PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn

Nguyen Huu Nghieu

Vị linh mục đứng bình tĩnh trước đội hành quyết với hai tay dang rộng ra dưới bầu trời Mexico, không để lộ nỗi sợ hãi và không bị bịt mắt trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Vào ngày 23 tháng 11 năm 1927, Đức L.M. Miguel Pro đã phải đối mặt với án tử hình trong một trong những giai đoạn đen tối nhất của cuộc bức hại tôn giáo trong lịch sử Mexico. Là một linh mục Dòng Tên trong những năm bạo lực của cuộc Chiến tranh Cristero, Pro đã bí mật tiếp tục thực hiện công việc truyền giáo bất chấp những cuộc đàn áp của chính phủ đối với Giáo hội Công giáo. Các nhà chức trách cáo buộc ông tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, và không có phiên tòa chính thức, ông đã bị xử bắn và bị kết án tử hình.

Những người chứng kiến mô tả một sự im lặng khó quên bao quanh khu vực hành quyết khi các binh sĩ chuẩn bị súng trường trong khi các nhiếp ảnh gia ghi lại khoảnh khắc đó cho công chúng. Khác với nhiều tù nhân bị kết án, Miguel Pro được cho là đã từ chối bịt mắt và thay vào đó đứng công khai trước đội hành quyết với sự bình tĩnh đáng kinh ngạc.

Ngay trước khi tiếng súng nổ ra, ông giơ tay lên trong tư thế giống như Chúa Kitô trên thập tự giá và thốt lên những lời :

“Viva Cristo Rey!”

Nghĩa là “Đức Kitô, Vua muôn năm!”

Những bức ảnh được chụp trong những khoảnh khắc cuối cùng nhanh chóng lan rộng khắp Mexico và xa hơn nữa, biến vị linh mục trẻ thành một biểu tượng mạnh mẽ của đức tin, sự kháng cự, và sự hy sinh trong một chương đầy bạo lực của lịch sử quốc gia.

Ngay cả sau hàng chục năm, hình ảnh Miguel Pro đứng trước đội xử bắn vẫn tiếp tục mang một sức nặng cảm xúc phi thường vì nó ghi lại một khoảnh khắc mà nỗi sợ hãi dường như hoàn toàn vắng bóng trước cái chết.

Đối với nhiều tín đồ, ông đã trở thành một vị tử đạo, lòng dũng cảm của ông đại diện cho niềm tin không lay chuyển trong thời kỳ bách hại và xung đột.

Những bức ảnh ám ảnh đã đóng băng lịch sử vào đúng thời điểm một người đàn ông đối mặt với những người lính vũ trang chỉ với niềm tin và quyết tâm bình tĩnh. Và khi bạn nhìn Miguel Pro đứng đó với đôi tay dang rộng trước khi súng trường nổ, điều đó đặt ra một câu hỏi sâu sắc…

“Niềm tin của một người phải mạnh mẽ đến mức nào để đối mặt với cái chết mà không phải cúi mắt vì sợ hãi?”

ST


 

Lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

 Anh Chi -Tâm Thức Việt 

 Vài giờ trước khi bị xử tử, một mình trong buồng giam…

Người ta hỏi anh ta: “Điều ước cuối cùng của anh là gì?”

Anh xin một cây bút, một tờ giấy.

Anh lặng lẽ viết vài phút, rồi trao lá thư cho cai ngục, nhắn gửi cho mẹ.

Trong thư viết:

“Mẹ à, Con nghĩ, nếu thế giới này thật sự có công bằng, thì hôm nay không chỉ mình con bị hành quyết… mà cả mẹ nữa.

Mẹ cũng có tội — nhiều như con — trong cuộc đời hư hỏng mà con đã sống.

Mẹ còn nhớ ngày con ăn trộm chiếc xe đạp của một đứa trẻ khác không?

Mẹ không la mắng, ngược lại còn giúp con giấu nó.

Rồi cái lần con lấy tiền trong ví của hàng xóm…

Mẹ cùng con đi mua sắm ở trung tâm thương mại.

Và mẹ cũng chẳng nói một lời nào rằng điều đó là sai.

Khi thầy giáo đuổi con vì hỗn láo, vì nghỉ học quá nhiều…

Mẹ không hề trách con.

Mẹ đến trường để quát mắng thầy giáo, mà chẳng hề hỏi con một câu,

trong khi con rõ ràng là người sai.

Mẹ còn nhớ những đêm con về muộn, những ngày bỏ học triền miên?

Chưa bao giờ mẹ hỏi tại sao.

Chưa bao giờ mẹ tìm cách kéo con lại đúng đường.

Con chỉ là một đứa trẻ, rồi một thằng thiếu niên…

Và giờ đây, là một gã đàn ông hỏng nát.

Sau khi cha mất, con cần một bàn tay cứng rắn, một ánh mắt dẫn dắt.

Nhưng mẹ đã cho con sự nuông chiều mù quáng.

Con là đứa con cưng của mẹ, nhưng tình thương ấy đã làm con lạc lối.

Mẹ luôn ở đó…

Trong từng lỗi lầm con mắc phải.

Nhưng mẹ chưa bao giờ ở đó để chỉ con thấy con đường đúng.

Con tha thứ cho mẹ.

Nhưng con van xin mẹ hãy gửi lời này đến tất cả những bậc cha mẹ khác:

Họ đang nắm trong tay trách nhiệm — hoặc nuôi dưỡng nên một con người tử tế, hoặc biến thành một kẻ tội phạm.

Cảm ơn mẹ đã cho con sự sống.

Và cũng cảm ơn… vì đã góp phần lấy đi sự sống ấy.

Con trai mẹ,

Kẻ tội phạm.”

TG Văn Chương


 

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

 My Lan Pham  

Mastah Preddi Và Món Nợ Ân Tình Suốt 70 Năm

Ông đã lang thang một mình suốt ba mươi mốt ngày trong khu rừng do quân Nhật kiểm soát sau khi máy bay bị bắn hạ. Đói khát. Mê sảng. Chỉ còn cách cái chết một bước chân.

Đến ngày thứ ba mươi hai, những giọng nói vang lên từ trong rừng cây.

Fred Hargesheimer khi ấy mới hai mươi bảy tuổi. Ông đang thực hiện một nhiệm vụ trinh sát trên Thái Bình Dương thì máy bay bị rơi xuống đảo New Britain. Suốt một tháng trời, ông lê bước trong rừng sâu, tin rằng bất kỳ âm thanh nào vang lên cũng có thể là điều cuối cùng mình nghe thấy.

Nhưng những giọng nói ấy không phải lính Nhật.

Đó là người Nakanai.

Và điều họ làm tiếp theo bất chấp nguy hiểm khủng khiếp đến tính mạng của chính họ là điều Fred dành bảy mươi năm còn lại của cuộc đời để cố gắng báo đáp.

Dân làng đưa ông về ngôi làng ven biển và bí mật che giấu ông. Quân Nhật treo thưởng cho bất kỳ phi công Đồng Minh nào bị bắt, đồng thời xử tử bất cứ ai dám chứa chấp họ. Người Nakanai hiểu rất rõ cái giá phải trả nếu bị phát hiện.

Nhưng họ vẫn cứu ông.

Fred khi ấy quá yếu để nuốt thức ăn rắn. Cơ thể ông gần như suy kiệt hoàn toàn. Rồi một người mẹ đang cho con bú tên Ida bước vào căn chòi nơi ông nằm và trong suốt mười ngày, bà đã dùng chính dòng sữa của mình để nuôi ông sống sót, trong khi vẫn tiếp tục cho đứa con nhỏ của mình bú.

Fred chưa bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi các toán lính Nhật tiến gần đến làng, sẽ có người thổi một chiếc vỏ ốc tù và giấu gần đó. Fred chỉ có vài giây để chạy trốn vào rừng. Và khi ông chạy trên cát với đôi giày nặng nề, những đứa trẻ trong làng lặng lẽ chạy theo phía sau tay cầm những chiếc chổi lá cọ nhỏ, quét sạch dấu chân ông trước khi lính Nhật xuất hiện.

Nếu chỉ một người trong số họ bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị thảm sát.

Nhưng không ai phản bội ông.

Lũ trẻ không phát âm được cái tên “Freddie”. Chúng gọi ông là “Mastah Preddi”. Ông Freddie. Fred sống cùng họ suốt bảy tháng.

Tháng Hai năm 1944, lực lượng biệt kích Úc đến được ngôi làng và gọi một tàu ngầm Mỹ tới đón. Trong một đêm không trăng, Fred chèo xuồng ra biển để gặp tàu ngầm, còn dân làng đứng lặng trên bờ nhìn theo. Có người kể rằng vài bà mẹ thậm chí còn muốn gửi con mình cho ông mang sang Mỹ hy vọng chúng sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn những gì chiến tranh để lại nơi đây.

Fred sống sót. Ông trở về bang Minnesota và xây dựng một cuộc đời bình thường.

Nhưng có một câu hỏi theo ông suốt quãng đời còn lại:

“Làm sao tôi có thể đền đáp họ đây?”

Năm 1960, mười sáu năm sau đêm chèo xuồng rời khỏi hòn đảo ấy, Fred quay trở lại New Britain một mình.

Khi con thuyền của ông tiến vào bờ biển, dân làng đứng thành hàng dưới ánh trăng.

Rồi họ bắt đầu hát bài tiếng Anh duy nhất mà họ biết:

“God Save the Queen.”

Fred bước xuống bãi cát và bật khóc.

Ông tìm gặp lại Ida. Ông gặp người con trai mà bà từng cho bú cùng lúc với việc cứu sống ông trong chiến tranh. Ông đi qua ngôi làng và nhìn thấy những đứa trẻ năm xưa từng quét dấu chân mình trên cát giờ đã trưởng thành, có con cái riêng.

Một nhà truyền giáo nói với ông rằng ngôi làng rất cần một ngôi trường.

Fred trở về Minnesota và bắt đầu gõ cửa từng nhà. Các nhóm nhà thờ. Hàng xóm. Những khoản quyên góp nhỏ được gom góp từ vô số cuộc trò chuyện. Đến năm 1963, ông quay lại New Britain và giúp xây dựng ngôi trường kiên cố đầu tiên cho ngôi làng.

Rồi ông tiếp tục quay lại. Hết lần này đến lần khác. Trường học. Thư viện. Một phòng khám y tế dần mọc lên tại chính ngôi làng từng che giấu một phi công Mỹ hấp hối ngay dưới mũi quân Nhật.

Cuối cùng, ông và vợ là Dorothy thậm chí rời nước Mỹ suốt bốn năm để sống hẳn ở đó dạy học cho trẻ em dưới chân núi lửa, cách quê hương họ hơn mười hai nghìn dặm.

Năm 2000, người Nakanai phong ông làm tù trưởng bộ tộc và trao cho ông danh hiệu “Suara Auru”.

“Chiến binh trưởng.”

Năm 2006, khi đã chín mươi tuổi, dân làng cõng ông băng qua rừng để ông có thể nhìn lại xác chiếc máy bay của mình lần cuối. Phần cánh gãy vẫn nằm dưới những tán cây nơi nó rơi xuống sáu mươi ba năm trước khoảnh khắc đã đưa một phi công trẻ hấp hối vào vòng tay của những con người chọn cứu ông, dù phải đánh đổi bằng chính mạng sống của họ.

Fred Hargesheimer qua đời năm 2010, hưởng thọ chín mươi bốn tuổi.

Những ngôi trường và phòng khám mà ông xây dựng vẫn hoạt động cho đến ngày nay. 


 

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm- Truyen ngan HAY

Nguyễn Hoàng Tuấn

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm

Có những câu chuyện không cần đến phép màu, bởi chính tình yêu đã là phép màu lớn nhất.

Mùa đông năm 1931, trên những cánh đồng khô cằn của Texas, người ta có thể bắt gặp một người phụ nữ trẻ gầy gò đang kéo theo một chiếc xe gỗ cũ kỹ. Trong xe là cô con gái sáu tuổi, quấn chặt trong những tấm chăn sờn cũ. Người mẹ ấy tên là Rosa Delgado. Cô mới 24 tuổi.

Bác sĩ đã nói với Rosa một sự thật tàn nhẫn: đứa bé bị nhiễm trùng xương nặng. Nếu không được phẫu thuật ở bệnh viện lớn tại San Antonio, con gái cô sẽ không còn sống được bao lâu nữa.

Khoảng cách giữa họ và hy vọng là gần 300 dặm.

Khoảng cách ấy ngày nay có thể được vượt qua bằng vài giờ lái xe. Nhưng với Rosa khi đó, nó là một hành trình gần như bất khả thi. Không xe hơi. Không tiền mua vé tàu. Không người thân để nhờ cậy.

Nhiều người sẽ gọi đó là ngõ cụt.

Nhưng tình mẫu tử không biết thế nào là ngõ cụt.

Rosa tự đóng một chiếc xe kéo bằng những tấm ván hàng rào cũ. Cô buộc một sợi dây vào phía trước, đặt con gái vào trong cùng vài chiếc chăn, một túi đậu khô, ít bánh tortilla và một chiếc cốc thiếc. Rồi cô bắt đầu bước đi.

Ngày thứ nhất.

Ngày thứ hai.

Ngày thứ mười.

Ngày thứ hai mươi.

Suốt 26 ngày liên tiếp, Rosa kéo chiếc xe từ lúc trời chưa sáng cho đến khi bóng tối phủ kín mặt đất. Gió lạnh cắt qua quần áo. Bão bụi quất vào mặt. Bàn tay cô rách toạc vì sợi dây thừng. Có những hôm máu thấm cả vào lòng bàn tay nhưng cô vẫn không dừng lại.

Bởi mỗi lần nghĩ đến việc nghỉ ngơi, cô lại nhớ rằng căn bệnh trong cơ thể Elena cũng không hề nghỉ ngơi.

Nó đang tiến dần về trái tim đứa trẻ.

Trên đường đi, lòng tốt của những con người xa lạ đôi khi xuất hiện như những đốm lửa nhỏ trong đêm tối. Một người nông dân cho nước uống. Một phụ nữ tặng ít sữa. Một công nhân đường sắt cho hai mẹ con trú gió trong nhà kho.

Nhưng phần lớn chặng đường, Rosa phải đối mặt với cô đơn, đói khát và nỗi sợ hãi.

Mỗi đêm, cô nằm co người bên cạnh chiếc xe kéo để chắn gió cho con. Nhiều lần giữa đêm, cô giật mình thức giấc chỉ để áp tai vào ngực Elena, kiểm tra xem con còn thở hay không.

Nỗi sợ lớn nhất của một người mẹ không phải là gian khổ.

Mà là mất con.

Đến ngày thứ hai mươi lăm, đôi giày của Rosa đã rách nát hoàn toàn. Cô phải quấn giẻ quanh chân để tiếp tục bước đi. Vai cô rớm máu vì dây kéo cọ xát liên tục. Elena sốt cao, mê man, lúc tỉnh lúc mê.

Nhưng Rosa vẫn bước.

Bởi phía trước còn có bệnh viện.

Và phía trước còn có cơ hội.

Ngày 4 tháng 12 năm 1931, sau gần 300 dặm đường, Rosa kéo chiếc xe qua cổng Bệnh viện Robert B. Green ở San Antonio rồi gục ngã xuống đất.

Các y tá chạy tới khi nghe tiếng gọi yếu ớt của Elena.

Ca phẫu thuật được thực hiện ngay trong ngày.

Sáng hôm sau, cơn sốt của cô bé đã giảm.

Elena mở mắt, xin một ngụm nước và nói với mẹ:

“Con thấy dễ thở hơn rồi.”

Có lẽ đó là câu nói đẹp nhất mà Rosa từng nghe trong đời.

Nhiều năm sau, Elena lớn lên, lập gia đình và có cuộc sống riêng. Bà vẫn đi hơi khập khiễng, như một dấu vết còn sót lại của cuộc chiến năm xưa.

Trong tang lễ của Rosa năm 1978, Elena nghẹn ngào nói:

“Mẹ tôi đã kéo tôi gần 300 dặm trên một chiếc xe gỗ. Mẹ không có gì ngoài một sợi dây thừng và quyết tâm rằng tôi phải được sống. Mỗi bước chân của mẹ là một bước chống lại tử thần. Tôi có mặt trên đời hôm nay vì mẹ đã không bao giờ dừng lại.”

Có những tượng đài được xây bằng đá.

Có những tượng đài được đúc bằng đồng.

Nhưng cũng có những tượng đài vô hình, được dựng nên từ những bàn tay chai sần, những bước chân rớm máu và tình yêu vô điều kiện của một người mẹ.

Chiếc xe gỗ năm ấy có thể đã cũ kỹ theo thời gian.

Nhưng câu chuyện về Rosa Delgado vẫn nhắc chúng ta nhớ rằng: sức mạnh lớn nhất trên thế giới không nằm ở cơ bắp, tiền bạc hay quyền lực. Sức mạnh lớn nhất là tình yêu của một người mẹ khi đứng giữa con mình và cái chết.

Sưu tầm.


 

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn 

Sau bao nhiêu ngày nghĩ tới, nghĩ lui bữa nay ăn cơm xong chị nhẹ nhàng mở lời với anh:

“Chỉ còn nửa tháng nữa là hết hợp đồng nhà, em tính nói với anh dạo này em không khỏe, mình trả nhà rồi ai về nhà nấy… “

Anh giãy nảy lên: “ Em nói thế mà nghe được à! thằng này có phải con nít đâu mà vui thì ở, buồn thì đi”

Chị đành phải tung chiêu cuối cùng:

“ Em bị viêm gan siêu vi C, giờ nếu ở chung lây sang cho anh thì nguy hiểm lắm”.

Anh hoảng hốt:

“Ờ vậy thì đường ai nấy đi, còn tiền cọc tính sao?”

Chị cười buồn: “ Mai em về nhà em, anh cứ ở cho hết tháng rồi làm việc với chủ nhà, tiền cọc (thật ra là tiền của chị) anh cứ lấy mà tiêu”

Anh : “ ừ” nhẹ tênh! Vậy là chấm hết một cuộc tình.

Chuyện là vầy:

Nửa năm trước chị gặp anh ở câu lạc bộ dưỡng sinh. Cùng cảnh góa bụa nên cả hai dễ dàng tìm được tiếng nói chung.Tuy đã 60 tuổi nhưng trông chị vẫn trắng trẻo, đầy đặn, phúc hậu.

Anh hơn chị 5 tuổi nhưng vì chăm tập thể thao nên nhìn anh rất phong độ, đẹp trai. So với ông chồng già đã khuất của chị thì anh hơn hẳn, vừa chiều chuộng, vừa ga lăng.

Muốn hoa có hoa, muốn thơ có thơ. Facebook, Zalo, Viber suốt ngày tưng bừng, rộn rã. Ánh mắt lấp lánh của chị như ngầm công bố cho mọi người biết về quan hệ mới của hai anh chị.

Các con của chị đều rất thương mẹ nên vui vẻ tán đồng. Mấy người con của anh đã có gia đình riêng cũng không phản đối. Vẫn là đứa con gái mà chị coi như bạn đề nghị:

“Mẹ với bác đi thuê căn hộ ở chừng vài tháng xem sao, nếu hợp thì tiến tới, thông báo với họ hàng hai bên, làm một cái lễ nho nhỏ mẹ à! còn nếu không hợp thì thôi, cũng đỡ mang tiếng”

Vậy là chị bàn với anh rồi cùng đi thuê căn hộ nho nhỏ.Tiền cọc một tháng, tiền nhà 3 tháng chị trả hết vì anh nói số tiết kiệm của anh chưa tới kì hạn.

Ngay bữa cơm chung đầu tiên chị đã ngỡ ngàng! Anh ngồi cắm cúi ăn hết món này đến món khác, miệng thì sai chị liên tục.

Bữa cơm có một tiếng mà chị đứng lên ngồi xuống không biết bao nhiêu lần, lúc thì lấy ớt, lúc thì thêm mì chính, món thì bỏ thêm một chút đường… Sau đó vừa nhìn chị dọn dẹp bát đĩa anh vừa xỉa răng tanh tách và nói

“Vợ anh ngày xưa nấu ăn ngon lắm, em cố gắng xem sách dạy nấu ăn đi, anh là ngày phải ăn đủ ba bữa tươm tất, món ăn lúc nào cũng phải nóng sốt, không ăn lại đồ cũ được đâu em”.

Chị chạnh lòng nhớ đến chồng mình. Vì lớn hơn chị nhiều tuổi nên anh rất nhường chị, chị nấu gì anh ăn nấy, đến bữa cơm anh toàn gắp cho chị những món mới còn anh lẳng lặng ăn lại đồ ăn cũ từ bữa trước.

Mấy chục năm chung sống chưa khi nào anh đòi hỏi chị bất cứ điều gì.

Ngày nối ngày chị bắt đầu nuối tiếc cuộc sống yên ả trước khi gặp anh. Sáng làm biếng gặm trái bắp rồi coi phim bộ, trưa chiều gọi ông đi qua bà đi lại tô hủ tiếu, đĩa xôi cũng xong.

Còn giờ đây mới mở mắt ra chị đã phải tất tả ra chợ lo mua đồ ăn cho đủ 3 bữa tươm tất như lời anh dặn. Về nhà hì hụi, lọ mọ dưới bếp cả buổi, đến bữa thì ngồi như học sinh chưa thuộc bài chờ anh kiểm tra, ban phát những lời khen tặn tiện.

Con anh 3 đứa cộng 6 đứa cháu nội ngoại thường xuyên ghé chơi xem chị chăm anh như thế nào. Mỗi lần tới trẻ con thì la hét, bầy bừa người lớn thì ăn nhậu tới khuya.

Khách về chị rửa bát, dọn dẹp còn anh ôm cây đàn guitar ra ban công ngồi gảy. Ngày mới quen nhau chị mê đắm tiếng đàn của anh, ngồi hàng giờ ngắm mái tóc bồng bềnh của anh buông xõa xuống trán.

Giờ đây chị mỏi mệt, hững hờ đấm cái lưng nhức nhối vì suốt ngày phải hầu con, trông cháu người ta. (Chồng cũ chị không biết đàn, biết hát nhưng trong nhà từ việc lớn đến việc bé anh cặm cụi làm, lo cho chị hết)

Mới hơn 2 tháng chị đã phải tới nhà anh nấu 3 cái đám giỗ, rửa cả một nhà chén bát. Mấy cô em gái anh không hề phụ chị một chút nào mà còn ngồi thi nhau kể anh ngày xưa đẹp trai như thế nào, tài giỏi ra sao, bao nhiêu người đẹp hơn hoa hậu theo đuổi mà anh lại chọn chị, phúc ba đời nhà chị đó nên chị cố gắng mà lo liệu cho tốt.

Thỉnh thoảng hai đứa con chị đảo qua xem mẹ có khỏe không thì anh đi tới, đi lui nhìn đồng hồ ngầm nhắc chị sắp đến giờ nấu cơm. Chị biết ý nói với con lần tới mẹ con gặp nhau ở nhà riêng của chị, giờ chị vẫn đang để không, tranh thủ mỗi lần đi chợ chị ghé về tưới cây, nhổ cỏ, thắp nén nhang cho chồng đỡ quạnh hiu.

Mới hơn 2 tháng mà tiền để dành của chị vơi đi quá nhiều.Trước lúc mất chồng chị đưa cho chị 2 quyển sổ tiết kiệm hơn 2 tỉ.

Tiền lãi hàng tháng, tiền các con biếu thêm chị sống rất thoải mái, thỉnh thoảng còn đi du lịch đó đây.

Từ ngày quen anh đến giờ mọi chi phí chị phải lo, ngoại trừ tháng đầu chung sống anh góp 5 triệu tiền cơm, anh luôn nói là chờ đến hạn rút tiết kiệm anh sẽ đưa cho chị. Tiền giỗ chạp, tiền đóng học cho cháu anh chị cũng phải bỏ ra.

Chị chán lắm rồi, chị nản lắm rồi. Ngày khổ một thì đêm khổ mười. Anh thì còn đang hừng hực mà chị nào huyết áp cao, nào tiểu đường chị chiều anh không nổi. Mới vài ngày trước đây sau khi gần gũi anh dài giọng đay nghiến

“Em lúc nào cũng nằm như khúc gỗ ấy, chả bằng một góc vợ anh”.

Rồi anh lăn ra ngáy, còn chị cả đêm ra ban công ngồi ôm mặt khóc. Đến sáng chị quyết định bằng mọi giá phải về nhà cũ thôi.

Anh chị chia tay rất nhẹ nhàng! Giờ mỗi lần nhớ lại chị coi quãng thời gian gần 3 tháng ấy như một giấc mơ, có điều giấc mơ dù đẹp, dù xấu thì cũng phải tỉnh thôi.

Bùi Mạnh Toàn 

 


 

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa-Truyen ngan HAY

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa

09/05/2026

Phương Hoa

TG Phương Hoa nhận giải Chung Kết TG-TP VVNM từ nhà thơ Du Tử Lê và  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân 

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải Chung Kết 2014, giải Trùng Quang 2018 và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Góp vào loạt bài đón mừng ngày Lễ Mẹ, tác giả kể lại một câu chuyện về tình mẹ con với kết thúc có hậu. 

***

 (Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi)

Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời.  Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than.  Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai.

Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt. Cô nào biết, sẽ có ngày mình phải hát khúc biệt ly trong khoảng cách giữa đại ngàn trùng điệp núi non và vực thẳm từ xứ sở văn minh.

Năm ấy, theo tiếng gọi của tình yêu và giấc mơ về một vùng trời tự do, Lũ cùng người yêu, Mịch, chàng thanh niên đẹp trai học thức, ngoan cường trong bản con của Già Làng khả kính, dấn thân vào cuộc vượt biên đầy bão táp để đi tìm tự do nơi đất nước Thái Lan. Họ theo một nhóm người đi bộ xuyên qua những cánh rừng già thâm u, nơi mà lân tinh của cái chết luôn rập rình trong từng lùm cây, ngọn cỏ. Đêm ở rừng biên giới lạnh thấu xương, tiếng thú dữ gầm vang hòa cùng tiếng bước chân đạp trên lá khô xào xạc, khiến kẻ lữ hành phải lạnh cả sống lưng. Đôi bàn chân Lũ rướm máu, đôi vai gầy run rẩy dưới những cơn mưa rừng xối xả, cô nắm chặt tay Mịch và bước theo anh, để mặc cho đám vắt đói bám vào người hút máu. 

Qua bao gian truân, trải nhiều khiếp hãi, cuối cùng nhóm người từ Bắc Việt Nam cũng đến được đất tự do. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã giáng một đòn chí mạng khi họ vừa chạm chân đến Thái Lan. Một tai nạn kinh hoàng trên cung đường tị nạn đã cướp đi sinh mạng của Mịch. Giữa lòng đất lạ, Lũ khuỵu xuống bên nấm mồ đất đỏ vừa đắp, tiếng gào khóc của cô tan loãng vào hư không. Người thanh niên duy nhất cô tin cậy đã vĩnh viễn nằm lại dưới tán rừng già, để lại một mình cô bơ vơ, tâm hồn vụn vỡ như mảnh gương tan.

Qua bao mùa xuân hạ vất vả khó khăn, bấy nhiêu lần nhìn trăng tròn rồi khuyết hồi họp đợi chờ, cuối cùng Lũ cũng đặt chân được đến Mỹ, định cư ở miền Bắc California. Với vốn tiếng Anh bằng không, Lũ như người mù đi trong ánh sáng. Cô chấp nhận làm công việc dọn dẹp lau chùi, do người nhà thờ giới thiệu, cho một gia đình giàu có gần bờ biển Berkeley.

Henry, người đàn ông Mỹ vừa ly dị vợ, mang vẻ ngoài lịch lãm nhưng ẩn chứa sự độc đoán. Sắc đẹp của bông hoa rừng núi đã lọt vào mắt xanh của người đàn ông này. Ông ta ép cô vào một mối quan hệ không hôn thú. Trong căn biệt thự lộng lẫy nhưng lạnh lẽo ấy, Lũ sống như một cái bóng, nhẫn nhục và câm lặng vì sự ngăn cách ngôn ngữ.

Hằng đêm, Lũ phải cắn răng chịu tủi nhục, bị hành hạ dục tình. Vì tuổi lớn ông ta luôn cần thuốc trợ lực nên việc ấy rất dẻo dai. Và Lũ bị bắt buộc đáp ứng, tuân theo những trò làm tình đầy quái đản không phải của con người, nếu không sẽ bị đánh đập. Cô luôn đuối sức gần như ngất đi sau mỗi cuộc truy hoan, nên thân thể cô ngày càng héo úa. Cộng với sự nhớ thương về Mịch, nhiều lần Lũ nghĩ quẩn, muốn bỏ cuộc đời.

Nhưng sau đó bé Kathy chào đời. Đứa trẻ là ánh sáng duy nhất, là sợi dây mỏng manh níu giữ cô với cuộc đời đầy ảm đạm. Một lần, nhân dịp đưa con đi dạo ngoài shopping mall, Lũ ghé vào một tiệm vàng người Việt. Với số tiền chắt chiu từ những giờ làm lụng vất vả, cô đặt làm hai sợi dây chuyền vàng 14 cara, mặt hình trái tim giống hệt nhau. Trên mặt mỗi trái tim ấy là dòng chữ khắc rất đẹp: “Kathy – Lũ”.

“Mẹ đeo một sợi, con đeo một sợi. Sau này dù có lạc mất nhau, nhìn thấy trái tim này, con sẽ biết mẹ vẫn luôn ở bên con”. Lũ thì thầm vào tai bé, dù nó chẳng hiểu một chữ tiếng Việt.

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, vì bi kịch xảy ra. Khi Kathy lên sáu, Henry chán chường vì sự im lặng chịu đựng và ngày càng tàn tạ của Lũ.  Ông ta đưa một người đàn bà Mỹ về nhà và nhẫn tâm đuổi cô ra khỏi cửa.  Cay đắng hơn, ông dùng quyền lực và tiền bạc để tước đoạt quyền nuôi con, dứt bé Kathy ra khỏi vòng tay mẹ.

Vì không biết tiếng Anh, Lũ không thể kêu cứu, không thể ra tòa. Cô chỉ biết hằng ngày sau khi đi làm về lại đến rình rập bên hàng rào sắt, với đôi mắt đỏ hoe nhìn qua khe lá để được thấy bóng dáng con thơ đang chạy nhảy hoặc ngồi xích đu trong sân.

Một chiều hoàng hôn tím ngắt, khi Lũ đang cố với tay gọi tên con qua kẽ hở, Henry bất ngờ lao ra. Trên tay ông ta là khẩu súng đen ngòm, họng súng lạnh lùng dí thẳng vào trán cô.

“Cút đi, hoặc tôi sẽ bắn nát đầu cô!”  Tiếng thét của ông ta vang lên như sấm sét. “Từ bây giờ, nếu gặp cô ở đây lần nữa là tôi sẽ bắn!”

Lũ hoảng loạn bỏ chạy rớt cả dép, đôi chân trần đạp trên sỏi đá bên đường chảy máu, trái tim cô như bị xé toạc khi tiếng khóc xé lòng của Kathy vọng lại phía sau:

“Mommy! Mommy! Don’t go! I want mommy!” Mẹ ơi! Mẹ ơi! Đừng đi! Con muốn mẹ!

Dù trong sự sợ hãi tột cùng và nỗi nhớ thương con đến cháy cả tâm can, Lũ cũng quyết định rời bỏ California, trốn chạy sang Arizona theo lời khuyên của một người bạn mới quen vừa từ Cali dọn qua đó, để bảo toàn mạng sống, ôm theo lời thề sẽ có ngày trở lại tìm con.

Tại Arizona, Lũ tìm việc làm rồi lao vào học như một kẻ điên. Đêm về, cô thức trắng với những cuốn từ điển dày cộm, nước mắt rơi nhòe cả những trang sách y khoa.  Cô hiểu rằng, chỉ có tri thức và việc làm ổn định trong xã hội mới giúp cô cơ hội tìm lại con gái.

Mười bảy năm ròng rã, Lũ từ người đàn bà không biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi đã trở thành một LVN (Y Tá Điều Dưỡng) làm việc tận tụy trong bệnh viện. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, hình bóng bé Kathy với sợi dây chuyền hình trái tim vẫn là một vết thương chưa bao giờ khép miệng. Mỗi khi thấy những người mẹ bế con trong bệnh viện, lòng cô lại quặn thắt.  

Cuối cùng, Lũ xin được việc làm tại bệnh viện Summit Medical Center Bắc Cali, và dọn về thành phố cũ, chấp nhận đối mặt với quá khứ đau thương để tìm lại máu mủ của mình. Lần mò đến nhà xưa, Lũ theo dõi nhiều ngày không thấy bóng dáng người chồng cũ độc ác ra vào, mà chủ nhân là những người lạ mặt. Thì ra ông ta đã đổi chỗ dời nhà, lòng cô đau như cắt, không biết tìm con nơi nào. Từ đó Lũ làm việc và sống vất vưởng như kẻ không hồn. 

Ba năm sau, trong một đêm trực khuya tại bệnh viện, sau nhiều ngày làm việc quá sức và nỗi nhớ con bào mòn sức lực, khi ra về Lũ ngất xỉu ngay tại hành lang. Khi tỉnh lại, ánh đèn trắng của phòng cấp cứu làm Lũ chói mắt nên vội nhắm lại ngay. Một bàn tay ấm áp đang nắm chặt lấy tay cô, và một giọng Mỹ run run cất lên:

“Bà ơi… bà tỉnh rồi sao?”

Lũ lờ mờ hé mắt và thấy một cô gái Mỹ trẻ tuổi, tóc vàng xinh đẹp trong chiếc áo blouse trắng tinh khôi đang ngồi nhìn cô với ánh mắt kinh ngạc đến khó tả, đôi môi thì run rẩy. Một người nam y tá trẻ bước vào hỏi: “Bác sĩ, nhịp tim bệnh nhân đã…”

Chưa nói hết câu, anh ta bỗng khựng lại, nhìn vào mặt người bác sĩ và kêu lên: “Chuyện gì đang xảy ra vậy, bác sĩ?

Lũ lật đật ngồi hẳn dậy, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên, nhìn chăm chăm vào người bác sĩ ngồi bên cạnh giường, tay còn đang nắm chặt tay cô. Trên khuôn mặt vô cùng xinh đẹp ấy có những giọt nước mắt đang lăn xuống, lấp lánh dưới ánh đèn. Lũ vội nhìn lên bảng tên trên áo vị bác sĩ: “Kathy Williams M.D. – Attending Physician”

 Lũ há hốc miệng, mắt trợn tròn, người run lẩy bẩy vội chỉ tay vào cái bảng tên, lắp bắp: “Ka…thy! Cô… là…Kathy?”

“Yes! Mẹ… ơi! Con là Kathy đây!” Kathy nói trong nghẹn ngào, xong thò tay vào trong cổ áo, lôi ra sợi dây chuyền mặt trái tim có khắc chữ, “Kathy – Lũ” và nói tiếp.  “Con nhận ra nó trên cổ mẹ khi kích tim làm cấp cứu cho mẹ. Con rất nhớ mẹ nên giữ kỹ sợi dây chuyền này đến tận bây giờ, vì con tin mẹ sẽ quay về tìm con… Con vẫn còn nhớ như in ngày bố chỉa súng đuổi mẹ đi.”

Lũ sững sờ không thốt nên lời. Cô ôm chầm lấy con gái, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa giữa phòng cấp cứu yên tĩnh. Hai mảnh ghép của trái tim sau gần hai thập niên xa cách đã khớp lại hoàn hảo. Bác sĩ Kathy cũng bật khóc lớn trước sự ngỡ ngàng của người y tá, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lên bàn tay gầy guộc của Lũ. Cô hít một hơi dài. Mùi hương tóc con, hơi ấm của con, những thứ Lũ đã hằng đêm mơ thấy suốt hai chục năm qua, giờ đây đà hiện hữu. Nỗi đau của rừng thiêng bão tố, họng súng lạnh lùng của Henry, sự thương nhớ Kathy, và những đêm trắng học hành vất vả… tất cả đều tan biến trong khoảnh khắc này.

Dưới ánh đèn neon sáng rực, hai trái tim yêu thương – mẹ hiền và con gái – đã chạm vào nhau, lấp lánh một tình yêu bất diệt. Lũ hiểu rằng, sau bao “trận lũ” của cuộc đời, cuối cùng cô cũng đã tìm thấy bến đỗ bình yên nhất: Đó chính là vòng tay của con gái Kathy…

 Phương Hoa


 

YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Con Tin Chúa Ơi

YÊU THẬT LÒNG, NHƯNG ANH VẪN ĐỂ NGƯỜI MÌNH YÊU THUỘC TRỌN VỀ CHÚA

Sr. Jovy Cendana, một nữ tu thuộc Dòng Truyền giáo Chúa Thánh Thần, đã bước vào đời sống thánh hiến cách đây 38 năm. Trước đó, chị từng là một cô gái trẻ có công việc, có người yêu và có một tình yêu rất đẹp. Nhưng ngay giữa mối tình ấy, chị lại cảm nhận được tiếng Chúa mời gọi bước vào đời sống thánh hiến.

Khi chị chia sẻ điều đó với người yêu, anh không trách móc, cũng không níu kéo. Anh cho chị thời gian phân định, thậm chí còn đưa chị đến tu viện và xách hành lý giúp chị. Trước lúc chia tay, anh hứa sẽ chờ chị một năm.

Đúng một năm sau, anh đến thăm chị tại nhà tập và hỏi quyết định cuối cùng. Nhìn thấy chị bình an trong đời tu, anh nói: “Anh biết em hạnh phúc ở nơi này. Em hãy ở lại. Ở đây tốt hơn là đi một nơi nào khác. Anh sẽ không làm phiền em nữa. Nhưng nếu một ngày em rời tu viện, anh vẫn ở đây chờ em. Anh yêu em rất nhiều.”

Từ ngày ấy, họ không gặp lại nhau nữa. Sau khi chị khấn trọn đời trong ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, anh cũng lập gia đình và gửi lời chúc mừng chị qua một người bạn chung.

Gần bốn thập kỷ trôi qua, Sr. Jovy vẫn cầu nguyện cho anh và tạ ơn Chúa vì sự cao thượng của anh. Chị nhận ra tình yêu chân thật nơi anh không nằm ở việc giữ chị cho riêng mình, mà là sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng để chị được tự do đáp lại tiếng Chúa.

Câu chuyện ấy nhắc chúng ta rằng: tình yêu thật không chiếm hữu, nhưng biết dẫn người mình yêu đến gần Thiên Chúa hơn. Và với những ai được mời gọi sống đời thánh hiến, đó không phải là vì họ khước từ tình yêu con người, nhưng vì họ được mời bước vào một tình yêu lớn hơn — tình yêu dành trọn cho Chúa và Hội Thánh.


 

Nữ tu ấy đã 110 tuổi khi thế giới một lần nữa nhắc đến bí mật của bà. Cecylia Roszak.

 My Lan Pham 

 Nữ tu ấy đã 110 tuổi khi thế giới một lần nữa nhắc đến bí mật của bà.

Cecylia Roszak.

Một nữ tu dòng Đa Minh người Ba Lan đã sống gần như cả cuộc đời trong tu viện. Bà chơi đàn organ trong các buổi lễ. Hát trong ca đoàn. Và bước vào đời sống tu hành từ năm 21 tuổi.

Nhưng gần như không ai biết bà đã làm gì vào năm 1941.

Khi đó bà 33 tuổi. Bà sống cùng các nữ tu khác trong một tu viện Đa Minh nhỏ gần Vilnius, một trong những trung tâm văn hóa Do Thái lớn nhất Đông Âu thời bấy giờ.

Tu viện nhỏ bé.

Yên tĩnh.

Tách biệt khỏi thế giới.

Các nữ tu cầu nguyện, lao động và sống sau những bức tường kín.

Rồi quân Đức kéo đến.

Tháng 6 năm 1941, lực lượng Đức Quốc xã chiếm đóng Vilnius. Không lâu sau, các cuộc thảm sát bắt đầu. Tại Ponary, một khu rừng gần thành phố, hàng chục nghìn người Do Thái đã bị giết trong thời kỳ Holocaust.

Những người sống sót bị nhốt vào khu Do Thái Vilnius.

Trong số đó có Abba Kovner, một nhà thơ và nhà hoạt động trẻ người Do Thái, người sớm nhận ra một điều khủng khiếp mà nhiều người khác chưa hiểu: đây không còn là bạo lực riêng lẻ nữa.

Đây là sự hủy diệt có hệ thống.

Họ cần phải kháng cự.

Nhưng trước tiên, họ cần một nơi để ẩn náu, suy nghĩ, viết lách và tổ chức.

Kovner cùng những thanh niên Do Thái khác đã tìm đến tu viện Đa Minh ấy.

Bề trên của tu viện là Anna Borkowska, còn được gọi là Mẹ Bertranda.

Bà đã mở cửa.

Đó mới là điều phi thường.

Các nữ tu sống kín thường không tiếp khách.

Họ không giao tiếp với thế giới bên ngoài.

Và chắc chắn không được chuẩn bị để che giấu những người Do Thái đang chạy trốn dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã.

Nhưng họ vẫn làm.

Họ không yêu cầu những người Do Thái phải cải đạo.

Không bắt họ tham dự thánh lễ.

Không yêu cầu họ từ bỏ con người thật của mình.

Họ cho họ nơi trú ẩn.

Thức ăn.

Không gian.

Và sự im lặng an toàn.

Trong nhiều tháng, chín nữ tu Công giáo Ba Lan và mười bảy thanh niên Do Thái đã sống dưới cùng một mái nhà. Những người chạy trốn phụ giúp công việc trong tu viện. Các nữ tu chia sẻ chút ít lương thực ít ỏi của mình. Và bên trong những bức tường vốn chỉ vang lên lời cầu nguyện ấy, một phong trào kháng chiến dần được hình thành.

Sơ Cecylia là một phần của cộng đồng đó.

Một người phụ nữ kín đáo.

Một nữ tu sống âm thầm.

Một trong những con người mà lịch sử thường bỏ quên vì họ không bao giờ tìm kiếm ánh đèn sân khấu.

Nhưng bà đã ở đó.

Giúp đỡ.

Che chở.

Giữ những bí mật có thể khiến mình mất mạng.

Chính trong tu viện ấy, Abba Kovner đã viết lời kêu gọi đi vào lịch sử của phong trào kháng chiến Do Thái. Ông cảnh báo thanh niên Do Thái rằng đừng tin vào những lời lừa dối, rằng Hitler đang tìm cách tiêu diệt người Do Thái ở châu Âu.

Những lời ấy trở nên nổi tiếng:

“Đừng bước vào lò sát sinh như những con cừu.”

Bản tuyên ngôn được bí mật đưa ra khỏi tu viện rồi lan tới khu Do Thái Vilnius. Sau đó nó tiếp tục lan rộng tới nhiều nơi khác. Đây là một trong những lời cảnh báo rõ ràng đầu tiên rằng Đức Quốc xã đang tiến hành một cuộc hủy diệt có hệ thống, và nó trở thành văn bản nền tảng cho phong trào kháng chiến vũ trang của người Do Thái.

Các nữ tu không chỉ cho họ chỗ trú.

Họ còn giúp sự thật được đưa ra thế giới.

Năm 1943, Gestapo bắt giữ Mẹ Bertranda. Tu viện bị đóng cửa và các nữ tu bị phân tán.

Sơ Cecylia trở về Kraków.

Bà quay lại với đời sống cầu nguyện.

Quay lại với cây đàn organ.

Quay lại với sự im lặng.

Mẹ Bertranda sống sót. Abba Kovner cũng sống sót. Sau chiến tranh, ông di cư đến Israel, tham gia chiến đấu, tiếp tục viết và trở thành một nhân vật quan trọng của văn học Hebrew hiện đại.

Nhưng ông chưa bao giờ quên những nữ tu ấy.

Năm 1984, Yad Vashem đã công nhận Anna Borkowska, Cecylia Roszak và các nữ tu khác trong tu viện là “Những người công chính giữa các dân tộc”.

Kovner đã đến để vinh danh người phụ nữ từng mở cửa cho mình nhiều thập kỷ trước.

Ông gọi bà là “mẹ”.

Không phải vì máu mủ.

Không phải vì tôn giáo.

Mà vì bà đã cho ông nơi trú ẩn.

Sơ Cecylia tiếp tục sống thêm nhiều năm nữa. Bà bước sang tuổi 100. Rồi 105. Rồi 110. Bà trở thành một trong những nữ tu cao tuổi nhất thế giới.

Bà hiếm khi nhắc đến những gì đã xảy ra.

Không biến lòng dũng cảm của mình thành màn trình diễn.

Không biến quá khứ thành huy chương cá nhân.

Bà sống như cách mình vẫn luôn sống: cầu nguyện, âm thầm và phụng sự.

Bà qua đời ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại Kraków.

Hưởng thọ 110 tuổi.

Trong tang lễ của bà, có một vòng hoa lớn được gửi đến từ một người phụ nữ tên Wanda, một cô bé Do Thái mà sơ Cecylia từng giúp đỡ sau khi cha mẹ cô bị sát hại.

Đó chính là di sản của bà.

Không chỉ là những cái tên trong hồ sơ.

Không chỉ là những danh hiệu.

Mà là những cuộc đời tiếp tục được tồn tại.

Những đứa con.

Những đứa cháu.

Những gia đình nguyên vẹn tồn tại được vì trong thời khắc tăm tối nhất, có những người phụ nữ đã mở một cánh cửa.

Chín nữ tu dòng Đa Minh đã đưa ra một quyết định vào năm 1941.

Họ không ngoảnh mặt làm ngơ.

Không hỏi liệu điều đó có an toàn hay không.

Không xem đức tin như một ý niệm dễ chịu.

Họ sống đức tin ấy bằng cách trở thành nơi trú ẩn cho người khác.

Và trong những căn phòng nơi họ từng cầu nguyện, một nhà thơ đã viết nên những lời vang vọng khắp các khu Do Thái ở châu Âu:

“Đừng bước vào lò sát sinh như những con cừu.”

Chín nữ tu.

Mười bảy người chạy trốn.

Một cánh cửa mở ra.

Và một sự thật đã góp phần thắp lên ngọn lửa kháng chiến. 


 

Mất tích – Nguyễn Thị Thanh Dương-

Nguyễn Thị Thanh Dương

Chuyện xóm tôi 30 tháng tư 1975.

Sau ngày 30 tháng tư 1975 bao nhiêu gia đình gặp cảnh tang thương mất mát. Thành phố đã ngừng tiếng súng, cộng quân đã quản trị thủ đô Sài Gòn.

Người ta lần lượt sớm muộn trở về với gia đình, dù là tấm thân tàn nhiều thương tích, dù lòng còn hằn nỗi đau của người bại trận sau cuộc chiến tranh dài.

Nhưng xóm tôi có bốn người mất tích mà vẫn chưa thấy trở về và cũng chẳng nghe tin tức gì từ họ.

Chồng chị Kim Oanh là lính đóng ở Tây Ninh. Anh không về nhà cha mẹ ruột cũng chưa về với vợ con. Không biết giờ này anh đang ở đâu?

Chị Kim Oanh và hai đứa con nhỏ ngày đêm trông ngóng tin anh.

Chị Hương cũng như chị Kim Oanh, có một con nhỏ và bụng thì đang mang bầu vài tháng. Chồng chị là đại úy đóng quân ngay Long An, chẳng xa Sài Gòn là bao. Chẳng lẽ anh không kịp chạy về với vợ con trong lúc dầu sôi lửa bỏng?

Người thân và hàng xóm của hai chị không ai dám nghĩ tới những xác chết vô thừa nhận, có xác được đắp chiếu, có xác nằm sấp nằm ngửa đầy máu me chẳng rõ mặt mày bên những đống rác, những quân dụng, vật dụng bị đốt cháy ngùn ngụt hay đã cháy xong còn lại một đống tro tàn lửa bỏng ở khắp các tỉnh lộ, ở ngoài đường phố Sài Gòn của những ngày tàn cuộc chiến.

Họ đều lạc quan an ủi và cầu mong rằng biết đâu anh ấy đang lẩn trốn đâu đó chưa dám ra trình diện chính quyền hoặc may mắn hơn đã di tản đi Mỹ..

Bảo Huân

Trường hợp thứ ba là nhà chị Yên. Thằng Bảo con trai lên 7 và Ngọc đứa con gái lên 5, chẳng liên quan gì đến lính tráng mà cũng biệt tăm biệt tích.

Ngày 29 tháng tư chị Yên dẫn hai con đến nhà cậu Dũng, người em ruột ở Sài Gòn gần bến Bạch Đằng để bàn tính cùng họ tìm cách xuống tàu chạy trốn khỏi Sài Gòn đang mất vào tay Việt Cộng.

Khi đã quyết định chị Yên để hai con ở lại, vội vã về nhà đợi chồng sẽ từ trại lính trở về cùng sửa soạn hành lý cần thiết tối thiểu để mang theo cuộc hành trình.

Khi vợ chồng chị Yên quay lại nhà Dũng thì cả nhà mới tá hỏa hai đứa con chị Yên đã đi đâu mất rồi, tìm hoài không thấy. Chúng đi chơi đâu đó hay đợi bố mẹ lâu nên sốt ruột ra ngoài đi tìm chăng?

Cả hai gia đình lo lắng tìm con tìm cháu không thấy, chẳng còn tâm trí nào mà ra bến Bạch Đằng mong được lên tàu như dự tính nữa.

Vợ chồng chị Yên đau khổ bao nhiêu thì vợ chồng cậu Dũng cũng khổ đau bấy nhiêu, thêm lòng dày vò ân hận vì không trông nom để thất lạc hai cháu nhỏ trong thời điểm nhà tan cửa nát này.

Sau ngày 30 tháng tư, có người hàng xóm quả quyết với vợ chồng chị Yên là họ thấy thằng Bảo và con Ngọc ở bến tàu Sài Gòn, họ cũng tìm cách chen lấn đám đông để lên tàu nhưng không được.

Một năm trôi qua, chị Kim Oanh vẫn không nghe tin tức của chồng nên chị làm bàn thờ chồng, lấy ngày 30 tháng Tư làm ngày giỗ.

Chị Yên cũng định lập bàn thờ hai con cho có hương khói ấm lòng nếu chúng đã vong mạng trong cái ngày 30 tháng Tư định mệnh đó. Nhưng anh Yên, không biết để an ủi tinh thần vợ hay anh vẫn lạc quan thật sự, anh nói rằng cứ chờ đợi và biết đâu sẽ có ngày tìm được tung tích hai con.

Chị Hương tuy vẫn không có tin tức chính thức của chồng, nhưng chị nghe loáng thoáng từ mấy người lính của chồng chị, kẻ thì nói rằng vẫn gặp anh những ngày cuối tháng Tư, người thì nói anh đã lên tàu ra khơi.

Những tin tức mong manh đó đã là sự thật. Một hôm chị Hương nhận được thư chồng từ…trại tù cải tạo, chị mới vỡ lẽ ra chồng đã rời Việt Nam đến đảo Guam và trở về trên chuyến tàu Việt Nam Thương Tín. Hiện tất cả đang bị giam cầm chứ không được trở về ngay với gia đình như họ đã lầm tưởng đã mong muốn khi quyết định hồi hương.

Thời buổi bao cấp nghèo đói một nách hai con thơ lại phải lo cho người chồng đang tù tội chị Hương đã không thể gồng gánh lâu dài nổi. Chị trách chồng đã đến được bến bờ tự do mà còn đâm đầu quay trở về Việt Nam để khổ cho chính bản thân mình và khổ cho cả vợ con. Cha mẹ chồng đều qua đời chỉ còn anh chị em mỗi người một phận dù có thương anh cũng chẳng ai giúp được gì.

Hai năm sau chị Hương bán nhà. Hàng xóm bàn tán là chị Hương lấy chồng cán bộ, chị dọn đi nơi khác để tránh những dèm pha dị nghị của hàng xóm. Có người còn ác miệng kể chi tiết hơn là chị đã gởi trả hai đứa con về bên nội để tự do vui duyên mới?

Năm năm sau chồng chị Hương ra tù và có về xóm cũ, căn nhà cũ đổi chủ. Anh sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trẻ đẹp trai oai hùng ngày nào mà chỉ sau mấy năm tù tội cộng sản đã biến hình tiều tụy già nua. Không gặp vợ con, anh quay về làng quê, không biết những người thân của anh còn có ai, hai con của anh có ở với họ hàng bên nội hay đang ở với mẹ nơi nào? hàng xóm ai cũng cảm thương và tò mò thắc mắc nhưng không ai biết được câu trả lời.

******************

Gia đình cậu Dũng đi Mỹ theo diện HO tháng Hai năm 1992.

Mười bảy năm trôi qua, cả gia đình chị Yên và gia đình cậu Dũng luôn mang nặng nỗi đau đớn trong lòng nhưng họ vẫn hằng mong có dịp tìm ra tung tích hai đứa trẻ thất lạc dù mong manh như mò kim đáy biển. Ở Việt Nam không có tin tức gì của chúng thì biết đâu sang Mỹ sẽ tìm ra manh mối.

Chị Yên gởi Dũng một túi hồ sơ gồm giấy tờ khai sinh và hình ảnh mới nhất so với thời điểm 1975 của thằng Bảo, con Ngọc để sang đến Mỹ cậu Dũng sẽ đăng tin tìm hai cháu.

Sau hai năm nhờ các cơ quan, hội hồng thập tự tại Mỹ tìm kiếm không thành công cậu Dũng đành báo tin cho anh chị. Tình trạng lại trở về như thuở ban đầu, chẳng biết chúng sống chết nơi đâu?

Thế là 3 gia đình có người thân “mất tích” hôm 30 tháng Tư năm 1975 ở xóm tôi đều đã có những đoạn kết buồn.

Gia đình chị Yên vẫn tiếp tục cố nuôi ngọn lửa hy vọng mỏi mòn suốt mấy chục năm qua hai đứa con còn sống đâu đó trên cõi đời này nhưng họ vẫn thắp nhang cho chúng vào mỗi năm 30- tháng Tư.

Gia đình chị Kim Oanh, chồng chị mãi mãi không một nấm mồ. Nhưng hình ảnh anh trên bàn thờ vẫn hương khói khi tháng Tư về

Gia đình chị Hương. Người chồng đã vì thương nhớ vợ con mà dại dột từ phương trời tự do quay trở về Việt Nam vừa rơi vào tay cộng sản, chưa gặp vợ, chưa nói với vợ lời vui mừng tao ngộ đã vào vòng tù tội. Gia đình tan nát, tình nghĩa vợ chồng bạc bẽo chia lìa. Bao nhiêu năm qua, vợ chồng con cái họ có dịp nào gặp lại nhau chưa?

NTTD