NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI–SN Dung Hiếu

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI –

SN Dung Hiếu

Có những cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng lại để lại dấu ấn cho cả một đời người.

Với vợ chồng em, những lần được gặp Cha Sáng Lập Phêrô Chu Quang Minh chính là những cuộc gặp gỡ như thế.

Nhân ngày giỗ đầu của Cha, lòng em bỗng trở về với những ký ức của hơn mười năm trước. Thời gian có thể cuốn đi nhiều điều, nhưng có những hình ảnh càng đi qua năm tháng lại càng trở nên rõ nét trong tâm hồn. Với em, đó là hình ảnh một người Cha hiền hậu, đơn sơ, gần gũi… và đặc biệt, vô cùng khiêm nhường.

Năm 2013, nhờ người dì từ Úc giới thiệu, vợ chồng em từ Sài Gòn về Cà Mau để tham dự Khóa Căn Bản. Khi ấy, chúng em chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đang đi học một khóa học về hôn nhân gia đình. Nhưng có lẽ chính chúng em cũng không ngờ rằng, chuyến đi ấy đã mở ra một cánh cửa mới trong đời sống của hai vợ chồng.

Và điều đầu tiên bước vào cánh cửa ấy chính là hình ảnh của Cha.

Cha uyên bác nhưng không hề làm người khác cảm thấy xa cách. Cha sâu sắc nhưng không khô khan. Những bài giảng của Cha có thể khiến cả hội trường bật cười, rồi chỉ ít phút sau lại khiến mỗi người lặng đi để nhìn vào chính cuộc đời mình. Cha kể chuyện thật tự nhiên, dí dỏm, nhưng đằng sau mỗi tiếng cười là một bài học khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Nhưng trong tất cả những gì em được nghe và được thấy nơi Cha, có một khoảnh khắc đã đi theo em suốt hơn mười năm qua.

Đó là khi Cha giảng về tình yêu và sự khiêm nhường.

Hôm ấy, Cha đã noi gương Chúa Giêsu, quỳ xuống trước chồng em, nhẹ nhàng cởi giày, rủa chân và hôn lên chân anh để minh họa cho bài giảng.

Em vẫn nhớ cảm giác của mình lúc ấy.

Cả người em như lặng đi.

Trước mắt em là một vị linh mục mà em vô cùng kính trọng. Một người thầy uyên bác. Một người Cha được biết bao gia đình yêu mến. Thế nhưng, Cha lại cúi xuống với một sự tự nhiên, bình an và khiêm nhường đến lạ.

Khoảnh khắc ấy đã nói với em nhiều hơn cả một bài giảng.

Em hiểu rằng, khiêm nhường không phải là tự làm mình nhỏ bé, mà là tình yêu đủ lớn để ta biết cúi xuống vì người khác.

Có lẽ từ giây phút ấy, một điều gì đó trong em đã thực sự thay đổi.

Sau Khóa Căn Bản năm ấy, vợ chồng em cũng dần thay đổi. Chúng em học cách nhìn nhau bằng một ánh mắt khác. Học cách lắng nghe nhiều hơn. Học cách yêu thương không chỉ khi mọi chuyện tốt đẹp, mà cả khi người kia không giống như điều mình mong đợi. Và trong hành trình nuôi dạy con cái, chúng em cũng bắt đầu hiểu rằng, đôi khi con cái không cần những bài học thật dài, mà cần nhìn thấy cha mẹ sống những điều mình muốn dạy con.

Những lần sau được gặp lại Cha tại Đại hội Song Nguyền kỉ niệm 10 năm ở Sài Gòn, rồi Đại hội SN Liên bang 25 năm tại Úc Châu (Sydney 2019), ấn tượng trong em về Cha vẫn không thay đổi.

Cha vẫn vậy.

Vẫn uyên bác.

Vẫn hóm hỉnh.

Vẫn gần gũi.

Và vẫn khiêm nhường đến khiến người khác phải kính phục.

Nhưng có lẽ ký ức khiến em xúc động nhất là trong Đại hội tại Úc Châu. Khi ấy, tất cả các anh chị Song Nguyệ`n cùng quây quần bên Cha, hát bài “Cảm Ơn Cha Chu Quang Minh”.

Đến cuối bài hát, từng người cầm một bông hoa tiến đến, quỳ dưới chân Cha để bày tỏ lòng biết ơn.

Đó chắc hẳn là một khoảnh khắc mà bất cứ ai có mặt hôm ấy cũng khó quên.

Biết bao con người.

Biết bao gia đình.

Biết bao cuộc đời đã nhận được điều gì đó từ hạt giống mà Cha đã gieo.

Vậy mà giữa những lời cảm ơn chân thành ấy, Cha lại nhẹ nhàng nói:

“Đừng cảm ơn tôi. Hãy tạ ơn Đức Chúa Trời. Đừng cảm ơn tôi. Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Đến hôm nay, em vẫn không quên được câu nói ấy.

Có lẽ bởi vì chính trong câu nói ấy, em lại nhìn thấy con người thật của Cha.

Một người đã dành cả cuộc đời để phục vụ biết bao gia đình.

Một người đã đi khắp nơi để chia sẻ, hướng dẫn và nâng đỡ.

Một người đã gieo biết bao hạt giống yêu thương.

Thế nhưng, Cha không nhận công về mình.

Cha trả tất cả về cho Chúa.

“Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Một câu nói đơn sơ.

Nhưng càng sống, em càng thấy câu nói ấy sâu sắc.

Phải chăng, đó chính là đỉnh cao của sự khiêm nhường?

Làm được rất nhiều điều nhưng không coi đó là công lao của mình.

Được rất nhiều người yêu mến nhưng không đặt mình ở trung tâm.

Được mọi người cảm ơn nhưng lại hướng tất cả lòng biết ơn ấy về với Thiên Chúa.

Có lẽ vì thế mà dù Cha đã đi xa, những gì Cha để lại vẫn còn ở đây.

Trong một đôi vợ chồng đang cố gắng hiểu nhau hơn.

Trong một người chồng học cách lắng nghe.

Trong một người vợ học cách nhẫn nhịn.

Trong một gia đình đang cố gắng hàn gắn.

Trong những bậc cha mẹ đang học cách trở thành tấm gương tốt cho con cái. Và trong những thành viên Song Nguyền vẫn đang cùng nhau tiếp tục hành trình mà Cha đã khởi xướng.

Cha ơi!

Đã một năm kể từ ngày Cha về cùng Chúa.

Một năm… không phải là một khoảng thời gian quá dài đối với một cuộc đời, nhưng đủ để chúng con hiểu rằng có những người dù không còn hiện diện trước mắt, vẫn không hề rời khỏi trái tim của những người ở lại.

Chúng con không còn được nghe giọng nói hài hước của Cha.

Không còn được ngồi dưới hội trường để nghe Cha kể chuyện rồi bất chợt bật cười.

Không còn được gặp Cha trong những ngày hội ngộ.

Nhưng chúng con vẫn còn những điều Cha đã gieo vào lòng mình.

Và có lẽ, đó mới là cách một con người tiếp tục sống mãi.

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu của Cha, chúng con cùng nhớ về Cha với lòng biết ơn.

Chúng con tin rằng Cha đã về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Xin Cha, từ nơi quê Trời, vẫn thương đoái nhìn đến chúng con – những gia đình mà Cha đã dành biết bao tâm huyết để yêu thương và phục vụ.

Xin Cha tiếp tục cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

Cho những lúc vợ chồng chúng con mỏi mệt, biết tìm lại tình yêu.

Cho những lúc gia đình gặp giông bão, biết nắm tay nhau.

Cho những lúc chúng con tự hào về chính mình, biết nhớ đến bài học khiêm nhường của Cha.

Và cho chúng con, dù đi đến đâu trên hành trình này, cũng không bao giờ quên rằng:

Tất cả những gì tốt đẹp mình có được đều là một ân sủng.

Cha đã từng nói: “Đừng cảm ơn tôi, hãy tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Hôm nay, chúng con vẫn muốn nói với Cha một lời cảm ơn.

Nhưng xin cho lời cảm ơn ấy không dừng lại ở những đóa hoa hay những giọt nước mắt.

Xin cho lời cảm ơn ấy được tiếp tục bằng cách chúng con sống.

Sống yêu thương hơn.
Sống khiêm nhường hơn.
Sống gần gũi với nhau hơn.
Và tiếp tục cùng nhau giữ gìn ngọn lửa mà Cha đã một đời âm thầm thắp lên.

Cha ơi, chúng con nhớ Cha.

Và trong lời nhớ ấy, chúng con lại cùng Cha cúi đầu:

Tạ ơn Chúa. 

SN Dung Hiếu – Từ CTTTHNGĐ Adeide Úc Châu

Tieu su Cha Sang Lap Chuong Trinh Thang Tien Hon Nhan Gia Dinh ( Cha Phero CHU QUANG MINH)


 

Lễ Suy Tôn Thánh Giá – Cha Vương

Thứ 2 đầu tuần. Xin Chúa gìn giữ bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi nhé. Cùng nhau vác Thánh Gia, xin cậ`u nguyện cho nhau và thể giới được đầy Lòng Thương Xót của Chúa và Mẹ Maria nhé. Hãy bảo trọng!

Cha Vương

Thứ 2: 14/09/2026.   (t4-22)

Mỗi ngày 14 tháng 9 hàng năm, chúng ta nói lên sự biết ơn và lòng yêu mến Ðức Giêsu qua sự tôn trọng thập giá. Trước đây, thập giá từng là biểu hiệu của sự tủi hổ. Các tử tội được chết chém đó là một ân huệ, vì được miễn cho sự nhục nhã khi bị treo trên thập giá. Ðức Giêsu đã thi hành mọi sự để đem lại sự cứu độ cho chúng ta. Ngài đã chấp nhận sự đau khổ thập giá. Ðau khổ dẫn đến tủi nhục.

   Thập giá trở nên dấu hiệu thiêng liêng của Kitô Giáo. Khi thập giá có mang tượng Ðức Giêsu, thập giá đó trở thành thánh giá. Chúng ta treo thánh giá trong nhà hay đeo trên người để nhắc nhở rằng, vì chúng ta mà Ðức Giêsu đã phải hy sinh.

   Trong nhiều thế kỷ, di tích của cây thập giá đích thực được Kitô Hữu quý trọng. Người ta tin rằng vào năm 629, dưới thời Hoàng đế Herachius I, những người Ba Tư xâm chiếm Giêrusalem và lấy mất phần chính của Thánh Giá thật mà thánh Hélène, mẹ của Hoàng đế Constantin đã để lại. Hérachius nhất định chiếm lại thánh giá này. Ngài cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và nung nấu lòng can đảm. Quả nhiên, lời cầu xin của vua đã được Chúa chấp nhận. Ngài đã đánh bại được quân Ba Tư và trở về Constantinople giữa tiếng reo hò của dân chúng. Với những cành olive, những ngọn đuốc cháy sáng, thánh giá thật của Chúa đã được tôn vinh trong bầu khí khải hoàn. Hoàng đế tràn trề vui sướng muốn trở về Giêrusalem với thánh giá này sau 14 năm lưu lạc. Nhà vua long trọng tiến vào thành thánh, nhưng trước khi lên núi Sọ, ngài đã không thể bước đi được nữa, khiến cho mọi người đều kinh ngạc sợ hãi. Giáo trưởng Zachachie hô lớn: “Tâu đức vua, chắc chắn phẩm phục của đức vua không xứng đáng với cảnh nghèo nàn và khiêm nhượng của Chúa Giêsu khi vác thánh giá”. Hérachius vội cởi bỏ mọi phẩm phục sang trọng và thay vào bằng bộ quần áo nghèo hèn. Tức thì nhà vua cất bước một cách dễ dàng… và để tỏ ra sự khải hoàn, Chúa đã ban nhiều phép lạ cả thể trong ngày ấy.

   Từ đó, lễ kính Thánh Giá Chúa Giêsu được lập ra để nhắc nhớ cho các thế hệ kỷ niệm này. Nhưng trước cả thời gian đó, Kitô Hữu đã tôn kính và quý trọng thập giá và lễ Suy Tôn Thánh Giá được các Kitô Hữu tại Rome cử hành từ cuối thế kỷ thứ 7.

   Chữ “thập giá” cũng có nghĩa những đau khổ trên đường đời. Khi chúng ta kiên nhẫn và vui lòng chấp nhận đau khổ như Ðức Giêsu đã chấp nhận thập giá của Ngài, chúng ta sẽ trở nên “người vác thập giá” như Ðức Giêsu Kitô.

 (Nguồn: Người Tín Hữu online)

   Hôm nay mời bạn bỏ ra mấy phút suy niệm trước Thánh Giá là nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian, bạn hãy đặt tất cả những gánh nặng cuộc đời vào lòng xót thương và sự quan phòng của Chúa.

From: Do Dzung

*****

Thánh Giá Nào Cho Con – NGỌC LAN | Sáng tác: LM. NGUYỄN VĂN TUYÊN

SẸO CỦA THIÊN CHÚA – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”.

“Trên thân thể Đức Kitô Phục Sinh, những vết thương không bao giờ biến mất; chúng vẫn còn đó, vì là dấu chỉ bền vững của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Thập giá không phải là một vết thương còn mở để kéo dài đau đớn, nhưng là dấu tích của một tình yêu đã đi qua cái chết và trở về. Vì thế, Hội Thánh không suy tôn một dụng cụ hành hình, nhưng suy tôn thánh giá – ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Trong sa mạc, Israel nổi loạn, bị rắn lửa cắn. Thiên Chúa không cất rắn đi; Ngài truyền Môsê treo con rắn đồng lên cột, để ai nhìn lên thì được sống – bài đọc một. Điều cứu họ không phải mẩu kim loại, nhưng lòng tin dám nhìn thẳng vào dấu tích của điều đang giết mình để đón nhận sự sống từ Thiên Chúa. Ơn cứu độ bắt đầu khi chúng ta nhận mình đã bị cắn và không thể tự chữa. Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói về thập giá: “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”. Bản Hy Lạp viết hypsōthēnai – “được nâng lên”, vừa chỉ bị treo trên thập giá, vừa gợi sự tôn vinh. Nơi thấp nhất của nhục nhã trở thành nơi cao nhất của tình yêu; dấu hiệu án chết trở thành dấu chỉ cứu người.

Chúa Kitô chữa lành chúng ta bằng cách mang vết thương trên thân mình. Ngài bước vào nơi đau nhất của phận người, cho phép bạo lực của con người chạm đến chính Thiên Chúa. Đấng Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài cho Tôma xem chúng như sinh trắc học của tình yêu. Vết thương còn, nhưng đã mất quyền lực; cái chết đã xảy ra, nhưng không phải lời cuối. “Nỗi buồn càng khoét sâu vào lòng bạn, bạn càng có thể chứa nhiều niềm vui!” – Kahlil Gibran.

Bởi thế, điều quan trọng không phải sống mà không có thương tích, nhưng để tình yêu chữa lành những gì từng làm chúng ta mang thương tích. Nỗi đau có thể thành cay đắng, khiến chúng ta truyền nó sang người khác; nhưng cũng có thể hoá nên lòng trắc ẩn: vì đã ngã, chúng ta biết đỡ người; vì đã khóc, chúng ta không đi qua nước mắt của ai; vì được tha thứ, chúng ta thôi kết án. Vết sẹo bấy giờ không còn kể điều người khác đã làm, nhưng kể điều ân sủng đã làm trong chúng ta. “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô trên thập giá đã biến đổi đau khổ từ bên trong!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã “hạ mình, vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”; vì thế, “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài” – bài đọc hai. Thiên Chúa không ca tụng đau khổ; Ngài tôn vinh tình yêu không bỏ cuộc giữa đau khổ. Thập giá không tuyên bố vết thương là tốt, nhưng cho thấy không vết thương nào nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa. Ai kết hợp thập giá đời mình với thập giá Đức Kitô sẽ khám phá: điều còn lại sau cùng không phải những gì đã làm mình tan nát, nhưng là tình yêu đi xuyên qua tất cả mà vẫn sống. Tình yêu ấy không che giấu cuộc chiến, nhưng làm chứng rằng sự dữ và sự chết đã không thắng – đó là ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để những vết thương đời con chỉ còn là nỗi đau; nhưng trong Ngài, xin cho chúng trở thành những dấu tích của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Ngày 14 tháng 9

SUY TÔN THÁNH GIÁ

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”


 

SỰ VÔ TẬN CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996.  Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton.  Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

 Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

 Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miền xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

 Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi!  Không gì có thể cứu vãn!  Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi!  Thật vô vọng!”

 Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không?  Không nhất thiết là thế.  Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên.  Vậy hy vọng là gì?

 Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng.  Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ.  Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào.  Nó chỉ là thuần ảo tưởng.  Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng.  Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy.  ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’  Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám.  Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ?  Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

 Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng.  Ông đúng.  Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp.  Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

 Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy.  Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục.  Tại sao lại thế?  Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.  Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

 Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt.  Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa.  Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

 Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình.  Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ.  Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi.  Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta.  Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa.  Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

 Không bao giờ là quá trễ!  Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC THA – VẪN NỢ  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”.

Ngày 27 tháng 12 năm 1983, cửa một phòng giam tại Rôma mở ra. Mehmet Ali Ağca – người đã bắn trọng thương Đức Gioan Phaolô II – ngồi đó; vị giáo hoàng bước vào. Họ ngồi bên nhau, không ai biết đã nói gì. Thế giới chỉ thấy một nghịch lý: người bắn vẫn ở đó; người bị bắn bước vào.

Kính thưa Anh Chị em,

Lòng thương xót không kết thúc, nhưng bắt đầu nơi người được tha. Lời Chúa hôm nay cho biết: bởi được Thiên Chúa xoá mọi món nợ, chúng ta mang một món nợ không bao giờ trả xong: nợ anh em lòng thương xót, nợ bước vào trước – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúa Giêsu đặt giữa một dụ ngôn bất cân xứng một tiếng vọng nghiệt ngã. “Bảy mươi lần bảy” không kéo dài phép đếm; nó chấm dứt quyền đếm. Trước nhà vua, người đầy tớ sấp mình van xin; ít phút sau, đồng bạn anh cũng sấp mình và lặp gần nguyên lời van xin ấy. Nghe lại tiếng mình mà anh không nhận ra phận mình; gặp một con nợ mà anh không nhớ mình từng là con nợ. Ân xá vua ban xoá tên anh khỏi sổ nợ, chưa xoá được sổ nợ trong lòng anh. Anh được tha món nợ cũ, nhưng vẫn mắc món nợ mới: nợ lòng thương xót.

Điều đáng nói, món nợ đồng bạn mắc là có thật. Anh không sai khi cần công lý; anh sai khi để công lý trở thành lời cuối, sau khi chính mình sống sót nhờ lòng thương xót. Lòng thương xót không phủ nhận món nợ, nhưng không để nó định nghĩa một con người. “Trong thái độ của Thiên Chúa, công lý thấm đẫm lòng thương xót!” – Phanxicô.

Tha thứ không quên tổn thương, càng không gọi điều ác là điều thiện; nhưng nhớ một sự thật lớn hơn nỗi đau. Huấn Ca nhắc: nhớ ngày tận số, nhớ mình sẽ chết, nhớ giao ước của Đấng Tối Cao. Oán giận làm thế giới chỉ còn tôi và người làm tôi đau; nhớ đến Chúa, tôi nhận ra cả hai dưới bóng lòng thương xót của Ngài. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh trở thành nhịp đập của cõi lòng: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương!”.

Trong đời thường, chúng ta không giữ sổ nợ bằng con số, nhưng bằng một lời nói, một lần bị coi thường, một ngày không được bênh vực. Càng giữ, đời mình càng xoay quanh người đã làm mình đau: họ vắng mặt mà vẫn điều khiển hiện tại. Chúng ta tưởng đang giữ họ trong món nợ cũ; thật ra, lỗi của họ đang giữ chúng ta. Vì thế, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” – bài đọc hai. Chúa mới là Chủ; vết thương không có quyền ấy. “Tha thứ là giải thoát một tù nhân và khám phá tù nhân ấy chính là mình!” – Lewis B. Smedes.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cuốn sổ nợ của nhân loại được khép lại trên thập giá. Ngài không mắc nợ ai, nhưng trả món nợ chúng ta không thể trả bằng chính mạng sống mình. Phục Sinh, Ngài trở lại với những môn đệ đã bỏ Ngài; mang theo vết thương, nhưng không mang sổ nợ; trao bình an, không đòi thanh toán. Từ đó, người môn đệ không chỉ sống nhờ ơn tha thứ, nhưng còn phải để ơn ấy đi tiếp đến người khác – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhận ra mình nơi người có lỗi, trao đi lòng thương xót đã nhận và trả suốt đời món nợ yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Chúa Nhật Tuần XXIV – Mùa Thường Niên, Năm A 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” 22 Đức Giê-su đáp  “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

23 “Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống lạy lục: ‘Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.’ 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: ‘Trả nợ cho tao!’ 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống van xin: ‘Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.’ 30 Nhưng y không chịu, cứ đi tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: ‘Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?’ 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”


 

THA THỨ LÀ TỰ CỨU MÌNH – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (18, 21-35) Chúa nhật 24 thường niên)

Tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình là điều rất khó, lắm người không làm được, giận ai là giận dai dẳng, năm nầy qua tháng khác, có khi giận đến cuối đời!

Để có thể tha thứ cho người khác, trước hết, chúng ta cần nhận thức rằng: Tha thứ cho người khác thì có lợi cho chính ta, còn giận hờn ghim gút người khác là tự đày đọa chính mình.

 Có hai lý do đòi buộc mỗi người phải tha thứ.

– Lý do thứ nhất:

Nếu ta có tha thứ cho người khác thì Chúa mới tha tội cho ta. Đây là điều kiện bắt buộc phải có để được ơn tha thứ.

Chúa Giê-su khắc sâu điều nầy vào tâm trí chúng ta qua dụ ngôn Tin mừng thánh Mát-thêu sau đây: Một tên đầy tớ nợ vua một món nợ kếch xù, dù bán tất cả những gì anh có cũng không thể trả hết nợ; nhưng vì anh van xin nài nỉ, nên nhà vua đã động lòng tha hết nợ cho anh.

Vậy mà sau đó, anh ta lại tống cổ người bạn của mình vào ngục chỉ vì người nầy mắc nợ anh một số tiền nhỏ hơn nhiều.

Khi nhà vua biết được điều thất đức nầy, ông “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày trả hết nợ cho ông.”

Rồi Chúa Giê-su kết luận: “Cha của Thầy ở trên Trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 23-35).

 – Lý do thứ hai: Tha thứ cho người khác là tự cứu mình.

Có người xúc phạm đến ta khiến ta giận hờn tức tối.

Người làm ta tổn thương vẫn ăn ngon, ngủ yên, đang vui sống cuộc đời của họ; còn ta thì ngày ngày mang theo sự tức giận trong lòng, để nó giày vò tâm trí ta, làm huyết áp tăng cao, mất ăn mất ngủ, mất bình an… Đây chính là nguyên nhân gây nhiều tác hại lên sức khỏe thể xác và tinh thần.

Vậy thì hãy khôn ngoan dứt bỏ giận hờn! Đừng tiếp tục ôm hận, giữ hờn và nhai đi nhai lại những chuyện làm cho lòng ta đau đớn.

Hãy dứt bỏ ngay. Đừng trao cho người khác quyền xâm chiếm hồn ta, phá hỏng sức khỏe và đánh cắp sự bình an của ta.

Ta tha thứ cho người khác không phải vì họ đáng được tha, mà vì ta xứng đáng được bình an.

Vậy thì hãy buông bỏ nó ngay hôm nay.

Hãy cứu lấy chính mình ngay lúc nầy!

Đừng biến một lỗi lầm của người khác thành bản án trừng phạt đời ta!

 Lạy Chúa Giê-su,

Hành động cao cả nhất, câu nói đẹp nhất, đáng ghi nhớ nhất trong đời Chúa, đó là lời Chúa thân thưa cùng Thiên Chúa Cha khi đang bị treo thân trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.”

Chúa không những không trách móc hay lên án những người đóng đinh mình, mà còn tỏ lòng thương xót, sẵn sàng tha thứ và hơn thế nữa, cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho họ.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để sẵn sàng tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con. Amen.

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu 


 

LẠY CHÚA  – RỒI THÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”.

“Chỉ người tin mới vâng phục; và chỉ người vâng phục mới tin!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải ai gọi “Lạy Chúa, lạy Chúa!” cũng để Chúa làm Chúa. Lời Chúa hôm nay chỉ ra khoảng cách giữa lời tuyên xưng trên môi và sự vâng phục trong cuộc sống – ‘Lạy Chúa – rồi thôi’.

Trong câu “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”, bản Hy Lạp viết kaleîte – “gọi” và poieîte – “làm”; cả hai đều ở thì hiện tại. Đây không phải một lần yếu đuối, nhưng một mâu thuẫn đã thành nếp: vẫn gọi mà không làm; vẫn trao Ngài một danh xưng, nhưng giữ cho mình quyền quyết định. Lời tuyên xưng không sai; chỉ bị giữ lại trên môi, không xuống tới đôi tay. Chúa Giêsu không hỏi chúng ta nói đúng chưa; Ngài hỏi điều chúng ta nói đã thành điều chúng ta sống chưa. Có một đức tin đúng từng chữ mà vẫn sai cả một đời. 

Để cho thấy lời tuyên xưng phải đi sâu đến đâu, Chúa Giêsu ví hai người cùng nghe lời Ngài với hai người xây nhà. Một người “đào sâu và đặt nền móng trên đá”; người kia “xây nhà ngay mặt đất, không nền móng”. Chúng ta thường muốn thay đổi phần nhìn thấy: sửa một thói quen, thêm một việc đạo đức, giữ cho lời nói ngay ngắn. Thế nhưng, làm điều Chúa dạy không phải tô thêm vẻ Kitô giáo cho căn nhà, nhưng để Ngài trở thành nền tảng cho cả đời mình. Bão tố không tạo ra chỗ yếu; nó chỉ phơi ra điều mặt tiền từng che giấu. “Thay đổi cuộc đời không phải là trang điểm; nó đòi thay đổi nền tảng, nghĩa là tìm thấy Tảng Đá là Chúa Kitô!” – Phanxicô.

Phaolô đưa lời tuyên xưng “Lạy Chúa!” ấy đến tận bàn tiệc Thánh Thể. Tín hữu Côrintô muốn dự tiệc của Chúa mà vẫn có mặt ở một bàn khác: “Anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được!” – bài đọc một. Thánh Thể không phải một việc đạo đức đặt bên cạnh đời sống; đó là sự thuộc về. “Hãy trở nên điều anh em lãnh nhận; hãy lãnh nhận điều anh em là!” – Augustinô. Miệng có thể hát: “Lạy Chúa, con sẽ dâng lễ tế tạ ơn Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – nhưng lòng vẫn chia cho nhiều chủ. Không phải ai uống chén của Chúa cũng để đời mình thuộc về Chúa: người môn đệ có thể rước lấy Chúa Kitô mà vẫn không để Ngài đi xuống những chọn lựa của mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống chén Ngài chưa uống, cũng không dạy chúng ta điều Ngài chưa sống. Điều Ngài dạy suốt ba năm, đặc biệt những gì Ngài nói trong bữa Tiệc Ly, Ngài đã sống trọn vẹn ngày thứ Sáu. Con Thiên Chúa không giữ quyền quyết định cho mình, nhưng vâng phục Chúa Cha đến cùng. 

Vì thế, cả cơn lũ thập giá cũng không thể lay chuyển một đời đã đặt nền trong thánh ý Cha. Phục Sinh là lời Chúa Cha xác nhận: một đời vâng phục không kết thúc trong mất mát! Nơi Đức Kitô, không có ‘Lạy Chúa – rồi thôi’; chỉ có “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!” – và đi đến cùng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống bằng những lời đẹp; cho con can đảm chọn điều đúng; và biến điều con tin nên một đời trung tín!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Bảy Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt. 44 Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho! 45 Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.

46 “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa ! Lạy Chúa !’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?

47 “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. 48 Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. 49 Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành.”


 

DẮT NGƯỜI – MÌNH LẠC – Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

Lm. Minh Anh (Tgp. Hue)

“Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi!”.

“Ai muốn hiểu trọn lời Đức Kitô, phải uốn cả đời mình theo đời Ngài!” – Thomas à Kempis.

Kính thưa Anh Chị em,

Một người có thể thuộc lời Thầy mà đời mình chẳng giống Thầy. Đó là nghịch lý Lời Chúa hôm nay cảnh báo: ‘dắt người – mình lạc’.

Bản Hy Lạp gọi người “học hết chữ” là katērtisménos. Động từ gốc cũng được dùng khi người ta vá một tấm lưới rách. “Học hết chữ” vì thế không chỉ là học đủ bài, nhưng để Chúa Giêsu nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch và uốn đời mỗi người nên giống Thầy. Một tấm lưới chưa được vá vẫn có thể thả xuống biển, nhưng sẽ đánh mất chính những gì nó vừa gom được. Đời môn đệ cũng có thể như thế: sau một đời lăn lộn, cuối cùng lại thấy mình trắng tay.

Chúa Giêsu không bảo người môn đệ bỏ mặc cái rác trong mắt anh em; Ngài chỉ buộc họ phải nhìn mắt mình trước. Có khi, mải sửa lỗi người khác, chúng ta khỏi phải nhìn vào mình; mải chỉ đường, lại quên chân mình đang bước về đâu. “Cái xà” không chỉ là một tội lớn, nhưng còn là ảo tưởng rằng mình sáng vì đang cầm đèn. Chiếc đèn có thể soi rất xa, mà ngay dưới chân nó vẫn tối. “Hãy tự hỏi đâu là con đường đúng, và trước hết, hãy tự mình bước đi trên con đường này!” – Gioan Phaolô II.

Phaolô hiểu rõ nguy cơ ấy. Dù đã “trở nên tất cả cho mọi người”, ông không lấy hoa trái nơi người khác làm bảo chứng cho mình. Ông bắt thân thể phục tùng, “kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” – bài đọc một. Không phải vì khinh chê thân xác, nhưng vì ông

không để việc tông đồ thay thế cuộc hoán cải của bản thân. Có thể giúp người khác đến nơi mà chính mình bỏ cuộc giữa đường. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca nhắc lại đích đến: “Lạy Chúa Tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái!”. Đích ấy không phải thành công, nhưng là chính Chúa.

Có lúc, bạn và tôi giống người cầm đèn dẫn kẻ khác giữa đêm: ánh sáng soi bước chân họ, còn lòng mình vẫn khuất tối. Bi kịch thiêng liêng không bắt đầu khi chúng ta nói sai, nhưng khi điều đúng chỉ đi qua môi mà không đi vào đời sống. Tin Mừng không lấy khỏi tay chúng ta ngọn đèn; Chúa chỉ mời mỗi chúng ta trở lại phía sau Ngài, để chính mình được ánh sáng chạm tới trước khi soi lối cho ai. Bởi câu hỏi không chỉ là tôi đã đưa ai đến gần Chúa, nhưng tôi có còn theo sát Ngài không?

Anh Chị em,

Đức Kitô không đứng xa để chỉ đường; Ngài trở nên con đường. Trên thập giá, Ngài mang lấy sự lạc hướng của nhân loại và đi qua cái chết trong niềm vâng phục Chúa Cha. Phục Sinh cho thấy lối tự hiến ấy chính là đường về với Chúa Cha. Vì thế, nên giống Thầy không phải là lặp lại lời Ngài, nhưng để mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài thành hình trong đời mình. Chỉ ai bước sau Đức Kitô mới có thể dẫn người mà không lạc. “Ai biết Ngài là biết đường, vì chính Ngài là Đường!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin nối lại những gì đã đứt, chỉnh lại những gì đã lệch; để con vừa chỉ đúng đường, vừa trung thành bước tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Sáu Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho môn đệ dụ ngôn này: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố ? 40 Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? 42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: ‘Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra’, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!”


 

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”

 Thao Teresa

 Khi một đan sĩ dòng Carthusian qua đời, vị đan sĩ sẽ được chôn cất nơi huyệt mộ do mình tự đào lúc còn sống và không để bảng tên. Đây là một nét rất đặc biệt trong linh đạo của Dòng Carthusian (Dòng Thánh Bruno)

Các đan sĩ Carthusian sống đời chiêm niệm, thinh lặng và cô tịch, hướng toàn bộ đời mình về Thiên Chúa. Cái chết vì thế không được nhìn như sự kết thúc, mà là cuộc vượt qua để đi vào sự sống đời đời với Chúa.

Việc chôn cất đơn sơ thể hiện tinh thần linh đạo của dòng.

Không đề tên trên mộ : nhấn mạnh sự khiêm nhường và từ bỏ cái tôi: đời tôi không cần được người đời ghi nhớ, chỉ cần được Thiên Chúa biết đến.

Mộ phần rất đơn sơ : nhắc rằng cuối cùng mọi người đều trở về với bụi đất.

Áo dòng trắng : người đan sĩ ra đi trong chính tu phục của đời sống thánh hiến.

Không đặt nặng hình thức của quan tài : biểu lộ sự đơn sơ và nghèo khó trong nghi thức an táng.

Khuôn mặt được phủ khăn trắng : một dấu chỉ của sự phó thác và chờ đợi ngày phục sinh.

Còn chuyện tự đào huyệt khi còn sống, nếu có trong một cộng đoàn hay thời kỳ cụ thể, thì hiểu như một việc thực hành mang tính khổ chế và nhắc nhớ về cái chết, chứ không phải vì các đan sĩ “mong chết”. Trái lại, nó giúp họ sống từng ngày với ý thức rằng cuộc đời trần thế chỉ là hành trình hướng về Thiên Chúa.

“Họ không sống để chờ chết; họ sống mỗi ngày để chuẩn bị gặp Đấng mà họ đã trao trọn cuộc đời.”


 

SỰ THA THỨ PHỤC HỒI PHẨM GIÁ CON NGƯỜI – Pt Giuse Trần Văn Nhật

Pt Giuse Trần Văn Nhật

 Trong thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm một số quốc gia và họ bắt các binh lính người Anh giam ở Thái Lan để cưỡng bách lao động là làm đường xe lửa trên chiếc cầu bắc ngang qua sông Mae Klong.  Đường xe lửa này được mệnh danh là “Đường Rầy Tử Thần” (Death Railway) bởi vì quá nhiều tù nhân bị chết khi làm con đường này.

 Một hôm khi nhóm tù nhân đi lao động trở về, họ phải đi qua hai trạm kiểm soát các dụng cụ.  Ở trạm thứ nhất, lính Nhật thấy số cuốc xẻng bị thiếu một chiếc.  Viên sĩ quan Nhật vô cùng tức giận và rút súng ra lệnh phải tìm cho bằng được chiếc cuốc bị thiếu hoặc một người phải chết thay.  Trong bầu khí nặng nề đó, một tù nhân bước ra chịu chết.  Viên sĩ quan Nhật lạnh lùng cầm lấy một chiếc xẻng đánh ông này thật tàn nhẫn cho đến chết.  Đám tù nhân còn lại kéo lê cái xác đẫm máu của đồng bạn đi qua trạm kiểm soát thứ hai để trở về nhà tù.  Nhưng ở trạm này, số cuốc xẻng lại không thiếu một chiếc!  Điều đó có nghĩa đã có sự đếm sai ở trạm thứ nhất.  Tin này sau đó được lan truyền khắp nhà tù: Một người vô tội đã chết để cứu những người khác!  Ý nghĩa của cái chết này ảnh hưởng thật sâu đậm đến tinh thần các tù nhân toàn trại.  Khi Đồng Minh chiến thắng nước Nhật, các tù nhân người Anh được giải thoát — bây giờ họ gầy gò như những bộ xương — đi ngang qua các binh lính Nhật, giờ đây là tù binh, nhưng thay vì đánh đập để trả thù, họ nói, “Không còn hận thù nữa.  Không còn giết hại nữa.  Điều chúng ta cần bây giờ là sự tha thứ.”

 Câu chuyện này được kể lại và được dựng thành cuốn phim “Miracle on the River Kwai” (Phép lạ trên sông Kwai) giúp chúng ta có thể thấy được một vài điểm quan trọng mà Đức Giêsu đã đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay về sự tha thứ.

 Điểm thứ nhất, sự tha thứ chấm dứt hậu quả của một hành vi sai trái.  Khi ai đó lỗi phạm đến chúng ta, sự lỗi phạm đó có thật và gây thiệt hại.  Nếu chúng ta trả thù, hậu quả của hành vi sai trái đó vẫn tiếp tục.  Nếu các tù nhân Anh Quốc tiếp tục trả thù binh lính Nhật, sẽ có thêm người chết, sẽ gây ra đau khổ.  Nhưng khi họ tha thứ, hậu quả của hành vi sai trái đã ngừng tại đó.

 Mục đích thứ hai của sự tha thứ là để biến sự dữ thành sự thiện.  Trả thù thì dễ nhưng đó là sự dữ, chỉ có sự tha thứ mới biến đổi sự dữ thành sự thiện.  Đó cũng là câu chuyện của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Đức Hồng Y từng bị cộng sản cầm tù trong 13 năm.  Tuy bị đối xử cách bất công nhưng cố Hồng Y vẫn yêu thương người cộng sản, bởi vì theo lời cố Hồng Y, “Chúa Kitô đã dậy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô Hữu.”  Làm thế nào cố Hồng Y có thể không thù hận người giam cầm mình?  Qua các sáng tác của cố Hồng Y, như cuốn Đường Hy Vọng, Năm Cái Bánh và Hai Con Cá, v.v…, chúng ta biết cố Hồng Y đã biến sự dữ thành sự thiện.  Thay vì dùng thời gian tù đầy để gậm nhấm sự đau khổ vì bất công và suy nghĩ cách trả thù, cố Hồng Y đã dùng thời gian đó để hoán cải những người canh tù, để suy nghĩ về lời Chúa và viết thành sách, để lại những tư tưởng quý giá cho hậu thế.  Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị cầm tù về thể xác nhưng người không để sự dữ giam hãm đời mình trong hận thù và cay đắng.  Người đã biến sự dữ thành sự thiện.

 Mục đích thứ ba của sự tha thứ là để làm chủ chính mình.  Vào năm 2004, bà Jo Nodding, người Anh, bị một thiếu niên 19 tuổi, tên Darren, dùng bạo lực để hãm hiếp bà.  Sau phiên tòa xử, Darren đã bị kết án chung thân khổ sai.  Khoảng một năm sau, một tổ chức xã hội có tên Liên Lạc Các Nạn Nhân đã đến gặp bà và đề nghị một cuộc gặp gỡ giữa bà và Darren với mục đích hòa giải và xây dựng.

 Làm thế nào bà Jo có thể gặp lại can phạm đã gây đau khổ cho mình?  Bà cho biết, sau khi bị hãm hiếp, bà luôn sống trong một tâm trạng sợ hãi, và hoang mang.  Tâm trạng bất an ấy làm chủ đời bà.  Bây giờ, việc gặp lại can phạm, bà cho đó là cơ hội để làm chủ tình hình, để lấy lại tâm trạng bình an mà can phạm đã cướp mất của bà.  Sau những chuẩn bị lâu dài, mãi đến sáu năm sau (tháng Giêng 2010) cuộc gặp gỡ mới xảy ra trong khuôn viên nhà tù.

 Trong cuộc gặp gỡ, bà đã kể lại mọi chi tiết của vụ hãm hiếp, từ đầu cho đến cuối, cũng như cảm tưởng sợ hãi và xấu hổ của bà, và Darren đã khóc hối hận.  Trước khi cuộc gặp gỡ kết thúc bà nói với Darren, “Điều tôi sẽ nói với em là điều mà nhiều người rất khó hiểu, nhưng tôi tha thứ cho em về những gì em đã làm đối với tôi.  Sự hận thù chỉ tiêu diệt con người, và tôi muốn em hãy vươn lên và thành công trong đời.  Nếu em chưa tha thứ cho chính mình, thì tôi hy vọng trong tương lai em sẽ có thể.”

 Sau đó bà Jo cho biết, “Tôi không nói như thế để bào chữa cho hành động sai trái của Darren, hoặc coi thường sự kiện đã xảy ra, nhưng vì tôi muốn chính tôi được thoát khỏi gánh nặng của sự muộn phiền, và tôi hy vọng Darren có thể học được điều gì đó để vươn lên, và tha thứ cho chính mình.”

 Bà kết luận, “Khi rời căn phòng đó, tôi có cảm tưởng như mình bay bổng trên không.  Cuộc gặp gỡ đó đã chấm dứt một giai đoạn, bởi vì tôi đã nói những gì tôi muốn nói và đã làm chủ lại cuộc đời mình.  Tôi biết điều đó có ảnh hưởng mạnh đến Darren.  Tôi không còn là nạn nhân, tôi là người sống sót.  Tôi có thể biết chắc rằng từ một điều xấu xa đã xuất phát những điều tốt lành.” 1

 Ba câu chuyện nói trên phản ánh nét đẹp của sự tha thứ, mà qua câu trả lời cho ông Phêrô, Đức Giêsu đã dậy chúng ta phải đối xử thế nào với những người xúc phạm đến mình.  Tha thứ không phải là sự hèn nhát bởi vì không dễ để tha thứ.  Cần phải dũng cảm mới có thể tha thứ, và nghĩ cho cùng sự tha thứ có lợi cho bản thân chúng ta.

 Không những thế, trong dụ ngôn hôm nay còn có hai điểm quan trọng để khích lệ chúng ta hãy tha thứ: thứ nhất, những gì chúng ta có là do Thiên Chúa ban, nếu chúng ta có bị thiệt hại vì ai đó vay mượn mà không trả, nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không mất gì.

 Ý nghĩa này được thấy qua hai con nợ và hai chủ nợ.  Một người nợ rất nhiều, nhiều đến độ nhà vua phải ra lệnh bán chính ông và vợ con ông để trả nợ.  Nhưng sau khi ông nài nỉ, nhà vua đã thương xót và không những tha cho ông mà còn tha cả số nợ của ông.  Ngược lại, một người khác nợ ông một món tiền rất nhỏ, nhưng ông lại không tha thứ mà nhất định đưa họ vào tù để trả nợ.  Hành động này đến tai nhà vua và ông vô cùng tức giận đến độ ra lệnh tra tấn người này cho đến khi trả hết số nợ.

 Sự tức giận của nhà vua khiến chúng ta phải ngạc nhiên vì dường như thái độ của nhà vua đi ngược với sự tha thứ.  Nhưng chính sự mâu thuẫn đó khiến chúng ta phải nghĩ đến lý do.  Người nợ đầu tiên, khi là con nợ, ông muốn được nhà vua thương xót.  Nhưng khi là chủ nợ, ông lại muốn sự công bằng mà thực sự, số tiền ông cho vay mượn là tiền của nhà vua, chứ không phải của ông.

 Tương tự, chúng ta nợ Thiên Chúa rất nhiều — từ mạng sống đến của cải và mọi ơn phúc.  Lẽ ra chúng ta phải sử dụng đời sống và của cải để phục vụ Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, nhưng chúng ta lại quan tâm đến chính mình nhiều hơn, và khi bị thiệt hại, chúng ta lại đòi hỏi sự công bằng.  Đó là điều vô lý đối với Thiên Chúa.

 Vấn đề tội lỗi cũng vậy — đây là điểm thứ hai của dụ ngôn.  Khi phạm tội, chúng ta mắc nợ Thiên Chúa vì không sử dụng tốt những gì Chúa đã ban.  Nhưng thật may mắn, số nợ này đã được Chúa Giêsu đền trả bằng cái chết trên thập giá.  Chúng ta được tha tội là vì lòng thương xót của Chúa Giêsu.  Vì thế, khi chúng ta tha thứ cho người khác, chúng ta nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền xét xử trên chúng ta.  Ngược lại, khi không tha thứ cho người khác, điều đó có nghĩa chúng ta đòi hỏi sự công bằng và hành động đó có nghĩa chúng ta từ chối Chúa Giêsu là đấng xét xử.  Hậu quả là tội của chúng ta vẫn còn và phải đền trả trong sự đau khổ.  Đó là ý nghĩa của câu “… trong cơn thịnh nộ, nhà vua đã trao y cho quân lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

 Kitô giáo được tóm lược trong câu “Mến Chúa, yêu người,” và không có gì thể hiện sát thực câu nói này bằng sự tha thứ.  Khi tha thứ, chúng ta nhìn nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và nhìn nhận bản tính yếu đuối của con người để thông cảm cho người khác.  Sự tha thứ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu nên Người đã dậy chúng ta trong kinh Lậy Cha mà chúng ta đọc trong mỗi Thánh Lễ.  Khi tha thứ là khi chúng ta nâng đỡ nhau khôi phục lại phẩm giá con người.

 Pt Giuse Trần Văn Nhật

From: Langthangchieutim