Nhật ký một bạn tù! – Bác sĩ Phùng Văn Hạnh – Truyen ngan HAY

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Tôi quen biết cả hai vợ chồng anh Nam. Gia đình chị Nam là nạn nhân của cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Cha chị, anh Khoa, là bạn học của tôi ở trưởng tiểu học xã. Lúc tôi làm việc ở Bệnh viện Đà-Nẵng, thì anh là xã trưởng xã Giao Hòa, gần quê tôi. Cha anh bị liệt vào hàng phú nông, đã bị du kích VC ở xã chôn sống, thời chống Pháp, chỉ vì ông chỉ trích biện pháp “tiêu thổ kháng chiến” trong đám giỗ gia đình ông. Người chỉ huy vụ thủ tiêu ông, là cháu kêu ông bằng bác, tên Cội. Cái “giỏi” của Cộng sản, là có thể khơi dậy ở người cháu lòng căm thù, để giết bác ruột. Khoa, lúc ấy, cũng là du kích, chứng kiến cái chết thê thảm của cha, mà không làm gì được. Sau đó, anh lẻn ra vùng Quốc Gia, và thề trả thù cho cha. Anh đã dẫn lính Bảo An, trong đêm tối phục kích tiểu đội du kích VC ở xã, và giết chết Cội. Thời Đệ nhị Cộng Hòa, xã Giao Hòa nằm trong vùng tranh chấp. Ban ngày, Khoa cùng Địa Phương Quân về đóng trong làng, ban đêm rút về quận. Con của Cội, lúc ấy, là “chủ tịch xã” (VC) ban đêm thường hay lẻn về đe dọa dân chúng, và thâu lúa gạo của dân.

Tết Mậu Thân, 1968, con của Cội cùng “bộ đội” miền Bắc đột nhập quận, bắt được Khoa. Chúng dẫn Khoa về làng Giao Hòa, họp dân chúng lại, mở “tòa án nhân dân” xử Khoa, chúng hành hạ Khoa rất tàn nhẫn trước khi giết chết. Chị Khoa, vận đồ tang, về làng xin xác chồng đem về chôn tại quận. Bọn Cộng sản đã không cho, lại giết chết luôn chị Khoa, chỉ vì quá uất hận, chị đã thốt lên những lời mỉa mai trong khi khóc lóc trước mộ chồng.

Hai vợ chồng Khoa chỉ có một cháu gái tên Thu, lúc ấy mới 10 tuổi. Thu bơ vơ được ông Quận trưởng Đại Lộc, Quảng Nam, nhận về nuôi cho đi học. Nam cùng quê với tôi. Cha chết sớm, vì ăn phải nấm độc, trong nạn đói thời “kháng chiến chống Pháp”. Mẹ Nam ở vậy nuôi con. Khi đồng quê mất an ninh, bà ra Đà-Nẵng giúp việc trong nhà cho tôi. Nam đậu Tú tài, vào học trường Nông Lâm Súc. Ra trường, thì bị động viên vào trường Võ Bị Thủ Đức. Nam được chọn đi học khóa Tâm Lý Chiến, rồi về phục vị tại sư đoàn 1. Ông quận trưởng, cha nuôi Thu nay là Đại tá Trung đoàn trưởng, cấp trên của Nam. Thấy Nam chăm chỉ, hiền lành, ông đã cố ý tạo cơ hội cho Nam và Thu gần nhau, hiểu nhau. Đám cưới hai người do tôi tổ chức vào cuối năm 1974. Hai vợ chồng ông Đại tá không có con, lại có căn nhà lớn ở Đà-Nẵng, nên đôi tân hôn sống chung với ông bà.

Cuối năm 1978, Sĩ quan trại tù Kỳ Sơn chuyển lên trại “cải tạo” Tiên Lãnh. Trước đó mấy ngày, tù chính trị và phần lớn các đội lưu động chuyển đi “trại thôn Năm”, để chỗ cho “trại viên” mới. Một chiều ảm đạm, các trại viên cũ đều bị nhốt lại trong phòng, cửa sổ đóng kín. Nghe tiếng máy nhiều xe cam nhông đổ lại trước cổng trại. Tôi lúc ấy làm y tế trại, được lệnh ra nhận thuốc Tây mà các vị Sĩ quan mang theo, để nhập vảo tủ thuốc ký gửi. Các “cán bộ” trại đang ráo riết lục soát “trại viên” mới. Từng đống áo quần treillis, giày da đi trận, xắc đeo lưng bị tịch thu. Đồng hồ, bút máy, nhẫn đeo tay, tiền giấy phải đem ký gửi. Mỗi người nhận lại hai bộ đồ vải màu xám với một ít dồ dùng cá nhân. Công an đã đánh phủ đầu bằng cách lột sạch di tích tù binh, và nhắc nhở một kỷ nguyên thường phạm khắc nghiệt bắt đầu. Tôi gặp lại Nam, nhìn nhau mà không dám nói một lời. Vài tháng sau, Nam được ra làm chăn nuôi, nhờ có bằng kỷ sư Nông lâm súc. Lúc đầu chỉ ra chăn nuôi ban ngày. Ban đêm phải trở về ngủ chung trong phòng giam. Nam vốn ít nói và hiền lành, lại cứu được nhiều gia súc trong một nạn dịch, nên được “quản giáo” chăn nuôi dần dần tín nhiệm, đưa ra ở hẳn trong trại chăn nuôi. Thường ngày Nam dẫn một đàn bò độ 30 con, đi ăn trên những đồng cỏ quanh trại. Tuy không có thăm nuôi, song Nam không thiếu thốn nhiều về ăn uống. Nhờ lang thang với bầy bò, Nam có dịp “cải thiện” bằng cách bẫy chim và thú rừng, đào sắn. Anh cũng trồng rau, bầu bí quanh khu chăn nuôi. Mỗi khi bò đẻ, Nam lấy nhau nấu ăn. Nam cũng hay cho tôi đồ “cải thiện” mỗi khi có dịp vào trại khám bệnh.

Một lần đi đỡ đẻ cho một sản phụ ở bệnh xá dân, tôi có dịp đi ngang qua gò đất mà Nam hay đem bò ra đó gặm cỏ. Đỉnh gò có một miếu hoang, tường gạch, mái ngói, song mang dấu tàn phá của thời gian. Miếu nằm trọn vẹn dưới bóng mát của một cây đa to lớn, có nhiều rễ phụ. Bên cạnh miếu có một nghĩa địa nhỏ. Nam cho biết là có quen một giáo viên chế độ cũ (VNCH), bị đày lên dạy ở trường tiểu học gần đó. Anh nầy thường gửi thư giúp Nam qua bưu điện, khỏi sự “kiểm duyệt” của trại. Nam dẫn tôi vào miếu và chỉ chỗ kín, để khi nào có dịp ghé qua, mà không có Nam, thì giấu thư vào đấy, và Nam sẽ gửi đi giúp. Tôi đã dùng lối nầy gửi thư về nhà vài lần cho đến khi Nam được phóng thích.

Nam ra trại được hai năm, thì bỗng một hôm, nghe nói có một “trại viên” cũ, treo cổ chết ở một cây đa ngoài trai. Lúc ấy, tôi không còn làm y tế nữa, không có dịp để kiểm chứng người chết là ai, song tôi vẫn ngờ ngợ người ấy là Nam. Cho đến khi tôi dược phóng thích. Tôi trở lại chỗ miếu hoang; vào chỗ kín mà trước kia tôi giấu thơ cho Nam gửi về nhà, xem thử. Nếu quả thật Nam đã trở lại đây tự tử, chắc Nam sẽ để lại cho tôi một lá thư tuyệt mệnh. Nam để lại cho tôi không những một lá thư, mà cả một tập nhật ký, viết trên những tờ giấy rời. Kể từ lúc Nam chết cho đến giờ đã năm năm rồi. Tập nhật ký bị mối mọt đục nhiều chỗ, phải dồn vào một bao nylon. Tôi trở ra, đứng dưới gốc cây đa, xem thử Nam đã treo cổ ở cành nào. Lá đa xanh nghít, xào xạc. Dưới chân đồi con sông lượn khúc, khói lam quyện vào mái tranh một căn nhà ven sông, vươn lên bầu trời xanh thẳm. Nam đã chọn chỗ để an giấc nghìn thu. Mộ Nam là một nấm đất nhỏ, cỏ mọc lưa thưa, trong nghĩa địa cạnh miếu. Một tấm bảng gỗ mang tên họ Nam cùng với ngày tháng chết cắm ở chân mộ. tôi quỳ xuống cầu nguyện cho Nam, mặc dù lúc sống, Nam là một Phật tử. Đang lúc suy tư, tôi nghe tiếng chân đạp trên lá sau lưng. Tôi quay lại, thì một trung niên bước tới giới thiệu. Hóa ra là ông giáo viên tiểu học, thường chuyển thư cho Nam ngày xưa. Ông với Nam đã thành bạn thân. Chính ông đã nhận là bà con với nam và xin với xã được chôn cất Nam trong nghĩa địa bên miếu. Ông kể là Nam đã ở lại nhà ông một đêm. Sáng ra Nam lên đồi và không trở lại nữa. Nam còn cẩn thận gửi cho ông giữ một số tiền vừa đủ để chôn cất Nam, trước khi ra đi. Ông cũng chôn theo Nam lon gô mà Nam đeo trên vai, bên ngoài có ghi: “tro của em yêu dấu”. Tôi cám ơn tấm thịnh tình của ông. Về Saigon, tôi giở nhật ký Nam ra xem:

“02-09-79. Hôm nay “quốc khánh XHCN”. Trước kia, miền Nam không có ngày lễ nầy, vì phe Quốc Gia mặc nhiên xem ngày đó là trò hề, khởi đầu cho “cách mạng vô sản quốc tế”, loại bỏ dần dần mọi tham gia của người yêu nước thuần tuý không Cộng Sản. Tất cả trại viên” đều được nghỉ lao động. Riêng chăn nuôi, thì phải dẫn bò đi ăn. Nằm dưới gốc cây đa, thấy những lá non gió đẩy đung đưa trên nền trời xanh, lại nhớ bài thơ:của Huy Cận

“Nằm im dưới gốc cây tơ,

Nhìn Xuân trải nhựa muôn tờ lá non:

Giữa trời hình lá con con,

Trời xa sắc biển lá thon mình thuyền.

Gió qua là gió triều lên,

Hây hây gió đẩy thuyền lên biển trời.

Chở hồn lên tận chơi vơi,

Muôn chèo của nhạc, muôn lời của thơ.

Bâng khuâng như thể bao giờ,

Lênh đênh nào biết bến bờ là đâu!”

“Cuộc đời có lắm buồn phiền, là bể khổ. Có những phút phiêu diêu như thế này, để quên thân phận tù đày. Vẫn nhớ Thu không nguôi. Lời bài hát “Nắng chiều” làm anh nhớ đến lúc chúng mình mới quen nhau: “Anh nhớ trước đây, dáng em gầy gầy, dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh”. Mẹ đã trở về làng cũ Túy La, sống với gia đình chú Chín, giúp chú làm tằm. mỗi năm mẹ thăm nuôi hai lần, cũng đơn sơ, đạm bạc. Mẹ cũng không có tin tức gì về Thu.

07-10-79. Gửi thư về cho Thu nhiều lần với địa chỉ nhà cũ ở Đà-nẵng, nhưng không có hồi âm. Không biết bây giờ, em trôi giạt về đâu. Chúng mình lạc nhau ngay ở bờ biển Sơn Chà (Sơn Trà) khi nhóm binh sĩ và sĩ quan Biệt động quân đứng thành vòng tròn, mỗi người trên tay một quả lựu đạn đã mở chốt. Khi họ la lên là “đồng bào hãy tránh xa”, anh và em mạnh ai nấy chạy. Nghe một loạt nổ chát chúa và hơi gió tạt từ sau đến. Họ tự tử tập thể, chắc là vì quá tuyệt vọng. Khi anh trở lại hiện trường, thấy cảnh người chết banh thây, mùi máu tanh tưởi, anh vội rời xa, vì nghĩ chắc là em đã thoát. Rất tiếc, là trong lúc hốt hoảng, anh quên không nắm tay em cùng chạy. Mặc dù lúc đó Việt cộng đang ở đèo Hải Vân bắt đầu pháo kích vào Sơn Chà, anh vẫn vừa chạy vừa ẩn núp, để tìm em. Tìm mãi em không được, anh trở về nhà cha nuôi em, song nhà vắng tanh. Anh ở lại đó, chờ em về. Song vẫn biệt tăm. Nghe lịnh “ủy ban quân quản” thành phố, anh ra trình diện, và bị tập trung vào Vĩnh Điện, rồi Kỳ Sơn…” (nhật ký bị rách nát nhiều trang không đọc được).

“… Xa em đã gần bốn năm. Chúng mình sống bên nhau chưa đầy sáu tháng. Những kỷ niệm thân thương không hề phai nhạt:

Bốn năm trời xa em,

Chúng ta mất biết bao ân ái mặn nồng.

Nhớ đến lúc bên nhau hai đứa trần truồng…

Khắn khít uyên ương, thiên đường nguyên thủy…

Anh quỳ bên em ngất ngây thờ lạy,

Vẻ mỹ miều của thân thể trinh nguyên,

Anh hôn lên vầng trán bình yên,

Lên đôi má hây hây say tình e thẹn.

Lên đôi môi nở hoa dâng hiến,

Ôi ngọt ngào là miệng lưỡi của em.

Hơi thở thơm tho, anh mãi mãi thèm…”

 (bài thơ lại bị mối đục thủng đoạn kế tiếp). Một mảnh giấy rời, có câu thơ còn đọc được. Bài thơ chắc dài, chỉ còn chục câu, gợi nhớ thương, lo lắng cho vợ lúc đi chăn bò.:

“Gió sớm mai mát rượi, như bàn tay yêu thương,

Biết bao giờ trở lại bên em, ôi cả một thiên đường!

Tiên Lãnh vào Thu, núi rừng đẹp lắm:

Trời lộng xanh cao, cỏ đồi dệt thảm,

Lấp lánh, lao xao, chạy theo nắng ấm,

Vẳng bên tai, chim gió, hát lưng trời.

Cảnh vật an bình, xao xuyến lòng người,

Ngồi dưới gốc cây đa, bên ngôi miếu cổ,

Nhìn đàn bò thong dong gặm cỏ,

Mà tâm hồn bay bổng, hướng về em.

Em ở nơi mô, cuộc sống có êm đềm!

Mà chẳng đến thăm anh tù đày khốn khó?

Lo cho em, chắc nhiều trắc trở,

Xin cầu Trời phù hộ cho em.

20-09-80. Được phóng thích ngày 28-08-80, nhân dịp “quốc khánh”. Trong giấy ra trại cho về nguyên quán làng Túy La. Hai mẹ con dựng một nhà tranh nhỏ, trên miếng đất ngày xưa, sớm chiều có nhau. Kỷ niệm thơ ấu, những ngày hồi cư đói khát, cha chết, không có vải làm khăn tang, trở lại trong giấc ngủ đầy ác mộng. Việc đầu tiên là tìm tông tích của Thu. Lên Giao Hòa hỏi thăm, chẳng có đầu mối gì, chỉ biết thêm là người giết cha mẹ Thu, đã vào tù vì tham nhũng, khi hắn ta làm “chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp quận”. Nghe nói, là hắn “có thể bị xử tử”.

09-10-80. Lo làm ăn, đầu tắt, mặt tối, mà chỉ đủ hai mẹ con, ngày hai bữa, ăn bắp, ghế cơm. Mẹ nhắc hồi nhỏ, mình nói ngọng, kêu bắp là bú, kêu gạo là gụ, và năn nỉ nấu “nửa bú, nửa gụ” cho dễ ăn. Nay hai mẹ con ăn “nửa bú, nửa gụ” thế là tốt rồi. Ra Đà-nẵng nhiều chuyến dò la tin tức Thu. Lúc nào cũng khấn thầm Trời Phật phù hộ tìm ra tông tích nàng. Mộng mị thấy nàng trong giấc ngủ thường xuyên. Tình cờ một hôm vào quán mì Quảng gần chợ Cồn, gặp lại Thúy, bạn học Thu, nay là giáo viên tiểu học. Thúy nói là rất mừng, gặp lại tôi, để thông báo là có thể Thu đã chết trong ngày chạy loạn ở Sơn Chà. Tôi bàng hoàng chết điếng. Em Thu! Em ra đi không một lời từ biệt! Thúy cho biết là cùng Thu chạy về mũi Sơn Chà, giữa rừng người hoảng hốt. Một quả đại bác rơi gần đó. Khi Thúy chổi dậy, thấy chung quang người chết nằm la liệt. Thu nằm bất động, rên khe khẻ, máu rỉ ra từ một vết thương trên trán. Thu thều thào nhờ Thúy báo tin cho Nam. Sau đó Thúy may mắn xuống một thuyền nhỏ ra tàu Mỹ đậu ngoài khơi, vào được Saigon. Lúc trở về Đà nẵng, thì chẳng biết tôi ở đâu để nhắn tin.

12-10-80. Có người mách là có thể đến bệnh viện Đà-nẵng xem danh sách những người bị thương và chết được xe cứu thương mang về đó trong những ngày cuối thắng 03-75. Tôi đến nhà xác bệnh viện. trong quyển sổ cũ, giấy đã vàng, tôi tìm được tên em. Phải lên nghĩa địa Hòa Khánh để tìm mộ. Song mộ lại dời đi Gò Cà trong đợt dời mộ năm 1976 do “lệnh chung của tỉnh”. Nghĩa địa Gò Cà mênh mông, bao trùm nhiều đồi trọc cát sỏi. Cũng may, là anh ra tù sớm. Mộ bia của em, một tấm gỗ nhỏ, đã ngã nằm ra đất, chữ viết bằng loại sơn xấu đã nhòe nhoẹt dưới nắng mưa. Anh bới mộ em lên. Không nhầm lẫn được: hàm răng dưới em có chiếc răng cời bên trái. Trán còn mang lỗ thủng mà chị Thúy có nhắc đến. Chiếc áo lụa em bận ngày chạy loạn chưa hư nát hết. Lượm từng cái xương của em, mà nước mắt tuôn ra không ngớt. Em nhìn anh bằng cặp mắt của hư vô. Bỏ xương vào một hủ sành, anh mang về Túy La.

11-11-80. Cái thằng thôn trưởng thật hắc ám. Mỗi tuần hắn bắt trình diện một lần và khai báo, mặc dù chẳng có gì lạ. Những tạp dịch trong thôn, hắn bắt mình “xung phong” làm. Ngay chuyện gỡ mìn quanh đồn bót cũ, cũng là mình. Lúc nào cũng coi mình là “thù địch”. Trồng dâu, hái dâu, làm cỏ, nuôi tằm, công việc xoay như chong chóng. Những ngày giữ bò còn “sướng” hơn bây giờ.

Đã đốt xương em, cho vào một lon gô, để ở đầu giường, để được gần gụi em. Tối tối, lại trò chuyện cùng em. Trong lòng anh chẳng ai thay thế được em. Có nhiều cô gái trong thôn tỏ tình, nhưng anh dửng dưng, nguội lạnh. Tâm hồn giống như một ông già. Những lúc cô đơn, hay làm việc một mình, tự nhiên lại thốt lên: “đời sao buồn quá” hoặc ngâm se sẽ: “buồn ơi xa vắng, mênh mông là buồn”. Bái hát của Từ Công Phụng nói về nỗi cô đơn, khi người yêu đã mất nghe thấm thía quá: “kể từ khi em đem cô đơn mọc lên phố vắng, khi em đem nụ cười khỏi đời, từng chiều rơi, ta nghe như cõi lòng tê tái. Nghe giữa đời còn gọi tên nhau”. Đoạn giữa của bài hát đúng như lúc chúng mình đứng ở bãi biển Sơn Chà, một đêm sao sáng đầy trời, em ngước mắt nhìn anh, chờ đón nụ hôn, trong khi bài tình ca du dương, từ một quán xa vọng tới: “ngày ấy cho nhau một lần, một lần tiếng hát đồng lõa, đưa anh vào vùng trời lấp lánh, bằng những ánh sao trời vào đôi mắt ngước trìu mến”. Anh muốn tìm lại ánh mắt của em ở thế giới bên kia!

06-12-80. Những bài học về tư tưởng yếm thế hay quanh quẩn trong đầu. Có một thi sĩ Tầu không nhớ tên, đã viết:

“Tích ngã vị sinh thì,

Minh minh vô khả tri.

Thiên công hốt sinh ngã.

Sinh ngã lục hà vi?

Vô y sử ngã hàn,

Vô phạn sử ngã cơ,

Hoàn nhỉ thiên sanh ngã,

Hoàn ngã vị sinh thì”.

Tạm dịch:

“Khi tôi chưa sinh ra,

Hỗn mang nào có biết.

Trời bỏ tôi ra đời,

Ôi số phận cay nghiệt,

Không áo để che thân

Không cơm đói muốn chết,

Trả lại Trời công sinh

Trả lại tôi thời chẳng biết”.

Cuộc đời bi thảm quá. Chỉ muốn trở về với hư vô, (nhật ký rách vụn nhiều trang). Mấy trang chót còn đọc được:

15-07-82. Mẹ đã ra đi một cách êm thắm. Thường ngày mẹ dậy rất sớm. Song hôm nay mặt trời đã lên cao mà mẹ vẫn chưa thấy dậy. Lại giường mẹ xem sao, thấy sắc mặt hơi tái, sờ tay thấy lạnh ngắt. Thì ra, mẹ đã ra đi trong giấc ngủ. Mẹ lúc nào cũng sống âm thầm như chiếc bóng. Lúc giã từ vĩnh viễn, mẹ cũng không muốn quấy rầy con. Thương mẹ, thương em quá chừng. Ma tang đơn giản. Chôn mẹ cạnh mộ cha sau vườn:

Bởi con nghèo, nên mẹ chết âm thầm,

Kẻ giàu có, thì linh đình ngày xuống huyệt.

Mẹ chết rồi, con không còn gì để ràng buộc với thế gian này nữa. Con muốn trở về gốc cây đa, mà con đã trải qua nhiều giờ phút suy tư về kiếp sống con người, và yên nghỉ cùng Thu. Ở một nghĩa địa cổ Hy Lạp, người ta phát giác một bia mộ ghi những lời sau đây: “hỡi những người qua đường, hãy nhẹ chân, vì đêm nay là đêm cuối cùng ta ngủ được ngon giấc”. Ông ta lúc sống chắc trải qua những khổ đau cùng cực, nên mất ngủ triền miên. Tôi thì không đến nỗi như ông, song giấc ngủ dài yên lặng của nấm mồ, tôi thầm mong ước được như thế”.

Thì ra, nhật ký không viết cho tôi. Mà chỉ là những gửi gắm riêng tư. Nam cũng không ngờ là tôi trở lại miếu hoang nầy. Chiến tranh, chết chóc, chia ly, thời thơ ấu thiếu thốn, đau buồn đã hằn lên tâm hồn Nam nhiều đau thương!

Cha chết sớm, chưa kịp dạy Nam yêu đời. Nếu Thu còn sống, chắc Nam cũng yêu đời như ai.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

(Trích trong: Tình Yêu Hiện Sinh Một Kiếp Người)


 

 ĐIỀU CHƯA HIỂU… Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 Hắn, một người đàn ông thành đạt.

Năm ngoái, về thăm nhà, thấy Bố một mình thui thủi, cô đơn trong căn nhà trống vắng, vì Mẹ hắn đã khuất núi đã lâu, Hắn quyết định đưa Ông cụ lên thành phố ở với vợ chồng mình cho trọn đạo người con có hiếu.

Cứ tưởng rằng cụ sẽ vui, vì nhà hắn là một ngôi biệt thự rộng rãi , sang trọng, lại có khu vườn sầm uất bao quanh, đủ loại hoa trái.

Vậy mà không phải thế!

Giáp Tết năm nay, Bố lại …năn nỉ  hắn để được trở về quê!

Hắn hoàn toàn KHÔNG HIỂU tại làm sao nữa?!

Nên đã cố dọ hỏi :

-Hay là vợ con đối xử tệ bạc với cụ chăng!!

-không, con dâu rất tốt, ngày nào cũng sai người làm lo  ba bữa ăn thịnh soạn mà.

– Thế… Sao bố lại đòi về quê?

– À, tại ở đây buồn , không biết nói chuyện với ai …và vì BA ĐÔI DÉP con ạ !

– ???!!!???!!! À, Con chưa hiểu lý do thứ hai …

– Ừ, con bây chừ là người thành phố, làm sao hiểu được…

– Thì Bố nói cho con hiểu được không ạ?

– Thế thì… Bố nói nhé:

cả một năm nay, Bố cố để mà quen cái chuyện ở phòng WC mang dép Lào, phòng khách thì phải đi dép da, ra ngoài vườn thay dép tổ ong…!!!

theo “gia quy” của con!

Mỗi lần quên, là có Vợ con cầm đôi dép phù hợp đưa và nhắc nhở :

Bố ơi đổi dép!

– ?!?!!!!???

– Bố thật ngại ngùng! Nên suốt ngày tự nhắc: vườn – ong, Khách -da, Tắm – lào, lúc nào cũng nghĩ, lẩm bẩm: “ong, da, lào- lào da ong!”.

Nhưng Không thể nào quen được!

Ngủ, bố cũng mơ thấy mình lộn dép và vợ con đang nhìn bố với ”  đôi mắt hình viên đạn” với… đôi dép cần thay thế trên tay… bố sợ quá! Hưm hưm…

Thôi cho Bố về quê, dù buồn, khổ nhưng tự do con ạ… Ở nơi ấy, bố chỉ đi một đôi dép, dù trong nhà hay ngoài vườn…

Khỏi suốt ngày bận tâm, rồi chẳng muốn đi lại luôn !

Hưm… Lào, da, ong… lẩm bẩm riết rồi khùng luôn!

Hì hì hichic

Ông cụ pha trò, cười nhưng như mếu! Trông thật đáng thương.

-???!!!???!!!???!!!

À, hắn nhận ra mình có học, thành đạt, nhưng vẫn chưa hiểu một điều đơn giản là Người già cần sự yêu thương, gần gũi, cảm thông hơn là nhà cao cửa rộng, cao lương mỹ vị gì cả! Hắn, cứ tưởng mình có hiếu, nhưng thật sự là một kẻ vô tâm!

Và đã hối hận vô cùng, vội quì xuống trước mặt người đã  sinh thành dưỡng dục mình nói:

-Xin Bố tha lỗi cho thằng con vô tâm này nhé; Từ nay, bố chẳng cần phải thay đổi dép gì cả!

Nếu thích, bố cứ đi chân trần ngay trong phòng ngủ! Con chỉ cần bố gần gũi con, chẳng cần qui định gì sất!

Hì hì, Bố ở lại với con nhé.

Rồi hắn nhào đến siết chặt đôi vai đang rung lên vì xúc động của người Bố.

Hắn dụi mặt vào ngực người đã thương yêu mình cả một đời để bốn dòng lệ hạnh phúc, trộn lẫn làm một!

Hắn chợt nhớ một câu nói thật hay: hạnh phúc tại tâm!

Ngoài kia, tiếng chim lảnh lót hót vang lừng bên những khóm mai vàng rực rỡ báo hiệu xuân về giữa đất trời bao la và trong lòng của hai người…

Hình như hắn còn  thấy nụ cười hạnh phúc của người thứ ba, ở nơi thật xa. ..nơi mịt mờ nhân ảnh của cõi vĩnh hằng, đó là nụ cười của mẹ !

Xin cảm ơn đời, cảm ơn Mẹ Cha, đã cho  một cuộc đời hôm nay

và đã đánh thức hắn, hiểu được một điều đơn giản:

“Con người cần nhất là sự cảm thông “… Nhưng chưa hẳn ai cũng hiểu được!?

Xin đa tạ và chào mừng mùa xuân.

Theo : De Nguyen

Nguồn fb Công Hoàng


 

Chúng tôi quen biết cả hai vợ chồng. Anh lẫn chị lúc ấy đều mới ngoài bốn mươi, còn trẻ và khỏe mạnh.

Những Câu Chuyện Thú Vị
Chúng tôi quen biết cả hai vợ chồng. Anh lẫn chị lúc ấy đều mới ngoài bốn mươi, còn trẻ và khỏe mạnh.

Một buổi tối nọ, theo lời chị kể, vì cuối tuần nên hai người ngồi coi TV tới khuya, tự nhiên anh than mệt. Cơn mệt tăng dần rất mau và thêm cơn đau buốt ở ngực, muốn nôn mửa. Linh cảm chẳng lành, chị cầm phone gọi ngay 911. Sau này chị tâm sự đó là quyết định sáng suốt nhất đời, không như nhiều người khác có thể nghĩ rằng chỉ mệt chút thôi, đi ngủ sáng mai dậy sẽ hết, hoặc là… cạo gió!

Quả nhiên đó là một cơn đau tim Heart Attack đột ngột không bao giờ ngờ tới. Đoàn y tế 911 đến cho anh ngậm ngay thuốc loãng máu và cấp tốc đưa ra xe cứu thương đến bệnh viện gần nhà nhất là Regional Medical Center. Chị muốn lên ngồi cùng anh trên xe cứu thương nhưng họ không cho theo luật y tế nên chỉ có thể lái xe theo sau. May bệnh viện này gần nhà nên chị rành đường đi. Không phải vấn đề.

Khi đến Regional Medical Center, anh cần được thông tim ngay để thông một mạch máu đang bị nghẽn không lên được trái tim. Vấn đề là bệnh viện ngay khi ấy các phòng cấp cứu đang được sử dụng cho bệnh nhân khác, trong khi anh không thể chờ lâu. Họ quyết định đưa tới bệnh viện khác gần nhất Good Samantha Hospital. May mắn bệnh viện này đang có phòng trống, và sẽ sẵn sàng cho anh đến.

Cũng như lần trước, chị cũng không được lên ngồi xe cứu thương mà chỉ có thể lái xe theo. Chiếc xe cứu thương lao nhanh trong đêm tối. Chị cố gắng theo được một đoạn đường là mất hút. Lúc đó đã 1,2 giờ sáng, chị đứng trước ngã tư đường không biết chiếc xe cứu thương đi ngã nào? Hoàn toàn không biết bệnh viện mà họ đang đưa chồng đến nằm ở đâu! Thời đó chưa có điện thoại cầm tay thông dụng như bây giờ để mà gọi ai, hay mở Google map.

Giữa đêm tối mông mênh không một bóng xe qua lại trên con đường vắng, chị dừng giữa đường, phân vân! Là một Phật tử, trong cơn tuyệt vọng, chị bỗng nghĩ đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn ,và cầu nguyện ngài cứu giúp, chỉ đường dẫn lối cho chị đến bệnh viện Good Sanmatha. Thành tâm cầu nguyện.

Bỗng nhiên chị giật mình vì ánh sáng lập lòa. Một xe cảnh sát dừng ngay sau, mở đèn chiếu sáng. Người cảnh sát đến bên cửa hỏi chuyện. Chị mừng quá trình bày sự việc mất dấu chiếc xe cứu thương và không biết nên đi đâu. Kỳ diệu thay, sau khi nghe chị, ông nói bệnh viện đó không xa, nhưng chị không thể đến nếu không biết đường. Ông sẽ chạy phía trước dẫn đường cho chị lái xe phía sau đến bệnh viện. Thế là chiếc xe cảnh sát mở đường, ánh đèn xanh đỏ trên mui chớp sáng cho chị dễ theo. Chị như kẻ không hồn không còn biết gì nữa, chỉ nhắm cái đèn phia trước mà theo. May người cảnh sát hiểu chị phụ nữ không thể lái xe nhanh, nên cũng đi chậm cho chị theo kịp. Hơn nữa chị không phải bệnh nhân cần câp cứu.

Chị không nhớ thời gian bao lâu từ khi được xe cảnh sát dẫn đường cho đến khi dừng lại trước cổng Emergency của bệnh viện Good Samantha. Chị kịp thời vào trong ký mọi giấy tờ cần thiết cho chồng được cấp cứu ngay.

Chồng chị được cứu sống kịp thời và ra viện chỉ một tuần sau đó.

Chuyện đã lâu, ngày nay kể lại chị không hiểu tại sao có sự tình cờ một xe cảnh sát giữa đêm khuya lại tuần tiểu vào con đường vắng hoe, tối tăm, không một bóng xe nào qua lại để mà thấy chị ở đó và giúp đỡ. Có phải Đức Quan Âm Bồ Tát đã nghe “LỜI CẦU NGUYỆN ” của chị và đưa xe cảnh sát đó đến? Chị nghĩ vậy…

TG:Thai NC

Ảnh ST. minh họa

May be an image of ambulance and text


 

“Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hi sinh mạng sống mình vì bạn hữu

Tony Nguyễn

 Năm 1982, chuyến bay Air Florida 90, một chiếc Boeing 737, đã đâm vào cầu đường 14 ở Washington, D.C. trong một trận bão tuyết dữ dội và lao xuống sông Potomac đóng băng ngay sau khi cất cánh. 78 người đã thiệt mạng trong thảm kịch, mặc dù bốn hành khách và một tiếp viên hàng không sống sót.

Khi lực lượng cứu hộ làm việc từ trên cao, một người phụ nữ sống sót sau vụ tai nạn đã kiệt sức. Khi trực thăng quay trở lại, bà không còn sức để nắm lấy phao cứu sinh. Từ từ, bà bắt đầu chìm xuống dưới dòng nước lạnh giá—và trong khoảnh khắc bất lực đó, định mệnh đã can thiệp.

Một trợ lý văn phòng trẻ tuổi của chính phủ, Lenny Skutnik, đã không do dự. Cởi áo khoác và giày, chỉ mặc áo ngắn tay, anh nhảy xuống dòng sông băng giá và bơi về phía bà. Nhờ ơn Chúa và lòng dũng cảm quên mình, anh đã đến được chỗ bà và đưa bà đến nơi an toàn.

Cả hai đều sống sót. Và trong hành động yêu thương hy sinh đó, nhiều người đã thấy được sự phản ánh sống động lời dạy của Chúa Kitô: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hi sinh mạng sống mình vì bạn hữu.”

May be a black-and-white image of swimming and body of water


 

Tình yêu vô điều kiện – Truyen ngan HAY

Jimmy Nguyen

 Người cha đã từng bế con gái nuôi của mình, giờ đây đã được người con nuôi cùng một tình yêu đáp lại. Nhiều năm trước, một người đàn ông đã đưa ra quyết định đã thay đổi hai cuộc đời mãi mãi: nhận nuôi một cô bé cần một mái ấm.

Anh ấy ôm cô bé tại bệnh viện, dắt cô bé đi qua những ngày đầu tiên đi học, và ôm cô bé qua những đêm sợ hãi.

Anh ấy không chỉ nuôi dạy cô ấy, anh ấy cho cô ấy sự ổn định, cơ hội và một tình yêu không phụ thuộc vào máu mủ mà là sự cam kết của tình yêu thương. Thời gian đã trôi qua, như thường lệ, và cô gái nhỏ này đã trở thành một người phụ nữ mạnh mẽ và biết ơn.

Giờ đây khi bước chân của cha cô ấy đã chậm hơn và thân hình của ông ấy mong manh hơn, cô ấy không ngần ngại ủng hộ ông, đi bên cạnh ông và trở về, với niềm tự hào, mỗi sự hy sinh của ông vì tương lai của cô ấy.

Câu chuyện của cô ấy không chỉ là nhận nuôi mà còn là lòng trung thành, lòng biết ơn và tình yêu không thay đổi khi các vai diễn. Bởi vì gia đình không phải lúc nào cũng là người cho bạn cuộc sống, mà là người quyết định ở lại mãi mãi.

(Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle)

Lưu ý: Câu chuyện và hình ảnh này là một biểu tượng nhân ái cho sự kiên cường và tình yêu vô điều kiện định nghĩa hàng ngàn gia đình nhận con nuôi trên thế giới.

May be an image of child and text that says 'TÌNH YÊU VƯỢT QUA MỌI RANH GIỚI'


 

CHUNG THỦY… Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

Năm 2020, cuộc đời của Nie Jianwen — một tài xế xe tải đường dài ở Trung Quốc — rẽ sang hướng khác, theo cách mà anh chưa từng chuẩn bị. Vợ anh, Cao Yingying, bị xuất huyết não. Sau ca cấp cứu sinh tử, cô giữ được mạng sống… nhưng vĩnh viễn mất đi khả năng tự đứng dậy.

Một người nằm lại.

Một người phải tiếp tục đi.

Công việc của Nie là những chuyến xe xuyên tỉnh, có khi xa nhà hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Trước mắt anh là hai lựa chọn rất thực tế:

Hoặc tiếp tục lái xe, gửi vợ ở nhà cho người thân chăm sóc.

Hoặc từ bỏ công việc — nguồn thu nhập duy nhất của gia đình.

Nhưng anh đã chọn một con đường thứ ba.

Con đường… có cả hai người.

Nie bắt đầu biến chiếc xe tải của mình thành một “ngôi nhà di động”. Anh chỉnh lại khoang nghỉ, đặt thêm nệm, chăn, thuốc men, đồ dùng sinh hoạt. Chiếc cabin chật hẹp vốn chỉ dành cho những giấc ngủ vội của tài xế, giờ trở thành không gian sống của hai vợ chồng.

Từ đó, mọi cung đường không còn là hành trình một mình.

Vợ anh ngồi bên, trên chiếc xe lăn nhỏ.

Anh lái xe, một tay giữ vô lăng… một tay nhiều khi vẫn nắm lấy tay vợ.

Những trạm dừng cao tốc không còn chỉ để đổ xăng hay nghỉ ngơi — mà là nơi anh chăm sóc vợ, cho vợ ăn, xoa bóp tay chân, kiểm tra thuốc men. Những đêm ngủ trong thùng xe, anh thức dậy nhiều lần chỉ để chắc rằng vợ vẫn ngủ yên, vẫn ấm, vẫn ổn.

Không ồn ào.

Không phô trương.

Chỉ là sự hiện diện… ngày này qua ngày khác.

Người ta thường nói về tình yêu bằng những điều lớn lao — hy sinh, vĩnh cửu, trọn đời. Nhưng ở Nie, tình yêu lại hiện lên bằng những điều rất nhỏ:

Một chiếc xe lăn được cố định cẩn thận.

Một phần cơm được đút từng muỗng.

Một bàn tay không bao giờ buông trên những cung đường dài.

Anh không để khoảng cách chia cắt họ.

Anh để chính con đường… nối họ lại.

Có lẽ điều khiến câu chuyện này chạm đến trái tim nhiều người không phải vì nó “phi thường” — mà vì nó quá đỗi đời thường. Anh không làm điều gì ầm ĩ. Anh chỉ làm điều mà một người chồng tin rằng mình phải làm:

Ở lại.

Đồng hành.

Không rời đi khi người kia yếu nhất.

Với Nie Jianwen, những chuyến xe giờ đây không chỉ chở hàng hóa.

Chúng chở cả hôn nhân của anh.

Chở lời thề năm xưa.

Chở người phụ nữ anh yêu… đi qua những tháng ngày khó khăn nhất.

Và trên hàng nghìn kilomet xa lộ ấy, người ta hiểu rằng:

Tình yêu không nằm ở việc đi được bao xa.

Mà nằm ở việc… dù đường dài đến đâu, ta vẫn chọn đi cùng nhau.

May be an image of van and road


 

Viên đạn xuyên qua cơ thể cô và cô ngã xuống biển-Truyen ngan

My Lan Pham

Viên đạn xuyên qua cơ thể cô và cô ngã xuống biển, nhưng cô không chết, bởi vì nếu chết đi thì sẽ chẳng còn ai biết điều gì đã xảy ra với 21 người phụ nữ bị sát hại bên cạnh mình.

Ngày 16 tháng 2 năm 1942. Bangka Island, South China Sea.

Hai mươi hai nữ y tá thuộc Australian Army đứng trong làn nước ngang thắt lưng, xếp thành hàng, khi những người lính Nhật đặt một khẩu súng máy trên bãi cát phía sau họ.

Không ai cần phải giải thích điều gì sắp xảy ra.

Rồi loạt đạn bắt đầu.

Sức mạnh của viên đạn hất Vivian Bullwinkel chúi người về phía trước xuống làn nước. Nó xuyên vào cơ thể cô ngay phía trên hông và thoát ra ở phía bên kia. Xung quanh cô, những người phụ nữ từng cùng đào tạo, cùng cười, cùng chăm sóc bệnh nhân đã gục xuống chỉ trong vài giây.

Nước biển chuyển sang màu đỏ.

Những thi thể đổ xuống. Nổi lên. Biến mất dưới làn sóng nhẹ.

Tiếng súng vẫn tiếp tục ,có chủ ý, có hệ thống ,đủ lâu để chắc chắn rằng tất cả đã chết.

Vivian không cử động.

Cô để cơ thể hoàn toàn bất động, mặt úp xuống nước, máu chảy ra từ vết thương. Cô thở rất khẽ. Mọi bản năng đều gào thét bảo cô phải chạy, phải chiến đấu, phải sống.

Nhưng cô nằm yên tuyệt đối.

Cô nghe thấy tiếng giày giẫm trên cát. Tiếng nói. Tiếng cười. Thủy triều nhẹ nhàng đẩy cơ thể cô vào bờ, như thể muốn đưa cô đến nơi an toàn ,hoặc đến chỗ những kẻ hành quyết.

Cuối cùng, những âm thanh ấy biến mất.

Khi cô ngẩng đầu lên, bãi biển im lặng.

Hai mươi mốt nữ y tá nằm chết trong làn nước cạn và trên bãi cát.

Vivian là người duy nhất còn sống.

Chỉ vài ngày trước đó, họ đang sơ tán khỏi Singapore khi quân Nhật tiến sát. Vivian và các y tá cùng đi trên một con tàu chở đầy thương binh, dân thường hoảng loạn, những người mẹ ôm chặt con.

Khi máy bay Nhật tấn công, bom xé toạc thân tàu. Xuồng cứu sinh lật úp. Mọi người nhảy xuống làn nước đang bốc cháy. Các y tá làm việc đến phút cuối ,đưa người bị thương lên trước, trấn an những người hoảng sợ, giữ trật tự khi con tàu chìm xuống.

Sống sót sau vụ đắm tàu lẽ ra phải đồng nghĩa với việc thoát thân.

Nhưng thay vào đó, nó đưa họ đến chỗ hành quyết.

Những người sống sót trôi dạt vào bờ tại Bangka — kiệt sức, bị thương, tuyệt vọng tìm nơi an toàn. Ngày 16 tháng 2, quân Nhật đến. Đàn ông bị tách ra và bị dẫn vào đất liền tới cái chết của họ. Các y tá bị ra lệnh bước xuống nước.

Sau vụ thảm sát, Vivian đang chảy máu, choáng váng ,lết mình từ biển vào khu rừng rậm. Cô bị thương, cô đơn, mắc kẹt sau phòng tuyến kẻ thù trong vùng do chính đội quân vừa giết bạn bè cô kiểm soát.

Vài giờ sau, cô tìm thấy một người sống sót khác: Ernest Lloyd Kingsley, một binh sĩ Anh. Anh đã bị bắn trong cuộc hành quyết các tù nhân nam và bị bỏ mặc chờ chết.

Trong mười hai ngày, họ ẩn mình dưới tán rừng.

Và Vivian làm điều cô luôn làm. Cô chăm sóc.

Không có dụng cụ. Không thuốc men. Không băng gạc. Cô rửa vết thương cho anh chỉ bằng nước và ý chí. Họ tìm kiếm thức ăn. Hứng nước mưa để uống. Nhiễm trùng lan rộng trong vết thương của Kingsley. Anh yếu dần từng ngày.

Vivian vẫn ở bên anh.

Ngày thứ mười hai, anh chết trong vòng tay cô.

Bị thương, đói khát, sốt cao và hoàn toàn cô độc, Vivian Bullwinkel đưa ra một lựa chọn mà ít con người nào có thể tưởng tượng:

Cô bước ra khỏi rừng và đầu hàng chính đội quân đã giết bạn bè mình.

Cô không nói gì về vụ thảm sát.

Cô hiểu rõ cái giá của sự thật. Nói ra đồng nghĩa với cái chết ngay lập tức. Người Nhật tin rằng cô chỉ là một y tá lạc khỏi đoàn sau vụ đắm tàu. Họ đưa cô đến một trại tù binh ở Sumatra.

Trong ba năm rưỡi, cô chịu đựng cảnh giam cầm được thiết kế để nghiền nát tinh thần con người.

Cái đói không bao giờ chấm dứt. Bệnh tật lan khắp trại như cháy rừng. Đòn roi là chuyện thường ngày. Cái chết hiện diện khắp nơi. Mỗi ngày đều có phụ nữ chết quanh cô.

Và Vivian vẫn tiếp tục chăm sóc.

Âm thầm. Bí mật. Luôn đối mặt với nguy hiểm.

Cô chế băng từ những mảnh vải vụn. Chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình cho những người yếu hơn. Ngồi bên cạnh người hấp hối để họ không phải ra đi một mình. Cứu những mạng sống lẽ ra đã kết thúc.

Trong suốt thời gian đó, cô mang theo ký ức về Bangka ,ký ức đã giữ cô sống và sự im lặng đe dọa chôn vùi sự thật.

Tháng 9 năm 1945, tự do đến.

Khi lực lượng Đồng minh tới nơi, Vivian chỉ còn nặng chưa tới 40 kg. Cơ thể cô kiệt quệ. Ký ức còn nặng nề hơn.

Chỉ khi ấy cô mới lên tiếng.

Vivian Bullwinkel trở thành nhân chứng duy nhất của vụ thảm sát tại Bangka. Lời khai của cô có ý nghĩa sống còn trong các phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh sau chiến tranh. Cô kể lại, không né tránh, việc hành quyết những nhân viên y tế không vũ trang. Cô nhận diện những kẻ chịu trách nhiệm. Cô đảm bảo thế giới biết điều gì đã xảy ra.

Những lời của cô khiến tội ác ấy được ghi lại, bị xét xử và không bao giờ bị xóa khỏi lịch sử.

Một số sĩ quan Nhật bị kết án và xử tử vì tội ác chiến tranh liên quan đến vụ thảm sát.

Công lý đến muộn, chưa trọn vẹn, nhưng là có thật.

Vivian trở về nhà. Trở lại với nghề y tá. Trở thành quản lý bệnh viện. Hướng dẫn thế hệ y tá trẻ bằng sự kiên nhẫn và trí tuệ. Chăm sóc các cựu binh mang trong mình những vết thương vô hình.

Khi nói công khai về Bangka, cô không mang theo sự giận dữ ,chỉ có sự thật. Cô bảo đảm rằng hai mươi mốt người phụ nữ đã chết trong làn nước ấy không bao giờ bị lãng quên.

Cô chọn phục vụ thay vì cay đắng.

Chọn ký ức thay vì im lặng.

Vivian Bullwinkel qua đời năm 2000, ở tuổi 84, sau gần sáu mươi năm dành để tưởng nhớ những người phụ nữ không sống sót bằng cách kể câu chuyện của họ và tiếp tục công việc mà tất cả họ đã cùng chọn.

Hai mươi hai nữ y tá bị lùa xuống biển.

Hai mươi mốt người bị giết.

Một người sống để làm chứng.

Vivian không chỉ sống sót sau một vụ thảm sát.

Cô nhớ, khi im lặng sẽ dễ dàng hơn.

Cô lên tiếng, khi nói ra có thể hủy hoại chính mình.

Cô phục vụ, khi cay đắng là điều hoàn toàn có thể.

Và bằng cách đó, cô không để sự tàn bạo có lời cuối cùng.

Những người phụ nữ của Bangka đã bị sát hại.

Nhưng nhờ Vivian Bullwinkel, họ không bao giờ bị lãng quên.

Và những kẻ giết họ đã phải đối mặt với công lý.

Hãy nhớ tên cô. Hãy nhớ câu chuyện của họ.

Theo Stories they erased

My Lan Phạm

No photo description available.


 

 ANH TRÍ  – Trần Bạch Thu- Truyen ngan HAY

Kimtrong LamLƯƠNG VĂN CAN K 76.

 Trần Bạch Thu –

10 tháng 2, 2026

Trời Cali sáng nay mưa dầm dề, tuy không lớn lắm nhưng rỉ rã có chút xíu nắng từng đợt rồi lại tắt, mưa tiếp, tôi đang trong nhà, lướt phây-bút, xem tin tức trên net đủ loại … và check email như thường lệ vào mỗi buổi sáng. Thế rồi tôi chậm lại ở hộp thư yahoo, tiêu đề tin buồn, tới tuổi nầy rồi chuyện tin buồn là điều bình thường quanh quẫn trong anh em bạn bè, không có gì hoang mang lắm, nhưng buổi sáng hôm nay khi nghe tin anh qua đời tôi lại bật mình muốn khóc thật sự.

Người ta thì học trò trong Quảng ra thi, còn anh thì cũng là xứ Quảng mà lại vô thi. Anh xuất thân từ trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Không biết anh có vướng chân cô gái Huế nào hay không, nhưng làm thơ anh thường lấy một trong các bút hiệu là Hoàng Dung, nghe đâu là tên người em gái của một chị bạn học cùng lớp ĐS17, người Huế họ Hoàng. Nói chung, anh em chỉ biết hể ai có tiếng nói trọ trẹ đều cho là dân Huế, nhưng chính anh đã giải thích cho tôi biết tiếng Quảng Trị có đôi chút khác, nặng hơn tiếng Huế, anh còn nêu ra một vài thí dụ nghe hơi tục mà vui hơn là đúng.

Anh làm Phó quận trưởng ở Quảng Tín năm 23 tuổi, trước khi về thi tuyển đậu vào lớp Đốc sự Khóa 17 năm 1969 cùng với anh em chúng tôi là sinh viên thuần túy. Học chung cùng lớp mà nghe nói anh đã tốt nghiệp khóa Tham sự 3 và từng làm Phó quận nên trong lòng cũng hãnh diện lắm. Đi học anh được bầu làm trưởng lớp, chuyên điểm danh anh em, nhưng nhẹ nhàng thôi, khi nào có người đến trễ anh thường đợi để điều chỉnh trước khi nộp cho phòng công tác sinh viên để họ không bị “mất điểm chuyên cần.”

Trong thời gian còn đi học ở trường năm thứ ba, anh lập liên danh ra tranh cử ban đại diện sinh viên toàn trường, nhưng thất cử, mặc dù anh đã chọn được người đứng thủ quỹ liên danh là hoa khôi của lớp ĐS19 (Đ Ng.) trong khi liên danh thắng cử có thủ quỹ cùng lớp ĐS17 mà anh đã không chọn hay chọn trễ nên thua. Bạn bè nói kháo với nhau như vậy, nhưng anh vẫn tự hào là cô thủ quỹ liên danh của minh dễ thương hơn.

Tuy là sinh viên công chức lớn hơn anh em sinh viên thuần túy chừng 4,5 tuổi nhưng anh sinh hoạt rất thân thiện vui vẻ, bình dị với mọi người. Dáng người mãnh khảnh, gương mặt thanh tú, tóc rẽ đường ngôi bảy ba, thẳng mướt rượt. Lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, quần sậm màu, áo sơ mi trắng tươm tất “nhìn quân phục biết tư cách.”

Cuối khóa anh là người duy nhất chọn đề tài luận văn  “Người Nữ Công Chức trong Guồng Máy Hành Chánh.” Lẽ thường khi sinh viên chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp thường hay xoay quanh các đề tài chính trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục hoặc các đề tài có nguồn dữ liệu phong phú và dễ tìm. Đàng này với đề tài anh chọn, tài liệu rất hiếm và thực tế là rất dễ bị lạc đề.

Ra trường, anh về nhiệm sở cũ tỉnh Quảng Tín và được cử làm Phó Quận trưởng quận Thăng Bình và rồi từ đó trên bước đường công vụ chúng tôi ít có cơ hội gặp nhau. Chỉ biết anh vẫn còn sống độc thân vui tính với anh em. Nghe bạn bè cùng tỉnh nói lại anh về quận được mọi người khen ông Phó đẹp trai làm thơ rất hay, đặc biệt là thơ bằng chữ Hán, còn có đào hoa hay không thì chỉ có Trời biết.

Sau 30 tháng 4 năm 1975 anh bị bắt đi cải tạo ở địa phương miền Trung cho đến khi được thả về anh sống chui tại Sài Gòn, làm đủ mọi ngành nghề với anh em để sinh sống cho đến khi được đi Mỹ rất sớm theo diện HO.

Tôi qua Mỹ cũng diện HO sau anh chừng 2 năm. Gặp lại anh đang trú ngụ tại chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, CA do một người bạn học giới thiệu với sư trụ trì, anh sinh hoạt tại chùa như một tu sĩ trường chay, ngũ trên chiếc giường sắt độc thân trong căn phòng trống trơn, mùa đông lạnh thấu xương. Lần đầu gặp anh tôi hơi ái ngại, sao lại ở chỗ nầy. Tôi hỏi:

– Anh thật sự tu chưa ?

– Chưa định, có thể chỉ ở tạm một thời gian.

Trong thời gian nầy, ngoài một vài công việc ở chùa do Thầy nhờ giúp, anh xem như là làm công quả, không có đọc kinh theo thời cũng như không có nghiên cứu giáo lý Phập pháp gì cả, mặc dù tôi biết anh là một phật tử thuần thành, thay vào đó anh làm thơ Đường đôi khi bằng chữ Hán và viết truyện. Tôi còn nhớ anh có viết bài “Cai Hạ Ca” (Bài ca Hạng Võ biệt Ngu Cơ) nghe buồn lắm. Thỉnh thoảng anh em có tới chùa rủ anh ra ngoài chơi, đi ăn vui vẻ với nhau. Ở chùa ăn chay, nhưng ra đường phố anh em cũng lại mời “Bồ Đề Tịnh Tâm Chay” như ở chùa. Thật rõ chán, không rượu chè, bia bọt gì được cả.

Được chừng vài năm, anh một thân một mình lại ra đi về miền đông, thành phố Boston, nghe nói là ở với người chị họ, đất Mỹ mênh mông biết nơi đâu nương tựa. Hôm anh đi chúng tôi có đêm chia tay cũng làm thành một bữa say sướt mướt, hành lý gọn nhẹ không có gì nhiều chỉ có ống “điếu cày” là báu vật mà anh luôn giữ bên mình chưa bao giờ rời.

Có một điều tôi hay thắc mắc, tự hỏi là anh làm thơ hoặc viết văn luôn ký bút hiệu toàn là nữ nghe như chuyện kiếm hiệp Kim Dung nào là Trương Thúy Hậu, Cao Kim Liên, Nguyễn Nga Bích … Riêng bút hiệu Hoàng Dung thì anh em còn hiểu lờ mờ đôi chút.

Thế rồi đùng một cái, cách nay hơn 10 năm trong một cuộc gọi điên thoại từ Boston anh cho tôi biết là anh đã bảo lãnh cho gia đình đứa con gái qua Mỹ đoàn tụ với anh. Thật ngạc nhiên tột độ. Chưa bao giờ tôi nghe anh nói về chuyện gia đình. Nay thì đã rõ, chuyện đời nhiều khi thấy vui vẻ là vậy mà bên trong lại vô cùng rối rắm không ai biết.

Đứa con gái của anh tên là Trương Thúy Hậu, anh có với người vợ chưa bao giờ cưới. Họ xa nhau từ ngày anh bị bắt đi cải tạo (sau ngày quận lỵ lọt vào tay cộng sản), hai mẹ con trở về quê cũ cũng ở Quảng Tín cải trang, sống âm thầm coi như anh đã chết. Năm năm sau anh về mới biết chị Cao Kim Liên đã có người cám cảnh, thương tình nên đã gá nghĩa vợ chồng với chị và nhận con anh như là con của nhà họ Trương. Từ đó anh lang bạt ra đi với niềm đau chôn kín tưởng chừng như hết cả cuộc đời nầy. Chỉ có vậy thôi.

Kể từ khi bảo lãnh cho con gái, con rể và các cháu sang Boston, cả gia đình cùng nhau mở một tiệm bán phở cũng tương đối đắt khách. Lần sau hết, tôi nghe tin anh bị đụng xe trong một trường hợp hi hữu, xe người lạ de xe từ trong garage ra đường, anh đi tới, trời mờ sáng tài xế không thấy, anh cũng không thấy, thế là anh bị xe đụng gãy chân hơi nặng nên sau khi lành anh phải chống gậy để đi. Mọi người đều nói, người già bị tai nạn té gãy xương híp thì về mặt tâm lý, tinh thần xuống dốc nhanh lắm.

Và nay thì anh đã ra đi, may mắn nhất đời là cuối cùng anh cũng đã quyết định đưa được một đứa con gái duy nhất sang Mỹ cùng với gia đình. Tuy muộn màng nhưng cha con cũng trùng phùng nhau trên đất khách. Nhìn di ảnh của anh trên bản cáo phó, tôi không thể không ngậm ngùi … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Anh Trí ơi! Thôi đành từ đây ngàn thu vĩnh biệt, anh hãy yên nghỉ, cho dù tôi thật rất tiếc là chưa có dịp hỏi anh về chị Cao Kim Liên giờ ra sao, cũng như chị Nguyễn Bích Nga có còn ở Sài Gòn hay đã đi nơi nào? Nhưng thôi, có chi đâu tất cả cũng chỉ như là một cuộc rong chơi ở cõi đời nầy. Vậy thôi nhé. 

May be an image of pinecone, tree and nature


 

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter-Truyen ngan HAY

Pane e Vino – 3 Nguyễn Khắc Cần

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter nằm yên giữa nghĩa trang cổ ở Freiburg như một khoảng lặng dịu dàng của thời gian. Bức tượng đá tạc hình một thiếu nữ đang khép mắt, tay vẫn giữ cuốn sách, dáng nằm thanh thản như vừa trôi vào giấc ngủ. Rêu phủ mềm trên từng nếp áo, trên mái tóc và gương mặt, khiến toàn bộ khối đá mang cảm giác sống chậm, như đang thở cùng nhịp của đất trời. Không có bi thương dữ dội, không có kịch tính tang tóc, chỉ có sự an nhiên hiếm thấy trong nghệ thuật mộ phần thế kỷ XIX.

Caroline sinh năm 1850 trong một gia đình nghèo ở Đức. Sau khi cha mẹ qua đời, cô cùng chị gái Selma về sống với ông bà tại Freiburg. Tuổi trẻ của Caroline trôi qua giản dị, êm đềm, cho đến năm 1867, khi cô mắc bệnh lao và qua đời chỉ sau vài tuần, lúc mới 17 tuổi. Cái chết đến quá nhanh, để lại trong Selma một khoảng trống không thể lấp đầy. Chị gái đã chọn cách giữ Caroline ở lại bằng nghệ thuật. Selma cho tạc một pho tượng kích thước như người thật, khắc họa Caroline trong tư thế đang ngủ, vừa đọc sách, như thể sự sống chỉ tạm dừng lại trong khoảnh khắc rất nhẹ.

Chất liệu đá vôi được chọn vì độ mềm vừa đủ để diễn tả những nếp vải rủ, bàn tay thả lỏng, gương mặt an hòa. Tác phẩm mang tinh thần điêu khắc tang lễ châu Âu cuối thế kỷ XIX, khi cái chết được thể hiện như một giấc ngủ, nơi vẻ đẹp con người được lưu giữ trọn vẹn thay vì nhấn mạnh nỗi mất mát. Đó là cách nghệ thuật xoa dịu bi kịch bằng sự thanh khiết.

Vài tuần sau lễ an táng, Selma nhận ra những bông hoa héo mà cô đặt lên mộ đã được thay bằng hoa tươi. Cô tin rằng có một người thầm mến Caroline khi còn sống đã đến viếng. Điều ấy nghe có vẻ tự nhiên, bởi Caroline được nhiều người yêu quý. Nhưng điều kỳ lạ nằm ở chỗ, những bó hoa ấy không hề dừng lại. Selma già đi rồi qua đời, nghĩa trang thay đổi, thế kỷ trôi qua, chiến tranh và hòa bình nối tiếp, vậy mà hoa tươi vẫn xuất hiện đều đặn trên ngôi mộ.

Hơn một trăm năm rưỡi trôi qua, không ai biết ai là người mang hoa. Không có lời nhắn, không có chữ ký, không có dấu vết để lại ngoài những bông hồng, nhành hoa dại, bó cúc nhỏ được đặt khẽ trên thân tượng phủ rêu. Một nghi thức lặng lẽ, bền bỉ đến khó tin, như một lời hứa không thành văn giữa những con người chưa từng gặp nhau.

Câu chuyện của Caroline không dừng lại ở số phận một thiếu nữ đoản mệnh, mà mở rộng thành câu chuyện về ký ức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lòng trắc ẩn vô danh. Selma gửi tình yêu của mình vào đá. Những người không tên gửi sự hiện diện của mình vào hoa. Ngôi mộ trở thành nơi giao nhau giữa quá khứ và hiện tại, nơi con người kết nối với nhau bằng một cử chỉ giản dị nhưng sâu sắc: không để một vẻ đẹp bị quên lãng.

Có lẽ chính sự im lặng tạo nên sức mạnh cho câu chuyện này. Không ai cần được ghi nhận, không ai cần lời đáp lại. Chỉ cần hoa tươi tiếp tục được đặt xuống, năm này qua năm khác, như một lời thì thầm rằng Caroline vẫn đang hiện diện trong ký ức nhân gian, không bằng tên tuổi, mà bằng sự dịu dàng bền bỉ của lòng người.

#CarolineChristineWalter #GraveWithFlowers #FreiburgCemetery #VictorianTombSculpture #MemorialArt #EternalRemembrance #SilentTribute #LoveBeyondTime #StoneAndMemory #MysteriousVisitors

May be an image of monument


 

KỶ YẾU MỘT “H.O”…Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 KỶ YẾU MỘT “H.O”……

Tôi rất thích bài viết này nên Share lại. Lần nào đọc lại cũng cảm xúc này, nghẹn ngào xúc động.

Cha Mẹ tôi vốn là phú nông, còn buôn bán thêm từ Huế ra Vinh.

Hồi nhỏ, tôi học trường Don Bosco tại Quảng Trạch –  Quảng Bình,

do các Cha và các Thầy dòng dạy.

Tháng Bảy 1954, hiệp định Genève ngừng bắn, gia đình tôi Di cư vào Nam lập nghiệp tại Kim Long – Huế.

Vào Nam tôi học các trường Nguyễn Công Trứ – Phan Thanh Giản

– Sao Mai.

Ra trường đi làm và tự lập.

Năm 1959, Cha Mẹ từ Huế vào cưới vợ cho tôi tại Ðà Nẵng.

Ðến năm 23 tuổi, tôi được động viên học khóa 12 Trần Hưng Ðạo

– Sĩ quan Thủ Ðức.

Tháng Tám 1960 ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Ðược tuyển chọn một trong số 10 người trên 1250 sinh viên, về ngành An Ninh Quân Ðội ANQĐ – Bộ Quốc Phòng.

Ðậu thủ khoa trên 25 Sĩ quan và trên 100 Hạ sĩ quan, tôi được Ðại tá Ðỗ Mậu – Giám đốc Nha ANQÐ – Bộ Quốc Phòng, sau là Thiếu tướng thông tin, trao bằng Danh dự cùng quà tặng trước sự hiện diện của Quân nhân, gia đình binh sĩ và ban Văn nghệ bậc nhất thời bấy giờ.

Ra trường, tôi được Ðại úy Dương Tiến, sau là Trung tá Chánh Sở I ANQÐ, giới thiệu về làm việc ở Sở I ANQÐ.

Tôi được chỉ định làm Trưởng Ban I. Phòng Nhân viên, theo dõi điều chỉnh hồ sơ, vẽ sơ đồ..

Sau một thời gian, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về cục ANQÐ tại Saigon, được “bố trí” trưởng ban I, phòng bảo vệ do Ðại úy Phạm Thành Kiếm làm Trưởng phòng.

Tại Cục ANQÐ, tôi được yêu cầu huấn luyện cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan về đề tài bảo vệ Cơ sở.

Sau đó lại được hoán đổi về Sở I ANQÐ tại Ðà Nẵng, Sở yêu cầu tôi tổ chức liên tục các khóa An ninh căn bản cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan An ninh trong đơn vị, trong số học viên khóa tu bổ tại Ðà Nẵng có Trung tá Tài là cấp bậc lớn nhất.

Mỗi khóa học một tháng, số học viên từ 40 đến 50 người, bằng cấp do Trung tá chánh Sở ký, với kiến thị của Trung tướng Tư lịnh Quân đoàn I.

Sau đó tôi được theo học hai khóa cấp I và cấp II tình báo tại trường Quân báo Cây Mai, rồi Du học tại trường phản tình báo Okinawa – Nhật Bản, tốt nghiệp hạng ưu.

Ðại tá Chu Văn Sáng về làm Chánh Sở I ANQÐ, gia đình tôi được cho ở trong dãy nhà Sĩ quan tại sở.

Trong 17 năm làm việc tại Sở I ANQÐ, tôi đã giữ các chức vụ:

Phụ tá Trưởng ty ANQÐ Quảng Trị, phụ tá Trưởng Phòng An Ninh Quân đoàn cho Thiếu tá Hồ Văn Thống, Trưởng phòng Ban Khai Thác,

Chánh văn phòng.

Ngày 1 tháng 3, Ðại tá Sáng vào Nha Trang nhận chức Chánh Sở II ANQÐ, tôi vào nhận chức Trưởng chi ANQÐ Ninh Hòa.

Sau đó tôi làm Trưởng ban phản tình báo Cam Ranh – Khánh Hoà cho tới ngày “mất nước”, thầy trò dắt nhau đi ở tù “cải tạo”

Sau 30/4/1975, vợ và các con tôi không nhà, không nơi nương tựa phải đi “kinh tế mới”.

Mấy mẹ con lên kinh tế mới được một năm thì vợ tôi bị bịnh sốt rét,

và qua đời tại bịnh viện Khánh Hòa.

Cha Mẹ tôi đưa xác về chôn cất tại Cam Ranh.

Một người vợ hiền lành, mảnh mai, lâm cảnh cơ hàn, chết bơ vơ trong cảnh đổi đời.

Các con mồ côi, đào bới đất đá nơi núi rừng mà sống.

Còn tôi trong trại tù, lao động cực khổ, sắn ăn cầm hơi.

Tôi lãnh “ba nhiệm kỳ”, chín năm tù, ra trại bị quản chế tại kinh tế mới ở Khánh Hòa ba năm.

Ở trại tù miền Bắc, tôi được cho đi làm ngoài, toán sáu người đi chặt nứa.

Anh em lo chặt nứa phần của tôi, để tôi vào nhà dân mua bán đổi chác giùm anh em.

Anh em đưa áo quần cho tôi nhờ đổi con gà luộc hoặc ký đường cát.

Nhờ vậy mà mỗi ngày tôi có điều kiện luộc sắn cho anh em ăn, còn đem về trại cho một hai anh em bạn thân khác, trong số có người bạn quê Lệ Thủy là ưu tiên.

Về sau, hắn đổi qua láng khác, tôi vẫn cho đồ ăn, nhưng hắn ghen tỵ nên báo cáo để cán bộ bắt quả tang.

Thật ra, mua bán đổi chác chỉ nhốt năm ba bữa, nhưng tôi bị xui là buổi sinh hoạt đêm qua, tôi phát biểu về mánh khóe bớt xén gạo nhà bếp của Thượng úy Tẩu làm hậu cần, quê ở Quảng Nam.

Tên này, do tôi tố cáo với Thượng úy Huệ, Sĩ quan thanh tra liên trại,

nên bị sa thải tại chỗ.

Tuy nhiên đêm trước đó, hắn đã ra lệnh nhốt tôi phòng cách biệt,

phòng cách biệt rộng khoảng 1 thước vuông, làm bằng nứa, đổ đất ở giữa. Đêm đến hắn cho lính canh vào đánh tôi, may là tụi lính canh thương hại nên chỉ đánh đá vào vách tường.

Tuần đầu tôi bị nhốt, do Trung sĩ Phát trông coi rất dễ chịu.

Tuần thứ hai, tên Trung sĩ Minh đổi toán thay cho Trung sĩ Phát.

Bàn giao xong, tên Trung sĩ Minh đi một mình xuống trại giam, bắt trói hai tay tôi ra sau, vào cột nhà.

Hắn đánh đập vào đầu, đá vào ngực tôi liên tục nhiều giờ.

Biết tên này hung dữ, lỡ đánh chết mình thì oan, hắn mang lòng thù oán vì có hai người anh tử trận ở miền Nam, tôi giả vờ nói:

“Qua một tuần lễ suy nghĩ, tôi biết việc làm sai trái, cán bộ để tôi cung khai, cả người mua lẫn người bán”.

Hắn tin, đưa tôi lên bàn ăn ngoài láng, đưa bút giấy cho tôi khai.

Hắn giao cho tên Ngọc là Tàu lai đứng trên chòi, canh chừng tôi.

Hết giờ làm việc, tên Ngọc quay mặt ra ngoài, chậm rãi đánh kiểng.

Đây là giờ khởi sự cho việc trốn trại của tôi.

Tôi vội chạy vào trại thay bộ đồ đi rừng, chụp cái nón lá, đạp hàng rào ra ngoài, rồi lẻn quay ngược lên khu vệ binh riêng biệt cạnh trại để trốn.

Bọn chúng không ngờ tôi còn ở trong trại, nên rải quân hàng ngang từ lính chí quan, lần lượt từ đồi sắn này đến đồi sắn khác, cán bộ dùng loa kêu gọi bảo lãnh tánh mạng cho tôi.

Ðến khoảng 2 giờ, mệt lả, đói bụng, chúng kéo nhau về.

Tôi xuống đồi, đến nhà anh Triệu Mai Tân, vợ anh người Tày tên Nghĩa.

Anh cho tôi bộ bà ba đen, một dao phay và một cái nón cối.

Trước giờ chia tay, tôi nhờ anh lên đồi đốn cho năm cây nứa cỡ bằng cườm chân để vượt hồ Thác Bà rộng chừng hai cây số.

Trời tối đen, tôi vượt hồ Thác Bà.

Ra giữa hồ tôi phải tránh né những bè mảng của dân câu cá.

Trong lúc đó, trại cũng cho đốt đuốc truy lùng.

Tôi lên núi, đi bốn ngày đêm, ăn sắn tươi, bắp sống.

Công an, du kích, dân làng các xóm truy lùng tôi ngày đêm. Khi họ cầm đèn bão, bao vây chỉ còn cách nơi tôi trốn khoảng 50 mét, tôi biết mình sẽ bị bắt và sẽ bị đánh đến chết, tôi đọc kinh cầu nguyện dọn mình chịu chết. Bỗng trời đổ cơn mưa gió dữ dội, chịu không nổi vừa mưa gió vừa lạnh, nên họ từ từ rút dần xuống đồi.

Cảm tạ ơn Chúa, Mẹ đã cho tôi thoát chết.

Qua một ngày lội theo ven suối, vào khoảng sáu giờ chiều,

tôi vào trình diện liên trại.

Tôi được mấy ông Trung tá, Thiếu tá ở liên trại chỉ thị nhà bếp cho tôi một dĩa cơm.

Ăn xong, Thượng úy Huệ dùng đèn pin dẫn qua cánh đồng đưa đến trại 4. Ông này lấy thêm lời khai của tôi vụ Thượng úy Tẩu bớt xén gạo nhà bếp, chi tiết do anh Châu đầu bếp cho tôi biết.

Anh này bị lật mảng, chết đuối tại hồ Thác Bà khi mang cơm cho anh em lao động ăn trưa tại chỗ.

Trung tá Luyện ở trại cũ mang tư trang lên cho tôi, có tên Ngọc gác cổng dẫn đi.

Tên Ngọc đi lên với hy vọng đánh tôi vài báng súng.

Thiếu úy Huệ ở liên trại bảo hắn ra ngoài chờ bàn giao nên tôi thoát bị đòn.

Tôi được chuyển về trại 3 Tân Kỳ – Nghệ Tĩnh, được chỉ định làm tổ trưởng tổ chuyển vận gồm 10 người từ năm 1982.

Đến năm 1984 tôi được thả về.

Tôi về, ở cùng các con vùng kinh tế mới làm ruộng rẫy, chặt lồ ô về chẻ hom đem ra chợ bán.

Cuộc sống Cha con khổ cực, cơm độn khoai sắn, mắm muối qua ngày.

Tại đây, người ta tổ chức một cuộc tập trung nhân dân toàn xã, bắt tôi đọc tiểu sử.

Trưởng công an huyện nói:

“Tiểu sử của anh rất huy hoàng, nhưng anh sống trên xương máu của nhân dân”.

Tôi trả lời:

“Sống chế độ nào, phục vụ chế độ đó, chính phủ trả lương, tôi chẳng bóc lột xương máu nhân dân bao giờ”.

Kết luận, hắn khuyên tôi hòa mình với nhân dân, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Tôi bị trưởng Công an huyện, tù ở đảo về, coi trọng vì tôi là Sĩ quan ngành An ninh phản tình báo.

Hắn buộc tôi phải ghi vào một quyển sổ những gì đã học tập, lao động,

sinh hoạt hằng ngày..

Trình diện, báo cáo cho Công an xã hàng tuần, Công an huyện hàng tháng, suốt ba năm.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện “H.O”.

Cái khó khăn bấy giờ của chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục và ở ngoài Trung xa Saigon.

Tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn, được chừng nào thì lo chừng đó.

Thật tình thì Cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy, làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn, chỉ cầu may.

Chờ đợi mấy năm, chúng tôi nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn. Chúng tôi lại chạy vay tiền bạc vào Saigon phỏng vấn, khám sức khỏe. Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được ngày được đi Mỹ.

Từ chốn núi rừng đói rách, đặt chân lên đất Mỹ Văn minh, nhà cao, đường lớn, tâm trạng chúng tôi thật háo hức và cũng đầy âu lo.

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1994.

Sau 16 năm định cư tại Hoa Kỳ, các con tôi ai cũng từ độc thân,

tay trắng, nay đều đã có gia đình, con cái, nhà cửa, xe cộ.

Cuộc sống chúng tôi mọi sự thật đầy đủ, hạnh phúc, duy chỉ có điều buồn là tôi sắp lìa xa các con cháu vì tôi bị ung thư giai đoạn cuối.

Nằm nhà thương, như cây đèn cạn dầu, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay.

Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác.

Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao ngày nữa.

Thế là hết một kiếp người.

Cảm tạ ơn trên đã quan phòng,

che chở cho gia đình tôi bình yên. Cám ơn các ân nhân đã giúp Cha con tôi được định cư tại Hoa Kỳ.

“H.O” – 26, viết trên giường bệnh trước khi từ giã gia đình và bằng hữu…..

            Phuoc An Thy.

Nguồn fb Minh Anh Jessica

No photo description available.


 

TẤM TÌNH FRANK SINATRA – Truyen ngan HAY

Sơn Vũ

Một bài viết đọc xong nước mắt muốn trào ra… Số phận của không ít cựu chiến binh, ở bất cứ quốc gia nào, không phân biệt dân tộc, giọng nói hay màu da gần như giống nhau…

Thỏ đã bắn, chim đã bắt thì cung nỏ còn cần chi nữa?

Trịnh Anh Khôi

TẤM TÌNH FRANK SINATRA

Tháng 12 năm 1972, một đêm Đông lạnh giá bên ngoài sòng bạc Sands ở Las Vegas. Frank Sinatra bước ra khỏi cửa chính sau một buổi diễn lúc nửa đêm đã bán cháy vé, đoàn tùy tùng đi theo ông.

Lực lượng an ninh tạo thành một bức tường ngăn cách giữa ông và đám đông người hâm mộ đang chờ xin chữ ký. Rồi một người đàn ông bỗng bước ra từ bóng tối.

Anh gầy gò, mặc một chiếc áo khoác quân đội rách rưới với một huy hiệu cựu chiến binh Việt Nam lộ rõ ​​trên tay áo. Anh nhìn Frank và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Thưa ngài, ngài có thể cho tôi một đô-la không? Tôi chưa ăn gì hôm nay cả”.

Điều Frank làm tiếp theo khiến mọi người trên vỉa hè đều sững lại. Nó khiến lực lượng bảo vệ ông đứng im như tượng. Nó khiến đám đông hoàn toàn im lặng. Bởi vì Frank Sinatra không chỉ cho người kia một đô-la.

Người cựu binh đó là Robert Chen, 26 tuổi. Anh đã phục vụ hai lần ở Việt Nam trong Lực lượng Bộ binh, tham gia chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh và thành phố Huế.

Anh trở về nhà năm 1971 với Huân chương Sao Đồng, những vết sẹo vì mảnh đạn trên lưng và những cơn ác mộng khiến anh không thể ngủ được. Giống như hàng ngàn cựu chiến binh khác, Robert trở về một đất nước không muốn nhìn mặt anh.

Anh không thể tìm được việc làm vì các nhà tuyển dụng chỉ cần thấy dòng chữ “Cựu chiến binh Việt Nam” trên đơn xin việc là họ chuyển ngay sang ứng viên khác. Anh không thể ngủ được vì mỗi tiếng động lớn quanh chỗ nằm đều đưa anh trở lại khu rừng rậm Việt Nam. Anh không thể kết nối với gia đình vì họ không hiểu những gì anh đã chứng kiến.

Đến tháng 12 năm 1972, Robert trở thành người vô gia cư, sống lang thang trên đường phố Las Vegas, ngủ trong các con hẻm và mót thức ăn còn thừa từ mọi thùng rác.

Huân chương Sao Đồng được cất giữ ở đâu đó trong một tiệm cầm đồ; anh đã bán nó với giá 30 đô-la từ 2 tháng trước chỉ để mua thức ăn.

Đêm đó, ngày 19 tháng 12, Robert đứng bên ngoài sòng bạc Sands – Ban đầu không phải để ăn xin, chỉ là đứng để cố tìm một chỗ ấm. Anh biết các sòng bạc bơm không khí ấm ra ngoài qua các lỗ thông hơi, và nếu bạn đứng gần lối vào, bạn có thể cảm nhận được hơi nóng.

Bên trong, Frank Sinatra vừa kết thúc buổi diễn của mình. Chín mươi phút nhận được những tràng vỗ tay nhiệt liệt, như thường lệ. Frank mệt mỏi.

Ông đã 57 tuổi, và dù giọng nói không còn như xưa, nó vẫn đủ mạnh mẽ để lấp đầy cả căn phòng và khiến mọi người quên đi những muộn phiền trong vài giờ.

Frank bước ra ngoài qua cửa chính, được bao quanh bởi quản lý, vệ sĩ và trợ lý của ông.

Một đám đông khoảng 50 người đang chờ đợi bên ngoài, họ là người hâm mộ với máy ảnh và sổ xin chữ ký, những người chơi bạc giàu có hy vọng được bắt tay ông. Đó là cảnh tượng thường thấy ở Las Vegas.

Robert thấy Frank bước ra qua cánh cửa kính, và điều gì đó trong anh vỡ vụn. Có lẽ đó là đói, có lẽ là tuyệt vọng, hoặc có lẽ chỉ là nhu cầu được ai đó – Bất cứ ai – nhìn thấy, người đó có thể thừa nhận sự tồn tại của anh.

Anh bước tới. Nhân viên an ninh lập tức chặn anh lại. Họ là những người đàn ông to lớn, cựu cảnh sát, được huấn luyện để giữ mọi người tránh xa Frank.

“Thưa ông, xin lùi lại” – Một người trong số họ nói dứt khoát.

Robert không lùi lại. Anh nhìn qua vai người bảo vệ, thẳng vào Frank. “Ông Sinatra, tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông. Tôi là cựu chiến binh. Tôi chỉ cần một đô-la để mua thức ăn. Chỉ một đô-la thôi, làm ơn”.

Người bảo vệ đặt tay lên ngực Robert: “Tôi bảo anh lùi lại”.

Nhưng Frank đã nghe thấy. Ông đã nhìn thấy chiếc áo khoác quân đội, huy hiệu chiến tranh Việt Nam, và ánh mắt trống rỗng của Robert. Frank nhận ra ánh mắt đó vì chính mình đã từng thấy nó trước đây – Trong mắt cha ông sau thời kỳ Đại khủng hoảng, và trong mắt bạn bè ông sau Thế chiến II.

Frank khoát tay: “Chờ đã”.

Người bảo vệ dừng lại. Toàn bộ đám đông im lặng, mọi người đều dõi theo.

Frank bước qua người bảo vệ và đứng đối mặt với Robert. Ông thực sự nhìn kỹ anh ta – Đôi má hóp lại, đôi tay run rẩy, chiếc áo khoác quá mỏng so với tháng Mười Hai ở đây.

“Tên anh là gì?” – Frank hỏi.

“Robert Chen”.

“Anh từng phục vụ trong quân đội?”.

“Vâng, thưa ông. Lục quân, hai đợt”.

Frank gật đầu chậm rãi: “Ở đâu?”.

“Khe Sanh. Thành phố Huế”.

“Chuyện đó thật tệ” – Frank thì thầm.

“Vâng, thưa ông. Đúng vậy”.

Frank thò tay vào túi. Đám đông nghiêng người về phía trước, quan sát, mong chờ ông rút ra một đô-la, có thể năm đô-la, hoặc hai mươi đô-la nếu Robert may mắn. Nhưng Frank rút ví, mở ra và lấy tất cả các tờ tiền bên trong. Hàng trăm, năm mươi, hai mươi đô-la, tổng cộng có lẽ khoảng 800 đô-la. Ông đưa nó cho Robert.

Robert nhìn chằm chằm vào số tiền. Anh không nhận: “Thưa ông, tôi chỉ xin một đô-la thôi”.

“Tôi biết anh cần gì?” – Frank nói – “Tôi đang cho anh những gì anh cần”.

“Tôi không thể nhận số tiền này”.

“Có, anh có thể” – Frank nắm lấy tay Robert, đặt tiền vào tay anh và khép các ngón tay của Robert lại quanh cuộn tiền đó – “Nghe này. Anh đã phục vụ đất nước. Anh đã làm những gì họ yêu cầu anh làm, và anh trở về tay trắng. Điều đó không đúng. Điều đó không công bằng. Và tôi không thể sửa chữa cả thế giới, nhưng tôi có thể giúp anh tối nay. Cầm lấy tiền đi”.

Robert rưng rưng mắt: “Tại sao?”.

“Vì cha tôi đã từng như anh” – Frank đáp – “Cuộc chiến tranh khác, nhưng câu chuyện giống nhau. Ông ấy trở về từ Thế chiến thứ nhất với hai bàn tay trắng. Làm việc quần quật đến chết để mưu sinh. Tôi đã chứng kiến ​​ông ấy vật lộn suốt thời thơ ấu của tôi. Và tôi thề rằng nếu tôi có tiền, nếu tôi có cơ hội giúp đỡ một người như ông ấy, tôi sẽ làm”.

Frank quay sang người quản lý của mình: “Đặt cho anh ta một phòng ở khách sạn Sands này. Một tuần. Tính vào hóa đơn của tôi”.

Người quản lý gật đầu, lấy ra một cuốn sổ tay.

Frank quay lại phía Robert: “Tối nay anh sẽ nhận phòng trong khách sạn này. Anh sẽ được ăn uống. Anh sẽ được ngủ trên một chiếc giường thực sự. Và ngày mai, anh đến gặp tôi. Tôi có một người bạn điều hành một công ty xây dựng. Anh ấy thuê cựu chiến binh. Công việc tốt. Anh có hứng thú không?”.

Robert không thể nói nên lời. Anh chỉ gật đầu, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

“Tốt” – Frank đặt tay lên vai Robert – “Anh không còn cô đơn nữa. Anh hiểu tôi chứ? Dù anh đã mang vác điều gì, anh không cần phải mang một mình nữa”.

Rồi Frank làm một điều mà không ai ngờ tới. Ông cởi áo khoác của mình. Đó là chiếc áo cashmere đắt tiền, được may đo riêng, trị giá hơn thu nhập cả tháng của hầu hết mọi người. Ông khoác nó lên vai Robert.

“Tối nay trời lạnh” – Frank nói. Đám đông đứng chết lặng. Một số người khóc. Một người phụ nữ ở phía trước lấy tay che miệng. Một trong những vệ sĩ của Frank lau nước mắt.

Frank quay sang đám đông: “Người đàn ông này đã phục vụ đất nước. Anh ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà hầu hết chúng ta chỉ xem trên TV. Anh ấy trở về tay trắng. Không việc làm, không sự hỗ trợ, không sự tôn trọng. Thật đáng xấu hổ. Đó là lỗi của tất cả chúng ta”.

Ông nhìn thẳng vào đám đông: “Tối nay các bạn đến đây để xem biểu diễn, để vui chơi, để quên đi những vấn đề của mình. Điều đó tốt thôi. Nhưng đừng quên những người như Robert. Đừng bước qua họ. Đừng giả vờ như họ vô hình, bởi vì họ không phải vậy. Họ là những người hùng, và chúng ta nợ họ tất cả mọi thứ”.

Frank quay lại nhìn Robert: “Vào trong đi. Nói với họ là Frank đã gửi anh đến. Họ sẽ chăm sóc anh”.

Robert cố gắng nói nhưng không thành công. Anh chỉ ôm chầm lấy Frank ngay trên vỉa hè. Người cựu chiến binh vô gia cư và ngôi sao lớn bậc nhất thế giới ôm chặt lấy nhau trong khi 50 người khác im lặng theo dõi.

Khi Robert buông ra, Frank khẽ nói: “Còn một điều nữa. Cậu cứ giữ lấy chiếc áo khoác đó. Nó hợp với cậu hơn là với tôi”.  Rồi Frank đi đến xe của mình, lên xe và rời đi.

Đám đông đứng đó một lúc lâu. Không ai nhúc nhích. Không ai nói gì. Rồi, từ từ, mọi người bắt đầu thò tay vào túi, rút ​​tiền ra, đi về phía Robert và đưa cho anh. Hai mươi, năm mươi, một trăm đô-la.

Một người phụ nữ cởi khăn quàng cổ của mình và đặt vào tay Robert. “Cảm ơn vì sự phục vụ của anh” – Bà thì thầm.

Khi đám đông giải tán, Robert Chen đã cầm trên tay hơn 3.000 đô-la và mặc chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Tối đó, anh nhận phòng 847 tại khách sạn Sands. Anh tắm 40 phút – Lần tắm nước nóng đầu tiên sau 8 tháng. Anh gọi dịch vụ phòng – Bít-tết và trứng – rồi ăn chậm rãi, thưởng thức từng miếng.

Sáng hôm sau, anh gặp bạn của Frank tại công ty xây dựng, một người tên là Joe Columbo, một cựu lính Thủy đánh bộ từng phục vụ ở Hàn Quốc. Anh ấy hiểu ngay câu chuyện.

“Frank đã gọi cho tôi“ – Joe nói – “Anh ấy đã kể với tôi về anh. Tôi có một vị trí đang trống. Lương 75 đô la một ngày. Anh bắt đầu làm việc vào thứ Hai. Anh có muốn nhận không?”.

Robert gật đầu: “Vâng, thưa ông. Tôi muốn nhận”.

Joe mỉm cười. “Tốt. Và đừng gọi tôi là ông nữa. Tôi làm việc để kiếm sống thôi mà…”.

Robert làm việc cho Công ty Xây dựng Columbo trong 32 năm tiếp theo. Ông cuối cùng trở thành quản lý dự án, và giám sát các công trình xây dựng lớn trên khắp Las Vegas. Ông có một cuộc sống tốt đẹp, kết hôn, có ba đứa con và mua một căn nhà.

Ông giữ lại chiếc áo khoác của Frank. Ông không bao giờ mặc nó nữa, cất giữ nó trong một tủ đặc biệt, giặt khô mỗi năm một lần, được bảo vệ như một vật thiêng liêng.

Khi Frank Sinatra qua đời vào ngày 14 tháng 5 năm 1998, Robert Chen, khi đó là một giám đốc điều hành đã nghỉ hưu, đã bay đến California.

Ông không cố gắng tham dự buổi lễ riêng tư cùng với những người nổi tiếng và các chức sắc. Ông chỉ đơn giản đứng bên ngoài nhà thờ, mặc chiếc áo khoác cashmere màu sữa đó lần đầu sau 26 năm. Ông đứng gác, giống như hồi còn ở Việt Nam, trông chừng người đàn ông đã cứu mạng mình.

Khi một phóng viên để ý thấy chiếc áo khoác – Rõ ràng là đồ cổ, rõ ràng là đắt tiền – và hỏi ông về nó, Robert chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ ve áo và nói: “Một người bạn đã tặng tôi chiếc áo này từ lâu. Anh ấy nói rằng mặc nó hợp với tôi hơn là với anh ấy. Tôi chỉ đến đây để nói lời cảm ơn”.

Robert Chen qua đời năm 2016. Ông được chôn cất cùng với Huân chương Sao Đồng, thứ mà cuối cùng ông đã tìm lại và mua lại được. Và trong quan tài của ông, được gấp gọn gàng dưới chân, là chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Một lời cuối cùng: Một hành động tử tế, một khoảnh khắc bạn nhìn thấy ai đó khi cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ họ, có thể bạn sẽ thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

Photo: Frank Sinatra và Robert Chen

May be an image of overcoat and text


 

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Chau Le 

 Phó cảnh sát Lawson không hề có cảnh báo nào khi một tên chạy trốn bất ngờ lao ra từ trong tủ và xông tới anh với một con dao răng cưa.

Lưỡi dao nhắm thẳng vào cổ anh — một nhát đánh chí mạng.

Lawson không kịp phản ứng.

Nhưng người bạn K9 của anh, Titan, thì có.

Chú chó chăn cừu Đức nặng 85 pound (gần 39 kg) đã lao thẳng vào kẻ tấn công, đỡ nhát dao đâm sâu vào sườn mình — một đòn vốn dành cho Lawson.

Khi lực lượng hỗ trợ khống chế được nghi phạm, Titan gục xuống, máu chảy rất nhiều.

Lawson ôm chặt Titan vào lòng, bỏ qua mọi quy trình, lao thẳng đến bệnh viện thú y cấp cứu, còi hú inh ỏi, vừa ép vết thương vừa van nài:

“Đừng bỏ anh mà.”

Các bác sĩ thú y đã làm việc suốt ba tiếng để cầm máu nội tạng.

Lawson không rời nửa bước, thì thầm với chú chó đã cứu mạng anh.

Khi Titan cuối cùng cũng vẫy đuôi, Lawson bật khóc vì nhẹ nhõm.

Anh rời đi, biết rằng từng hơi thở của mình đều nhờ chú chó đang nằm hồi phục kia.

Nguồn: puppy surprise

No photo description available.