Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80

Nguyễn Tuấn

 Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80.

Không ai biết chính xác ngày anh mất. Vì vậy, Ba Má tôi lấy ngày anh lên ghe rời Việt Nam làm ngày giỗ. Hôm nay là ngày giỗ thứ 45.

Anh Hai tôi từng là ngôi sao sáng chói trong đại gia đình về học hành. Anh là người đầu tiên trong làng đậu tú tài toàn phần, rồi tốt nghiệp kỹ sư hóa học. Trong họ hàng, còn có một người nữa cũng thi đậu tú tài toàn phần – em họ tôi (gái) – nhưng theo quan niệm truyền thống thời ấy, con gái không được khuyến khích lên đại học.

Thập niên 1960-1970, chỉ khoảng 10-15% học sinh trung học thi đậu tú tài toàn phần, và chỉ 5-10% thí sinh dự thi đại học được tuyển. Hệ thống giáo dục lúc đó mang tính “elite”, chỉ dành cho những người thật sự xuất sắc. Vì vậy, ai đậu đại học là niềm tự hào lớn lao cho cả gia đình và làng xóm.

Sau ngày 30/4/1975, anh Hai làm việc kiểm nghiệm ở một công ty quốc doanh một thời gian ngắn rồi nghỉ. Không ai hỏi lý do, nhưng tôi đoán anh không chịu nổi môi trường mới.

Anh về quê sống với ngoại. Khác với tôi và anh Ba, những người có thể làm ruộng, cày cuốc, anh Hai chỉ quen cuộc sống thành thị, chưa bao giờ đụng tay vào việc đồng áng.

Người ta gọi anh là “công tử bột”. Vẫn còn xe Honda, ăn mặc bảnh bao (thời đó dễ bị gắn mác “tiểu tư sản”). Ngoại tôi rất thương anh, nên anh được đặc quyền trong ngôi nhà cũ kỹ đó. Anh thường lái Honda ra Rạch Giá cà phê, cà pháo với bạn bè cùng cảnh ngộ. Tôi cũng hay gặp anh ở đó.

Những buổi cà phê ấy thực ra là để anh tìm đường vượt biên. Một hôm, anh chủ động gặp tôi, nói sắp đi, rồi hỏi thẳng: “Mày đi hông?”

Tôi hơi sốc. Lúc đó tôi còn đầy lý tưởng lắm, tin rằng đất nước rồi sẽ ổn, nên chưa nghĩ đến chuyện ra đi. Có lần anh Hai tôi giới thiệu với bạn bè bằng giọng nói sốc: ‘thằng này nó là em tao, nhưng nó tả khuynh lắm’.

Tôi đã chứng kiến nhiều bạn bè từ Sài Gòn về Rạch Giá tìm đường vượt biên. Ở chỗ làm, hễ ai mất tích vài ngày là biết ngay họ đã “đi”. Có người thoát được, đến Đông Nam Á rồi Mỹ, gởi thư về báo tin vui. Nhưng cũng không ít bị bắt, giam ở các trại vùng U Minh Thượng. Một số được thả sau vài tháng, rồi lại tìm cách đi tiếp. Tôi có bạn bị bắt tới bảy lần!

Thấy tôi im lặng, anh Hai nói: “Vậy là mày không đi?” Rồi anh giao cho tôi chiếc xe Honda và đồng hồ Seiko, dặn về báo Ba Má rằng anh đã quyết định đi. Chính vì những món đồ ấy mà sau này tôi bị đồng nghiệp “kiểm điểm” đủ kiểu, “lên bờ xuống ruộng” đến mức không chịu nổi, cuối cùng cũng ra đi.

Không ngờ đó là lần cuối chúng tôi gặp nhau.

Anh Hai đi trên một chiếc tàu đánh cá nhỏ, do ông già vợ tương lai của anh làm chủ. Ông là người có hơn 30 năm kinh nghiệm đi biển, tự hào là “nhắm mắt cũng lái từ ngoài khơi về bến Rạch Giá”. Chuyến đi chỉ vỏn vẹn 20 người, toàn thân nhân bên vợ tương lai của anh. Tôi không biết chính xác ngày khởi hành, nhưng thằng em họ tôi nói là ngày 12/2/1981.

Cả 20 người đều mất tích.

Mất tích trên biển đồng nghĩa với việc họ đã ra đi mãi mãi. Nhưng nguyên nhân thì không ai hay: tai nạn chìm tàu? Bão tố? Hay cướp biển? Má tôi từng mời “thầy” về xem ngày giờ, nhưng tất cả đều vô vọng. Mỗi lần nhắc đến anh Hai, Má lại khóc.

Anh Hai tôi có lẽ đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng Biển Đông, cùng với hàng trăm ngàn người Việt khác trong thập niên 1970-1980. Theo thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), từ 1975 đến 1995, khoảng 800.000 người Việt vượt biên bằng đường biển và đến được nơi an toàn. Ước tính số người bỏ mạng trên biển dao động từ 200.000 đến 400.000, một con số đau lòng, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số người ra đi.

Những con số đó cũng là một chương sử buồn của dân tộc, dù chưa từng được đề cập chánh thức trong sách vở.

Họ ra đi vì khát khao tự do mới, vì không chịu nổi hoàn cảnh mới. Rất rất nhiều người đã không bao giờ chạm được đến “miền đất hứa”. Trong số ấy có anh Hai tôi, một người tài hoa, một người anh mà tôi mãi mãi nhớ.

Ngày giỗ năm nay, gia đình lại quây quần bên bàn thờ. Mấy đứa em thắp nhang, kể chuyện xưa, và lặng lẽ tưởng nhớ một cuộc đời dang dở giữa biển khơi mênh mông. Anh Hai ơi, nếu có kiếp sau, mong anh được bình yên.


 

BỨC THƯ CỦA MỘT BÀ MẸ TỪ VIỆN DƯỠNG LÃO

Xuyên Sơn

Năm nay tôi 82 tuổi, tôi có 4 người con, 11 đứa cháu, và 2 chắt, hiện tại thì tôi đang sống trong một căn phòng rộng chừng 12m vuông..

Bây giờ nhà cửa không còn, những thứ xa hoa phù phiếm cũng không có, bù lại tôi được chăm sóc tận tình từ A đến Z; có người lo dọn dẹp phòng, chăn drap gối nệm sạch sẽ, cơm nước được lo tận nơi, mỗi ngày được đo huyết áp và cân đo thường xuyên, nói chung tôi không làm gì cả, mỗi giờ trôi đi là sự hưởng thụ trong tuổi già.

Tôi rất nhớ! Nhớ tiếng cười đùa của lũ cháu, tôi không còn thấy chúng lớn tiếng cãi vã rồi vật nhau.

Không còn được là trọng tài để phán xử đứa nào đúng, đứa nào sai.

Nhớ chúng nhiều lắm.

Tôi thèm được trở về nơi chốn cũ để tận hưởng không gian ấm áp của một thứ gọi là gia đình…

Bây giờ các con tôi, có đứa thì cách 15 ngày đến thăm tôi một lần, có đứa thì ba bốn tháng mới thấy chúng một lần, và có đứa thì chưa thấy mặt nó một lần kể từ khi tôi đến ở Viện Dưỡng Lão này.

Tôi nhớ da diết căn bếp ấm cúng của tôi, nơi đó tôi đã làm đủ các loại bánh, mùi bánh nướng thơm ngậy vẫn còn lưu giữ trong tiềm thức của tôi.

À, còn mảnh vườn sau nhà nữa, đào xới đất để trồng rau, trồng hoa cũng một tay tôi dù lúc đó tôi cũng không còn khoẻ.

Giờ thì mất hết rồi!

Tôi có sở thích đọc sách, giờ vẫn luôn có cuốn sách bên mình nhưng tôi không đọc được vì mắt đã mờ…

Tôi không biết thời gian của tôi còn bao lâu nữa, còn bao lâu thì tôi cũng phải sống trong sự cô đơn và chờ đợi…

Ở căn phòng này xem như ngôi nhà cuối đời của mình, tôi cố gắng xua đuổi nỗi buồn trong sinh hoạt hằng ngày, tôi như một nhóm trưởng,

tôi giúp những người tồi tệ hơn tôi trong giới hạn cho phép của tôi qua những mẫu chuyện vui trong sách, những lời an ủi cho họ và cho chính tôi.

Chúng tôi hát cùng nhau một bài hát cũ, và hôm sau tôi biết được người bạn phòng bên đã ra đi mãi mãi…

Họ nói bây giờ tuổi thọ kéo dài hơn.

Tại sao?

Tôi phải sống trong nỗi cô đơn dài nữa ư?

Lấp đầy sự trống trải bằng cuốn Album hình mà tôi đem theo đến đây. Hình cưới ngày xưa của tôi, hình lúc tôi sanh đứa đầu đến đứa cuối, hình tôi cười sung sướng khi ẵm đứa cháu đầu lòng, rồi đứa chắt bụ bẫm bên bà già đã đầy nếp nhăn.

Hình gia đình đầy đủ, hình lúc ông chồng già của tôi bỏ tôi đi mà về với Chúa.

Và đó là tất cả!

Nếu được mơ ước thì tôi mong các con, cháu, chắt của tôi đừng bao giờ quên hai chữ “GIA ĐÌNH” ngay cả khi cha mẹ về già, các con nên xem đó là bổn phận phải chăm lo khi họ không tự lo được cho mình…

Tôi hy vọng các thế hệ tiếp theo sẽ hiểu rằng Gia Đình là một Đại Gia Đình gồm nhiều thế hệ, gọi là sóng sau dồn sóng trước, như một chu kỳ tuần hoàn vì ai rồi cũng đến “sanh lão bệnh tử”…

Các con hãy chăm lo tốt cho cha mẹ khi họ về già… cũng giống như khi họ còn trẻ lo cho các con là chúng ta vậy…

Chi Nguyen sưu tầm

Ảnh st minh họa cho bài.


 

Nợ ân tình – TG Văn Chương

TG Văn Chương

Cách đây ba tháng, thằng con đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi gây tai họa: nó làm nát bét chiếc xe gia đình vì mải nhắn tin lúc lái. Ơn trời, không ai bị thương, nhưng bảng báo giá sửa xe làm tôi muốn xỉu: 4.200 đô. Riêng tiền bảo hiểm bắt mình tự chịu đã là 2.500 đô rồi. Tôi vừa giận, vừa run. Nhà làm gì có số tiền đó. Tôi phải cày hai công việc một lúc, chồng tôi thì mất sức lao động. Có những tháng, cả nhà phải thắt lưng buộc bụng, đắn đo mãi giữa việc đóng tiền điện hay mua đồ ăn.

Anh thợ sơn xe chỉ tôi đến một chỗ dưới mạn Nam thành phố. — “Dưới đó rẻ hơn,” ảnh nói. “Nhưng chỉ nhận tiền mặt thôi nhé.”

Tôi lái xe đến một nơi trông chẳng khác gì bãi đồng nát. Xe cộ rỉ sét chất đống, cỏ dại mọc lởm chởm qua những vết nứt bê tông. Tấm biển hiệu thì bạc phếch, treo lủng lẳng sắp rụng. Tôi đã định quay đầu xe đi về cho rảnh nợ.

Thế rồi, một ông lão lẹt bẹt bước ra. Chắc cũng phải 75 tuổi trở lên. Bộ đồ công nhân lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay hơi run run. Ông nói với cái giọng địa phương đặc sệt: — “Xe cần sửa hả cô?”

Tôi kể hết nỗi khổ của mình. Ông nhìn cái xe, lầm bầm rồi đi vào trong. Một lúc sau, ông cầm ra cái bảng kẹp giấy: — “Tôi lấy 800 đô thôi.” Tôi há hốc mồm: — “Nhưng người ta bảo tận…” — “Kệ họ. Họ đòi thay đồ mới, sơn xịn nên mới đắt,” ông thản nhiên đáp. “Tôi có đồ tốt rồi, tôi sẽ làm cho nó chạy chắc chắn là được. 800 đô nhé.” — “Dạ… rồi khi nào thì tôi phải gửi tiền ông?” — “Giờ đưa trước 50 đô cũng được. Còn lại bao giờ có thì đưa, không vội.”

Tôi đứng ngẩn tò te: — “Sao ông lại tin tôi thế?” Ông nhìn tôi bằng ánh mắt của một người đã trải đời: — “Hồi chiến tranh, có một người lạ đã giấu cả nhà tôi trong kho thóc của họ suốt nửa năm trời. Họ chẳng lấy một đồng, chỉ dặn: ‘Sau này có điều kiện thì hãy giúp lại người khác’. Tôi thì chẳng có kho thóc nào để giấu ai cả, nhưng tôi biết sửa xe.”

Tôi đã đứng khóc ngon lành ngay giữa cái bãi xe cũ nát đó.

Ông sửa xong trong ba ngày. Xe chạy êm ru, chắc chắn. Lúc đến lấy xe, tôi thấy một bà cụ đang vừa khóc vừa múa may bên chiếc xe móp méo của mình. Ông lão chỉ gật đầu, đặt tay lên vai bà cụ rồi cầm lấy chìa khóa. — “Lại một ca ‘từ thiện’ nữa hả ông?” — Tôi hỏi khẽ. Ông nhún vai: — “Chồng bà ấy mới mất, chưa có lương hưu. Không có xe thì bà ấy không đi thăm cháu được. Thôi, giúp bà ấy một tay.”

Suốt hai tháng sau, mỗi lần có chút tiền, 50 hay 100 đô, tôi lại mang qua trả ông. Lần nào ghé, tôi cũng thấy một người nào đó đang ở đó — khi thì anh bố đơn thân, lúc thì anh công nhân vừa mất việc. Họ đều lái những chiếc xe nát tưởng chỉ có nước bán sắt vụn, nhưng vẫn chạy tốt nhờ bàn tay ông lão — người chỉ lấy tiền theo kiểu “tùy tâm”… hoặc chẳng lấy xu nào.

Lần cuối cùng sang trả nốt nợ, tôi tò mò hỏi: — “Ông cứ làm thế này mãi thì sống sao nổi?” Ông mỉm cười hiền từ: — “Cũng có người trả đủ tiền mà cô. Tiền của họ giúp tôi duy trì cửa hàng, còn những người trả ít giúp tôi duy trì… cái tâm mình. Thế là huề.”

Tuần trước, tôi chạy ngang qua xưởng của ông. Cửa đóng then cài, có tấm biển “Bán nhà” dựng trước sân. Tôi hoảng quá, gọi ngay vào số điện thoại trên danh thiếp. Con gái ông bắt máy, giọng nghẹn lại: — “Cha cháu mất hôm thứ Ba rồi cô ạ. Cụ bị đột quỵ ngay tại xưởng.”

Tôi lặng người, tim thắt lại. — “Chị em cháu đang kiểm kê sổ sách,” cô ấy nói tiếp. “Trong ngân hàng cụ chỉ có 847 đô. Nhưng cuốn sổ tay của cụ… có tận 73 người vẫn còn nợ tiền. Tổng cộng hơn 30.000 đô.” Cô ấy dừng lại một chút, rồi kể: — “Cụ để lại mảnh giấy ghi: ‘Xóa nợ hết đi. Họ cần cái xe để mưu sinh hơn là cha cần tiền’.”

Đám tang ông hôm qua đông lắm. Cả 73 con người có tên trong sổ đều đến. Những người xa lạ không quen biết nhau, nhưng đều mang ơn ông lão — người đã không bỏ mặc chúng tôi lúc khốn khó. Chúng tôi gom tiền lại, trả hết các khoản nợ còn tồn của xưởng, rồi đưa phần còn lại cho con gái ông.

Về nhà, con trai tôi hỏi: — “Mẹ ơi, sao mẹ khóc nhiều thế? Mẹ có thân với ông ấy lắm đâu.” Tôi bảo con: — “Bởi vì ông ấy đã dạy mẹ một bài học mà thế hệ của con cần phải biết. Mỗi ngày, con nhìn thấy rất nhiều người — nhưng hãy thực sự nhìn thấy họ. Thấy cái xe họ hỏng, thấy lòng họ đau, thấy túi họ rỗng. Lúc đó con phải chọn: mình sẽ là người chìa tay ra giúp, hay là người quay lưng bỏ đi?”

Thằng bé im lặng. Tháng trước, tôi thấy nó bắt đầu đi làm tình nguyện ở chỗ phát cơm từ thiện. Nó không khoe khoang, cứ lặng lẽ mà làm thôi.

Cái xưởng của ông lão vẫn đang treo biển bán. Tấm biển “Chỉ nhận tiền mặt” vẫn còn đó. Nhưng 73 người chúng tôi đều hiểu ý nghĩa thật sự của nó là gì: Có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Lúc nào có thì trả. Nếu có thể thì trả.

Vì có những món nợ không thể tính bằng tiền. Đó là món nợ của lòng trắc ẩn: Nhớ rằng vào cái ngày ta tuyệt vọng nhất, đã có một người bằng lòng “sửa chữa” cuộc đời ta mà không đòi hỏi gì.

TG Văn Chương

From: T. Nguyen


 

Gửi người nào tìm thấy Max -Truyen ngan HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị

Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày, và không có gì tôi làm có thể an ủi được nó cho đến khi chúng tôi tìm thấy mẩu giấy được giấu bên trong vòng cổ của nó.

Tên nó là Max. Ít nhất thì vòng cổ ghi như vậy. Một con chó lai giống Pit Bull, khoảng ba tuổi, được nhân viên kiểm soát động vật đưa đến vì bị lạc.

Nhưng Max không phải là một con chó lạc bình thường. Nó không sợ người. Nó không hung dữ. Nó không bị ốm hay bị thương.

Nó đang đau khổ tột cùng.

Tôi là Sarah, và tôi đã làm việc tại Trại cứu hộ động vật của quận được mười một năm. Tôi đã thấy hàng nghìn con chó đi qua cánh cửa này. Những con chó vui vẻ. Những con chó ốm yếu. Những con chó hung dữ. Những con chó sợ hãi. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một con chó nào giống như Max.

Nó không ăn. Không uống. Chỉ ngồi ở góc chuồng, úp mặt vào tường, hai chân che mắt, phát ra những tiếng khóc đau lòng nhất mà tôi từng nghe.

“Nó đã như vậy ba ngày rồi,” đồng nghiệp Jenny nói với tôi vào ngày đầu tiên tôi trở lại làm việc sau kỳ nghỉ. “Chúng tôi đã thử mọi cách. Thức ăn. Bánh thưởng. Đồ chơi. Nó thậm chí không thèm nhìn chúng tôi.”

Tôi đi đến chuồng của Max. Nó đúng như Jenny mô tả. Cuộn tròn trong góc, mặt giấu đi, cơ thể run rẩy với những tiếng nức nở thầm lặng.

“Chào con,” tôi nói nhẹ nhàng. “Không sao đâu. Con an toàn ở đây rồi.”

Nó không cử động. Không hề phản ứng lại tôi. Chỉ tiếp tục khóc.

Tôi ngồi xuống sàn bên ngoài chuồng của nó. “Ta biết con đang buồn. Ta biết con nhớ ai đó. Nhưng con phải ăn gì đó chứ, được không? Con phải uống nước.”

Không có chút động tĩnh gì.

Tình trạng này kéo dài thêm ba ngày nữa. Max không chịu ăn. Chúng tôi phải truyền dịch cho nó để giữ cho nó sống sót. Bác sĩ thú y đã khám kỹ lưỡng cho nó. Không có vết thương. Không có bệnh tật. Chỉ là một trái tim tan vỡ.

“Nếu nó không bắt đầu ăn vào ngày mai, chúng ta sẽ phải đưa ra quyết định,” giám đốc trại cứu hộ nói với tôi vào ngày thứ sáu. Mắt bà ấy đỏ hoe. Bà ấy đã khóc. “Chúng ta không thể để nó chịu đựng như thế này.”

Tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Nếu Max đã từ bỏ cuộc sống, chúng tôi không thể ép buộc nó sống trong đau khổ. Đêm đó, tôi ở lại muộn. Ngồi bên ngoài chuồng của Max và chỉ nói chuyện với nó. Về mọi thứ. Về những chuyện không đâu. Về con chó của tôi đã chết vì ung thư hai năm trước. Về việc tôi hiểu nỗi đau mất mát. Về việc tôi biết cảm giác muốn bỏ cuộc là như thế nào.

“Nhưng con không thể bỏ cuộc, Max,” tôi thì thầm. “Ai đó ngoài kia có thể cần con. Ai đó có thể đang tìm kiếm con ngay lúc này.”

Lần đầu tiên sau sáu ngày, Max ngẩng đầu lên. Chỉ một chút thôi. Mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là đôi mắt buồn nhất mà tôi từng thấy. Màu nâu. Sâu thẳm. Tràn đầy nỗi đau không thể chịu đựng nổi.

Rồi nó lại úp mặt vào góc chuồng.

Tôi quyết định thử một cách khác. Tôi bước vào chuồng của nó. Chậm rãi. Cẩn thận. Tôi chưa bao giờ làm điều này với một con chó mà tôi không quen biết, nhưng có điều gì đó mách bảo tôi rằng Max sẽ không làm hại tôi.

Nó không di chuyển khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Không giật mình khi tôi nhẹ nhàng chạm vào lưng nó.

“Không sao đâu, con. Dù chuyện gì đã xảy ra, buồn cũng không sao cả.”

Đó là lúc tôi cảm nhận được điều đó. Chiếc vòng cổ của nó dày. Quá dày. Tôi nhìn kỹ hơn. Có thứ gì đó được may bên trong lớp vải. Thứ gì đó làm cho chiếc vòng cổ trở nên cồng kềnh.

Với đôi tay run rẩy, tôi cẩn thận kiểm tra chiếc vòng cổ. Có một vết rách nhỏ ở lớp lót bên trong. Tôi nhẹ nhàng kéo nó ra.

Một mảnh giấy rơi ra.

Tôi mở nó ra bằng những ngón tay run rẩy. Đó là chữ viết tay. Mực bị nhòe như thể ai đó đã khóc khi viết nó.

“Gửi người nào tìm thấy Max –

Tôi tên là Daniel Peterson. Tôi 73 tuổi và mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho tôi biết tôi chỉ còn sống được hai tháng nữa. Tôi không có gia đình. Không có ai ngoài Max.

Max là người bạn thân nhất của tôi suốt ba năm qua. Nó là lý do tôi thức dậy mỗi sáng. Lý do tôi tiếp tục chiến đấu. Lý do tôi mỉm cười vượt qua nỗi đau.

Nhưng tôi không thể chăm sóc nó nữa. Ngày mai tôi sẽ vào viện dưỡng lão. Ở đó không cho phép nuôi chó. Tôi không đủ tiền để gửi nó ở trại nuôi chó. Tôi không có ai để gửi gắm nó.

Vì vậy, tôi đang làm điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Tôi đang để nó đi.

Tôi lái xe đưa Max đến một khu phố đẹp và thả nó ra. Tôi bảo nó ở lại. Hãy ngoan ngoãn. Hãy tìm một gia đình mới yêu thương nó như tôi.

Nó không hiểu. Nó cố gắng chạy theo xe của tôi. Tôi phải lái xe đi trong khi nó vẫn chạy theo phía sau. Tiếng khóc của nó là điều tôi sẽ nghe thấy cho đến khi chết.

Tôi là một kẻ hèn nhát. Lẽ ra tôi nên đưa nó đến trại cứu hộ chó. Nhưng tôi không thể làm được. Không thể bỏ đi khi nó đang nhìn tôi. Không thể là người nhốt nó vào lồng.

Làm ơn, bất cứ ai tìm thấy Max, hãy yêu thương nó. Nó là con chó tốt nhất trên thế giới. Nó trung thành. Nó hiền lành. Nó thông minh. Nó thích chơi bóng tennis, thích ngủ dưới ánh nắng mặt trời và thích đi xe ô tô với cửa sổ mở.

Nó đang đau khổ vì tôi. Tôi biết điều đó. Nó không hiểu tại sao tôi lại bỏ rơi nó. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi xin lỗi. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi yêu nó hơn bất cứ điều gì. Làm ơn hãy nói với nó rằng không sao cả nếu nó yêu thương một người khác.

Tôi đã khâu lá thư này vào vòng cổ của nó vì tôi biết nếu ai đó tìm thấy nó, họ sẽ thắc mắc tại sao một con chó tốt như vậy lại hành động đau khổ đến vậy. Bây giờ thì bạn đã biết rồi.

Thức ăn yêu thích của nó là thịt gà. Nó có một con gấu bông nhồi bông để ngủ cùng – tôi không thể mang nó theo vì tôi không muốn nó làm mất. Nó biết các lệnh: ngồi, đứng yên, bắt tay, nằm xuống. Nó đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ. Nó chưa bao giờ cắn ai. Nó rất hoàn hảo.

Làm ơn hãy cho nó một cơ hội. Xin đừng giết nó chỉ vì nó buồn. Nó chỉ cần thời gian. Và tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu thương.

Cảm ơn vì đã tìm thấy nó. Cảm ơn vì đã đọc bức thư này. Cảm ơn vì đã cho nó cuộc sống mà tôi không thể cho nó nữa.

Hãy nói với Max rằng Danny yêu nó. Luôn luôn.

Daniel Peterson”

Tôi khóc nức nở. Không thể thở được. Không thể nhìn thấy gì qua những giọt nước mắt. Max đã bị bỏ rơi bởi người mà nó yêu thương nhất trên thế giới. Nó không hiểu tại sao. Nó đang chờ Danny quay lại. Khóc vì Danny. Đau buồn vì Danny.

“Ôi Max,” tôi thì thầm. “Ôi con ơi. Ông ấy không muốn bỏ rơi con. Ông ấy buộc phải làm vậy. Ông ấy yêu con rất nhiều.”

Max quay lại. Nhìn tôi. Thấy tôi đang khóc. Và lần đầu tiên sau sáu ngày, nó tiến lại gần một người thay vì tránh xa.

Nó đặt đầu vào lòng tôi. Và nó khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc.

Tôi ôm Max suốt đêm. Đọc bức thư cho nó nghe hết lần này đến lần khác. “Danny yêu con. Ông ấy rất xin lỗi. Ông ấy muốn con được hạnh phúc. Ông ấy muốn con tìm được một gia đình mới.”

Sáng hôm sau, tôi mang thịt gà đến. Món ăn yêu thích của Max. Tôi ngồi trong chuồng của nó và đưa cho nó ăn.

Nó ăn. Không nhiều. Nhưng nó đã ăn.

Tiến triển tốt.

Trong tuần tiếp theo, Max dần dần hồi phục. Nó bắt đầu ăn uống đều đặn. Bắt đầu uống nước. Bắt đầu nhận biết mọi người. Nhưng  nó vẫn có đôi mắt buồn bã ấy.

Tôi gọi điện đến tất cả các viện dưỡng lão trong khu vực. Cuối cùng cũng tìm thấy nơi mà Daniel Peterson đang ở.

“Tôi rất tiếc,” y tá nói với tôi. “Ông Peterson đã qua đời bốn ngày trước. Một cách thanh thản. Ông ấy cứ hỏi về con chó của mình. Muốn biết liệu có ai tìm thấy nó không. Chúng tôi nói với ông ấy rằng có, có người đã tìm thấy nó. Ông ấy mỉm cười và nói ‘tốt’.” Đó là những lời cuối cùng của ông ấy.”

Tôi cúp máy và khóc suốt một tiếng đồng hồ. Sau đó tôi đến chuồng của Max. Ngồi xuống bên cạnh nó.

“Danny đã ra đi rồi, con ạ. Ông ấy không bỏ rơi con vì không yêu con. Ông ấy bỏ rơi con vì yêu con quá nhiều. Ông ấy muốn con có một cuộc sống tốt hơn. Hạnh phúc hơn. Được yêu thương nhiều hơn.”

Max nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã ấy. Và tôi đã đưa ra một quyết định.

“Con sẽ về nhà với ta.”

Tôi nhận nuôi Max ngày hôm đó. Đưa nó về nhà. Cho nó xem sân vườn. Chiếc ghế sofa. Chiếc giường. Mua cho nó một con gấu bông giống hệt con gấu mà Danny đã mô tả.

Max mang con gấu đó đi khắp mọi nơi trong nhiều tháng. Ngủ cùng nó. Khóc vào nó. Dần dần vết thương lòng cũng lành lại.

Đã hai năm rồi. Max vẫn có những khoảnh khắc buồn bã. Thỉnh thoảng nó vẫn ngồi ở góc nhà và khóc. Nhưng giờ nó cũng chơi đùa. Chạy nhảy. Âu yếm. Yêu thương.

Tuần trước, tôi đưa Max đến thăm mộ của Danny. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mộ ông ấy sau nhiều tháng tìm kiếm. Max ngửi bia mộ. Nằm xuống bên cạnh. Đặt đầu lên hai chân trước.

“Danny, nếu ông đang nghe thấy, Max vẫn ổn,” tôi nói to. “Nó được yêu thương. Nó an toàn. Hầu hết các ngày nó đều hạnh phúc. Nó nhớ ông. Cả hai chúng tôi đều biết nó sẽ không bao giờ ngừng nhớ ông.” “Nhưng nó đang sống cuộc sống mà ông muốn dành cho nó.”

Max ngước nhìn bầu trời. Cái đuôi của nó vẫy một lần. Rồi hai lần. Như thể nó nghe thấy điều gì đó mà tôi không nghe thấy.

Chúng tôi ở đó khoảng một tiếng. Sau đó Max đứng dậy, rũ người và đi về phía xe. Nó ngoảnh lại nhìn một lần. Rồi nó nhảy vào xe và chờ đợi cuộc phiêu lưu tiếp theo của chúng tôi.

Lá thư của Danny giờ được đóng khung trong phòng khách của tôi. Thỉnh thoạt tôi đọc nó cho Max nghe. Nhắc nhở nó về nguồn gốc của nó. Về việc nó được yêu thương nhiều như thế nào. Về việc người chủ đầu tiên của nó đã từ bỏ tất cả để Max có được mọi thứ.

Max giờ là người bạn thân nhất của tôi. Người bạn đồng hành không thể thiếu của tôi. Là lời nhắc nhở tôi rằng tình yêu không kết thúc chỉ vì cuộc sống kết thúc.

Nếu bạn đang đọc bài này và bạn đang ở trong hoàn cảnh giống như Danny, làm ơn đừng bỏ rơi con chó của bạn. Hãy tự mình đưa chúng đến trại cứu hộ. Hãy nói lời tạm biệt một cách đàng hoàng. Hãy cho chúng thấy rằng bạn yêu chúng ngay cả khi bạn phải rời xa chúng. Hãy viết một lá thư giải thích câu chuyện của chúng.

Bởi vì Max đã trải qua sáu ngày nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó sai. Nghĩ rằng Danny không còn muốn nó nữa. Không con chó nào phải chịu đựng nỗi đau đó.

Và nếu bạn đang đọc bài này và bạn làm việc tại một trại cứu hộ, hãy kiểm tra vòng cổ. Kiểm tra kỹ lưỡng. Đôi khi có một câu chuyện được giấu bên trong giải thích tất cả mọi thứ.

Max chưa bao giờ là một con chó bị tổn thương. Nó là một con chó đang đau buồn. Có sự khác biệt.

Nó chỉ cần ai đó hiểu nỗi đau của nó. Cho nó thời gian. Để cho nó thấy rằng việc yêu thương trở lại là điều bình thường.

Danny đã tặng tôi món quà tuyệt vời nhất khi giấu lá thư đó trong vòng cổ của Max. Ông ấy đã tặng Max cho tôi. Và Max, ngược lại, đã cứu tôi khỏi nỗi đau của chính mình.

Chúng tôi đã cứu nhau. Giống như Danny đã hy vọng.

ST


 

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà (Nellie Cashman) là Thiên thần của Cassiar

My Lan Pham

Năm 1874, chính quyền bảo một người phụ nữ hãy đứng sang một bên và để thiên nhiên quyết định ai sống, ai chết. Bà từ chối.

Mùa đông năm ấy ở British Columbia vô cùng khắc nghiệt. Trên cao trong dãy núi Cassiar, bảy mươi lăm thợ mỏ bị tuyết rơi không ngừng vùi lấp. Các lối mòn biến mất. Sông ngòi đóng băng cứng. Đường tiếp tế hoàn toàn sụp đổ.

Thức ăn cạn kiệt trước tiên. Rồi đến sức lực. Sau đó là hy vọng.

Bệnh scorbut (thiếu vitamin C) lặng lẽ xuất hiện: lợi sưng lên, răng lung lay, hút cạn sinh lực của những người vốn đã đói lả. Họ bị mắc kẹt trong bóng tối và cái lạnh, đếm từng ngày trôi qua mà không biết liệu có ai còn nhớ đến sự tồn tại của họ hay không.

Không một đội cứu hộ nào sắp đến.

Nellie Cashman nghe tin về họ ở thung lũng phía dưới. Bà là một người nhập cư gốc Ireland, vóc người nhỏ bé, điều hành một nhà trọ và cửa hàng phục vụ thợ mỏ và lữ khách. Bà đã sống một cuộc đời gian khó. Bà hiểu thế nào là đói. Thế nào là lạnh. Và thế nào là bị bỏ rơi.

Khi biết bảy mươi lăm người đàn ông đang chết dần trên núi, bà không chờ đợi giới chức hành động. Bà đi đến với họ.

Chính quyền tìm cách ngăn cản bà. Họ nói các đèo đã đóng. Họ nói tuyết quá dày. Họ nói cố gắng đi lúc này chẳng khác nào tự sát.

Họ nghĩ bà sẽ nghe lời.

Nellie không tranh cãi. Không cầu xin. Bà chỉ lặng lẽ bắt đầu tổ chức.

Bà tập hợp sáu người đàn ông sẵn sàng theo bà. Bà thu gom 1.500 pound lương thực, thuốc men và vật dụng. Không động cơ. Không máy móc nặng nề. Chỉ có xe trượt tuyết, giày đi tuyết, dây thừng và ý chí sắt đá.

Họ lên đường, lao vào một biển trắng xóa.

Suốt bảy mươi bảy ngày, núi non chống lại họ. Tuyết nuốt chửng đôi chân. Gió cắt xuyên qua cả len lẫn da thịt. Tiến lên được bao nhiêu được tính bằng từng mét ngắn ngủi. Ban đêm họ run rẩy, không biết liệu bình minh có đến hay không.

Không ít lần, những người đàn ông muốn quay lại. Không ít lần, con đường hoàn toàn biến mất.

Mỗi lần như vậy, Nellie lại nhắc họ vì sao họ ở đó. Bà nói về những gương mặt đang chờ đợi trong bóng tối. Về những người sẽ không thể sống sót thêm một tuần nếu không có cứu trợ. Bà không lớn tiếng. Không đe dọa. Bà chỉ không chấp nhận rút lui.

Cuối cùng, họ cũng đến được sườn núi cuối cùng.

Khi Nellie bước ra khỏi cơn bão và vào trại thợ mỏ, những người đàn ông tưởng rằng mình đang ảo giác. Một người phụ nữ đứng đó với thức ăn. Với thuốc men. Với chính sự sống trong tay.

Bà không dừng lại để nhận lời cảm ơn. Không đòi hỏi thù lao. Bà bắt tay vào việc ngay.

Bà cho họ ăn từ từ để cơ thể có thể hồi phục. Bà chữa trị cho người bệnh. Bà ở lại cho đến khi từng người một đủ khỏe để tự rời khỏi núi.

Bảy mươi lăm mạng người đã bước ra khỏi dãy núi ấy chỉ vì một người phụ nữ không chấp nhận từ “không thể”.

Những thợ mỏ bắt đầu gọi bà là Thiên thần của Cassiar. Cái tên theo bà suốt quãng đời dài và không yên nghỉ, khi bà di chuyển từ trại này sang trại khác, giúp đỡ ở bất cứ nơi nào cần.

Nellie Cashman chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý. Bà không chờ đợi sự cho phép. Bà nhìn thấy khổ đau và bước về phía nó, ngay cả khi cả thế giới bảo bà hãy quay lưng lại.

Chúng ta sống trong một thời đại thường chờ sự chấp thuận rồi mới hành động. Nellie nhắc chúng ta rằng có những khoảnh khắc không đòi hỏi sự thận trọng. Chúng đòi hỏi lòng can đảm.

Bà không được bổ nhiệm.

Bà không được cử đi.

Bà vẫn đi.

Một người hàng xóm không chịu quay mặt làm ngơ.

Một người lãnh đạo chưa từng xin được làm lãnh đạo.

Một anh hùng hiểu rằng đôi khi làm điều đúng đắn nghĩa là thách thức tất cả những ai nói rằng bạn không thể.

Chia sẻ từ Story 1

My Lan Phạm


 

CON SẼ LÀ KÝ ỨC CỦA CHA: CÂU CHUYỆN VỀ CĂN BỆNH ALZHEIMER Ở TUỔI 53

Trầm Mặc Huơng Lai

Tôi đã đọc câu chuyện này và không thể cầm được nước mắt…

Tôi tên là Eduardo, 53 tuổi. Cách đây 6 tháng, tôi được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer khởi phát sớm. Vâng, nó thực sự tồn tại. Dù mọi người thường nghĩ đây là bệnh của người già, nhưng nó có thể xuất hiện ngay từ tuổi 40. Với tôi, nó ập đến ở tuổi 52.

Bác sĩ nói đây là do di truyền. Mẹ tôi mất vì Alzheimer năm 60 tuổi, ông nội tôi cũng vậy. Tôi biết mình có nguy cơ, nhưng chưa bao giờ nghĩ nó lại đến sớm thế này.

Mọi chuyện bắt đầu từ một năm trước: tôi quên sạch những cuộc trò chuyện, bị lạc đường khi lái xe ở những nơi vốn rất quen thuộc, hay đột nhiên không tìm được từ ngữ để nói… Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ là do áp lực công việc. Nhưng cái ngày mà tôi quên mất tên con gái mình trong vài giây, tôi biết mọi chuyện đã thực sự tồi tệ.

Con gái tôi là Carolina, 25 tuổi. Con bé sống với tôi từ khi mẹ nó bỏ đi nhiều năm trước. Con bé là cả thế giới của tôi. Khi nghe tin, Carolina đã tự nhốt mình trong phòng khóc hàng giờ liền. Tôi cũng khóc ở phía bên kia cánh cửa.

Nhưng sáng hôm sau, con bé bước vào phòng tôi với một cuốn sổ lớn và nói: — “Cha à, chúng ta sẽ cùng viết lại cuộc đời cha. Tất cả những gì cha không muốn quên, chúng ta sẽ làm cùng nhau.”

Kể từ đó, mỗi tối chúng tôi lại ngồi ở phòng khách. Con bé hỏi, còn tôi kể: Chuyện tôi gặp mẹ nó như thế nào. Ngày Carolina chào đời và tôi chính thức trở thành cha. Ngôi nhà đầu tiên. Những từ đầu đời của con. Ngày con tập đi xe đạp. Lễ tốt nghiệp của con… Tất cả mọi thứ.

Chúng tôi cũng viết cả những điều giản đơn nhất: món ăn tôi thích (chilaquiles xanh), những bài hát tôi yêu, những câu đùa tôi hay kể, tên bạn bè, công việc giáo viên tiểu học tôi đã gắn bó suốt 30 năm, và điều gì khiến tôi hạnh phúc (như một ly cà phê với bánh mì ngọt vào buổi sáng).

Có một tối, Carolina nói một câu khiến tôi bật khóc: — “Cha ơi, ngày mà cha không còn nhớ con là ai nữa, con sẽ đọc cuốn sổ này cho cha nghe mỗi ngày. Con sẽ nhắc cho cha nhớ cha đã từng là ai, cha là người thế nào. Và con vẫn sẽ yêu cha như thế.”

Sáu tháng trôi qua, bắt đầu có những ngày tồi tệ. Có những ngày tôi quên chỗ để chìa khóa, hỏi đi hỏi lại một câu năm lần, hay không nhớ mình đã ăn sáng chưa. Carolina chưa bao giờ nổi nóng. Con bé chỉ mỉm cười và trả lời tôi với một sự kiên nhẫn vô hạn.

Hôm qua, tôi bị một cơn kích động mạnh. Tôi tỉnh dậy mà không biết mình đang ở đâu. Tôi hoảng loạn, không nhận ra chính ngôi nhà của mình và bắt đầu gào thét vì sợ hãi. Carolina chạy vào phòng, ôm chặt lấy tôi và đọc một đoạn trong cuốn sổ: — “Tên cha là Eduardo. Cha 53 tuổi. Cha là cha của con và là người đàn ông dũng cảm nhất con từng biết. Cha đã làm thầy giáo 30 năm. Cha thích cà phê và bánh mì ngọt. Bài hát yêu thích của cha là ‘Bésame Mucho’. Còn con là Carolina, con gái của cha, và con sẽ không bao giờ để cha cô đơn.”

Từng chút một, tôi tỉnh táo lại. Con bé đã kéo tôi về thực tại bằng chính lời nói và câu chuyện của cuộc đời tôi. Tôi khóc nức nở trong vòng tay con như một đứa trẻ: — “Thứ lỗi cho cha, con gái ơi, xin lỗi con vì tất cả chuyện này.” — “Không cha ơi, cha không có lỗi gì cả. Đây không phải lỗi của cha.”

Hôm nay, Carolina cho tôi xem một thứ khiến tôi nghẹn lòng. Con bé đã bí mật quay phim những cuộc trò chuyện buổi tối. Con bé có hàng giờ video cảnh tôi đang kể chuyện, cười đùa, hát hò… là chính mình. — “Sao con lại quay lại tất cả những thứ này?” — “Để đến ngày cha không thể nói được nữa, con sẽ mở những đoạn phim này lên. Để cha được nghe lại giọng nói của chính mình. Để cha biết cha đã từng là ai. Để cha thấy mình tuyệt vời thế nào khi cha vẫn còn là cha.”

Tôi hoàn toàn gục ngã. Tôi nắm lấy tay con: — “Con không cần phải làm thế. Con còn trẻ, tương lai còn ở phía trước. Con phải ra ngoài, yêu đương, sống cuộc đời của mình… Con không cần phải ở đây để chôn vùi tuổi xuân chăm sóc cha.”

Con bé nổi giận. Đây là lần đầu tiên tôi thấy nó giận dữ như vậy kể từ khi tôi đổ bệnh: — “Cha à, khi mẹ bỏ đi, cha hoàn toàn có thể gửi con cho mẹ. Cha có thể làm lại cuộc đời mà không có một đứa trẻ vướng chân. Nhưng cha đã không làm thế.” Giọng con bé nghẹn lại: — “Cha đã ở lại với con. Cha làm việc gấp đôi để con không thiếu thốn thứ gì. Cha vừa là mẹ, vừa là cha. Cha có mặt trong mọi buổi lễ tốt nghiệp, mọi buổi hòa nhạc, mọi sự kiện của đời con. Chưa bao giờ, CHƯA BAO GIỜ cha để con cảm thấy mình là gánh nặng.”

Nước mắt giàn dụa trên mặt con: — “Bây giờ đến lượt con, cha ạ. Cha đã bảo vệ con khi con yếu ớt. Con sẽ bảo vệ cha khi cha không còn tự chủ được nữa. Vì đó mới là gia đình. Đó là những gì cha đã dạy con.”

Chúng tôi ôm nhau khóc. — “Con sẽ không hối hận chứ con gái? Kể cả khi cha không biết con là ai?” — “Không bao giờ cha ạ. Bởi vì ngay cả khi cha không nhớ con là ai, thì CON vẫn luôn biết cha là ai. Cha là người hùng của con. Và người ta không bao giờ bỏ rơi người hùng của mình.”

Tôi không biết mình còn bao nhiêu thời gian trước khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Nhưng tôi biết rằng, khi ngày đó đến, tôi sẽ không cô đơn. Tôi có Carolina. Con bé sẽ nhắc cho tôi nhớ tôi là ai. Con bé sẽ đọc cho tôi nghe câu chuyện đời mình. Con bé sẽ yêu tôi ngay cả khi tôi không còn nhớ nổi tên con.

Điều đó cho tôi sự bình yên.

Sáng nay thức dậy, trong giây lát tôi không nhớ nổi hôm nay là thứ mấy. Nhưng tôi nhìn thấy cuốn sổ trên bàn cạnh giường. Tôi mở trang đầu tiên ra, Carolina đã viết những dòng chữ lớn: “CHA LÀ EDUARDO. CHA CÓ MỘT ĐỨA CON GÁI YÊU CHA BẰNG CẢ TRÁI TIM. MỌI CHUYỆN SẼ ỔN THÔI.”

Alzheimer có thể đánh cắp ký ức của tôi. Nó sẽ tắt dần tâm trí tôi. Nó sẽ lấy đi tất cả. Nhưng có một thứ nó không bao giờ lấy đi được: đó là tình yêu. Tình yêu vẫn ở đó. Nó mạnh mẽ hơn bất kỳ căn bệnh nào.

TG Văn Chương


 

Một người đàn ông chỉ học hết lớp 8, đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi

Tony Nguyễn

Năm 1961, một người đàn ông chỉ học hết lớp 8 đã cầm bút chì trong phòng giam của mình và vô tình thay đổi lịch sử nước Mỹ mãi mãi.

Clarence Earl Gideon không phải là người đặc biệt. Ở tuổi 51, ông là một người lang thang với mái tóc bạc, làn da sạm nắng và một cuộc đời đầy bất hạnh. Ông lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, làm những công việc lặt vặt, sống lay lắt qua ngày, thỉnh thoảng lại vào tù vì những tội nhỏ. Ông chưa bao giờ học hết cấp hai. Ông chưa bao giờ có tiền. Và vào ngày 4 tháng 8 năm 1961, khi đứng trước tòa án ở Florida bị buộc tội đột nhập vào một quán bi-a, ông không có luật sư.

Bằng chứng chống lại ông rất mỏng manh – ai đó tuyên bố đã nhìn thấy ông gần quán bi-a Bay Harbor khoảng 5:30 sáng với tiền xu trong túi. Năm đô la tiền lẻ đã bị mất khỏi tòa nhà, cùng với một ít bia và nước ngọt. Chỉ có vậy. Gideon thề rằng mình vô tội, nhưng ai sẽ lắng nghe một người lang thang nghèo khó với tiền án tiền sự?

Khi phiên tòa bắt đầu, Gideon đưa ra một yêu cầu mà ông tin là đơn giản và hợp hiến: “Thưa Thẩm phán, tôi yêu cầu tòa án chỉ định luật sư bào chữa cho tôi trong phiên tòa này.”

Câu trả lời của thẩm phán rất lịch sự nhưng lại vô cùng tàn nhẫn: “Ông Gideon, tôi rất tiếc, nhưng tôi không thể chỉ định luật sư bào chữa cho ông trong trường hợp này. Theo luật của tiểu bang Florida, tòa án chỉ có thể chỉ định luật sư bào chữa cho bị cáo khi người đó bị buộc tội phạm tội nghiêm trọng.”

Hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Hệ thống pháp luật Mỹ – với tất cả sự phức tạp, các quy tắc thủ tục, ngôn ngữ chuyên ngành – lại yêu cầu một người chưa học hết cấp hai phải tự bào chữa cho mình trước các công tố viên được đào tạo bài bản. Họ mong đợi ông hiểu luật chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và bảo vệ quyền hiến pháp của chính mình.

Gideon đã cố gắng hết sức. Ông thẩm vấn nhân chứng. Ông tuyên bố mình vô tội. Nhưng làm sao bạn có thể tự bào chữa cho mình khi bạn không hiểu ngôn ngữ của luật pháp? Bồi thẩm đoàn tuyên bố ông có tội. Vào ngày 25 tháng 8 năm 1961, Thẩm phán Robert L. McCrary đã tuyên án ông mức án tối đa: năm năm tù tại nhà tù tiểu bang Florida.

Hầu hết mọi người sẽ bỏ cuộc. Nhưng Clarence Earl Gideon không phải là người bình thường.

Trong thư viện nhà tù, giữa những cuốn sách luật mà ông hầu như không thể hiểu, Gideon bắt đầu đọc. Dần dần, một cách khó nhọc, ông tự học về Hiến pháp. Ông phát hiện ra lời hứa của Tu chính án thứ Sáu về “quyền được trợ giúp pháp lý”. Ông tìm hiểu về sự đảm bảo của Tu chính án thứ Mười bốn về thủ tục tố tụng công bằng. Và ông nhận ra một điều khiến lòng ông đau nhói: hệ thống này về cơ bản đã bị hỏng.

Làm sao công lý có thể tồn tại khi những bị cáo giàu có có luật sư, còn những người nghèo lại phải đối mặt với các công tố viên một mình?

Gideon đã nộp đơn kiến ​​nghị lên Tòa án Tối cao Florida. Họ bác bỏ đơn mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào.

Vì vậy, ông lại cầm bút lên. Với nét chữ run rẩy trên giấy viết thư của nhà tù, trên năm trang giấy viết tay với lỗi chính tả không hoàn hảo, ông đã viết một đơn kiến ​​nghị gửi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông ký tên. Ông gấp lại. Và vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, tiếng nói của một tù nhân nghèo đã đến được tòa án cao nhất nước Mỹ.

Bất chấp mọi khó khăn có thể tưởng tượng được, họ đã lắng nghe.

Tòa án Tối cao nhận được hàng nghìn đơn kiến ​​nghị mỗi năm. Hầu hết đều bị bác bỏ mà không cần xem xét kỹ lưỡng. Nhưng có điều gì đó trong vụ án của Gideon đã gây ấn tượng mạnh. Vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, họ đồng ý xem xét đơn kháng cáo của ông. Và vì ông không đủ khả năng thuê luật sư, họ đã chỉ định cho ông một trong những luật sư giỏi nhất nước: Abe Fortas, người sau này sẽ trở thành Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Vào ngày 15 tháng 1 năm 1963, Fortas đã đưa ra một lập luận đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục: Nếu Clarence Darrow—có lẽ là luật sư hình sự vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ—còn cần thuê luật sư khi bị buộc tội, thì làm sao một người chỉ học hết lớp tám có thể tự bào chữa cho mình?

Câu trả lời rất rõ ràng. Ông ấy không thể. Không ai có thể.

Vào ngày 18 tháng 3 năm 1963, Tòa án Tối cao công bố phán quyết: 9 phiếu thuận, 0 phiếu chống. Nhất trí. Thẩm phán Hugo Black, người đã tranh luận cho kết quả này trong hơn hai mươi năm, đã viết bản án. Tòa án tuyên bố rằng quyền được có luật sư là “cơ bản và thiết yếu cho một phiên tòa công bằng”. Các tiểu bang phải cung cấp luật sư cho các bị cáo nghèo đối mặt với các cáo buộc nghiêm trọng. Tiền lệ cũ đã bị lật ngược. Và vụ án của Gideon được gửi trở lại Florida để xét xử lại.

Lần này, Gideon có luật sư: Fred Turner. Với sự đại diện chuyên nghiệp, mọi thứ đã thay đổi. Turner đã vạch trần những điểm yếu trong vụ án của bên công tố. Ông tiết lộ rằng nhân chứng chủ chốt của tiểu bang có thể chính là người đã thực hiện vụ trộm. Ông ấy đã chứng minh được sự nghi ngờ hợp lý, trong khi trước đó dường như chỉ có tội lỗi.

Vào ngày 5 tháng 8 năm 1963—tại cùng một tòa án, trước cùng một thẩm phán—bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết:

Không có tội.

Sau hơn hai năm ngồi tù vì một tội mà ông không phạm phải, Clarence Earl Gideon đã được tự do.

Nhưng di sản của ông vẫn còn mãi. Nhờ đơn kiến ​​nghị viết bằng bút chì của một người đàn ông, hệ thống tư pháp Mỹ đã thay đổi một cách căn bản. Các tiểu bang trên khắp cả nước phải thành lập các văn phòng luật sư công. Hàng nghìn tù nhân bị kết tội mà không có luật sư đã được xét xử lại. Nguyên tắc rằng công lý không nên phụ thuộc vào sự giàu có đã trở thành luật.

Gideon trở lại cuộc sống bình lặng của mình. Ông kết hôn lần thứ năm. Ông phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe. Khi ông qua đời vì ung thư vào ngày 18 tháng 1 năm 1972, ở tuổi 61, ông vẫn nghèo khó. Ban đầu, gia đình ông chôn cất ông trong một ngôi mộ không có bia mộ ở Missouri.

Nhưng nhiều năm sau, ACLU đã đặt một bia mộ bằng đá granit trên ngôi mộ đó. Dòng chữ khắc trên bia mộ được trích từ chính lời của Gideon trong một lá thư gửi cho Abe Fortas: “Mỗi thời đại đều tìm thấy sự cải tiến trong luật pháp vì lợi ích của nhân loại.”

Ngày nay, mỗi khi bạn nghe thấy những lời “bạn có quyền được có luật sư, và nếu bạn không đủ khả năng chi trả, một luật sư sẽ được chỉ định cho bạn”—những lời đó tồn tại là nhờ một người đàn ông đã từ chối chấp nhận rằng người nghèo phải đối mặt với công lý một mình.

Clarence Earl Gideon đã chứng minh rằng lực lượng mạnh mẽ nhất để tạo ra sự thay đổi không phải là sự giàu có, địa vị hay học vấn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là lòng dũng cảm để cầm bút lên và viết: “Điều này không đúng.”

Và đôi khi, bất chấp mọi khó khăn, thế giới lại đồng ý.


 

Bà chôn cất chồng mình vào ngày thứ hai – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Bà chôn cất chồng mình vào ngày thứ hai.

Đến thứ Tư, bà trở dạ.

Và đến thứ Sáu, bà đã đi khắp các con phố ở Dodge City, một đứa trẻ sơ sinh được buộc sau lưng, gõ lên những cánh cửa hầu như không muốn mở.

Đó là mùa xuân năm 1887. Kansas khi ấy vẫn còn hoang dã, ồn ào và khắc nghiệt. Elizabeth Morrow mới hai mươi hai tuổi thì bệnh thương hàn cướp đi chồng bà chỉ trong ba ngày. Không cảnh báo. Không khoan nhượng. Khoảnh khắc trước bà còn là một người vợ. Khoảnh khắc sau, bà trở thành góa phụ với một đứa con sắp chào đời quá sớm.

Trong túi bà chỉ có mười bảy xu.

Bà chỉ quen hai người trong thị trấn, và cả hai đều không thể giúp.

Đám tang được trả bằng khoản nợ mà bà không có khả năng hoàn lại. Hai ngày sau, trong một căn phòng thuê đầy bụi và tang tóc, con gái bà chào đời sớm, yếu ớt và khóc thét. Một sinh linh mong manh bước vào thế giới vốn âm thầm cho rằng cả mẹ lẫn con đều khó sống sót qua năm đầu tiên.

Phần lớn phụ nữ trong hoàn cảnh ấy sẽ chọn một trong ba con đường.

Kết hôn vội vã để có chỗ nương thân.

Quay về với gia đình.

Hoặc lặng lẽ chìm vào đói khát và im lặng.

Elizabeth không có gia đình.

Và bà từ chối đánh đổi thân xác hay tương lai của mình chỉ để có một bữa ăn.

Vì vậy, bà chọn một con đường khác. Lao động. Lao động không ngừng, lao động đến kiệt sức.

Bà giặt quần áo thuê cho người lạ, cúi gập bên chậu thiếc từ lúc mặt trời mọc đến khi đêm xuống. Đôi tay nứt nẻ, rướm máu. Đứa bé ngủ gần đó, trong một thùng gỗ lót những bao bột mì cũ.

Khi giặt giũ không đủ sống, bà dọn dẹp các quán rượu trước bình minh. Bà quét sạch mùi whiskey khô, mảnh thủy tinh vỡ và dấu vết của những trận ẩu đả đêm qua trước khi những người tử tế thức dậy.

Khi chừng đó vẫn không đủ tiền thuê nhà, bà làm ca đêm ở khách sạn, khuân vác ga giường và đổ bô vệ sinh. Con gái bà ở cách đó hai dãy phố, gửi cho một người hàng xóm tính tiền theo giờ. Elizabeth nghe tiếng con khóc xuyên qua những bức tường và khoảng cách mà bà không đủ tiền để thu hẹp.

Cái đói sống trong bà như một nhịp đập.

Sự kiệt quệ bẻ cong sống lưng bà.

Có những đêm, bà đứng nhìn đứa con đang ngủ, run lên vì lạnh, vì sợ hãi, và vì những phép tính sinh tồn nghiệt ngã chẳng bao giờ cân bằng.

Bà mặc cùng một chiếc váy suốt hai năm.

Bà ăn bánh mì cũ nhặt từ thùng bỏ của tiệm bánh.

Bà già đi mười tuổi chỉ trong một năm.

Nhưng tiền thuê nhà chưa bao giờ bị trễ.

Con gái bà chưa bao giờ thiếu bữa.

Và mỗi đêm, dù cổ họng rát bỏng vì khóc, bà vẫn khe khẽ hát ru cho đến khi đứa bé ngủ yên.

Dần dần, một cách chậm chạp và đau đớn, cuộc sống thay đổi.

Đến năm 1895, Elizabeth dành dụm đủ tiền để mở một nhà trọ nhỏ.

Đến năm 1900, bà sở hữu chính tòa nhà ấy.

Con gái bà, Mary, lớn lên chứng kiến mẹ mình biến kiệt quệ thành sự ổn định, từng ngày tàn nhẫn một. Mary trở thành giáo viên, rồi hiệu trưởng — một trong những phụ nữ đầu tiên tại Kansas giữ vị trí đó.

Năm 1923, khi Mary đọc diễn văn tốt nghiệp tại Trường Trung học Dodge City, cô nói với đám đông điều này:

“Mẹ tôi dạy tôi rằng phẩm giá không phải thứ được ban cho. Nó phải được bảo vệ. Bà đã chà sàn nhà để tôi có thể đứng ở đây. Đó không chỉ là sinh tồn. Đó là một cuộc cách mạng.”

Elizabeth sống đến tám mươi ba tuổi.

Bà sống đủ lâu để thấy con gái nghỉ hưu với lương hưu ổn định. Đủ lâu để thấy cháu mình tốt nghiệp đại học. Đủ lâu để bế những chắt — những đứa trẻ sẽ không bao giờ biết đến cái đói mà bà từng mang trong xương cốt.

Gần cuối đời, có người hỏi bà đã sống sót qua những năm tháng không tưởng ấy như thế nào.

Bà nghĩ một lúc, rồi trả lời khẽ khàng:

“Mỗi buổi sáng, tôi nhìn con mình và nói: nó sẽ không bao giờ phải đi ăn xin. Nó sẽ không bao giờ phải chết đói. Ý nghĩ đó mạnh hơn cả sự kiệt sức của tôi.”

Có người chỉ sống sót.

Có người chịu đựng.

Elizabeth Morrow đã xây dựng cả một tương lai với nỗi đau trong ngực, một đứa trẻ trên lưng, và ý chí không chịu chết.

Bà gọi đó là tình yêu.


 

Nửa Ổ Bánh Mì Không Thịt – Song Tử (Nguyễn Vân An)- Truyen ngan HAY

Song Tử (Nguyễn Vân An)

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc – sủng ướt át ngập cảnh nóng.

Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.

Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.

Mẹ của ba – tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai – người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng TÝ, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” – Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” – Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” – Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh – điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” – Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” – Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” – Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” – Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” – Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” – Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” – Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mép, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” – Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” – Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày con binh nó, tao đánh cả mày luôn.” – Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” – Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” – Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” – Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” – Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” – Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” – Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ – Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” – Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” – Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” – Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” – Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” – Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” – Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” – Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi – chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hao mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” – Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” – Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” – Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” – Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” – Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” – Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” – Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” – Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” – Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” – Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” – Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” – Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” – Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tổi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tồi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” – Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” – Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” – Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… lÝ do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt… 

Song Tử (Nguyễn Vân An)


 

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

 My Lan Pham

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

Gestapo đã bẻ gãy đôi chân bà. Chúng nghiền nát bàn chân bà.

Chúng hứa hẹn cái chết.

Và vậy mà bà không nói ra một cái tên nào.

Nhờ sự im lặng ấy, 2.500 đứa trẻ đã sống sót.

Warsaw, năm 1942.

Thành phố không còn là một thành phố nữa. Nó là một chiếc lồng.

Sau những bức tường gạch quấn đầy dây thép gai, khu Do Thái Warsaw ngạt thở dưới ách thống trị của phát xít Đức. Hơn 400.000 người Do Thái bị nhét vào một không gian vốn dĩ không bao giờ có thể chứa nổi dù chỉ một phần nhỏ con số đó. Cái đói hằn sâu trên từng khuôn mặt. Bệnh tật lan nhanh hơn cả hy vọng. Gia đình biến mất chỉ sau một đêm.

Và mỗi ngày, những chuyến tàu lại rời ga.

Điểm đến được thì thầm như những lời nguyền —

Treblinka. Auschwitz.

Phần lớn người dân Warsaw quay mặt đi.

Quay mặt đi là an toàn hơn.

Quay mặt đi là để sống sót.

Nhưng có một người phụ nữ thì không thể.

Tên bà là Irena Sendler.

Bà mới 32 tuổi. Không phải lính. Không phải thủ lĩnh.

Chỉ là một nhân viên xã hội với căn hộ nhỏ, những ước mơ giản dị, và niềm tin cứng đầu rằng sinh mạng con người là điều thiêng liêng.

Trước chiến tranh, bà giúp những gia đình nghèo tìm thức ăn và thuốc men. Một công việc bình thường. Âm thầm. Vô danh.

Rồi phát xít Đức đến ,và dựng tường bao quanh hàng xóm của bà.

Công việc tại Sở Phúc lợi Xã hội Warsaw cho bà một đặc quyền hiếm hoi: giấy phép vào khu Do Thái. Trên danh nghĩa, bà kiểm tra dịch thương hàn.

Trên thực tế, bà bước thẳng vào địa ngục.

Lần đầu tiên đi qua cánh cổng, mùi hôi thối khiến bà nghẹt thở ,mục rữa, bệnh tật, tuyệt vọng. Trẻ em ngồi bất động trên vỉa hè, quá yếu để khóc. Cha mẹ nhìn vào khoảng không, như đã chết một nửa.

Đêm đó, Irena đưa ra quyết định sẽ định hình cả cuộc đời bà.

Bà sẽ đưa bọn trẻ ra ngoài.

Bà gia nhập Żegota, mạng lưới kháng chiến Ba Lan chuyên cứu người Do Thái. Nhưng lòng can đảm thôi thì chưa đủ. Cần phương pháp. Hậu cần. Và sự sáng tạo đến tàn nhẫn.

Irena trở thành chính kế hoạch.

Bà quay lại khu Do Thái hết lần này đến lần khác — đôi khi đeo băng tay ngôi sao David, đôi khi cải trang thành y tá, lúc nào cũng mang theo túi dụng cụ y tế. Bà tìm đến các bậc cha mẹ và hỏi một câu hỏi mà không một con người nào đáng phải nghe:

“Ông bà có dám giao con mình cho tôi không?”

Hãy tưởng tượng khoảnh khắc ấy.

Con bạn đang chết đói.

Bị kết án bởi một bức tường.

Một người xa lạ đưa ra một cơ hội ,mong manh, đáng sợ, không chắc chắn.

Nếu nói có, bạn có thể sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Nếu nói không, bạn biết chính xác điều gì sẽ xảy ra.

Nhiều người đã nói có.

Không phải vì điều đó dễ dàng.

Mà vì hy vọng dù mong manh ,vẫn tốt hơn sự chắc chắn của cái chết.

Irena đưa trẻ em ra ngoài bằng những cách vượt quá trí tưởng tượng:

– trong hộp đồ nghề

– trong quan tài ghi “nạn nhân thương hàn”

– trong bao khoai tây

– trong xe cứu thương, giấu dưới cáng bệnh

Bà còn huấn luyện một con chó sủa theo lệnh. Khi lính Đức đến gần, tiếng sủa át đi mọi âm thanh mà một đứa trẻ có thể phát ra.

Mỗi cuộc giải cứu chỉ cách cái chết một hơi thở.

Một tiếng khóc.

Một cơn ho.

Một tên lính tò mò.

Bị phát hiện đồng nghĩa với xử bắn.

Nhưng bà vẫn làm.

Rồi Irena nhận ra một điều còn sâu sắc hơn nữa: cứu thân xác của một đứa trẻ là chưa đủ. Nếu chúng sống sót mà không có tên, không có lịch sử, thì phát xít Đức vẫn thắng.

Vì vậy, bà ghi chép tất cả.

Trên những mảnh giấy mỏng manh, bà viết tên thật, tên cha mẹ, địa chỉ, những mảnh đời rời rạc. Bà cho chúng vào những chiếc lọ thủy tinh và chôn dưới một cây táo trong vườn nhà hàng xóm.

Một nghĩa trang của ký ức.

Một lời hứa với tương lai.

Năm 1943, hàng trăm đứa trẻ đã biến mất khỏi khu Do Thái. Và phát xít Đức nhận ra.

Ngày 20 tháng 10 năm 1943, chúng đến bắt bà.

Chúng đưa bà đến nhà tù Pawiak, nơi tiếng la hét ngấm vào từng viên đá. Chúng đòi tên.

Bà từ chối.

Chúng đánh bà.

Rồi bẻ gãy chân bà — từng khúc xương một.

Rồi nghiền nát bàn chân.

Cơn đau được thiết kế để phá vỡ sự im lặng.

Nhưng nó thất bại.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Không tên.

Không địa chỉ.

Không một đứa trẻ nào.

Bà bị kết án tử hình.

Nhưng Żegota đã hối lộ một lính gác. Ngày hành quyết, hắn thả bà đi. Trong hồ sơ Đức quốc xã, Irena Sendler đã “chết”.

Irena Sendler biến mất.

Với đôi chân gãy không bao giờ lành hẳn, bà sống chui lủi ,và tiếp tục giúp đỡ cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1945.

Sau giải phóng, bà quay lại khu vườn.

Bà đào lên.

Từng chiếc lọ được lấy khỏi lòng đất. Giấy đã mục, nhưng những cái tên vẫn còn.

Rồi đến nhiệm vụ đau đớn nhất: đoàn tụ gia đình.

Một số trẻ tìm lại được cha mẹ.

Một số tìm được họ hàng.

Quá nhiều em không tìm thấy ai.

Nhưng tất cả đều tìm lại được tên mình. Bằng chứng rằng chúng đã từng tồn tại, trước khi thế giới cố xóa bỏ chúng.

Suốt nhiều thập kỷ, Irena sống trong bóng tối.

Không huân chương.

Không diễn văn.

Không danh tiếng.

Những năm 1960, Israel công nhận bà là Người Công chính giữa các Dân tộc. Thế giới hầu như không để ý.

Rồi năm 1999, một nhóm học sinh trung học Mỹ phát hiện câu chuyện của bà trong một chú thích nhỏ. Họ viết một vở kịch.

Cuối cùng, thế giới lắng nghe.

Ở tuổi 90, Irena trở nên nổi tiếng ,và bà ghét điều đó.

“Tôi đã có thể làm nhiều hơn,” bà nói. “Nỗi day dứt này sẽ theo tôi đến chết.”

Khi được hỏi thế nào là dũng cảm, bà chỉ đáp:

“Khi thấy ai đó đang chết đuối, ta nhảy xuống cứu. Đó không phải là dũng cảm. Đó là bổn phận.”

Bà qua đời ngày 12 tháng 5 năm 2008, thọ 98 tuổi.

Trong tang lễ của bà có mặt những người sống sót — từng là những đứa trẻ trong hộp ,nay đã là ông bà.

Một người nói:

“Tất cả con người tôi hôm nay tồn tại vì bà đã chọn im lặng.”

Vì bà đã im lặng, 2.500 đứa trẻ đã sống.

Những đứa trẻ ấy có con.

Và con của họ lại có con.

Ngày nay, người ta ước tính khoảng 10.000 sinh mạng tồn tại nhờ một người phụ nữ đã chọn không quay mặt đi.

Không vũ khí.

Không quân phục.

Không quyền lực.

Chỉ một túi dụng cụ y tế.

Một cây táo.

Và một tâm hồn không thể bị phá hủy.

Chúng bẻ gãy chân bà.

Chúng tra tấn bà.

Chúng kết án tử hình bà.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Và 2.500 đứa trẻ đã sống.

TÌNH NGƯỜI VÔ GIÁ – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả.

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông:

“Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!! ”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt … Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật.

Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh …

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu … Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không? ?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ … Con nghĩ đến Đấng Tối Cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài … Nếu được đến với Ngài trong giây phút này, con chắc chắn sẽ không hối hận …”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “ …và thế là, một phép lạ đã xảy ra … Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên … Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy …!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào Đấng Tối Cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất.

Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về … Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông …

Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh:

“Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi !! ”.

Anh mỉm cười từ chối:

“Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa …”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại:

“Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai … Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây …

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay … Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng …

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng … Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá …

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá:

“Tôi muốn cho cô biết một sự thật …”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt:

“Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy … Tôi chưa gặp ông bao giờ cả …”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ:

“Cô biết đấy … ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình … Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình …Và … tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế …”

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này …

Cô y tá nhìn anh run run:

“Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey …”

Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.

Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.

Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người.

Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ …

Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Sưu tầm


 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

ST.

Nguồn từ báo Ba Lan (theo Tôn Vân Anh)
Fb Trần Quốc Quân