“Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)-Cha Vương

Một ngày tươi vui rạng ngời trong Chúa nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau  và toàn thế giới nhe 

Cha Vương

Thứ 6: 8/5/2026.      (n9-25)

TIN MỪNG: Vậy đang khi ông [Phaolô, Sao-lô] đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)

SUY NIỆM: Vài ngày trước khi các Hồng y bước vào mật nghị, có người hỏi mình rằng liệu Giáo Hội kỳ này có một vị giáo hoàng người Mỹ không? Mình trả lời là “hơi nghi ngờ đó!” Rõ ràng là mình đã sai tuốt tuồn tuột! Trong Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô có câu: “Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan.” Bây giờ mới tin vào việc Chúa làm thì không ai có thể đoán trước được. 

   Cuộc sống thường không thể đoán trước. Sáng thức dậy bạn lập ra một chương trình cho ngày mới nhưng đến giữa trưa thì mọi sự đều thay đổi hết. Như Phao-lô, phải nói  là đã thay đổi 180 độ. Từ một kẻ bắt bớ các tín hữu tin theo Chúa Giê-su, Phao-lô chẳng những đã trở thành kẻ tin theo Chúa Giê-su mà còn trở thành một người chết cho Chúa nữa. 

   Bạn cũng vậy, mỗi ngày bạn được mời gọi đến để gặp Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể. Nếu bạn muốn thay đổi đời mình 180 độ thì hãy đến cùng Giê-su đi. Nếu Ngài sống lại từ cõi chết được thì Ngài cũng có thể biến mảnh đời khô quạnh của bạn thành cuộc đời vui tươi và bình an. Hãy đến để Ngài bổ sức cho…

LẮNG NGHE: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. (Mc 16:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin hãy biến đổi con và hãy sử dụng con như một khí cụ trong bàn tay quyền năng của Chúa, để con nên một “Phao-lô nhỏ”, nên một chứng nhân sống động của Tin Mừng trong các môi trường sống của con.

THỰC HÀNH: Cố gắng là một “Phao—lô nhỏ” hôm nay nhé.

From: Do Dzung

******************************************

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON – HIỆP LỄ CHÚA HIỂN DUNG – Lm Thái Nguyên

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

1) CHỦNG VIỆN:

Chủng viện (tiếng Latinh: seminarium, có nghĩa là vườn ươm): là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Các chủng sinh, sau khi hoàn tất chương trình Triết học và Thần học, sẽ được lãnh tác vụ/thiên chức linh mục, họ mang sứ mệnh trông coi các xứ đạo và thuộc quyền một Giám mục của giáo phận sở tại. Các linh mục này được gọi là linh mục triều (secular priest).

2) TU VIỆN :

Trong Giáo hội Công giáo, có hai loại hình tu trì sống theo cộng đoàn: tu hoạt động và tu chiêm niệm. Theo cách gọi thông thường, tu viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối hoạt động (active), họ được gọi là tu sĩ và thường làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện.

3) ĐAN VIỆN

Đan viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối chiêm niệm (contemplative). Họ được gọi là đan sĩ (dù là linh mục hay không linh mục). Họ sinh hoạt chủ yếu trong đan viện của mình với tinh thần “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động). Mỗi ngày các đan sĩ dành phần lớn thời gian đọc kinh chung và cầu nguyện theo phương pháp đặc thù.

4) LINH MỤC TRIỀU VÀ LINH MỤC DÒNG

Phân biệt linh mục triều và linh mục dòng

“Triều” và “Dòng” là những từ ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hai lối sống khác nhau trong cộng đồng Giáo Hội.

– Linh mục triều (secular priests), phục vụ trong các giáo xứ, ở giữa dân chúng hay “giữa thế gian” (theo tiếng Latin, thế giới là “saeculum”), còn được gọi là các linh mục giáo phận (diocesan priests), “nhập tịch” vào Giáo phận, trực thuộc Giáo phận, trực tiếp dưới quyền Giám mục Giáo phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Giám mục chỉ định. Thông thường, các linh mục triều hoạt động trong địa hạt Giáo phận của mình.

– Linh mục dòng hội nhập vào các dòng tu, là tu sĩ, phần tử của các dòng tu, tuyên giữ lời khấn dòng (khiết tịnh, khó nghèo, và vâng lời bề trên), trực tiếp vâng lời bề trên dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định. Các công việc của các linh mục dòng tùy thuộc đoàn sủng mỗi dòng. Họ có thể thi hành những việc về phụng vụ, quản trị, mục vụ, truyền giáo, giáo dục, xã hội, y tế, nghệ thuật, truyền thông, lao động… Các linh mục dòng có thể được gửi đi hoạt động bất cứ nơi nào nhà dòng được phép hoạt động, cũng được bề trên gửi đến các Giáo phận để phục vụ như các linh mục triều và trong khi phục vụ khó phân biệt họ với linh mục triều.

– Ngoài ra, trong thực tế, ta còn thấy sau chữ ký hay danh xưng của các linh mục dòng còn có thói quen viết thêm chữ tắt tên của dòng mình như:

S.J. (Societas Jesus – Dòng Tên),

O.P. (Ordo Predicatorum – Dòng Đa Minh),

O.F.M. (Ordo Fratrum Minorum – Dòng Thánh Phanxicô),

CSsR (Congregatio Sanctissimi Redemptoris – Dòng Chúa Cứu Thế),

Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregatio Redemptoris Matris – CRM).

M.S. (Missionarus Salettensis – Dòng LaSalette),

C.F.C.(Congregatio Fratrum Christianorum – Dòng Sư Huynh Lasan),

O.H. (Ordo Hospitalis – Dòng Bệnh Viện – Gioan Thiên Chúa),

S.D.B. (Società Salesiana di San Giovanni Bosco – Dòng Salesian Don Bosco),

O.S.B (Ordo Sancti Benedicti – Dòng Biển Đức),

S.V.D. (Societas Verbi Divini – Dòng Ngôi Lời), v.v 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

“Một khi bị dồn vào đường cùng, rắn đuôi chuông có thể tự cắn mình. Người nuôi hận thù cũng thế: tưởng làm đau người khác, nhưng lại huỷ hoại chính mình. Tốt nhất, bạn hãy đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương và phó thác cho Chúa. Phần còn lại, Ngài lo!” – E. Stanley Jones.

Kính thưa Anh Chị em,

Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Cha. Tin Mừng hôm nay hé mở một nghịch lý: yêu thương không phải là yếu đuối, nhưng là một sức mạnh – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Trong thần học Gioan, “thế gian” – kosmos – không chỉ là thế giới con người đang sống, nhưng còn là một thế giới khước từ ánh sáng. Vì thế, càng mặc khải sự thật và tình yêu của Cha, Chúa Giêsu càng bị chống đối. Ngài vẫn yêu giới biệt phái, yêu Giuđa và yêu đến cùng cả những kẻ sẽ đóng đinh Ngài. Ở đây, yêu thương chính là phản kháng! “Sự thật không vũ trang và tình yêu vô điều kiện sẽ là tiếng nói cuối cùng!” – Martin Luther King Jr..

Thế nhưng, với Gioan, ánh sáng không biến mất trước bóng tối; trái lại, càng bị khước từ, ánh sáng càng bừng lên mạnh mẽ hơn. Chính vì thế, tình yêu Kitô giáo không phải là trốn chạy xung đột, nhưng là từ chối để sự dữ quyết định cách mình sống và cách mình yêu. Người Kitô hữu không nuôi dưỡng cay đắng, cũng không tự huỷ mình trong hận thù; trái lại, vẫn nhu mì và tiếp tục yêu thương. Và đó cũng là thách đố lớn nhất của người môn đệ hôm nay: giữa một thế giới dễ đáp trả bằng giận dữ, chúng ta được mời gọi phản kháng bằng yêu thương; ‘phần còn lại, Ngài lo!’. “Tình yêu là căn tính đích thực của tôi; quên mình là con người thật của tôi!” – Thomas Merton.

Tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Các tông đồ đã sống điều đó. Được đón tiếp, các ngài lưu lại; bị khước từ, các ngài lên đường. Không dừng lại, nhưng luôn mở ra những con đường mới. Từ Đerbê, Lystra đến Phygia, Galat rồi Makêđônia – bài đọc một – đã xuất hiện những cộng đoàn mới, những con tim mới và những niềm vui mới. Chính khi không để mình bị nhốt lại trong chống đối, Hội Thánh sơ khai tiếp tục lớn lên; tín hữu vui, dân ngoại mừng, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi đến tận cùng con đường ấy trong một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Trên thập giá, bị kết án, Ngài vẫn thứ tha; bị trao nộp, Ngài vẫn một mực phó mình cho Cha. Thập giá vì thế không còn là thất bại, nhưng trở thành mặc khải tối hậu của một tình yêu mạnh hơn sự dữ và mạnh hơn cả sự chết. “Tôi không muốn trở thành kẻ chống lại ai; tôi chỉ muốn xây dựng một lời khẳng định lớn lao!” – Oscar Romero. Bởi thế, người môn đệ Đức Kitô không phản kháng bằng cay đắng, nhưng bằng một tình yêu như Thầy mình; tiếp tục yêu thương, tiếp tục phó thác – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Cho con vẫn cứ thương, dù bị ghét. Được thế, con mới giống Chúa phần nào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần V Phục Sinh

Anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. 20 Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21 Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”


 

THỜI CỦA THÁNH THẦN – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha.  Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi.  Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”  “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con.  Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ.  Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi.  Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần. 

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện.  Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a.  Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi.  Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm.  Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy. 

Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.   Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa.  Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.  Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội.  Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay?  Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những giai đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội.  Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến.  Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện.  Chúa sẽ có cách giải quyết của Người. 

Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế,” Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại.  Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy.”  Điều răn của Thầy là điều nào?  Là yêu thương nhau.  Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na.  Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy.  Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu.  Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu. 

Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (Bài đọc I).  Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin.  Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa.  Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới.  Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người.  Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình.  Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.  Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (Bài đọc II).  Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực.  Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc.  Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu.  Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách. 

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!”  Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa.  Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường.  Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng.  Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

From: Langthangchieutim

MẤT TÔI – ĐƯỢC TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”.

“Cho tôi một trăm người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi, tôi sẽ đem cả thế giới về cho Chúa Kitô!” – John Wesley.

Kính thưa Anh Chị em,

Để đem cả thế giới về cho Chúa Kitô, con người trước hết phải biết quên mình. Lời Chúa hôm nay hé mở một nghịch lý lạ lùng: chính lúc ‘mất tôi’, chúng ta lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất. Chỉ lúc đó, chúng ta mới thật sự biết yêu như Ngài yêu và có sức biến đổi lòng người.

Nếu áp dụng lời Chúa Giêsu hôm nay, một câu hỏi có thể nảy sinh: vậy tình yêu có thể truyền dạy được sao? Đức Bênêđictô XVI giải thích: Thiên Chúa không đòi một cảm xúc mà chúng ta không thể tạo ra. Tình yêu Kitô giáo không chỉ là cảm xúc, nhưng còn là chọn lựa của ý chí. Chính khi ý chí con người dần trùng khớp với ý chí Chúa Kitô, chúng ta mới bắt đầu biết yêu như Ngài yêu; và cũng chính lúc đó, chúng ta bắt đầu ‘mất tôi – được tôi’. “Con người không thể gặp lại chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến trao chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, giới răn yêu thương của Gioan không còn là chuyện “thích hay không thích”, nhưng là để con tim được biến đổi. Khi yêu như Chúa Kitô yêu, con người không đánh mất tự do; trái lại, tự do đạt tới sự viên mãn, vì ý muốn của chúng ta bắt đầu cùng nhịp với ý muốn của Thiên Chúa. Và một khi không còn bị cái tôi khép kín điều khiển, chúng ta mới có thể yêu mà không tính toán, không phân biệt và không sợ mất mát. Chính vì thế, một trăm con người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi có thể biến đổi cả thế giới. Khi không còn sống cho chính mình nữa, tình yêu của họ bắt đầu tạo nên một khác biệt. Và cũng chính lúc ‘mất tôi’, họ lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất.

Đó cũng là điều đã xảy ra với Hội Thánh sơ khai. Các tông đồ và kỳ mục đã dám “mất” đi những bảo đảm quen thuộc để đón nhận những anh em dân ngoại vào cùng một đức tin. Họ không đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài “những điều cần thiết” – bài đọc một. Đó là dấu của một cộng đoàn không còn sống theo ý riêng, nhưng theo ý muốn của Chúa Thánh Thần. Và chính khi dám ‘mất tôi’, Hội Thánh sơ khai lại ‘được tôi’, để rồi có thể reo lên: “Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống nghịch lý ấy cách trọn vẹn nhất. Trên thập giá, Ngài đã “mất” tất cả: bị khước từ, bị trao nộp và hiến dâng đến giọt máu cuối cùng; một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Nhưng cũng chính lúc mất đến tận cùng, Ngài lại được tôn vinh; vì thập giá trở thành vinh quang, phục sinh trở thành khải hoàn và muôn dân trở thành gia nghiệp. Bởi thế, ai dám mất mình trong tình yêu của Đức Kitô sẽ không đánh mất cuộc đời, nhưng gặp lại chính mình trong Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết ‘mất tôi’ để ‘được tôi’; dám yêu mà không tính toán; dám hiến trao mà không giữ lại chính mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Phục Sinh

Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 15,12-17

12 Khi ấy, đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”


 

YÊU MẾN CHÚA NƠI THA NHÂN-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 14,15-21)-(Chúa nhật 6 Phục sinh)

Sứ điệp: Chúa Giê-su muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu mến, phục vụ tha nhân.

***

Thể hiện tình thương

 Có nhiều cách thể hiện tình thương: Các đôi tình nhân bày tỏ tình thương bằng những món quà; cha mẹ bày tỏ lòng thương con bằng chăm sóc chu đáo, ân cần giáo dục… Bạn bè thân thiết tỏ lòng yêu thương nhau bằng chia ngọt sẻ bùi…

 Còn Chúa Giê-su, Ngài thể hiện tình yêu đối với Chúa Cha bằng cách nào?

Thưa, bằng sự vâng phục tuyệt đối. Ngài vâng theo ý Chúa Cha cho dù phải hiến thân chịu chết.

 Trước khi nộp mình chịu khổ nạn, Chúa Giê-su cho các môn đệ biết sở dĩ Ngài hiến thân chịu khổ nạn, là “để thế gian biết rằng Ngài yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền dạy,” là chấp nhận chịu khổ nạn theo ý Chúa Cha để mang ơn cứu độ cho muôn người (Ga 14, 30-31).

 Cụ thể là,

  • Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng lời Chúa Cha đến nỗi để cho người ta bắt bớ, vu cáo, phỉ nhổ, tát vào mặt… mà không hề chống đối;

– Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng theo ý Chúa Cha, để cho người ta đánh đòn hung bạo, để cho vòng gai nhọn cắm sâu vào đầu, lảo đảo vác thập giá lên đồi Sọ, chịu đóng đinh vào thập giá và chết quằn quại đau thương tủi nhục để đền tội cho muôn dân.

Chúa Giê-su đã vâng lời Chúa Cha đến mức phải chết thảm thương như thế cho thấy tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha là vô biên, vô hạn. 

 Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách nào?

 Chúa Giê-su thể hiện lòng yêu mến Chúa Cha bằng cách vâng phục Chúa Cha, thì Ngài cũng yêu cầu những ai yêu mến Ngài cũng hãy vâng giữ huấn lệnh của Ngài.

 Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”  và một lát sau, Ngài nhấn mạnh: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.”  

 Như vậy, Chúa Giê-su đòi buộc chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách tuân giữ điều răn Chúa dạy, và điều răn đó được Chúa Giê-su tóm gọn như sau:

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Như thế, Chúa Giê-su mong muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu thương chăm sóc người lân cận.

 Khi sống vô cảm với người chung quanh, khi thờ ơ trước những nỗi đau của người khác, khi không ra tay giúp đỡ kẻ khốn khổ bần cùng… là chúng ta quay lưng lại với Chúa.

 Lạy Chúa Giê-su,

Thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng những lời ca khen chúc tụng, bằng những câu kinh lời nguyện thì dễ, nhưng thể hiện lòng mến Chúa bằng cách yêu mến mọi người chung quanh là điều rất khó.

 Xin mở rộng con tim vô cảm và đổ đầy tình thương Chúa vào lòng chúng con, để chúng con hết lòng yêu mến, phục vụ Chúa hiện diện nơi anh chị em chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

***************************

Tin mừng thánh Gioan (14,15-21)

15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Chính Ta là bánh ban sự sống-Cha Vương

Hôm nay  Houston trời mưa dầm, ước chi tình yêu Chúa như hạt mưa rơi thấm vào con tim khát khao của bạn. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và thế giới 

Cha Vương

Thứ 4, 6/5/2026.      (t7-25)

TIN MỪNG: Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. (Ga 6:35) 

SUY NIỆM: Nhìn vào đời sống hôn nhân của những người xung quanh, đằng sau vẻ hào nhoáng vui tươi có thể là những nỗi đau không ai biết. Có thể họ đang sống bên nhau nhưng tim họ lại xa hàng ngàn cây số. Họ nói yêu nhau nhưng không đến với nhau, cảnh “chăn ấm lạnh lòng”, không ít thì nhiều, cũng đang xảy ra đó. Có bao giờ bạn nói yêu thương ai mà chỉ một tuần mới hỏi thăm một lần, và đôi khi hai tuần mới trò chuyện? Yêu nhau nhưng không đến với nhau cũng là một vấn đề trong mọi mối quan hệ, nhất là mối quan hệ với Chúa. Hôm nay Chúa mời gọi bạn hãy đến với Chúa. Khi tâm hồn bạn cảm thấy đói khát và trống vắng, bạn đã “đến với” ai, với cái gì? Bạn có “đến với” Chúa không? Nếu bạn thực sự yêu mến Chúa thì phải thể hiện vào việc đến với Ngài. Một ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để “đến với” Chúa. Bạn có thể “đến với” Chúa bằng nhiều cách: tưởng nhớ, cầu nguyện, suy gẫm, viếng Thánh Thể và nhất là tham dự Thánh Lễ. “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.”

LẮNG NGHE: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin giúp con luôn tìm đến Chúa để được sống trong vòng tay yêu thương của Ngài.

THỰC HÀNH: Hãy xét mình xem lòng bạn có thực sự “đến với” Chúa không?

From: Do Dzung

******************************************

HIỆP LỄ – ĐẾN VỚI CHÚA -THỨ TƯ LỄ TRO – Lm Thái Nguyên

KHÔNG CHỈ LÀ CHÚA KITÔ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy!”.

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” – William Barclay.

Kính thưa Anh Chị em,

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội”. Vì thế, không thể tách rời Giáo Hội khỏi Chúa Kitô; ở lại trong Ngài cũng là ở lại trong Giáo Hội của Ngài – ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Động từ “ở lại” không chỉ mang nghĩa luân lý; nó diễn tả một tương quan. Tình yêu không khởi đi từ nỗ lực, nhưng từ một thực tại có trước: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em”. Vì thế, “ở lại” là để mình được ở trong chuyển động tình yêu giữa Cha và Con; đức tin không còn là làm cho đúng điều phải, nhưng là để mình được ở trong đó. Ở đây, câu hỏi trở nên rất cụ thể: tôi có thật sự ở lại không, hay chỉ đang làm cho đúng?

Bên cạnh đó, “giữ các điều răn” không phải là một đòi buộc, nhưng là cách tình yêu trở thành cụ thể; nó là hình hài của tình yêu. “Ở lại” mà không “gìn giữ”, tình yêu dễ tan thành cảm xúc; còn “gìn giữ” mà không “ở lại” thì trở nên khô cứng. Có khi nào chúng ta chỉ còn “giữ” mà không còn ở lại? Vì một khi tình yêu đối với Chúa Kitô đã mang lấy hình hài cụ thể như thế, nó không còn dừng lại nơi cá vị, nhưng tự nó mở ra thành hiệp thông, thành một thân thể sống động – Giáo Hội; vì thế, ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Tình yêu nơi Gioan không dừng ở cảm xúc hay bổn phận, nhưng là caritas – tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa và tự thông ban. Tình yêu ấy không chỉ là mẫu mực, nhưng là một chuyển động sống. Vì thế, ở lại trong tình yêu không phải là giữ lấy, nhưng là để mình được ở trong tình yêu ấy. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý niệm cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Joseph Ratzinger.

Cụ thể của tình yêu ấy không nằm ở cảm xúc, nhưng ở một quyết định mở ra: Công đồng Giêrusalem không đặt thêm gánh nặng, nhưng nhận ra Thiên Chúa đang hành động nơi mọi dân – bài đọc một. Vì thế, tình yêu trở thành sứ vụ: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm”. Khi tình yêu là caritas, nó luôn mang chiều kích loan báo; lan ra thành lời chứng sống động giữa muôn dân – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Khuôn mẫu của tình yêu đó, quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô, đạt tới tột đỉnh trên thập giá: không giữ lại, nhưng trao ban đến cùng – cho Cha và cho nhân loại. Ở lại trong Ngài là bước vào chính nhịp tự hiến ấy; và từ đó, người môn đệ không còn sống cho riêng mình, nhưng được cuốn vào một đời sống trao ban của một thân thể mầu nhiệm – Giáo Hội – ‘không chỉ là chúa Kitô’. “Ngài là đầu, chúng ta là chi thể; Ngài và chúng ta hợp lại thành một con người toàn thể!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong tình thương của Ngài, để con dám trao như Chúa đã trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần V Phục Sinh

Hãy ở lại trong tình thương của Thầy, để niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,9-11

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”


 

BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – KHI TÂM HỒN ĐƯỢC Ở LẠI TRONG TRÁI TIM THIÊN CHÚA

(Ga 14, 27-31a)

Bình an – hai tiếng nghe rất quen, rất gần, nhưng cũng rất xa. Quen bởi vì ai cũng nói đến, cũng chúc cho nhau: chúc bình an, cầu bình an, tìm bình an. Nhưng lại xa, bởi vì càng tìm, con người dường như càng cảm thấy nó vuột khỏi tầm tay. Bình an trở thành một điều vừa thiết yếu nhất, vừa mong manh nhất trong cuộc đời con người.

Từ thuở xa xưa cho đến hôm nay, từ những đế quốc hùng mạnh cho đến những gia đình nhỏ bé, từ những người quyền lực đến những con người bình thường, ai cũng khao khát bình an. Người ta xây dựng hệ thống luật pháp, phát triển khoa học, tích lũy của cải, thiết lập các tổ chức xã hội… tất cả cũng chỉ nhằm một điều: tìm kiếm sự ổn định, sự bảo đảm, và cuối cùng là một trạng thái gọi là “bình an”.

Nhưng điều đáng nói là: càng cố gắng xây dựng bình an theo cách của con người, thì con người lại càng cảm thấy bất an. Chiến tranh này qua chiến tranh khác. Bạo lực này nối tiếp bạo lực kia. Bệnh tật cũ chưa qua, bệnh mới đã tới. Những nỗi lo không còn chỉ ở bên ngoài, mà len lỏi sâu vào bên trong: lo âu, trầm cảm, sợ hãi, cô đơn… như những căn bệnh vô hình nhưng lại tàn phá con người cách âm thầm và dai dẳng.

Điều đó cho thấy một sự thật: bình an mà con người tự tạo dựng chỉ là một lớp vỏ mỏng manh. Nó có thể làm dịu đi phần nào những xáo trộn bên ngoài, nhưng không thể chạm đến tận đáy sâu của tâm hồn. Nó giống như một mặt hồ phẳng lặng trong chốc lát, nhưng bên dưới vẫn là những dòng xoáy ngầm đang cuộn chảy.

Chính trong bối cảnh đó, lời của Đức Giêsu vang lên trong bữa Tiệc Ly trở nên vừa tha thiết, vừa đầy sức nặng:

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng.”

Đây không phải là một lời chúc xã giao trước khi chia tay. Đây là một lời trăn trối, một gia sản thiêng liêng mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ – và cho mỗi chúng ta. Nhưng để hiểu được giá trị của món quà này, chúng ta phải đi vào chiều sâu của nó.

Bình an mà Đức Giêsu nói đến không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Ngài nói những lời này không phải trong lúc mọi sự êm đềm, nhưng trong bầu khí của sự chia ly, của phản bội, của cái chết đang đến gần. Ngài biết rõ Giuđa sắp nộp Ngài. Ngài biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Ngài biết con đường trước mặt là Thập Giá. Và chính trong hoàn cảnh đó, Ngài lại nói về bình an.

Điều này đảo lộn hoàn toàn cách hiểu thông thường của con người. Bởi vì con người thường nghĩ: có bình an là khi không có đau khổ. Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy: có một thứ bình an vẫn tồn tại ngay giữa đau khổ. Một thứ bình an không bị phá hủy bởi nghịch cảnh, không bị lay chuyển bởi thử thách, không bị tiêu tan bởi cái chết.

Đó chính là bình an của đức tin.

Đức tin không làm cho cuộc đời bớt khó khăn. Đức tin không xóa bỏ đau khổ. Đức tin không bảo đảm rằng người tin Chúa sẽ không gặp thử thách. Nhưng đức tin mở ra một cái nhìn mới: nhìn mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Khi có đức tin, con người không còn nhìn đau khổ như một sự vô nghĩa, nhưng như một phần của hành trình cứu độ. Không còn nhìn thất bại như dấu chấm hết, nhưng như một cánh cửa dẫn đến một điều tốt đẹp hơn mà Thiên Chúa đang chuẩn bị. Không còn nhìn sự dữ như là chiến thắng cuối cùng, nhưng tin rằng Thiên Chúa có thể biến đổi tất cả.

Chính vì thế, người có đức tin có thể sống bình an ngay trong những hoàn cảnh mà người khác chỉ thấy bất an.

Có những người bên ngoài rất ổn định: công việc vững vàng, gia đình đầy đủ, sức khỏe tốt… nhưng bên trong lại đầy lo lắng, sợ hãi. Ngược lại, có những người sống trong thiếu thốn, bệnh tật, hiểu lầm, thậm chí bị bách hại… nhưng tâm hồn lại bình an một cách lạ lùng.

Sự khác biệt không nằm ở hoàn cảnh, mà nằm ở đức tin.

Bình an của Đức Giêsu không phải là món quà “gói lại” để chúng ta cất giữ, nhưng là một sức sống được đặt vào trong tâm hồn. Đó là sự hiện diện của chính Ngài. Khi Ngài nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, điều đó có nghĩa là: Ngài ban chính con người của Ngài, ban chính sự hiệp thông của Ngài với Chúa Cha.

Vì thế, bình an đích thực không phải là “có mọi sự theo ý mình”, mà là “ở lại trong Thiên Chúa”. Khi tâm hồn ở lại trong Chúa, thì dù bên ngoài có sóng gió, bên trong vẫn có một điểm tựa vững chắc.

Đó là lý do tại sao Đức Giêsu tiếp tục nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi.” Đây không phải là một lời trấn an tâm lý đơn thuần, nhưng là một lời mời gọi bước vào một tương quan: tương quan tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Sợ hãi thường đến từ cảm giác mất kiểm soát. Khi con người nghĩ rằng mình phải nắm giữ mọi sự, phải kiểm soát mọi biến cố, thì chỉ cần một điều vượt khỏi tầm tay là lập tức bất an. Nhưng đức tin giúp con người buông mình vào tay Thiên Chúa, tin rằng Ngài đang dẫn dắt mọi sự, ngay cả khi mình không hiểu.

Đức Giêsu nói: “Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại với anh em.” Đây là một mầu nhiệm: sự ra đi không phải là mất mát, nhưng là điều kiện để một sự hiện diện sâu xa hơn được thiết lập. Qua cái chết và phục sinh, Đức Giêsu không còn hiện diện theo cách giới hạn của thân xác, nhưng hiện diện trong tâm hồn những ai tin.

Vì thế, bình an của Ngài không lệ thuộc vào việc Ngài “ở gần” hay “ở xa” theo nghĩa vật lý, nhưng lệ thuộc vào đức tin của người môn đệ.

Nếu có đức tin, thì ngay cả trong những lúc tưởng chừng Chúa vắng mặt nhất, con người vẫn cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Và chính sự hiện diện đó làm nên bình an.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay không chỉ dừng lại ở việc giải thích về bình an, nhưng còn là một lời mời gọi sống bình an.

Sống bình an không phải là trốn tránh thực tại, nhưng là dám đối diện với thực tại bằng ánh sáng đức tin. Không phải là phủ nhận đau khổ, nhưng là mang đau khổ vào trong tương quan với Thiên Chúa. Không phải là tìm cách loại bỏ mọi khó khăn, nhưng là học cách ở lại vững vàng giữa khó khăn.

Điều này rất cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi bị hiểu lầm, thay vì phản ứng tức giận, ta chọn bình an. Khi gặp thất bại, thay vì tuyệt vọng, ta chọn tin tưởng. Khi đối diện với bất công, thay vì nuôi hận thù, ta chọn tha thứ. Khi đứng trước tương lai bất định, thay vì lo âu, ta chọn phó thác.

Đó không phải là những lựa chọn dễ dàng. Nhưng chính trong những lựa chọn đó, bình an của Đức Giêsu được thể hiện.

Và khi một người sống bình an như thế, họ không chỉ giữ bình an cho riêng mình, nhưng còn trở thành người mang bình an đến cho người khác. Bình an của đức tin không bao giờ là một kinh nghiệm khép kín, nhưng luôn lan tỏa.

Trong một thế giới đầy chia rẽ, người Kitô hữu được mời gọi trở thành người kiến tạo hòa bình. Nhưng hòa bình bên ngoài chỉ có thể bắt đầu từ bình an bên trong. Nếu tâm hồn còn đầy bất an, thì lời nói và hành động cũng dễ trở thành nguồn gây xáo trộn.

Ngược lại, một tâm hồn bình an có sức mạnh làm dịu đi những căng thẳng, hàn gắn những rạn nứt, và mang lại hy vọng cho người khác.

Cuối cùng, bình an mà Đức Giêsu ban không chỉ dừng lại ở cuộc đời này, nhưng hướng đến sự sống vĩnh cửu. Đó là bình an của người biết mình thuộc về Thiên Chúa, đang đi về với Thiên Chúa, và sẽ được ở lại trong Thiên Chúa mãi mãi.

Vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, dù con đường phía trước có nhiều thử thách, người có đức tin vẫn có thể bước đi với một tâm hồn bình an. Không phải vì họ mạnh mẽ, nhưng vì họ tin vào Đấng mạnh mẽ hơn họ.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những xáo trộn của thời đại, biết quay về với nguồn mạch của bình an là chính Đức Kitô. Xin cho chúng ta không chỉ tìm kiếm bình an theo kiểu thế gian, nhưng biết đón nhận bình an như một ân ban của đức tin. Và xin cho bình an đó không chỉ ở lại trong tâm hồn chúng ta, nhưng còn lan tỏa đến những người chung quanh, để thế giới này, dù còn nhiều bóng tối, vẫn có thể bừng sáng lên nhờ những tâm hồn biết tin và biết yêu.

Lm. Anmai, CSsR


 

“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:34-35)- Cha Vuong

Nguyện xin Chúa tuôn đổ muôn hồng ân xuống trên bạn và gia đình hôm nay. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới thời bây giờ nhé

Cha Vuong

Thứ 3: 5/5/2026.      (n6-25)

TIN MỪNG: Họ liền nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giê-su bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! (Ga 6:34-35)

SUY NIỆM: Bạn thử nghĩ xem nếu một người giàu có đầy đủ: gia đình, nghề nghiệp, lợi tức, chức quyền, danh vọng… nhưng họ vẫn thấy còn thiếu cái gì nữa chăng? Nếu bạn trả lời rằng “CÓ” thì đoạn Tin Mừng hôm nay là một sứ điệp quan trọng. Chúa nhắc nhở rằng trên thế giới này có hai loại đói: trước hết là đói khát thể lý mà chỉ đồ ăn thức uống mới có thể thỏa mãn được. Thứ đến là đói khát thiêng liêng mà không thực phẩm nào trên trần gian này có thể thỏa mãn được. Nói cách khác, dầu bạn có giàu có hoặc thành công đến đâu đi nữa, bạn vẫn cảm thấy nơi thâm sâu lòng mình một cơn đói khát khó có thể bày tỏ được.

Đối với con người nếu chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu về thể xác thì càng cảm thấy thiếu thốn, vì nhu cầu đẻ ra nhu cầu, nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia làm cho người ta luôn tìm kiếm mà không bao giờ thoả mãn được. Chẳng trách nào họ “xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” 

Cuộc sống hôm nay, con người cứ bôn ba vất vả về nhiều chuyện: Hết lo cơm ăn, lo áo mặc, lại lo cho có tiện nghi sang trọng. Họ dành rất nhiều thời giờ cho những việc chóng qua nhưng cuộc sống viên mãn mai sau lại chẳng mấy quan tâm. Ước mong bạn “hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh.” (Ga 6:27a)

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.” (Ga 7:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, Chúa ban tặng cho con “bánh hằng sống”, xin cho con biết siêng năng rước Mình Máu Thánh Chúa đều đặn mỗi ngày để được sống muôn đời. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên và nghiêm trang hơn nhé.

From Do Dzung

*********************************************

HÃY CHO HỌ ĂN – CN MÌNH VÀ MÁU CHÚA KITÔ – Lm Thái Nguyên

Ở LẠI GIỮA ĐỔ VỠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em!”.

“Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng sợ hãi chi; ai có Thiên Chúa sẽ không thiếu gì; chỉ một mình Ngài là đủ!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa những đổ vỡ, con người dễ xao xuyến và sợ hãi; nhưng ai có Thiên Chúa thì ‘ở lại giữa đổ vỡ’ là điều có thể.

“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em!”. Không ở lại, cành nho tự tách mình khỏi nguồn sống; và một khi đã lìa thân, nó không thể sinh trái. Tin Mừng hôm nay vì thế không bắt đầu từ kết quả, nhưng từ việc ở lại; bởi lẽ, mọi đổ vỡ sâu xa không đến từ bên ngoài, nhưng ở chỗ cành không còn gắn với thân. Có thể bên ngoài chưa mất gì, nhưng bên trong đã đứt; một khi đã đứt, sự khô héo chỉ là vấn đề thời gian.

Động từ Gioan dùng là menein – ở lại; nhưng “ở lại” không phải là đứng yên, mà là ở trong nhau. Không chỉ con người ở lại trong Chúa, mà chính Chúa ở lại trong con người; đó không còn là một tương quan ở bề mặt, nhưng là một thông dự, nơi con người và Thiên Chúa bắt đầu sống sự sống của nhau. Khi ấy, vấn đề không còn là giữ hay mất, nhưng là có để cho sự hiện diện ấy thấm vào đời mình hay không; theo Jean de Bernières, không phải chúng ta làm, nhưng là để Thiên Chúa hành động.

Chính khi sự sống ấy vận hành, sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ làm lộ ra những gì không thuộc về Ngài và thanh luyện những gì không thể ở lại. Vì thế, điều con người gọi là “đổ vỡ” không hẳn là mất mát, nhưng là dấu của biến đổi; không phải bị lấy đi, nhưng được cắt tỉa để sinh hoa trái. Tuy nhiên, không phải mọi đổ vỡ đều giống nhau; có cái làm chết, có cái làm cho sự sống trổ sinh. Trong tiến trình ấy, chúng ta không còn chỉ tránh né, nhưng học cách ở lại – ‘ở lại giữa đổ vỡ’. “Đời sống thật đơn giản: chúng ta đang sống trong một thế giới hoàn toàn trong suốt, và Thiên Chúa luôn chiếu toả trong đó!” – Thomas Merton.

Trong cộng đoàn sơ khai, đã xảy ra một đổ vỡ thật: cắt bì! Đó không chỉ là một tranh luận, nhưng là một rạn nứt có thể làm lung lay tận gốc sự hiệp nhất. Tại đó, các tông đồ nhận ra rằng không phải mọi cắt bỏ đều đến từ Thiên Chúa; có những điều tưởng là cần thiết, nhưng lại đặt những gánh nặng không phát xuất từ Ngài. Vì thế, vấn đề không còn là cắt hay không, nhưng là có ở lại trong hiệp nhất để được Thánh Thần dẫn dắt – bài đọc một.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mời gọi ở lại, nhưng Ngài ở lại trong Cha. Trong sự ở lại ấy, Ngài đi qua thập giá mà không lìa, đón nhận mọi cắt tỉa mà không mất sự sống. Vì thế, ở lại không còn là nỗ lực của con người, nhưng là được đưa vào tương quan của Con với Cha. “Thiên Chúa đã trở nên người để con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa!” – Athanasiô. Chỉ khi cắm lều trong Ngài, chúng ta mới có thể ‘ở lại giữa đổ vỡ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không lìa xa Ngài giữa thử thách, nhưng được Thánh Thần dẫn dắt để đời con trổ sinh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần V Phục Sinh

Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. 2 Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. 3 Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. 4 Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.

5 “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. 6 Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. 7 Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. 8 Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là : Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”


 

THÁNG NĂM: TỪ HOA ĐỒNG CỎ NỘI ĐẾN HOA CÕI LÒNG – Phêrô Phạm Văn Trung

Phêrô Phạm Văn Trung

WHĐ (01/5/2026) – Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

Dẫn nhập 

Trong nếp sống đạo của tín hữu Công giáo Việt Nam, tháng Năm có vị trí đặc biệt.  Trong tháng này, từ những giáo xứ to lớn đến các họ lẻ nhỏ bé, không gian đều rộn ràng tiếng nhạc, lời ca tiếng hát và ngát hương hoa.  Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc. 

  1. Trong tháng Hoa, thiên nhiên hòa cùng đức tin 

Việc tháng Năm trở thành tháng dâng kính Mẹ Maria khởi đi từ cái nôi trời Tây của truyền thống này.  Sau những tháng mùa đông dài dằng dặc, bầu trời xám xịt và giá rét lạnh căm, tháng Năm tại châu Âu là thời điểm “Xuân phân” đạt đến độ rực rỡ nhất.  Cả đất trời như bừng tỉnh, cây cối đâm chồi nảy lộc, không khí ấm áp trở lại, và đặc biệt là muôn hoa đua nở khắp các cánh đồng, núi đồi và thung lũng. 

Vẻ đẹp thanh khiết, đầy sức sống của thiên nhiên lúc này đã trở thành một biểu tượng tâm linh mạnh mẽ.  Các tín hữu sơ khai nhìn thấy vẻ đẹp của hoa cỏ phản chiếu vẻ đẹp của Đức Trinh nữ Maria, người nữ “đầy ân phúc,” là “Bông hoa đẹp nhất” mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Nếu như hoa xuân mang lại niềm vui cho trần thế sau mùa đông u ám, thì Mẹ Maria, qua tiếng “Xin vâng,” đã mang Đấng Cứu Thế đến để mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại sau “mùa đông ảm đạm” của tội lỗi.

 Truyền thống dành tháng Năm cho Mẹ Maria không xuất hiện ngay lập tức mà là một hành trình tích lũy qua nhiều thế kỷ.  Thời trung cổ, tại các quốc gia như Tây Ban Nha hay Pháp, người dân đã có thói quen thực hành các việc đạo đức đặc biệt để tôn vinh Mẹ Maria vào tháng Năm, nhằm thay thế cho các lễ hội ngoại giáo mừng mùa xuân, vốn có những yếu tố đa thần đôi khi biểu lộ cách thô thiển.  Các tín hữu muốn thánh hóa thời gian này, thay vì chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên thì họ qui hướng mọi vẻ tươi đẹp đó về Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Mẹ Maria. 

Vào thế kỷ XVI, Thánh Philipphê Nêri dạy các thiếu nhi thu lượm hoa tươi trong vườn để dâng trước bàn thờ Mẹ Maria.  Ngài muốn trẻ em tìm thấy Chúa và Mẹ Maria thông qua vẻ đẹp đơn sơ của cỏ hoa.  Thế kỷ XVIII, các tu sĩ Dòng Tên tại Ý chính thức dành trọn 31 ngày tháng Năm với các bài suy niệm, bài hát hướng về Mẹ Maria và khuyến khích giáo dân thực hiện việc này tại gia đình cũng như tại nhà thờ, đưa phong trào lan rộng toàn cầu.  Sang thế kỷ XIX – XX, truyền thống này được các Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận.  Đặc biệt, qua Thông điệp Mense Maio – Tháng Năm (1965), Đức Phaolô VI khẳng định tháng Năm là dịp đặc biệt để cầu nguyện cho hòa bình và những nhu cầu của Giáo hội. 

  1. “Vãn dâng hoa” là sự sáng tạo độc đáo của người tín hữu Việt Nam khi xưa.

 Khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã rất khôn ngoan khi không chỉ áp dụng các nghi thức phương Tây xa lạ khó nắm bắt đối với người dân Việt.  Các ngài khuyến khích giáo dân diễn tả đức tin Công giáo theo cách riêng của tâm hồn dân Việt, vốn thấm đẫm thi ca, tha thiết diễn xướng và náo nức lễ hội, như Linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955) đúc kết: “Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo…  Người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc…  Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi,”[1] “vãn dâng hoa” và việc dâng hoa của người Công giáo Việt Nam ra đời trong tâm thế văn hóa đậm chất tâm linh đó.

 Tại Việt Nam, dâng hoa không chỉ là đặt một bó hoa lên bàn thờ rồi thôi, nhưng đó là một cách biểu lộ tâm tình đạo hạnh dưới hình thức nghệ thuật.  Người tín hữu Công giáo Việt Nam khi xưa đã soạn ra những bài “vãn dâng hoa,” dựa theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, giàu hình ảnh, dễ thuộc, dễ thấm, để ngợi ca vẻ đẹp của Mẹ Maria cũng như nói lên những nỗi niềm, thân phận và niềm hy vọng cậy trông của người tín hữu Việt Nam nơi Mẹ, giữa những lao nhọc vất vả của đời sống.

 “Đền vàng quỳ trước dâng hoa
Trông lên tháp bảo thấy tòa Ba Ngôi
Mười hai nhân đức gương soi
Kính dâng Đức Mẹ đời đời ngửa trông”…

…“Bảy hoa mượn chỉ nghĩa mầu.
Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.
Hợp cùng năm sắc điều dâng,
Dường mười hai ngọc kết tầng Triều thiên”…

…“Ban ơn cho chúng con nhờ,
Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên.
Đời này được sự bằng yên,
Đời sau lại được ngợi khen hát mừng… Amen.”[2]

 Về hình thức, vãn hoa là một “lễ hội đức tin” rộn rã, đậm chất văn hóa Việt.  Từ những tà áo truyền thống đến những điệu nhạc quen thuộc, tất cả tạo nên bầu không khí náo nức, gắn kết bà con xóm đạo.  Trong đoàn rước hoa dâng kính Mẹ Maria, mọi tín hữu không phân biệt giàu nghèo đều cùng hướng về Mẹ, biến nghi thức dâng hoa, hội nhập hoàn toàn vào tình tự dân tộc, thành một phần ký ức sâu sắc. 

Ngày nay, việc dâng hoa trong tháng Hoa được tổ chức ngày càng quy mô và lộng lẫy hơn.  Các giáo xứ lớn tổ chức các đoàn dâng hoa lên tới hàng trăm người, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, với hệ thống ánh sáng, âm thanh hiện đại.  Những giáo xứ miền quê nhỏ bé cũng tổ chức dâng hoa cho Mẹ Maria, một cách đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng.  Trang phục được đầu tư đáng kể, kỹ năng múa được tập luyện bài bản, ngày càng trở nên nghệ thuật, chuyên nghiệp.

 Những thao thức mục vụ của ngày hôm nay

 Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy vẫn nhắc nhở mọi người: Chúng ta đang dâng lên Mẹ Maria tâm tình hiếu thảo hay chỉ lo lắng đến việc biểu diễn?  Thực tế, việc quá chăm chút vào kỹ thuật, trang phục đôi khi khiến người tham gia lo lắng “sai nhịp” hơn là hướng lòng về Mẹ.  Khi tính biểu diễn lấn át tinh thần suy niệm, buổi lễ chỉ để lại sự trầm trồ về hình thức mà thiếu đi sứ điệp thiêng liêng trong tâm hồn.  Tính “biểu diễn” lấn át tinh thần “suy niệm cầu nguyện”.

 Để tháng Hoa tiếp tục là nguồn mạch nuôi dưỡng đức tin cho người tín hữu hôm nay cũng như các thế hệ mai sau, việc dâng hoa cần phải là một buổi suy niệm sống động, kết nối mỗi động tác, mỗi sắc hoa với Lời Chúa và các nhân đức của Mẹ Maria.

 Hoa trắng không chỉ là sắc màu của sự thanh khiết, nhưng còn là biểu tượng Ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Khi dâng hoa trắng, người tín hữu được mời gọi thanh tẩy tâm hồn, sống trung thực và trong sạch giữa một xã hội đầy dẫy sự gian dối.  “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mátthêu 5:8).

 “Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.” *

 Hoa đỏ tượng trưng cho sự hy sinh, tình yêu nồng cháy và những đau khổ mà Mẹ đã gánh chịu dưới chân Thập giá.  Đây là cơ hội để suy niệm về sự kiên trì và lòng yêu người, giúp người ta biết chấp nhận gian khổ để dấn thân phục vụ.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15:13).

 “Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu thánh thơm chung lòng người.
Vì thương con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.” *

 Hoa vàng là biểu tượng của vinh quang Thiên Chúa và lòng tin sắt son.  Dâng hoa vàng là cam kết giữ vững đức tin trước những lôi cuốn của chủ nghĩa vật chất, lối sống thực dụng.  “Vàng thử lửa, đức tin thử gian nan… để khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin ấy sẽ trở thành lời ca tụng, vinh quang và danh dự” (1 Phêrô 1:7).

 “Quý thay này sắc hoa vàng,
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.” *

 Hoa tím là màu của thống hối và khiêm nhường.  Trong một thế giới của cái tôi kiêu hãnh, sắc tím nhắc nhở chúng ta về sự nhỏ bé của mình trước nhan Chúa như Mẹ đã từng tự nhận là “nữ tỳ hèn mọn”.

“Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Luca 1:52).

“Dịu thay hoa tím càng màu,
Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.” *

 Hoa xanh nhắn đến niềm hy vọng và sự bình an.  Giữa những lo âu về cơm áo gạo tiền, sắc xanh dâng Mẹ là lời cầu xin sự bình an trong tâm hồn và niềm cậy tin vào tương lai tươi sáng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân.  Người ấy như cây trồng bên dòng nước” (Giêrêmia 17:7-8).

 “Lạ thay là sắc hoa xanh,
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm.” *

 4.Tháng Hoa giúp biến đổi đời sống thành vườn hoa thánh thiện 

Nếu mỗi buổi dâng hoa đều kèm theo Lời Chúa và lời suy niệm ngắn gọn, súc tích, người dâng hoa và người thưởng lãm gặp gỡ được Mẹ Maria của Tin Mừng, chứ không chỉ đi xem một hình thức phô diễn nghệ thuật.

 Nhằm bảo vệ môi trường theo tinh thần của Thông điệp Laudato Si’, các cuộc dâng hoa có thể được khuyến khích dâng hoa trong những chậu, nhỏ to khác nhau.  Sau buổi dâng hoa, số hoa này có thể trồng tại khuôn viên thánh đường hoặc tặng lại cho giáo dân chăm sóc, giúp tạo nên “Vườn hoa Đức Mẹ” xanh tươi quanh năm.

 Đỉnh cao của việc dâng hoa là sống cuộc đời “Per Mariam ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu,” biến đời sống thành vườn hoa nhân đức, mến Chúa yêu người, theo mẫu gương “Fiat – Xin vâng” của Mẹ Maria.  Mỗi người cần hiểu rằng một lời tử tế, một bữa cơm cho người nghèo hay sự trung thực trong công việc mới là đóa hoa ngát hương mà Mẹ Maria mong muốn nhất để giúp chúng ta nên thánh.  Mẹ không cần hoa, chính chúng ta mới là người cần đến hoa nhằm biểu lộ rằng đôi bàn tay vốn đang dâng lên Mẹ những bông hoa đầy hương sắc cũng là đôi bàn tay đã biết chia sẻ cụ thể những buồn vui, lo âu với những người chung quanh, và rằng cõi lòng chúng ta đang dần biến đổi để biết yêu thương, hy sinh như Mẹ.  Một tháng Năm mà mỗi tín hữu hăng hái làm việc bác ái, trao gửi nụ cười và sự quan tâm chân tình mới thực sự là một tháng Hoa ý nghĩa. 

  1. Khuyến khích giới trẻ tiếp nối và đào sâu truyền thống đạo hạnh

Tháng Năm về, giữa cái nắng oi bức của mùa hè Việt Nam, những giai điệu “Mùa hoa về rồi muôn hoa xinh con hái dâng Mẹ.  Mùa hoa về rồi muôn hương thơm bay trước nhan Mẹ…” (Trầm Hương) lại vang lên đầy thân thương.  Truyền thống tháng Hoa là một kho tàng vô giá mà cha ông đã để lại.  Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy sáng bằng cách thổi vào đó hơi thở của ngày hôm nay, với các bản thánh ca có điệu nhạc tươi mới, ngôn từ gần gũi nhưng vẫn trang trọng, đúng với Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, khơi gợi được cảm thức đức tin – sensus fidei.

 Sử dụng khéo léo các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ giúp việc dâng hoa không còn là nghi thức “cổ xưa” mà trở thành cảm nghiệm tâm linh tươi mới.  Khi được gạn đục khơi trong đúng với tâm tình, các bạn trẻ sẽ tham gia với tất cả sự nhiệt huyết và đức tin cá vị, thay vì chỉ làm theo tập tục phong trào.

 Tuy nhiên, nếu tháng Hoa chỉ dừng lại ở tiếng nhạc, trang phục thướt tha, hoặc “hứng thú nghệ thuật,” thì chúng ta chỉ là khán giả đi xem một buổi trình diễn văn nghệ chứ không phải người mong muốn hoán cải nội tâm.  Chỉ khi bước ra khỏi nhà thờ sau buổi dâng hoa, mỗi người biết sống tử tế, hy sinh, tôn trọng và yêu thương nhau hơn, thì lúc đó, chúng ta mới thực sự trở thành những đóa hoa sống động làm đúng ý Chúa và Mẹ Maria.

 Phêrô Phạm Văn Trung

_________

[1] Trường Đại học Khoa học xã hội và nhận văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, https://hcmussh.edu.vn/news/item/25727

[2] Và các câu thơ khác (*) tại http://gdptttvn.org/nam-sac-bay-mau-hoa-dang-kinh-duc-me/

From: Lanthangchieutim