Nữ lãnh đạo Anh Quốc Giáo ngồi cùng với Đức Giáo Hoàng Leo tại Vatican

Ba’o Nguoi-Viet

April 28, 2026

VATICAN (NV) –  Sự kiện Tổng Giám Mục Sarah Mullally, người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Anh Quốc Giáo, cùng ngồi ngang hàng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo La Mã, để chung lời cầu nguyện tại Vatican vào ngày Thứ Hai, 27 Tháng Tư, tạo nên một hình ảnh mạnh mẽ về vai trò quyền lực tôn giáo của phụ nữ giữa một định chế vẫn duy trì chức linh mục chỉ dành cho nam giới.

Cuộc gặp mang tính lịch sử này vừa là biểu hiện của sự đoàn kết giữa hai trong số những giáo phái Kitô giáo lớn nhất, vốn chia cắt gần 500 năm trước, vừa là lời nhắc về một trong những khác biệt sâu sắc nhất trong thời hiện đại, theo nhận định của nhật báo New York Times.

Tổng Giám Mục Sarah Mullaly, lãnh đạo Anh Quốc Giáo, tại buổi lễ nhậm chức ngày 25 Tháng Ba tại hạt Canterbury nước Anh. (Hình: Jordan Pettitt – WPA Pool/Getty Images)

Giáo Hội Anh cho phép phụ nữ trở thành linh mục từ thập niên 1990, đỉnh điểm là việc bổ nhiệm Tổng Giám Mục Sarah Mullally thành nhà lãnh đạo cao nhất của Anh Quốc Giáo. Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo La Mã chỉ cho phép nam giới thụ phong linh mục, và các cuộc thảo luận về việc phụ nữ có thể thụ phong hay không nhiều lần bị gác lại, gần đây nhất là vào Tháng Mười Hai, 2025.

Không đề cập cụ thể đến vấn đề nào, Đức Giáo Hoàng Leo thừa nhận trong bài diễn văn đón vị nữ tổng giám mục lãnh đạo Anh Quốc Giáo rằng vẫn còn “những thách thức tiếp diễn,” trong mối quan hệ giữa hai tôn giáo. Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng mặc dù “đạt được nhiều tiến bộ trong một số vấn đề từng gây chia rẽ trong lịch sử, nhưng các vấn đề mới phát sinh trong những thập niên gần đây,” tuy nhiên ngài nhấn mạnh rằng sẽ là “một điều đáng xấu hổ nếu chúng ta không tiếp tục làm việc để vượt qua những khác biệt của mình, dù chúng có vẻ khó giải quyết đến đâu.”

Trong phần đáp từ, Tổng Giám Mục Mullally bày tỏ lòng biết ơn vì được cùng cầu nguyện và cam kết rằng trong những năm tới: “Tôi luôn hiệp nhất với Ngài trong các lời cầu nguyện, cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới, cầu nguyện cho công lý, và cầu nguyện để mỗi con người có thể khám phá trọn vẹn cuộc sống mà Thiên Chúa ban tặng.”

Đối với những người Công giáo đang vận động cho việc cho phép phụ nữ được thụ phong, hình ảnh một phụ nữ được tiếp đón như một người ngang hàng với Đức Giáo Hoàng mang ý nghĩa mạnh mẽ, như một biểu tượng về bình đẳng giới tính có thể đạt được trong Giáo Hội Công Giáo La Mã.  

Bà Tina Beattie, một nhà thần học Công giáo tại Anh, cho rằng những người vận động có thể xem sự hiện diện của Tổng Giám Mục Mullally bên cạnh Đức Giáo Hoàng Leo như “một chất xúc tác cho sự việc rất đáng chú ý,” đó là một sự thay đổi mang tính biểu tượng trong ngôn ngữ và thái độ của lãnh đạo Công Giáo đối với vấn đề chức linh mục dành cho phụ nữ. “Giáo Hội Công Giáo La Mã phải chấp nhận rằng một nhà lãnh đạo tôn giáo tương đương gần nhất với địa vị giáo hoàng trong thế giới Kitô giáo hiện nay là một phụ nữ,” bà Beattie nhấn mạnh.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng về bản chất sự thay đổi khó xảy ra, đặc biết khi Đức Giáo Hoàng Leo không cho thấy dấu hiệu thúc đẩy thay đổi kể từ khi được bầu vào năm ngoái. Trong một cuộc phỏng vấn năm ngoái với phóng viên Vatican, Ngài nói không có ý định thay đổi giáo lý của giáo hội về việc thụ phong. Một số học giả và những người ủng hộ việc duy trì chức linh mục chỉ dành cho nam giới viện dẫn Kinh Thánh và truyền thống để nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu trao chức linh mục cho Mười Hai Tông Đồ, tất cả đều là nam giới. “Giáo Hội Công Giáo La Mã dạy rằng phụ nữ và nam giới bình đẳng về phẩm giá, nhưng điều đó không có nghĩa là giống nhau,” bà Teresa Tomeo, một người dẫn chương trình Công giáo tại Mỹ, nói.

Nhiều sự kiện giữa hai tôn giáo diễn ra trong thời gian gần đây là những ví dụ mới nhất cho thấy mối quan hệ ngày càng sâu sắc giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã và Giáo Hội Anh. Một ngày sau lễ nhậm chức của Tổng Giám Mục Mullally vào Tháng Ba, một buổi lễ kỷ niệm được tổ chức đánh dấu 60 năm tuyên bố “đại kết” hàn gắn chia rẽ chính thức đầu tiên giữa hai giáo hội. Hồi Tháng Mười, 2025, Hoàng Hậu Camilla và Vua Charles III,  người đứng đầu danh nghĩa của Giáo Hội Anh, gặp Đức Giáo Hoàng Leo tại Vatican, đó là lần đầu tiên lãnh đạo hai giáo hội cùng cầu nguyện công khai kể từ thời kỳ Cải cách.

Quan hệ giữa Đức Giáo Hoàng Leo và Tổng Giám Mục Mullally cho đến nay vẫn thân thiện. Hai bên trao đổi thư bày tỏ cam kết đối thoại và đoàn kết Kitô giáo khi bà nhậm chức, và các chức sắc Công Giáo tham dự lễ nhậm chức của bà.  

Tổng Giám Mục Mullally, người tích cực ủng hộ vai trò và quyền của phụ nữ trong Giáo Hội Anh, trong một số khía cạnh được Đức Giáo Hoàng Leo chấp nhận dễ dàng hơn so với một số giám mục Anh giáo khác, những người từng phản đối việc bổ nhiệm bà.

Bằng việc chọn Rome là chuyến công du nước ngoài đầu tiên với tư cách người đứng đầu Anh Quốc Giáo, Tổng Giám Mục Mullally có thể muốn thể hiện ảnh hưởng và thẩm quyền của mình trong bối cảnh có những nỗ lực trong nội bộ Anh Quốc Giáo nhằm làm suy yếu tính chính danh của bà, theo các nhà phân tích. 

Sự sẵn sàng của Đức Giáo Hoàng Leo trong việc tiếp bà “trên thực tế cho thấy một mức độ công nhận đối với bà,” nhà nghiên cứu tôn giáo Catherine Pepinster viết trong một bài phân tích. “Trước khi bà Mullally đến châu Phi vào Tháng Bảy, nơi một số giám mục Anh giáo không chấp nhận bà vì bà là phụ nữ, hình ảnh của bà xuất hiện bên cạnh người có thể được xem là lãnh đạo tinh thần hàng đầu thế giới,” bà viết.

Buổi cầu nguyện lịch sử tại Tòa Thánh Vatican hôm Thứ Hai vừa qua đánh dấu một cột mốc không thể đảo ngược trong tiến trình hòa giải giữa hai tôn giáo. Dù hố sâu về giáo luật đối với việc phong chức cho phụ nữ vẫn còn đó, nhưng việc Tổng Giám Mục Mullally cùng cầu nguyện bên cạnh ngang hàng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự công nhận phẩm giá và quyền lực tinh thần của phụ nữ. (MPL)


 

KHI ÁNH SÁNG GỌI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi là ánh sáng…, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối!”.

“Đức tin không phải là ánh sáng xua tan mọi bóng tối, nhưng là một ngọn đèn soi bước trong đêm!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đức tin là ngọn đèn soi bước trong đêm; dẫu không xua tan mọi bóng tối. Lời Chúa hôm nay mặc khải Chúa Giêsu là ánh sáng; và không ai ở lại trong bóng tối ‘khi ánh sáng gọi’.

“Ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối!” – lời Chúa Giêsu vừa là một khẳng định, vừa là một lời mời. Thế nhưng, không phải ai cũng sẵn sàng bước đi với ánh sáng; vì con người vẫn có thể thấy mà không bước, hiểu mà không đổi; và đôi khi, chọn ở lại trong điều quen thuộc, vì nó an toàn. Ánh sáng khi ấy không còn là điều để nhìn, nhưng đặt con người trước một chọn lựa: ở lại, hay bước ra, dù chưa thấy hết con đường. “Con không xin được thấy cảnh xa; một bước thôi cũng đủ cho con!” – Henry Newman.

Trong Tin Mừng Gioan, “ánh sáng” không chỉ là điều được thấy, nhưng là chính con người Chúa Giêsu; vì thế, tin không dừng lại ở nhận biết, nhưng là bước vào một tương quan với Ngài, tương quan dẫn con người ra khỏi bóng tối. Ở đây, bóng tối không chỉ là thiếu hiểu biết, nhưng là tình trạng ở lại trong chính mình – ích kỷ, khép kín; còn ánh sáng, khi được đón nhận, không chỉ soi chiếu, nhưng giải thoát – mở ra và trao ban. Lời mời của Chúa Giêsu không phải là hãy nhìn thấy ánh sáng, nhưng là đừng ở lại trong bóng tối; nghĩa là từ bỏ sự an toàn giả tạo, mở ra trước điều chưa chắc chắn; và dám bước, dù chưa thấy – ‘khi ánh sáng gọi’.

Trong chiều hướng ấy, cộng đoàn Antiôkia không giữ lại Barnaba và Phaolô, nhưng để hai ông ra đi; vì đã nhận ra ánh sáng kế hoạch của Thiên Chúa – bài đọc một. Ánh sáng ấy không chỉ soi chiếu, nhưng thúc đẩy họ mở ra và trao ban để Tin Mừng có thể đến với muôn dân. Và một khi ánh sáng được đón nhận, nó không dừng lại nơi một cộng đoàn, nhưng lan rộng khắp muôn dân và trở thành lời tán tụng: “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính nơi Đức Kitô, ánh sáng không còn là một ý niệm, nhưng là một con người; Ngài không chỉ chỉ đường, nhưng là Đường phải bước. Vì thế, tin vào Ngài không phải là dừng để nhìn, nhưng là bước theo trên hành trình ra khỏi chính mình, trong những chọn lựa rất cụ thể mỗi ngày: từ bỏ điều quen thuộc, mở lòng trước người khác, dám ngỏ một lời thứ tha. Con đường ấy không tránh bóng tối, kể cả thập giá, nhưng đi xuyên qua nó, để dẫn tới sự sống. Nơi Ngài, ánh sáng trở thành một lời gọi âm thầm giữa những ngày rất bình thường; bởi lẽ, “Dám bước là chấp nhận mất thăng bằng trong giây lát. Không dám bước là đánh mất chính mình!” – Søren Kierkegaard; và chính lúc ấy, ánh sáng không còn chỉ để thấy, nhưng để bước – ‘khi ánh sáng gọi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thích bóng tối, xin kéo con ra; con sợ đổi thay, xin ban can đảm; con quay lưng với ánh sáng, xin kéo con trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IV Phục Sinh

Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 12,44-50

44 Khi ấy, Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng : “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ; 45 ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. 46 Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. 47 Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. 48 Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy : chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. 49 Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. 50 Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi.”


 

BỨC ẢNH PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

  1. Lịch sử Bức Ảnh

Tất cả các tín hữu Công Giáo đều yêu mến và tôn kính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bức ảnh được đưa từ đảo Creta thuộc đông nam nước Hy-Lạp, trong biển Égée, đến Roma vào cuối thế kỷ 15, tức khoảng 1495-1497. Câu chuyện như sau.

Một ngày, Bức Ảnh bị đánh cắp khỏi đền thánh tại đảo Creta, do một thương gia, hằng năm vẫn đi buôn định kỳ ở nước Ý. Tạm gọi thương gia là Anrê. Ông Anrê dấu kín Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong hàng hóa của mình và xuống tàu vào nước Ý. Con tàu dừng lại nơi nhiều cảng khác nhau, đổ hành khách lên bờ. Ngày kia, giông tố bất ngờ nổi lên khiến các thuyền bè phải mau lẹ tìm bến đậu gần nhất để lánh nạn. Chiếc tàu có thương gia Anrê không kịp giờ tiến vào đất liền. Mọi người trên tàu, từ thủy thủ đoàn đến hành khách, ai nấy đều tưởng giờ cuối cùng đã điểm. Với trọn niềm tin tưởng, họ cùng khẩn nài Thiên Chúa và kêu xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp. Bỗng chốc, bầu trời trở lại trong xanh và biển lặng như tờ. Mọi người thở phào và xác tín rằng, đây là phép lạ đến từ Trời Cao. Riêng thương gia Anrê, ông âm thầm hiểu rằng, chính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dấu trong hành lý của ông, là Tác Giả của hồng phúc kỳ diệu này. Tuy nhiên, ông không dám tiết lộ chuyện kín đó với ai. Ông sợ rằng, nếu người ta khám phá ra việc ông ăn trộm Bức Ảnh, hẳn ông sẽ bị ném xuống biển như tiên tri Giona ngày xưa!.

Sau nhiều tháng trời lênh đênh từ cảng này sang cảng nọ, thương gia Anrê đặt chân lên thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo. Ông luôn mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bảo vật ông hằng cẩn trọng dấu kín.. Công việc buôn bán hoàn tất, ông thu xếp trở về đảo Creta. Nào ngờ ông ngã bệnh. Ban đầu, chỉ là bệnh nhẹ. Dần dần bệnh trở nặng. Ông Anrê bị bắt buộc phải tìm đến nhà một người bạn – tạm gọi là ông Alessandro – và nhờ bạn chăm sóc. Nhưng cơn bệnh không thuyên giảm, trái lại, mỗi ngày một trầm trọng thêm. Biết mình không thoát chết, ông Anrê ngỏ ý gặp riêng bạn. Ông tha thiết xin bạn giúp ông một công việc hệ trọng sau cùng. Người bạn long trọng hứa sẽ giúp đỡ tận tình. Tin lời bạn, ông Anrê tiết lộ cho bạn biết việc ông đã ăn cắp Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi ông nói: “Cái chết gần kề không cho phép tôi mang Bức Ảnh trả lại đền thánh, hầu Bức Ảnh được trưng bày cho mọi tín hữu đến tôn kính. Vậy tôi van xin anh, hãy mang Bức Ảnh Phép Lạ này, đến trao cho một nhà thờ nào đó của thủ đô Roma mà anh thấy là xứng hợp. Có thế, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mới lại được tôn kính nơi công cộng!”. Sau khi thành thật thống hối lỗi lầm, thương gia Anrê trút hơi thở cuối cùng.

Giữ lời hứa, ông Alessandro chuẩn bị đưa Bức Ảnh Phép Lạ ra khỏi nhà. Nhưng người vợ – tạm gọi là Anna – khăng khăng ngăn cản. Bà muốn giữ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà riêng của mình .. Mặc cho mọi lời chồng nói, khi dịu dàng lúc giận dữ, bà Anna vẫn giả điếc làm ngơ. Trước sự gan lì của vợ, ông Alessandro đành chịu thua.

Thấy thái độ người chồng quá yếu, Đức Mẹ phải ra tay can thiệp. Đức Mẹ hiện ra với ông Alessandro trong giấc mộng và nhắc lại lời ông đã long trọng hứa với người bạn quá cố. Giờ đây ông phải cương quyết thi hành. Đức Mẹ hiện ra ba lần, nhưng vô hiệu, vì ông Alessandro quá nể sợ vợ. Lần hiện ra thứ tư, Đức Mẹ nghiêm khắc nói với ông: “Mẹ đã nhắc con ba lần. Nhưng vô ích. Vậy thì, cách tốt nhất để Mẹ có thể ra khỏi nhà con, là chính con phải ra trước!”. Và thật thế, ông Alessandro đã tắt thở sau vỏn vẹn vài ngày lâm bệnh.

Cái chết thảm thương của chồng vẫn không lay chuyển tâm lòng chai cứng của người vợ. Bà Anna cứ giữ nguyên Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà mình. Đức Mẹ lại kiên nhẫn dùng đến sự trung gian của bé gái, con bà Anna. Một ngày, bé chạy đến sà vào lòng bà và nói lớn tiếng: “Má ơi, Má biết không, con vừa trông thấy một Bà thật đẹp, thật sáng láng. Bà Đẹp nói với con: Con hãy đi gặp ngay Má con và lập lại rằng: “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày cho các tín hữu đến kính viếng trong một nhà thờ ở Roma”.

Cảm kích trước lời nói ngây thơ của đứa con gái, bà Anna chuẩn bị thi hành ý muốn của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng rồi Satan tìm cách ngăn cản, qua một người đàn bà, bạn của bà Anna. Bà này, sau khi nghe bà Anna thổ lộ ý định, liền trêu chọc và cười nhạo bạn là người nhẹ dạ, dễ tin lời con nít! Nhưng lời nói xúc phạm của người đàn bà bị trừng phạt tức khắc. Bà bị động kinh dữ dội khiến bà phải nhìn nhận lỗi lầm và van xin Đức Mẹ cứu chữa. Vừa khi tay bà chạm đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơn động kinh ngưng ngay.. Đó là phép lạ đầu tiên minh chứng quyền năng của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trước hai sự kiện xảy ra trong thời gian khoảnh khắc – bị ngã bệnh và được chữa lành của bà bạn – bà Anna ngoan ngoãn tuân phục mệnh lệnh của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng vấn đề được đặt ra. Lúc ấy, vào cuối thế kỷ 15, tại Roma có khoảng 300 nhà thờ. Vậy phải chọn nhà thờ nào, để đặt cho các tín hữu đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đây? Để giúp bà Anna, một lần nữa, Đức Mẹ lại hiện ra với cô bé con gái bà và chỉ dẫn rõ ràng như sau: “Mẹ muốn được đặt ở nơi nằm giữa nhà thờ mến yêu của Mẹ, Đức Bà Cả, và nhà thờ quí tử của Mẹ, Gioan Laterano!”.

Địa điểm được Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chọn, nằm trên đồi Esquilino, trung tâm thủ đô Roma. Đây là nơi được thánh giáo hoàng Cleto (80-92), người kế vị thứ hai của thánh Giáo Hoàng Phêrô, biến ngôi nhà từ-đường của ngài thành nhà nguyện, dâng kính thánh tông đồ Mattêô. Trong thời kỳ Kitô-Giáo bị bách hại dữ dội dưới hai hoàng triều Nerone và Diocletiano, nhà nguyện Thánh Mattêô là nơi hội họp của các tín hữu Kitô. Sang thế kỷ thứ tư, nhà nguyện được thay thế bằng một đền thờ rộng lớn lộng lẫy. Năm 1110, đền thờ Thánh Mattêô được tu bổ và được Đức Giáo Hoàng Pasquale 2 (1099-1118) long trọng thánh hiến. Sau cùng, vào thế kỷ 15, đền thờ được giao cho các tu sĩ dòng thánh Augustino trông coi. Chính tại đền thờ này mà bà Anna đã mang Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đến giao cho cha Bề Trên các tu sĩ thánh Augustino.

Ngày 27-3-1499, đền thờ Thánh Mattêô chật ních các tín hữu. Họ đến để cầu nguyện và chuẩn bị rước Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp qua các đường phố Roma .. Đang lúc rước kiệu, bỗng một tiếng tung hô vang lên. Một phụ nữ bị bại tay, được khỏi bệnh tức khắc, khi vừa chạm cánh tay bại vào Bức Ảnh phúc lành. Mọi người vui mừng khôn tả.. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã thật sự chinh phục cảm tình của dân thành Roma.

Sau cuộc rước, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được long trọng đặt nơi bàn thờ chính của đền thờ Thánh Mattêô. Từ đó, Đức Mẹ không ngừng thi ân giáng phúc cho tất cả những ai thành khẩn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ. Đền thờ trở thành nơi hành hương thân thương của các tín hữu, Roma và các vùng phụ cận. Các ơn lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ban cho con cái Ngài nhiều vô kể. Trước sự kiện này, Đức Giáo Hoàng Lêô 10 (1513-1521) quyết định trả lại cho đền thờ Thánh Mattêô tước hiệu “hiệu tòa” của các vị Hồng Y. Một trong các vị đó là Đức Hồng Y Nerli, nổi tiếng là người sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Để tỏ tình con thảo và tán dương Mẹ lành ngay cả sau khi chết, Đức Hồng Y xin khắc trên mộ mấy hàng chữ sau đây: “Trong đền thờ thánh Mattêô này .. dưới sự bảo trợ của Nữ Trinh Maria, thánh danh Mẹ vang dội khắp nơi vì các phép lạ Mẹ làm, nơi đây an nghỉ Hồng Y Nerli”.

Danh xưng vừa lộng lẫy vừa dịu hiền “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” do chính Mẹ chọn, đã hoàn toàn được minh xác trong vòng 3 kế kỷ. Đó là thời gian Bức Ảnh được tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Sử liệu còn ghi lại rõ ràng không biết bao nhiêu phép lạ Đức Mẹ đã làm. Năm 1600, văn sĩ Panziroli viết: Nhà thờ thánh Mattêô có được một Bức Ảnh Đức Mẹ, làm nhiều phép lạ đến độ, có thể nói đây là ”Nhà Thờ Phép Lạ”. Năm 1618, Lupardo nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như sau: “Đây là Bức Ảnh nổi tiếng nhờ các phép lạ Đức Mẹ làm.

Xin trưng dẫn một phép lạ. Một ngày, ông từ giữ đền thờ ăn cắp một số tiền của các tín hữu hành hương dâng cúng cho đền thờ. Sau khi cẩn thận dấu kín trong mình, ông tìm đường nhanh chân trở về nhà. Nhưng lạ lùng thay, ông đi mãi đi hoài mà không tới nhà. Trái lại, ông thấy mình đứng trước đền thờ! Hoảng hồn, ông lại chọn một con đường khác để nhanh chân về nhà. Nhưng lần này cũng thế, sau một hồi đi bộ, ông lại thấy mình đứng trước cửa nhà thờ. Đến lần thứ ba, ông cũng vẫn thấy mình trở lại trước cửa đền thờ Thánh Mattêô. Ông kinh hoàng nhận ra bàn tay Thiên Chúa. Ông thật lòng thống hối và mang trả lại cho Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tất cả những gì ông đã dại dột ăn cắp. Rồi ông đơn sơ kể lại cho các linh mục nghe câu chuyện lạ lùng trên đây.

  1. Bức Ảnh bị lưu lạc

… Cuộc cách mạng Pháp 1789 thổi một cơn lốc tàn ác vào hầu hết các nước Âu châu. Nó gieo rắc kinh hoàng nơi các tín hữu Công Giáo và lôi kéo một số đông giáo dân rơi vào tình trạng khô khan, nguội lạnh hoặc bài xích tôn giáo. Thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo, cũng chịu chung số phận. Đức Giáo Hoàng Pio 6 (1775-1799) bị bắt và qua đời tại nơi lưu đày. Một đoàn quân đỏ – kẻ thù của Giáo Hội – xâm chiếm Roma. Vào một buổi sáng, người dân thành phố nghe tin quân Pháp chọn đền thờ Thánh Mattêô làm cứ điểm hành quân và sẽ phá hủy tan tành đền thánh!. Các tu sĩ dòng thánh Augustino chỉ kịp giờ chạy đi lánh nạn và mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp quí yêu .. Quả thật, vài ngày sau, đồi Esquilino bị san bình địa và không để lại vết tích gì của một thời huy hoàng. Không còn nữa cái thời mà toàn dân Roma lũ lượt kéo đến hành hương đền thờ Thánh Mattêô và kêu cầu trước Bức Ảnh phúc lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp!.

Bị đuổi khỏi đền thánh, các cha dòng được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) đưa về trông coi đền thờ Thánh Maria ở Posterula. Vào thời kỳ Giáo Hội Công Giáo bị bách hại dữ dội, các linh mục không dám trưng bày Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng. Các vị chỉ đặt Bức Ảnh nơi nhà nguyện riêng của đan viện. Bức Ảnh dần dần bị rơi vào quên lãng. Nhưng Chúa Quan Phòng có chương trình riêng của Ngài. Ngoài ra, thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô.

.. Vào năm 1840, có hai người quì trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nơi nhà nguyện của các cha dòng thánh Augustino ở Posterula. Một vị lão thành và một cậu thiếu niên. Vị lão thành là thầy Orsetti, ngoài 70 tuổi, tu sĩ duy nhất còn sống sót của đền thờ Thánh Mattêô. Còn thiếu niên là cậu Michele Marchi. Đang sốt sắng cầu nguyện, bỗng thầy Orsetti giơ tay chỉ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và nói với thiếu niên rằng: “Con nên nhớ kỹ, Bức Ảnh này, trước kia đã từng được mọi người tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Hàng năm đều có tổ chức một lễ lớn mừng kính Đức Mẹ”. Cậu Michele Marchi vừa ghé tai nghe thầy Orsetti giải thích vừa lơ đãng đưa mắt nhìn lên Bức Ảnh.

Vào cuối đời, thầy Orsetti gần như bị mù hẳn. Niềm vui êm ái nhất của thầy là được chuyện vãn với thiếu niên Michele Marchi. Và trăm lần như một, không lần nào thầy không nhắc đến cái thời huy hoàng đầy ân phúc của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thầy thường nói: “Michele à, con phải biết rằng, Bức Ảnh Đức Mẹ được tôn kính lâu năm ở đền thờ Thánh Mattêô, cũng chính là Bức Ảnh đang được đặt nơi nhà nguyện này. Con đừng bao giờ quên điều ấy nhé!”. Rồi thầy Orsetti nói thêm: ”Đúng như vậy. Đó là điều chắc chắn. Con có hiểu lời thầy nói không? Ôi, Bức Ảnh này đã từng làm không biết bao nhiêu phép lạ! – O! Era molto miracolosa!”. Cậu thiếu niên lắng nghe lời tâm sự của thầy Orsetti nhưng vẫn không hiểu tại sao thầy cứ nhắc đi nhắc lại cái thời huy hoàng xưa kia của Bức Ảnh.

 

Năm 1852, thầy Orsetti qua đời, không được diễm phúc trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được phục hồi về chốn cũ.

Một ít lâu sau, Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 (1846-1878) truyền cho Cha Bề Trên Tổng Quyền dòng Chúa Cứu Thế phải chuyển Nhà Chính của dòng từ Napoli về thủ đô Roma. Vâng lời Đức Thánh Cha, các tu sĩ tức khắc tìm kiếm địa điểm để xây nhà. Tháng 6 năm 1854, các linh mục mua lại Villa Caserta, một biệt thự cũ nằm trên đồi Esquilino. Trong khu vườn của biệt thự, người ta còn thấy tàn tích của đền thờ Thánh Mattêô. Ngôi biệt thự cũ được sửa thành tu viện và một thánh đường được xây cất cạnh tu viện. Thánh đường dâng kính Thánh Alphongsô, Ông Tổ sáng lập dòng Chúa Cứu Thế. Đền thánh mới, được xây trên chính nền cũ của đền thờ Thánh Mattêô, như biểu chứng nối liền dĩ vãng với tương lai .. Thêm vào đó, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế – con cái Thánh Alphonsô – còn đặc biệt có lòng sùng kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria.

  1. Bức Ảnh được phục hồi

Ngày nọ, trong lúc lục lội thư viện và những bản thảo cũ của đồi Esquilino, một linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã tìm thấy những tài liệu quí báu liên quan đến đền thờ Thánh Mattêô. Nhưng nhất là, các sử liệu nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nổi tiếng về các phép lạ. Vui mừng và ngạc nhiên về khám phá mới mẻ này, vị linh mục đem câu chuyện kể lại với anh em trong cộng đoàn. Nào ngờ, trong số các tu sĩ đó, có mặt linh mục Michele Marchi, người đã từng được thầy Orsetti ủy thác nhiệm vụ ghi nhớ nguồn gốc Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Cha Michele Marchi gia nhập dòng Chúa Cứu Thế ít lâu sau khi cộng đoàn ở Villa Caserta được thành hình. Cha Marchi nói ngay: “Tôi biết rõ Bức Ảnh Phép Lạ này đang ở đâu. Chính mắt tôi đã trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính nơi nhà nguyện của đan viện Thánh Maria ở Posterula!”. Nhưng rồi câu chuyện chấm dứt tại đó ..

Thời gian 9 năm lặng lẽ trôi qua. Vào một ngày thứ bảy trong tháng 2 năm 1863, cha Blosi, linh mục dòng Tên, giảng thuyết về đề tài: “Vinh Quang Đức Maria”. Cha nhắc đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, một thời được dân thành Roma sùng kính và nổi tiếng về các phép lạ. Cha Blosi mở đầu như sau: “Hôm nay tôi sẽ nói với anh chị em về một Bức Ảnh Đức Mẹ, xưa kia rất nổi tiếng giữa anh chị em, nhưng bị rơi vào quên lãng từ 60 năm qua. Có lẽ Bức Ảnh bị chôn vùi ở một nhà nguyện nào đó, nên không được trưng bày cho các tín hữu Công Giáo, chen chúc nhau đến kính viếng”. Cha Blosi không quên nhắc đến thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô. Sau cùng, cha lớn tiếng nói rằng: ”Nếu ai trong số các thính giả có mặt tại đây, biết được Bức Ảnh Phép Lạ đó đang ở đâu, thì xin vui lòng báo cho những người đang giữ Bức Ảnh biết rằng, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng .. Ai biết được những ân huệ dồi dào nào sẽ tuôn đổ trên thế giới, nếu chúng ta biểu lộ lòng sùng kính Đức Mẹ, dưới một tước hiệu do chính Đức Mẹ chọn? Đó là tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Phúc cho người nào sẵn sàng làm công việc tìm kiếm và chỉ dẫn này!”.

Bài giảng và lời nhắn tin trên đây của cha Blosi đến tai các cha dòng Chúa Cứu Thế trên đồi Esquilino. Hẳn người ta đoán được niềm vui lớn lao của các vị. Tuy nhiên, Cha Bề Trên Cả dòng Chúa Cứu Thế nghĩ rằng, cần phải đợi chờ cơ hội thuận tiện. Và dịp may đã đến. Ngày 11-12-1865, cha Mauron được Đức Giáo Hoàng Pio 9 tiếp kiến. Sau khi trình bày một số dữ kiện lịch sử liên quan đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cha Bề Trên Tổng Quyền Mauron xin Đức Thánh Cha cho phép dòng Chúa Cứu Thế được đưa Bức Ảnh Phép Lạ trở về chỗ cũ, bây giờ là đền thờ Thánh Alphonsô. Vốn có lòng tha thiết yêu mến và tôn kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria, Đức Giáo Hoàng Pio 9 chấp nhận ngay lời xin của cha Mauron. Và ngày 19-1-1866, sau 60 năm lưu đày, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được long trọng rước về đồi Esquilino.

Ngày 17-4-1866, Đức Hồng Y Patrizzi, nhân danh Đức Thánh Cha Pio 9, phổ biến thông cáo, báo tin cho toàn dân Roma được biết, từ nay, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được đặt nơi đền thờ Thánh Alphonsô cho toàn thể các tín hữu Công Giáo đến kính viếng..

Về phần các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, để tỏ lòng tri ân, các vị đã long trọng tổ chức tuần tam nhật tạ ơn trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng 4 năm 1866.

Ngày 26-4-1866, nhằm lễ kính thánh Giáo Hoàng Cleto, vị sáng lập tiên khởi của đền thờ Thánh Mattêô, trên đồi Esquilino. Nhân dịp này, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được rước long trọng qua khắp các nẻo đường thành phố phố Roma. Quang cảnh vô cùng cảm động. Đường phố được trang hoàng toàn bằng các cành cây nguyệt-quế và đào-kim-nhưỡng. Các tín hữu đứng đông nghẹt hai bên đường chào kính Bức Ảnh. Mọi người giữ thinh lặng và sốt sắng cầu nguyện. Sau cuộc rước, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức tuần tam nhật tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhật Báo Roma thời đó ghi lại như sau.
.. Không thể nào mô tả cho hết bầu khí đền thờ Thánh Alphonso trong ba ngày 27, 28 và 29. Các vị Hồng Y, Giám Mục, Giám Chức đủ bậc, Linh Mục dòng và triều, thay phiên nhau cử hành thánh lễ trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tín hữu Công Giáo – từ muôn hướng – lũ lượt tiến lên đồi Esquilino. Mọi người sốt sắng tham dự thánh lễ và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. Từ sáng sớm đến chiều tối, lúc nào đền thờ cũng chật ních tín hữu hành hương. Phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được phần nào nhiệt tình của các tín hữu. Họ nô nức kính viếng và cầu nguyện trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các bệnh nhân, những người tàn tật, các kẻ mù lòa, què quặt thì được đưa vào tận bên trong thánh đường ..

Giống như cuộc rước kiệu đầu tiên vào ngày 27-3-1499, lần này, tức hơn 350 năm sau, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng làm phép lạ, tưởng thưởng lòng thảo kính ngoan hiền của toàn dân Roma.

Một bé gái 8 tuổi, từ 4 năm qua bị tê bại không sử dụng được đôi chân. Bà mẹ bỗng nảy ra ý nghĩ giơ con lên, trình với Đức Mẹ, khi Bức Ảnh rước qua chỗ hai mẹ con đang đứng. Tức khắc, bé gái động đậy được đôi chân. Vài ngày sau, bà mẹ mang con tới đền thờ Thánh Alphonsô. Đến trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bà thưa lớn tiếng như sau: “Xin Mẹ hoàn tất việc Mẹ đã khởi công”. Vừa cầu nguyện xong, đứa bé liền đứng dậy và bước đi bình thường, trước sự kinh ngạc và vui mừng khôn tả của mọi người hiện diện.

Tháng 5 tiếp liền sau tuần tam nhật năm 1866, đã được cử hành với trọn lòng đạo đức và hết sức sốt sắng. Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 cũng đích thân đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngài cũng nhận một bản sao Bức Ảnh Phép Lạ và đưa về đặt nơi nhà nguyện riêng của ngài trong Phủ Giáo Hoàng. Lòng kính mến Đức Mẹ gia tăng đến độ, vào cuối tháng 5, các tín hữu Công Giáo Roma đã hiệp ý quyên góp tiền của và xin các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức thêm một tuần tam nhật khác, dâng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Năm sau, ngày 23-6-1867, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được Kinh Sĩ Đoàn đền thờ thánh Phêrô long trọng đội triều thiên bằng vàng.

Các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, đồ đệ Thánh Alphonso, luôn có truyền thống kính mến Đức Mẹ. Nhưng kể từ khi Bức Ảnh được giao phó cho các vị trông coi, Hội dòng Chúa Cứu Thế như được gắn liền với Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tu sĩ Chúa Cứu Thế nhiệt thành phổ biến lòng sùng mộ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tính đến năm 1916, đã có 4000 bản sao chính thức Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính tại các nhà thờ rải rác trên toàn thế giới. Đâu đâu cũng thế, các tín hữu Công Giáo đều có chung một lòng kính mến và tin tưởng nơi sự trợ giúp vô biên của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Sự kiện này lôi cuốn chú ý của Tòa Thánh, đặc biệt là Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9, quí tử của Nữ Trinh Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Thánh Cha muốn rằng, hàng năm vào ngày 23-6, ngày kỷ niệm Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được đội triều thiên bằng vàng, dòng Chúa Cứu Thế phải cử hành thánh lễ trọng thể mừng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngoài ra, vào năm 1871, hiệp hội ”Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Alphonso” được thành lập. Chính Đức Pio 9 cũng ghi danh vào Hội và ban cho các Hội viên được hưởng nhiều ân xá.

  1. Ý nghĩa Bức Ảnh

Ngắm nhìn Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hẳn quí vị đặt câu hỏi: – Hai Thiên Thần có ý nghĩa gì? – Tại sao Chúa Hài Nhi lộ vẽ sợ hãi? – Tại sao cái nhìn của Mẹ Ngài trông thật buồn? – Liên hệ nào gắn liền giữa Bức Ảnh mô tả Mẹ Thiên Chúa và tước hiệu “Hằng Cứu Giúp”?. Xin trích dẫn lời giải thích ý nghĩa của Bức Ảnh như sau.

… Chúa Giêsu đang ngủ yên trong vòng tay Đức Mẹ. Bỗng chốc, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie, vị mặc khải mầu nhiệm Cứu Chuộc, và Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, vị bảo trợ Hội Thánh, hiện ra và tỏ lộ cho Chúa Giêsu thấy các dụng cụ hành hình. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cầm trong tay bình đựng đầy mật đắng. Từ bình này, dựng đứng một ngọn giáo giết người và một khúc lau dài, bên trên có miếng vải thấm dấm chua, nhỏ giọt. Trong khi Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie đưa cho Chúa Giêsu xem một khúc gỗ rợn rùng với ba chiếc đinh dài. Đó là thập tự của các tên ác nhân. Trên chóp của thập tự khủng khiếp này, Chúa Hài Nhi đọc thấy hàng chữ: Giêsu thành Nagiarét. Bị đánh thức bởi thị kiến kinh hoàng, Chúa Giêsu ngẩng hẳn đầu lên, đôi tay run rẩy nắm chặt lấy bàn tay dịu hiền của Đức Mẹ và nhìn quanh quất với dáng điệu lo âu sợ hãi. Nhưng có lẽ sau đó, Ngài chấp nhận các dụng cụ tử hình mà Cha Ngài gởi đến, qua trung gian các Thiên Thần, nên Chúa Giêsu can đảm thưa: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thể hiện chứ không phải ý riêng Con!”. Đó là lời Chúa Giêsu sẽ lập lại sau này nơi vườn cây dầu Giệtsêmani.

Người họa sĩ đạo đức, khi vẽ Bức Ảnh này, hẳn đã muốn biểu tượng rằng: “Ngay từ thơ ấu, Chúa Giêsu đã liên lĩ nghĩ đến cuộc khổ nạn trong tương lai”. Về phần Đức Maria, thông phần với Con Mẹ để cứu chuộc nhân loại, như bà Evà xưa kia đã thông phần với ông Adong để phản bội con cái loài người, Đức Mẹ luôn kết hiệp hy sinh của Mẹ với hy sinh của Con Mẹ. Và thay vì nhìn Con Mẹ, Đức Mẹ lại đăm đăm nhìn chúng ta. Cái nhìn vừa dịu hiền vừa u buồn của Đức Mẹ như muốn nói với từng người rằng:

“ .. Hỡi những người con đáng thương của Evà. Các con hãy nhìn xem các con được Chúa Cha trên Trời, Chúa Giêsu và Mẹ Ngài yêu thương các con là dường nào! Vì thế, các con hãy trọn lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Giêsu và yêu mến Mẹ, cũng như đặt hết niềm tin tưởng nơi Mẹ. Chẳng lẽ các con nghi ngờ quyền năng của Mẹ bên cạnh Thiên Chúa hay sao? Khi chấp thuận cái chết đau thương của Con Mẹ, Mẹ đã tậu cho các con những quyền lợi thánh thiêng và Mẹ nhận các con làm con Mẹ, thay cho Chúa Giêsu. Làm sao các con lại có thể nghi ngờ tình thương trìu mến Mẹ dành cho các con, khi mà, để cứu chuộc các con, Mẹ đã bằng lòng trao Con Mẹ, Một Người Con tuyệt hảo như thế?.. A! Các con thật quí hóa đối với Mẹ, quí hóa đến độ, Mẹ lại sợ bị mất các con lần thứ hai, và mất vĩnh viễn! Vậy thì, hãy chạy đến với Mẹ. Mẹ nắm giữ trong tay giá cứu chuộc các con, phương thế chữa trị những thói hư tật xấu của các con. Hãy kêu cầu Mẹ trong bất cứ hoàn cảnh khốn cùng nào, trong mọi yếu đuối sa ngã và trong những chán nản thất vọng nhất của các con. Hãy ngước mắt nhìn Mẹ, lúc các con cảm thấy nghi ngờ, khi các con đã dại dột phạm tội. Mẹ sẽ an ủi, nâng đỡ các con. Mẹ sẽ ban cho các con sức mạnh. Mẹ sẽ soi sáng, giúp các con chỗi dậy từ bùn nhơ. Nói tắt một lời, Mẹ hằng liên lĩ trợ giúp các con, mãi mãi cho đến khi nào Mẹ vui mừng đưa các con vào hưởng tôn nhan Chúa bất tận trên Thiên Đàng”.
.. Đó là ý nghĩa tước hiệu “Mẹ Hằng Cứu Giúp” vậy.

Để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin đề nghị vắn tắt 9 việc đạo đức sau đây.

– Thứ nhất: Mỗi buổi sáng và tối, đọc ba Kinh Kính Mừng và đọc thường xuyên lời nguyện tắt: “Lạy Đức Maria đầu thai vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ”.
– Thứ hai: Mỗi ngày lần trọn chuỗi Mân Côi.
– Thứ ba: Đọc Kinh Cầu Đức Mẹ.
– Thứ tư: Đọc một Kinh Kính Mừng trước mỗi khi làm một việc quan trọng, hoặc mỗi khi nghe tiếng đồng hồ đánh báo hiệu giờ.
– Thứ năm: Giữ thói quen tốt lành đọc Kinh Truyền Tin vào ba buổi sáng, trưa và chiều.
– Thứ sáu: Xem lễ và rước lễ vào các ngày lễ kính Đức Mẹ.
– Thứ bảy: Làm một vài việc đền tội và bác ái cũng như đi lễ vào các ngày thứ bảy.
– Thứ tám: Ghi tên vào các Hội như Mân Côi và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Luôn mang trong mình Áo Đức Bà Camêlô hoặc Ảnh thế Áo Đức Bà.
– Thứ chín: Luôn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ trong mọi nổi lo âu, khi bị cám dỗ và xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp.

  1. Bức Ảnh Làm Phép Lạ

Một thanh niên lúc gần chết, nhất định không chịu xưng tội. Vì bị thân mẫu nài nĩ mãi, chàng tức giận không cho bà đến gần giường. Người mẹ hiền đức không bỏ cuộc. Bà khẩn khoản kêu xin cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi bà kín đáo dấu một ảnh vảy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dưới chiếc gối của con. Lòng tin tưởng của người mẹ đau khổ đã được Đức Mẹ nhậm lời. Hai ngày sau, chính người thanh niên xin gặp linh mục để xưng tội. Chàng lãnh nhận các Bí Tích sau cùng và ra đi bằng an trong ân thánh Chúa..

Đó là câu chuyện xảy ra tại Bruxelles, thủ đô vương quốc Bỉ. Câu chuyện tiếp theo cũng tương tự như thế. Một thanh niên thuộc gia đình Công Giáo đạo đức, lâm trọng bệnh. Từ khi sống ăn chơi buông thả, chàng bỏ hẳn việc đọc kinh, xem lễ và xưng tội. Biết mình sắp chết, nhưng chàng vẫn khăng khăng không chịu ăn năn thống hối. Mẹ và các chị em chàng buồn sầu đến thổ lộ niềm đau với vị linh mục thừa sai. Cha nói ngay: “Hãy đeo cho chàng ảnh vảy Đức Mẹ và kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Bà mẹ làm theo lời khuyên của vị linh mục. Lạ lùng thay, khi chàng thanh niên bằng lòng đeo ảnh Đức Mẹ, tức khắc chàng thay đổi thái độ. Chàng xin gặp linh mục và sẵn sàng xưng tội. Vài ngày sau, chàng êm ái trút hơi thở, sau khi đã giao hòa cùng Thiên Chúa, nhờ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Một người trẻ, 20 tuổi, thành thật kể lại rằng. Trước đây gần một năm rưỡi, tôi thường bị ma quỷ liên tục tấn công, cám dỗ tôi phạm tội, lỗi đức trong sạch. Biết mình luôn bị quấy phá, tôi thấy không còn phương thế nào khác, ngoài việc chạy đến ẩn nương trong vòng tay dịu hiền của Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Ngài là Người Mẹ Thiên Quốc, không bao giờ từ chối lời van nài của bất cứ ai. Thêm vào đó, với tư cách là thành viên Hội Đức Bà Hằng Cứu Giúp, tôi thường kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp. Đức Mẹ đã nghe lời tôi kêu cầu và đã giải thoát tôi khỏi vòng vây của tên “quỉ dâm dục”. Tuy nhiên, để biết chắc mình được Đức Mẹ che chở trọn đời, tôi bèn giao kèo với Đức Mẹ như sau: “Nếu trong vòng một năm, con không hề mảy may bị cám dỗ về điều răn thứ sáu, thì con sẽ quyết tâm sùng kính Mẹ, cùng lúc, con sẽ phổ biến lời cao rao ngợi khen quyền năng Mẹ, Người Nữ quyền uy, đã đạp tan đầu con rắn hỏa ngục!”.

Đức Mẹ đã nhận lời tôi cầu xin. Phần tôi, tôi cũng giữ lời đã hứa với Đức Mẹ. Tôi xin làm chứng trước mặt mọi người rằng: Khi kêu cầu Mẹ Cứu Giúp, chắc chắn sẽ được Đức Mẹ nhận lời.

Phép lạ sau đây do một phụ nữ kể lại. Từ hơn mười sáu năm nay, tôi bị chứng kinh phong hành hạ. Cứ hai tháng một lần, tôi bị lên cơn động kinh, thật khủng khiếp. Sau khi tốn phí không biết bao nhiêu tiền của, các bác sĩ tuyên bố bệnh tình tôi vô phương cứu chữa. Họ còn cho gia đình tôi biết là rất có thể tôi sẽ bị điên. Trong hoàn cảnh thảm thương đó, tôi liền đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tôi cũng đi hành hương đền thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và xin các thành viên Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hợp lời cầu nguyện với tôi và cho tôi.

Tại đền thánh, tôi long trọng hứa với Đức Mẹ rằng: “Nếu trong vòng một năm, con không còn bị lên cơn động kinh nữa, thì để tỏ lòng tri ân Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, con sẽ tham dự thánh lễ và rước lễ, vào mỗi ngày thứ bảy trong tuần, và dâng cúng một số tiền nơi bàn thờ kính Mẹ”. Lời cầu và lời hứa của tôi đã được Đức Mẹ thương nhậm lời. Từ hơn một năm qua, tôi không còn bị chứng kinh phong tàn phá. Trái lại, tôi vui vẻ khoẻ mạnh. Khỏi cần nói, bạn cũng biết rằng, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành mọi lời tôi đã hứa cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vào mỗi ngày thứ bảy, tôi đều đến đền thánh Đức Mẹ để dự lễ, rước lễ và dâng cúng một số tiền. Nhưng có lẽ của lễ đẹp lòng Đức Mẹ nhất, chính là việc tôi sốt sắng rước Mình Thánh Chúa Kitô.

Phép lạ sau đây xảy ra tại Valparaiso, một thành phố nằm về phía Tây Bắc thủ đô Santiago của nước Chí-Lợi. Một phụ nữ Công Giáo kể lại rằng.

.. Cách đây 6 tháng, vì công việc buôn bán, chồng tôi phải đi thủ đô. Tôi ở nhà một mình với 7 đứa con dại, mà đứa lớn nhất mới 12 tuổi. Một cửa tiệm, đầy ứ hàng hóa, ở một nơi hẻo lánh, đó là những điểm thuận lợi lôi kéo sự chú ý của bọn cướp, vốn khét tiếng trong vùng.

Biết rõ hiểm nguy rình chờ, tôi vô cùng sợ hãi và lo lắng. Tôi bỗng nẩy ra ý tưởng, xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm Người canh giữ nhà. Nghĩ xong, tôi tức khắc treo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi cánh cửa, thông thương giữa kho chứa hàng và phòng ngủ của chúng tôi. Vào buổi đọc kinh chung ban tối, tôi bảo các con tôi hãy sốt sắng kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ gìn giữ chúng tôi qua khỏi đêm nay bằng an. Xin Đức Mẹ cứu chúng tôi khỏi bọn cướp của và giết người.

Nghe lời tôi, các con tôi liền ngước mắt nhìn lên Bức Ảnh và thưa: “Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ canh chừng và bảo vệ chúng con”. Đứa bé út, chưa đầy hai tuổi, không hiểu rõ hiểm nguy là gì, nhưng bắt chước anh chị, bé cũng chắp tay lại và ngước mắt van nài nhìn lên Bức Ảnh. Cảnh tượng đó khiến tôi thật cảm động. Hẳn Đức Mẹ cũng cảm động không kém, nên đã ra tay cứu giúp chúng tôi.

Đêm hôm ấy, khoảng một giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng động. Tôi nghe rõ tiếng những người đàn ông xầm xì, đang rảo quanh nhà. Tôi lạnh điếng người. Tôi thầm nghĩ: “Chúa ơi, xin thương xót chúng con. Lạy Đức Mẹ, xin cứu con và các con của con”. Tôi chỉ nói được bấy nhiêu. Nổi lo sợ làm tôi như bị chết cứng trong giường. Chẳng mấy chốc, tôi nghe tiếng cuốc xẻng. Bọn cướp định phá tung cửa nhà kho. Nhưng không được vì cửa cài thanh sắt rất kỹ. Họ bèn quay sang đục tường nhà. Tường nhà thô sơ nên dễ đục. Nhờ lỗ đục, họ chui vào nhà kho cách dễ dàng. Không thể nào tả hết nổi kinh hoàng của tôi. Giữa nhà kho và phòng ngủ, chỉ ngăn cách bởi một cánh cửa, không ổ khóa. May mắn thay, chúng tôi có được một khí giới an toàn duy nhất: đó là Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp treo trên tường!.

Bỗng cánh cửa hé mở. Ôi thôi, lạy Chúa, cuộc sống, danh dự, tiền của, tất cả rồi sẽ tiêu tan hết. Tôi chỉ còn biết phó thác linh hồn tôi trong tay Chúa. Nhưng rồi, cánh cửa đóng lại tức khắc. Ba lần như vậy. Trong khi đó, bọn cướp dọn sạch nhà kho, không để lại một thứ gì. Sau đó là im lặng như tờ .. cho đến sáng.

Sáng sớm hôm sau, khi vào nhà kho, tôi bàng hoàng thấy bọn cướp mang đi tất cả những gì có giá trị. Chúng chỉ để lại mạng sống cho chúng tôi. Nhưng chính vì mạng sống, mà chúng tôi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa và Đức Mẹ, đã thương gìn giữ chúng tôi thoát chết.

Và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã tưởng thưởng lòng đơn sơ phó thác của chúng tôi cách bội hậu. Vào gần trưa, một người cỡi ngựa dừng lại trước nhà, nói với tôi: “Thưa bà, bọn cướp đang ở trong rừng. Chúng đang chia nhau các vật ăn cắp. Tôi sẽ chạy ngay báo cảnh sát”. Nói xong, ông thúc ngựa phóng đi.

Được báo, cảnh sát tức tốc đến nơi và bắt trọn ổ, gồm 6 người. Đó là bọn cướp nguy hiểm nhất trong vùng. Tên đầu đảng đã từng giết trên 30 người và khét tiếng về những hành động tàn ác vô cùng dã man. Ông đặc biệt bắt cóc trẻ em rồi sát hại chúng bằng những cực hình khủng khiếp.

Nơi tòa án, vị thẩm phán cất tiếng hỏi tên đầu đảng: “Là một tên khát máu, làm sao ông lại không giết chết phụ nữ này cùng với các con của bà?”. Hắn ta trả lời: “Đúng ra đó là ý định của tôi. Tôi lăm le bước vào phòng ngủ với con dao. Nhưng khi đẩy cánh cửa bước vào, một bàn tay cản tôi lại và một tiếng nói vang lên: “Đừng vào”. Hai lần nữa tôi thử bước vào, nhưng cả hai lần tôi đều bị cùng một bàn tay cản lại và nghe cùng một tiếng nói “Đừng vào”. Hoảng sợ, tôi không dám bước vào nữa và nói với đồng bọn: “Chúng mình rút lui”.

Quan tòa kết án tù 6 tên cướp và truyền trả lại cho chúng tôi tất cả những gì họ đã ăn cắp. Diễn tả sao cho hết, trọn tâm tình tri ân của gia đình chúng tôi đối với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Chúng tôi chỉ biết dâng lên Hiền Mẫu Thiên Quốc lời nguyện đơn sơ rằng: “Sau khi giải thoát chúng con khỏi cái chết ở đời này, xin Mẹ cũng cứu chúng con thoát khỏi cái chết vĩnh viễn ở đời sau. Chúng con xin mãi mãi ghi ơn Mẹ”.

(Saint Alphonse de Liguori, “Gloires de Marie”, Edition populaire, 1929, trang 237-262).

 From: hnkimnga & NguyenNThu


 

SỐNG, MÀ CHƯA SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”.

“Thiên Chúa đã làm người để con người được trở nên như Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự sống Mục Tử Nhân Lành ban thật dồi dào, nhưng không phải chiên nào cũng sống; Lời Chúa hôm nay mở ra một sự sống đòi được lớn lên đến tầm mức của Thiên Chúa. Và chính ở đó, lộ ra một nghịch lý: ‘sống, mà chưa sống’.

Điều đáng ngạc nhiên không phải là việc sự sống được ban, nhưng là việc sự sống đó có thể bị bỏ qua. Không ai thiếu sự sống đến từ Mục Tử, nhưng không phải ai cũng nhận ra mình đang sống nhờ sự sống ấy. Khi không được nhận ra, sự sống không mất đi, nhưng trở nên câm lặng; nó vẫn ở đó, nhưng không còn làm cho con người thực sự sống, dù vẫn đang sống.

Trong Gioan, sự sống không phải là bios sinh học, nhưng là zōē: một sự sống đến từ Thiên Chúa, mang lấy chiều kích thần linh của Ngài. Vì thế, vấn đề không nằm ở việc còn sống hay không; nhưng ở chỗ nó có được nhận ra và được vận hành. Khi không được nhận ra, sự sống không biến mất, nhưng bị nén lại trong một đời sống quen thuộc, tầm thường; chính ở đó, con người có thể sống, nhưng chỉ sống lây lất. “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống!” – Irênê.

Ở đây, câu hỏi đặt ra: nếu sự sống đã được ban, tại sao nó vẫn có thể bị bỏ qua? Vấn đề không nằm ở sự sống; nhưng ở khả năng nhận ra và đáp lại. Một sự sống không được đón nhận sẽ không biến mất, nhưng cũng không tự lớn lên; nó cần được đánh thức; cần được gọi tên để được nhận ra. Chính trong khoảng cách giữa có và không ấy; giữa đã được ban và chưa được sống, sự sống chờ một cú hích từ bên ngoài, một tác động đủ nhẹ để nó bắt đầu cử động.

Chính ở điểm này, vai trò của Barnaba trở nên rõ nét. Ông không mang đến một sự sống mới, nhưng nhận ra sự sống đã có và làm cho nó trỗi dậy. Thấy “ơn Thiên Chúa” nơi cộng đoàn Antiôkia, ông không chỉ ghi nhận, nhưng khích lệ; không áp đặt, nhưng khơi mở; không thay thế, nhưng làm họ sống từ chính nguồn họ đã nhận – bài đọc một. Khi đó, khích lệ không còn là những lời nói dễ chịu, nhưng là một hành vi vivificare: làm cho sống; để sự sống được vận hành. Được đánh thức, sự sống không còn khép kín, nhưng toả lan thành lời chúc tụng: “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ khơi dậy sự sống, Ngài là chính sự sống; vì thế, điều Ngài ban không thể bị cướp mất; chỉ có thể bị bỏ qua. Ở đó, việc sống không còn là nỗ lực tự thân, nhưng là trở lại một tương quan; và chỉ khi ở lại, con người mới thực sự sống. Phần chúng ta, nhiều khi không thiếu sự sống, chỉ thiếu sự ở lại; vẫn chuyển động mà không thực sự sống; có thể đi rất xa, nhưng không ở trong. Chính ở đó, lộ ra một nghịch lý: ‘sống, mà chưa sống’. “Đời chỉ hiểu được khi nhìn lại; nhưng phải sống khi bước tới!” – Søren Kierkegaard.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không thiếu sự sống; chỉ thiếu sự ở lại. Xin đừng để con sống lây lất; sống như chưa từng sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IV Phục Sinh

Tôi và Cha tôi là một.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,22-30

22 Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. 23 Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-môn. 24 Người Do-thái vây quanh Đức Giê-su và nói : “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” 25 Đức Giê-su đáp : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. 26 Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. 27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi. 28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời ; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. 29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. 30 Tôi và Chúa Cha là một.”


 

KHÔNG AI SỐNG DỄ HƠN AI – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

Có một điều mà con người rất hay lầm tưởng: nhìn vào cuộc đời của người khác và nghĩ rằng họ đang sống dễ dàng hơn mình. Ta thấy một nụ cười và cho đó là hạnh phúc trọn vẹn. Ta thấy một thành công và cho rằng con đường của họ trải đầy hoa. Ta thấy một mái ấm và tưởng rằng bên trong đó chỉ có yêu thương không vết xước. Nhưng sự thật là, làm gì có cuộc sống của ai dễ dàng hơn ai. Mỗi con người là một câu chuyện dài, và phần mà người khác nhìn thấy chỉ là một đoạn rất ngắn, rất sáng, rất được “chọn lọc” trong vô vàn những góc tối mà họ đã đi qua.

Có người bước đi nhẹ nhàng, không phải vì con đường bằng phẳng, mà vì họ đã quen với việc gồng mình qua những đoạn gập ghềnh. Có người mỉm cười rất tươi, không phải vì họ chưa từng khóc, mà vì họ đã khóc quá nhiều đến mức không muốn ai nhìn thấy nước mắt nữa. Có người thành công sớm, không phải vì họ gặp may mắn hơn, mà vì họ đã đánh đổi những năm tháng mà người khác đang vui chơi, nghỉ ngơi, để âm thầm nỗ lực. Cũng có người đi chậm, không phải vì họ kém cỏi, mà vì họ đang mang theo những gánh nặng mà người khác không hề biết.

Chúng ta thường so sánh cuộc đời mình với người khác bằng những gì hiện ra trước mắt, mà quên rằng mỗi người đều đang chiến đấu trong một trận chiến rất riêng. Có những trận chiến không có tiếng súng, không có khói lửa, nhưng lại dai dẳng và mệt mỏi đến tận cùng. Đó là cuộc chiến với nỗi sợ hãi, với những tổn thương trong quá khứ, với áp lực của hiện tại, và với những bất an về tương lai. Có người chiến đấu với bệnh tật, có người chiến đấu với cô đơn, có người chiến đấu với sự thiếu thốn, có người lại chiến đấu với chính sự trống rỗng trong lòng mình. Không ai thật sự rảnh rỗi hay nhẹ nhõm như vẻ ngoài họ thể hiện.

Đôi khi ta ghen tị với một ai đó vì họ có những thứ mà ta không có. Nhưng ta không biết rằng, để có được điều đó, họ đã phải mất đi những gì. Có những cái giá không thể đo đếm bằng tiền bạc hay danh vọng. Có những đêm mất ngủ, những lần thất bại, những lần bị từ chối, những khoảnh khắc tưởng chừng như không thể đứng dậy nổi nữa. Nhưng rồi họ vẫn đứng dậy, không phải vì họ mạnh mẽ hơn, mà vì họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tiếp tục.

Cuộc sống không phải là một cuộc thi xem ai dễ dàng hơn, mà là một hành trình riêng của mỗi người. Mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một hoàn cảnh khác nhau, một gánh nặng khác nhau, và cả một ơn gọi khác nhau. Có người được trao nhiều, có người được trao ít, nhưng điều đó không làm cho cuộc đời của ai nhẹ hơn hay nặng hơn một cách tuyệt đối. Bởi vì khi được trao nhiều, người ta cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Khi có nhiều thứ để giữ, người ta cũng có nhiều thứ để lo sợ mất đi.

Thế nên, điều quan trọng không phải là so sánh, mà là hiểu và cảm thông. Khi ta hiểu rằng không ai sống dễ dàng hơn ai, ta sẽ bớt đi sự phán xét. Ta sẽ không còn vội vàng kết luận về một con người chỉ qua vài hình ảnh bề ngoài. Ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với người khác, vì ta biết rằng họ cũng đang mệt mỏi theo cách của họ. Và quan trọng hơn, ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với chính mình.

Có những ngày ta thấy mình yếu đuối, thấy mình chậm chạp, thấy mình thua kém. Nhưng nếu nhìn lại thật sâu, ta sẽ nhận ra rằng mình cũng đã đi qua rất nhiều điều không hề dễ dàng. Những gì ta đang có hôm nay, dù nhỏ bé, cũng là kết quả của rất nhiều cố gắng âm thầm. Ta không cần phải trở thành ai khác. Ta không cần phải sống nhanh hơn hay giỏi hơn người khác. Ta chỉ cần sống thật với hành trình của mình, kiên nhẫn với chính mình, và bước đi từng bước, dù chậm, nhưng vững.

Cuộc đời không hứa hẹn sự dễ dàng cho bất cứ ai. Nhưng cuộc đời luôn cho mỗi người đủ sức để đi qua phần của mình, theo cách của mình. Và có lẽ, điều đẹp nhất không phải là một cuộc sống không có khó khăn, mà là một con người biết đứng lên sau khó khăn, biết yêu thương giữa những tổn thương, và biết bình an ngay cả khi cuộc đời không như ý.

Vì vậy, thay vì hỏi “tại sao cuộc sống của người khác dễ hơn mình”, có lẽ ta nên tự hỏi: “mình đã đi được bao xa trên con đường của mình rồi?”. Khi ta thay đổi cách nhìn, ta sẽ nhận ra rằng, không ai thật sự hơn ai trong sự dễ dàng. Tất cả chúng ta, theo những cách rất khác nhau, đều đang cố gắng sống, cố gắng yêu, và cố gắng giữ cho mình không gục ngã giữa cuộc đời này.

Và như thế, cuộc sống – dù không dễ dàng – lại trở nên có ý nghĩa hơn rất nhiều, bởi vì mỗi bước đi đều là một chiến thắng thầm lặng, mỗi ngày trôi qua đều là một minh chứng rằng ta vẫn đang mạnh mẽ hơn những gì ta từng nghĩ.

Lm. Anmai, CSsR


TIẾNG QUEN – LÒNG LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng không nhận biết tiếng người lạ!”.

Một người Mỹ du lịch Syria, thấy ba người chăn chiên cùng dẫn đàn vật trên một con đường. Người thứ nhất gọi, “Men ah! Men ah!”. Chiên tách đàn, theo anh. Người thứ hai cũng gọi; chiên theo. Người Mỹ xin mũ, cầm gậy, rồi gọi, “Men ah! Men ah!”. Không con nào ngẩng lên. “Chiên không nghe ai khác sao?” – “Có chứ! Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”. Lời Chúa hôm nay không hỏi chúng ta nghe gì, nhưng hỏi: Con khoẻ không? Vì có những lúc, chính nơi thân thuộc nhất, lại xảy ra ‘tiếng quen – lòng lạ’.

Không phải mọi âm thanh đều là tiếng gọi; và không phải cứ nghe là nhận ra. Với Gioan, “nghe” không dừng ở giác quan, nhưng là tương quan: chiên nhận ra tiếng chủ vì nó thuộc về. Chủ chiên quen nói với chiên, nó ngẩng lên và đi theo; với người lạ thì không. Vì thế, vấn đề không phải có bao nhiêu tiếng vang chung quanh, nhưng ở chỗ bạn và tôi quen với tiếng nào; bởi chỉ nơi sự thân quen được nuôi dưỡng, việc nhận ra mới trở thành gần như một phản xạ.

Gioan không dừng lại ở việc nghe như một phản xạ tự nhiên. Động từ ông dùng vượt quá akouo – nghe như âm thanh chạm vào tai; nó hướng tới ginosko – nhận biết phát sinh từ gắn bó. Vì thế, nhận ra không là kết quả của phân tích, nhưng là hoa trái của một đời sống đã quen với tiếng ấy. Chiên không so sánh các giọng; nó chỉ quay về với tiếng mình đã sống cùng. Gioan không xây thần học trên “nghe”, nhưng trên sự tương thuộc. Một khi sự thuộc về này phai đi, tiếng vẫn còn mà lòng đã vắng; ‘tiếng quen – lòng lạ’. “Không gì làm lòng người trở nên chai cứng cho bằng sự quen thuộc với những điều thánh” – J.C. Ryle.

Người ta sẽ đi theo tiếng mình quen. Chỉ cần đủ Lời Chúa để thấm giọng của Ngài; đủ lặng để lòng không bị lấn át. Từ đó, một thói quen cầu nguyện hình thành, đủ bền để nhận ra, đủ tỉnh để bước theo giữa bao bận rộn. “Ngài ở trong con, mà con lại ở ngoài Ngài!” – Augustinô. Phêrô từng chất vấn, “Những gì ô uế… không bao giờ lọt vào miệng con”; nhưng trong cầu nguyện và phân định, ông nhận ra tiếng Chúa. Cộng đoàn không còn tranh luận, nhưng lắng đọng; và khi lắng xuống, họ nhận ra Chúa cũng mở lối sự sống cho dân ngoại – bài đọc một.

Anh Chị em,

Đức Giêsu không chỉ nghe, nhưng luôn ở trong tiếng của Cha; những gì Ngài nói và làm đều phát xuất từ Cha. Ngài không bị lôi kéo vì không thuộc về những tiếng khác; và chính trong sự hiệp thông ấy, Ngài trở thành tiếng mà chiên nhận ra. Còn chúng ta, không phải lúc nào cũng nhạy để nghe; nhiều khi vẫn đọc, vẫn cầu nguyện, nhưng lòng đã ở nơi khác: những tiếng lạ vốn luôn ngọt ngào. Tiếng vẫn quen, mà lòng không còn chạm. Không phải Chúa ngừng nói, nhưng chúng ta thôi ở lại; và khi không còn ở lại, sẽ là ‘tiếng quen – lòng lạ’. “Chúa nói với chúng ta bằng nhiều cách, nhưng chúng ta cần học biết lắng nghe!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dường như con không khoẻ, có lẽ đã ‘bệnh’. Xin chữa lành con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần IV Phục Sinh

Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 10,11-18

11 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, 13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. 14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, 15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

16 “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. 17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. 18 Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” 


 

KHÔNG PHẢI LỐI VÀO, NHƯNG LÀ CỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi là cửa cho chiên ra vào!”.

Tại một triền đồi Palestine, nhóm du khách thấy một ràn chiên không có cửa thì thắc mắc. Người chăn chiên chỉ vào khoảng trống và nói: “Tôi là cửa. Chiều đến, tôi nằm ngay lối ấy; không con chiên nào ra, không con sói nào vào, trừ khi bước qua tôi”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói về một lối vào, nhưng về một con người; không phải một đường đi, nhưng là một tương quan: ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’.

Chúa Giêsu không chỉ chỉ ra một lối vào, nhưng nhận mình là cửa – ego eimi hē thyra. Ở đây, đức tin không còn là tìm một con đường, nhưng là bước vào một sự hiệp thông. “Cửa” không chỉ để đi vào, nhưng là chính Ngài; không phải là một điểm dừng, nhưng là nơi sống còn, từ đó sự sống mở ra. Vì thế, không ai đi vào bằng một lối khác, nhưng per ipsum – qua chính Ngài; và chỉ khi bước qua Ngài, con người mới thực sự sống. “Thiên Chúa trước hết không phải là một ý niệm, nhưng là một thực tại lôi kéo chúng ta vào trong đó!” – Von Balthasar.

Nếu “cửa” không còn là một lối vào, thì “đi vào” không còn là một hành động; nhưng là một nhận ra: tiếng mục tử. Ở đây, vấn đề không phải là tìm đúng đường, nhưng là nhận ra đúng tiếng. Không phải mọi âm thanh đều dẫn đến sự sống; chỉ tiếng của mục tử mới mở ra lối vào sự sống. Vì thế, việc đi qua cửa bắt đầu từ một sự nhận ra, không phải từ chính mình; nhưng từ tiếng gọi, nơi ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’. Giữa bao tiếng ồn của đời sống, không phải lúc nào con người cũng nghe ra tiếng đó.

Sự sống ấy làm nên những con người được biến đổi – những kẻ từng sợ hãi nay dám làm chứng, những cộng đoàn từng khép kín nay dám tuyên xưng – bài đọc một. Và vì thế, điều được hứa không phải là sự an toàn, nhưng là sự sống dồi dào – “Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào” – một sức sống trào tràn từ chính Ngài, Đấng “chăm sóc linh hồn” – bài đọc hai. Những ai đi qua Ngài mà ra vào thì được no thoả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đây, con người nhận ra điều mình thiếu không phải là lối đi, nhưng là một nơi để thuộc về. Con người có thể đi rất xa mà vẫn không thực sự ở trong. “Hãy ở lại trong Ngài, và bạn sẽ được đổi mới!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Sự sống mà cửa Giêsu dẫn vào chính là sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, Đức Kitô là cửa không chỉ để con người đi qua, nhưng để đưa con người vào trong chính sự sống thần linh. Giữa những giới hạn rất thực, con người vẫn có thể hiện diện, mà không thực sự ở lại. Và chỉ khi được ở lại trong sự sống yêu thương này, con người mới thực sự sống – ngay trong những giới hạn. “Con người chỉ thực sự tìm thấy mình khi biết trao ban chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con lây lất như chiên không người chăn, cho con dám bước qua Ngài, để được sống sự sống Ngài trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH – NĂM A

Tôi là cửa cho chiên ra vào.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,1-10

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.”


 

SƯ TỬ CÓ ÐÔI CÁNH – Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia


Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

Khách du lịch đến thưởng ngoạn Venice, một thành phố mơ mộng nằm trên sông nước và được làm tăng thêm vẻ đẹp bằng những công trình kiến trúc độc đáo cũng như bằng những tác phẩm nghệ thuật thời danh nằm ở mạn đông bắc Italia, không thể bỏ qua công trường Marcô, công trình mang tên của vị thánh bổn mạng của thành phố Venice và cũng là vị thánh Giáo hội mừng kính hôm nay.


Trên con đường tiến gần đến công trường Marcô, du khách nhìn thấy một con sư tử có đôi cánh đứng sừng sững trên một ngọn tháp cao.  Hình sư tử này nhắc đến sự nghiệp viết sách Phúc Âm đầu tiên của thánh Marcô, như chứng từ của sử gia Papias, sinh sống vào cuối thế kỷ thứ hai viết như sau:

“Marcô, người thông ngôn của Phêrô, đã viết ra đúng những gì nhớ được, tuy không theo thứ tự, về những điều Ðức Kitô đã nói và đã làm.  Marcô không trực tiếp nghe Chúa giảng, cũng không phải là môn đệ của Ngài.  Nhưng ông đã tháp tùng Phêrô, người đã giảng dạy theo những gì ông cảm thấy cần thiết, chứ không phải chủ tâm thuật lại lời Chúa một cách có hệ thống.”

Marcô là người thông ngôn và lãnh trách nhiệm chép lại những lời Phêrô giảng, vì thế không lạ gì ở cuối bức thư thứ nhất, Phêrô gọi ông là “Marcô, người con của tôi.”

Ngoài sự gần gũi với thánh Phêrô, Marcô cũng tiếp xúc lân cận với Phaolô, bắt đầu vào lần gặp gỡ đầu tiên vào năm 44, khi Phaolô và Barnaba đưa về Giêrusalem số tiền cộng đoàn Antiokia quyên được để trợ giúp cộng đoàn Mẹ.  Khi trở về, Barnaba đem theo Marcô, là cháu của ông.

Sau đó, trong khi đồng hành với Phaolô và Barnaba để hoạt động truyền giáo ở đảo Cypre, vì một sự bất đồng ý kiến nào đó, Marcô đã bỏ về Giêrusalem.  Vì lý do này, trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phaolô đã nhất quyết không cho Marcô theo, mặc dù Barnaba tha thiết yêu cầu.  Sự kiện này đã gây đổ vỡ đến sự cộng tác giữa Phaolô và Barnaba.

Nhưng trong những ngày cuối đời, khi chờ đợi ngày hành quyết, Phaolô đã viết thư nhắn với Timôthê: “Hãy đem cả Marcô đến nữa, vì tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy lắm.”  Bạn bè người ta muốn gặp trong những ngày cuối đời phải là những người đồng sinh đồng tử!

Những chi tiết khác nhau đó của cuộc đời của thánh Marcô không lấy gì làm chắc.  Có tài liệu cho là thánh nhân chết tự nhiên.  Tài liệu khác lại cho là thánh nhân được phúc tử đạo.  Vương cung thánh đường tại công trường Marcô ở Venice tự hào là còn giữ lại hài cốt của Ngài.

Trong cuộc sống, Marcô đã chu toàn bổn phận mà mọi người Kitô được kêu gọi phải thực thi: Ðó là rao giảng Tin Mừng và làm chứng về Ðức Kitô.  Marcô đã thực hiện công việc này đặc biệt qua công tác viết sách Phúc Âm, những người Kitô khác qua kịch nghệ, âm nhạc, thơ phú hay qua việc dạy đạo cho con em quanh bàn ăn của gia đình hoặc qua cuộc sống chứng tá trong những sinh hoạt và nếp sống hằng ngày.

Trích trong ‘Lẽ Sống’ – Radio Veritas Asia

From: Langthangchieutim 


 

Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. (Cv 13:32-33) – Cha Vương

Ngày Thứ 6 bình an zui zẻ đủ để chia xẻ cho những người chung quanh nữa nhé. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé 

Cha Vương

Thứ 6, 4PS: 24/4/2026.  (n16-5-25)

TIN MỪNG: Còn chúng tôi, chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong Thánh vịnh 2: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. (Cv 13:32-33)

SUY NIỆM: Ai ai trong đời đã có một lần thất hứa hay bị người khác cho leo cây. Hứa thì dễ nhưng giữ lời hứa lại rất khó. Bản chất con người dễ bội tín, thất trung với lời hứa của mình. Còn đối với Thiên Chúa thì sao? “Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.” (Tv 145:13b) 

Hôm nay Sách Công Vụ nhắc nhở bạn về điều Thiên Chúa đã hứa với bạn và cả cha ông của bạn nữa. Chúa hứa sẽ ban bình an cho những ai hết lòng tin tưởng vào Ngài. Hơn bao giờ hết con người cần bình an. Bình an để  khỏi bị lo âu sợ hãi. Bình an vì có Chúa luôn bảo vệ phù trì. Bình an vì được Chúa dẫn dắt qua những thung lũng sâu của dòng đời. Thật là hổ thẹn với Chúa vì đã nhiều lần bất trung với Chúa với nhau để lại bao nhiêu tổn thương cho người thân yêu và những người chung quanh. 

LẮNG NGHE: Đừng chỉ vâng lời trước mặt, như muốn làm đẹp người ta, nhưng như nô lệ của Đức Kitô, đem cả tâm hồn thi hành ý Chúa. (Ep 6:6)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin giúp con luôn can đảm trung thành với Chúa, luôn tuân giữ lời Chúa để được Chúa quan phòng chở che. Xin Chúa cũng giúp con biết giữ lời hứa với nhau để xã hội luôn thăng tiến trong Chúa và nhờ Chúa.

THỰC HÀNH: Nhẩm đi nhẩm lại lời hứa của mình như rửa tội, hôn nhân, khấn dòng, lời hứa dấn thân linh mục, v.v…

From: Do Dzung

***********************************

NGUYỆN CHÚA BAN AN BÌNH – Jb. An Ninh – Ca sĩ Tuyết Mai

VẮNG MẶT, KHÔNG VẮNG HOẠT ĐỘNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các tông đồ đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông”.

“Đứng trên đỉnh đồi, tôi nhìn thung lũng này đến thung lũng khác; từ ánh nắng đến sương mù, từ bóng tối của đêm. Bước theo Ngài trên đường đời quanh co, bằng niềm tin nhiều hơn bằng thị giác… Tôi an lòng về một sự hiện diện liên lỉ!” – William Cowper.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy: trên đường đời quanh co của các môn đệ, Đức Kitô không còn hiện diện như trước; nhưng trong đó, một cách hiện diện khác được tỏ lộ – âm thầm, nhưng sâu xa hơn: Ngài ‘vắng mặt, không vắng hoạt động’.

Các môn đệ được sai đi trong một hoàn cảnh chưa từng có: không còn Thầy trước mắt, không còn dấu chỉ hữu hình, chỉ còn một lệnh truyền. Thế nhưng, họ vẫn ra đi. Không phải như thể Ngài đang ở đó, nhưng vì Ngài đang hiện diện theo một cách khác. Điều làm nên khác biệt không nằm ở họ, nhưng ở nơi Đấng tuy không còn thấy, nhưng vẫn hành động. Chính trong kinh nghiệm ấy, họ nhận ra: sự vắng mặt không phải là mất đi, nhưng là một cách hiện diện. “Thiên Chúa hiện diện trong mọi sự bằng chính quyền năng và hoạt động của Ngài!” – Tôma Aquinô. Vì thế, sự hiện diện của Ngài không bị giới hạn trong hình thức hữu hình, nhưng lan toả trong hoạt động. Khi các môn đệ lên đường, chính Ngài đang lên đường với họ.

Lệnh truyền của Marcô không chỉ vượt quá sức người, nhưng mở ra một thực tại mới: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng!”. Như Michael Pakaluk nhận định: họ được mời gọi chỉnh đốn những gì hỏng hóc, tái thiết những gì bị đánh mất, và đưa thế giới trở về trật tự của Thiên Chúa; nhưng chính Ngài mới là Đấng làm điều đó trong họ. Người môn đệ không được sai đi vì đủ khả năng, nhưng vì được ở trong một tương quan, nơi Đấng đang hoạt động tiếp tục công trình của Ngài. Đây không còn là một parousia hữu hình, nhưng là một sự hiện diện được nhận ra trong hành động.

Trong thư của mình, Phêrô nhắc rằng giữa thử thách, Thiên Chúa vẫn đồng hành. Có những lúc không còn thấy Ngài theo cách cũ, nhưng chính khi đó, Ngài lại ở gần hơn. “Chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường” – bài đọc một. Không phải họ tự đứng vững, nhưng được nâng đỡ từ bên trong; bởi thế, họ sống trong tâm tình tạ ơn: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đi vào một nơi chốn, nhưng đi vào trong Cha. Từ tương quan ấy, Ngài không ngừng hoạt động. Vì thế, nếu các môn đệ thấy Ngài vẫn hành động, thì không phải vì Ngài trở lại, nhưng vì Ngài không bao giờ rời khỏi tương quan ấy. Chính ở đó, điều tưởng như vắng mặt lại trở thành một hiện diện sâu xa. Điều này cũng đúng với chúng ta. Ngài không luôn ở trước mắt, nhưng không bao giờ vắng mặt. Chúng ta được mời gọi nhận ra Ngài không trong điều dễ thấy, nhưng trong chính những gì đang diễn ra. “Tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự!” – Ignatiô Loyola.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những quanh co của đời con, khi không còn thấy rõ, xin cho con vẫn bước theo Ngài bằng đức tin; và an lòng vì Ngài không bao giờ vắng mặt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa KÍNH THÁNH MARCÔ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG, Thứ Bảy, Tuần III Phục Sinh

Anh em hãy loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 16,15-20

15 Khi ấy, Đức Giê-su hiện ra với Nhóm Mười Một và nói với các ông rằng : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. 18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”

19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.


 

Ngày Chúa nhật quan trọng thế nào? – Cha Vương

 Trời Houston hôm nay ấm áp xin Chúa gìn giữ chúc lành bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi nhé. Xin cậu nguyện cho nhau và toàn thể giới nhé 

Cha Vương

Thứ 5: 23/04/3026.   (n27-23)

GIÁO LÝ: Ngày Chúa nhật quan trọng thế nào? Chúa nhật là tâm điểm của thời giờ Kitô giáo, vì trong ngày Chúa nhật, chúng ta cử hành sự Sống lại của Chúa Kitô và mỗi Chúa nhật là một lễ Phục sinh thu gọn. (YouCat, số 187)

SUY NIỆM: Nếu không tôn trọng Chúa nhật như ngày của Chúa, hay nếu loại bỏ Chúa nhật đi thì tuần lễ chỉ gồm toàn những ngày phải đi làm. Con người được tạo dựng để sống vui, nếu không sẽ trở nên như thân trâu ngựa và như một người điên rồ chỉ biết tiêu thụ. Chúng ta phải học cách sống trên trái đất này như sống ngày lễ, nếu không chúng ta sẽ chẳng biết làm gì ở trên trời. Vì ở trên trời là Chúa nhật đời đời.  (YouCat, số 187 t.t.)

Chúa là niềm vui! Ở đâu có Chúa thì ở đó có niềm vui, có sự bình an và hạnh phúc. 

Chúa là Tình Yêu! Ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có Chúa hiện diện. Nếu bỏ Thánh lễ Chúa nhật thì bạn đang tự tách mình ra khỏi tình thương của Đức Kitô. Bạn đang đánh mất niềm vui và hạnh phúc của cuộc đời mình!

LẮNG NGHE: Ngày thứ nhất trong tuần, chúng tôi họp nhau để bẻ bánh. Ông Phao-lô thảo luận với các anh em và vì hôm sau ông ra đi, nên ông đã kéo dài cuộc nói chuyện đến mãi nửa đêm. (Cv 20:7-8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, niềm vui Phục Sinh là niềm vui của ngày Chúa Nhật, xin giúp con biết cố gắng hết sức dành ưu tiên cho ngày Chúa Nhật để hiệp cùng với linh mục dâng Thánh Lễ—của lễ vô giá với lòng yêu mến chứ không vì bắt buộc hoặc vì thói quen.

THỰC HÀNH: Chú tâm vào ý nghĩa của việc làm thì quan trọng hơn là chính việc làm. Mời bạn hãy chú tâm vào ý nghĩa và thái độ của bạn khi tham dự Thánh Lễ.

From: Do Dzung

******************************8

GIÊSU TÌNH YÊU – CHẦU THÁNH THỂ – Lm Thái Nguyên