Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? – Cha Vương

Xin Chúa ban muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình để bạn luôn ao ước những gì thuộc về Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cả thế giới hả?

Cha Vương

CN: 17/05/2026.     (n21-23)

GIÁO LÝ: Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nghĩa là Chúa Giêsu, một người trong chúng ta đã về lại nhà với Thiên Chúa Cha và ở lại đó muôn đời. Nhờ Chúa Giêsu mà Thiên Chúa ở gần loài người chúng ta trong cách thức loài người. Và trong Phúc Âm Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). (YouCat, số 109)

SUY NIỆM: Trong Tân ước, việc Chúa về trời chấm dứt giai đoạn bốn mươi ngày được đánh dấu bằng việc Đấng đã sống lại ở gần gũi với các môn đệ. Cuối giai đoạn này Chúa Giêsu đi vào trong oai nghi của Thiên Chúa với toàn bộ nhân tính của mình. Kinh Thánh thuật lại bằng những hình ảnh tượng trưng có “mây”, có “trời”. Như Đức Bênêđictô XVI nói: “Con người có được chỗ trong Thiên Chúa”. Chúa Giêsu Kitô bây giờ ở với Chúa Cha, từ đó một ngày kia Người đến “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúa Giêsu về trời có nghĩa là Chúa Giêsu không còn là hữu hình ở dưới đất, nhưng lại vẫn luôn có mặt dưới đất.(YouCat, số  109 t.t.)

LẮNG NGHE: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. (Cv 1,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa dạy con: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3)

Xin đừng để những bận tâm thế tục làm con xao xuyến và lo âu nhưng giúp con biết can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương và chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con có được chỗ ở trong Thiên Chúa. 

THỰC HÀNH: Môi trường gia đình là trường học dạy về đức tin và yêu thương, đó cũng là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Hôm nay mời bạn hãy trở thành một chứng tá cho đức tin, cho tình yêu xả kỷ của mình ngay trong gia đình bằng những hy sinh nho nhỏ, rộng lượng chia sẻ, và xây dựng một mái ấm hạnh phúc trong Chúa Ki-tô phục sinh nhé.

From: Do Dzung

*************************************

Hy Lễ Cuối Cùng – Nguyễn Hồng Ân

HƯỚNG VỀ TRỜI – TGM Giuse Vũ Văn Thiên 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên 

Từ nhiều năm trở lại đây, để thuận lợi cho giáo dân tham dự lễ trọng, đa số các Giáo phận chuyển dịch ngày lễ Thăng Thiên vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh.  Tổng Giáo phận Hà Nội vẫn cử hành long trọng lễ Thăng Thiên vào thứ Năm sau Chúa nhật VI Phục sinh, vì theo truyền thống của Giáo Tỉnh miền Bắc, lễ này thuộc “Tứ Quý”: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ.  Trong bốn ngày lễ này, người tín hữu phải kiêng việc xác và tham dự thánh lễ.

Dù mừng lễ Thăng Thiên vào ngày nào, thì Phụng vụ vẫn nhắc người tín hữu hướng về Quê Trời, đồng thời cố gắng chu toàn bổn phận dưới đất.  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa nhập thể.  Người về trời sau khi đã hoàn tất chương trình cứu độ.  Người về với Chúa Cha, vì Người đã từ Chúa Cha mà đến.  Dưới ánh sáng phục sinh, một nhãn quan mới về nhân sinh Kitô giáo đã mở ra: con người không đơn giản chỉ là “đầu đội trời, chân đạp đất,” mà họ đã thuộc về trời ngay khi họ đang sống nơi trần gian.  Nói cách khác, Kitô hữu luôn hướng về trời, và đối với những người đạo đức thánh thiện, họ được nếm trước vinh quang Nước Trời ngay ở đời này.  Khi suy niệm Kinh Mân côi, ở mầu nhiệm thứ hai Mùa Mừng, chúng ta xin cho được yêu mến (ái mộ) những sự trên trời, để dầu còn sống trên trần gian, một cách nào đó, chúng ta đã hưởng hạnh phúc như các thánh trên trời. 

Hướng về trời không phải là một ảo tưởng hão huyền hay là một thứ “thuốc phiện mê dân”, nhưng là niềm hy vọng và niềm xác tín của Kitô hữu.  Chúng ta dựa vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Tin Mừng Thánh Gioan chương 17.  Qua lời cầu nguyện này, Chúa Giêsu vừa thân thưa với Chúa Cha, vừa thể hiện tâm tình thương mến đặc biệt đối với các môn đệ.  Người xin Chúa Cha cho các môn đệ được ở với Người, vì các môn đệ – và những người kế tiếp các ngài là chính chúng ta hôm nay – là những quà tặng mà Chúa Cha ban cho Chúa Giêsu.  Như thế, những ai tin vào Chúa Giêsu, sẽ được ở với Người và cùng Người chiêm ngưỡng vinh quang vĩnh cửu.  Vinh quang này đến từ nơi Chúa Cha.  Chính Chúa Giêsu cũng được đón nhận vinh quang ấy, rồi Người lại chia sẻ cho chúng ta. 

Hướng về trời mở ra cho người tín hữu một chân trời hy vọng.  Hy vọng là chờ đợi những điều tốt đẹp ở phía trước.  Người tin Chúa biết rõ tương lai hậu vận đời mình, đó là được sống với Chúa, được chia sẻ vinh quang hạnh phúc với Ngài.  Nhờ có niềm hy vọng, chúng ta vững tin ngay cả khi gặp những gian nan thử thách, với xác tín rằng, người yêu mến Chúa sẽ vượt thắng tất cả.  Trong lời cầu nguyện vừa nêu ở trên, Chúa Giêsu khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Chúa Cha yêu thương.  Ở một nơi khác trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói đến sự hiện diện của Chúa Cha và Chúa Con trong tâm hồn những ai yêu mến và thực thi giáo huấn của Chúa Con “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).  Đây là hạnh phúc kỳ diệu.  Chúa Ba Ngôi sẽ ở trong tâm hồn người công chính. 

Hướng về trời cũng giúp cho người tín hữu có được những nghị lực siêu nhiên.  Thế gian là bãi chiến trường, là thung lũng nước mắt, là bể khổ.  Đức tin khẳng định với chúng ta: Thiên Chúa hiện diện giữa bãi chiến trường ấy, vì Ngài là Cha giàu lòng thương xót.  Ngài luôn nâng đỡ trợ lực chúng ta trên mọi nẻo đường đời.  Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã kể lại chứng từ của thánh Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Kitô giáo: trong lúc sắp tắt thở vì bị ném đá, ông đã nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa.”  Đức tin vào đời sống vĩnh cửu đã ban cho vị tử đạo của chúng ta sức mạnh và niềm xác tín phi thường, với niềm xác tín: chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. 

Hỡi những người Galilêa, sao còn đứng nhìn trời?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11).  Lời của hai sứ thần mặc áo trắng nói với các môn đệ năm xưa lúc thày trò chia tay, cũng là lời ngỏ với chúng ta hôm nay.  Mừng Chúa lên trời hướng chúng ta về quê hương vĩnh cửu, đồng thời nhắc chúng ta về bổn phận đối với quê hương trần thế.  Kitô hữu không phải là người bị “bứng” khỏi cuộc sống đời này, nhưng là những người dấn thân trong mọi môi trường cuộc sống, để làm chứng cho niềm vui của Đức tin, nhất là làm chứng cho Chúa Giêsu trong khi mong đợi Người lại đến.

 “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!  Đời sống Kitô hữu là sự chờ đợi liên lỉ, với tâm tình cầu nguyện và phó thác cậy trông.  Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta.  Người sẽ đến trong vinh quang vào ngày tận thế.  Chúa đã hứa với chúng ta như vậy. 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 From: Langthangchieutim


 

Thiếu niên được Đức Lêô XIV cầu nguyện đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Thao Teresa

Thiếu niên được Đức Lêô XIV cầu nguyện đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Hôm thứ 3 vừa qua, thiếu niên được đức Giáo hoàng đến thăm, cầu nguyện đã đến Castel Gandolfo, để gặp, cám ơn và báo tin đã khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối

Ignacio Gonzálvez, một thiếu niên 15 tuổi, người Tây Ban Nha, người đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư hạch trong dịp đại hội hành hương Năm thánh giới trẻ 2025, đã đến gặp Giáo hoàng Lêô XIV tại Castel Gandolfo hôm thứ 3 vừa qua và báo tin vui: “Con đã khỏi bệnh.”

Năm ngoái, Ignacio Gonzálvez cùng các anh chị em của mình từ Cartagena, Tây Ban Nha, đến Roma, tham dự ngày hành hương giới trẻ, từ ngày 28/7 đến 3/8/2025, nhưng trong thời gian lưu trú ở đây, đã phát bệnh nặng.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Bambino Gesù ở Rome chẩn đoán cậu mắc bệnh u lympho đường hô hấp giai đoạn cuối. Bệnh tình nghiêm trọng đến mức, cậu phải lập tức nhập viện điều trị tại phòng chăm sóc đặc biệt.

Tối thứ Hai, ngày 4/8/2025, sau khi kêu gọi các bạn trẻ cùng hiệp ý cầu nguyện cho Ignacio Gonzálvez, Đức Giáo hoàng Lêô đã bất ngờ tới thăm, động viên, cầu nguyện và chúc lành cho cậu và gia đình. Cuộc gặp kéo dài khoảng nửa tiếng đồng hồ.

Sau đó, trong suốt quá trình cậu điều trị bệnh ung thư, theo gia đình cho biết, Đức Giáo hoàng còn nhiều lần liên lạc động viên và quan tâm tới diễn tiến tình trạng sức khỏe của cậu.

Hôm thứ 3 ngày 12/5 vừa qua, sau nhiều tháng điều trị, Ignacio Gonzálvez đã được xuất viện và đã đến gặp Đức Giáo hoàng tại Castel Gandolfo, để đích thân cảm ơn Đức Giáo hoàng, báo cho ngài biết tin vui, cậu đã hoàn toàn khỏi bệnh và hẹn gặp Đức Giáo hoàng tại Madrid, trong chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng đến Tây Ban Nha từ ngày 6-12/6/2026 sắp tới. Mẹ của Ignacio, bà Carmen Gloria Gonzálvez, chia sẻ rằng gia đình đã sống những tháng ngày thử thách ấy trong đức tin và lời cầu nguyện. Sau nhiều tháng điều trị, các bác sĩ xác nhận khối u đã hoàn toàn biến mất.

https://phailamgi.com/…/thieu-nien-duoc-duc-leo-cau…/


 

THIÊN CHÚA RÚT LUI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ!”.

“All Hallows College”, một đại học truyền giáo nổi tiếng ở Ái Nhĩ Lan, chọn mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu làm khẩu hiệu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng Chúa Nhật Thăng Thiên không chỉ ghi lại mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu, nhưng còn mặc khải một nghịch lý lớn của Kitô giáo: để Hội Thánh có thể đi tới, ‘Thiên Chúa rút lui’.

Vào những năm đầu tiên của Hội Thánh, thật khó để tưởng tượng Tin Mừng có thể đến với muôn dân. Các môn đệ chỉ là một nhóm nhỏ đầy hoang mang. Vậy mà chính lúc ấy, Chúa Giêsu lại rời họ để về cùng Cha. Kỳ lạ thay, từ nhóm nhỏ mong manh ấy, Kitô giáo lại dần vượt khỏi Giêrusalem để đi vào lịch sử.

Không ít người hôm nay vẫn mang sự nản lòng của các môn đệ thuở đầu. Edward Schillebeeckx cho rằng, chúng ta đang sống khoảng giữa “cái chết của Chúa Giêsu và lúc họ nhận ra Ngài đã phục sinh”: vẫn biết Đức Kitô, nhưng chỉ như một Đấng chịu đóng đinh. Ron Rolheiser thì ví Hội Thánh hôm nay như đang ở “giữa phục sinh và thăng thiên”: Đức Kitô vẫn sống nhưng hiện diện theo một cách khác. Vì thế, điều gây hoang mang không vì Ngài vắng mặt, nhưng vì Ngài hiện diện một cách mới.

Thăng Thiên, vì thế, không phải là việc Chúa Giêsu vắng mặt, nhưng là sự biến đổi trong “parousia” – sự hiện diện của Ngài. Nếu trước đây, các môn đệ gặp Ngài trong một hình hài hữu hạn, thì nay, Ngài hiện diện cách phổ quát hơn trong Thánh Thần, trong Hội Thánh và thế giới. ‘Thiên Chúa rút lui’ khỏi một kiểu hiện diện cũ, không phải để bỏ mặc con người, nhưng để con người trưởng thành khỏi nhu cầu thấy mới tin. Nói cách khác, Chúa rút lui để đức tin con người trưởng thành. “Từ lúc ấy, Ngài hiện diện cách thần linh sâu xa khôn tả với chính những người mà Ngài đã rời xa trong nhân tính hữu hình!” – Lêô Cả.

Như vậy, Thăng Thiên không phải là chia ly, nhưng là cuộc đăng quang của Con trong vinh quang Cha. “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo!” – Thánh Vịnh đáp ca. Đấng từng được các môn đệ thấy cất lên khỏi mắt mình giờ đây ngự bên hữu Chúa Cha, “trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được” – bài đọc hai. Và nếu các thiên thần nhắc các môn đệ đừng mãi đứng nhìn trời – bài đọc một, thì Phaolô lại hướng Hội Thánh về Đức Kitô là Đầu, Đấng vẫn hoạt động trong Hội Thánh, thân mình Ngài.

Anh Chị em,

Đức Kitô lên cùng Cha không mời Kitô hữu trốn khỏi đất để tìm trời, nhưng sống giữa đời với một linh hồn đã được kéo lên khỏi chính mình. Ngài vắng mặt để chúng ta bắt đầu hiện diện. ‘Thiên Chúa rút lui’ không phải để Hội Thánh sống thiếu Ngài, nhưng để con người thôi bám víu vào kiểu hiện diện cũ, để ngước lên và ra đi. Khi Ngài giấu mình đi, là để tìm thấy ta trong thế giới. Sự im lặng của trời cao là lệnh lên đường của đất thấp. “Thiên Chúa không được tìm thấy trong linh hồn bằng sự chất thêm, nhưng bằng một tiến trình buông bỏ!” – Meister Eckhart.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dù con gần đất hơn gần trời, xin đừng để lòng con nặng mùi đất; cho con ngát mùi trời và sẵn sàng ra đi toả hương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT THĂNG THIÊN, NĂM A

Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

✠Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.  Mt 28,16-20

16 Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”


 

TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Lễ Chúa Thánh Thần)

Phao-lô tàn phá Hội thánh

Thánh Phao-lô là vị tông đồ rất đặc biệt. Ngài không được Chúa Giê-su tuyển chọn từ đầu, không trực tiếp nghe lời Chúa Giê-su giảng như các tông đồ khác, không biết Chúa Giê-su là Đấng được Thiên Chúa sai đến… nên đã kịch liệt chống lại Ngài, quyết triệt hạ đạo thánh Chúa và đã ra tay bắt bớ những người tin Chúa cách tàn bạo.

Chính thánh Phao-lô xác nhận hành vi tàn phá Hội thánh của mình như sau:

“Tôi đã bắt bớ Đạo nầy, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà…. giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị” (Cv 22, 4-5).

“Tôi đã dùng mọi cách để chống lại Đức Giê-su người Na-da-rét… Được các thượng tế uỷ quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong dân thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã rảo khắp các hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ phải nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26, 10-11).

Thế mà Chúa Thánh Thần đã hoán cải Phao-lô từ một người chưa hề nghe Chúa Giê-su giảng dạy trở thành một bậc thầy thông thạo giáo lý của Ngài, từ một hung thần diệt Đạo trở thành một tông đồ hăng say, nhiệt thành, sẵn sàng chịu đựng vô vàn đau thương khốn đốn để rao giảng về Chúa Giê-su phục sinh và xây dựng Đạo thánh. Như thế, Chúa Thánh Thần có vai trò rất quan trọng trong cuộc đời thánh Phao-lô.

Tác động của Chúa Thánh Thần

Khi Chúa Thánh Thần chưa hiện xuống trên các tông đồ, các ngài đều e dè sợ hãi, co cụm với nhau như những xác không hồn trong phòng đóng kín vì sợ người Do-thái, chẳng ai dám đi ra làm chứng cho Chúa phục sinh.

Thế rồi sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần trong lễ Ngũ tuần, nhờ Chúa Thánh Thần tác động, các tông đồ trở nên những chiến sĩ can trường dũng cảm, hăng hái lên đường, sẵn sàng chấp nhận lao tù, đòn vọt và hy sinh chịu chết để loan Tin mừng cứu độ cho muôn dân.

Nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần mà Phê-rô, từ một người nhát đảm từng chối Chúa ba lần, đã dũng cảm đứng lên giữa đám đông quần chúng, rao giảng cho mọi người biết Chúa Giê-su là Đấng cứu độ và có đến ba ngàn người tin và lãnh nhận phép Rửa ngày hôm ấy.

Tại Việt Nam trước đây, khi các linh mục thừa sai châu Âu mới đặt chân lên đất nước chúng ta loan báo Tin mừng, ông bà tổ tiên chúng ta chỉ được nghe các ngài dạy đạo cách vắn gọn đơn sơ, nên chẳng hiểu nhiều về Thiên Chúa, lại phải bị nhà cầm quyền cấm đoán, bắt bớ, giết hại… trong suốt hơn 300 năm. Vậy mà nhờ Chúa Thánh Thần tác động, các ngài đã sống đạo sốt sắng nhiệt thành, có sức truyền đạo mạnh mẽ và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Đạo thánh. Ngoài 117 vị tử đạo Việt Nam được Giáo hội chính thức tuyên thánh, còn có đến trên 130.000 tín hữu khác đã vui lòng chịu chết vì đức tin.

Và hôm nay, có nhiều tín hữu đơn sơ chất phác, không có cơ hội học đạo nhiều, thế mà nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, họ vẫn có lòng tin mạnh mẽ, có lòng mến Chúa thiết tha, lòng đạo đức sâu xa… rất đáng khâm phục. 

Lạy Chúa Thánh Thần,

Xin ngự xuống tâm hồn chúng con như trên các tông đồ hôm xưa và đốt lên trong lòng chúng con lửa mến nhiệt thành, để chúng con sẵn sàng và mạnh dạn mang Tin mừng Chúa đến với bao người chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan 20,19-23

19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em! “20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.21 Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.”22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHÔNG THUỘC ĐẤT, NHƯNG THUỘC TRỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy!”.

“Hãy nhắm tới trời cao, và cả đất thấp sẽ được ban thêm; nhưng nếu chỉ nhắm tới đất thấp, con người sẽ đánh mất cả hai!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay giục giã chúng ta nhắm tới trời cao; đồng thời, mặc khải một sự thật đảo lộn mọi thước đo: trong Chúa Giêsu, chúng ta ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời’.

Với Gioan, cứu độ không chỉ là được tha thứ, nhưng là được đón nhận vào chính sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, con người có thể sống giữa thế gian mà không còn hoàn toàn “ek tou kosmou” – thuộc về thế gian. Có lẽ, con người sẽ đau khổ nhất khi không còn biết linh hồn mình thuộc về ai. “Chúa Cha yêu mến anh em” không đơn thuần là một cảm xúc, nhưng là một mặc khải về căn tính: trong Đức Kitô, con người được dự phần vào tương quan yêu thương thiên linh, để từ đó, sống giữa đất thấp mà vẫn mang một quê hương trời cao. “Được cuốn vào mạng lưới yêu thương ấy, chúng ta được dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi!” – Henri de Lubac.

“Thuộc trời” không kéo con người ra khỏi thế gian, nhưng làm họ sống giữa nó theo một cách khác. Họ làm việc, yêu thương, xây dựng và đau khổ như mọi người; nhưng không còn lấy những gì chóng qua làm nền tảng tối hậu cho đời mình. Sống khác biệt chính là cách Kitô hữu thuộc về trời cao. Vì thế, có thể sống giữa một thế giới đầy bất an, Kitô hữu không tuyệt vọng; sống giữa những hấp dẫn của quyền lực hay danh vọng, họ không để mình bị nuốt chửng. Từ chối tầm thường là một hình thái của tôn thờ. Bởi họ biết, quê hương sâu xa nhất của mình ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời’. Vì sau cùng, tự do nhất là khi không còn gì để mất cho thế gian!

Sự thật ấy kéo họ lại gần nhau. Apollô, dù thông thạo Kinh Thánh, vẫn cần Aquila và Priscilla để hiểu con đường Đức Kitô cách đầy đủ – bài đọc một. Trong Hội Thánh sơ khai, không ai tự đủ; mỗi người vừa cho vừa nhận. Chính trong sự bổ trợ ấy, Hội Thánh trở thành dấu chỉ của một nhân loại mới, nơi con người không còn sống theo logic hơn thua của “thế gian”, nhưng theo logic hiệp thông của những người con Chúa. Để từ đó, mọi người nhận ra: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là nơi căn tính “thuộc trời” ấy được tỏ lộ trọn vẹn nhất. Sống giữa thế gian, nhưng Ngài không để thế gian định nghĩa. Nơi Ngài – niềm vui, nước mắt, tình bạn, phản bội và cái chết – mọi sự luôn quy hướng về Cha. Vì thế, thuộc về trời không có nghĩa là chúng ta khước từ trần thế, nhưng là sống giữa trần thế với một tự do nội tâm mà thế gian không thể ban cũng không thể lấy. Đất thấp chỉ giữ được bàn chân, không giữ được linh hồn. “Toàn bộ cuộc sống Kitô hữu xoay quanh mầu nhiệm Ba Ngôi! Vậy hãy giữ đời mình ở ‘một cung bậc và một cung điệu tầm cao’, xứng với phẩm giá của những con người ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời!’” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều hơn thua chóng qua của đất, cho con biết sống xứng với quê hương vĩnh cửu mà Chúa đã đặt vào linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VI Phục Sinh

Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy và tin vào Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 16,23b-28

23b Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em mà xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. 24 Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn.

25 “Thầy đã dùng dụ ngôn mà nói những điều ấy với anh em. Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở. 26 Ngày ấy, anh em sẽ nhân danh Thầy mà xin, và Thầy không nói với anh em là Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha cho anh em. 27 Thật vậy, chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến. 28 Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Nay Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha.”


 

HÃY CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

  Thánh Alphonso Ligouri là Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế  và cũng là tác giả của nhiều tác phẩm thiêng liêng đã cho rằng cầu nguyện có quyền năng vô cùng vì cầu nguyện làm thay đổi bộ mặt thế giới. Ngài nói: “Ai cầu nguyện thì sẽ được ơn cứu độ.”

Nhà thơ Frances Morton đã nói về cầu nguyện như sau:
1. Lời cầu nguyện vào buổi sáng sẽ bảo đảm cho chúng ta một ngày đầy ơn lành.
2. Lời cầu nguyện vào buổi tối sẽ cho chúng ta một đêm nghỉ ngơi bình an.
3. Lời cầu nguyện khi chúng ta yếu đuối thì chắc chắn chúng ta có bàn tay mạnh mẽ của Chúa giúp đỡ.
4. Lời cầu nguyện khi chúng ta cô đơn thì Chúa sẽ đồng hành và giúp đỡ.
5. Lời cầu nguyện khi đau khổ thì sẽ được Chúa an ủi, ban bình an và nghỉ ngơi.
6. Lời cầu nguyện khi nghi ngờ thì Chúa sẽ an ủi và soi sáng và ban ơn đức tin cho chúng ta.
7. Lời cầu nguyện khi vui mừng thì sẽ gặt hái nhiều niềm vui và sự vui thỏa.
8. Lời cầu nguyện để cảm tạ lòng từ bi của Chúa thì chúng ta sẽ hạnh phúc trong mọi lúc.
9. Mỗi ngày, mỗi mùa và mỗi giờ, chúng ta cần cầu nguyện để được chúc phúc mỗi giây phút trong cuộc sống.
10. Không có linh hồn nào mà không cần ơn thánh Chúa và khi chúng ta cùng nhau kết hợp để cầu nguyện thì Chúa sẽ ban cho chúng ta những quyền năng vô biên.

From: Ngoc Bích & KimBang Nguyen


 

NỖI BUỒN SẼ TRỞ THÀNH NIỀM VUI – Anmai CSsR

Anmai CSsR

  Trong đời sống con người, có những nỗi buồn làm ta mệt mỏi, có những giọt nước mắt làm ta kiệt sức, có những mất mát khiến ta tưởng như không còn đứng dậy được nữa. Có những lúc ta nhìn cuộc đời mình và chỉ thấy một màu tối. Cầu nguyện mà lòng vẫn nặng. Tin Chúa mà nước mắt vẫn rơi. Đi lễ mà trong lòng vẫn nhói đau. Làm điều lành mà vẫn bị hiểu lầm. Yêu thương mà vẫn bị phản bội. Hy sinh mà vẫn không được nhìn nhận. Sống ngay thẳng mà vẫn gặp thiệt thòi.

Và chính trong những lúc ấy, lời Chúa hôm nay vang lên như một ánh sáng rất dịu nhưng rất mạnh: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa Giêsu không nói: “Anh em sẽ không bao giờ buồn.” Chúa cũng không hứa: “Ai theo Thầy thì khỏi đau khổ.” Chúa càng không dạy ta trốn tránh nước mắt. Ngược lại, Chúa nói rất thật: “Anh em sẽ khóc lóc và than van.” Nghĩa là người môn đệ của Chúa vẫn có lúc khóc. Người tin Chúa vẫn có lúc than van. Người yêu Chúa vẫn có lúc đau lòng. Người sống đạo vẫn có lúc rơi vào đêm tối.

Kitô giáo không phủ nhận đau khổ. Đức tin không bắt con người giả vờ mạnh mẽ. Tin Chúa không có nghĩa là lúc nào cũng phải cười, lúc nào cũng phải nói “con ổn”, trong khi trái tim đang tan vỡ. Chúa Giêsu hiểu nước mắt của con người. Người đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã buồn sầu trong vườn Cây Dầu. Người đã run sợ trước chén đắng. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì thế, khi Chúa nói với các môn đệ về nỗi buồn, Người không nói như một người đứng ngoài đau khổ, nhưng như Đấng đã đi vào tận đáy đau khổ của phận người.

Chúa Giêsu biết các môn đệ sắp trải qua một đêm rất dài. Đêm ấy là đêm Thầy bị bắt. Đêm ấy là đêm các ông tan tác. Đêm ấy là đêm Phêrô chối Thầy. Đêm ấy là đêm Giuđa phản bội. Đêm ấy là đêm thập giá dựng lên trên đồi Canvê. Đêm ấy là đêm người môn đệ tưởng rằng mọi hy vọng đã chấm hết.

Thế gian sẽ vui mừng. Những kẻ chống đối Chúa sẽ tưởng rằng họ đã thắng. Những người loại trừ Chúa sẽ tưởng rằng tiếng nói của Người đã bị bịt lại. Những người đóng đinh Chúa sẽ tưởng rằng tình yêu đã bị tiêu diệt. Nhưng Chúa nói: “Nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa không nói nỗi buồn sẽ bị quên đi. Chúa không nói nỗi buồn sẽ biến mất như chưa từng có. Chúa nói nỗi buồn sẽ trở thành niềm vui. Đây là điều rất sâu. Có những nỗi buồn không bị xóa khỏi đời ta, nhưng được Chúa biến đổi. Có những vết thương không biến mất hoàn toàn, nhưng trở thành dấu tích của ân sủng. Có những thập giá không được lấy đi ngay, nhưng được Chúa làm cho trổ sinh ơn cứu độ. Có những giọt nước mắt không vô ích, vì khi rơi vào tay Chúa, chúng trở thành hạt giống của một niềm vui mới.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh người phụ nữ sinh con để diễn tả mầu nhiệm ấy. Khi đến giờ sinh nở, người mẹ đau đớn. Không ai có thể phủ nhận nỗi đau ấy. Đó là nỗi đau thật, nỗi đau sâu, nỗi đau đi qua thân xác và tâm hồn. Nhưng khi đứa con chào đời, niềm vui tràn ngập đến nỗi nỗi đau không còn là điều cuối cùng nữa. Cơn đau không vô nghĩa, vì từ cơn đau ấy, một sự sống mới được sinh ra.

Chúa Giêsu đã nhìn thấy nơi nỗi đau của người mẹ một mầu nhiệm cao cả. Người không khinh thường nỗi đau ấy. Người không coi đó chỉ là chuyện tự nhiên của thân phận con người. Người mượn chính hình ảnh ấy để nói về cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người. Thập giá giống như cơn đau sinh nở của ơn cứu độ. Đồi Canvê giống như phòng sinh của nhân loại mới. Máu và nước từ cạnh sườn Chúa chảy ra là dấu chỉ một đời sống mới được khai sinh cho Hội Thánh. Qua đau khổ, sự sống mới xuất hiện. Qua thập giá, phục sinh bừng lên. Qua cái chết, ơn cứu độ được ban tặng.

Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay không chỉ nói với những người đang buồn. Bài Tin Mừng hôm nay nói với những người đang cố tìm ý nghĩa cho nỗi buồn của mình.

Có người buồn vì mất người thân.

Có người buồn vì gia đình đổ vỡ.

Có người buồn vì bệnh tật kéo dài.

Có người buồn vì con cái hư hỏng.

Có người buồn vì bị hiểu lầm.

Có người buồn vì thất bại trong công việc.

Có người buồn vì bị phản bội trong tình yêu.

Có người buồn vì sống tốt mà vẫn bị thiệt.

Có người buồn vì cầu nguyện lâu năm mà chưa thấy Chúa trả lời.

Có người buồn vì nhìn Hội Thánh, nhìn xã hội, nhìn gia đình mà thấy quá nhiều tổn thương.

Và Chúa không đến để trách: “Sao con buồn?” Chúa đến để nói: “Nỗi buồn của con không phải là dấu chấm hết. Nếu con biết đặt nỗi buồn ấy trong tay Thầy, Thầy có thể biến nó thành niềm vui.”

Đây là cái nhìn đức tin mà Tin Mừng mời gọi chúng ta. Nhìn cuộc đời bằng đức tin không có nghĩa là phủ nhận thực tế. Đức tin không làm cho nước mắt bỗng trở thành ngọt ngào. Đức tin không biến thập giá thành đồ trang trí dễ chịu. Đức tin không bảo ta rằng đau khổ là chuyện nhỏ. Không. Đức tin giúp ta thấy rằng đau khổ không phải là lời cuối cùng. Đức tin giúp ta tin rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh còn có Chúa Nhật Phục Sinh. Đức tin giúp ta hiểu rằng trong cơn đau sinh nở, một sự sống mới đang hình thành. Đức tin giúp ta đứng vững khi mắt chưa thấy ánh sáng nhưng lòng vẫn tin rằng bình minh đang đến.

Không có đức tin, đau khổ dễ trở thành tuyệt vọng.

Không có đức tin, hy sinh dễ trở thành cay đắng.

Không có đức tin, mất mát dễ trở thành oán trách.

Không có đức tin, nước mắt dễ trở thành hố sâu chôn vùi tâm hồn.

Nhưng trong đức tin, đau khổ có thể trở thành hy lễ. Hy sinh có thể trở thành tình yêu. Nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện. Thập giá có thể trở thành con đường dẫn tới phục sinh.

Tuy nhiên, chúng ta phải nói cho rõ: Kitô giáo không đề cao đau khổ vì đau khổ. Thiên Chúa không thích nhìn con người đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy một người mẹ khóc con, một người chồng mất vợ, một người bệnh quằn quại, một gia đình chia lìa, một người nghèo bị chèn ép, một tâm hồn bị nghiền nát. Thiên Chúa không phải là Đấng thích thử thách con người để xem con người chịu đựng được đến đâu. Thiên Chúa là Tình Yêu.

Điều Kitô giáo loan báo không phải là: hãy tìm đau khổ. Điều Kitô giáo loan báo là: khi đau khổ đến, đừng để nó trở thành vô nghĩa; hãy kết hợp nó với tình yêu của Đức Kitô.

Đau khổ tự nó không cứu độ. Chính tình yêu trong đau khổ mới cứu độ.

Thập giá tự nó là hình phạt. Nhưng khi Chúa Giêsu ôm lấy thập giá bằng tình yêu, thập giá trở thành cây sự sống.

Hy sinh tự nó có thể làm con người khô cằn. Nhưng hy sinh vì yêu thương làm con người nên giống Chúa.

Nước mắt tự nó có thể làm tâm hồn chìm xuống. Nhưng nước mắt dâng lên Chúa có thể trở thành lời cầu nguyện tinh tuyền nhất.

Bởi đó, câu hỏi không phải là: “Tại sao tôi phải đau khổ?” Câu hỏi sâu hơn là: “Tôi sẽ sống nỗi đau này như thế nào?”

Tôi sẽ sống nỗi đau này trong oán trách hay trong phó thác?

Tôi sẽ để nỗi buồn này làm tôi khép kín hay làm tôi biết cảm thông hơn với người khác?

Tôi sẽ để vết thương này biến tôi thành người cay nghiệt hay thành người nhân hậu hơn?

Tôi sẽ để thử thách này kéo tôi xa Chúa hay đưa tôi đến gần Chúa hơn?

Tôi sẽ để nước mắt này chỉ rơi xuống đất hay dâng lên như của lễ trước mặt Chúa?

Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.”

Đây là lời hứa rất đẹp. Niềm vui mà Chúa ban không phải là niềm vui mong manh của thế gian. Niềm vui thế gian có thể bị lấy mất rất nhanh. Một tin buồn có thể lấy mất niềm vui. Một lần thất bại có thể lấy mất niềm vui. Một lời nói nặng có thể lấy mất niềm vui. Một căn bệnh có thể lấy mất niềm vui. Một sự phản bội có thể lấy mất niềm vui. Một biến cố bất ngờ có thể làm đời ta đảo lộn.

Nhưng Chúa nói có một niềm vui “không ai lấy mất được.”

Đó là niềm vui của người biết mình được Chúa yêu.

Đó là niềm vui của người biết mình không mồ côi.

Đó là niềm vui của người biết thập giá không phải là điểm cuối.

Đó là niềm vui của người biết Chúa Phục Sinh vẫn đang sống.

Đó là niềm vui của người biết rằng dù mình mất nhiều thứ, mình vẫn còn Chúa.

Đó là niềm vui của người đã đi qua nước mắt và gặp lại Chúa trong chính nơi mình tưởng chỉ có bóng tối.

Niềm vui ấy không ồn ào. Không phải lúc nào cũng biểu lộ bằng tiếng cười. Có khi đó là sự bình an rất sâu nơi một người đang bệnh nặng nhưng vẫn tin. Có khi đó là nụ cười hiền của một người mẹ đã hy sinh cả đời cho con. Có khi đó là ánh mắt thanh thản của một người đã tha thứ cho kẻ làm mình đau. Có khi đó là sự vững vàng của một người bị mất mát nhưng không mất lòng tin. Có khi đó là lời cầu nguyện thầm lặng của một người đã khóc rất nhiều nhưng vẫn không bỏ Chúa.

Niềm vui của Chúa không phải là không còn đau, nhưng là biết rằng nỗi đau đã được Chúa ôm lấy.

Niềm vui của Chúa không phải là đời không còn bão, nhưng là biết Chúa đang ở trong thuyền.

Niềm vui của Chúa không phải là mọi sự theo ý mình, nhưng là tin rằng đời mình vẫn nằm trong tay Cha.

Niềm vui của Chúa không phải là khỏi thập giá, nhưng là biết thập giá có thể dẫn tới phục sinh.

Trong đời sống gia đình, có biết bao cơn đau sinh nở thiêng liêng. Một người mẹ sinh con không chỉ một lần trong phòng sinh. Người mẹ còn “sinh” con trong từng đêm thức trắng, từng bữa cơm lo toan, từng lần tha thứ, từng lời cầu nguyện, từng giọt nước mắt âm thầm khi con lầm lạc. Người cha cũng “sinh” con trong trách nhiệm, trong hy sinh, trong mồ hôi lao động, trong những lo lắng không nói ra. Vợ chồng cũng “sinh” lại tình yêu của mình qua những lần vượt qua hiểu lầm, qua những ngày tập nhường nhịn, qua những lúc phải chết đi cho cái tôi để gia đình được sống.

Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Muốn có một cộng đoàn hiệp nhất, phải có những người chấp nhận đau đớn sinh nở. Phải có người biết nhịn một lời. Phải có người biết lùi một bước. Phải có người biết bỏ qua một tự ái. Phải có người biết làm việc âm thầm mà không đòi ghi công. Phải có người biết cầu nguyện nhiều hơn phàn nàn. Phải có người biết xây dựng thay vì chỉ trích. Một cộng đoàn không tự nhiên mà bình an. Bình an được sinh ra từ những hy sinh âm thầm.

Trong đời sống Hội Thánh cũng thế. Tin Mừng không tự nhiên lan rộng nếu không có những con người chấp nhận cơn đau sinh nở của sứ mạng. Các Tông Đồ đã khóc, đã sợ, đã bị bắt bớ, đã chịu tù đày, đã đổ máu. Nhưng từ những hy sinh ấy, Hội Thánh được sinh ra và lớn lên. Bao thế hệ chứng nhân đã đi qua đau khổ để chúng ta hôm nay được nhận đức tin. Đức tin chúng ta đang có không phải là món quà rẻ tiền. Đức tin ấy được truyền lại qua mồ hôi, nước mắt, máu đào và lòng trung thành của biết bao người.

Vậy hôm nay, Chúa mời gọi ta đừng sợ cơn đau sinh nở trong đời sống thiêng liêng. Muốn trưởng thành, phải có lúc đau. Muốn yêu thật, phải có lúc hy sinh. Muốn nên thánh, phải có lúc được thanh luyện. Muốn sinh hoa trái, hạt lúa phải mục nát. Muốn phục sinh, phải đi qua thập giá.

Có những người muốn niềm vui phục sinh nhưng không muốn đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh.

Có những người muốn bình an nhưng không muốn từ bỏ tự ái.

Có những người muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn tha thứ.

Có những người muốn cộng đoàn hiệp nhất nhưng không muốn hy sinh ý riêng.

Có những người muốn theo Chúa nhưng không muốn vác thập giá.

Nhưng Tin Mừng hôm nay dạy ta: niềm vui sâu nhất thường được sinh ra sau những cơn đau được sống trong tình yêu. Không có cơn đau sinh nở, sẽ không có niềm vui của sự sống mới. Không có thập giá, sẽ không có phục sinh. Không có hy sinh, tình yêu chỉ còn là lời nói. Không có phó thác, đức tin chỉ là lý thuyết.

Vì thế, khi gặp đau khổ, đừng vội kết luận rằng Chúa vắng mặt. Có khi Chúa đang âm thầm sinh ra một điều mới trong ta. Khi lời cầu nguyện chưa được nhận lời, đừng vội nghĩ Chúa không nghe. Có khi Chúa đang dạy ta tin sâu hơn. Khi phải hy sinh mà chưa thấy hoa trái, đừng vội bỏ cuộc. Có khi hạt giống đang nảy mầm dưới lòng đất. Khi thấy mình đang khóc, đừng nghĩ nước mắt ấy vô ích. Có khi chính nước mắt đang rửa sạch tâm hồn ta khỏi những điều phù phiếm.

Điều cần nhất là đừng đau khổ một mình. Hãy đem nỗi buồn đến với Chúa. Hãy nói với Chúa thật lòng. Đừng cầu nguyện bằng những lời đạo đức giả tạo. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con đau.” “Lạy Chúa, con mệt.” “Lạy Chúa, con không hiểu.” “Lạy Chúa, con sợ.” “Lạy Chúa, con muốn bỏ cuộc.” Những lời cầu nguyện thật lòng ấy có khi đẹp hơn những lời hoa mỹ nhưng không chạm đến trái tim.

Chúa không sợ nước mắt của ta. Chúa chỉ sợ ta đóng cửa lòng và không cho Người bước vào. Chúa không trách ta vì yếu đuối. Chúa chỉ mời ta đừng rời khỏi Người. Vì Người đã hứa: “Thầy sẽ gặp lại anh em.” Mọi nỗi buồn của người môn đệ đều được đặt trong lời hứa ấy: Thầy sẽ gặp lại anh em. Không phải nỗi buồn gặp lại nỗi buồn. Không phải nước mắt gặp lại tuyệt vọng. Nhưng môn đệ sẽ gặp lại Thầy. Và khi gặp lại Thầy, lòng họ sẽ vui mừng.

Phục Sinh không chỉ là một biến cố đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước. Phục Sinh còn là cách Chúa tiếp tục bước vào đời ta hôm nay. Chúa Phục Sinh đến trong một lời Lời Chúa làm ta được nâng đỡ. Chúa Phục Sinh đến trong một lần xưng tội giúp ta bắt đầu lại. Chúa Phục Sinh đến trong Thánh Thể nuôi ta giữa hành trình mỏi mệt. Chúa Phục Sinh đến qua một người bạn biết lắng nghe. Chúa Phục Sinh đến qua một biến cố nhỏ làm ta nhận ra mình vẫn được thương. Chúa Phục Sinh đến khi ta tưởng mình không còn gì, nhưng lại khám phá rằng Chúa vẫn còn đó.

Hôm nay, có lẽ mỗi người hãy đặt trước Chúa một nỗi buồn cụ thể của mình. Đừng giấu. Đừng né tránh. Đừng giả vờ. Hãy đặt nó trước Thánh Thể. Hãy đặt nó dưới chân thập giá. Hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa, con không tự biến nỗi buồn này thành niềm vui được. Nhưng Chúa có thể. Xin Chúa chạm vào nỗi buồn của con. Xin Chúa thanh luyện nỗi buồn của con. Xin Chúa biến nước mắt của con thành lời cầu nguyện. Xin Chúa biến đau khổ của con thành hy lễ. Xin Chúa biến vết thương của con thành nơi tình yêu được sinh ra.”

Và rồi, cũng hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt dịu dàng hơn. Vì ai cũng có nỗi buồn. Có những người cười đó, nhưng bên trong đang vỡ. Có những người im lặng không phải vì họ không có gì để nói, nhưng vì họ đã quá mệt. Có những người khó tính vì họ đang mang một vết thương chưa lành. Có những người khô khan vì họ đã từng thất vọng quá nhiều. Nếu ta đã được Chúa an ủi trong nỗi buồn, ta cũng phải trở thành người an ủi cho anh chị em mình.

Đừng làm cho nỗi buồn của người khác nặng thêm bằng lời xét đoán.

Đừng làm cho vết thương của người khác sâu thêm bằng sự vô tâm.

Đừng làm cho người đang khóc phải cô đơn hơn vì thái độ lạnh lùng của ta.

Hãy học nơi Chúa Giêsu: nhìn nỗi đau bằng lòng thương xót, chạm vào vết thương bằng tình yêu, và mở ra cho người khác một niềm hy vọng.

Thứ Sáu tuần VI Phục Sinh đặt chúng ta giữa hai thực tại: nỗi buồn và niềm vui, thập giá và phục sinh, nước mắt và hy vọng. Chúa không hứa ta sẽ tránh được mọi đau khổ. Nhưng Chúa hứa một điều lớn hơn: nỗi buồn của ta có thể trở thành niềm vui, nếu ta sống nó trong Người.

Xin Chúa cho những ai đang khóc biết rằng nước mắt của họ không bị bỏ quên.

Xin Chúa cho những ai đang mệt biết rằng họ không phải đi một mình.

Xin Chúa cho những ai đang đau biết rằng đau khổ của họ có thể được biến đổi.

Xin Chúa cho những ai đang hy sinh trong âm thầm biết rằng tình yêu của họ không vô ích.

Xin Chúa cho những ai đang ở trong đêm tối biết tin rằng bình minh Phục Sinh đang đến.

Và xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống mọi biến cố đời mình bằng cái nhìn đức tin: không chạy trốn thập giá, không tôn thờ đau khổ, nhưng biết kết hợp mọi nỗi đau với tình yêu của Đức Kitô, để từ chính những đau đớn tưởng như làm ta gục ngã, một con người mới, một niềm vui mới, một sự sống mới được sinh ra.

Bởi vì Chúa đã nói, và lời Chúa không bao giờ sai: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Amen. 


 

CHÚA LÊN TRỜI DỌN CHỖ CHO CHÚNG TA-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Lễ Thăng thiên)

Con thuyền không bến

Một chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương bao la, hết ngày nầy qua ngày khác, hết năm nầy đến năm kia, thuyền cứ trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước mà không có bến đậu cho đến khi bị sóng to bão dữ nhận chìm thì thật là đau thương! 

Thế giới hôm nay cũng có lắm mảnh đời có chung số phận như con thuyền không bến nầy. Người ta sống mà chẳng biết mình sống vì mục đích gì, chết rồi sẽ ra sao… Cuộc đời của họ như thuyền trôi lênh đênh, không mục đích, không định hướng, không tương lai, không hy vọng… Vì thế, họ thấy cuộc sống là vô nghĩa và phi lý… Sống như thuyền không bến thì bi đát biết bao!

Cuộc phục sinh và lên Trời của Chúa Giê-su đem hy vọng cho thế giới

Chúa Giê-su là Thiên Chúa xuống thế làm người và đã sống trọn vẹn thân phận con người như chúng ta.

Ngài đã đi đến tận cùng đau khổ khi bị hành hình như một tội đồ gian ác nhất và chịu chết tủi nhục, thê thảm trên thập giá.

Ngài đã cảm nếm sự cô đơn cực độ khi hấp hối trên thập giá, bị người đời ghét bỏ, nhạo cười, phỉ nhổ…

Ngài đã rơi vào tối tăm bi thảm của kiếp người khi trở thành một thi hài không còn sự sống và chịu mai táng trong mồ hoang lạnh!

Thế rồi,

Nhờ quyền năng Chúa Cha, Ngài đã sống lại và lên Trời vinh hiển.

Qua việc phục sinh và lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su khai mở cho nhân loại một con đường tiến vào thiên đàng hồng phúc, nơi không còn đau khổ, tang thương, chết chóc nhưng tràn đầy hoan lạc và bình an.

Chúa Giê-su lên Trời không phải để rời xa chúng ta, nhưng Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta như lời Ngài nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em… Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 2-3).

Thế là từ đây, cửa Trời đã được mở ra, vương quốc trường sinh đã được dọn sẵn để đón nhận muôn dân muôn nước vào hưởng phúc đời đời.

Từ đây, đời người không phải như những con thuyền không bến, mà có một bờ bến tuyệt vời là thiên đàng, là chốn hạnh phúc thiên thu vạn đại đang chờ đón họ.

Nhờ sự lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su cho thấy cuộc đời rất đáng sống vì những chuỗi ngày ở trần gian là những bậc thang dẫn đưa nhân loại tiến đến quê Trời.

Hướng lòng về thượng giới

Biến cố Chúa Giê-su lên Trời hướng lòng trí chúng ta về quê hương đích thực của mình trên thiên quốc và thúc đẩy chúng ta phấn đấu để đạt tới mục tiêu cao quý nầy. Thánh Phao-lô trong thư Cô-lô-xê kêu gọi chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, thì hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới…” (Col 3,1-2).

Lạy Chúa Giê-su,

Sự phục sinh và lên Trời vinh hiển của Chúa đã đem lại cho đời người một hướng đi, đó là tiến về thiên quốc, đã mang lại cho đời sống con người một ý nghĩa cao đẹp, đã khơi lên trong lòng người niềm hy vọng mai đây được vui sống hạnh phúc trên thiên đàng.

Xin cho chúng con hôm nay luôn hướng lòng về thượng giới, cố gắng sống tốt lành thánh thiện để mai sau, được cùng nhau sum họp bên Chúa trên thiên quốc. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

****************************

Tin mừng Mát-thêu (28, 16-20)

16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên Trời dưới đất.   19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”


 

NỖI BUỒN MANG THAI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được!”.

Thomas Ice & Robert Dean đặt câu hỏi, “Khi nào chúng ta hành động như Satan?”. Đó là khi con người coi đau khổ như một ngõ cụt thay vì một lối mở; khi nước mắt bị xem là thất bại thay vì là dấu hiệu của một niềm vui đang thành hình.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không xem đau khổ như một ngõ cụt, nhưng như một lối mở. Như người phụ nữ đi qua cơn quặn đau để sinh một con người, nỗi buồn của người môn đệ cũng là một ‘nỗi buồn mang thai’.

Gioan mô tả đau khổ như một cuộc chuyển dạ. “Nỗi buồn” – lypē – của người môn đệ không bị phủ nhận; nó được biến đổi từ bên trong, như cơn quặn đau của người mẹ lâm bồn. Vì thế, nước mắt và khổ đau không là hết đường, nhưng là một lối mở, là khúc dạo đầu của một tạo thành mới; nơi đó, ‘nỗi buồn mang thai’ một niềm vui, và nước mắt bắt đầu học cách hát. Bởi có những mất mát âm thầm khiến con người không còn biết phải mở lòng với cuộc đời thế nào nữa. Ấy thế, “Có những mất mát làm đổi thay toàn bộ cấu trúc đời người!” – Judith Viorst.

“Anh em sẽ khóc lóc và than van!”. Chúa Giêsu không phủ nhận nước mắt trong đời sống người môn đệ; Ngài chỉ không cho phép nó trở thành tiếng nói cuối cùng. Trong Tin Mừng Gioan, đau khổ luôn mang một hậu âm; cơn quặn đau của người mẹ không khép lại nơi tiếng khóc, nhưng mở ra nơi sự xuất hiện của một sinh linh mới. Những giọt nước mắt tưởng như đang khép đời mình lại, như khi một tương lai sụp đổ, một tương quan tan vỡ, hay một lời cầu nguyện mãi không được đáp lại. Thật ra, đó chỉ là khúc dạo đầu của một niềm vui không ai lấy mất.

Với Phaolô, lời “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh!” – bài đọc một, không chỉ là một trấn an, nhưng là một bảo đảm thần linh. Chúa Phục Sinh không cất khỏi ông chống đối hay hiểm nguy; Ngài chỉ hứa, “Thầy ở với anh!”. Và như thế là đủ. Có những đêm, chỉ một lời “Thầy ở với anh” cũng đủ giữ người môn đệ khỏi gục ngã. Có lúc, điều giữ con người đứng vững không phải lời giải thích, nhưng là cảm thức mình không bị bỏ lại. Vì thế, giữa bách hại và bất an, Phaolô vẫn tiếp tục lên tiếng, vì ông biết lịch sử nằm trong tay Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca tung hô: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô là nơi ‘nỗi buồn mang thai’ đạt tới ý nghĩa sâu xa nhất. Thập giá tưởng như khép lại mọi hy vọng, lại trở thành khởi đầu của phục sinh. Trong Ngài, không đau khổ nào còn hoàn toàn vô nghĩa; nước mắt người môn đệ không chỉ biết khóc, nhưng dần học cách hát niềm hy vọng. Có những đêm con người tưởng mình đã mất hết, nhưng cũng chính từ những khoảng tối ấy, Thiên Chúa âm thầm làm nảy mầm một sự sống mới; vì chỉ có bóng tối mới đủ sâu để nảy mầm ánh sáng. “Chỉ người thầy thuốc mang thương tích mới thực sự chữa lành!” – Carl Jung.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nước mắt làm con tưởng mọi lối đi đều tắt, cho con biết, trong Chúa, đau khổ vẫn còn hậu âm hy vọng; và nỗi buồn vẫn có thể thai nghén niềm vui!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VI Phục Sinh

Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 16,20-23a

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. 21 Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. 22 Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được. 23a Ngày ấy, anh em không còn phải hỏi Thầy gì nữa.”


 

SỰ UỶ THÁC CỦA CHÚA GIÊSU – Lm Mark Link, S.J. 

Lm Mark Link, S.J. 

Một buổi sáng kia, bé Jenny bẩy tuổi ngồi ăn điểm tâm trên chiếc bàn nhỏ trong bếp.  Ngay lúc đó, cha em bước vào.  Ông vội vã đến cạnh bé để lấy món đồ gì đó.

 Bé Jenny đứng dậy, đi theo ông, nắm lấy cánh tay ông, và nói, “Bố ơi, bố có quên một điều.  Bố quên nói ‘good morning’ với con.” 

Ông ôm lấy bé, và nói, “Xin lỗi con.  Bố đang nghĩ đến những khó khăn ở sở làm.” 

Sau đó, tay vẫn ôm lấy cánh tay của bố, bé Jenny nói, “Bố ơi, sáng nay bố có cầu nguyện không?” “Không,” ông bố thú nhận một cách ngượng ngùng.

 Bé Jenny nói, “Đến đây với con.  Chỉ mất có vài phút thôi.”  Bé kéo ông ra khỏi phòng ăn và đi vào phòng của nó.  Dẫn bố đến góc phòng mà bé thường cầu nguyện, Jenny nói, “Bố ơi, nhắm mắt lại.”  Ông vâng theo.

 Sau đó, bé Jenny cũng nhắm mắt và nói nhỏ, “Chúa Giêsu nói, ‘Đừng sợ. Ta luôn ở với con.’”  Sau khi im lặng đôi chút, bé mở mắt ra và nói, “Bố hãy suy nghĩ về điều đó, và bố sẽ thấy an tâm.” 

Tôi thích câu chuyện này vì hai lý do.  Thứ nhất, chính là điều mà em gái này thi hành.  Thứ hai, chính là điều mà ông bố của em Jenny cần đến vào lúc đó. 

Ông cần nhớ đến lời Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong những lời sau cùng, như được chép trong Phúc Âm Mátthêu.  Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ luôn ở với anh em cho đến tận thế.” 

Điều đúng với ông bố của bé Jenny thì cũng đúng với tất cả chúng ta.

 Chúng ta có khuynh hướng quá bận rộn với những khó khăn ngày này sang ngày khác trong cuộc sống, chúng ta cần tạm ngưng hàng ngày, và nhớ lại điều mà bé Jenny đã nắm vững và diễn tả thật hay. 

Chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta ngay bây giờ, như khi Người hiện diện với các môn đệ khi còn sống ở thế gian.

 Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào ngày lễ Thăng Thiên hôm nay khi Chúa Giêsu lên trời.  Đó là một ngày lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ và bao gồm hai sự cử hành. 

Thứ nhất, lễ này mừng sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và sự chết và sự trở về vinh hiển với Chúa Cha trên thiên đường.  Ở đó Người ngự ở bên hữu Chúa Cha, với tư cách là đầu của Thân Thể, là Hội Thánh, và là vua của mọi tạo vật. 

Điều này đưa chúng ta trở về với câu chuyện của bé Jenny.  Lễ Thăng Thiên không mừng sự vinh hiển tột cùng của sự hiện diện bằng thân xác của Đức Giêsu trong thế gian.  Đúng hơn, lễ này mừng sự tiếp tục hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong sự vinh hiển mầu nhiệm qua một phương cách hoàn toàn mới và mạnh mẽ hơn. 

Lễ này vui mừng với sự kiện rằng Chúa Giêsu không còn hiện diện với chúng ta qua thân xác con người trong một phương cách vật chất.  Đúng hơn, Người hiện diện với chúng ta qua thân thể mầu nhiệm của Người trong một phương cách thiêng liêng.  Và vì thế điều đầu tiên chúng ta cử hành trong ngày lễ trọng đại này là sự lên trời vinh hiển của Chúa Giêsu; và Người tiếp tục hiện diện với chúng ta như đầu của thân thể Người, là Hội Thánh. 

Điều này đưa chúng ta đến chiều kích thứ hai của việc mừng lễ Thăng Thiên. 

Chúng ta vui mừng với sự uỷ thác mà Chúa Giêsu trao cho chúng ta, các môn đệ của Người.  Điều đó được nói rõ trong bài đọc một và bài phúc âm hôm nay. 

Trong bài đọc một, Đức Giêsu nói với các môn đệ:
Khi Thánh Thần ngự trên anh em, anh em sẽ được đổ đầy sức mạnh, và sẽ trở nên nhân chứng cho Thầy… cho đến tận cùng trái đất. CVTĐ 1:8

 Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng sau khi Người lên trời, họ phải trở về Giêrusalem để cầu nguyện và chuẩn bị đón Chúa Thánh Thần đến.  Khi Chúa Thánh Thần đến, họ sẽ được đổ đầy sức mạnh để ra đi và trở nên nhân chứng cho đến tận cùng trái đất. 

Chúng ta có thể so sánh lễ Thăng Thiên như người chạy đua tiếp sức chuyền lại cây gậy nhỏ cho người khác. 

Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì cho chúng ta đang quy tụ ở đây?

 Nó có nghĩa chúng ta được mời gọi để tiếp tục công việc mà Đức Giêsu đã khởi sự ở trần gian, khi Người hiện diện trong thân xác. 

Có phải điều này có nghĩa rằng chúng ta phải ra đi và thực sự rao giảng về Chúa Giêsu như Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã thi hành hay không? 

Thí dụ, có phải điều này có nghĩa là dựng lên một trạm thông tin trong trung tâm thương mại nào đó, và mời người ta đến uống nước và giải thích những gì chúng ta đang thi hành và tại sao chúng ta lại thi hành điều ấy không? 

Có lẽ đối với một số người điều này có nghĩa đúng như vậy, nhất là khi chúng ta về hưu, có tài chánh bảo đảm, và thuộc về một nhóm nào đó.

 Nhưng, với hầu hết chúng ta, có lẽ nó có nghĩa một điều gì đó ít gây ấn tượng hơn.  Tối thiểu, nó có nghĩa sống Phúc Âm trong đời sống hàng ngày.

 Tối thiểu, nó có nghĩa trở nên nhân chứng cho Chúa Giêsu trong chính gia đình mình, như bé Jenny. 

Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu nghiêm trọng nói về ơn gọi Kitô Hữu của mình, sứ điệp của Chúa Giêsu sẽ có ảnh hưởng trong thế giới chúng ta.

 Và, nếu chúng ta bước đi trong đức tin và sống đức tin ấy, nó sẽ tạo nên sóng lăn tăn trong thế gian.  Và nếu nhiều người chúng ta thi hành điều ấy, sóng lăn tăn sẽ trở nên một ngọn sóng lớn. 

Và ngọn sóng ấy – được thêm sức bởi Chúa Thánh Thần – sẽ canh tân bộ mặt trái đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ dám mơ tưởng.

 Đây là điều chúng ta cử hành trong ngày lễ hôm nay.

Trước hết, chúng ta cử hành sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong thân thể thiêng liêng của Người, là Hội Thánh.

 Thứ hai, chúng ta nhớ đến sự uỷ thác mà Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta là làm chứng cho Người – tối thiểu – bởi chính đức tin và gương mẫu của mình, như bé Jenny đã làm. 

Lm Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim

ĐƯỢC CHỌN, ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em!”.

Một bé gái mơ được đóng vai trong vở kịch cuối năm; đến ngày công bố, em chạy về, vui mừng nói với mẹ, “Mẹ ơi, con được chọn… làm người vỗ tay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Được chọn không luôn đồng nghĩa với được đứng ở trung tâm; nhiều khi, được chọn chỉ để làm người vỗ tay. Với Matthia, là để ở lại. Lời Chúa hôm nay mở ra một nghịch lý: không phải được chọn để làm điều gì đó, nhưng bạn và tôi ‘được chọn – để ở lại’.

Trong Tin Mừng Gioan, “được chọn” không phải là một đặc ân bên ngoài, nhưng là một lời gọi vào tương quan. Động từ ở lại – manere – trở thành trục: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”. Vì thế, được chọn không nhằm trao một vai trò, nhưng mở ra một tình trạng hiện hữu: ở lại trong tình yêu, trong Lời, trong chính Thầy. Và chỉ trong sự gắn bó ấy, người môn đệ mới sinh hoa trái; không phải từ khả năng, nhưng từ ơn ban. Như vậy, được chọn không phải để làm điều gì đó cho Chúa, nhưng để ở trong Ngài. “Ơn gọi Kitô hữu trước hết không phải là hành động, nhưng là ở trong Đức Kitô!” – Hans Urs von Balthasar.

Matthia xuất hiện trong một tiêu chuẩn rất Gioan: “phải là người đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu… và làm chứng Người đã phục sinh” – bài đọc một. Đôi khi, vỗ tay cho người khác cũng là một cách tán thưởng Thiên Chúa. Ở đây, điều quyết định không phải là vai trò, nhưng là một sự trung tín. Không rời bỏ khi lời chói tai, không tản mác khi nhóm tan tác; Matthia không được thấy, nhưng vẫn ở đó. Vì thế, việc ông được chọn không phải là một khởi đầu, nhưng là một bộc lộ: ở lại đôi khi đã là một hành động. Và như thế, được chọn không phải để bước lên, nhưng để thấy mình đã luôn thuộc về – để ở lại – và còn ở lại.

“Để anh em ra đi, sinh được hoa trái”. Hoa trái không bắt đầu từ hành động, nhưng từ sự kết hiệp. Cành nho không tự mình sinh trái; nó phải gắn liền với thân. Vì thế, điều quyết định không phải Matthia hay ai làm được gì cho Chúa, nhưng là có còn gắn liền với Ngài hay không. Khi còn gắn liền, hoa trái không còn là điều phải gắng làm nên, nhưng là điều được ban. Trung tín là một hình thái của quyền năng. “Khi Thiên Chúa ban thưởng công nghiệp, Ngài chỉ đang ban thưởng chính ân sủng của Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô luôn ở trong Chúa Cha, và từ Cha, Ngài đến với những ai bơ vơ tất tưởi. Nơi Ngài, “ở lại” không tách rời “được sai đi”. Matthia được chọn không phải từ chỗ nổi bật, nhưng từ một đời sống âm thầm ở lại; không được thấy, nhưng không rời. Bị quên lãng trong Chúa chính là được ghi nhớ đời đời. Và từ đó, ông được sai đi. Chúng ta cũng thế: được chọn không phải để bước ra phía trước, nhưng để hiện diện; không phải để được thấy, nhưng để được sai. Và trước hết, ‘được chọn – để ở lại’. “Đừng chờ đợi những việc lớn, hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn!” – Mẹ Têrêxa Cacutta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn làm điều lớn, xin cho con yêu điều nhỏ; con muốn nổi bật, xin cho con khiêm nhu; con muốn vội lên đường, xin cho con biết lân la với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thánh Matthia tông đồ, Thứ Năm, Tuần VI Phục Sinh

Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 15,9-17

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12 “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”