ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos – “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” – Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng – bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thánh Laurensô Phó tế, tử đạo – 10/8

Thứ Hai Tuần XIX Thường Niên:

https://h1.nu/1vCq2

Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.” 

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

 Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình. 

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ. 

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó. 

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng. 

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa. 

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CHÚA THƯỜNG MUỘN?- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.

“Thiên Chúa bắt chúng ta chờ đợi để làm lớn lên lòng khát khao; và khi khát khao đủ lớn, Ngài mở rộng tâm hồn để đón nhận điều sắp ban!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những đêm đợi chờ không vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang làm lớn lên nỗi khát. Tin Mừng hôm nay kể về một đêm như thế. Phải chăng ‘Chúa thường muộn?’.

Ngay từ đầu trình thuật, Matthêu đã kín đáo gieo một chi tiết mà chúng ta dễ bỏ qua. Sau phép lạ hoá bánh, Chúa Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước. Bản Hy Lạp viết proagein – đi “trước”. Nhưng “trước” ở đây không chỉ là trước về không gian hay thời gian; đó là một hành trình dẫn vào một điều lớn hơn. Các môn đệ chưa biết đêm ấy sẽ gặp điều gì; họ vâng lời. Chỉ khi bão nổi, họ mới hiểu: Chúa Giêsu không đưa họ sang một bờ bên kia nào khác, nhưng vào mầu nhiệm của chính Ngài; điều chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”.

Nhưng tại sao Chúa Giêsu để các môn đệ đi trước, rồi mãi đến canh tư mới xuất hiện? Phải chăng Ngài ‘thường muộn?’. Không! Ngài không muộn, cũng không hề bỏ họ một mình giữa biển đêm. Ngài vẫn ở bên; chỉ có điều họ không nhận ra. Chỉ khi sức người chạm tới giới hạn, họ mới khám phá Đấng tưởng như vắng mặt chưa bao giờ rời xa. Điều con người gọi là ‘muộn’, nhiều khi lại chính là giờ của Thiên Chúa – giờ họ nhận ra Ngài. Bởi lẽ, Ngài không đến sau sức người, nhưng luôn đến trước tuyệt vọng. “Ai tin thì không bao giờ cô độc!” – Bênêđictô XVI.

Thiên Chúa không chỉ có “giờ”, mà còn có “cách” của Ngài. Êlia đã không gặp Chúa như mình chờ – bài đọc một; Phaolô không thấy lời hứa được thực hiện như mình mong – bài đọc hai. Con người tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhiều khi không phải vì Ngài muộn, nhưng vì Ngài hiện diện không theo cách họ ước. Bởi vậy, Thánh Vịnh đáp ca trở thành lời cầu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”.

Phần chúng ta, điều cần đổi không phải là “giờ” của Thiên Chúa, nhưng là cách đọc cuộc đời. Chúng ta vội xem im lặng là vắng mặt, chậm trễ là bỏ quên, bão tố là vắng Chúa; đang khi Ngài vẫn ở bên. Chỉ khi ngoảnh lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa chưa bao giờ muộn; chỉ có đức tin của chúng ta đến muộn. ‘Canh tư’ muộn màng hoá ra lại là khoảnh khắc chính xác nhất để ơn thánh ngỏ lời.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, trên thập giá, mọi sự đều như quá muộn: lời hứa, phép lạ, ngay cả sự sống. Nhưng chính nơi tưởng như Chúa Cha vắng mặt nhất, bình minh phục sinh đã dần hé rạng. Từ đó, giữa những ‘canh tư’ của cuộc đời, người Kitô hữu không còn hỏi: ‘Chúa thường muộn?’; cũng không còn đòi Chúa sớm cất dông bão, nhưng xác tín rằng giữa mọi phong ba, Ngài vẫn ở bên – Emmanuel. “Chờ đợi không phải là thụ động; đó là tin rằng điều đang xảy ra còn lớn hơn điều ta thấy!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bỏ cuộc giữa những ‘canh tư’; chỉ biết trung thành với lối Chúa dẫn. Vì cuối mọi bờ bên kia là chính Đức Kitô – bến hẹn đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIX TN, NĂM A: 

https://sl1nk.com/o3p7jen

Ai nấy đều ăn và được no nê.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


 

LỜI VẪN CHÁY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa!”.

“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô!” – Giêrônimô.

Kính thưa Anh Chị em,

Biết Đức Kitô, không ai có thể đứng yên. Một khi đã gặp Ngài, không ai được phép trì hoãn; đón nhận Lời Ngài là phải lên đường. Giữa muôn nẻo – ‘Lời vẫn cháy’.

Thánh Đaminh đã sống đúng chuyển động Tin Mừng ấy. Nơi ngài, Lời trở thành lửa, thôi thúc để lửa ấy cháy lan. Điều thánh nhân tìm kiếm không phải là giữ chân lý cho mình, nhưng để chân lý đến với mọi người. Vì thế, ngài khai mở một lối sống và một Dòng Giảng Thuyết, nơi Lời trở thành gia sản chung của Hội Thánh.

Nguồn mạch của lối sống ấy phát xuất từ chính lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài đặt con người trước một sự cắt đứt: dứt khoát, không ngoái lại. Bản Hy Lạp viết Apelthōn diángelle – “Hãy lên đường loan báo!”. Apelthōn không chỉ là bước đi, nhưng là dứt mình khỏi điều đang giữ chân; diángelle không chỉ là cất tiếng, nhưng là để Lời tiếp tục đi tới. Người môn đệ lên đường không để mang lời mình, nhưng để Lời Thiên Chúa tiếp tục vang lên.

Lời ấy là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa – ánh sáng không bao giờ tàn lụi – không được ban để cất giữ, nhưng để tiếp tục soi đường; không dừng lại nơi người đã đón nhận, nhưng luôn tìm đến những người còn chưa được nghe – bài đọc một. Đức Khôn Ngoan không vơi đi khi được trao ban; trái lại, càng trao ban càng làm giàu cả người trao lẫn người nhận. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới mời gọi: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!”.

Nhưng việc loan báo không dừng lại ở đó. Ở đây, Lời không chỉ là điều được biết, nhưng là sự sống. Truyền thống Đaminh cô đọng điều ấy trong một châm ngôn: “Chiêm niệm và trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Vì thế, giảng thuyết không phải là lặp lại một chân lý, nhưng để Chân Lý tiếp tục lên tiếng trong đời người rao giảng. Chẳng có ngọn lửa truyền giáo nào không thiêu đốt trước tiên người cầm đuốc. Chỉ khi người loan báo để Lời biến đổi chính mình, Lời mới có thể biến đổi người khác. “Lời Thiên Chúa không chỉ là thông tin, nhưng là một thực tại biến đổi chúng ta!” – Bênêđictô XVI.

Điều thiếu không phải là nhiều lời hơn, nhưng là nhiều con người không để Lời đọng lại trên cuộc đời mình. Có những bài giảng chỉ kéo dài mười phút; cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Khác biệt không nằm ở tài hùng biện, nhưng ở việc Lời đã thật sự trở thành máu thịt của người loan báo. “Người giảng phải uống lấy điều mình sẽ rót ra!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không còn chỉ được nói, nhưng đã làm người. Không chỉ công bố chân lý, Ngài là Chân Lý; không chỉ chỉ đường, Ngài là Đường; không chỉ loan báo sự sống, Ngài là Sự Sống. Vì thế, mỗi lần chúng ta để cho Lời biến đổi đời mình, chính Đức Kitô lại tiếp tục lên tiếng giữa thế giới. Trong Ngài, Lời không bao giờ tắt. Dẫu thuận tiện hay không thuận tiện, ai thuộc về Ngài, ‘Lời vẫn cháy’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con sống điều con loan báo và loan báo điều con sống, để ‘Lời Bừng Lửa’ luôn là ‘Lời vẫn cháy’ trong con và qua con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Thứ Bảy Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

https://sl1nk.com/l4alucx

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

14 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến với đám đông, thì có một người tới quỳ xuống trước mặt Đức Giê-su 15 và nói: “Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm: nhiều lần ngã vào lửa, và cũng nhiều lần ngã xuống nước. 16 Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài, nhưng các ông không chữa được.” 17 Đức Giê-su đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa? Đem cháu lại đây cho tôi.” 18 Đức Giê-su quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó.

19 Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giê-su rằng: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” 20 Người nói với các ông: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘Rời khỏi đây, qua bên ki!’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.”


 

VÌ ĐỒNG ĐỘI HY SINH MÀ NHẬN RA ƠN GỌI

  Con Tin Chúa Ơi 

VÌ ĐỒNG ĐỘI HY SINH MÀ NHẬN RA ƠN GỌI

Trong chương trình “Muối Men Giữa Đời” do Lm. An Bình thực hiện tại TGM GP Hà Tĩnh, Đức cha Louis Nguyễn Anh Tuấn đã có những chia sẻ khá chân thành về hành trình ơn gọi của mình: từ một kỹ sư tin học, những năm tháng thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Campuchia, chứng kiến đồng đội hy sinh, cho đến khi nhận ra tiếng Chúa gọi và quyết định bước vào chủng viện ở tuổi 33.

Đức cha kể rằng có những buổi chiều anh em còn ngồi cạnh nhau, cùng chia sẻ một điếu thuốc, nhưng ngày hôm sau đã có 8 người nằm xuống. Có người hy sinh nơi đất khách, có người trở về nhưng không còn lành lặn, còn ngài lại được trở về bình an.

“Sau khi mình giải ngũ trở về từ chiến trường Campuchia, tại đó thấy nhiều anh em đồng đội bỏ xác bên đó, có người bị thương không còn lành lặn trở về. Mình thì bình thường về an toàn, an bình.

Nó làm cho mình có một nỗi niềm mắc nợ những người anh em cách nào đó.

Rồi thấy cuộc sống ở thế gian sao nó mỏng manh, nay còn mai mất.”

Khi ấy, Đức cha khoảng 27 tuổi. Ngài bắt đầu cảm nhận trong lòng có một tiếng gọi nào đó và dành những năm tiếp theo để tìm hiểu.

Sau khi giải ngũ, ngài tiếp tục làm kỹ sư tin học, trong đó có thời gian làm việc tại Khách sạn Majestic Sài Gòn. Công việc ổn định, thu nhập khá, nhưng đời sống của ngài bắt đầu thay đổi. Trên đường đi làm về, ngài thường ghé vào nhà thờ cầu nguyện, trong khi trước đó hầu như không đi lễ ngày thường.

Ơn gọi không đến như một biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phaolô. Đức cha nói mọi thứ diễn ra rất chậm, để nhiều năm sau nhìn lại ngài mới nhận ra đó chính là tiếng Chúa gọi.

Phải chờ khoảng 6 năm, đến năm 1993, khi đã 33 tuổi, ngài mới được vào Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

Quyết định ấy cũng là một thử thách lớn với gia đình có 9 người con.

Khi nghe con trai muốn đi tu, cha ngài rất vui, đến mức Đức cha nhớ lại rằng “mắt ba tôi sáng lên”. Nhưng mẹ ngài thì buồn, bởi thời điểm ấy gần như chỉ có mình ngài có việc làm ổn định và là nguồn thu nhập quan trọng của cả gia đình.

Dẫu vậy, ngài vẫn bước vào chủng viện.

Sau 6 năm đào tạo, năm 1999, ở tuổi 39, ngài được truyền chức linh mục.

Năm 2001, ngài sang Rôma du học và sau đó trở về với học vị Tiến sĩ Thần học chuyên về Hôn nhân và Gia đình.

Năm 2017, ngài được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Và đến năm 2023, Đức cha Louis Nguyễn Anh Tuấn chính thức trở thành Giám mục Chính tòa Giáo phận Hà Tĩnh.

Từ một chàng kỹ sư, một người lính từng chứng kiến đồng đội nằm xuống, 27 tuổi bắt đầu nghe tiếng gọi, 33 tuổi mới vào chủng viện, 39 tuổi mới trở thành linh mục.

Một ơn gọi đến muộn, nhưng có lẽ đã được chuẩn bị từ chính những ngày Đức cha nhận ra rằng:

“Cuộc sống ở thế gian sao nó mỏng manh, nay còn mai mất.” 


 

Nước trời là gi`? Lời Chúa ngày 26-07-2026

Nước trời là gi`?-Lời Chúa ngày 26-07-2026

Nước trời giống như kho tàng chôn dấu trong ruộng, Người kia tìm được, vội chôn vùi xuống, vui mừng trở về bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng ấy”. (Mt 13,44)

Nước trời là một kho tàng chôn dấu anh bán tất cả cái gì anh có để mua thửa ruộng có kho  tàng chôn dấu đó.

Từ bỏ tất cả lòng tham muốn giàu có địa vị danh vọng những sự khen tặng ở đời này để chuyên tâm vào việc lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành Lời Chúa vì anh biết rằng chỉ Lời Chúa là nước trời, là ánh sáng, là hạnh phúc của anh ở đời này.

Nước trời cũng chính là Chúa Giêsu.

Khi có nước trời, sống theo gương Chúa Giêsu, con người sẽ hạnh phúc có được bình an,  không còn lo lắng, có niềm hy vọng ở đời này và đời sau.


 

Người công bằng là người thế nào? – Cha Vương

Thứ 6 rồi bạn ơi! Xin Chúa chúc lành và gìn giữ bạn và gia quyến luôn mãi nhé. Luôn nhớ nhau trong cầu nguyện không quên cho cả thế giới được an bình nhé

Cha Vương

Thứ 6: 7/8/2026.         (t4-24)

GIÁO LÝ:  Người công bằng là người thế nào? Người hành động công bình là người luôn luôn chắc chắn trả cho Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa, trả cho tha nhân cái gì của tha nhân. (YouCat, số 302)

SUY NIỆM: Để diễn tả công bằng có câu: “Hãy trả cho người ta cái gì là của họ”. Tương lai của một em bé khuyết tật và của một em bé có khả năng dư dật cần phải được xem xét khác nhau, để tôn trọng những quyền lợi của mỗi em. Đức công bằng cố gắng tìm sự quân bình và quan tâm để mọi người đều nhận được cái họ cần được. Đức công bình cũng cốt tại dâng cho Thiên Chúa cái gì là của Thiên Chúa, nghĩa là tình yêu và lòng tôn thờ của ta. (YouCat, số  302 t.t.)

❦  Công bằng mà không thương xót là không yêu thương, thương xót mà không công bằng là giảm giá trị cả hai.—Friedrich Von Bodelschwingh (1831–1910, mục sư Tin lành Đức và thần học gia)

LẮNG NGHE: Bấy giờ, ông Gióp trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. ĐỨC CHÚA đã ban cho, ĐỨC CHÚA lại lấy đi: xin chúc tụng danh ĐỨC CHÚA!” (Gióp 1:20-21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là vị Thẩm Phán khoan dung, xin cho con biết sống yêu thương, tha thứ như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho con.

THỰC HÀNH: Đếm tháng ngày mình sống là đếm những hồng ân Chúa ban trải dài suốt cuộc sống, cho dù không bao giờ bạn đếm hết và cũng không đếm cách nào cho xuể… nhưng bạn cần phải đếm để biết được Chúa yêu thương bạn đến cỡ nào nhé. 

From: Do Dzung

*****

Hồng Ân Chúa | Sáng tác : Falê | Trình bày : Kim Tuyến

CHỐI MÌNH – CÒN TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình!”.

“Càng gạt sang một bên cái chúng ta gọi là ‘bản thân’ và để Ngài chiếm lấy, chúng ta càng thực sự trở nên chính mình!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa không làm ai đánh mất chính mình khi chiếm lấy cuộc đời họ; trái lại, Ngài trả lại cho chúng ta chính con người Ngài đã nghĩ đến từ đời đời. Để tìm lại con người ấy, phải chối bỏ một ‘cái mình’ cũ. ‘Chối mình – còn tôi’ là vậy!

“Từ bỏ chính mình!”. Bản Hy Lạp viết aparnēsasthō heauton – “hãy chối chính mình”. Matthêu thật ý tứ: chính động từ này sẽ trở lại khi Phêrô chối Thầy. Chúa Giêsu không đòi người môn đệ xoá mình, nhưng đòi họ chối ‘cái mình’ muốn chiếm chỗ Chúa. Họ luôn phải chọn: chối cái tôi để thuộc về Chúa, hoặc giữ nó rồi có ngày chối Chúa. “Càng chết đi cho chính mình, con người càng bắt đầu sống cho Thiên Chúa!” – Thomas à Kempis. Con người thật không mất đi; chỉ kẻ tiếm chỗ Chúa phải mất.

Phêrô đã vô tình trở thành kẻ ấy. Bối cảnh dẫn vào Tin Mừng hôm nay cho thấy một nghịch chuyển nơi ông: vừa được chúc phúc vì tuyên xưng: “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, ông lại bị quở trách. Chỉ trong khoảnh khắc, tảng đá đón nhận mặc khải đã thành đá cản lối Chúa. Sa ngã bắt đầu khi Phêrô giành quyền quyết định Thầy phải là một Đấng Kitô thế nào. Ông không chối danh tước; ông khước từ thập giá, và như thế, khước từ chính Đấng Kitô của Chúa Cha. Vì thế, người môn đệ phải chối một ‘cái mình’ rất đạo đức: nói đúng về Chúa, nhưng không cho phép Chúa khác với điều mình nghĩ.

Nakhum không loan báo Giacóp bị tiêu diệt, nhưng Ninivê, thành đã cướp phá nó, phải sụp đổ – bài đọc một. Thiên Chúa không phá bỏ điều Ngài đã dựng nên; Ngài chỉ đánh đổ kẻ đã cướp mất vẻ đẹp của công trình ấy. Cũng thế, ‘từ bỏ mình’ không xoá bỏ con người nhưng để cái tôi cũ mất quyền và người con được sống. Bởi chỉ Chúa mới có quyền quyết định điều gì phải mất, điều gì phải còn: “Chúa phán: Ta cầm quyền sinh tử!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Vậy mà, chúng ta thường tưởng mình là hình ảnh nhọc công gìn giữ trong mắt người khác. ‘Từ bỏ mình’ là thôi sống nhờ lời khen, tâng bốc… để khiêm tốn trở về làm người con. Bấy giờ, điều rơi xuống không phải là tôi, nhưng là những gì tôi từng ngỡ là tôi. “Tôi là người được Thiên Chúa yêu dấu, không phải vì người ta bảo tôi tuyệt vời, nhưng vì Ngài đã yêu tôi trước khi tôi chào đời!” – Henri Nouwen.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống trọn điều Ngài dạy. Trên thập giá, Ngài mất mọi điều thế gian dùng để xác định một người – danh dự, quyền lực, sự an toàn và cả mạng sống. Nhưng trong tay Chúa Cha, mất không kết thúc bằng hư vô; Phục Sinh là câu trả lời. Hạt lúa chết đi đã hoá thành cả một cánh đồng cứu độ vàng chín. Cũng thế, bỏ mình vì Đức Kitô không làm chúng ta vong thân; trái lại, trong Ngài, sự sống chúng ta trao đi được Chúa Cha trả lại trong vinh quang. Đó là tận cùng của nghịch lý ‘chối mình – còn tôi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ khiêm tốn để quên mình; đủ tín thác để mất mình; và đủ yêu mến – để trong Chúa, con được lại con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XVIII Thường Niên, Năm Chẵn:

https://byvn.net/Xst9

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo. Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

NỮ TU KHIẾM THỊ CHỮA LÀNH NHIỀU NGƯỜI

Kim Ha

 CN 9961: NỮ TU KHIẾM THỊ CHỮA LÀNH NHIỀU NGƯỜI

Nguồn: Totus

Thánh Rafqa còn được biết là Thánh Rebecca của nước Lebanon vì bà đã chịu đau đớn nhiều nơi phần xác. Bà âm thầm dâng nước mắt lên Chúa Kito. Bà sinh năm 1832. Vị nữ tu Dòng Maronite này cầu nguyện xin Chúa cho bà được chia sẻ Cuộc Khổ Nạn với Chúa Kito.

Mắt bà bị đau làm cho bà bị mù. Bà bị tê liệt rồi bà nằm liệt giường. Dù đau đớn nhiều nhưng bà luôn vui vẻ. Bà thường hay nói rằng:

“Con xin hiệp thông với Cuộc Khổ Nạn Chúa Kito.”

Năm 1914, sau khi bà qua đời thì những sự chữa lành xẩy ra ngay lập tức nơi mộ của bà. Sự chữa lành lớn lao đầu tiên là bà chữa lành cho Mẹ Bề Trên của bà. Mẹ Bề Trên sau khi lấy đất ở mộ của Thánh Rebecca đắp lên cổ họng thì bà nhận được ơn chữa lành ngay tức khắc.

Sau đó có hàng ngàn dấu lạ chữa lành xẩy ra: nhiều người mù được nhìn thấy, nhiều người bị bịnh ung thư mà được chữa lành. Nhiều người tê liệt được đứng lên mà đi, và rất nhiều người bị bịnh nan y mà được chữa khỏi.

Có một trường hợp một phụ nữ bị ung thư bàng quang mà được khỏi bịnh khi bịnh nhân cầu nguyện ở ngôi mộ của Thánh Nữ. Do đó mà bà Thánh được phong chân phước, rồi bà được phong thánh bởi ĐGH John Paul II năm 2001.

Thánh Rafqa đặc biệt chữa lành bịnh đau mắt, đau nhức kinh niên và bịnh tật đủ loại.

Cuộc đời của bà Thánh nhắc nhở chúng ta rằng nước mắt dâng lên và hiệp thông với Chúa Giêsu thì không bao giờ uổng phí. Nước mắt có thể trở thành nguồn ân sủng và chữa lành cho những người khác.

Liệu bạn có bao giờ được chữa lành phần xác hay phần thiêng liêng chưa?

Đôi khi một vị Thánh đau khổ lại có thể cầu bầu tốt cho những người khác.

Lạy Thánh Rafqa, cầu cho chúng con. Amen.

Kim Hà, 4/8/2026 


 

CHÚA CŨNG THUA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy!”.

“Israel được tuyển chọn, nhưng là để cho cả thế giới!” – Robert Barron.

Kính thưa Anh Chị em,

Điều Thiên Chúa khởi đầu với Israel chưa bao giờ chỉ dành cho Israel, nhưng cho cả thế giới. Tin Mừng hôm nay ghi lại khoảnh khắc cánh cửa ấy hé mở – một phụ nữ ngoại giáo. Đó là lúc ‘Chúa cũng thua’.

Matthêu kể câu chuyện này cho các tín hữu gốc Do Thái – những người ý thức mình thuộc về dân được tuyển chọn. Thế nhưng, ngay giữa Tin Mừng của mình, ông lại đặt một người phụ nữ Canaan vào vị trí ít ai ngờ tới. Người mà các môn đệ muốn đẩy ra, Chúa Giêsu lại muốn kéo vào để báo trước ngày cánh cửa cứu độ rộng mở cho muôn dân. Hoá ra, người đứng ngoài ấy lại trở thành dấu chỉ đầu tiên của một nhân loại bước vào nhà Thiên Chúa.

Chúa Giêsu xem ra đã làm mọi cách để khước từ cô: im lặng, giới hạn sứ mạng, rồi cả những lời nghe như quá chua chát. Thế nhưng, mỗi lời từ chối của Ngài chỉ càng kéo cô lại gần hơn. Cuối cùng, Ngài nói: “Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy!”. Không phải Chúa Giêsu “chịu thua” trước sự khôn khéo của một người mẹ, nhưng trước một đức tin chính Ngài đã kiên nhẫn làm lớn lên. Tình yêu của Thiên Chúa không sợ thua; Ngài sẵn sàng nhận phần thiệt, miễn là con người thắng: được cứu! Đó là cái giá của một tình yêu không chấp nhận đánh mất một con người. Đó không phải là thất bại của quyền năng, nhưng là chọn lựa của tình yêu.

Điều hôm nay Chúa Giêsu thực hiện cũng là điều Giêrêmia đã báo trước thuở xưa. Ông không tố cáo sự ngỗ ngáo của dân, nhưng ca ngợi một Thiên Chúa trung thành: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương!”. Vì thế, bản án không phải là lời cuối: “Đức Chúa đã cứu dân Người, số còn sót lại của Israel” – bài đọc một. Người phụ nữ Canaan không bước vào một chương trình cứu độ lạ lẫm; cô chỉ bước vào “một tình yêu chưa bao giờ chịu thua”. Nay, cùng với Israel, muôn dân reo mừng: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Phần chúng ta, hầu như không một lần muốn mình thua. Nhưng theo Chúa không chỉ là học yêu như Ngài, mà còn học thua như Ngài nữa. Charles Péguy đã đúng: trong tình yêu, ai thắng thì thua, ai thua thì thắng. Vì thế, học yêu đã khó; học thua còn khó hơn: thua để cứu mình, cứu người. “Ai được Thiên Chúa gọi theo nghĩa Kinh Thánh đều được gọi vì những người chưa được gọi!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Trên thập giá, tình yêu của Thiên Chúa đi đến tận cùng. Dưới mắt thế gian, đó là thất bại: Con Một bị đóng đinh, các môn đệ bỏ chạy, sự chết tưởng đã nói lời cuối. Nhưng chính nơi ấy, Thiên Chúa nói hết về mình. Ngài không giành chiến thắng bằng cách thôi yêu. Chính vì không thôi yêu, Ngài không bao giờ thất bại. Thập giá không phải là thất bại, nhưng là chiến thắng: một tình yêu không bao giờ đầu hàng. Đó mới là ‘Chúa cũng thua’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con sống xứng với hồng ân Chúa chọn; mở lòng đón mọi anh chị em; để ai gặp con, họ gặp được Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Thứ Tư Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, 22 thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” 23 Nhưng Người không đáp lại một lời.

Các môn đệ lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!” 24 Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” 25 Nhưng bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” 26 Người đáp: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” 27 Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” 28 Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.