Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm…

Tony Nguyễn

“Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm. Rồi bà ấy bước vào ngân hàng và tặng đi 150,000 đô la.”

No photo description available.

Nếu bạn thấy Oseola McCarty đi bộ qua Hattiesburg, Mississippi, bạn sẽ thấy những gì mọi người khác đều thấy: một người phụ nữ da đen nhỏ bé, lớn tuổi, đi đôi giày cũ và mặc chiếc váy đơn giản, đẩy chiếc xe đẩy hàng về ngôi nhà gỗ không sơn của mình. Bạn sẽ không bao giờ đoán được khối tài sản mà bà ấy đang sở hữu – hoặc sự hy sinh mà bà ấy sắp thực hiện.

Tuổi thơ của Oseola kết thúc năm mười một tuổi. Đó là những năm 1920 ở miền Nam nước Mỹ, và dì của bà bị ốm nặng. Ai đó phải chăm sóc bà ấy. Việc học của bà dừng lại ở lớp sáu. Giấc mơ trở thành y tá của bà tan biến trước khi kịp bén rễ.

Điều không dừng lại là công việc.

Trong bảy mươi lăm năm tiếp theo, Oseola chỉ làm một việc: giặt quần áo cho người khác. Không phải ở tiệm giặt là. Mà là ở sân sau nhà, cúi người trên tấm ván giặt, nhúng tay trần vào nước sôi. Áo sơ mi. Váy. Ga trải giường. Bà ấy tính tiền vài xu mỗi món. Từ lúc mặt trời mọc cho đến khi ánh sáng tắt dần. Mỗi ngày.

Các sinh viên đại học đi ngang qua cửa sổ nhà bà trên đường đến Đại học Southern Mississippi, sách vở kẹp dưới cánh tay, tương lai rộng mở. Bà nhìn họ qua khung cửa kính và tự hỏi cảm giác ngồi trong lớp học là như thế nào. Lật từng trang sách và hiểu những con chữ. Bước lên sân khấu với mũ và áo tốt nghiệp.

Nhưng Oseola không bao giờ than phiền. Bà làm việc. Và bà tiết kiệm.

Không có ô tô. Không có tivi màu. Không có kỳ nghỉ. Bà chưa bao giờ đi máy bay hay ngủ ở khách sạn. Bà sống một cuộc sống giản dị đến kinh ngạc, bỏ từng đồng xu tiết kiệm vào các tài khoản tiết kiệm rải rác ở các ngân hàng địa phương. “Tôi không tiêu tiền,” bà nói một cách thẳng thắn. “Tôi tiết kiệm.”

Năm 1995, ở tuổi tám mươi bảy, bàn tay của Oseola bị biến dạng do viêm khớp. Hàng chục năm giặt giũ trong nước nóng đã phá hủy các khớp xương của bà. Bà không thể làm việc được nữa. Thời gian của bà không còn nhiều.

Bà bước vào ngân hàng và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Tôi có bao nhiêu tiền?”

Khi nhân viên ngân hàng tổng kết các tài khoản của bà, con số khiến cả hai người đều kinh ngạc: 280,000 đô la.

Oseola có thể đã mua được ngôi nhà mơ ước của mình. Bà ấy lẽ ra có thể đi khắp thế giới. Bà ấy lẽ ra có thể sống những năm cuối đời trong sự thoải mái mà bà chưa từng được biết đến.

Thay vào đó, bà nghĩ về những sinh viên đại học đó. Những người có ánh mắt tràn đầy hy vọng. Nền giáo dục đã bị tước đoạt khỏi bà. Những cơ hội mà bà đã bị từ chối chỉ vì bà nghèo và là người da đen ở miền Nam nước Mỹ thời kỳ Jim Crow.

Bà đã đưa ra quyết định với sự rõ ràng tuyệt đối. Bà dành một phần nhỏ cho nhà thờ của mình. Bà chỉ giữ lại đủ để trang trải các hóa đơn. Sau đó, bà quyên góp 150,000 đô la cho Đại học Southern Mississippi—một trường đại học thậm chí còn không cho phép sinh viên da đen nhập học cho đến những năm 1960—để tạo ra học bổng cho sinh viên người Mỹ gốc Phi không đủ khả năng chi trả học phí đại học.

Khi các phóng viên hỏi lý do, bà trả lời với sự giản dị đầy xúc động: “Tôi muốn các con có được nền giáo dục mà tôi không có. Tôi muốn chúng có cơ hội.”

Cả thế giới dừng lại.

Người phụ nữ nhỏ bé này, người đã sống trong sự vô danh gần chín mươi năm, bỗng trở thành biểu tượng quốc gia chỉ sau một đêm. Tổng thống Clinton đã mời bà đến Nhà Trắng và trao tặng bà Huân chương Công dân Tổng thống. Bà đã cầm ngọn đuốc Olympic. Đại học Harvard đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Người phụ nữ bỏ học từ lớp sáu đã trở thành Tiến sĩ Oseola McCarty.

Nhưng không gì sánh được với ngày bà gặp Stephanie Bullock—một sinh viên xuất sắc mười tám tuổi. Người nhận học bổng Oseola McCarty đầu tiên.

Stephanie ôm chầm lấy người phụ nữ yếu ớt và khóc. “Cảm ơn bà vì đã thay đổi cuộc đời cháu.”

Oseola mỉm cười, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ của bà. “Tôi chỉ vui vì mình đã làm được điều gì đó. Tôi không muốn chết mà không để lại gì cho ai cả.”

Oseola McCarty qua đời vào ngày 26 tháng 9 năm 1999, ở tuổi chín mươi mốt. Nhưng bà không để lại gì cho ai cả.

Bà đã để lại tất cả.

Quỹ học bổng của bà hiện đã tăng lên hơn 1 triệu đô la. Mỗi năm, những người trẻ tuổi—nhiều người trong số họ là sinh viên da đen từ các gia đình nghèo ở Mississippi—bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp với mũ và áo choàng. Họ cầm bằng cấp. Họ bước vào tương lai được tạo nên nhờ một người phụ nữ đã dành bảy mươi lăm năm cúi mình bên nồi nước sôi, tiết kiệm từng đồng xu, mơ ước về một cơ hội mà bà sẽ không bao giờ có được nhưng người khác sẽ có.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã quyên góp thêm tiền. Những người lạ từ khắp nước Mỹ đã gửi tiền quyên góp. Sự hy sinh của một người phụ nữ làm nghề giặt giũ đã khơi nguồn cho một phong trào hào phóng vẫn tiếp diễn hai mươi sáu năm sau khi bà qua đời.

Bà đã chứng minh rằng sự giàu có thực sự không phải là những gì bạn tích lũy được – mà là những gì bạn sẵn sàng cho đi. Một cuộc đời, sống có mục đích và sự hy sinh, có thể vang vọng qua nhiều thế hệ. Điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là trao cho người khác cơ hội mà bạn chưa từng có.

Người phụ nữ giặt giũ đến từ Hattiesburg chưa từng học đại số, điều dưỡng hay văn học. Nhưng bà đã dạy cho thế giới bài học quan trọng nhất: rằng sự hy sinh thầm lặng, không được chú ý và không được đền đáp, có thể thay đổi cuộc sống của hàng nghìn người. Rằng bạn không cần phải giàu có mới có thể hào phóng. Rằng tình yêu không được đo bằng những gì bạn giữ lại, mà bằng những gì bạn từ bỏ để người khác có thể vươn lên.

https://en.wikipedia.org/wiki/Oseola_McCarty


 

HƠN CẢ PHÉP MÀU – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

HƠN CẢ PHÉP MÀU

May be an image of child

Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó anh phải rời xa quê hương Ukraina, bỏ lại người vợ Anna và cậu con trai Jacob của mình. Martin và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh cũng không hề hay biết.

Vài năm sau, Martin được trả tự do, lúc này anh kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhìn vẻ bề ngoài của anh lúc bấy giờ như một ông già lọm khọm. Không những vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm vợ con mình. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột cùng và anh vẫn không hề hay biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã cho mẹ con cô ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa. Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, cuộc đời vốn không ai có thể biết trước. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và con tin rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng sẽ đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Sau khi biết chuyện, hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô biết mình không thể sống được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”. Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu nữa. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Về phần Martin, người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta, một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh. Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học ngày xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua bao biến cố thăng trầm, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, cả hai đều cảm thấy đúng là duyên phận.

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta nói với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.

Nhưng cuối cùng mong muốn mãnh liệt được trở thành một người mẹ của cô đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Em hãy đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ đi”. Greta vui mừng khôn xiết, cô lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”.

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đến cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng anh chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng đôi mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt lay động bởi tình yêu thương của mình dành cho em gái.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ: “Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, anh xúc động thốt lên: “Kỳ tích, thật là kỳ tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng con. Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kỳ tích này rồi”.

Sự thiện lương của Martin, lòng nhân ái của Greta và lời hứa đầy trách nhiệm của cậu bé Jacob, tất cả đã tạo nên một kỳ tích. Hạnh phúc thực sự luôn tồn tại, chỉ cần bạn biết tin tưởng và sống đúng với con người thật của chính mình, phép màu của số phận có thể sẽ đến với bạn trong tương lai.

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

Gã Ăn Trộm Tình – Chu Sa Lan – Truyen ngan HAY

Gã Ăn Trộm Tình – Chu Sa Lan

Nhà ông hội đồng Chữ ăn cái tết linh đình nhất từ xưa tới giờ. Lý do khiến cho ông hội đồng Chữ ăn tết lớn chính là sự hiện diện của ông quan tư Lầu, chủ quận Giồng Trôm. Làm hội đồng mấy năm nay rồi, tiếng tăm cũng có chút đỉnh song ông hội đồng Chữ vẫn chưa mãn nguyện. Làm hội đồng cũng có tiếng và có quyền lắm nhưng chưa bằng cai tổng, coi được năm ba ông hội đồng. Bởi vậy năm nay hội đồng Chữ mới bấm bụng bỏ tiền ra ăn tết lớn để mời quan tư chủ quận vào nhậu nhẹt. Quan tư mà chịu nhậu nhẹt thời sớm muộn gì ông ta cũng bắt được cái chức cai tổng. Tết, ngoài cái vụ ăn nhậu, chè chén linh đình còn phải có hai mục khác mới vui vẻ, xôm tụ và nổi đình đám là đánh võ đài và múa lân. Thuở bấy giờ, chính phủ Phú Lang Sa đã thiết lập nền đô hộ vững chắc lắm rồi nên cũng không còn cấm đoán chuyện dân chúng tập võ cũng như mở võ đài đánh võ nữa. Huống chi chuyện mở lôi đài lại do ông hội đồng và được sự chấp thuận của ông chủ quận thì có thằng nào dám théc méc. Để khoe sự sang giàu cũng như lấy điểm với sếp, hội đồng Chữ sai đầy tớ lên tận trên tỉnh mướn một đoàn múa lân giỏi nhất và nổi tiếng nhất để đúng ngày mồng một tết sẽ múa biểu diễn cho ngài quan tư và bần dân trong làng xem đã con mắt luôn. Đoàn múa lân này sẽ trổ tài để giật giải thưởng 100 đồng. Ở những năm 1920 xưa như trái đất đó thì 100 đồng có giá trị lớn lắm. Riêng về phần đánh võ đài thì giải nhất 50 đồng, giải nhì 30 đồng và giải ba 20 đồng. Ông hội đồng Chữ đã cho bố cáo trong toàn thể chục làng, năm tổng của quận Giồng Trôm nên người ta đoán sẽ có đông võ sĩ của toàn tỉnh Bến Tre tham dự. Những điều đó cộng thêm tiệc tùng sẽ khiến cho không khí trong ba ngày tết nơi nhà của hội đồng Chữ thêm phần sôi động và hấp dẫn.

Chí Nhè ngồi nhâm nhi xị đế một mình trong quán hủ tiếu của chú ba Hương tại chợ Bến Tre. Gần tháng nay y hầu như bị thất nghiệp không làm ra xu teng nào hết. Mà y nào có phải hạng làm biếng đâu. Y rất siêng năng làm lụng nhưng thời buổi gạo châu củi quế này thiên hạ đâu có làm ra đồng nào đâu mà có dư tiền của để đưa cho y. Người ta bảo ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh ”. Làm nghề nào cũng vinh quang hết kể cả nghề ăn trộm. Rất ít người biết Chí Nhè là tay ăn trộm nổi tiếng ở Sài Gòn. Trong một vụ ăn trộm lớn đổ bể, y bị mật thám tây truy lùng ráo riết. Không đất dung thân và để tránh bị túm cổ y phải tạm thời chạy xuống Bến Tre lánh nạn. Vùng này dân cư ít lại thêm nghèo khổ nên cả tháng nay y chẳng làm ăn được vố nào hết. Tiền dành dụm xài gần cạn rồi. Trong vòng 1 tháng nữa nếu không chôm chĩa được ai thì kể như y phải xách bị đi ăn mày. Là tay trộm nổi danh, y đâu có chịu hạ mình đi ăn xin. Y có cái kiêu hãnh của riêng y. Ăn xin đâu có bảnh bằng ăn trộm mặc dù cả hai đều có chữ ăn đằng trước. Ăn xin thì phải hạ mình xin xỏ, lạy lục để người ta bố thí cho mình. Như thế hổng có bảnh. Trong khi ăn trộm thì mình hổng có xin mà lấy của người ta. Người ta hổng cho mà mình lấy mới bảnh, nhất là người ta hổng làm gì được mình. Bảnh là bảnh ở chỗ đó. Huống hồ gì Chí Nhè chuyên ăn trộm của nhà giàu. Như thế còn bảnh hơn nữa vì nhà giàu có đầy tớ, tá điền, nhà năm từng cửa cài then, bảy lớp khóa mà mình vào được rồi ung dung đi ra thì mới bảnh. Nội cái chuyện đường hoàng mở khóa đi vào nhà lấy cái gì mình muốn lấy rồi ung dung chuồn mà thiên hạ chẳng làm gì mình được như thế mới gọi là đại bảnh

Đang ngồi lai rai Chí Nhè thấy hai thanh niên bước vào. Nhìn lướt qua bộ tịch y biết hai người này thuộc dân bản địa.

– Anh làm ba chung thôi rồi đi nghen anh hai… Anh mà uống nhiều quá hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Mình còn phải đi xa lắm. Từ đây mà lội xuống tới chợ quận Giồng Trôm cũng phải mất ngày đường rồi…

Nghe thanh niên nhỏ tuổi nói, Chí Nhè đâm ra tò mò nên giả vờ vừa nhậu vừa ngó mong ra đường mà tai thì lắng nghe câu chuyện.

– Tao nghe nói hội đồng Chữ giàu lắm hả mậy?

– Hết biết luôn anh Hai… Ổng giàu từ đời ông nội, ông cố ông sơ ông sờ ông sẩm giàu ra. Đất vườn của ổng thì chó chạy le lưỡi ra cũng chưa giáp. Đất ruộng thì ngựa chạy què giò luôn. Tiền của ông đốt tui với anh cháy thành than…

Nghe thanh niên nói một hơi thật dài, Chí Nhè khoái trá ngồi rung đùi, nhủ thầm không ngờ vận của mình chưa tới nỗi mạt. Giàu cỡ hội đồng Chữ nếu y vào được nhà thì tha hồ chôm chĩa tiền bạc, vòng vàng và nữ trang quí giá. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm mà lị. Ông bà mình nói đâu có sai trật.

– Anh hai biết hông… chỉ cần anh với tôi lên múa may vài thế võ là mình cũng được ổng đãi ăn nhậu no nê ba bữa rồi. Nếu chó ngáp phải ruồi, mình đoạt giải nhất, nhì hoặc ba cũng có vài chục bạc xài chơi…

Thanh niên được gọi là anh Hai nghe nói cười ha hả đoạn cất giọng ồm ồm.

– Chú ba mày nói phải đó… Vậy mình ăn lẹ lẹ rồi đi… Tao uống vài chung cho đỡ ghiền thôi…

Hai thanh niên ăn uống, trả tiền xong mới vội vàng lên đường. Chí Nhè còn ngồi lại ung dung nhậu. Chỉ cần nghe được câu chuyện thôi đủ rồi. Dù ở Sài Gòn song là tay ăn trộm nổi danh y tất phải mò ra đường để tới nhà hội đồng Chữ. Uống cạn xị đế, Chí Nhè trả tiền rồi trở về nhà trọ lấy gói đồ nghề xong theo đường cái đi Giồng Trôm. Vừa ra khỏi xóm nhà đông đúc dân cư, y cắm đầu chạy một mạch để bắt kịp hai thanh niên mà y đã gặp trong quán rượu. Làm ăn trộm không cần phải giỏi võ mà cần phải có cặp giò dài thước tám để lỡ bị bể mánh thì dọt cho lẹ. Lúc còn nhỏ y đã được ông già tía truyền thụ hết mánh khoé trong nghề ăn trộm, mà quan trọng nhất là chạy cho lẹ. Muốn chạy cho lẹ thì người ta phải biết cách làm cho thân hình của mình nhẹ bâng. Nói theo con nhà võ chính cống thì phải học thuật khinh thân đề khí. Trước thì học cách thức biến thân thể của mình nhẹ đi. Sau đó thì học cách bước nhanh, bước đều, bước xa và bước dai, bước hoài hổng mệt. Chí Nhè nổi tiếng là tay ăn trộm nhờ vào tài leo trèo và chạy nhảy của mình. Ngoài ra y còn có tánh kiên nhẫn, mưu mô và sáng dạ nữa.

Chạy một đỗi, Chí Nhè thấy dạng hai người thấp thoáng đằng trước mặt mình không xa lắm. Mừng thầm y bước nhanh hơn nữa. Khi tới rạch Giẹt Sậy thì y bắt kịp hai người kia. Cả ba ngồi đò qua con rạch lớn.

– Hai anh đi đâu vậy?

Chí Nhè gợi chuyện. Thanh niên nhỏ thó và còn trẻ hơn mau mắn trả lời.

– Tụi này đi Giồng Trôm…

Chí Nhè cười mím chi.

– Chắc hai anh đi coi đánh võ đài ở nhà ông hội đồng Chữ hả?

Thanh niên cao lớn nhìn y chăm chú giây lát rồi mới gật đầu trả lời.

– Tụi này đi đánh chứ hổng phải đi coi. Còn chú mày?

Chí Nhè chưa kịp thốt, y mau mắn nói tiếp.

– Ta coi tướng của chú mày chắc đi ăn chực chứ đánh võ gì…

Dứt câu y cười hề hề. Không những không giận vì câu nói xỏ của thanh niên cao lớn mà Chí Nhè còn cười hắc hắc như thích thú.

– Anh nói đúng đó… Tôi ở bên Mỹ Tho lận. Nghe thiên hạ đồn ông hội đồng Chữ ăn tết lớn có múa lân và đánh võ nên tôi cuốc bộ xuống coi cho biết. Tướng của tôi mà đánh võ gì. Có gì là tôi xách đít chạy trước… Nghề của tôi là nghề chạy chứ hổng phải đánh nhau…

Hai thanh niên lạ cười sằng sặc vì câu nói giỡn của Chí Nhè. Họ xưng tên họ với nhau. Thanh niên cao lớn là Hai Nhịn, còn người kia tên Nhục. Đường xa nhưng vừa đi vừa nói chuyện nên đường thành ngắn.

– Nói thật với hai anh… Tía má tôi nghèo quá… Tay làm hàm nhai mà nhiều khi hổng có cái gì để nhai… Nghe ông hội đồng Chữ ăn tết lớn nên tôi tới, trước là coi đánh võ cho vui sau là ăn chực được bữa nào đỡ bữa đó. Hai ngày nay tôi có hột cơm nào vào bụng đâu…

Nghe Chí Nhè than thở, Hai Nhịn, dù hổng có ưa cái bản mặt của Chí Nhè cũng phải động lòng thương xót bèn vỗ vai cái bụp rồi cười ha hả.

– Chú mày nói nghe cũng tội nghiệp… Vậy thì đi theo tụi này tới nhà hội đồng Chữ kiếm bữa cơm…

Chí Nhè mừng rỡ nhập bọn liền. Hai Nhịn hỏi khi họ dừng lại ở Lương Quới uống chén trà giải khát.

– Hôm nay hai mươi chín Tết rồi. Mình tới Giồng Trôm kịp không Nhục?

– Kịp chứ anh hai… Mình đi hơn hai phần ba đường rồi. Ráng cuốc một hơi nữa là phẻ re. Tới nhà ông hội đồng Chữ là được ăn nhậu thả giàn… hè… hè…

– Anh làm tôi bị kiến cắn bụng…

Ực cạn chén trà âm ấm, Chí Nhè xen vào. Hai Nhịn quay mặt đi chỗ khác để giấu vẻ khó chịu của mình. Hổng biết tại sao mà anh ta hổng ưa được cái bản mặt của Chí Nhè. Anh ta cảm thấy từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói của cái ” thằng có tướng học trò mà bộ giò ăn trộm ” này có cái gì hổng thành thật và đãi bôi. Có lẽ cũng biết điều đó hay muốn lấy lòng hai người bạn đồng hành nên Chí Nhè nhanh nhẩu móc túi trả tiền luôn cho ba người. Ra tới đường cả ba cắm đầu bước một mạch. Khi dừng lại bên bờ con rạch Bình Chánh họ mới thở phào cảm thấy mỏi mệt và đói bụng. Băng qua cây cầu ván họ thấy nhà cửa nhiều hơn. Dân làng cất nhà dọc theo hai bên đường. Họ hỏi thăm đường tới nhà hội đồng Chữ. Đi một đỗi họ thấy xa xa trong khu vườn dừa xanh um nổi lên toà nhà thắp đèn sáng trưng mặc dù trời chưa tối lắm.

– Chà ông hội đồng Chữ chơi nổi à nghen… Đèn măng xông sáng trưng hổng thua gì đèn điện…

Chí Nhè buột miệng khen. Cười hềnh hệch Nhục nói thêm vào như cố tình làm thân với người quen mới.

– Ổng giàu nhất trong số mấy ông hội đồng của quận Giồng Trôm đó. Ngặt là ổng cũng bần tiện nhất…

– Bởi vậy ổng mới giàu…

Hai Nhịn xen vô. Như để khoe với Chí Nhè là mình biết nhiều, y cười khành khạch nói tiếp.

– Tao nghe đồn năm nay vì muốn bắt cái chức cai tổng nên ổng mới chịu bỏ tiền ra ăn tết lớn để lấy lòng ông chủ quận. Ổng mời đội múa lân và treo giải thưởng một trăm đồng. Còn mở võ đài thì cũng có giải thưởng. Ổng còn mổ heo vật bò mời bà con lối xóm tới ăn nhậu thả cửa… Chú mày cứ việc ăn chơi…

Chí Nhè cười hì hì.

– Hai anh có cần phụ gì tôi phụ cho…

Liếc nhanh Nhục một cái Hai Nhịn lắc đầu.

– Tao đánh võ thì có thằng Nhịn cho nước rồi. Chú mày cứ đứng coi hoặc đi lòng vòng chơi cũng được…

– Anh Hai dạy đúng lắm. Tôi sẽ đi lòng vòng cho biết nhà cửa của ông hội đồng rộng lớn cỡ nào…

Vừa đi vừa tán dóc một lúc thì tới nhà. Họ được mời ăn uống rồi về chỗ nghỉ ngơi chờ ngày mai mới bắt đầu đánh võ đài và xem múa lân.

Cô năm Thơm đứng nhìn mình trong gương giây lát rồi mỉm cười sung sướng. Năm nay ông già tía của cô ăn tết lớn vì muốn làm vui lòng quan tư để bắt cái chức cai tổng, song bên trong ông còn có một ý ngầm khác mà chỉ có gia đình cô biết mà thôi. Đó là chọn cho cô một ông chồng trong số đám thanh niên tụ về đây. Không kể trai tráng chửa vợ trong làng và luôn cả các làng lân cận, sẽ có nhiều chàng trai ở trên tỉnh đổ về trước là ăn nhậu chùa sau coi múa lân và đánh võ đài. Đây là dịp cho cô chấm một anh nào tài kiêm văn võ. Con gái cùng trang lứa với cô trong làng vừa tới tuổi trăng tròn thì đã có người rước rồi; trong khi cô tuổi không những trăng tròn mà qua trăng khuyết rồi trăng méo xẹo cũng chưa có ai rước về. Hổng chừng tới lúc trăng lặn mất cô cũng chưa có chồng nữa. Mà cô đâu có xấu, tật nguyền, chanh chua đanh đá gì. Ông hội đồng Chữ bằng lòng gã con cho bất cứ chàng trai trẻ nào coi vừa ý mình và họ phải ở rể. Ngặt là ở chỗ đó. Vừa ý ông ta tức phải môn đăng hộ đối, phải danh giá và giàu có. Vì vậy mà năm nay ở cái tuổi trăng rụng xuống cầu rồi mà cô năm Thơm vẫn còn cu ky. Đêm đêm trong phòng riêng cô đơn vò vỏ, cô mơ màng tới một một người chồng, ai cũng được miễn là cô thương người đó và người đó thương cô. Tiền bạc cô hổng cần bởi vì tiền của ông già tía cô xài mãn đời cũng chưa hết. Mở cửa bước ra ngoài lan can cô nhìn xuống gian nhà lá thắp đèn sáng trưng. Từ đó tiếng cười nói của khách vọng lại nghe rõ mồn một khiến cho cô năm Thơm mỉm cười. Cô ước gì trong số người lạ này có một chàng thanh niên hổng cần đẹp trai, học giỏi, giàu sang gì hết. Mấy thứ đó cô ba hổng cần. Cô chỉ cần có người nào rớt vào đôi mắt chim chích chòe của cô mà thôi.

Ăn uống no bụng xong, thấy trời còn sáng Chí Nhè bèn rảo một vòng quanh nhà ông hội đồng Chữ để dọ đường đi nước bước. Đi ăn trộm là phải biết rõ đường đi lối về để vào thì êm rơ mà ra cũng êm ru bà rù. Hoặc giả nếu bị chủ nhà phát giác thì mình cũng biết đường mà chạy thoát thân. Tay chấp đít, miệng phì phèo điếu thuốc vấn, anh ta đảo đôi mắt chuyên nghề chôm chỉa để ghi nhớ không bỏ sót chỗ nào đầy tớ canh gác, bao nhiêu cửa, giờ nào ngủ thức. Chỉ mới dạo sơ một vòng thôi mà Chí Nhè đã nhận ra cái khó của mình nếu muốn lẻn vào nhà hội đồng Chữ để trổ tài đạo chích. Cái chuyện cửa đóng then gài đối với y hổng đáng kể bởi vì y có thể đục tường khoét vách, trổ nóc nhà xuống hay cùng lắm chui theo lỗ chó để vào nhà. Cái mà y ngại nhất chính là đông người quá. Chưa kể hai vợ chồng và con cái, nội kẻ hầu người hạ, đầy tớ, tá điền không cũng đã hai chục mạng rồi. Đó là chưa kể nhà hội đồng Chữ, đêm mai tức đêm ba mươi sẽ có thêm ông quan tư nữa. Ông chủ quận đi đâu cũng có lính theo bảo vệ với súng dài súng ngắn đủ loại. Đi lạng quạng, đám lính này tưởng y là Việt Minh, nó phàng cho một phát là bỏ mạng. Đảo tới đảo lui, lượn qua lượn lại hai vòng, Chí Nhè chú ý tới một địa điểm mà y nghĩ mình có thể dùng nó để đột nhập vào trong nhà của hội đồng Chữ. Đó là căn gác lửng thắp đèn sang sáng, có ban công de ra ngoài rồi có một cây bông sứ cành lá rườm ra. I Leo lên cây này, chuyền ra nhánh, y có thể nhảy xuống ban công rồi theo đó mở cửa căn gác vào trong nhà. Chỗ này hơi khuất và tối hơn các chỗ khác cho nên y nghĩ mình có thể vào nhà mà người bên trong căn gác không hề hay biết. Y tính chờ tới ban ngày sẽ xem xét cẩn thận hơn rồi tối mai tức đêm ba mươi sẽ bí mật lẻn vào nhà của hội đồng Chữ.

Vừa chậm rãi bước vừa quan sát đường đi nước bước, Chí Nhè trở về chỗ của ngủ của mình. Ngang qua một gian nhà y nghe giọng nói khàn khàn vang ra.

– Tổ cha cái thằng Tư… Bịnh gì hổng bịnh mà nó đợi tới ngày mần ăn lớn lại bịnh. Ăn nhậu tầm bậy tầm bạ rồi bây giờ ói mửa tùm lùm. Hổng có nó rồi lấy ai thế đây… Múa lân mà thiếu người thì làm sao ăn giải được…

Nghe người này nói như vậy, chắc được ông tổ ăn trộm nhập vào làm cho Chí Nhè bật ra ý kiến hay ho. Mỉm cười y bước vào căn lều dựng bằng lá dừa.

– Chú mày đi đâu dậy?

Một người đàn ông tác ngoài bốn mươi, mặc bộ bà ba trắng, tóc búi củ hành hất hàm hỏi. Chí Nhè cười hì hì.

– Dạ chào bác… Tui tên Chí. Tôi đi dạo ngoài kia nghe bác than thở nên vào đây xem có giúp gì được cho bác hông…

Người đàn ông trọng tuổi nhìn chăm bẳm Chí Nhè như muốn coi giò coi cẳng. Lát sau ông ta chắt lưỡi.

– Tướng của chú em ta coi cũng được ngặt vì cái vai này hổng phải ai cũng làm được… Chú em có coi múa lân lần nào chưa?

Chí Nhè cười hì hì.

– Gì chứ múa lân tui coi hoài… Tui khoái coi múa lân mà múa lân tui cũng biết chút đỉnh…

Ra dấu cho Chí Nhè ngồi xuống cái ghế đẩu xong người đàn ông chậm rãi vấn điếu thuốc. Đốt lửa bập bập mấy cái, hít hơi dài ông ta từ từ nói.

– Chẳng giấu gì chú em… Tui tên Tám Bền, là chủ đội múa lân nổi tiếng của tỉnh Bến Tre. Năm nay tui được ông hội đồng mời xuống đây trổ tài cho bà con coi và cũng để giật cái giải thưởng 100 đồng của ông hội đồng Chữ. Lấy được giải không những tiếng tăm lên mà còn có trăm bạc xài chơi…

Chí Nhè gật đầu cười nhưng không nói gì hết. Y đợi cho ông chủ đội múa lân phun ra rồi lúc đó mới tương kế tựu kế.

– Thường thì các đội múa lân khác chỉ có 5 thôi nhưng kỳ này tui đem theo 6 đứa lận. Kỳ này ông hội đồng treo giải 100 đồng nên tôi biết giải phải treo thật cao. Bởi vậy tôi tính cho 6 đứa lên thì mới ăn giải được. Ngặt nỗi thằng cháu bên vợ của tui nó nhậu bậy bạ rồi ói mửa tùm lum nên thiếu mất một đứa. Có 5 thì làm sao mà ăn giải được…

Dù chỉ hiểu lơ mơ về chuyện múa lân song vốn có đầu óc lương lẹo, Chí Nhè cười hì hì.

– Tưởng chuyện gì chứ chuyện đó dễ ợt… Tui thế chỗ anh gì đó cho bác…

Tám Bền nhìn chăm bẳm Chí Nhè như quan sát tướng tá xong mới hỏi.

– Chú em biết võ hông?

Thấy Chí Nhè dụ dự chưa trả lời, Tám Bền cười lên tiếng.

– Hổng biết võ thì hổng có múa lân được…

– Võ gì cũng được hả bác?

– Ừ… Thiếu Lâm, Bình Định, võ ta, võ tiều gì cũng được miễn đừng có vỏ cua vỏ còng thôi…

Nghe Tám Bền giễu, Chí Nhè cười khành khạch. Anh ta chưa kịp nói gì, Tám Bền ứng tiếng liền.

– Đâu chú em đứng tấn cho qua coi…

Bảo múa quyền, múa kiếm hay đao thương thì Chí Nhè còn e dè chứ đứng tấn thì dễ ợt. Nạt tiếng nhỏ, anh ta đạp tấn đinh. Vốn con nhà võ làm gì Tám Bền không nhận ra Chí Nhè có học võ, ít nhất cũng hơn chục năm. Gật gù Tám Bền cười hà hà vỗ vai Chí Nhè.

– Được rồi… Qua nhận chú em vào thế chỗ cho thằng Miễn. Mỗi ngày qua trả cho chú em một đồng. Nếu giật được giải nhất thì qua thưởng chú em 5 đồng…

Chí Nhè nhận lời không do dự. Bình thường y sẽ chê tiền công của Tám Bền. Mấy đồng bạc lẻ đó nhằm nhò gì đối với tay ăn trộm nghề. Nhưng vì có chủ ý riêng nên y tạm ẩn thân trong đội múa lân để chờ giờ hành sự. Núp dưới bóng đội múa lân thì hổng có ai nghi ngờ y hết.

Tám Bền và đám trai tráng của ông ta trong đó có Chí Nhè đứng dưới đất nhìn lên lan can của căn gác lửng nơi mà hội đồng Chữ sẽ treo cái phong bì đỏ đựng 100 đồng. Đội múa lân phải đủ sức chồng người cao tới chỗ đó sẽ giật được giải thưởng. Im lặng đứng ngắm nghía cái lan can cao vòi vọi, Tám Bền chắt lưỡi.

– Ông hội đồng Chữ chơi bứt gân thiên hạ… Cao như vầy thì tao dám cá trăm ăn một chẳng có đội nào giật được giải…

Quay qua Tư Trật Búa, phó đội múa lân của mình, ông ta cười hỏi.

– Thằng Tư, mày coi mình lên nổi không?

– Tui hổng biết anh Tám… từ nào tới giờ mình đâu có lên cao dữ dậy…

Lẩm nhẩm tính giây lát Tư Trật Búa gật gật cái đầu chơm bơm. Quay sang Chí Nhè, anh ta cười nói với Tám Bền.

– Chú Chí dù có võ song vì mới dô nghề vả lại ốm yếu nhỏ con nên tôi cho chú đứng trên cùng. Anh Tám thấy đặng hông?

Rít hơi thuốc rê, Tám Bền gật đầu cười.

– Thằng Tư mày tính coi bộ hạp ý tao. Nhưng mà chú phải dạy thêm nghề cho thằng Chí múa đúng bài bản để làm đẹp mắt ông hội đồng…

– Cái đó anh Tám đừng có lo… Trưa nay sau khi ăn cơm xong tui sẽ chỉ cho chú Chí vài cú lắc là xong liền… Với lại khi chồng lên cao thì chú hổng cần múa nữa mà lo giật tiền rồi xuống cho lẹ…

Hổng biết nghĩ cái gì mà Chí Nhè xen vào chuyện bằng câu hỏi.

– Chỗ đó cao thật… Hổng biết họ cất làm chi căn gác cao trật ót luôn… Cao cỡ đó té là dập lá lách… Ai ở chi mà cao vậy?

Quay nhìn Chí Nhè, Tám Bền cười cười.

– Đó là phòng ngủ của cô năm Thơm, con gái út của ông hội đồng… Chú ráng lên tới đó múa lân cho cổ coi… biết đâu chú em lại lọt vào mắt của cô năm…

Chí Nhè cười hề hề như khoái chí về lời nói đùa của Tám Bền. Trưa hôm đó ăn cơm xong, Tư Trật Búa lôi Chí Nhè ra chỗ vắng dạy tập múa lân. Học chữ nghĩa, tiếng tây tiếng u thì Chí Nhè tối dạ chứ học múa lân thì y sáng dạ lắm. Chỉ cần múa may một hồi là y múa gọn hơ và coi bộ thuộc bài bản lắm.

Đêm ba mươi tết trời tối ngửa bàn tay hổng thấy. Tuy chưa tới canh ba mà mọi người đều say ngủ trừ Chí Nhè. Ngồi trên nhánh cây bông sứ de tới gần lan can của căn gác lửng mà cũng là phòng ngủ của cô năm Thơm, y ngó và căn phòng thắp đèn mờ mờ. Chốc chốc y lại thấy bóng người đi đi lại lại. Ngồi một hồi tê chân y lầm bầm.

– Con nhỏ này hổng biết ăn cái giống gì mà thức khuya quá…

Y vừa lầm bầm mấy tiếng là đèn trong phòng cô năm Thơm tắt phụt. Chờ một lát, đoán chừng cô năm Thơm đã ngủ rồi, Chí Nhè nhanh nhẹn trổ tài. Đầu tiên y quăng sợi dây thừng ra. Sợi dây này bện bằng tơ tằm mềm mại và chắc chắn lắm, có sức chịu hai ba người đeo cũng hổng đứt. Một đầu của sợi dây tơ có móc sắt để móc chặt vào lan can. Ghì mạnh vài lần thấy không bị tuột, y mới buộc sợi dây vào nhánh cây làm thành chiếc thang dây để trèo vào phòng ngủ của cô năm Thơm. Nhanh hơn sóc, Chí Nhè đã đứng yên nơi ban công rồi sau đó bò về cánh cửa. Hên quá. Cô năm đi ngủ mà hổng có khoá cánh cửa mở ra ban công. Có lẽ cô nghĩ đâu có ai trèo lên cao để vào phòng của mình được. Lẻn vào trong phòng, Chí Nhè đứng im cho mắt quen với bóng tối xong mới bắt đầu quan sát cảnh vật. Trên chiếc giường rộng mùng buông trắng tinh, có dáng cô năm Thơm nằm ngửa ngủ mê mệt. Bước tới chiếc tủ đứng kê ở góc phòng, Chí Nhè bắt đầu lục lọi để kiếm vòng vàng nữ trang. Y biết con gái nhà giàu như cô năm Thơm thì thiếu gì vòng vàng, dây chuyền, cà rá, kiềng vàng. Rảo một vòng y tìm được mớ nữ trang. Tuy nhiên bao nhiêu đó chưa làm y vừa ý vì hổng lẽ vào nhà một ông hội đồng giàu nứt vách đổ tường mà chỉ lấy có chút nữ trang à. Đã lỡ ăn trộm rồi thì phải ăn cho no chứ. Nghĩ như thế nên Chí Nhè nhè nhẹ rút cái then cài cửa phòng cô năm rồi mở cánh cửa ra. Trong nhà tối thui do đó phải lần mò hồi lâu y mới mò ra cái cầu thang dẫn xuống dưới nhà. Vì tối quá y giẫm lên con chó đang nằm tại đầu cầu thang. Bị đau con chó sủa gâu gâu

– Ăn trộm… trộm… ăn trộm… tụi bây…

Ông hội đồng Chữ la lớn báo động cho người nhà và đầy tớ. Hoảng hồn Chí Nhè vọt trở lên lầu. Vào trong phòng cô năm Thơm, khoá cửa chặt cứng y bước ra ngoài ban công. Dưới đất, ngoài sân đuốc cháy sáng loà. Lính chạy rần rật khiến cho Chí Nhè biết mình không thể thoát thân trong lúc này. Lẹ bước trở vào trong phòng cô năm y đứng im suy nghĩ. Phen này lành ít dữ nhiều rồi. Có lẽ nhờ ông thần ăn trộm mách nước nên y vỗ trán mình cái bạch rồi à tiếng nhỏ. ” Tam thập lục kế chun dô mùng là thượng sách…”

Ý nghĩ vừa bật lên, y vén mùng chui vào giường cô năm Thơm.

– Ai vậy…? Ai chui dô giường của tui dậy?

Cô năm hỏi bằng giọng ngái ngủ. Lanh trí, Chí Nhè vung tay mặt bịt miệng cô năm không cho la làng còn tay trái chẹn ngay ngực. Sợ cô năm vùng vẩy, y leo nằm đè lên người của cô ta.

– Cô mà la lên là tui đâm đổ ruột…

Cô năm Thơm sợ cứng người vì câu hăm doạ của thằng ăn trộm. Hắn dám làm lắm à, vì cô biết hắn một tay đang bịt miệng mình, một tay chận lên ngực ngoài ra còn nằm đè lên làm cho cô không nhúc nhích gì được. Chưa hết cô cảm thấy có cái gì giống như con dao cứng và nóng hổi đang chỉa ngay bụng. Con dao này mà đâm một cái là trào máu liền.

– Thơm ơi… con ngủ hay thức dậy con… ăn trộm vào nhàn mình con ơi… con có thấy ăn trộm hông con…

Tiếng ông hội đồng Chữ vang ngoài cửa. Thúc mạnh con dao nhọn đang chĩa vào bụng, Chí Nhè thì thầm vào tai cô năm.

– Nói cô hổng thấy ăn trộm…

Giọng của cô năm Thơm cất lên như còn ngái ngủ.

– Dạ con mới thức… con đâu có thấy ăn trộm, ăn cắp gì đâu ba… con cài cửa chặt cứng mà ba…

– Vậy hả con… chắc nó sọ chạy mất rồi… thôi ngủ tiếp đi con…

Đợi cho tiếng bước chân mất hẵn, Chí Nhè mới thôi bịt miệng song vẫn còn nằm đè lên người cô năm.

– Anh đè lên người tui làm tui nghẹt thở…

– Im… cô lạng quạng tui đâm lủng ruột…

– Tui có làm gì đâu mà anh đòi đâm tui…

Cô năm mếu máo. Hết sợ bị bắt vì tội ăn trộm thì Chí Nhè lại nghĩ chuyện bậy bạ. Mũi ngửi mùi thơm thơm bốc ra từ da thịt của cô gái chưa chồng, tay thì đang đè lên ngực, người thì nằm đè với con dao nhọn lễu chỉa ngay bụng, Chí Nhè cảm thấy lòng lâng lâng vì đang nằm ở cái thế thượng phong.

– Cô tên gì?

– Dạ em tên Thơm…

Cô năm xưng em và giọng cô nghe ngọt ngào làm sao. Chí Nhè hít hít mũi.

– Hèn chi em thơm quá… Em cho anh ngửi chút nghen…

– Ngửi cái gì… có gì đâu mà ngửi…

Chí Nhè cười hề hề. Vốn dân giang hồ hắn thừa kinh nghiệm để biết những cô gái quê như cô năm Thơm còn ngây thơ và thật thà lắm. Chỉ cần chút mánh khoé là y sẽ có dịp may để ăn trộm.

– Em mà hổng cho anh ngửi là anh đâm em lủng ruột chết liền…

Vừa nói Chí Nhè vừa thúc mạnh con dao cứng ngắt và nhọn lễu của mình vào ngay tử huyệt của cô năm. Xanh mặt cô năm lắp bắp.

– Anh muốn ngửi thì ngửi đi mà anh đừng có đâm em tội nghiệp em lắm anh ơi…

Cô năm ngưng nói khi bàn tay của Chí Nhè mở nhanh mấy cái nút áo và sợi dây lưng quần. Cô cắn răng hít hà, rên rỉ, nằm im để mặc cho thằng ăn trộm hổng có ăn trộm vòng vàng nữ trang gì hết mà lại ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Suốt đêm hôm đó, không biết bao nhiêu lần thằng ăn trộm tha hồ ăn trộm mà cô chủ nhà chẳng có ” bớ làng nước ơi ăn trộm…” gì hết. Tờ mờ sáng, thằng ăn trộm bỏ đi mà cô năm Thơm vẫn nằm im nhìn theo với ánh mắt buồn buồn.

Trưa mồng một tết. Giờ múa lân bắt đầu. Đúng theo chương trình thì trước nhất đội múa lân sẽ biểu diễn cho khán giả coi rồi sau đó trổ tài chồng người lên trời để giật cái giải thưởng một trăm đồng đựng trong cái phong bì đỏ được treo nơi ban công phòng của cô năm Thơm. Thiên hạ ngồi đứng, chen chúc nhau để được coi đội múa lân của ông Tám Bền, một đội múa lân nổi tiếng nhất của tỉnh Bến Tre. Múa lân là một nghệ thuật. Chỉ cần nhìn thoáng qua con lân của Tám Bền, người có óc thưởng thức và chút hiểu biết về thuật múa lân đều phải nhìn nhận ông ta quả đã luyện tập được một đội múa lân tuyệt diệu. Khi cái đầu chuyển động là khúc mình và cái đuôi cũng phải chuyển theo, nhưng chuyển động như thế nào để làm cho con lân giống như sống dưới mắt nhìn của khán giả. Ngoài ra sự chuyển động đó còn phải ăn nhịp với tiếng trống và tiếng đàn nữa. Không biết Tám Bền tìm đâu ra một người làm ông địa, mà dân làng phải cười ra nước mắt khi nhìn cái bụng bự của y lắc lư theo nhịp chuyển động của con lân. Chắc bị ma nhập nên Chí Nhè múa cái đầu con lân lanh lẹ, nhịp nhàng, và đúng điệu khiến cho mấy anh em trong đoàn thở hổng kịp. Nghe thiên hạ hò la vỗ tay ầm ỉ Tám Bền khoái chí. Dạo đủ ba vòng, con lân dừng lại tại chỗ mà trên cao kia là phòng ngủ của cô năm Thơm. Đây là phút giây mà mọi người chờ đợi và đây cũng chính là phút giây ăn tiền nhất của đội múa lân. Họ phải chồng người lên cao để lấy cái phong bì đỏ treo lơ lửng trên lan can. Hổng chồng lên cao được là hổng có tiền. Chồng lên cao mà một người chân không vững thì có cơ ngã lăn ra đất làm trò cười cho thiên hạ. Khó hơn nữa là trong lúc chồng người lên cao họ vẫn phải múa chứ không được ngừng nghỉ. Hét tiếng trợ oai, Tư Trật Búa đạp tấn rùn người đứng làm trụ. Ăn tiền hay không phần lớn do ở y, bởi vì tất cả sức nặng của nguyên con lân năm người đều chịu trên thân thể của y. Cái đuôi là Tư Trật Búa, còn cái đầu con lân là Chí Nhè. Y là người chồng sau cùng và là người đứng trên cao nhất để lấy phong bì. Năm người lần lượt đứng trên vai nhau thành một cây người cao nghều nghệu song vẫn còn một khoảng cách khá xa mới tới chỗ treo phong bì. Tới phiên Chí Nhè trổ tài. Hét tiếng trong trẻo, y chỏi mạnh chân xuống đất lấy đà. Là tay trộm nổi danh, nên tài leo trèo và chạy nhảy của y có hạng lắm. Thân hình cao thước sáu, nặng 40 ký lô vọt lên trời cao ngang tầm của đồng bạn và bằng cái chao mình y đứng thẳng trên vai của người này. Thiên hạ la thiếu điều bể nhà khi thấy đầu con lân trổ tài. Ngay cả Tám Bền còn phải đứng tim khi chứng kiến Chí Nhè bay người lên đứng trên vai của đồng bạn. Tiếng trống nổi ầm ầm. Đứng trên cao, như có ý định thầm kín nào đó, Chí Nhè bắt đầu chuyển động cái đầu lân chứ chưa chịu nhảy lên lấy phong bì. Hể y động thì năm người làm thân và đuôi con lân cũng phải chuyển theo tạo ra con lân cao ngất ngưỡng trên trời. Thiên hạ khoái quá hò hét vang lừng. Ngay lúc đó mọi người nghe tiếng hét trong trẻo của Chí Nhè vang lên rồi thân hình y vọt lên cao hơn chút nữa vừa đủ để cho y đỡ nhẹ cái phong bì màu đỏ rồi tà tà rơi xuống đất, còn năm người kia cũng lần lượt nhảy xuống. Thiên hạ vỗ tay rần rần hoan hô cho đội múa lân đã lấy được giải thưởng của chủ nhà. Theo thông lệ thì đội múa lân sẽ trình diện với chủ nhà và khán giả. Ngồi trên khán đài sau lưng ba của mình, cô năm Thơm nhìn trân trân người thủ vai cái đầu con lân. Trong bộ võ phục màu đen, thắt lưng trắng, chân mang hài xão, người vừa trổ tài giật giải thưởng không ai khác hơn là cái bản mặt đáng ghét của thằng ăn trộm mà đêm hôm qua đã ăn trộm cái ngàn vàng của cô. Bây giờ hắn đang đứng với nụ cười và ánh mắt nhìn làm cho cô đỏ mặt, run rẩy tay chân và hơi thở rộn ràng.

Đêm mồng năm thật im vắng. Tết đã qua và sinh hoạt trong nhà của hội đồng Chữ cũng trở lại bình thường. Chỉ có cô năm Thơm là không được bình thường. Cô thờ thẩn như người mất hồn. Tên ăn trộm bỏ đi mất biệt mang theo số vòng vàng nữ trang của cô. Điều đó chẳng làm cô bận tâm. Điều khiến cho cô buồn là hắn đi không có lời từ biệt. Ngồi im lặng trước gương cô thở dài lấy cái lược đồi mồi chải nhè nhẹ mái tóc huyền của mình. Nghe có tiếng cửa mở cô quay lại. Trước mặt cô là tên ăn trộm. Gã không có gì khác lạ. Nếu có là nụ cười thân thiện và ánh mắt nhìn âu yếm.

– Anh trở lại đây làm gì?

Cô năm thờ ơ hỏi. Tên ăn trộm cười nhẹ.

– Anh trả lại em mấy món nữ trang mà anh đã lấy…

Đặt cái túi vải đựng vòng vàng và nữ trang lên giường, tên ăn trộm cười tiếp.

– Em có muốn anh trở lại nữa không?

Mắt ươn ướt lệ, cô năm Thơm khẽ gật đầu. Tên ăn trộm bước tới thì thầm vào tai cô những gì mà chỉ thấy cô cười gật đầu lia lịa. Ba tháng sau, dân trong làng kéo nhau đi ăn đám cưới của cô năm Thơm. Chàng rể của ông hội đồng tên Chí, nhà cửa ở Sài Gòn. Không ưng ý chàng rể lắm song ông hội đồng Chữ cũng phải gả con vì cái bụng của cô năm Thơm bắt đầu u lên rồi. Trể thì cái bụng sẽ còn lớn hơn nữa. Vì cô năm Thơm không muốn sống xa cha mẹ đã già nên Chí bằng lòng ở rể. Lâu ngày sống gần nhau ông hội đống Chữ đâm ra thương thằng rể biết chí thú làm lụng mà hổng có ăn chơi đàn đùm.

chu sa lan

From: Tu-Phung


 

 THẰNG NGUỴ CON- Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn.

Cửa phòng là một bửng sắt khá dày,

bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay.

Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.

Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài.

Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng.

Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng.

Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi.

Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc,

phơi quần áo… trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần.

Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với :

-Không được nghịch, mẹ đánh đấy !

Thằng nhỏ đứng lại.

Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau.

Thăng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao !

Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này ?

Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ,

ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt,

hôi hám ấy ?

Tâm tính nó sẽ ra sao về sau ?

Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần.

Tôi quay lại hỏi ông Đoàn :

-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá ! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không ?

Ông Đoàn nói :

-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi ! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

Tôi tức cười thốt lên :

-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch :

Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản man rợ.

Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó ?

Tôi nói :

-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa !

Ông Đoàn cười :

-Ông khỏi lo ! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu ! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú.

Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều !

Tôi cảm thán :

-Vậy sao ? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi ! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi !

Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi.

Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng.

Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại :

-Hết hồn!

Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó.

Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ.

Tôi hỏi :

– Cháu tên gì?

– ”Ngụy con” !

Tôi ngạc nhiên hỏi lại :

– Chú hỏi cháu tên là gì ?

– ”Ngụy con” !

– Ai đặt tên ấy cho cháu ?

– Mấy chú cán bộ !

– Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à ?

– Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là

” ngụy con” !

Trời đất ơi ! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn !

Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng.

Rồi ngày thăm nuôi đến

– ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào.

Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác.

Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường.

Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…

Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở.

Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới.

Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm,

cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.

Nói chung, trong ngày thăm nuôi,

bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui,

dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh.

Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người :

“thằng ngụy con” !

Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương.

Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.

Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù.

Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay :

bánh tráng, cốm bắp, kẹo… về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây !

Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi.

Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người.

Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà. Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn.

Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh,

nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng.

Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng đón nó lại :

– ”Ngụy con” có nhiều quà quá,

chia cho chú với nào!

Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo :

– Gói này cho chú xin nghe!

Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt :

– Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi !

Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem.

Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng.

Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác,

chưa ráo máu đầu đã học phản động !

Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét :

– Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ !

Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện.

Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng.

Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.

Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.

Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi.

Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….

Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo :

– Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau ! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra !

Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường.

Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ.

Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.

Sáng sớm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ :

– Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng !

Tôi giật mình :

biết đâu lại là thằng nhỏ ?

Tiếng từ phòng trực hỏi lại :

– Nặng bao nhiêu ký ?

Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn :

– Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết !

– Nghe rồi, đợi đó giải quyết !

Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân.

Có lẽ cán bộ y tế đã đến.

Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức :

– Ông nghe gì không ?

Tôi lắng tai để nghe.

Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà :

– Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi ? Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

Tôi giật mình thở dài :

Trời ơi, thằng nguỵ con !

Liền đó tôi nghe có tiếng nạt nộ :

– Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai ?

Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp./.

(Nguồn: Sài Gòn trong tim tôi – Ngô Viết Trọng)


 

Viết điều tử tế nhất mà các em có thể nói

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

 Một ngày nọ, một cô giáo quyết định thử một việc rất đơn giản với lớp học của mình. Cô phát cho mỗi học sinh hai tờ giấy trắng và yêu cầu các em viết tên của tất cả những người có mặt trong lớp, chừa ra một khoảng trống giữa mỗi cái tên. Cô không giải thích thêm gì cả. Không nói lý do. Không nói mục đích. Chỉ có tiếng bút chì sột soạt vang nhẹ trong căn phòng.

Rồi cô mới giao bài thật sự.

“Cô muốn các em viết điều tử tế nhất mà các em có thể nói về mỗi người,” cô nói. “Một điều tốt đẹp. Và phải là điều thật lòng.”

Cả lớp im lặng.

Ban đầu, có vài em ngập ngừng. Ở tuổi thiếu niên, lời khen không phải lúc nào cũng dễ nói ra. Nhưng rồi dần dần, những cái đầu cúi xuống. Những cây bút bắt đầu chuyển động. Suy nghĩ thành hình. Từng câu chữ tử tế lần lượt xuất hiện trên trang giấy.

Cả tiết học trôi qua trong yên lặng. Không ai xao nhãng. Không ai xin ra sớm. Khi chuông reo, các em nộp lại bài và rời khỏi lớp, không hề biết rằng mình vừa tạo ra một điều sẽ sống rất lâu đến mãi sau này.

Cuối tuần đó, cô giáo ngồi bên bàn bếp, đọc từng dòng chữ. Với mỗi học sinh, cô cẩn thận tổng hợp lại một danh sách riêng, gồm tất cả những điều tốt đẹp mà các bạn trong lớp đã viết về em đó. Cô đánh máy từng danh sách, chăm chút từng chữ, không để sót điều gì.

Sáng thứ Hai, cô trao lại cho mỗi học sinh tờ giấy của riêng mình.

Lúc đầu, cả lớp lại im lặng. Rồi những nụ cười dần xuất hiện. Có em nhìn chằm chằm vào tờ giấy như không tin những lời đó là dành cho mình. Có em khẽ thì thầm với bạn bên cạnh:

“Trước giờ mình không biết là có người để ý tới mình.”

Có em nói nhỏ:

“Mình không biết là mọi người quý mình đến vậy.”

Những tờ giấy ấy không bao giờ được đem ra thảo luận trong lớp. Cô giáo không biến nó thành một bài học, cũng không yêu cầu ai chia sẻ cảm nghĩ. Cô chỉ để khoảnh khắc đó trôi qua đúng như nó vốn là.

Nhưng có điều gì đó đã thay đổi.

Các em bước đi tự tin hơn một chút. Nói chuyện với nhau nhẹ nhàng hơn. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mỗi người đều cảm thấy mình được nhìn thấy. Được trân trọng. Được an toàn.

Rồi năm tháng trôi qua.

Một ngày kia, cô giáo nhận được tin khiến tim mình thắt lại. Một học trò cũ của cô, Mark, đã hy sinh khi đang phục vụ trong chiến tranh Việt Nam. Cô đến dự tang lễ. Đứng lặng lẽ giữa những hàng quân phục và những gương mặt đẫm buồn.

Khi tiến lại gần quan tài, cô suýt không nhận ra Mark. Em trông già hơn. Rắn rỏi hơn. Và quá trẻ để ra đi như vậy.

Một người lính bước đến gần cô và hỏi nhỏ:

“Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không ạ?”

Cô gật đầu.

“Cậu ấy hay nhắc đến cô lắm,” người lính nói. “Cô rất quan trọng với cậu ấy.”

Sau buổi lễ, cha mẹ của Mark tiến lại gần. Người cha lấy từ ví ra hai mảnh giấy đã cũ, dán lại với nhau, mép giấy sờn đi vì được cầm nắm quá nhiều lần.

“Họ tìm thấy cái này trong người Mark khi nó mất,” ông nói. “Chúng tôi nghĩ là cô sẽ nhận ra.”

Đó là tờ danh sách.

Danh sách những lời tử tế mà bạn bè đã viết cho Mark năm nào.

Mẹ của Mark cố kìm nước mắt.

“Cảm ơn cô,” bà thì thầm. “Như cô thấy đấy, nó trân quý tờ giấy này lắm.”

Rồi những học trò cũ khác lần lượt bước tới. Mỗi người, theo cách rất riêng, nói ra bí mật của mình.

“Tôi giữ tờ của tôi trong ngăn kéo bàn làm việc,” Charlie nói.

“Chồng tôi giữ tờ của anh ấy trong album cưới của chúng tôi,” vợ của Chuck chia sẻ.

“Tờ của tôi nằm trong nhật ký,” Marilyn mỉm cười dịu dàng.

Rồi Vicki lấy từ trong túi xách ra một mảnh giấy đã nhăn nhúm:

“Tôi luôn mang nó theo người. Đi đâu cũng mang.”

Lúc đó, cô giáo không kìm được nữa. Cô ngồi xuống và khóc — vì Mark, vì những học trò đã mang theo những lời tử tế ấy suốt cả cuộc đời, và vì những người không có cơ hội được già đi cùng nhau.

Và rồi cô hiểu ra.

Chỉ là một tờ giấy.

Vài câu nói chân thành.

Một khoảnh khắc tử tế được trao đi mà không ai biết rằng nó quan trọng đến nhường nào.

Chúng ta dành quá nhiều thời gian để chờ đợi.

Chờ đúng lúc.

Chờ đủ can đảm.

Chờ một ngày nào đó.

Nhưng ngày đó không phải lúc nào cũng đến.

Sự tử tế không hề nhỏ bé.

Lời nói không bao giờ là tạm thời.

Ta không bao giờ biết câu nói nào sẽ trở thành điểm tựa của một ai đó, hành động nào sẽ được gấp lại và mang theo suốt chiến tranh, hôn nhân, mất mát và thời gian.

Hãy nói điều tử tế.

Hãy viết lên giấy..

Tia Sáng Nhỏ


 

LỜI CON GÁI CỦA TÔI TRONG TÒA ĐÃ THAY ĐỔI PHÚT CUỐI

Những Câu Chuyện Thú Vị – Lan Lê

*Tôi đã yêu Molly ngay khi nhìn thấy cô ấy. Cô ấy rất xinh đẹp, nhưng điều đó không ngăn bạn trai của cô ấy rời bỏ cô ấy khi cô ấy mang thai. Cô ấy khóc trên vai tôi. Tôi yêu điên cuồng, nên tôi hỏi cưới cô ấy. Tôi chỉ muốn ở đó.

Molly ghét từng giây mang thai của mình. Tôi đã hy vọng cô ấy sẽ vui lên khi đứa bé chào đời. Nhưng khi Amelia bước vào thế giới, Molly chỉ phàn nàn, nhớ cuộc sống cũ của mình. Cô ấy hầu như không quan tâm đến cô bé nhưng Amelia? Cô ấy là cả thế giới của tôi, là ánh sáng của tôi.

Chúng tôi đã sống cuộc sống kỳ lạ này trong 5 năm cho đến một ngày, Molly đã như nổ một trái bom: “Tôi muốn ly dị! “Em chán anh và con bé đó rồi! Ước gì tôi chưa bao giờ có được con bé ấy! “

Đó cũng là điều đó cho tôi. Một tháng sau, cô ấy trở lại với Tanner – chính là người đã bỏ rơi cô ấy! Trong khi Amelia và tôi chiến đấu với Molly đang tiệc tùng như cô ấy muốn.

Con gái tôi và tôi vừa bắt đầu làm lại cuộc sống của chúng tôi khi Molly xuất hiện lại:

Ella: “Tanner cuối cùng đã sẵn sàng để trở thành một người cha. Trả con gái tôi cho tôi. “

Tôi: “Cô nghiêm túc chứ?! “Con bé là con gái tôi. Tôi đã ở đây khi cô ra ngoài làm việc gì Chúa mới biết!.”

Cô ấy: “Tòa án nào sẽ đứng về phía anh?! “Con bé là con gái của chúng tôi bằng máu. Anh chẳng là gì đối với con bé!”

Ngày phán xét đã đến, và tôi không biết những điều này diễn ra như thế nào – những người mẹ luôn giành chiến thắng. Suy nghĩ về việc mất con gái nhỏ của tôi làm trái tim tôi tan nát.

Ngay khi tôi nghĩ rằng nó đã kết thúc, với tôi, tôi nghe thấy giọng nói quen thuộc: “Xin lỗi, con có thể nói điều gì đó được không?”.

Cô bé là con gái nhỏ của tôi. Cô bé nhìn tôi và mỉm cười. Tôi cảm thấy hy vọng.

“Ông sẽ thấy… Thưa quý tòa? Chúa ơi, con chỉ có một người cha. Con không muốn sống với người phụ nữ này mà con thậm chí không biết có phải là mẹ con không – bà ấy chưa bao giờ yêu con. Con nhớ bà ấy nói bà ấy hối hận vì có con. Cha Mark luôn ở đó vì con. Ba dạy con cách đi xe đạp, chăm sóc con khi con ốm và ôm con khi con gặp ác mộng. Con không quan tâm liệu con có liên quan đến máu mủ hay không. Người mẹ của con xin hãy để con sống với ông ấy. Ông ấy sẽ luôn là cha con, người cha tốt nhất của con, người hùng của con.”

Sau lời nói của cô bé, thẩm phán không mất nhiều thời gian để quyết định. Con gái tôi đã ở lại với tôi. Molly la hét, đe dọa và đuổi theo chúng tôi, nhưng chúng tôi không quan tâm.

Chúng tôi đã có nhau.”

– Đây là một câu chuyện có thật.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.\


 

Một người tên Vasili Arkhipov đã cứu cả thế giới

My Lan Pham

Ngày 27 tháng 10 năm 1962 ,ngày mà các sử gia sau này gọi là “Thứ Bảy Đen” , Khủng hoảng Tên lửa Cuba chạm tới điểm nguy hiểm nhất. Quân đội Mỹ và Liên Xô đứng sát bờ vực chiến tranh hạt nhân. Dưới làn nước ấm của vùng Caribe, một tàu ngầm Liên Xô mang số hiệu B-59 bị mắc kẹt, hoàn toàn vô hình với thế giới phía trên.

Bên trong “chiếc quan tài thép” ấy, điều kiện sống đã trở nên không thể chịu đựng. Hệ thống điều hòa đã hỏng nhiều ngày trước trong cái nóng nhiệt đới, nhiệt độ bên trong vượt quá 49°C (120°F). Nhiều người gục xuống vì say nóng. Nồng độ CO₂ tăng dần tới mức chết người. Mỗi hơi thở đều giống như đang chết đuối. Thủy thủ đoàn không nhận được bất kỳ liên lạc nào từ Moscow suốt gần một tuần. Với họ, rất có thể Thế chiến III đã nổ ra rồi.

Rồi những vụ nổ bắt đầu.

Trên mặt nước, 11 tàu khu trục của Hải quân Mỹ đã bao vây tàu ngầm và thả bom chìm. Phía Mỹ xem đó là những “bom chìm huấn luyện” ,phát tín hiệu cảnh cáo để buộc tàu ngầm phải nổi lên. Nhưng phía Liên Xô không hề biết điều đó. Với thủy thủ đoàn B-59, bị mắc kẹt trong bóng tối và cái nóng ngạt thở, mỗi tiếng nổ vang lên như hồi chuông tận thế. Thân tàu rên rỉ. Thiết bị rung bật. Con người bám víu vào bất cứ thứ gì có thể giữ được.

Cuối cùng, Thuyền trưởng Valentin Savitsky không chịu nổi nữa. Kiệt quệ, thiếu oxy, và tin rằng chiến tranh đã bắt đầu, ông gào lên giữa hỗn loạn:

“Có thể chiến tranh đã nổ ra trên kia rồi trong khi chúng ta nhào lộn ở đây! Chúng ta sẽ bắn ngay bây giờ! Chúng ta sẽ chết, nhưng sẽ nhấn chìm tất cả bọn chúng ,chúng ta sẽ không trở thành nỗi nhục của hạm đội!”

Ông ra lệnh chuẩn bị Vũ khí Đặc biệt: một ngư lôi hạt nhân với sức công phá 15 kiloton ,đủ để xóa sổ toàn bộ hạm đội Mỹ phía trên. Nếu phóng đi, Hoa Kỳ sẽ cho rằng chiến tranh hạt nhân đã bắt đầu. Moscow sẽ bị tấn công trong vài giờ. Liên Xô sẽ đáp trả. Hàng trăm triệu người sẽ chết.

Nhưng quy trình của Liên Xô yêu cầu sự đồng thuận tuyệt đối của ba sĩ quan cao cấp nhất trên tàu trước khi phóng vũ khí hạt nhân.

Thuyền trưởng đồng ý.

Chính ủy chính trị đồng ý.

Hai phiếu cho sự hủy diệt.

Rồi họ quay sang người thứ ba.

Vasili Arkhipov ,chỉ huy hải đội và phó chỉ huy của toàn bộ lữ đoàn tàu ngầm ,nắm lá phiếu quyết định. Mọi lập luận đều dẫn tới việc đồng ý. Những vụ nổ là thật. Mối đe dọa là tức thì. Thuyền trưởng ra lệnh. Thủy thủ đoàn đang nhìn vào ông. Đất nước của ông có thể đã bị tấn công. Nói “có” sẽ là điều dễ dàng nhất trên đời.

Arkhipov nhìn những khuôn mặt xung quanh. Ông lắng nghe các tiếng nổ. Ông cảm nhận cái nóng ngạt thở. Và rồi ông nói một từ:

“Không.”

Ông giữ được sự bình tĩnh đến khó tin. Giọng nói vững vàng:

“Đây không phải là tấn công,” ông khẳng định. “Đây là tín hiệu. Là cảnh báo buộc chúng ta nổi lên. Nếu chúng ta phóng vũ khí này, chúng ta sẽ kết thúc thế giới. Chúng ta không thể biết chiến tranh đã bắt đầu hay chưa. Chúng ta phải nổi lên và xác minh.”

Thuyền trưởng bùng nổ giận dữ. Một cuộc cãi vã dữ dội nổ ra trong phòng điều khiển chật hẹp. Sĩ quan tranh cãi. Mọi người la hét. Áp lực khủng khiếp đè nặng. Nhưng Arkhipov từ chối xoay chìa khóa. Không có phiếu của ông, việc phóng là bất khả thi.

Trong những phút dài như hàng giờ, ông kiên định. Rồi ,gần như không thể tin nổi ,ông thuyết phục được thuyền trưởng xem xét lại. Họ sẽ nổi lên. Họ sẽ liên lạc. Họ sẽ xác nhận sự thật trước khi kết liễu nền văn minh.

B-59 trồi lên khỏi làn nước đen và phá vỡ mặt biển. Các tàu khu trục Mỹ lập tức bao quanh. Những khoảnh khắc căng thẳng trôi qua. Nhưng không có tên lửa. Không có tấn công. Không có chiến tranh. Tàu ngầm được hộ tống rời đi. Thủy thủ đoàn trở về nhà. Và thế giới tiếp tục quay ,không hề biết mình đã ở gần bờ vực hủy diệt đến mức nào.

Khi B-59 trở về vùng biển Liên Xô, thủy thủ đoàn phải đối mặt với sự nhục nhã. Họ đã bị phát hiện và buộc phải nổi lên ,một nỗi xấu hổ trong hệ thống quân đội Liên Xô cứng nhắc. Arkhipov sống phần đời còn lại trong vô danh. Ông không tìm kiếm sự ghi công. Ông qua đời lặng lẽ năm 1998, vì phơi nhiễm phóng xạ từ một tai nạn tàu ngầm khác nhiều năm trước. Thế giới không hề biết ông đã làm gì.

Mãi đến năm 2002, khi các hồ sơ Liên Xô được giải mật và một hội nghị tại Havana công bố toàn bộ câu chuyện về B-59. Các quan chức Mỹ lắng nghe trong sự sững sờ, khi nhận ra họ đã ở gần chiến tranh hạt nhân đến mức nào. Thomas Blanton, giám đốc Cơ quan Lưu trữ An ninh Quốc gia, tóm lược di sản của Arkhipov bằng một câu:

“Bài học ở đây là: một người tên Vasili Arkhipov đã cứu cả thế giới.”

Một người. Một từ. Một quyết định được đưa ra dưới áp lực không thể tưởng tượng.

Ông không cứu một thành phố.

Không cứu một quốc gia.

Ông cứu mọi con người đã sống kể từ ngày đó , mọi đứa trẻ, mọi giấc mơ, mọi bình minh, mọi ngày mai.

Arkhipov chứng minh một điều sâu sắc về bản chất con người: lòng dũng cảm thực sự không nằm ở việc bạn bóp cò nhanh đến đâu, mà ở sức mạnh giữ cho bàn tay bạn vững vàng khi mọi thứ xung quanh là hỗn loạn. Ở việc chọn lý trí khi hoảng loạn dường như là điều chính đáng. Ở việc nhận ra rằng có những quyết định quá quan trọng để đưa ra trong cơn giận dữ.

Mỗi hơi thở bạn đã hít vào, mỗi người bạn đã yêu, mỗi khoảnh khắc bạn đã sống ,đều tồn tại vì, vào một buổi chiều ngột ngạt ở Caribe, một người đàn ông mà thế giới chưa từng biết đến đã quyết định rằng nhân loại xứng đáng có thêm một cơ hội nữa.

Theo World’s History

My Lan Phạm


 

Bà mất tất cả, trừ mạng sống – Gerda Weissmann Klein (1924–2022)

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Một người phụ nữ đang hấp hối nói với một người lính rằng cô là người Do Thái.

Câu trả lời chỉ ba chữ của anh đã thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, Volary, Tiệp Khắc.

Cô đứng ở cửa một nhà máy.

Gầy trơ xương. Gần như sắp chết.

Hai mươi tuổi — nhưng không còn trông giống một con người.

Chỉ còn 30 ký.Tóc bạc trắng vì đói. Quần áo rách nát, đầy chấy rận.

Ba năm không được tắm rửa. Sau lưng cô, 119 phụ nữ khác nằm la liệt trên mặt đất, thoi thóp thở.

Họ là những người còn sót lại cuối cùng.

Ba tháng trước đó, 4.000 phụ nữ Do Thái bị ép phải đi bộ. Một cuộc hành quân tử thần từ Đức sang Tiệp Khắc. 560 km giữa mùa đông.

Không áo khoác. Gần như không có thức ăn. Ai ngã xuống — bị bắn chết tại chỗ.

Gerda Weissmann đã chứng kiến 3.880 phụ nữ chết dọc đường.

Bạn thuở nhỏ. Những người xa lạ rồi trở thành chị em.

Tất cả đều chết. Cô vẫn tiếp tục bước đi. Không phải vì cô mạnh hơn.

Không phải vì còn hy vọng. Mà vì trong túi áo cô có một tấm ảnh duy nhất của gia đình. Và chừng nào còn bước tiếp, họ vẫn chưa hoàn toàn biến mất.

Cha mẹ. Anh trai.

Tất cả đều đã bị giết trong các trại tập trung.

Cô là người cuối cùng còn sống. 

Ba năm trước cuộc hành quân, Gerda đã sống sót qua các trại lao động của phát xít Đức. Đói khát. Bệnh tật.Sự tàn bạo không thể diễn tả.

Nhưng cô giữ được một thứ mà Đức quốc xã không thể cướp đi:

Danh tính của mình.

Ngày 7 tháng 5 năm 1945, cô nghe thấy tiếng xe tiến lại.

Lính Mỹ. Một viên trung úy trẻ bước xuống từ chiếc jeep.

Ánh mắt anh chạm vào ánh mắt của cô gái gầy gò, kiệt quệ — trông già hơn tuổi rất nhiều.

Gerda nói bằng tiếng Anh ngập ngừng, câu duy nhất cô có thể thốt ra:

“Chúng tôi là người Do Thái.” Người lính dừng lại. Rồi nói hai chữ:

“Tôi cũng vậy.”

Anh tên là Kurt Klein.

Một người Do Thái gốc Đức, đã chạy sang Mỹ năm 1937.

Anh gia nhập quân đội Mỹ để chiến đấu chống lại chế độ đã phá hủy thế giới của mình.

Và giờ đây, anh đứng trước mặt một cô gái đang hấp hối.

Điều Kurt làm tiếp theo, Gerda sẽ nhớ suốt 77 năm.

Anh giữ cửa cho cô. Một cử chỉ rất nhỏ.

Nhưng là điều cô chưa từng được cảm nhận từ năm mười lăm tuổi.

Phẩm giá. Sự tôn trọng. Tính người.

Sau này Kurt nói:

“Cô ấy bước về phía tôi, và tôi đã gặp người vĩ đại nhất mà tôi từng biết.”

Trong những tuần tiếp theo, anh giúp chăm sóc các nạn nhân sống sót.

Anh và Gerda trò chuyện.

Giữa cái chết, sự tàn phá, nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng…

một điều bất ngờ đã xảy ra. Sự kết nối. Sau khi Kurt được điều đi nơi khác, họ viết thư cho nhau.

Lời nói thành cảm xúc. Cảm xúc thành sự chắc chắn. Ngày 18 tháng 6 năm 1946, Paris.

Họ kết hôn.

Họ chuyển đến Buffalo, New York. Kurt đi làm. Gerda nuôi ba đứa con.

Họ xây dựng một cuộc đời từ tro tàn.

Nhưng Gerda không thể quên 3.880 người còn lại.

Năm 1957, bà xuất bản hồi ký: All But My Life — Mất tất cả, trừ mạng sống.

Cái tên đã nói lên tất cả.

Đức quốc xã đã lấy đi gia đình bà.

Tuổi thơ. Sức khỏe. Quá khứ.

Nhưng không lấy được mạng sống.

Cuốn sách trở thành một tư liệu quan trọng về Holocaust.

Được giảng dạy ở trường học, đại học.

Hàng triệu người đọc. Gerda trở thành tiếng nói cho những người không còn tiếng nói.

Bà đi khắp nơi nói chuyện. Không mệt mỏi. Suốt nhiều thập kỷ.

Thông điệp của bà không bao giờ thay đổi:

Hãy nhớ. Hãy lên tiếng trước thù hận. Hãy bảo vệ tự do — mong manh.

Hãy chọn phẩm giá và lòng trắc ẩn.

Năm 1995, bộ phim tài liệu One Survivor Remembers đoạt giải Oscar.

Năm 2010, Tổng thống Obama trao cho bà Huân chương Tự do Tổng thống.

Kurt qua đời năm 2002. Họ có 56 năm hôn nhân.

Gerda tiếp tục một mình.

Tiếp tục nói. Tiếp tục dạy. Tiếp tục nhắc thế giới phải nhớ.

Cho đến ngày 3 tháng 4 năm 2022.

Bà 97 tuổi.

Bà đã sống sót qua điều tưởng như không thể sống sót.

Biến chấn thương thành chứng nhân.

Biến nỗi đau thành mục đích sống.

Và tất cả bắt đầu từ hai chữ:

“Tôi cũng vậy.”

Một người lính giữ cửa cho một cô gái đang hấp hối.

Rồi dành 56 năm sau đó để tiếp tục giữ cửa cho cô — cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Họ không chỉ sống sót sau Holocaust.

Họ đã chiến thắng nó. Không phải bằng cách quên đi. Mà bằng cách ghi nhớ.

Và xây dựng một cuộc đời có ý nghĩa từ đống đổ nát của diệt chủng.

4.000 phụ nữ bắt đầu cuộc hành quân vào tháng 1 năm 1945.

120 người sống đến tháng 5.

Gerda dành 77 năm để tưởng nhớ 3.880 người không sống sót.

Đó không chỉ là sống sót.

Đó là biến bi kịch thành mục đích.

Biến điều tồi tệ nhất của loài người thành cuộc đấu tranh cho điều tốt đẹp nhất.

Bà đã ra đi. Nhưng tiếng nói của bà còn đó. Lời chứng của bà còn đó.

Và lời nhắc của bà vẫn còn: Hãy nhớ. Đừng bao giờ quên.

Không bao giờ tái diễn nữa.

Gerda Weissmann Klein (1924–2022)

Bà mất tất cả, trừ mạng sống. Và rồi bà dành chính mạng sống ấy cho những người đã mất. Và chúng ta sẽ nhớ.

Bởi sau tất cả những gì bà đã sống sót, và tất cả những gì bà đã trao lại cho nhân loại, đó là điều tối thiểu chúng ta phải làm.

TG Văn Chương

#anhchiquandiemcanhan


 

Biển không nói – HỒI KÝ THUYỀN NHÂN !

Biển không nói

Thuyền nhân !

Hồi ký này không được viết để kể lại một chuyến đi, mà để ghi nhận những gì đã không thể trở về cùng người sống sót.

Những trang sau không tìm kiếm sự cảm thông, không yêu cầu phán xét, và cũng không mong được tha thứ.

Chúng chỉ tồn tại vì có những điều đã xảy ra ngoài khơi xa, nơi luật pháp không với tới, và sự im lặng đã kéo dài quá lâu.

Nếu còn điều gì cần nói, thì chỉ một điều này:

Biển không nói.

Nhưng con người thì phải nhớ.

HỒI KÝ THUYỀN NHÂN

Tôi rời bến vào một buổi sáng không gió.

Nước sông đục, mùi bùn và dầu máy quyện vào nhau như một lời tiễn biệt không ai nói ra. Tôi không quay đầu. Không ai trong chúng tôi quay đầu. Quay lại để làm gì, khi phía sau đã khép lại bằng sợ hãi, và phía trước, dù là biển, vẫn còn một chữ “sống” mỏng manh để bám.

Con thuyền nhỏ hơn tôi tưởng. Người thì nhiều hơn. Chúng tôi ngồi ép vào nhau, vai chạm vai, đầu gối chạm đầu gối, nhưng ai cũng cô độc theo cách riêng. Có người ôm một túi gạo như ôm sinh mạng. Có người nắm chặt tay con, như thể chỉ cần buông ra là đứa trẻ sẽ rơi khỏi đời này.

Những ngày đầu, biển hiền. Sóng nhỏ. Trời cao. Chúng tôi chia nhau từng ngụm nước, từng miếng bánh khô. Mỗi sáng mặt trời lên, tôi tự nhủ: thêm một ngày. Đến đêm, tôi lại tự nhủ: chưa chết. Chỉ cần hai câu đó là đủ để đi tiếp.

Rồi nước cạn.

Rồi người bắt đầu lả đi.

Rồi hải tặc đến.

Biển đêm hôm đó lặng đến lạ kỳ. Chúng tôi, những con người xa lạ gom góp niềm tin vào một chiếc ghe nhỏ, nhìn về phía chân trời với hy vọng đổi đời. Thế nhưng, hy vọng ấy vụt tắt khi một chiếc tàu lạ vọt tới.

Dưới ánh đèn pha quét qua quét lại như mắt quỷ, những gương mặt đen sạm, tay lăm lăm vũ khí nhảy xổ lên tàu. Lúc đó, biển không còn là mẹ hiền nữa, biển trở thành một hố đen sâu thẳm sẵn sàng nuốt chửng lấy chúng tôi.

Không có cảnh hỗn loạn như trong phim. Chỉ là một chiếc tàu xuất hiện quá nhanh, tiếng máy nổ đột ngột xé toạc sự im lặng mà chúng tôi đã quen. Họ bước lên thuyền như bước vào chỗ của mình. Ánh mắt họ lướt qua từng người, không tò mò, không do dự. Tôi hiểu ngay lúc đó: chúng tôi không phải là con người trong mắt họ.

Tôi bị chọn.

Không vì lý do gì đặc biệt.

Chỉ vì tôi còn trẻ.

Khoảnh khắc rời con thuyền cũ, tôi nhớ rất rõ bàn tay một người đàn bà khác nắm lấy tay tôi rồi buông ra. Không ai nói gì. Trên biển, lời nói là thứ xa xỉ. Chúng tôi học cách im lặng để sống.

Những ngày sau đó, thời gian mất hình dạng. Tôi không còn đếm ngày. Tôi đếm nhịp thở. Tôi tồn tại như một cái bóng, làm mọi thứ chỉ để tránh điều tệ hơn. Tôi học được rằng cơ thể có thể chịu đựng rất nhiều, nhưng tâm trí thì không quên. Nó ghi lại mọi thứ, lặng lẽ, để dành cho những năm sau.

Khi họ trả tôi về, không có lời giải thích. Tôi trở lại con thuyền cũ như một người khác. Không ai hỏi. Tôi cũng không kể. Chúng tôi nhìn nhau bằng một thứ ánh mắt mà chỉ những người đã đi qua biển mới hiểu: đừng mở ra. Có những chuyện, nếu mở ra giữa đại dương, thì tất cả sẽ chìm.

Chúng tôi trôi thêm nhiều ngày nữa. Có người chết. Có người được thủy táng , thả xuống nước, không kèn không trống. Biển nhận người rất nhanh. Nhanh đến mức đáng sợ.

Khi con tàu cứu hộ xuất hiện ở phía chân trời, tôi đã không khóc nổi. Nước mắt đã cạn khô từ những ngày lênh đênh trên “vùng biển chết”. Tôi hiểu rằng, mình vừa từ cõi chết trở về, mang theo những vết sẹo không bao giờ mờ trong tâm khảm.

Cuối cùng, chúng tôi đến được bờ. Đất liền dưới chân tôi không vững như tôi tưởng. Tôi run. Không phải vì mệt, mà vì cơ thể không còn biết thế nào là an toàn.

Ở trại tị nạn, người ta phát cho tôi một con số. Hỏi tôi vài câu. Ghi chép. Họ hỏi tôi có bị làm hại không. Tôi gật đầu. Chỉ vậy. Tôi không có từ ngữ để giải thích, và tôi cũng không muốn giải thích. Có những điều, khi nói ra, người nói sẽ phải sống lại thêm một lần nữa.

Những năm sau đó, tôi định cư. Tôi học ngôn ngữ mới. Tôi đi làm. Tôi lập gia đình. Tôi sinh con. Bề ngoài, đời tôi giống như rất nhiều đời khác: cần cù, lặng lẽ, không gây chú ý. Nhưng bên trong, tôi luôn mang theo biển.

Biển theo tôi vào giấc ngủ.

Vào mùi nước mặn khi rửa cá.

Vào tiếng máy tàu nghe thấy từ rất xa.

Có những đêm tôi thức giấc, tim đập nhanh, cơ thể co lại như đang ở trên boong tàu cũ. Tôi phải chạm tay vào tường, vào sàn nhà, để nhắc mình rằng tôi đang ở đây, trên đất liền, an toàn. An toàn, một khái niệm tôi mất rất lâu mới dám tin.

Tôi không kể chuyện này cho con tôi. Tôi không muốn biển đi theo nó. Nhưng tôi viết ra đây, vì nếu tôi không viết, thì những gì đã xảy ra sẽ chỉ còn tồn tại trong im lặng. Và im lặng, tôi đã hiểu, là thứ đã che chở cho tội ác quá lâu.

Tôi không cần được thương hại.

Tôi chỉ cần được ghi nhận.

Chúng tôi đã vượt biển không phải để trở thành nạn nhân trong ký ức người khác, mà để sống. Nhưng cái giá của việc sống sót, có những người phải trả suốt cả đời.

Nếu bạn đọc đến đây, xin nhớ một điều:

chúng tôi không phải là con số.

không phải là chú thích lịch sử. chúng tôi là những người đã mang biển vào trong người, và vẫn phải học cách sống tiếp, trên đất liền.

Tôi đã đi qua biển.

Biển không nói gì.

Những điều mất đi

không trở lại cùng tôi.

Tôi còn sống.

Chỉ vậy thôi.

Phạm Sơn Liêm. Từ FB Lamkim Trong


 

Út ơi! – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Xe ngựa – và em không còn ngồi sau lưng tôi nữa .

Ở cái xứ miệt vườn Cái Bè, người ta nhớ nhau bằng nhiều thứ: một câu hò buồn giữa buổi chiều sông vắng, một ánh đèn dầu leo lét trên ghe chài khuya, hay… tiếng xe ngựa lóc cóc lăn bánh trên đường đất đỏ mỗi sáng tinh mơ.

Còn tôi – tôi nhớ một người qua cái thùng xe gỗ ọp ẹp mà tôi đã cặm cụi đánh hàng ngày: “Tui đánh xe ngựa.”

Không sang, không hào nhoáng. Nhưng chiếc xe ngựa của tôi từng là… cả bầu trời của một người con gái. Út ơi!

Mỗi sáng, em đi học trên xe tôi. Ngồi phía sau, em hay cười, hay nói, đôi khi ngồi im nhìn nắng rơi qua kẽ lá.

Em đi xe ngựa của tui mỗi ngày đi học. Tôi chẳng dám nói thương em. Chỉ lặng lẽ vỗ về chú ngựa già, mong cho đường dài bớt xóc, cho em ngồi êm hơn chút. Mỗi khúc cua là tim tôi khẽ nghiêng theo chiếc áo dài trắng bay trong gió.

Rồi có ngày, em thôi học, áo dài cất lại trong rương quần áo cũ thời con gái; mái tóc thắt bím không còn nữa. Người ta nói ba má em gả em lấy chồng xa – cho một tay giàu có ở miệt sông Cổ Chiên

“Em thôi học đi lấy chồng.” Đám cưới em, nhà trai thuê nguyên đoàn xe nga, 8 chiếc, rước dâu về tận xứ.

Chồng em mướn xe ngựa để rước dâu. Người ta chọn xe tôi để chở em, vì xe tôi “chạy êm”, “không xóc”, và… có mui lợp lá dừa khô đẹp và thơ.

Mà đâu ai biết chính tôi là người chở em vu quy**.

Tôi cầm cương, mặc áo bà ba sạch sẽ nhất, cột khăn rằn, để khỏi ai thấy nước mắt của tôi.

Phía sau, em ngồi e ấp, áo dài đỏ, đội mấn, miệng mỉm cười mà mắt thì ngó lơ.

Người ta nhìn cảnh đó, chắc nghĩ tôi “may mắn được làm xà ích chính”. Nhưng chỉ tôi biết, hôm đó xe ngựa chạy lạng quạng, vì nước mắt rớt lăn trên tay cầm roi ngựa…

Chiếc xe ngựa– cái vật vô tri mà biết bao nhiêu chuyện đời đã từng lăn qua thùng xe ấy.

Đám cưới xưa ở Miền Tây – ảnh vnexpress

Nó có thể chở rau, chở trái cây ra chợ quận. Nhưng cũng chở luôn cả những mối tình không trọn vẹn! Út ơi

Xe ngựa không ồn ào như xe lam, không bon chen như xe đò. Nó chậm rãi, thủng thẳng, chân chất như người miền Nam xưa nay vậy. Nó đi qua sông, qua ruộng, qua xóm, qua nhà em… và đi qua luôn tuổi trẻ, thời tình mộng của tôi

Ngày trước, người Pháp thấy xe ngựa mình chạy ở Bến Thành thì kêu là *boîte d’allumettes* – “hộp quẹt diêm”, vì nhỏ nhỏ xinh xinh. Người Tàu gọi là “thu ma”, rồi dân mình đọc trại thành “thổ mộ”. Còn tôi – tôi gọi đơn giản: “cái xe chở người mình thương đi học mỗi ngày.”

Chiếc xe ngựa ấy có hai bánh căm xe, niềng sắt rỉ sét, mui phủ lá dừa khô, cái thùng bên trong lót chiếu bông. Ngoài xe là hai thanh gỗ nhỏ để buộc đồ. Có hôm, tôi chở năm sáu đứa nhỏ đi học, tụi nó cười giòn tan như chuông chùa bị gió lắc.

Xe ngựa đi chậm, nên người trên xe có thể ngó đồng lúa đang trổ bông, ngó sông nước lặng lờ, ngó lưng người gánh nước, hoặc… ngó nhau một chút rồi thương.

Xe ngựa ở Bến Thành kêu là “boite d’allumettes” thời Pháp – ảnh tư liệu

Nhưng xe chậm thì người ta cũng dễ bỏ lắm. Thời đại bây giờ là xe hơi, “ô tô hí” ai kể số gì? Ai mà còn nhớ đến mấy chiếc bánh gỗ kêu lạch cạch đâu?

Giờ đây, tôi không còn đánh xe nữa. Con ngựa già chết năm rồi, tôi đem chôn sau vườn, không ai chịu mướn xe đi chợ nữa.

Chỉ còn vài chỗ ở Mỹ Tho, Cái Bè còn cho xe ngựa chạy cho khách du lịch. Nhưng đó không phải xe ngựa ngày xưa. Đó là xe cho người không biết chiếc thùng xe từng là chỗ tôi chở thương yêu – rồi tiễn biệt thương yêu.

Tôi nghe nói em bây giờ theo chồng qua Melbourne ở xa xa lắm. Tuốt bên kia biển. Nhà chồng em sang, cửa kính, sáng đèn. Em có con, có xe hơi, có đời sống không còn dính dáng gì tới con ngựa lông vàng, xe bánh gỗ và người đánh xe nghèo năm cũ
Nhưng tôi không giận gì em. Vì trong đời, có người đi qua tim mình, để lại tiếng vó ngựa chạm đất – thế là đủ.

Xe ngựa – và mối tình không cần bánh xe quay lại.

Một thời lóc cóc, một thời lặng thinh…để chỉ biết yêu em! Út ơi!

DXT

From: Helen Huong Nguyen


 

Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80

Nguyễn Tuấn

 Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80.

Không ai biết chính xác ngày anh mất. Vì vậy, Ba Má tôi lấy ngày anh lên ghe rời Việt Nam làm ngày giỗ. Hôm nay là ngày giỗ thứ 45.

Anh Hai tôi từng là ngôi sao sáng chói trong đại gia đình về học hành. Anh là người đầu tiên trong làng đậu tú tài toàn phần, rồi tốt nghiệp kỹ sư hóa học. Trong họ hàng, còn có một người nữa cũng thi đậu tú tài toàn phần – em họ tôi (gái) – nhưng theo quan niệm truyền thống thời ấy, con gái không được khuyến khích lên đại học.

Thập niên 1960-1970, chỉ khoảng 10-15% học sinh trung học thi đậu tú tài toàn phần, và chỉ 5-10% thí sinh dự thi đại học được tuyển. Hệ thống giáo dục lúc đó mang tính “elite”, chỉ dành cho những người thật sự xuất sắc. Vì vậy, ai đậu đại học là niềm tự hào lớn lao cho cả gia đình và làng xóm.

Sau ngày 30/4/1975, anh Hai làm việc kiểm nghiệm ở một công ty quốc doanh một thời gian ngắn rồi nghỉ. Không ai hỏi lý do, nhưng tôi đoán anh không chịu nổi môi trường mới.

Anh về quê sống với ngoại. Khác với tôi và anh Ba, những người có thể làm ruộng, cày cuốc, anh Hai chỉ quen cuộc sống thành thị, chưa bao giờ đụng tay vào việc đồng áng.

Người ta gọi anh là “công tử bột”. Vẫn còn xe Honda, ăn mặc bảnh bao (thời đó dễ bị gắn mác “tiểu tư sản”). Ngoại tôi rất thương anh, nên anh được đặc quyền trong ngôi nhà cũ kỹ đó. Anh thường lái Honda ra Rạch Giá cà phê, cà pháo với bạn bè cùng cảnh ngộ. Tôi cũng hay gặp anh ở đó.

Những buổi cà phê ấy thực ra là để anh tìm đường vượt biên. Một hôm, anh chủ động gặp tôi, nói sắp đi, rồi hỏi thẳng: “Mày đi hông?”

Tôi hơi sốc. Lúc đó tôi còn đầy lý tưởng lắm, tin rằng đất nước rồi sẽ ổn, nên chưa nghĩ đến chuyện ra đi. Có lần anh Hai tôi giới thiệu với bạn bè bằng giọng nói sốc: ‘thằng này nó là em tao, nhưng nó tả khuynh lắm’.

Tôi đã chứng kiến nhiều bạn bè từ Sài Gòn về Rạch Giá tìm đường vượt biên. Ở chỗ làm, hễ ai mất tích vài ngày là biết ngay họ đã “đi”. Có người thoát được, đến Đông Nam Á rồi Mỹ, gởi thư về báo tin vui. Nhưng cũng không ít bị bắt, giam ở các trại vùng U Minh Thượng. Một số được thả sau vài tháng, rồi lại tìm cách đi tiếp. Tôi có bạn bị bắt tới bảy lần!

Thấy tôi im lặng, anh Hai nói: “Vậy là mày không đi?” Rồi anh giao cho tôi chiếc xe Honda và đồng hồ Seiko, dặn về báo Ba Má rằng anh đã quyết định đi. Chính vì những món đồ ấy mà sau này tôi bị đồng nghiệp “kiểm điểm” đủ kiểu, “lên bờ xuống ruộng” đến mức không chịu nổi, cuối cùng cũng ra đi.

Không ngờ đó là lần cuối chúng tôi gặp nhau.

Anh Hai đi trên một chiếc tàu đánh cá nhỏ, do ông già vợ tương lai của anh làm chủ. Ông là người có hơn 30 năm kinh nghiệm đi biển, tự hào là “nhắm mắt cũng lái từ ngoài khơi về bến Rạch Giá”. Chuyến đi chỉ vỏn vẹn 20 người, toàn thân nhân bên vợ tương lai của anh. Tôi không biết chính xác ngày khởi hành, nhưng thằng em họ tôi nói là ngày 12/2/1981.

Cả 20 người đều mất tích.

Mất tích trên biển đồng nghĩa với việc họ đã ra đi mãi mãi. Nhưng nguyên nhân thì không ai hay: tai nạn chìm tàu? Bão tố? Hay cướp biển? Má tôi từng mời “thầy” về xem ngày giờ, nhưng tất cả đều vô vọng. Mỗi lần nhắc đến anh Hai, Má lại khóc.

Anh Hai tôi có lẽ đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng Biển Đông, cùng với hàng trăm ngàn người Việt khác trong thập niên 1970-1980. Theo thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), từ 1975 đến 1995, khoảng 800.000 người Việt vượt biên bằng đường biển và đến được nơi an toàn. Ước tính số người bỏ mạng trên biển dao động từ 200.000 đến 400.000, một con số đau lòng, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số người ra đi.

Những con số đó cũng là một chương sử buồn của dân tộc, dù chưa từng được đề cập chánh thức trong sách vở.

Họ ra đi vì khát khao tự do mới, vì không chịu nổi hoàn cảnh mới. Rất rất nhiều người đã không bao giờ chạm được đến “miền đất hứa”. Trong số ấy có anh Hai tôi, một người tài hoa, một người anh mà tôi mãi mãi nhớ.

Ngày giỗ năm nay, gia đình lại quây quần bên bàn thờ. Mấy đứa em thắp nhang, kể chuyện xưa, và lặng lẽ tưởng nhớ một cuộc đời dang dở giữa biển khơi mênh mông. Anh Hai ơi, nếu có kiếp sau, mong anh được bình yên.


 

BỨC THƯ CỦA MỘT BÀ MẸ TỪ VIỆN DƯỠNG LÃO

Xuyên Sơn

Năm nay tôi 82 tuổi, tôi có 4 người con, 11 đứa cháu, và 2 chắt, hiện tại thì tôi đang sống trong một căn phòng rộng chừng 12m vuông..

Bây giờ nhà cửa không còn, những thứ xa hoa phù phiếm cũng không có, bù lại tôi được chăm sóc tận tình từ A đến Z; có người lo dọn dẹp phòng, chăn drap gối nệm sạch sẽ, cơm nước được lo tận nơi, mỗi ngày được đo huyết áp và cân đo thường xuyên, nói chung tôi không làm gì cả, mỗi giờ trôi đi là sự hưởng thụ trong tuổi già.

Tôi rất nhớ! Nhớ tiếng cười đùa của lũ cháu, tôi không còn thấy chúng lớn tiếng cãi vã rồi vật nhau.

Không còn được là trọng tài để phán xử đứa nào đúng, đứa nào sai.

Nhớ chúng nhiều lắm.

Tôi thèm được trở về nơi chốn cũ để tận hưởng không gian ấm áp của một thứ gọi là gia đình…

Bây giờ các con tôi, có đứa thì cách 15 ngày đến thăm tôi một lần, có đứa thì ba bốn tháng mới thấy chúng một lần, và có đứa thì chưa thấy mặt nó một lần kể từ khi tôi đến ở Viện Dưỡng Lão này.

Tôi nhớ da diết căn bếp ấm cúng của tôi, nơi đó tôi đã làm đủ các loại bánh, mùi bánh nướng thơm ngậy vẫn còn lưu giữ trong tiềm thức của tôi.

À, còn mảnh vườn sau nhà nữa, đào xới đất để trồng rau, trồng hoa cũng một tay tôi dù lúc đó tôi cũng không còn khoẻ.

Giờ thì mất hết rồi!

Tôi có sở thích đọc sách, giờ vẫn luôn có cuốn sách bên mình nhưng tôi không đọc được vì mắt đã mờ…

Tôi không biết thời gian của tôi còn bao lâu nữa, còn bao lâu thì tôi cũng phải sống trong sự cô đơn và chờ đợi…

Ở căn phòng này xem như ngôi nhà cuối đời của mình, tôi cố gắng xua đuổi nỗi buồn trong sinh hoạt hằng ngày, tôi như một nhóm trưởng,

tôi giúp những người tồi tệ hơn tôi trong giới hạn cho phép của tôi qua những mẫu chuyện vui trong sách, những lời an ủi cho họ và cho chính tôi.

Chúng tôi hát cùng nhau một bài hát cũ, và hôm sau tôi biết được người bạn phòng bên đã ra đi mãi mãi…

Họ nói bây giờ tuổi thọ kéo dài hơn.

Tại sao?

Tôi phải sống trong nỗi cô đơn dài nữa ư?

Lấp đầy sự trống trải bằng cuốn Album hình mà tôi đem theo đến đây. Hình cưới ngày xưa của tôi, hình lúc tôi sanh đứa đầu đến đứa cuối, hình tôi cười sung sướng khi ẵm đứa cháu đầu lòng, rồi đứa chắt bụ bẫm bên bà già đã đầy nếp nhăn.

Hình gia đình đầy đủ, hình lúc ông chồng già của tôi bỏ tôi đi mà về với Chúa.

Và đó là tất cả!

Nếu được mơ ước thì tôi mong các con, cháu, chắt của tôi đừng bao giờ quên hai chữ “GIA ĐÌNH” ngay cả khi cha mẹ về già, các con nên xem đó là bổn phận phải chăm lo khi họ không tự lo được cho mình…

Tôi hy vọng các thế hệ tiếp theo sẽ hiểu rằng Gia Đình là một Đại Gia Đình gồm nhiều thế hệ, gọi là sóng sau dồn sóng trước, như một chu kỳ tuần hoàn vì ai rồi cũng đến “sanh lão bệnh tử”…

Các con hãy chăm lo tốt cho cha mẹ khi họ về già… cũng giống như khi họ còn trẻ lo cho các con là chúng ta vậy…

Chi Nguyen sưu tầm

Ảnh st minh họa cho bài.