DẮT NGƯỜI – MÌNH LẠC – Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

“Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi!”.

“Ai muốn hiểu trọn lời Đức Kitô, phải uốn cả đời mình theo đời Ngài!” – Thomas à Kempis.

Kính thưa Anh Chị em,

Một người có thể thuộc lời Thầy mà đời mình chẳng giống Thầy. Đó là nghịch lý Lời Chúa hôm nay cảnh báo: ‘dắt người – mình lạc’.

Bản Hy Lạp gọi người “học hết chữ” là katērtisménos. Động từ gốc cũng được dùng khi người ta vá một tấm lưới rách. “Học hết chữ” vì thế không chỉ là học đủ bài, nhưng để Chúa Giêsu nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch và uốn đời mỗi người nên giống Thầy. Một tấm lưới chưa được vá vẫn có thể thả xuống biển, nhưng sẽ đánh mất chính những gì nó vừa gom được. Đời môn đệ cũng có thể như thế: sau một đời lăn lộn, cuối cùng lại thấy mình trắng tay.

Chúa Giêsu không bảo người môn đệ bỏ mặc cái rác trong mắt anh em; Ngài chỉ buộc họ phải nhìn mắt mình trước. Có khi, mải sửa lỗi người khác, chúng ta khỏi phải nhìn vào mình; mải chỉ đường, lại quên chân mình đang bước về đâu. “Cái xà” không chỉ là một tội lớn, nhưng còn là ảo tưởng rằng mình sáng vì đang cầm đèn. Chiếc đèn có thể soi rất xa, mà ngay dưới chân nó vẫn tối. “Hãy tự hỏi đâu là con đường đúng, và trước hết, hãy tự mình bước đi trên con đường này!” – Gioan Phaolô II.

Phaolô hiểu rõ nguy cơ ấy. Dù đã “trở nên tất cả cho mọi người”, ông không lấy hoa trái nơi người khác làm bảo chứng cho mình. Ông bắt thân thể phục tùng, “kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” – bài đọc một. Không phải vì khinh chê thân xác, nhưng vì ông

không để việc tông đồ thay thế cuộc hoán cải của bản thân. Có thể giúp người khác đến nơi mà chính mình bỏ cuộc giữa đường. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắc lại đích đến: “Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái!”. Đích ấy không phải thành công, nhưng là chính Chúa.

Có lúc, bạn và tôi giống người cầm đèn dẫn kẻ khác giữa đêm: ánh sáng soi bước chân họ, còn lòng mình vẫn khuất tối. Bi kịch thiêng liêng không bắt đầu khi chúng ta nói sai, nhưng khi điều đúng chỉ đi qua môi mà không đi vào đời sống. Tin Mừng không lấy khỏi tay chúng ta ngọn đèn; Chúa chỉ mời mỗi chúng ta trở lại phía sau Ngài, để chính mình được ánh sáng chạm tới trước khi soi lối cho ai. Bởi câu hỏi không chỉ là tôi đã đưa ai đến gần Chúa, nhưng tôi có còn theo sát Ngài không?

Anh Chị em,

Đức Kitô không đứng xa để chỉ đường; Ngài trở nên con đường. Trên thập giá, Ngài mang lấy sự lạc hướng của nhân loại và đi qua cái chết trong niềm vâng phục Chúa Cha. Phục Sinh cho thấy lối tự hiến ấy chính là đường về với Chúa Cha. Vì thế, nên giống Thầy không phải là lặp lại lời Ngài, nhưng để mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài thành hình trong đời mình. Chỉ ai bước sau Đức Kitô mới có thể dẫn người mà không lạc. “Ai biết Ngài là biết đường, vì chính Ngài là Đường!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch; để con vừa chỉ đúng đường, vừa trung thành bước tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Sáu Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho môn đệ dụ ngôn này: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ? 40 Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? 42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra’, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!”


 

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”

 Thao Teresa

 Khi một đan sĩ dòng Carthusian qua đời, vị đan sĩ sẽ được chôn cất nơi huyệt mộ do mình tự đào lúc còn sống và không để bảng tên. Đây là một nét rất đặc biệt trong linh đạo của Dòng Carthusian (Dòng Thánh Bruno)

Các đan sĩ Carthusian sống đời chiêm niệm, thinh lặng và cô tịch, hướng toàn bộ đời mình về Thiên Chúa. Cái chết vì thế không được nhìn như sự kết thúc, mà là cuộc vượt qua để đi vào sự sống đời đời với Chúa.

Việc chôn cất đơn sơ thể hiện tinh thần linh đạo của dòng.

Không đề tên trên mộ : nhấn mạnh sự khiêm nhường và từ bỏ cái tôi: đời tôi không cần được người đời ghi nhớ, chỉ cần được Thiên Chúa biết đến.

Mộ phần rất đơn sơ : nhắc rằng cuối cùng mọi người đều trở về với bụi đất.

Áo dòng trắng : người đan sĩ ra đi trong chính tu phục của đời sống thánh hiến.

Không đặt nặng hình thức của quan tài : biểu lộ sự đơn sơ và nghèo khó trong nghi thức an táng.

Khuôn mặt được phủ khăn trắng : một dấu chỉ của sự phó thác và chờ đợi ngày phục sinh.

Còn chuyện tự đào huyệt khi còn sống, nếu có trong một cộng đoàn hay thời kỳ cụ thể, thì hiểu như một việc thực hành mang tính khổ chế và nhắc nhớ về cái chết, chứ không phải vì các đan sĩ “mong chết”. Trái lại, nó giúp họ sống từng ngày với ý thức rằng cuộc đời trần thế chỉ là hành trình hướng về Thiên Chúa.

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”


 

SỰ THA THỨ PHỤC HỒI PHẨM GIÁ CON NGƯỜI – Pt Giuse Trần Văn Nhật

Pt Giuse Trần Văn Nhật

 Trong thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm một số quốc gia và họ bắt các binh lính người Anh giam ở Thái Lan để cưỡng bách lao động là làm đường xe lửa trên chiếc cầu bắc ngang qua sông Mae Klong.  Đường xe lửa này được mệnh danh là “Đường Rầy Tử Thần” (Death Railway) bởi vì quá nhiều tù nhân bị chết khi làm con đường này.

 Một hôm khi nhóm tù nhân đi lao động trở về, họ phải đi qua hai trạm kiểm soát các dụng cụ.  Ở trạm thứ nhất, lính Nhật thấy số cuốc xẻng bị thiếu một chiếc.  Viên sĩ quan Nhật vô cùng tức giận và rút súng ra lệnh phải tìm cho bằng được chiếc cuốc bị thiếu hoặc một người phải chết thay.  Trong bầu khí nặng nề đó, một tù nhân bước ra chịu chết.  Viên sĩ quan Nhật lạnh lùng cầm lấy một chiếc xẻng đánh ông này thật tàn nhẫn cho đến chết.  Đám tù nhân còn lại kéo lê cái xác đẫm máu của đồng bạn đi qua trạm kiểm soát thứ hai để trở về nhà tù.  Nhưng ở trạm này, số cuốc xẻng lại không thiếu một chiếc!  Điều đó có nghĩa đã có sự đếm sai ở trạm thứ nhất.  Tin này sau đó được lan truyền khắp nhà tù: Một người vô tội đã chết để cứu những người khác!  Ý nghĩa của cái chết này ảnh hưởng thật sâu đậm đến tinh thần các tù nhân toàn trại.  Khi Đồng Minh chiến thắng nước Nhật, các tù nhân người Anh được giải thoát — bây giờ họ gầy gò như những bộ xương — đi ngang qua các binh lính Nhật, giờ đây là tù binh, nhưng thay vì đánh đập để trả thù, họ nói, “Không còn hận thù nữa.  Không còn giết hại nữa.  Điều chúng ta cần bây giờ là sự tha thứ.”

 Câu chuyện này được kể lại và được dựng thành cuốn phim “Miracle on the River Kwai” (Phép lạ trên sông Kwai) giúp chúng ta có thể thấy được một vài điểm quan trọng mà Đức Giêsu đã đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay về sự tha thứ.

 Điểm thứ nhất, sự tha thứ chấm dứt hậu quả của một hành vi sai trái.  Khi ai đó lỗi phạm đến chúng ta, sự lỗi phạm đó có thật và gây thiệt hại.  Nếu chúng ta trả thù, hậu quả của hành vi sai trái đó vẫn tiếp tục.  Nếu các tù nhân Anh Quốc tiếp tục trả thù binh lính Nhật, sẽ có thêm người chết, sẽ gây ra đau khổ.  Nhưng khi họ tha thứ, hậu quả của hành vi sai trái đã ngừng tại đó.

 Mục đích thứ hai của sự tha thứ là để biến sự dữ thành sự thiện.  Trả thù thì dễ nhưng đó là sự dữ, chỉ có sự tha thứ mới biến đổi sự dữ thành sự thiện.  Đó cũng là câu chuyện của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Đức Hồng Y từng bị cộng sản cầm tù trong 13 năm.  Tuy bị đối xử cách bất công nhưng cố Hồng Y vẫn yêu thương người cộng sản, bởi vì theo lời cố Hồng Y, “Chúa Kitô đã dậy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô Hữu.”  Làm thế nào cố Hồng Y có thể không thù hận người giam cầm mình?  Qua các sáng tác của cố Hồng Y, như cuốn Đường Hy Vọng, Năm Cái Bánh và Hai Con Cá, v.v…, chúng ta biết cố Hồng Y đã biến sự dữ thành sự thiện.  Thay vì dùng thời gian tù đầy để gậm nhấm sự đau khổ vì bất công và suy nghĩ cách trả thù, cố Hồng Y đã dùng thời gian đó để hoán cải những người canh tù, để suy nghĩ về lời Chúa và viết thành sách, để lại những tư tưởng quý giá cho hậu thế.  Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị cầm tù về thể xác nhưng người không để sự dữ giam hãm đời mình trong hận thù và cay đắng.  Người đã biến sự dữ thành sự thiện.

 Mục đích thứ ba của sự tha thứ là để làm chủ chính mình.  Vào năm 2004, bà Jo Nodding, người Anh, bị một thiếu niên 19 tuổi, tên Darren, dùng bạo lực để hãm hiếp bà.  Sau phiên tòa xử, Darren đã bị kết án chung thân khổ sai.  Khoảng một năm sau, một tổ chức xã hội có tên Liên Lạc Các Nạn Nhân đã đến gặp bà và đề nghị một cuộc gặp gỡ giữa bà và Darren với mục đích hòa giải và xây dựng.

 Làm thế nào bà Jo có thể gặp lại can phạm đã gây đau khổ cho mình?  Bà cho biết, sau khi bị hãm hiếp, bà luôn sống trong một tâm trạng sợ hãi, và hoang mang.  Tâm trạng bất an ấy làm chủ đời bà.  Bây giờ, việc gặp lại can phạm, bà cho đó là cơ hội để làm chủ tình hình, để lấy lại tâm trạng bình an mà can phạm đã cướp mất của bà.  Sau những chuẩn bị lâu dài, mãi đến sáu năm sau (tháng Giêng 2010) cuộc gặp gỡ mới xảy ra trong khuôn viên nhà tù.

 Trong cuộc gặp gỡ, bà đã kể lại mọi chi tiết của vụ hãm hiếp, từ đầu cho đến cuối, cũng như cảm tưởng sợ hãi và xấu hổ của bà, và Darren đã khóc hối hận.  Trước khi cuộc gặp gỡ kết thúc bà nói với Darren, “Điều tôi sẽ nói với em là điều mà nhiều người rất khó hiểu, nhưng tôi tha thứ cho em về những gì em đã làm đối với tôi.  Sự hận thù chỉ tiêu diệt con người, và tôi muốn em hãy vươn lên và thành công trong đời.  Nếu em chưa tha thứ cho chính mình, thì tôi hy vọng trong tương lai em sẽ có thể.”

 Sau đó bà Jo cho biết, “Tôi không nói như thế để bào chữa cho hành động sai trái của Darren, hoặc coi thường sự kiện đã xảy ra, nhưng vì tôi muốn chính tôi được thoát khỏi gánh nặng của sự muộn phiền, và tôi hy vọng Darren có thể học được điều gì đó để vươn lên, và tha thứ cho chính mình.”

 Bà kết luận, “Khi rời căn phòng đó, tôi có cảm tưởng như mình bay bổng trên không.  Cuộc gặp gỡ đó đã chấm dứt một giai đoạn, bởi vì tôi đã nói những gì tôi muốn nói và đã làm chủ lại cuộc đời mình.  Tôi biết điều đó có ảnh hưởng mạnh đến Darren.  Tôi không còn là nạn nhân, tôi là người sống sót.  Tôi có thể biết chắc rằng từ một điều xấu xa đã xuất phát những điều tốt lành.” 1

 Ba câu chuyện nói trên phản ánh nét đẹp của sự tha thứ, mà qua câu trả lời cho ông Phêrô, Đức Giêsu đã dậy chúng ta phải đối xử thế nào với những người xúc phạm đến mình.  Tha thứ không phải là sự hèn nhát bởi vì không dễ để tha thứ.  Cần phải dũng cảm mới có thể tha thứ, và nghĩ cho cùng sự tha thứ có lợi cho bản thân chúng ta.

 Không những thế, trong dụ ngôn hôm nay còn có hai điểm quan trọng để khích lệ chúng ta hãy tha thứ: thứ nhất, những gì chúng ta có là do Thiên Chúa ban, nếu chúng ta có bị thiệt hại vì ai đó vay mượn mà không trả, nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không mất gì.

 Ý nghĩa này được thấy qua hai con nợ và hai chủ nợ.  Một người nợ rất nhiều, nhiều đến độ nhà vua phải ra lệnh bán chính ông và vợ con ông để trả nợ.  Nhưng sau khi ông nài nỉ, nhà vua đã thương xót và không những tha cho ông mà còn tha cả số nợ của ông.  Ngược lại, một người khác nợ ông một món tiền rất nhỏ, nhưng ông lại không tha thứ mà nhất định đưa họ vào tù để trả nợ.  Hành động này đến tai nhà vua và ông vô cùng tức giận đến độ ra lệnh tra tấn người này cho đến khi trả hết số nợ.

 Sự tức giận của nhà vua khiến chúng ta phải ngạc nhiên vì dường như thái độ của nhà vua đi ngược với sự tha thứ.  Nhưng chính sự mâu thuẫn đó khiến chúng ta phải nghĩ đến lý do.  Người nợ đầu tiên, khi là con nợ, ông muốn được nhà vua thương xót.  Nhưng khi là chủ nợ, ông lại muốn sự công bằng mà thực sự, số tiền ông cho vay mượn là tiền của nhà vua, chứ không phải của ông.

 Tương tự, chúng ta nợ Thiên Chúa rất nhiều — từ mạng sống đến của cải và mọi ơn phúc.  Lẽ ra chúng ta phải sử dụng đời sống và của cải để phục vụ Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, nhưng chúng ta lại quan tâm đến chính mình nhiều hơn, và khi bị thiệt hại, chúng ta lại đòi hỏi sự công bằng.  Đó là điều vô lý đối với Thiên Chúa.

 Vấn đề tội lỗi cũng vậy — đây là điểm thứ hai của dụ ngôn.  Khi phạm tội, chúng ta mắc nợ Thiên Chúa vì không sử dụng tốt những gì Chúa đã ban.  Nhưng thật may mắn, số nợ này đã được Chúa Giêsu đền trả bằng cái chết trên thập giá.  Chúng ta được tha tội là vì lòng thương xót của Chúa Giêsu.  Vì thế, khi chúng ta tha thứ cho người khác, chúng ta nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền xét xử trên chúng ta.  Ngược lại, khi không tha thứ cho người khác, điều đó có nghĩa chúng ta đòi hỏi sự công bằng và hành động đó có nghĩa chúng ta từ chối Chúa Giêsu là đấng xét xử.  Hậu quả là tội của chúng ta vẫn còn và phải đền trả trong sự đau khổ.  Đó là ý nghĩa của câu “… trong cơn thịnh nộ, nhà vua đã trao y cho quân lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

 Kitô giáo được tóm lược trong câu “Mến Chúa, yêu người,” và không có gì thể hiện sát thực câu nói này bằng sự tha thứ.  Khi tha thứ, chúng ta nhìn nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và nhìn nhận bản tính yếu đuối của con người để thông cảm cho người khác.  Sự tha thứ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu nên Người đã dậy chúng ta trong kinh Lậy Cha mà chúng ta đọc trong mỗi Thánh Lễ.  Khi tha thứ là khi chúng ta nâng đỡ nhau khôi phục lại phẩm giá con người.

 Pt Giuse Trần Văn Nhật

From: Langthangchieutim


 

ĐÚNG MÀ KHÔNG CỨU SỐNG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả!”.

“Bác ái vượt xa công lý, vì yêu là trao ban, là hiến tặng cho người khác điều thuộc về mình!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Yêu là trao điều thuộc về mình. Nhưng Tin Mừng còn đi xa hơn: biết người kia sai mà vẫn trao ban vì không tuyệt vọng về họ. Bởi một phán quyết có thể đúng về quá khứ mà vẫn không giúp một người đổi đời – ‘đúng mà không cứu sống’.

“Mà chẳng hề hy vọng được đền trả”. Bản Hy Lạp viết mēdèn apelpízontes: “chẳng hề hy vọng”. Theo cách hiểu thông dụng, apelpízō ở đây là “mong lấy lại”; nhưng trong tiếng Hy Lạp cổ, nó còn là “mất hy vọng, tuyệt vọng”. Vì thế, cả cụm còn vang lên: “chẳng hề tuyệt vọng”. Hai cách đọc gặp nhau tuyệt đẹp: không hy vọng lấy lại điều đã cho, nhưng cũng không hết hy vọng vào người đã nhận. Thiên Chúa nhân hậu với kẻ vô ân, độc ác; Ngài không đóng khung họ trong điều họ đã làm. Công lý có thể khép hồ sơ; tình yêu vẫn mở một ngày mai.

Chúa Giêsu không bảo môn đệ chỉ thôi trả đũa; Ngài đòi nhiều hơn: làm ơn, chúc lành, cầu nguyện và trao ban. Những hành động ấy đi trước sự đổi thay, để người kia còn đường hoán cải. “Cầu nguyện cho những người đã làm hại chúng ta là bước đầu tiên để biến điều ác thành điều thiện!” – Phanxicô.

Tình yêu không phủ nhận vết thương, cũng không bảo đảm kẻ dữ sẽ trở về; nó chỉ từ chối biến điều họ đã làm thành lời cuối về cuộc đời họ. Phán quyết chỉ đọc trang đã viết; lòng thương xót còn nhìn thấy điều ân sủng có thể viết tiếp. Chúng ta thường khép lại một đời người bằng một kết luận rất đúng: “Con người ấy là thế!”. Thiên Chúa thì không; Ngài thấy điều xấu nơi người ấy mà vẫn tiếp tục làm điều lành.

Điều Chúa Giêsu dạy, Phaolô áp dụng cho cộng đoàn Côrintô: “Sự hiểu biết thì sinh lòng kiêu ngạo, còn lòng bác ái thì xây dựng!” – bài đọc một. Một thần học đúng về ngẫu tượng mà quên người anh em là một thần học chưa hiểu thập giá. Chân lý thuộc về Chúa phải giúp một con người đứng lên thay vì xô họ ngã xuống. Bởi thế, “Lạy Chúa, xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca – không chỉ là lời cầu xin tránh điều sai, nhưng còn xin cho cái đúng biết mở đường sống cho người khác. Để sống được điều ấy, chúng ta chỉ còn biết cầu xin: “Xin ban điều Ngài truyền dạy, và truyền dạy điều Ngài muốn!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô biết rõ sự thật về mỗi người, nhưng không đồng nhất ai với điều tồi tệ nhất họ đã gây ra. Trên đồi Sọ, Ngài không hạ chân lý xuống để cứu tội nhân; Ngài hạ chính mình, mang lấy bản án và trả lại cho họ phẩm giá làm con. Con người nhân danh cái đúng để đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá; Thiên Chúa dùng tình yêu biến chính thập giá ấy thành ơn cứu độ cho cả nhân loại. Đó là câu trả lời của Ngài cho một thế giới ‘đúng mà không cứu sống’: chân lý chỉ đi đến cùng khi làm cho một con người sống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ sáng để nhận ra điều sai; đủ quảng đại để làm ơn cho người ghét mình; và đủ hy vọng để mở cho người anh em một tương lai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Năm Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

27 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng  “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, 28 hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. 29 Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. 30 Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 31 Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. 32 Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. 33 Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. 34 Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. 35 Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”


 

KHI TRỜI NGƯỚC LÊN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói…”.

“Yêu một người là tỏ cho họ biết rằng họ đẹp!” – Jean Vanier.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho biết Chúa Giêsu “ngước mắt lên” nhìn các môn đệ, rồi gọi họ là có phúc. Ánh mắt Ngài trả lại cho những người nghèo bị coi thường ấy vẻ đẹp họ đã quên – ‘khi Trời ngước lên’.

Trong Matthêu, Chúa Giêsu giảng trên núi; trong Luca, Ngài xuống chỗ đất bằng. Thế mà khi bắt đầu giảng, Ngài lại “ngước mắt lên nhìn các môn đệ”. Bản Hy Lạp viết epāras – “nâng lên”: Ngài nâng mắt để nhìn. Giữa đám đông, cái nhìn ấy dừng nơi “các môn đệ” – những người đã chọn bước theo Ngài. Chúa Giêsu không khen cảnh khốn cùng; Ngài gọi họ có phúc vì dám thuộc về Ngài, dẫu nghèo, đói, khóc và bị khước từ. Trước mắt thế gian, họ thấp vì những gì họ thiếu; trong mắt Thiên Chúa, họ cao vì Đấng họ thuộc về. “Chỉ Thiên Chúa mới thực sự có thể gọi những người nghèo khó và sầu khổ là có phúc, bởi Ngài là sự thiện tối cao, Đấng hiến mình cho mọi người bằng tình yêu vô hạn!” – Lêô XIV.

Matthêu có tám mối phúc; Luca có bốn phúc, bốn hoạ. Chúa Giêsu không chia nhân loại thành người có kẻ không, nhưng chỉ ra hai cách sống: một bên còn đợi Chúa; bên kia không còn chờ Ngài. Người nghèo có phúc không vì thiếu, nhưng vì giữa thiếu thốn, họ còn chỗ cho Nước Trời. Người giàu bị cảnh báo không vì có, nhưng vì những gì đang có khép kín mọi mong đợi. Lời phúc nâng người ở dưới lên; lời hoạ gọi người ở trên xuống.

Tại sao lại đổi chỗ? Phaolô cho biết, vì “bộ mặt thế gian này đang biến đi” – bài đọc một. Nỗi buồn sẽ qua, niềm vui sẽ qua và cả những gì đang có rồi cũng qua. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắn nhủ: “Đưa mắt nhìn và hãy lắng tai!”. Phải nhìn xa hơn phần mình, bởi những gì chóng vánh không thể nói hết một đời. Khi chỉ cúi xuống phần mình, chúng ta quên mất ‘Trời đang ngước lên’ nhìn cả người thiếu kẻ thừa.

Chúng ta thường cố đứng ở nơi người khác phải ngưỡng mộ: một thành công, một lời khen, một địa vị. Vì thế, chỉ một thất bại cũng đủ làm chúng ta bải hoải. Thế nhưng, giá trị của chúng ta không do người đời định đoạt. Chúa không đợi ai đứng cao mới nhìn thấy; Ngài nhận ra mỗi người ngay nơi cuộc đời xếp họ vào chỗ thấp nhất. “Thiên Chúa ban hy vọng trước hết cho những người mà thế gian gạt bỏ như những kẻ không còn hy vọng!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nhập Thể là biến cố Trời xuống thấp nhất. Con Thiên Chúa sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi; sau cùng, nằm trong ngôi mộ mượn của một người giàu. Ngài đi xuống không để ca tụng khổ đau, nhưng để không một phận người nào nằm ngoài tầm mắt Thiên Chúa. Phục Sinh cho thấy người đời có thể chôn một người xuống tận huyệt mộ, nhưng không thể biến huyệt mộ thành lời cuối. Trong Đức Kitô, người ở dưới đang được nâng cao – đó là ‘khi Trời ngước lên’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa thiếu thốn, đừng để con tuyệt vọng; giữa đủ đầy, đừng để con tự mãn; giữa thế gian đang qua đi, cho con một lòng chọn Đấng luôn ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Tư Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

20 Khi ấy, Đức Giê-su dừng lại ở một chỗ đất bằng. Nơi đây có đông đảo dân chúng tìm đến với Người. Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói :

“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.

21“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.

“Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.

22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.

“Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”


 

SINH NHẬT ĐỨC MẸ– Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lễ Sinh nhật Đức Mẹ ngày 8 tháng 9; đúng 9 tháng sau lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngày 8 tháng 12.  Ngày Đức Trinh Nữ Maria chào đời là khởi đầu cho mùa cứu rỗi, như bình minh báo hiệu một ngày tươi sáng cho nhân loại.  Mẹ như “sao mai” dẫn lối loài người, như “rạng đông” báo hiệu mặt trời.

 Ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương cũng như Tây Phương đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ.  Đến thế kỷ X, lễ mừng được phổ biến phắp nơi và trở thành một trong các lễ chính mừng kính Đức Mẹ.  Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức Hồng Y họp mật nghị để bầu giáo hoàng.  Các ngài hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật để tạ ơn Đức Mẹ nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng.  Đức Giáo hoàng Célestinô V đắc cử cai quản có 18 ngày nên chưa thực hiện được lời hứa.  Giữa thế kỷ XIII, Đức Innocentê đã hoàn thành lời hứa này.

 Giáo Hội hân hoan mừng ngày sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria.  Chúc tụng, cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho nhân loai một người Mẹ tuyệt mỹ là Đức Maria.  “Ngày hôm nay bà Anna hiếm muộn vỗ tay reo mừng, trái đất bừng sáng, các vua hát mừng, các tư tế hân hoan chúc lành, toàn thể vũ trụ vui mừng, vì ngài là hoàng hậu và là nàng dâu tinh khiết của Chúa Cha đã nẩy sinh từ gốc Jesse” (phỏng theo Kinh Nhật Tụng của Ðông Phương).

 Đức Maria ” là con ông thánh Gioakim và bà thánh Anna.  Cả hai ông bà đều bởi dòng dõi vua Đavít, và gia đình thầy cả thượng phẩm Aaron.  Thiên Chúa đã cho hai ông bà sinh được một người con quý báu trên đời là để thưởng công đức của hai ông bà.  Nếu việc Đức Maria sinh ra làm cho thế gian vui mừng, thì cũng biết là gia đình ông thánh Gioakim vui sướng biết chừng nào.  Sau khi sinh con được tám ngày, theo thông lệ, ông bà song thân đã đặt tên con gái là MARIA, nghĩa là Sao Biển ” (Sách hạnh các thánh).

 Một bé gái được sinh ra ở ngôi làng Nadarét, thuộc vùng Galilê, nước Do Thái, cách đây hơn hai mươi thế kỷ.  Trong một xã hội trọng nam khinh nữ, điều ấy đâu có gì là quan trọng!  Nhưng dưới mắt Thiên Chúa, em bé này thật là một kiệt tác, bởi lẽ tất cả những gì tốt đẹp nhất làm được thì Ngài đã làm cho em.

 Ngay từ khi em còn trong bụng mẹ, Thiên Chúa đã chuẩn bị em cho một sứ mạng hết sức lớn lao, sứ mạng trở nên Mẹ của Đấng Cứu Thế, Mẹ của Ngôi Lời nhập thể.  Em bé ấy tên là Maria.  Ngày bé gái Maria chào đời, Thiên Chúa chan chứa mừng vui và hy vọng.  Maria vừa là quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa cho nhân loại, vừa là đại diện của nhân loại để đón nhận ơn cứu độ từ trời cao.  Thiên Chúa cần một người mẹ xứng đáng cho Con Một của mình.  Ngài muốn Con của mình được sinh ra từ cung lòng của một phụ nữ, để Người Con chí thánh ấy thực sự là người trọn vẹn.  Maria được chọn để làm người mẹ ấy, dù chẳng có công chi.  Vì thế ngay từ giây phút đầu tiên, khi thai nhi Maria còn trong bụng mẹ, Thiên Chúa đã ưu ái ban dồi dào ơn thánh, đã bao bọc em trong tình yêu.  Em được gìn giữ khỏi những vết nhơ của tội nguyên tổ.  Nhưng những ơn siêu phàm của Thiên Chúa không bóp chết tự do, không cưỡng ép Maria phải chấp nhận một định mệnh có sẵn, dù Thiên Chúa đã dành cho Maria một chỗ trong chương trình cứu độ. 

Bé gái Maria đã lớn lên, đã thành một thiếu nữ, đã đính hôn với Giuse.  Maria đã đi con đường tự nhiên của các thiếu nữ Do Thái.  Ơn Chúa tuy không làm cho Maria mang bề ngoài khác hẳn mọi người, nhưng vẫn âm thầm hoạt động mãnh liệt nơi tâm hồn.  Maria đã mềm mại để Thiên Chúa thì thầm với mình về dự định của Ngài.  Dự định ấy có thể làm đảo lộn những gì Maria ước mơ.  Khác với bà Evà, Maria tự nguyện buông đời mình để Chúa sử dụng.  Cả tình yêu và hôn nhân với Giuse, bây giờ cũng mang ý nghĩa mới.  Maria tin tưởng để Thiên Chúa dắt mình đi vào những lối chưa tường. (Mana).  Cuộc đời của Mẹ như một bài ca bất tận: “Phần con đây,con tin cậy vào tình thương Chúa, được Ngài cứu độ, lòng con sẽ vui mừng.  Con sẽ hát bài ca dâng Chúa, vì phúc lộc Ngài ban” (Tv 12).  Mẹ được Thiên Chúa yêu thương với muôn vàn ân lộc: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả…” (Lc 1,49).

 Hôm nay mừng sinh nhật Đức Mẹ là dịp để mỗi người con cảm ơn người mẹ sinh thành của mình.

Cám ơn mẹ đã cưu mang và sinh hạ ra con.

Cám ơn mẹ đã nuôi dưỡng và bảo bọc che chở cuộc đời con.

Cảm ơn mẹ đã cho con sự cân bằng trong cuộc sống.

Cảm ơn mẹ đã dạy con tình thương mẫu tử là bất diệt.

Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị của sự cần cù.

Cảm ơn mẹ đã dạy con chiêm ngưỡng vẻ đẹp của muôn vật.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết tôn trọng mọi loài.

Cảm ơn mẹ đã cho con biết nuôi dưỡng những cảm xúc.

Cảm ơn mẹ đã dạy con rằng cuộc sống luôn biến chuyển đổi thay.

Cảm ơn mẹ cho con phương thế để trưởng thành.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết nhìn mặt sáng của sự việc.

Cảm ơn mẹ đã dạy con sống mạnh mẽ dịu dàng.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trắc ẩn cảm thông.

Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị hợp tác trong công việc.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết quý trọng trời nắng và cả cơn mưa.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết ẩn nhẫn mà không chịu khuất phục.

Cảm ơn mẹ đã cho phép con sáng tạo.

Cảm ơn mẹ đã dạy cho con sống trung thực.

Cảm ơn mẹ đã mở mắt cho con trước vũ trụ bao la.

Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trân quý những điều đơn giản.

Cảm ơn mẹ đã dạy con tin vào chính mình.

 Mẹ là tuyệt tác tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho con.  Không có mẹ, con đâu cảm được vị ngọt của tình yêu “như chuối ba hương, như xôi nếp mật, như đường mía lau.”  Không có mẹ con đâu có “lớn nổi thành người.”

 Không có gì trên đời này cao quý hơn tình yêu của người mẹ.

 Không có tình mẫu tử nào cao quý hơn tình yêu của Mẹ Maria.  Mẹ Maria chính là bảo ngọc châu báu mà Thiên Chúa trao ban cho nhân loại.

 Lạy Mẹ Maria, chúng con cám ơn Mẹ.

Xin Mẹ che chở, gìn giữ hồn xác chúng con trong tình thương của Mẹ.

Xin cho chúng con được nép mình trong vòng tay từ ái của Mẹ.  Amen.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim


 

LỊCH SỬ  EMMANUEL – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta!”.

“Trong những thất bại của chúng ta, Thiên Chúa vẫn luôn tìm được những con đường mới cho tình yêu của Ngài!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lễ Sinh nhật Trinh Nữ Maria cho chúng ta nghe một gia phả có cả trung thành, phản bội và lưu đày. Thiên Chúa không đứng ngoài để viết lại quá khứ; Ngài mở ngay trong đó một lối mới cho tình yêu. Từ đây, lịch sử con người mang tên ‘lịch sử Emmanuel’.

Suốt gia phả, động từ “sinh” đi từ người cha này sang người cha khác. Đến Giuse, nhịp bỗng đổi: “Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria; bà là mẹ Đức Giêsu”. Giuse không “sinh” Đức Giêsu, Đấng được Maria sinh ra. Một phả hệ do những người cha nối dài bất ngờ dừng trước một người mẹ. Đến đây, huyết thống chạm giới hạn; lời hứa nên xác phàm. Matthêu mở ra điều không dòng máu nào tự làm được: lịch sử không sinh ra Đấng Cứu Độ; lịch sử chỉ có thể đón nhận Ngài. “Vì tình yêu vô biên, Ngôi Lời đã trở nên điều chúng ta là, để làm cho chúng ta trở nên điều chính Ngài là!” – Irênê.

Ngôn sứ Mikha báo trước, “Đức Chúa sẽ bỏ mặc Israel cho đến thời người sản phụ sinh con” – bài đọc một. Lạ lùng thay, vận mệnh một dân tộc được nối với một biến cố rất nhỏ: một người nữ sinh con. Vì thế, ngày Đức Maria chào đời không chỉ là niềm vui của một gia đình; đó là lúc lời hứa bắt đầu mang một khuôn mặt. Mẹ được sinh ra trong Israel để Israel sinh ra Đấng Cứu Độ. Người nữ được sinh ra hôm nay, ngày kia sẽ sinh Đấng đã cho mình hiện hữu.

Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa!”. Niềm vui ấy không đến từ một quá khứ vô tì, nhưng từ việc Thiên Chúa không bỏ cuộc. Bất trung và lưu đày vẫn còn nguyên tên gọi, nhưng không còn quyền nói lời cuối cùng. Lịch sử cứu độ không phải là câu chuyện con người luôn trung thành với Chúa, nhưng là câu chuyện Chúa vẫn trung thành giữa những lần con người bỏ Ngài.

Không ai tự viết dòng đầu đời mình. Chúng ta nhận phúc lành lẫn thương tổn từ người đi trước, rồi thêm vào đó những chọn lựa không thể lấy lại. Nhưng Emmanuel không đòi một quá khứ khác; Ngài bước vào quá khứ không thể đổi như Thiên Chúa của tương lai. Những gì đã xảy ra vẫn còn đó, nhưng không còn quyền quyết định chúng ta sẽ thành ai. “Chúng ta không phải là tổng số những yếu đuối và thất bại của mình; chúng ta là tổng số tình yêu Chúa Cha dành cho chúng ta!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô nhận lấy tất cả trong thân thể Đức Maria trao, rồi mang nó đến tận thập giá. Ở đó, tội lỗi muốn viết câu cuối bằng cái chết; nhưng chính Phục Sinh viết tiếp. Khi sống lại, Ngài vẫn mang những dấu đinh: Thiên Chúa không xoá quá khứ, Ngài cứu nó. Emmanuel không có nghĩa là Chúa chỉ ở cùng những ngày trong sáng; Ngài ở cùng cả phần đời chúng ta muốn chôn kín. Từ đó, lịch sử không còn chỉ là những gì xảy đến cho con người, nhưng là nơi Thiên Chúa nhất định ở cùng con người – ‘lịch sử Emmanuel’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin bước vào quá khứ con không thể đổi; ở lại trong hiện tại con đang sống; và dẫn đời con về phía cứu độ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Ngày 08 tháng 9

SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A

lễ kính

✠Khởi đầu Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham :

2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác ; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron ; Khét-xơ-ron sinh A-ram; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son ; Nác-son sinh Xan-môn; 5  Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết ; Ô-vết sinh Gie-sê ; 6 ông Gie-sê sinh Đa-vít.

Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn; 7 Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; 8 A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; 9 Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; 10 Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia ; 11 Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này ; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.

12 Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; 13 Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút ; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; 14 A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khi ; A-khin sinh Ê-li-hút; 15 Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; 16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”


 

“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.”-Cha Vương

Con cưng của Chúa ơi! Lời chúc hôm nay là Bạn có được 1 quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương tha thứ vào nơi oán thù nhé. Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia quyến nhé. Không quên chúc lành cho nhau và cả thế giới nhé

Happy Labor day

Cha Vương

Thứ 2: 07/09/2026.     (t5-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. (Lc 5:10b,11)

SUY NIỆM: Giống như Phê-rô, tất cả chúng ta đều có những cá tính riêng biệt, không ai giống ai. Bài học gì rút ra được khi Phê-rô đáp theo lời mời gọi của Chúa? Bài học ở đây là Chúa có thể đón nhận một người trực tính có tính khí như Phêrô, và giúp ông lớn lên trong đức tin và sự khôn ngoan. Chúa cũng có thể sử dụng những người như bạn với tất cả những lỗi lầm, thiếu sót và giới hạn để biến bạn trở thành một người sống cho mục đích của Ngài. Mục đích của Ngài là “muốn mọi người nhận biết chân lý và được cứu độ.” (1Tm 2:4) Giống như Phê-rô, qua đời sống đức tin hàng ngày, bạn cũng được mời gọi phó thác cuộc đời mình vào tay Thiên Chúa, tin tưởng rằng Ngài có thể hoạt động trong và qua bạn để giúp đưa người khác nhận biết chân lý và được cứu rỗi.

LẮNG NGHE: Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được. (Lc 14:33)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin cho con biết vâng theo Lời Chúa, từ bỏ để theo Chúa đến cùng.

THỰC HÀNH: Lối sống của bạn hàng ngày có ăn khớp với giới luật của Chúa không? Làm một thay đổi để sống tốt hơn. 

From: Do Dzung

*****

Đừng sợ ‣ Lửa Hồng 

Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ. (Mt 18:20) – Cha Vương

Nguyện xin ân sủng và yêu thương của Chúa ngự trong tâm trí bạn hôm nay và mãi mãi nhé. Nhớ nhau trong lời nguyện xin không quên cho thế giới được an lành nhé.

Cha Vương

CN: 6/09/2026.       (n10-23)

TIN MỪNG: Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ. (Mt 18:20)

SUY NIỆM: Chúa Giêsu nói rõ trong bài đọc hôm nay rằng ở đâu có hai hoặc ba người tụ tập NHÂN DANH NGƯỜI, thì Người ở giữa họ. Khi bạn tụ họp và yêu thương nhau thì Chúa có mặt ở đó, khi cộng đồng dân Chúa tụ họp cử hành nghi thức phụng vụ, Chúa cũng hiện diện ở đó. Người hiện diện dưới nhiều hình thức như qua việc công bố Lời Chúa và trong Bí tích Thánh Thể, trong Nhà Tạm. Thế còn những cuộc tụ họp ngoài khuôn viên thánh đường thì sao? Nếu bạn chú tâm mang Chúa vào những điểm hẹn, những cuộc gặp gỡ, những mẩu đối thoại hằng ngày thì Chúa đang ở giữa đó. Ở đâu có Chúa là có yêu thương. “Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại.” Dưới đây là 3 bí quyết đơn giản mà bạn có thể thực hiện để mang Chúa đến nơi những người chung quanh bạn:

(1) Luôn luôn chúc tụng và ca ngợi Chúa: Tôi sẽ không ngừng chúc tụng CHÚA, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi. (Tv 34:2)

(2) Chúc lành cho những người bạn gặp hàng ngày: Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. (Gc 3:10) Chúc lành chứ đừng nguyền rủa hoặc chúc dữ.

(3) Rao giảng nước Chúa bằng hành động: Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. (1 Ga 3:18) Rao giảng không phải bằng lời nói mà bằng đôi tay và hành động của chúng ta.

LẮNG NGHE: Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo. (1 Ga 4:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, nguyện xin ánh sáng tình yêu của Chúa soi sáng con đường con đi và hướng dẫn hành động của con hôm nay để những người con gặp hôm nay có thể nhận ra rằng Chúa đang ở giữa chúng con.

THỰC HÀNH: Mời bạn áp dụng 3 bí quyết đơn giản này vào những cuộc gặp gỡ hằng ngày để làm cho mọi người nhận ra Chúa đang ở giữa chúng ta.

From: Do Dzung

*****

ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG – HOÀNG OANH 

LỖI ANH – NỢ TÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh hãy đi sửa lỗi nó!”.

“Sửa lỗi huynh đệ không phải là phản ứng trước một sự xúc phạm, nhưng được thúc đẩy bởi tình yêu dành cho người anh em!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay thật lạ: lỗi nằm ở anh, nhưng mệnh lệnh lại rơi xuống tôi – “Anh hãy đi!”. Bởi tình yêu không cho phép tôi đứng ngoài – ‘lỗi anh – nợ tôi’.

Chúa Giêsu không bắt tôi mang lỗi người khác; Ngài chỉ không cho phép lỗi ấy tiếp tục phá vỡ tình anh em. Luật của tình yêu là thế: ai còn yêu, người ấy bước trước. “Hãy yêu đi, rồi làm điều bạn muốn!” – Augustinô. Tôi không thể đợi người ấy đổi thay rồi mới bắt đầu yêu thương. Tội không lây từ anh sang tôi, nhưng bổn phận yêu thương thì có.

Vì thế, Chúa Giêsu không bảo tôi nói về anh, nhưng nói với anh; không trước đám đông, nhưng trong một cuộc gặp riêng. Gặp riêng khó hơn nói công khai, vì ở đó tôi không còn ai đứng về phía mình, cũng không thể dùng sự xấu hổ để buộc người kia nhận lỗi. Chỉ còn hai người cùng đứng trước sự thật. Tôi đến để chỉ ra lỗi của anh, nhưng cũng phải sẵn sàng nhận ra phần tối trong chính mình; có thể nói đúng mà cách nói lại sai; muốn anh đổi thay mà lòng tôi đôi khi vẫn muốn anh trả giá. Sửa lỗi huynh đệ chỉ bắt đầu khi tôi không dùng sự thật chống lại người anh em.

Phaolô gọi đó là “món nợ tương thân tương ái” – bài đọc hai. Đây là món nợ không phát sinh từ lỗi của anh, nhưng từ tình yêu tôi đã nhận nơi Chúa. Vì đã được yêu, tôi không thể dửng dưng trước một người lạc bước; nhưng vì từng được tha thứ, tôi cũng không thể đến như một người vô tội. Tôi có thể không nợ anh một lời xin lỗi, nhưng vẫn nợ anh cách đối xử xứng với một người Chúa vẫn yêu – ‘lỗi anh – nợ tôi’.

Với Êzêkiel, món nợ ấy trở nên nghiêm trọng hơn: người canh gác không gây ra hiểm nguy, nhưng thấy mà im tiếng, Chúa sẽ “đòi ngươi đền nợ máu nó” – bài đọc một. Có những im lặng tưởng là hiền lành, thật ra chỉ để an thân; chúng ta thường tránh người có lỗi, rồi nói với người khác về họ. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca cảnh tỉnh: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” – người được sửa phải biết nghe; người đi sửa càng phải nghe Chúa trước khi lên tiếng. Bởi khi lòng đã cứng, ngay cả lời đúng cũng hoá đá.

Anh Chị em,

“Tình yêu thuộc về một trật tự cao hơn vô cùng!” – Blaise Pascal. Đức Kitô không có lỗi, nhưng nhận lấy phần đi trước. Ngài đến không vì nhân loại đã quay về, nhưng vì Thiên Chúa không bỏ mặc con người lạc mất. Trên thập giá, Ngài không làm nhẹ tội lỗi, nhưng mang lấy sức nặng của nó và cho thấy tình yêu còn nặng hơn. Ở đó, sự thật không được dùng chống lại tội nhân, nhưng mở cho họ một lối về; lòng thương xót không xoá bỏ công lý, nhưng hoàn tất nó bằng việc tự mình trả giá. Đó là lúc món nợ không do Ngài gây nên lại được Ngài trả đến cùng – ‘lỗi anh – nợ tôi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ yêu để bước trước, đủ thật để lên tiếng và đủ khiêm nhường để nhớ mình cũng là một con nợ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

****

Chúa Nhật Tuần XXIII – Mùa Thường Niên, Năm A 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

18 “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

19 “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”