luật. 

Mặc dù các tài liệu điều tra không còn được lưu giữ do sự đàn áp của Napoleon, vải lanh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ lớn của thành phố.

 Mặc dù không ai biết được ý muốn của Chúa, có lẽ Người cho phép xảy ra những phép lạ Thánh Thể để chúng ta, giống như các linh mục nghi ngờ và Thánh Tôma, cũng có thể “thấy và tin.”

 Source: National Catholic Register

From: Langthangchieutim


 

 NI CÔ XIN ĐƯỢC RỬA TỘI ĐỂ THEO CHÚA.

Hội Thích Nghe Cha Lm. GB Phương Đình Toại – TGP Sài Gòn

Truyền Thông Công Giáo Việt Nam

NI CÔ XIN ĐƯỢC RỬA TỘI ĐỂ THEO CHÚA.

Theo lẽ thường, Thánh Lễ thường được cử hành tại Nhà Thờ, tại Nguyện Đường. Có những trường hợp đặc biệt vì hoàn cảnh nào đó thì Thánh Lễ được cử hành tại tư gia. Chiều hôm nay, một Thánh Lễ hết sức đặc biệt được cử hành ở một nơi hết sức đặc biệt đó là tại một ngôi chùa. Chuyện đặc biệt này xảy đến vì lẽ người quá cố là người trụ trì ngôi chùa thân yêu mang tên Quan Âm (Bình Hưng – Bình Chánh).

Chuyện xẩy ra là trong những ngày cuối năm 2010, ở căn phòng của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch vang lên những lời kinh, tiếng hát để cầu nguyện cho bệnh nhân. Cạnh lời kinh tiếng hát ấy có cả việc cử hành bí tích giải tội và cả rửa tội nữa.

Rồi một ngày kia, nằm trong căn phòng nhỏ ấy bỗng dưng có bệnh nhân ngồi dậy và xin những người đang làm việc tông đồ là “muốn theo đạo Chúa!” Hết sức ngạc nhiên vì lẽ bệnh nhân rõ ràng là một sư cô nhưng lại ngỏ ý theo đạo. Một người bình thường bảo theo đạo đã là khó huống hồ chi là một vị sư cô.

Thế rồi, ngày 13 tháng 12 năm 2010 tại bệnh viện, sư cô Lương Thị Phụng đã được nhận bí tích Thánh Tẩy trở thành con cái Chúa với tên mới là Maria Lương Thị Phụng.

Sau những ngày chạy chữa, sư cô trở về ngôi chùa thân thương của mình. Tình người, tình Chúa cũng đi theo sư cô về ngôi chùa ấy. Thi thoảng những người giúp cho sư cô biết Chúa, biết Đạo cũng đến để thăm hỏi, để cầu kinh.

Chỉ sau một thời gian tin theo Chúa, Maria Lương Thị Phụng đã được Chúa gọi về Nhà Cha trên trời ngày 7 tháng 2. Thể theo lời thỉnh nguyện của người quá cố, gia đình đồng ý cho linh mục đến Chùa Quan Âm (nơi sư cô trụ trì) để dâng lễ cầu nguyện cho người ra đi.

Hiện diện trong ngôi Chùa hôm nay, hiện diện trong Thánh Lễ an táng cho Maria Lương Thị Phụng hôm nay hết sức dễ thương. Chủ tế là một linh mục dòng Chúa Cứu Thế, bài ca, bài đọc được các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán và các sơ thuộc nữ tử bác ái Vinh Sơn, một số giáo dân và cả gia đình tang quyến. Đặc biệt là trong Thánh Lễ này có cả sự hiện diện của quý tu sĩ của Chùa và những phật tử thân quen với người quá cố.

Trước khi cử hành Thánh Lễ, mọi người chào nhau bằng ánh mắt của tình thương, của tình liên đới giữa những người mang danh là Phật tử và giữa những người mang tên Giêsu. Vài người hỏi linh mục chủ tế rằng có ngạc nhiên không thì ngài mỉm cười bảo “Thiên Chúa có đường lối của Ngài”.

Trong bài chia sẻ, linh mục chủ tế mượn hình ảnh của anh chàng Giakêu trèo lên cây sung để gặp Chúa để diễn tả hình ảnh của một Maria Lương Thị Phụng. Maria Phụng nằm trên giường bệnh nhưng một ngày kia đã ngồi lên và xin học đạo. Thế là trên giường bệnh, Maria Phụng đã tuyên xưng niềm tin của mình … Thiên Chúa chọn mỗi người mỗi kiểu và mỗi cách. Cách đây chừng 1 tuần lễ, linh mục cũng dâng lễ An táng cho mẹ của một nữ tu cũng vừa theo Chúa hơn chục năm. Bà cố năm nay thọ 96 tuổi nhưng mới theo Chúa thôi. Đặc biệt là chính bà cố là người thúc đẩy ông cố theo Chúa nữa. .. Thiên Chúa chọn, Thiên Chúa gọi mỗi người mỗi cách riêng không ai biết … Như hôm nao nhà của Giakêu đón nhận ơn cứu độ thì hôm nay nhà của Maria Lương Thị Phụng cũng đón nhận ơn cứu độ. Không chỉ mình Maria Phụng thôi nhưng hôm nay ngôi nhà thân thương này đã được Chúa đến viếng thăm và ban ơn cứu độ.

Thánh Lễ được cử hành hết sức trang nghiêm và sốt sắng cùng với lời ca tiếng hát thánh thiêng của các sơ và cả sự thành tâm của tang quyến, của Phật tử.

Hết sức dễ thương, người đại diện của tang quyến nói lời cảm ơn ngắn gọn: “Con xin cảm ơn Cha, cảm ơn các sơ đã đến cầu kinh, nguyện hát cho mẹ của con!” Người con nuôi của vị sư trụ trì Chùa hết sức đơn giản.

Hình ảnh của bà Maria Lương Thị Phụng thật dễ thương. Bà được Thiên Chúa chọn, Thiên Chúa gọi trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt: trong bệnh viện, trong tư cách là nữ tu trụ trì Chùa.

Thiên Chúa gặp con người trong mọi nẻo đường đời. Có thể là một trẻ sơ sinh hay là một người lớn, và cũng có thể là một vị sư trụ trì của một ngôi chùa nữa. Thiên Chúa luôn có cách của Ngài.

Thế là từ ngày 13 tháng 12 năm 2010, Hội Thánh Công Giáo có thêm một kitô hữu nữa tên là Maria và ngày 7 tháng 2 năm 2011 Nước Trời lại có thêm một công dân mang tên Maria Lương Thị Phụng nữa.

Tạ ơn Chúa vì tất cả những hồng ân, những kỳ công Ngài thêu dệt trong cõi nhân sinh này.

THANH TÂM


 

NGƯỜI NO VẪN ĐÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống!”.

“Có những cơn đói không bánh nào nuôi nổi!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta có thể no bánh, no tiện nghi, no thành công, mà lòng vẫn đói. “Có những cơn đói không bánh nào nuôi nổi!”. Lời Chúa hôm nay trả lời nghịch lý ấy: ‘người no vẫn đói’.

Thông thường, một khoảng trống vừa được lấp đầy thì một khoảng trống khác lại xuất hiện. Con người dường như luôn đói nhiều hơn những gì mình đang có. Chính vì cơn cồn cào ấy, Chúa Giêsu nói: “Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống!”. Ngài không hứa ban thêm một thứ để thoả dạ, nhưng trao chính mình làm nguồn sống. Vật chất chỉ lấp đầy dạ dày; chỉ Đấng Tạo Hoá mới lấp đầy linh hồn.

Không chỉ nói đến của ăn, Chúa Giêsu còn nói đến việc ăn chính thịt Ngài. Ở đây, Gioan đổi động từ quen thuộc phagein – “ăn”, sang trōgein – “nhai”, “gặm”; ngôn ngữ trở nên mạnh hơn vì điều được mặc khải cũng lớn hơn. Ngài không trao một giáo huấn để suy ngẫm, nhưng hiến chính mình làm của ăn. Cơn đói sâu nhất của con người không thể được nuôi bằng một ý tưởng về Thiên Chúa, nhưng bằng chính Thiên Chúa. Vì thế, Thánh Thể không phải là một ý tưởng để suy nghĩ, nhưng là một Đấng để đón nhận; không phải một kỷ niệm để nhớ lại, nhưng là một sự sống để hiệp thông. “Con người có một khoảng trống hình Thiên Chúa trong lòng mình!” – Blaise Pascal.

Vậy mà con người đói không chỉ vì thiếu của ăn, nhưng vì còn thiếu một nơi để thuộc về. Bởi đó, không dừng lại ở việc cho ăn, Chúa Giêsu nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”. Gioan gọi đó là menein – “ở lại”. Thánh Thể không chỉ lấp đầy một cơn đói – ‘người no vẫn đói’ – nhưng còn đưa con người vào một mái nhà. Điều làm lòng người no thoả không chỉ là có thêm một điều gì đó, nhưng là thuộc về một Ai đó.

Bài đọc Đệ Nhị Luật nhắc đến manna trong sa mạc. Đó là lương thực cho một chặng đường; Thánh Thể là lương thực cho cả cuộc đời. Manna giữ dân Chúa khỏi chết; Thánh Thể cho con người được sống nhờ Chúa Kitô. Vì thế, theo Phaolô, cùng chia sẻ một tấm bánh, chúng ta trở nên một thân thể trong Chúa Kitô – bài đọc hai. Điều Thánh Thể xây dựng không chỉ là những tâm hồn đạo đức, nhưng là một dân mới, Hội Thánh – Giêrusalem mới. Và dân ấy không ngừng cất tiếng: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ là Đấng đáp lại cơn đói của con người; Ngài còn mặc khải cơn khát của Thiên Chúa. Nếu con người đói Thiên Chúa, thì Thiên Chúa cũng “đói” con người: Ngài muốn hiệp thông, muốn ở lại, muốn nên một với họ. Trên thập giá, Ngài kêu lên: “Tôi khát!”. Thánh Thể không phải đài tưởng niệm vô tri, mà là nhịp đập tình yêu đang tuôn chảy. Thánh Thể không chỉ là bí tích của lương thực, nhưng còn là bí tích của một tình yêu luôn tìm kiếm và tự hiến. Yêu thương không chỉ là cúi xuống ban ơn, mà là hoà quyện và tan chảy vào nhau.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con vẫn đói giữa bao điều tưởng đủ. Xin cho con biết ở lại trong Chúa và Chúa ở lại trong con; vì chỉ một mình Ngài mới làm con no thoả!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ, NĂM A

Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,51-58

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”


 

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Một vị linh mục 27 tuổi biết rõ mình sắp chết.

Ba tháng trước khi nhắm mắt, ngài đã bình thản kể về điều đó với một người anh em linh mục. Một cách rõ ràng, điềm tĩnh. Không phải là một lời đoán mò — mà là một sự thật ngài đã hoàn toàn chấp nhận.

Ngài tên là Miroslav.

TIẾNG GỌI

Ngài sinh năm 1920 tại một ngôi làng nhỏ ở Istria, Croatia. Một người trẻ mang trong mình tiếng gọi thiêng liêng. Ngài sang Rome học thần học để trở thành linh mục. Khi Thế chiến II bùng nổ, ngài được gọi về quê hương và được thụ phong vào năm 1943, ngay giữa khói lửa chiến tranh.

Ngài trở thành một hình mẫu hiếm hoi: một vị mục tử được giáo dân yêu mến sâu sắc. Ngài làm sống dậy các giáo xứ mình đi qua. Ngài thắp sáng nơi đó bằng các bí tích, bằng đức tin và niềm hy vọng. Ngài không sợ hãi, đầy tài năng và chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.

Thế rồi chiến tranh kết thúc.

Một thế lực mới lên nắm quyền.

ÁP LỰC

Chính quyền Cộng sản Nam Tư tiếp quản đất nước vào năm 1945. Sứ mệnh của họ rất rõ ràng: đàn áp Giáo hội. Xóa sổ, kiểm soát và khiến Giáo hội biến mất.

Các Giám mục bị bắt giữ. Linh mục bị quấy rối, bị đánh đập, bị bỏ tù. Đức Tổng Giám mục vĩ đại của Zagreb bị tống giam. Thông điệp đưa ra là không thể nhầm lẫn: cúi đầu trước chính quyền, hoặc bị hủy diệt.

Hầu hết các linh mục chọn cách im lặng. Đó là cách duy nhất để sinh tồn.

Nhưng Miroslav thì không.

SỰ KIÊN CƯỜNG

Ngài lên tiếng. Ngài công khai bảo vệ đức tin. Ngài che chở cho các linh mục trẻ khỏi sự bách hại. Ngài đứng ra làm lá chắn giữa chính quyền và những người giáo dân đang bị áp bức.

Điều đó khiến ngài lọt vào tầm ngắm. Điều đó khiến ngài trở nên nguy hiểm.

Đến mùa hè năm 1947, khi chứng kiến chế độ siết chặt gọng kìm và hiểm nguy ngày càng cận kề, có điều gì đó trong ngài đã dịch chuyển. Ngài không sợ hãi. Ngài đã sẵn sàng.

Ngài nói với các chủng sinh của mình: “Làm linh mục nghĩa là sẵn sàng đổ máu vì đức tin.”

Vào tháng Sáu, ngài viết trong nhật ký dâng lên Chúa: “Nếu đó là ý Ngài, con ước được về bên Ngài càng sớm càng tốt.”

Ngài biết trước mọi chuyện. Và ngài bình an.

KHOẢNH KHẮC

Ngày 24 tháng 8 năm 1947, ngài đến một ngôi làng nhỏ tên là Lanišće.

Sứ mệnh của ngài rất đơn giản nhưng tuyệt đẹp, điều mà các linh mục đã làm suốt hàng thế kỷ qua: ban bí tích Thêm Sức cho các em nhỏ. Đặt tay lên các tín hữu trẻ và củng cố đức tin Công giáo cho các em. Trao ban những bí tích mà chính quyền muốn dập tắt.

Ngài vẫn làm điều đó. Công khai. Không chút sợ hãi.

Sau thánh lễ, ngài cùng một linh mục khác đến nhà xứ để ban bí tích cho những em đến muộn. Lúc đó vào khoảng 11 giờ trưa.

Bất ngờ, cánh cửa bị đạp tung.

Một nhóm người ủng hộ chính quyền xông vào. Họ bắt giữ ngài. Họ vật ngài xuống đất và ghìm chặt ngài lại.

Và họ đâm ngài. Hết nhát này đến nhát khác. Ngay vào cổ.

Máu ngài chảy dài trên sàn nhà và bắn lên cả những bức tường.

Và khi sự sống dần rời bỏ thân xác, Miroslav đã hét lên hai lần:

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Rồi ngài ra đi.

SỰ IM LẶNG

Chính quyền cố gắng xóa sạch sự hiện diện của ngài. Gia đình muốn chôn cất ngài tại quê nhà, nhưng họ từ chối. Họ biến ngôi mộ của ngài thành một thứ để kiểm soát, một biểu tượng cho quyền lực của họ.

Trong nhiều thập kỷ, câu chuyện của ngài chỉ tồn tại qua những lời thì thầm. Ở một góc nhỏ của Croatia. Giữa những con người yêu kính ngài và quyết không lãng quên.

Phần còn lại của thế giới chưa từng biết đến tên ngài.

SỰ PHỤC SINH

Thế rồi chế độ cộng sản sụp đổ.

Và vào năm 2013, 66 năm sau ngày ngài hy sinh, sự thật cuối cùng đã được đưa ra ánh sáng.

Giáo hội Công giáo tuyên phong Miroslav Bulešić là vị Tử đạo. Bậc Chân phước. Cuối cùng ngài đã được tôn vinh.

Buổi lễ diễn ra tại Pula, trong một đấu trường La Mã cổ đại được xây dựng từ hai ngàn năm trước. Hai mươi ngàn người đã tụ họp tại giảng đường ấy để tuyên bố rằng: tên của người đàn ông này sẽ không bị lãng quên. Máu của ngài không đổ xuống vô ích.

Những kẻ giết ngài muốn xóa sổ ngài mãi mãi.

Nhưng giờ đây, tên ngài được xướng lên trong các nhà thờ trên khắp thế giới.

Ngài đã có thể chọn im lặng. Chọn giải pháp an toàn. Chọn sống sót.

Nhưng ngài đã chọn trung kiên. Chọn bảo vệ người khác. Chọn đứng về phía một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình. Ngay cả khi biết trước lưỡi dao đang đợi sẵn.

“Tội danh” của ngài là gì? Ban bí tích Thêm Sức cho trẻ em.

Di sản ngài để lại là gì? Một người trẻ nhìn thấy cái chết cận kề mà không hề chớp mắt. Người vẫn cầu nguyện ngay cả khi đang trút hơi thở cuối cùng. Hơi thở cuối cùng là một lời kinh, chứ không phải một tiếng thét gào đau đớn.

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Họ đã cố chôn vùi ngài hai lần. Một lần dưới lòng đất. Một lần trong sự im lặng.

Nhưng ngài đã phục sinh trên cả hai.

#MiroslavBulesic #TuDao #DucTin #CauChuyenCamHung See less


 

Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Joseph Phạm Nguyên

Phép lạ chấn động: Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Vào tháng 7 năm 2022, Valeria Valverde (21 tuổi) – một sinh viên đại học người Costa Rica đang du học tại Florence – đã bị ngã xe đạp và đập đầu xuống đất. Cú ngã khiến cô bị chấn thương sọ não nghiêm trọng và xuất huyết não diện rộng, rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Các bác sĩ nói với bà Liliana, mẹ của Valeria, rằng cơ hội sống sót của cô gần như bằng không.

Trong niềm tuyệt vọng, bà Liliana đã thực hiện một cuộc hành hương đến mộ Chân phước Carlo Acutis tại Assisi. Bà đã dành nhiều giờ đồng hồ để cầu nguyện, tha thiết xin vị “tông đồ mạng” trẻ tuổi – người nổi tiếng với lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể – chuyển cầu cho con gái mình.

Và điều xảy ra tiếp theo là một phép lạ đã được Giáo hội chứng thực!

Chỉ vài giờ sau lời cầu nguyện của người mẹ, Valeria bắt đầu tự thở được. Trong vòng 10 ngày, cô tỉnh lại sau cơn hôn mê, phục hồi hoàn toàn khả năng vận động thần kinh. Kết quả chụp phim cho thấy khối xuất huyết đại não đã hoàn toàn tan biến mà không để lại bất kỳ di chứng nào. Cô bình phục một cách thần kỳ và sau đó đã cùng mẹ trở lại Assisi để tạ ơn Thánh Carlo.

Phép lạ này đã được Vatican chính thức công nhận và là điều kiện quyết định dẫn đến việc phong Thánh cho Carlo Acutis. Trong Thánh lễ tuyên thánh, chính Valeria là người đã lên đọc lời nguyện tín hữu.

Bài học cho chúng ta:

Các Thánh vẫn luôn đồng hành: Các vị Thánh, ngay cả những vị trẻ tuổi như Carlo (qua đời khi mới 15 tuổi), vẫn luôn chuyển cầu một cách mạnh mẽ cho chúng ta từ Thiên đàng.

Sức mạnh của lời cầu nguyện: Lời cầu nguyện kiên trì của một người mẹ hòa quyện với niềm tín thác sâu xa thực sự có thể “lay chuyển cả núi non”.

Chúa vẫn đang hành động: Trên hết, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện những phép lạ thời hiện đại để củng cố đức tin của chúng ta và nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài.

Lời Nguyện:

Lạy Thánh Carlo Acutis, vị tông đồ của Bí tích Thánh Thể, xin chuyển cầu cho tất cả những ai đang đau yếu hoặc tuyệt vọng. Lạy Chúa Giêsu, xin chữa lành chúng con qua lời cầu bầu của ngài. Amen.

Bạn hoặc người thân đã từng trải qua ơn chữa lành nào nhờ sự chuyển cầu của các Thánh chưa? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn ở bên dưới nhé — lời chứng của bạn có thể truyền cảm hứng cho rất nhiều người đấy!

Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#PhepLa #CacThanh #ThanhCarloAcutis #DucTin #TinThacVaoChua #CongGia


 

Làm sao “vui để đợi chết” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Hắn cứ hay suy nghĩ vẫn vơ. Tới tuổi “bát thập” rồi, hắn luôn tạ ơn Chúa vì hắn còn sống, còn đi đứng được, còn ăn uống được, lại được sống ở nước Mỹ đầy đủ tiện nghi và tự do nhất thế giới. Dầu vậy, hắn cũng hiểu rằng, tới tuổi 80, 81 rồi hắn sẽ ngã bịnh nặng bất cứ lúc nào?

+ Sẽ bị bịnh gì chưa biết; cao máu, tiểu đường, cao mở, stroke rồi bị liệt, mất trí nhớ (Alzheimer)… Nếu khi bị Stroke hay Alzheimer hắn sẽ không thể nói cho con cháu nghe được nữa, nên hắn muốn viết trước vài suy nghĩ, đ lại cho con cháu.

Hắn viết:Sinh Lão Bịnh Tử đó là con đường ta phải trải qua trong cuộc sống nhân sinh này. Ta được sinh ra không được hỏi ý kiến vì ta chỉ là đứa trẻ nít, chưa biết gì. Khi già lão thì biết, sức khỏe càng ngày càng suy yếu, hay mệt nhọc, không còn làm việc nhiều được nữa. Chạy xe gần thì được. Chạy xe đi xa hơn 30 phút là thắm mệt. Đọc sách cũng không còn tha thiết như xưa nữa. 

Sáng thức dậy, cứ muốn ngủ thêm, dậy không nổi, không thấy khoẻ như trước của tuổi U70”.

1)Có một điều không dự đoán được là:

+Chắc chắn là sẽ bị bịnh gì đó rất nặng, sẽ nằm nhà thương hay nằm tại nhà bao lâu rồi mới ra đi. Rồi cũng phải chịu đựng tình trạng không tự lo cho mình được? Không tự đánh răng được, không mặc áo quần được, không tự ăn uống được, không thể đi lại được chỉ nằm chờ chết là bao lâu?

+Sẽ chết như thế nào? Chết ở nhà hay ở nhà thương?

+Khó khăn là ta phải đương đầu với bịnh tật. Khi bị bịnh nặng, ta sẽ buồn rầu chán nản, than thân, trách móc Chúa, gây gỗ với người chung quanh. Làm sao sống vui vẻ, không than thân, khóc lóc lúc bị bịnh nặng. Làm sao không gây sầu khổ, đau buồn, lo lắng cho con cháu, cho gia đình, cho người thân, bạn bè, bà con? Làm sao không gây lo lắng, khó khăn cho người chung quanh.Vô cùng khó.

Chỉ có thường suy nghĩ về sự bịnh hoạn, về sự đau đớn thể xác, sự đau khổ về tinh thần, sống dựa vào Chúa, nhờ ơn Chúa giúp sức, may ra mới chịu đựng được những đau đớn, khổ sở của bản thân mình?

2)Đối diện với đau khổ chúng ta phải có thái độ như thế nào?

+Để có thể chịu đựng được đau đớn thể xác và đau khổ về tinh thần? Làm sao chấp nhận những khó khăn, đau khổ đó ở đời này. Xem những đau khổ, khó khăn đó là món quà hy sinh, chịu đựng, dâng lên Chúa.

Ở Mỹ không có thiếu thốn về vật chất nhưng cũng không thoát khỏi sự đau khổ về tinh thần.

Ở Việt Nam nhiều người thiếu thốn về vật chất, gặp nhiều khó khăn, đau khổ. Còn những người giàu không thiếu thốn về vật chất, nhưng họ vẫn phải chịu đựng sự đau khổ về tinh thần, như con cái không chịu học hành, bỏ nhà đi bụi đời, chồng hoặc vợ ngoại tình, gia đình ly tán… 

Bịnh tật và sự chết không chừa một ai. Đó là quy luật sinh lão bịnh tử.

+Trước những vấn đề đau khổ đó thái độ của chúng ta như thế nào mới là quan trọng?

Trong bài: “Đối Diện Với Đau Khổ” (trích Bài học Kinh Thánh Hằng ngày)

“Khi đối diện với đau khổ, con người có khuynh hướng than thân trách phận, trách cả Đức Chúa Trời, thậm chí có người còn chối bỏ đức tin. Nhưng ông Gióp trong mọi đau khổ xảy đến vẫn không phạm tội và không hề nói lời nào trách móc hay phạm thượng với Chúa. Khi nhận biết sự tể trị của Chúa trên cuộc đời mình, chúng ta có thể sấp mình thờ phượng, cầu nguyện, và ngợi tôn Chúa ngay cả trong cơn khủng hoảng nhất xảy đến cho mình. Bạn từng đối diện với những đau khổ nào? Bạn đã phản ứng ra sao? Gương của ông Gióp nhắc nhở bạn điều gì?

Lạy Chúa, khi cuộc đời con chan đầy nước mắt, con vẫn tin rằng Chúa ngự trên cao, tình yêu Ngài vẫn phủ trùm mặt đất, và quyền năng Ngài vẫn tỏa vượt trăng sao”

https://www.facebook.com/BaiHocKinhThanhHangNgay/posts/1087260497958032/

 3)Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn, đau khổ.

Sống lạc quan, vui vẻ, tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (Tx 5, 18). Tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau đớn về thể xác, tuyệt vời là ở sự chịu đựng đau khổ về tinh thần. Không biết có làm được không? 

Khi tâm hồn lạc quan, sống vui thì ngay lúc chết, sự vui vẻ lạc quan đó giúp cho linh hồn tràn ngập niềm vui để về với Chúa, hưởng phúc thiên đàng. 

Phùng Văn Phụng

 04 tháng giêng năm 2023

Xem thêm:

+Bài Học Tịnh Tâm

https://keditim.net/?p=124786

+Vui Để Đợi Chết

Vui để đợi chết.     

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DIỄN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.

“Đừng cố tỏ ra là một vị thánh; hãy thành thật là một tội nhân!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những người sống cả đời để tỏ ra là một vị thánh; goá phụ trong Tin Mừng hôm nay thì khác. Dưới ánh mắt Chúa Giêsu, cô ‘không còn gì để diễn’.

Tin Mừng hôm nay mở ra như một sân khấu tôn giáo. Các kinh sư tìm danh dự; những người giàu tìm khoe khoang. Họ gây chú ý bằng những khoản dâng cúng lớn. Chúa Giêsu không quan sát số tiền hay vẻ bề ngoài; Ngài đọc điều ẩn phía sau. Trước Ngài, mọi vai diễn thánh thiện đều mờ nhạt, và sự thật tâm hồn được phơi bày. “Khiêm nhường là sống trong sự thật!” – Têrêxa Avila.

Một goá phụ xuất hiện. Cô không trình diễn lòng đạo đức. Chúa Giêsu nói cô đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Bản Vulgata chỉ dùng một động từ rất đơn sơ: misit – “đã bỏ vào”. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, điều quyết định không phải là cái được bỏ vào, mà là cái không được bỏ vào: phần dư hay chính sự sống. Những người khác vẫn còn để giữ lại; cô thì không. Không còn khoảng cách nào giữa điều cô trao và chính con người cô. Trước mặt Thiên Chúa, cô ‘không còn gì để diễn’.

Điều đáng suy nghĩ là những vai diễn tôn giáo thường không khởi đi từ sự xấu xa, nhưng từ nỗi sợ. Sợ bị xem thường, sợ phải đối diện với sự nghèo nàn thật của bản thân. Vì thế, người ta dễ khoe mẽ, loè bằng cấp hay những biểu hiện đạo đức để che phủ những khoảng trống bên trong. Goá phụ này thì khác. Cô không còn gì để giữ ngoài niềm tín thác vào Chúa. Chính sự nghèo khó ấy làm nên tự do của cô, giải phóng cô khỏi nhu cầu phải chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai.

Một trong những ngẫu tượng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là mê chính mình; người ta dễ nói về mình hơn là nói về Chúa, tìm kiếm sự chú ý hơn là tìm vinh quang Ngài. Vì thế, Phaolô nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh!”. Chỉ khi thoát khỏi sức hút của cái tôi, người môn đệ mới có thể “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” – Thánh Vịnh đáp ca. Đó là những môn đệ trưởng thành không còn bận trình bày bản thân, nhưng bận rộn với sứ vụ “lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Goá phụ hôm nay không chỉ là một tấm gương đạo đức; cô còn báo trước điều Đức Kitô sẽ thực hiện cách trọn vẹn. Cô dâng toàn bộ sự sống, Ngài trao chính sự sống; cô không còn gì để dâng, Ngài không còn gì để giữ. Trên đồi Sọ, mọi vinh quang bị tước bỏ, chỉ còn lại một tình yêu trao hiến đến cùng. Điều làm chúng ta sợ không phải là nghèo, nhưng là bị nhìn thấy đúng như mình là. Vậy mà chỉ khi không còn cố tỏ ra là một vị thánh, chúng ta mới dám nhìn nhận mình là một tội nhân ‘không còn gì để diễn’ trước Thiên Chúa. Và chính ở đó, ân sủng bắt đầu. “Ân sủng mặc lấy con người thật của chúng ta, chứ không phải con người chúng ta giả vờ là!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con thôi diễn, thôi chứng minh, thôi che giấu; để ân sủng Ngài tìm thấy con trong sự thật – một tội nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,38-44

38 Khi ấy, trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng rằng : “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. 39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. 40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”

41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. 42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. 43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : “Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44 Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.”


 

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO- (Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

Maria Mai Tâm

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO

(Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

  1. Bệnh quá khứ cục bộ.

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: “Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!”.

Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại !

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở:

“Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !”.

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống.

Quá khứ không bao giờ trở lại.

Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói:

“Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn”.

Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

  1. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì “để xem đã”, hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu “không làm nổi đâu” !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity).

Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện:

Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan.

Kẻ tiêu cực bi quan.

Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói:

Đừng trách rằng tối;

tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi !

Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: “Đừng sợ”, vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

  1. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng:

Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế …

Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

  1. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay: Người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này:

Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ.

Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui:

Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha (ĐTC). Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không.

ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ.

– Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn.

Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi, tôi đi đường tôi, anh đi đường anh.

  1. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể:

Hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc.

Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng… Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: Tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

  1. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người công giáo kiểu đó thường hay trở thành công giáo tùy thời: Thịnh thì công giáo, suy thì chối.

Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn.

Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt…mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái, tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận.

Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai.

Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh cha nói: “không cần ai bỏ phiếu cho sự thật” vì sự thật vẫn là sự thật.

  1. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe.

– Chứ con xin điều gì ?

– Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi!

– Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây!

– Dạ Chúa đợi gì con đây?

– Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn.

Ông gặp thánh Phêrô.

Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại:

– Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ?

– Có.

– Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không?

– Có.

– Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ?

– Có.

– Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

  1. Bệnh tùy hứng vô định

– Người không có lý tưởng rõ ràng.

– Đời vô định hướng.

– Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại.

Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và Mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được.

Nhưng phải định hướng cho trúng.

Truyện kể:

– Có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới.

– Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình.

– Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

  1. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng:

Thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó.

Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

  1. Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm, vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người.

Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học:

Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức.

Có nhiều người “phạm tội vì Chúa”: lấy lý do “vì Chúa” mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta.

Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh này nên có câu châm ngôn: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác”. Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn:

“Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con” (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin.

Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: “Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô”.

H.Y. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

—————————

(Bài nói chuyện của Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khi còn làm Tổng Giám mục, với giới trẻ Việt Nam hải ngoại tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.9.1998) 


 

PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Suy ngẫm về lời cầu xin

Lạy Chúa, con cầu xin ơn Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ.

Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.

Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.

Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết, con cần đến Chúa.

Con cầu xin có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để được hưởng mọi sự.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.

Lạy Chúa, hoá ra, con lại là người may mắn hơn hết trên cõi đời này bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn. Amen

(trích trong Lịch Phụng Vụ Ất Tỵ 2025 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ, tháng 06 trang 127)