KHÁT VỌNG CỦA CON NGƯỜI – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Gioan (4, 5-42) Chúa nhật III Mùa Chay)

Không gì trên đời lấp đầy khát vọng của con người .

Con người có nhiều khao khát: khát tiền, khát quyền lực, khát danh vọng, khát hạnh phúc, khát lạc thú…

Nhưng không gì trên đời có thể lấp đầy những khát vọng đó. 

Chưa có tiền thì khao khát có được ít tiền. Có tiền rồi thì muốn có nhiều hơn và cứ thế mãi không dừng.

Chưa có quyền thì khao khát cho có, có rồi thì khát được nhiều quyền hơn… không bao giờ no thoả.

Vì thế, ông Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia người Đức cho rằng: “Những lạc thú (như ma túy, thuốc lá, rượu bia… chẳng hạn) mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm nhỏ bé bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói lúc này, rồi lát sau lại đói.”  

Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng (như ham muốn xác thịt chẳng hạn) không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao – thoả mãn, thoả mãn – khát khao…  cứ tiếp diễn mãi không cùng”, càng về sau lại càng tăng “đô” hơn. Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình. 

Người phụ nữ xứ Sa-ma-ri trong Tin mừng hôm nay (Ga 4, 5-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải lần lượt chia tay với cả năm, để mưu tìm hạnh phúc với người thứ sáu. Rốt cuộc chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời. Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi lấy nước. Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp…

Chính vì thế nên Chúa Giê-su khẳng định với người phụ nữ Sa-ma-ri: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại.” Với những lời này, Chúa Giê-su muốn cho ta biết không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.

 Chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy khát vọng con người  

Xưa kia, tâm hồn của Augustinô cũng bị giày vò bởi nhiều khao khát, nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy con tim khao khát của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mô-ni-ca, Augustinô mới khám phá Thiên Chúa là Nguồn Suối hạnh phúc vô tận, đáp ứng khát vọng của ngài và làm cho tâm hồn ngài dạt dào niềm vui. Bấy giờ lòng đầy hoan lạc, Augustinô thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy. Quả đúng như Lời Chúa Giê-su nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Gioan 4, 13-14) 

Lạy Chúa Giê-su,

Không có gì trên đời có thể lấp đầy khát vọng của con người. Vì thế, xin cho chúng con đừng mải mê, đua tranh tìm kiếm lạc thú và hạnh phúc chóng qua đời này, nhưng biết không ngừng tìm kiếm và khám phá Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực mang lại hoan lạc và sự sống vĩnh cửu cho chúng con.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

************************************* 

Tin mừng Gioan 4, 5-14

Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống! “8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? ” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.10 Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.”11 Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”13 Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”


 

NGUỒN SUỐI TRƯỜNG SINH – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 Nước là sự sống.  Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai.  Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước.  Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh.  Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này.  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời.  Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.”  Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.

 Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước.  Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu.  Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.

 Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a.  Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a.  Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ.  Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành.  Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo.  Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su.  Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.

 Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người.  Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn.  Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.

 Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng.  Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục.  Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng.  Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc.  Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng.  Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

 Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta.  Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh.  Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.”  Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa.  Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.

 Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào.  Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.

 Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thanh tẩy.  Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống.  Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô.  Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”

 Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn.  Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân.  Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

MỘT PHẦN ĐỊNH MỆNH-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”.

“Không có sứ giả nào, cũng không có thông điệp nào có thể thay thế được người nghèo mà chúng ta gặp trên hành trình cuộc đời, bởi trong họ – những “Nhà Tạm di động” của Ngài – chính Chúa Giêsu đến gặp chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy tha nhân là những “Nhà Tạm di động” của Chúa Kitô. Họ không phải là ‘một phần cảnh quan’ của cuộc sống chúng ta, nhưng là ‘một phần định mệnh’ của bạn và tôi!

Giêrêmia nhắc một sự thật không dễ nghe: “Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”. Đời sống không trôi qua vô nghĩa; từng chọn lựa, từng cái quay lưng, từng sự dửng dưng đều có trọng lượng vĩnh cửu. Như vậy, ai sống bác ái yêu thương, người ấy làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng họ nương thân, “Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca. Nhưng tin tưởng nơi Chúa không chỉ là hướng mắt lên trời; đó còn là cúi xuống trước những người đang đói, đang khát, đang nằm bên hè nhà; không chỉ đói cơm, nhưng còn đói cả “bánh Giêsu” và Tin Mừng của Ngài. “Không ai lên thiên đàng mà không có một lá thư giới thiệu từ những người nghèo!” – John Wooden.

Trái với những ai nương thân nơi Chúa, Tin Mừng thuật chuyện một phú hộ ẩn nương nơi của cải. Ông không bóc lột, không hành hạ ai; ông chỉ sống đời mình, mặc đẹp, ăn ngon, hưởng thụ. Trước cổng nhà ông, Lazarô nằm đó – không phải xa lạ, nhưng rất cụ thể. Thế mà với ông, Lazarô chỉ như một chậu cảnh, một bóng dáng quen thuộc không cần bận tâm. Ông không ghét Lazarô; ông chỉ không coi anh là điều gì liên quan đến mình. Và chính ở đó, ông đã chạm đến bi kịch: loại khỏi đời mình ‘một phần định mệnh!’.

Tội của người phú hộ là không coi Lazarô như một con người; với ông, Lazarô chỉ là một phần cảnh quan trang trí sân vườn. Một người mù đã từng nói, “Tôi thấy người ta đi đi lại lại như cây cối!”. Đúng thế, nhà phú hộ xem ra chỉ thấy Lazarô ‘ngang mức cây cối!’. “Sự dửng dưng hạ thấp con người thành sự vật!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Chúa Kitô không đứng trên cao nhìn nhân loại như một “cảnh quan” tội lỗi. Ngài không cứu chúng ta từ khoảng cách an toàn, nhưng đi xuống tận cùng phận người, chạm đến những Lazarô của lịch sử và cuối cùng trở thành một Lazarô bị loại trừ bên ngoài thành. Trên thập giá, Ngài lật ngược mọi tính toán: ai cúi xuống với người nghèo là đang cúi xuống với Ngài; ai khép lòng trước họ là khép lòng trước chính Con Thiên Chúa. Vì thế, người nghèo không phải là một chi tiết phụ của cuộc đời chúng ta; họ là ‘một phần định mệnh’, nơi vận mệnh của chúng ta được quyết định. Bởi nơi họ, Chúa Kitô chờ được nhận ra – và nơi họ, định mệnh đời bạn và tôi được viết nên. “Người nghèo không phải là một vấn đề cần giải quyết, nhưng là một mầu nhiệm cần bước vào!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con biết, con luôn nợ người nghèo, họ là ‘một phần định mệnh’ của con. Cho con biết chia sẻ khi còn kịp, vì con sẽ chỉ mang theo những gì con đã cho đi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần II Mùa Chay

Con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 16,19-31

19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây : “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. 20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, 21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. 22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ. 24 Bấy giờ ông ta kêu lên : ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát ; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !’ 25 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Con ơi, hãy nhớ lại : suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. 26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.’

27 “Ông nhà giàu nói : ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, 28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này !’ 29 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.’ 30 Ông nhà giàu nói : ‘Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.’ 31 Ông Áp-ra-ham đáp : ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”


 

TÌM MỘT LỐI VÀO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp!”.

Thế kỷ XVII, Oliver Cromwell kết án tử một người lính. Giờ hành quyết sẽ đến khi chuông giới nghiêm đổ. Nhưng đêm ấy, chuông không đổ. Vị hôn thê của anh đã leo lên tháp, ôm lấy quả chuông, để thân mình hứng từng nhịp va. Khi bị đưa xuống, cô chìa hai bàn tay rách bươm đầy máu. Cromwell lặng người: “Chuông không đổ, máu cũng không!”. Tình yêu đã tìm được một lối vào trái tim thép lạnh.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến một lối đi – và một tình yêu không rút lui. Lối đó mang tên khổ đau. Trên đó, Giêrêmia của Cựu Ước sẽ tìm một lối ra; đang khi Giêsu của Tân Ước sẽ ‘tìm một lối vào’.

Giêrêmia bị dân mình tố cáo, họ đào hố hãm hại ông. Giữa những người từng là bạn hữu, ông kêu lên. “Lạy Đức Chúa, chúng đào hố nhằm làm con mất mạng!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca đồng tình, “Lạy Chúa, xin lấy tình thương mà cứu độ con!”. Trước cái chết gần kề, vị ngôn sứ dường như đang tìm một lối ra; ông van nài Chúa cất khỏi ông những gì là đau khổ. “Đau khổ thôi là đau khổ khi nó tìm được ý nghĩa!” – Viktor E. Frankl.

Chúa Giêsu thì ngược lại, Ngài cương quyết lên Giêrusalem; ở đó, thập giá đang đợi. Vậy mà dù đang đi lên với Thầy, các môn đệ xem ra chỉ muốn đi xuống! Bằng chứng là cuộc đối thoại không đáng có của “môn đệ mười ba” – bà Zêbêđê – và điều này đã khiến “mười môn đệ kia tức tối”. Xót xa thay! Đang khi Thầy ngưỡng chuyện trên trời, trò lại vọng chuyện dưới đất; đang khi Thầy lo chuyện bị nộp, trò tính chuyện trị vì; đang khi Thầy tìm vui lòng Cha, trò muốn thoả dạ mẹ. Rõ ràng, Thầy trò lệch pha! Thầy ‘tìm một lối vào’, trò ‘tìm một lối ra!’. “Thiên đàng trên đất là một lựa chọn bạn phải thực hiện, chứ không phải một nơi bạn cần tìm!” – Wayne Dyer.

Chúng ta cũng có những Giêrusalem của mình: hiểu lầm không thể nói, bổn phận nặng đến nghẹt thở, hy sinh không ai biết. Vì thế, chúng ta chỉ muốn tìm một lối ra cho khỏi đau. Nhưng Tin Mừng không cho trốn: đừng thoát khỏi thập giá, hãy bước vào nó với niềm tin; đừng giữ mình yên ổn, hãy để tình yêu làm mình vỡ tan; đừng sợ mất, hãy dám trao ban! Và khi dám ‘tìm một lối vào’ giữa bổn phận và tha thứ, bạn và tôi chạm đến trái tim Thiên Chúa.

Anh Chị em,

“Này chúng ta lên Giêrusalem!”. Tình yêu của vị hôn thê với đôi tay đầy máu đã được đền đáp bằng mạng sống của người cô yêu. Tình yêu của Con Thiên Chúa với đôi tay, đôi chân và thân xác đầy máu cũng được đền đáp bằng phần rỗi đời đời của cả nhân loại! Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta sẽ vượt qua bất kỳ thập giá nào. Thay vì ‘tìm một lối ra’, chúng ta ‘tìm một lối vào’; tháp thánh giá đời mình vào thánh giá đời Ngài. Và nhất định nó cũng sẽ trở thành công cụ ân sủng cho bạn, cho tôi, cho cả thế giới! “Tình yêu muốn là thật phải trả giá – phải đau – phải làm chúng ta trút bỏ chính mình!” – Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tìm những lối thoát khi đối diện với khổ đau. Dạy con ôm và yêu nó không chỉ để cứu linh hồn con, mà còn cứu cả thế giới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần II Mùa Chay

Họ sẽ kết án xử tử Đức Giê-su.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 20,17-28

17 Khi ấy, lúc sắp lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, và dọc đường Người nói với các ông : 18 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, 19 sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy.”

20 Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su, có các con bà đi theo ; bà bái lạy và kêu xin Người một điều. 21 Người hỏi bà : “Bà muốn gì ?” Bà thưa : “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy.” 22 Đức Giê-su bảo : “Các người không biết các người xin gì ! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không ?” Họ đáp : “Thưa uống nổi.” 23 Đức Giê-su bảo : “Chén của Thầy, các người sẽ uống ; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được.”

24 Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó. 25 Nhưng Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 26 Giữa anh em thì không được như vậy : Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. 27 Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. 28 Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

GIẤC MƠ GHẾ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường!”.

“Khiêm nhường không chỉ là cúi mắt bước đi… mà là khiêm nhường của Chúa Giêsu kết thúc trên thập giá; đây là quy tắc vàng cho mọi Kitô hữu: kiên trì và hạ mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc lại quy tắc vàng: kiên trì và hạ mình. Những ai thích danh xưng, quên phục vụ đúng nghĩa… cuối cùng, sẽ thấy mình mơ giữa ban ngày những ‘giấc mơ ghế’.

Chúng ta thường mất ngủ chạy theo những lễ nghi, hết sức cho những gì người ta có thể nhìn thấy, tự hào về sự chăm chỉ, nhiệt thành, mà quên nhìn vào trái tim mình. Trong giáo phận, trong nhóm, trong gia đình hay cộng đoàn, ai cũng muốn được khen, muốn “ghế cao”, coi chức tước, danh xưng như là thước đo giá trị. Chúng ta có thể giảng dạy, cầu nguyện lớn tiếng, làm mọi điều đúng, nhưng lòng vẫn đau đáu tìm một cái gì đó hơi hướm thế tục; nói rõ ra, tìm kiếm việc được nhìn nhận trong mắt mọi người và nhất là kẻ trên. Chính trong cuộc đua tội nghiệp đó, chúng ta mất tự do, sĩ diện; và từ đó, ‘giấc mơ ghế’ nảy mầm.

Mùa Chay, mùa “rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác”; mùa “tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình” – bài đọc một. Vì nếu chúng ta chỉ chăm chú hình thức, tất cả chỉ là rỗng không. Bởi lẽ, chỉ “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn  cứu độ Chúa Trời” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải hoàn hảo nghi thức, mà hoàn hảo trong lòng; nói cách khác, hạ mình tôn trọng Chúa Kitô trong các “nhà tạm di động” của Ngài thật sự. “Không có khiêm nhường, không thể có nhân bản!” – John Buchan.

Chúng ta có thể thức trắng vì mục vụ, nhưng cũng có thể mất ngủ vì ghế. Trái tim bận tìm chỗ nhất không bao giờ tìm thấy bình an, trong khi trái tim biết hạ mình lại sống dồi dào. Chúa Giêsu mời chúng ta rửa chân cho nhau, trao đời sống, chọn chỗ cuối, vác thập giá, bước theo con đường Ngài đã đi – không mơ ghế, không tìm chỗ đứng, chỉ giữ tình yêu và sự hiệp nhất. Chỉ trong cầu nguyện, chúng ta mới thấy tất cả danh dự, ghế cao, lời khen… là gió thoảng; và chỉ khi trái tim biết quỳ gối chúng ta mới nhận ra cái gì là giá trị thực. Khi những giấc mơ ghế nhoà đi, chúng ta mới thấy Chúa và được Chúa nhìn thấy; bấy giờ, ân sủng Ngài mới bắt đầu hành động.

Anh Chị em,

Nhìn lên thập giá, chúng ta thấy Đức Giêsu, Đấng không giữ ghế, không tìm danh xưng, nhưng từ bỏ hết vì chúng ta. Ngài trao tình yêu không điều kiện, chịu đóng đinh thay nhân loại, hầu chuộc lại chúng ta là những bạn hữu của Ngài. Vậy, nếu đã đi quá xa, bạn và tôi hãy quay trở lại, học nên giống Ngài, để nhận ra rằng quyền lực lớn nhất không phải ở vị trí cao, mà ở trái tim biết cúi xuống. “Khiêm nhường nghĩa là nhận ra chúng ta không ở thế gian này để biết mình có thể trở nên quan trọng đến mức nào, mà để thấy mình có thể tạo ra khác biệt đến mức nào trong đời người khác!” – Gordon B. Hinckley.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con từ bỏ mọi khao khát được nhìn nhận, để trái tim con chỉ tìm thấy niềm vui trong phục vụ và hạ mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần II Mùa Chay

Họ nói mà không làm.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 23,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng : 2 “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. 3 Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm. 4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. 5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. 6 Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, 7 thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là thầy.

8 “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy ; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. 9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. 10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người chỉ đạo, vì anh em chỉ có một vị chỉ đạo, là Đấng Ki-tô. 11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. 12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.”


 

CAO HƠN QUYỀN TRƯỢNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ!”.

“Lòng thương xót cao hơn quyền trượng của một vị vua, nó là thuộc tính của Thiên Chúa!” – William Shakespeare.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt lòng thương xót trên mọi quyền lực. Thiên Chúa không cai trị bằng quyền trượng, nhưng bằng xót thương. Chính xót thương mới thật sự ‘cao hơn quyền trượng’.

Nếu lòng thương xót cao hơn quyền trượng, thì đó không chỉ là một nét đẹp của Thiên Chúa, mà là cách Ngài hiện hữu. Quyền trượng tạo ra khoảng cách; lòng thương xót bước xuống, chạm vào, mang lấy. Quyền trượng khiến người ta cúi đầu; lòng thương xót khiến người ta ngẩng lên. Chúa Giêsu không dạy chúng ta một chiến lược cai trị, nhưng trao cho chúng ta một lối sống: “Hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ!”. “Kitô giáo không phải là một học thuyết hay suy đoán, nhưng là một đời sống; không phải một triết lý sống, nhưng là chính sự sống và một tiến trình sống động!” – Samuel Taylor Coleridge.

Nhưng nhân từ không phải là yếu mềm. Nhân từ đòi chúng ta từ bỏ quyền trả đũa, buông xuống thứ “công lý” đầy tự ái mà chúng ta thường nắm chặt. Đã bao lần chúng ta giữ trong lòng một bản cáo trạng âm thầm, nhắc đi nhắc lại lỗi lầm của người khác như thể đó là cách bảo vệ mình? Bao lần chúng ta tự phong cho mình chiếc quyền trượng của kẻ bị tổn thương? Thế nhưng, Tin Mừng không mời chúng ta mạnh hơn người khác; Tin Mừng mời chúng ta giống Cha trên trời. Và điều ấy luôn ‘cao hơn quyền trượng’.

Đaniel không đứng ngoài dân để phán xét; ông đứng trong dân để cầu xin – bài đọc một. Ông không nói “họ đã phạm tội”, nhưng “chúng con đã phạm tội”. Một lời cầu mang tính quốc gia, nhưng thấm đẫm cá nhân. Ông đặt cược vào lòng thương xót của Thiên Chúa hơn là vào sự công chính của mình. Chính ở đó, sự xấu hổ được mở ra thành hy vọng. “Nơi nào không có tình yêu, hãy đặt vào đó tình yêu, và bạn sẽ khơi dậy được tình yêu!” – Gioan Thánh Giá. Thánh Vịnh đáp ca thưa lên: “Chúa không cứ tội chúng con mà xét xử”. Nếu Thiên Chúa đã đối xử với chúng ta như thế, thì còn lý do gì để chúng ta tiếp tục giữ quyền trượng?

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không nắm quyền trượng, nhưng dang tay; không tuyên án, nhưng xin tha: “Lạy Cha, xin tha cho họ”. Trái tim bị đâm thâu của Ngài không giữ lại bất cứ bản án nào; nó chỉ tuôn trào cảm thương. Ở đó, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót không phủ nhận công lý; nó hoàn tất công lý bằng tình yêu. Theo Ngài, chúng ta không được hứa sẽ chiến thắng theo cách thế gian hiểu, nhưng được hứa sẽ nên giống Cha. Và khi dám buông xuống chiếc quyền trượng bé nhỏ của mình để nắm lấy trái tim biết xót thương, chúng ta không lạc nhịp với trái tim của Thiên Chúa. “Quyền lực mà một người lãnh đạo Kitô hữu sử dụng không phải là quyền uy, nhưng là tình yêu; không phải sức mạnh, nhưng là gương mẫu!” – John Stott.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin lấy khỏi con chiếc quyền trượng tự ái; đặt vào con một trái tim biết xót thương; cho con biết yêu như Chúa yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần II Mùa Chay

Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 6,36-38

36 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” 


 

Tám mối Phúc Thật là gì?- Gioan Phùng Văn Phụng

Gioan Phùng Văn Phụng

Tám mối phúc thật còn gọi là Hiến Chương Nước Trời hay Bài Giảng trên núi.

Đọc Tin Mừng theo thánh Mátthêu ở chương 5, từ câu 3 đến câu 12, và đọc các Mối Phúc để hiểu được con đường tươi đẹp biết bao, vui vẻ, an toàn biết bao và cũng hạnh phúc biết bao mà Chúa đã đề nghị cho chúng ta nghe theo và áp dụng vào cuộc sống.

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.(1)

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.(2)

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

SUY NIỆM:

(Luca chương 6 câu 20 đến 23 cũng nói đến các phúc này).

Đọc các mối phúc thật này nghe rất là nghịch lý, không thuận tai chút nào.

1-Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.

Tâm hồn nghèo khó là gì? Đó chính là tâm hồn đơn sơ, không kiêu ngạo, không cho rằng giỏi nhất, không ai hơn mình được. Vì có tâm hồn nghèo khó nên biết nương cậy vào Chúa, suy phục Chúa, luôn luôn sống với tâm tình vâng phục, có Chúa ở cùng khi làm mọi việc. Lúc nào cũng có tâm tình tạ ơn Chúa khi còn sống trên cõi đời này. Khi làm việc, dầu thành công hay thất bại vẫn tạ ơn Chúa.

Còn nếu ta đã giàu có, thành công, có địa vị cao, có chức vụ, quyền lực trong xã hội liệu ta còn có nghĩ đến Chúa, nương cậy vào Chúa nữa không?

2- Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Hiền lành là gì? Người ta thường xem sự hiền lành là nhu nhược, không dám phản ứng khi bị đàn áp, gây gỗ, mắng chửi. Thật ra hiền lành chính là nhân đức – kiềm chế sự nóng giận. Không phải ai cũng làm được đâu. Phải thực tập thường xuyên, tự rèn luyện bản thân hàng ngày, dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ cái TÔI đi, tức là dẹp bỏ sự nóng giận. Cậy vào sức của mình ta, ta không làm được. Nhưng cậy dựa vào sức Chúa, chúng ta sẽ làm được. Chúa Giêsu nói: “Hãy bắt chước ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. (2)

3-Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Sầu khổ là gì? Là nhìn thấy và cảm nghiệm, chia xẻ những đau khổ của người khác, cũng như đau khổ của chính mình vì tội lỗi của chính mình. Ngày nay, người ta thường dùng chữ “vô cảm” để nói đến những người vô tâm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân mình. Biết sầu khổ nghĩa là không vô cảm, biết đau cái đau của đồng loại, thương cảm những đau khổ của người khác. Những người sầu khổ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

4-Phúc thay ai khao khát nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Khát khao nên người công chính tức là ý thức về điều ngay thẳng, tốt lành. Làm việc với sự công bình, yêu thương, hợp với đạo lý làm người, với lương tâm nhắc nhở. Người công chính không làm vì lợi mình mà hại người.

5-Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Xót thương người là cảm thông với nỗi đau của người khác, biết đau với nỗi đau của người khác… đặt mình vào vai trò, vị trí của người khác, cùng chia xẻ sự khổ nạn với Chúa Kitô, nên một với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Xót thương người khác vì sự đau đớn về vật chất, sự đau khổ về tinh thần, tâm linh của người khác. Cần học hỏi, thực hành lòng xót thương như Thầy chí thánh là Chúa Giêsu là đấng xót thương.

6-Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Có tâm hồn trong sạch là không ích kỷ, không tham lam, không tư lợi, hết lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em đồng loại.

7-Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Xây dựng hoà bình là đem bình an đến cho người chung quanh, hàn gắn các vết thương giữa con người với nhau.

8-Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ.

Bị bách hại, bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa vì Chúa, là vui vẻ chấp nhận sự khó khăn, đau khổ… Dầu bị bách hại, bị loại trừ, bị sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa mà không oán hờn, trách móc. Nhờ đó chúng ta có được bình an trong tâm hồn, hạnh phúc trong cuộc sống, đó chính là nước trời hiện diện giữa chúng ta trong đời này rồi phải không?

Chính 8 mối phúc thật này là căn tính của người kitô hữu, đó là cách thức, là con đường người môn đệ của Chúa phải đi.

Tám mối phúc thật hay Hiến Chương Nước Trời, đây là mục đích chính mà người theo Chúa Giêsu kitô cố gắng đạt được để có nước trời (thiên đàng) nơi trần thế này và được hưởng thiên đàng vĩnh cửu mai sau.

Gioan Phùng Văn Phụng

Tháng 02/2022

Xem thêm:

(1)Nước trời là gì vậy Thầy?

https://dongten.net/2020/07/23/nuoc-troi-la-gi-vay-thay/

(2) Hiền lành và khiêm nhường

http://www.vncatholic.net/hien-lanh-va-khiem-nhuong/ 

ĐI TRONG MÙ SƯƠNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi!”.

“Đức tin là bước đầu tiên ngay cả khi bạn không nhìn thấy toàn bộ cầu thang!” – Martin Luther King.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay đặt trước chúng ta hai con người được gọi “rời đi” khi phía trước còn mờ khuất – Ápram và Phêrô. Một già, một trẻ; cả hai phải buông điều mình muốn giữ, rời điều mình bám víu, để dám bước – ‘đi trong mù sương’.

Ápram rời xứ sở, họ hàng, nhà cha; không bản đồ, không bảo đảm, chỉ một lời hứa. Ông không biết mình sẽ tới đâu, chỉ biết Ai đang gọi. Đức tin bắt đầu khi chúng ta bước đi mà không nắm chắc tương lai, chỉ nắm chắc lời hứa – bước vào điều không thấy, sống với điều vượt quá trí hiểu, và chấp nhận ‘đi trong mù sương’. “Kitô hữu của tương lai sẽ là một nhà thần nghiệm, nếu không sẽ không tồn tại!” – Karl Rahner.

Phêrô thì khác. Ông không phải rời xứ sở, nhưng phải rời ánh sáng. Taborê rực rỡ đến mức ông muốn dựng lều, giữ lại khoảnh khắc ấy. Nhưng ánh sáng không được ban để trú ẩn. Nếu dừng lại trên núi, các ông sẽ không bao giờ chấp nhận một vị Thầy bị lột trần, bị khạc nhổ, bị treo giữa trời đất; nếu bám lấy dung nhan chói lọi ấy, các ông sẽ vấp ngã trước dung nhan tả tơi. Điều họ thấy chỉ là một tia chớp của Phục Sinh loé lên giữa hành trình lên Giêrusalem – và biến hình chỉ là một trạm dừng. “Hãy để mọi điều đến với con: đẹp đẽ lẫn kinh hoàng. Chỉ cần tiếp tục đi. Không cảm xúc nào là cuối cùng!” – Rainer Maria Rilke.

Bạn và tôi cũng có những Taborê riêng: một thành công, một cảm xúc thiêng liêng, một lời khen. Nhưng Chúa không ban ánh sáng để ai đó ngủ quên; Ngài trao nó để chúng ta đủ sức bước tiếp; và chỉ cho thoáng thấy dung nhan, để khi dung nhan ấy bị bầm dập, chúng ta không bỏ chạy. Vì thế, dù lời hứa còn xa, dù cầu nguyện có lúc sáng bừng rồi lại lặng thinh, chúng ta vẫn xác tín, Thiên Chúa “đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người”, không dựa trên công trạng nhưng theo ân sủng – bài đọc một. Ơn gọi ấy không miễn cho ai khỏi ‘đi trong mù sương’; nó dạy chúng ta trông cậy: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Trên đồi Calvariô, Đức Kitô đã bước vào tận cùng “mù sương” của phận người. Ngài tự rời bỏ vinh quang, đi lên triền dốc của hiểu lầm, phản bội và thập giá. Trên Taborê, Ngài chói sáng; nhưng lưng chừng đồi Sọ, Ngài tan nát. Nhưng cũng chính nơi dung nhan bị biến dạng ấy, vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ. Ngài không dựng lều trên Taborê để trốn khỏi đau khổ; Ngài dựng lều giữa nhân loại bằng chính thân xác bị trao nộp. Theo Ngài là chấp nhận bước đi, không phải vì thấy rõ mọi sự, nhưng vì tin Đấng đã đi trước vào đêm tối và mở lối bằng Phục Sinh. “Đừng bỏ mình cho tuyệt vọng. Chúng ta là dân Phục Sinh và Alleluia là bài ca của chúng ta!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mù sương phủ lối, cho con tin hơn là thấy; khi muốn dựng lều trên đỉnh sáng, xin kéo con xuống; khi thập giá lạnh lẽo, xin giữ con ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, NĂM A

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC –  Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

 Một vị sư già ngồi bên đường, lặng lẽ trong khoảnh khắc thiền định, đôi mắt nhắm nghiền như đang chìm vào biển sâu của tâm linh, đôi chân khoanh lại, tay đan chéo dưới vạt áo, tưởng như đã quên hết những lo toan của đời thường.  Chính lúc ấy, mạch suy nghĩ của ông bị chột dứt bởi giọng nói khàn khàn, vội vã của một võ sĩ – một người mang trong mình cả vẻ dữ tợn, cả sức mạnh và cả những bão giông nội tâm.  “Thưa sư thầy, sư thầy hãy cho tôi biết, thế nào là thiên đường, thế nào là địa ngục?” – lời nói ấy như bỗng làm rung chuyển không gian tĩnh lặng ấy, đưa cuộc đối thoại giữa ánh sáng và bóng tối ra khỏi giới hạn của sự im lặng. 

Vị sư già, với đôi mắt đã qua bao tháng năm tu hành, không vội phản ứng, chỉ từ từ mở đôi mắt ra, trong đó hiện lên nụ cười mỉm đầy trí tuệ và từ bi.  Võ sĩ đứng bên cạnh, tâm hồn rối bời, như đang bị cuốn vào lửa thiêu đốt của sự nóng giận và bất an.  “Anh muốn biết bí mật của thiên đường và địa ngục ư?” – vị sư già nói, giọng nói trầm ấm mà đầy uy quyền, như muốn đưa người nghe lùi lại vài bước để suy ngẫm về chính bản chất của mình.  “Anh là loại người thô tục, tay chân dính đầy bùn bẩn, đầu tóc rối bời, râu ria bẩn thỉu.  Trên kiếm gỉ sét loang lổ, nhìn đã biết là không giữ gìn đàng hoàng.  Người xấu xí như anh, mẹ anh cho anh ăn mặc như một tên hề, anh lại còn đến hỏi tôi bí mật của thiên đường và địa ngục sao?” 

Lời nói của vị sư như một chiếc gậy trừng phạt, đánh thức ngay trong lòng võ sĩ cảm giác xấu hổ và bừng dậy một niềm tự nhận thức khắc nghiệt.  Chẳng mấy chốc, võ sĩ hằn học chửi một câu, rồi lấy kiếm “soạt” ra, giơ lên trên đầu vị sư già.  Mặt võ sĩ đỏ bừng, gân trên cổ phồng lên, tất cả vẻ ngoài như đang chuẩn bị cho một trận chiến sinh tử.  Khi mà lưỡi kiếm dường như đã vung xuống, đe dọa cắt đứt dòng thời gian, vị sư già nhẹ nhàng nói: “Đây chính là địa ngục.”  Trong chốc lát ấy, khi mũi kiếm dừng giữa không trung, võ sĩ như bỗng ngỡ ngàng, cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu trong tâm hồn mình, như một tia sáng le lói len qua bầu trời âm u. 

Ngay sau đó, vị sư già lại tiếp lời: “Đây chính là thiên đường.”  Lời nói ấy không chỉ đơn thuần là một lời đáp, mà như một chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của triết lý sống sâu sắc.  Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, võ sĩ cảm nhận được rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những địa danh xa xôi, mà là những trạng thái nội tâm, là sự phản chiếu của suy nghĩ và hành động của mỗi con người.  Mọi ý ác, lời ác, việc ác mà chúng ta để lại, dù nhỏ bé hay lớn lao, đều có thể biến tâm hồn ta trở nên u ám, như lạc vào vực sâu của địa ngục.  Ngược lại, mọi hành động thiện lành, lời nói chan chứa yêu thương, mọi việc làm cao đẹp đều là những viên gạch xây nên thiên đường nội tâm, không chỉ cho chính bản thân ta mà còn cho cả những ai mà ta chạm tới.

 Câu chuyện ấy mang đến cho chúng ta một thông điệp nhân văn sâu sắc: thiên đường và địa ngục tồn tại ngay trong trái tim mỗi con người.  Nếu ta để cho cái ác, cho những cám dỗ phù phiếm len lỏi, thì địa ngục sẽ tự mở rộng bên trong ta, biến những suy nghĩ tiêu cực thành rào cản ngăn cách ta với tình yêu thương chân thành.  Ngược lại, nếu mỗi người biết tự chủ, biết nhận thức và lựa chọn sống theo những giá trị đích thực, thì dù cuộc sống có bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cám dỗ ảo mộng, thì trong mỗi chúng ta vẫn có thể tạo dựng nên một thiên đường nhỏ, một vũ trụ của sự bình an, của lòng từ bi và của niềm tin vững chắc vào cái thiện. 

Có lẽ, đối thoại với thiên đường và địa ngục không phải là một cuộc chiến đối đầu giữa thiện và ác ở bên ngoài, mà là một hành trình tự khám phá và tự rèn luyện bản thân.  Đó là quá trình con người nhận thức, đánh giá và lựa chọn giữa những gì làm phong phú tâm hồn và những gì lại đẩy ta vào vực thẳm của sự tự hủy.  Khi chúng ta học cách nhận ra, phân biệt được giữa tiếng gọi của cám dỗ và ánh sáng của đức tin, chúng ta chính là dần dần mở ra cánh cửa cho một cuộc sống trọn vẹn hơn, một cuộc sống nơi mỗi suy nghĩ, mỗi hành động đều được thẩm định bởi một trái tim biết yêu thương và biết tha thứ. 

Những câu nói của vị sư già đã khắc sâu vào tâm trí người võ sĩ rằng, chỉ có khi nào ta biết từ chối những thứ không tốt, biết giữ gìn nội tâm trong sáng, ta mới có thể sống trong ánh sáng của một thiên đường.  Và thật kỳ diệu biết bao, ngay cả những người vốn dĩ có vẻ ngoài “bẩn thỉu”, dường như cũng có thể tìm thấy con đường dẫn đến sự giải thoát, nếu họ biết lắng nghe tiếng lòng, nếu họ dám đối diện với chính bản thân mình và học cách yêu thương, tha thứ.  Đó chính là bài học nhân sinh sâu sắc, rằng thiên đường hay địa ngục, thiện hay ác, không chỉ là những khái niệm trừu tượng, mà là những lựa chọn sống mỗi ngày, là những hành động nhỏ bé nhưng lại có sức mạnh thay đổi cả cuộc đời. 

Có lẽ, mỗi chúng ta nên tự nhủ rằng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, dù có bao nhiêu thử thách, chỉ cần lòng tin và sự kiên định, chúng ta đều có thể biến chính “địa ngục” của những sai lầm và tội lỗi thành “thiên đường” của sự yêu thương, của sự tự do nội tâm.  Câu chuyện của vị sư già và người võ sĩ không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt một triết lý sống, mà còn như một lời nhắc nhở thiêng liêng rằng, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, nơi mà tiếng nói của lòng nhân ái luôn vang vọng, nơi mà mỗi hành động thiện lành được tôn vinh như một viên ngọc quý hiếm giữa dòng chảy của thời gian. 

Và cuối cùng, chúng ta hãy nhớ rằng, thiên đường và địa ngục không phải là những nơi chốn xa xôi, mà là những trạng thái tâm hồn – đó là kết quả của những suy nghĩ, của những hành động mà chúng ta lựa chọn mỗi ngày.  Nếu ta biết yêu thương, biết tha thứ và luôn sống chân thành, thì ngay cả trong những khoảnh khắc tối tăm nhất, ta cũng có thể tìm thấy ánh sáng dẫn lối, ta có thể biến chính “địa ngục” của những cám dỗ vào thành “thiên đường” của niềm tin và hạnh phúc. 

Lm. Anmai, CSsR

From: Langthangchieutim


 

HOÀN THIỆN, MỘT CHỖ NÚP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện!”.

“Không gì hoàn hảo trên thế gian! Không ai hoàn hảo, không chi hoàn hảo! Vậy mà Thiên Chúa lệnh cho con người phải hoàn thiện tất cả; ngay cả bản thân nó, nó được gọi để nên hoàn thiện!” – Steffens.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa một thế giới không gì hoàn hảo, Lời Chúa hôm nay vẫn mời gọi chúng ta phải nên hoàn thiện. Tuy nhiên, có khi chúng ta tìm sự thánh thiện không phải để thuộc về Chúa, mà để an toàn – và ‘hoàn thiện’ bỗng thành ‘một chỗ núp!’.

Môsê nhắc dân: “Anh em sẽ là một dân thánh hiến cho Đức Chúa” – bài đọc một. “Dân thánh hiến trước hết là dân thuộc về, là dân sống một mối tương quan. Và “Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời!” – Thánh Vịnh đáp ca – ở đây, không phải là không bao giờ vấp ngã; nhưng là biết mình đang đi trong đường lối Chúa.

Nhưng Chúa Giêsu không để chúng ta yên trong cảm giác “giữ luật là đủ”, Ngài đẩy lằn ranh ra xa hơn: yêu kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ ngược đãi, làm ơn mà không tính toán. Chuẩn mực không còn là người chung quanh, nhưng là chính Thiên Chúa: “Như Cha anh em trên trời”. ‘Hoàn thiện’, vì thế, không phải là khép kín trong một vòng tròn công chính của riêng mình; nhưng là mở ra đến mức bao dung với cả người không xứng đáng. “Thiên Chúa đang tìm những con người qua đó Ngài có thể làm điều không thể!” – A.W. Tozer.

Ở đây, một cơn cám dỗ rất tinh vi xuất hiện. Chúng ta có thể sống nghiêm túc, đạo đức, kỷ luật – nhưng tất cả để bảo vệ hình ảnh của mình; có thể giữ mình “không sai”, nhưng không dám yêu “quá mức”; có thể tuân giữ luật, nhưng không để lòng mình bị xáo trộn bởi xót thương. Chúa Giêsu không gọi chúng ta nên hoàn thiện theo kiểu đó. Ngài gọi chúng ta nên hoàn thiện trong tình yêu. Không chỉ “đừng giận”, nhưng hãy làm hoà; không chỉ “đừng ghét”, nhưng hãy chúc lành; không chỉ “đừng trả đũa”, nhưng hãy trao cả má bên kia. Bấy giờ, ‘hoàn thiện’ là hành trình ra khỏi mình; không còn là ‘một chỗ núp’ kín đáo cho cái tôi đạo đức. “Điều khiến bạn quảng đại cũng khiến bạn dễ bị tổn thương!” – Henri Nouwen.

Anh Chị em,

Nhìn lên Đức Kitô, rõ ràng, sự hoàn thiện mang khuôn mặt của Đấng bị đóng đinh. Ngài không hoàn thiện theo nghĩa tránh đau khổ, nhưng trong việc yêu đến cùng. Trên thập giá, không có chỗ núp nào cả, chỉ còn tình yêu trần trụi hiến dâng. Nếu chúng ta nên hoàn thiện như Cha, thì con đường ấy không phải là xây một đời sống không vết xước; nhưng là để tình yêu và ân sủng Cha chảy qua những vết xước đó; không phải trở nên người không bao giờ sai; nhưng là người luôn biết quay về, biết tha thứ, biết bắt đầu lại. “Ân sủng bao hàm bản tính, và bản tính được hoàn thiện bởi ân sủng!” – Karl Rahner. Khi ấy, “hạnh phúc thay” không còn là khẩu hiệu đạo đức, nhưng là trải nghiệm của người dám lần ra khỏi chỗ núp.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ẩn mình sau tấm áo đạo đức; đừng để con trú ẩn trong những thành tích thiêng liêng; xin kéo con ra khỏi mọi chỗ núp, để con dám yêu như Cha!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần I Mùa Chay

Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 5,43-48

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? 47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? 48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”


 

CHỦ QUAN ĐẠO ĐỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời!”.

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế, đến nỗi – nếu không cẩn thận – với những chủ quan đạo đức, chúng ta sẽ tự hào về sự khiêm tốn của mình. Khi điều này xảy ra, tốt trở nên xấu; nhân đức trở thành tệ nạn; công chính trở nên bất chính!” – Paul W. Powell.

Kính thưa Anh Chị em,

“Sự kiêu ngạo rất tinh tế”. Lời Chúa hôm nay vạch trần một căn bệnh: ‘chủ quan đạo đức’, thứ bệnh đã ăn sâu nơi các kinh sư và người Pharisêu – những kẻ cho mình là công chính.

Cần bao nhiêu công chính để vượt qua họ? Có lẽ… chẳng bao nhiêu! Bởi lẽ, công chính của họ là thánh thiện bên ngoài, nghĩa là chẳng có gì thánh. Bên trong những linh hồn ấy là gì? Là tự mãn, là sự lừa dối bản thân bằng những ‘chủ quan đạo đức’ khi họ cho mình thánh hơn người. Đọc Phúc Âm, chúng ta dễ nhăn mũi trước những biệt phái hợm hĩnh ấy; nhưng trong thực tế, bạn và tôi cũng rất dễ mù loà với chính mình! “Đừng ném đá hàng xóm nếu cửa sổ nhà mình làm bằng kính!” – Louise Slater.

Người thời Êzêkiel cũng vấp ngã vì một ảo tưởng ấy. Họ nghĩ mình ngay thẳng, còn Thiên Chúa thì không! Vì thế, Ngài phán, “Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?” – bài đọc một. Lằn ranh giữa chính trực và giả chính trực mỏng hơn chúng ta tưởng. Đôi khi, chỉ cần thêm một chút tự mãn, một lời biện hộ khéo léo, chúng ta đã bước qua lằn ranh ấy mà không hề hay biết. “Giữa điều được nói mà không có ý, và điều có ý mà không được nói, phần lớn tình yêu bị đánh mất!” – Kahlil Gibran.

Đó là lý do chúng ta phải xét mình với một ý thức sâu sắc về sự giới hạn và khốn cùng của bản thân mỗi ngày. Tôi đang theo đuổi thánh thiện thực, hay chỉ ruổi theo một thứ thánh thiện ảo để bảo vệ cái tôi? Tôi thích vờ làm thánh hay muốn nên thánh thật? Đừng quên, Chúa thấu suốt tâm can từng gang tấc. Vì thế, thái độ đúng đắn nhất của chúng ta vẫn là xin Ngài xót thương. Thánh Vịnh đáp ca thưa thay chúng ta, “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”.

Anh Chị em,

“Nếu như Ngài chấp tội!”. Mùa Chay là mùa tháo cởi những lớp vỏ đạo đức và ném xa các ‘chủ quan hợm hĩnh’. Hãy chiêm ngắm Giêsu Toàn Thánh – Đấng hiền lành và khiêm nhượng – cũng là Đấng từng nói, “Nào ai bắt tôi được lỗi gì!”. Kiêu ngạo và thánh thiện như dầu với nước, không bao giờ hoà tan. Thiên Chúa không ở chung với cái tôi phình to. Hoặc tôi hạ mình xuống, hoặc Ngài rút lui khỏi đời tôi. Ở đâu cái tôi chiếm chỗ, ở đó – rất ít – nếu có chỗ cho Chúa! Ân sủng và tình bạn nghĩa thiết với Chúa không thể kết hợp trong một tâm hồn kiêu căng! Không thể có một thoả hiệp nào giữa Thiên Chúa và một linh hồn kiêu hãnh! Hoặc linh hồn sẽ tự buông bỏ, hoặc Chúa ‘sẽ không còn’ là Thiên Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tự hào về một điều gì ngoài tội lỗi của con; cứu con khỏi những huyễn danh; giúp con liệng xa những chủ quan hợm hĩnh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần I Mùa Chay

Hãy đi làm hoà với người anh em ấy đã.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 5,20-26

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26 Thầy bảo thật cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.”


 

THAY ĐỔI BẢN THÂN-TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Sống trong cuộc đời, chúng ta bị ràng buộc bởi nhiều thứ: phong tục làng xóm; não trạng cổ xưa; môi trường xung quanh; sự ích kỷ của bản thân và những thói quen từ nhỏ.  Những điều kể trên, có những điểm tốt lành đáng trân trọng, nhưng cũng có những bất cập cần thay đổi.  Trong tất cả những điều cần thay đổi, điều khó nhất – mà lại là quan trọng nhất – là thay đổi bản thân.  Để chấp nhận thay đổi bản thân, cần có sự can đảm và kiên trì, vì sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng.

 Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì bạn chưa bỏ gì cả, vì chính bạn sẽ dần dần quơ góp lại những gì bạn đã bỏ trước đó” (Đường Hy vọng 3).  Đức Hồng y cũng viết ở một nơi khác: “Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, thì có khác gì ở nhà đâu? (DHV 5).  Quả vậy, thay đổi con người là điều kiện tiên quyết để thay đổi xã hội.  Không thể có một môi trường xanh và sạch nếu không có những con người ý thức bảo vệ môi trường.  Không thể có một cộng đoàn thánh thiện, nếu mỗi tín hữu không cố gắng để hoàn thiện bản thân.  Nhiều khi chúng ta cứ kêu gào đòi thế giới phải thay đổi, nhưng cái gọi là “thế giới” lại là một khái niệm rất tổng quát mơ hồ.  Thế giới là tất cả mọi người; tất cả mọi người cũng có nghĩa không một ai.  Thế giới bao gồm những cá nhân, và thế giới sẽ thay đổi, khi cá nhân thay đổi.

 Khởi đi từ sự kiện Chúa Giê-su biến hình, Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Chay mời gọi chúng ta “lên núi” để thay đổi bản thân.  Đây là một điều kiện thiết yếu để sống Mùa Chay có ý nghĩa.

 Trước hết chúng ta cần thay đổi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ.  Các môn đệ là những người đã theo Chúa một thời gian dài ba năm.  Tuy vậy, cái nhìn của các ông về Thầy mình vẫn còn sơ sài, phiến diện và mang tính trần tục.  Khi Đức Giê-su nói đến thập giá, các ông bối rối đến mức hoảng loạn.  Tại Xê-da-rê Phi-líp-phê, khi nghe Thầy nói về cuộc khổ nạn và sự chết, Phê-rô vội can ngăn và bị Chúa mắng là Sa-tan.  Trong khi Chúa nói về cuộc thương khó, thì các môn đệ lại tranh giành xem ai là người lớn nhất, và đòi phải có một vị trí trong tương lai (x. Mt 20,17-28).  Cuộc biến hình giúp các môn đệ thanh lọc hình ảnh về Đấng Mê-si-a mà các ông đang có trong đầu.  Qua sự kiện biến hình, Chúa Giê-su muốn nói với các ông: Người là Thiên Chúa quyền năng và vinh quang.  Người sẽ chịu đau khổ, nhưng sẽ được tôn vinh.  Lời Chúa Cha phán từ đám mây, vừa như một lời giới thiệu, vừa như một khẳng định về sứ mạng của Chúa Giê-su trên trần gian.  Khi lên núi, tâm trạng ba môn đệ nặng nề chán nản; khi xuống núi, các ông cảm thấy lạc quan vui mừng.

 Tiếp đến, chúng ta cần xem xét lại lòng trung tín của chúng ta đối với Chúa.  Một ngày nọ, Áp-ra-ham nghe tiếng Chúa truyền bỏ mọi sự để lên đường đến nơi Ngài sẽ chỉ cho.  Chúa không nói ông sẽ đi đâu.  Áp-ra-ham cũng không vặn hỏi xem mình sẽ làm gì để sống.  Ông tin vào Thiên Chúa, và ông chắc một điều là Chúa chỉ muốn cho ông những điều tốt lành.  Xã hội hôm nay tự nhận là vô thần, nhưng trong thực tế, càng ngày càng có nhiều thứ thần tượng.  Những ngẫu thần hôm nay là tiền bạc, người nổi tiếng, minh tinh màn bạc hay ngôi sao bóng đá.  Trong xã hội tự nhận là văn minh, lại nhan nhản trên mạng những hình thức bói toán mê tín dị đoan.  Giữa một rừng những ngẫu tượng đó, Ki-tô hữu làm thế nào để trung tín với Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa mà Đức Giê-su giới thiệu với chúng ta?  Giữa một mớ âm thanh hỗn tạp của những tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào để chúng ta chọn lọc ra tiếng Chúa và phân định được thánh ý Ngài?  Sự can đảm dám thay đổi bản thân sẽ giúp chúng ta đạt được những điều đó.  Như Áp-ra-ham dứt khoát lên đường, mỗi chúng ta cũng cần can đảm lên đường khởi đầu một lộ trình mới.  Đó là lộ trình theo Đức Giê-su và luôn phấn đấu để trở nên giống như Người.

 Tin vào Thiên Chúa là tin vào Đấng làm cho cái không thể trở thành điều có thể.  Thánh Phao-lô mời gọi người môn sinh của mình là Ti-mô-thê đồng lao cộng khổ trong sứ vụ rao giảng Chúa Giê-su.  Nhìn theo nhãn giới trần gian, khẳng định Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại là điều không tưởng, vì đi ngược lại với thực tại của thế giới con người.  Ấy vậy mà lịch sử đã chứng minh, khởi đi từ một nhóm nhỏ các môn đệ có kiến thức khiêm tốn và địa vị bình dân ở xứ Ga-li-lê-a, Danh Đức Giê-su đã được loan báo cho cả thế giới.  Trong xã hội hiện đại hôm nay, nhiều người coi đức tin vào Đức Giê-su như một ảo tưởng không còn hợp thời.  Ki-tô hữu là người tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần.  Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, chúng ta không thể hiểu nổi.  Đường lối ấy, thánh Phao-lô gọi là “kế hoạch và ân sủng” của Thiên Chúa.  Mặc dù hèn kém và hữu hạn, Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi tham gia kế hoạch diệu kỳ ấy.

 Cuộc lên núi của ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê cần phải cố gắng và chấp nhận mệt mỏi.  Tuy vậy, chính trên núi mà các ông đã được chiêm ngưỡng Thầy mình trong một bộ dạng hoàn toàn khác với ngày thường.  Cũng chính trên núi này, các ông thay đổi quan niệm về Thầy mình.  Mùa Chay thực sự là một cuộc “leo núi”, giúp ta hướng thượng, để nhìn lại mình và can đảm chấp nhận thay đổi bản thân.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim