SẸO CỦA THIÊN CHÚA – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”.

“Trên thân thể Đức Kitô Phục Sinh, những vết thương không bao giờ biến mất; chúng vẫn còn đó, vì là dấu chỉ bền vững của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Thập giá không phải là một vết thương còn mở để kéo dài đau đớn, nhưng là dấu tích của một tình yêu đã đi qua cái chết và trở về. Vì thế, Hội Thánh không suy tôn một dụng cụ hành hình, nhưng suy tôn thánh giá – ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Trong sa mạc, Israel nổi loạn, bị rắn lửa cắn. Thiên Chúa không cất rắn đi; Ngài truyền Môsê treo con rắn đồng lên cột, để ai nhìn lên thì được sống – bài đọc một. Điều cứu họ không phải mẩu kim loại, nhưng lòng tin dám nhìn thẳng vào dấu tích của điều đang giết mình để đón nhận sự sống từ Thiên Chúa. Ơn cứu độ bắt đầu khi chúng ta nhận mình đã bị cắn và không thể tự chữa. Chúa Giêsu dùng hình ảnh ấy để nói về thập giá: “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”. Bản Hy Lạp viết hypsōthēnai – “được nâng lên”, vừa chỉ bị treo trên thập giá, vừa gợi sự tôn vinh. Nơi thấp nhất của nhục nhã trở thành nơi cao nhất của tình yêu; dấu hiệu án chết trở thành dấu chỉ cứu người.

Chúa Kitô chữa lành chúng ta bằng cách mang vết thương trên thân mình. Ngài bước vào nơi đau nhất của phận người, cho phép bạo lực của con người chạm đến chính Thiên Chúa. Đấng Phục Sinh không xoá dấu đinh; Ngài cho Tôma xem chúng như sinh trắc học của tình yêu. Vết thương còn, nhưng đã mất quyền lực; cái chết đã xảy ra, nhưng không phải lời cuối. “Nỗi buồn càng khoét sâu vào lòng bạn, bạn càng có thể chứa nhiều niềm vui!” – Kahlil Gibran.

Bởi thế, điều quan trọng không phải sống mà không có thương tích, nhưng để tình yêu chữa lành những gì từng làm chúng ta mang thương tích. Nỗi đau có thể thành cay đắng, khiến chúng ta truyền nó sang người khác; nhưng cũng có thể hoá nên lòng trắc ẩn: vì đã ngã, chúng ta biết đỡ người; vì đã khóc, chúng ta không đi qua nước mắt của ai; vì được tha thứ, chúng ta thôi kết án. Vết sẹo bấy giờ không còn kể điều người khác đã làm, nhưng kể điều ân sủng đã làm trong chúng ta. “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô trên thập giá đã biến đổi đau khổ từ bên trong!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã “hạ mình, vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”; vì thế, “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài” – bài đọc hai. Thiên Chúa không ca tụng đau khổ; Ngài tôn vinh tình yêu không bỏ cuộc giữa đau khổ. Thập giá không tuyên bố vết thương là tốt, nhưng cho thấy không vết thương nào nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa. Ai kết hợp thập giá đời mình với thập giá Đức Kitô sẽ khám phá: điều còn lại sau cùng không phải những gì đã làm mình tan nát, nhưng là tình yêu đi xuyên qua tất cả mà vẫn sống. Tình yêu ấy không che giấu cuộc chiến, nhưng làm chứng rằng sự dữ và sự chết đã không thắng – đó là ‘sẹo của Thiên Chúa’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để những vết thương đời con chỉ còn là nỗi đau; nhưng trong Ngài, xin cho chúng trở thành những dấu tích của tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Ngày 14 tháng 9

SUY TÔN THÁNH GIÁ

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”


 

KHÔNG CÓ THÌ GIỜ! – BS Đỗ Hồng Ngọc

Việt Luận – Viet’s Herald

BS Đỗ Hồng Ngọc

Người ta phỏng vấn một bà già gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?

“Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa- bà già nói- thì tôi sẽ dám… phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn… Tôi sẽ ăn nhiều… kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt… lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi…

Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy các thứ… Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn…”.

Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, của ở đây và bây giờ.

Tiếng Anh có một từ khá tuyệt: present, vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, không có thì giờ, không có thì giờ. Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên:

…Không có thì giờ!

Chim lấy đâu mà về tổ.

Tôi lấy đâu mà làm thơ.

Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết!

(Nguyên Sa).

Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng… hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ… lớn. Chờ thi đậu. Chờ thành đạt. Chờ có tiền. Chờ cưới vợ. Chờ đẻ con. Chờ con lớn… Chờ con thi đậu. Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt: “Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu… “ (TCS).

Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không dẫn bầy em nhỏ đi tắm sông? “Hạnh phúc rất đơn sơ” vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đôi lần! Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới. Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ!

Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngồm ngoàm. Đi vội vàng. Thở hào hển. Và hùng hục.

Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỷ trước đã chê người Mỹ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: “Họ luôn cau có và quạu quọ vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn trách bị!

Viên chủ bút Mỹ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo!

Đời sống bây giờ biến người ta thành cái… đồng hồ.

Người Mỹ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, “từng giờ từng phút“. Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa (Sống đẹp, LNĐ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Ngày nay thì các “tật xấu” đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón… cũng vì không có thì giờ!

Nguyễn Công Trứ nói:

“So lao tâm lao lực cũng một đàn

  Người trần thế muốn nhàn sao được?”.

Ý ông là chỉ có tiên mới sướng.

Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện.

Đằng vân giá võ, thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì!

Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt… Thế mà vì sao ta không được “sướng như tiên”? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật.

Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm vua. Ai cũng làm vua cả thì ai sẽ là thường dân cho vua trị vì? Nhưng vua đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ thiếu oxy não, liệt thần kinh, bị tâm thần… Các thứ sữa dành cho trẻ con bây giờ thì phải có chất tạo… thông minh. Làm như xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!

Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới… mơ ước:

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn

Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn

Đồ thích chí chất đầy trong một túi…

(Kẻ sĩ)

Bây giờ “đồ thích chí” ta còn có thể chất đầy “trong một xe” đời mới, chỉ “không có thì giờ!” thôi vậy!

BS Đỗ Hồng Ngọc 


 

SỰ VÔ TẬN CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996.  Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton.  Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

 Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

 Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miền xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

 Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi!  Không gì có thể cứu vãn!  Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi!  Thật vô vọng!”

 Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không?  Không nhất thiết là thế.  Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên.  Vậy hy vọng là gì?

 Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng.  Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ.  Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào.  Nó chỉ là thuần ảo tưởng.  Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng.  Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy.  ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’  Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám.  Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ?  Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

 Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng.  Ông đúng.  Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp.  Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

 Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy.  Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục.  Tại sao lại thế?  Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.  Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

 Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt.  Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa.  Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

 Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình.  Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ.  Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi.  Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta.  Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa.  Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

 Không bao giờ là quá trễ!  Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

ĐƯỢC THA – VẪN NỢ  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”.

Ngày 27 tháng 12 năm 1983, cửa một phòng giam tại Rôma mở ra. Mehmet Ali Ağca – người đã bắn trọng thương Đức Gioan Phaolô II – ngồi đó; vị giáo hoàng bước vào. Họ ngồi bên nhau, không ai biết đã nói gì. Thế giới chỉ thấy một nghịch lý: người bắn vẫn ở đó; người bị bắn bước vào.

Kính thưa Anh Chị em,

Lòng thương xót không kết thúc, nhưng bắt đầu nơi người được tha. Lời Chúa hôm nay cho biết: bởi được Thiên Chúa xoá mọi món nợ, chúng ta mang một món nợ không bao giờ trả xong: nợ anh em lòng thương xót, nợ bước vào trước – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúa Giêsu đặt giữa một dụ ngôn bất cân xứng một tiếng vọng nghiệt ngã. “Bảy mươi lần bảy” không kéo dài phép đếm; nó chấm dứt quyền đếm. Trước nhà vua, người đầy tớ sấp mình van xin; ít phút sau, đồng bạn anh cũng sấp mình và lặp gần nguyên lời van xin ấy. Nghe lại tiếng mình mà anh không nhận ra phận mình; gặp một con nợ mà anh không nhớ mình từng là con nợ. Ân xá vua ban xoá tên anh khỏi sổ nợ, chưa xoá được sổ nợ trong lòng anh. Anh được tha món nợ cũ, nhưng vẫn mắc món nợ mới: nợ lòng thương xót.

Điều đáng nói, món nợ đồng bạn mắc là có thật. Anh không sai khi cần công lý; anh sai khi để công lý trở thành lời cuối, sau khi chính mình sống sót nhờ lòng thương xót. Lòng thương xót không phủ nhận món nợ, nhưng không để nó định nghĩa một con người. “Trong thái độ của Thiên Chúa, công lý thấm đẫm lòng thương xót!” – Phanxicô.

Tha thứ không quên tổn thương, càng không gọi điều ác là điều thiện; nhưng nhớ một sự thật lớn hơn nỗi đau. Huấn Ca nhắc: nhớ ngày tận số, nhớ mình sẽ chết, nhớ giao ước của Đấng Tối Cao. Oán giận làm thế giới chỉ còn tôi và người làm tôi đau; nhớ đến Chúa, tôi nhận ra cả hai dưới bóng lòng thương xót của Ngài. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh trở thành nhịp đập của cõi lòng: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương!”.

Trong đời thường, chúng ta không giữ sổ nợ bằng con số, nhưng bằng một lời nói, một lần bị coi thường, một ngày không được bênh vực. Càng giữ, đời mình càng xoay quanh người đã làm mình đau: họ vắng mặt mà vẫn điều khiển hiện tại. Chúng ta tưởng đang giữ họ trong món nợ cũ; thật ra, lỗi của họ đang giữ chúng ta. Vì thế, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” – bài đọc hai. Chúa mới là Chủ; vết thương không có quyền ấy. “Tha thứ là giải thoát một tù nhân và khám phá tù nhân ấy chính là mình!” – Lewis B. Smedes.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cuốn sổ nợ của nhân loại được khép lại trên thập giá. Ngài không mắc nợ ai, nhưng trả món nợ chúng ta không thể trả bằng chính mạng sống mình. Phục Sinh, Ngài trở lại với những môn đệ đã bỏ Ngài; mang theo vết thương, nhưng không mang sổ nợ; trao bình an, không đòi thanh toán. Từ đó, người môn đệ không chỉ sống nhờ ơn tha thứ, nhưng còn phải để ơn ấy đi tiếp đến người khác – ‘được tha, vẫn nợ’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nhận ra mình nơi người có lỗi, trao đi lòng thương xót đã nhận và trả suốt đời món nợ yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Chúa Nhật Tuần XXIV – Mùa Thường Niên, Năm A 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Khi ấy, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” 22 Đức Giê-su đáp  “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.

23 “Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách. 24 Khi nhà vua vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. 25 Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ. 26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống lạy lục: ‘Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết.’ 27 Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ. 28 Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: ‘Trả nợ cho tao!’ 29 Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống van xin: ‘Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh.’ 30 Nhưng y không chịu, cứ đi tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. 31 Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. 32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo: ‘Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, 33 thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?’ 34 Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. 35 Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.”


 

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT.

Tran van Ba

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT.

Đi qua hơn nửa đời người rồi mới hiểu, tuổi già thật ra chẳng cần gì nhiều.

Không cần nhà thật to.

Không cần tiền thật nhiều.

Cũng chẳng cần người khác nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ.

Chỉ mong sáng thức dậy, mình còn tự bước xuống giường được.

Tự ăn, tự uống, tự đi lại, tự lo cho mình.

Không phải chuyện gì cũng nhờ đến con cháu.

Vậy thôi… mà quý lắm.

Tuổi này mới thấy, có sức khỏe là có vốn. Có bình an là có của.

Đầu óc còn minh mẫn, vẫn nhớ được tên con cháu, nhớ những người mình thương. Vẫn còn biết hôm nay mình muốn làm gì, ngày mai mình muốn sống ra sao.

Đó là phúc.

Đêm nằm xuống, lòng không còn giận ai.

Không còn day dứt vì chuyện hơn thua.

Không phải nghĩ mãi về một câu nói của người này, một việc làm của người kia.

Sáng mở mắt ra, thấy trời vẫn sáng, trong lòng vẫn nhẹ.

Có thể mỉm cười với một bữa cơm đơn giản.

Đó cũng là phúc.

Càng lớn tuổi, tôi càng sợ một chuyện hơn cả nghèo.

Đó là người trong một nhà không còn thương nhau.

Anh em vì tiền mà xa nhau.

Con cái vì đất đai mà trách móc nhau.

Cha mẹ để lại cả đống tài sản, nhưng con cháu lại chẳng còn nhìn mặt nhau.

Nghĩ cũng buồn.

Của cải mất thì còn làm lại được.

Nhà cửa hư thì còn sửa được.

Nhưng tình thân một khi đã rạn nứt, muốn hàn gắn lại đôi khi khó lắm.

Bởi vậy, về già rồi, chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua.

Ai làm mình buồn, nếu chưa thể tha thứ thì thôi, cũng đừng giữ mãi trong lòng.

Mang giận dữ theo mình chẳng khác nào tự ôm một hòn đá nặng. Người làm mình tổn thương có khi đã quên từ lâu, còn mình thì cứ mang nó hết ngày này sang ngày khác.

Buông được một chuyện, lòng nhẹ một phần.

Bớt một câu hơn thua, nhà yên thêm một chút.

Nhường nhau một bước, có khi giữ được cả một mối tình thân.

Và nếu đến tuổi này, bên cạnh mình vẫn còn một người bạn đời.

Sáng cùng nhau uống chén trà.

Trưa cùng ăn một bữa cơm.

Tối nằm cạnh nhau, hỏi một câu rất giản dị:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Nghe bình thường vậy thôi, nhưng đó là thứ tiền bạc không mua nổi.

Tuổi già cũng chẳng cần quá nhiều người bên cạnh.

Có vài người thật lòng.

Có một mái nhà để về.

Có con cháu biết thương nhau.

Có một người cùng mình chia sẻ những ngày tháng cuối đời.

Và quan trọng nhất, là trong lòng mình đã biết đủ.

Ngày còn trẻ, ta cứ nghĩ hạnh phúc là có thêm.

Thêm tiền.

Thêm nhà.

Thêm đất.

Thêm danh.

Đến khi đi gần hết một đời mới hiểu…

Hạnh phúc đôi khi lại là bớt đi.

Bớt lo.

Bớt giận.

Bớt hơn thua.

Bớt mong cầu.

Để còn lại sức khỏe, bình an và những người mình thật sự thương.

Sáu mươi, bảy mươi tuổi rồi mới thấm:

Giàu chưa chắc đã sướng.

Nhưng tuổi già không đau thân, không khổ tâm, không phải làm gánh nặng cho con cháu, trong nhà vẫn còn tiếng cười…

Thế là giàu rồi.

Một đời người, sau cùng chẳng mong gì nhiều.

Chỉ mong thân còn khỏe, lòng còn nhẹ, nhà còn ấm và người thương vẫn còn bên cạnh.

Ấy vậy thôi…

Mà có khi đã là phúc lớn nhất của một đời người.

Tran Van Ba . #NguoiCaoTuoi 


 

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001 – Cang Huynh

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Vào thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2001, lúc 8 giờ 40 phút sáng tại thành phố New York, một người đàn ông nắm bàn tay nhỏ bé của con trai năm tuổi trước một trường mẫu giáo. Cử chỉ yêu thương này của người cha khi đưa con đến trường trong ngày đầu tiên đã cứu sống cậu bé. Nhưng sáu phút sau, cách đó vài kilomet, chiếc máy bay đầu tiên đâm vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới, ngay bên dưới văn phòng công ty ông.

Người đàn ông đó là Howard Lutnick, Giám đốc điều hành của Cantor Fitzgerald.

Nằm giữa tầng 101 và 105, công ty của ông bị mắc kẹt phía trên khu vực va chạm. Chỉ trong vài giây, 658 nhân viên của ông đã thiệt mạng—hai phần ba số nhân viên. Trong số các nạn nhân có những đồng nghiệp thân thiết nhất, những người bạn thời thơ ấu và cả em trai ông, Gary.

Howard lao xuống chân các tòa tháp giữa sự hỗn loạn, bụi bặm và tiếng la hét. Khi sự im lặng trở lại với đống đổ nát, thực tế ập đến với ông với một sức mạnh không thể tưởng tượng nổi: ông là người sống sót của một công ty đã bị xóa sổ.

Mọi người đều nghĩ công ty sẽ phá sản. Báo chí chỉ trích ông, và sự nghi ngờ bắt đầu len lỏi. Nhưng Howard biết rằng nếu ông bỏ cuộc, gia đình của những đồng nghiệp đã mất sẽ không còn gì để sống.

Vì vậy, giữa những giọt nước mắt và nỗi đau buồn, ông đã đưa ra một lời hứa long trọng.

Công ty sẽ không đóng cửa.

Nó sẽ hồi sinh vì họ.

Thành công của nó giờ đây sẽ thuộc về gia đình các nạn nhân.

Trong năm năm, những người sống sót ít ỏi còn lại làm việc ngày đêm trong nỗi đau đớn tột cùng. Howard cam kết quyên góp 25% lợi nhuận của công ty trực tiếp cho các góa phụ và trẻ mồ côi, đồng thời bảo đảm bảo hiểm y tế cho họ trong mười năm. Tổng cộng, hơn 180 triệu đô la đã được phân phát cho các gia đình bị ảnh hưởng bởi thảm kịch.

Nhưng Howard đã đưa ra một lời hứa thứ hai, thậm chí còn cảm động hơn, dành cho tất cả những đứa trẻ đã mất cha hoặc mẹ vào sáng hôm đó: “Khi các con lớn lên, một chỗ ở công ty sẽ chờ các con ở đây.”

Nhiều năm đã trôi qua. Những đứa trẻ năm 2001 đã trưởng thành.

Và Howard đã giữ lời hứa của mình.

Từng đứa trẻ mồ côi một bước qua cánh cửa của công ty. Cho đến ngày nay, 57 đứa trẻ là con của các nạn nhân vẫn làm việc trong cùng những văn phòng đó và tiếp nối di sản của cha mẹ đã khuất. Vào ngày 11 tháng 9 hàng năm, công ty cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận trong ngày cho các tổ chức từ thiện trên toàn thế giới.

Howard Lutnick nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của một người đàn ông không được đo bằng những gì anh ta xây dựng trong vinh quang, mà bằng cách anh ta tôn vinh ký ức của những người anh ta yêu thương.

Trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc đời, bổn phận thực sự của người sống là giữ cho ánh sáng hy vọng của những người đã khuất luôn tỏa sáng rực rỡ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

Lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria – Cha Vương

 Hôm nay  là ngày Lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria. Mời bạn tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của Tên cực thánh Đức Bà Maria mà luôn luôn chạy đến Mẹ với kinh Mân Côi hết lòng tin tưởng  xin Me cậ`u nguye^.n cho nhau và thế giới được an bình nhé. 

Cha Vương

Thứ 7: 12/09/2026.     (t3-23)

NGUỒN GỐC: Ngày lễ tôn kính Tên cực thánh Đức Bà Maria được Đức Giáo Hoàng Innocent XI thiết lập vào năm 1683, để kỷ niệm biến cố lớn lao về cuộc chiến thắng vĩ đại của người Kitô hữu chống lại quân Thổ Nhỉ Kỳ do sự che chở rất hiển nhiên của Đức Maria, Nữ Vương trên Trời.

   Năm mươi vạn quân Thổ Nhỉ Kỳ tiến đánh sát thành Vienna và đang đe dọa toàn cỏi  A^u châu. Trong ngày lễ Bát Nhật kính ngày Sinh Nhật Mẹ Maria, Sobieski, vua xứ Ba Lan, quyết tâm đến cứu giúp thành Vienna đang bị quân Thổ bao vây khốn đốn. Vị vua này bắt đầu tiến quân với thánh lễ Misa. Sau khi sốt sắng rước Mình Thánh Chúa xong, ông tiến đến trước bàn thờ giang hai tay hình thánh giá và dỏng dạc hô lớn: “Chúng ta hãy mạnh dạn tiến quân, Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta và Đức Mẹ Maria sẽ trợ giúp chúng ta.” Lòng tin tưởng của vị vua thánh thiện này đã được đền đáp. Quân Thổ mặc dù rất đông đảo nhưng bị tấn công bất ngờ đã bỏ chạy trong rối loạn. Và từ đó danh thánh Mẹ Maria được tôn kính cho đến ngày hôm nay. 

   Thật là chính đáng khi tôn kính tên cực thánh Maria trong những ngày lễ kính của Giáo Hội Công giáo bên cạnh tên cực thánh Giêsu. Tên Maria là một tên cực thánh, đầy vinh quang, một tên có âm điệu dịu dàng, một tên khi gọi đến đều được mọi ơn cứu rổi. Các thánh đã cố gắng ghi lại nhiều điều lạ lùng tuyệt vời khi thốt lên tên cực thánh Maria. Niềm vinh quang của tên cực thánh Maria mà Thiên Chúa đã ban cho cha mẹ của Đức Nữ Đồng Trinh và là tên được Chúa chúc phúc mà thiên thần Gabriel đã rao truyền đầy lòng tôn kính và từ đó mọi thế hệ người Công giáo đã âu yếm lập lại trên đầu môi mỗi ngày; Thiên đàng đã ban cho thế gian một tên cực đẹp và thế gian đã ca tụng tên Maria với một âm điệu vang vọng hiền hòa. Thánh Pierre de Blois nói: “Nghe tên cực thánh Maria, toàn Giáo Hội đều quỳ gối, và những lời cầu xin và nguyện cầu của mọi người được vang vọng lên từ khắp mọi phương trời.”

   Thánh Bonaventure thường cầu nguyện: “Tên của Mẹ đầy vinh quang, ôi Đức Mẹ Chúa Trời, ôi tên cực thánh là nguồn hạnh phúc tuyệt vời.” Chân phước Henri Suzo; “Tên của Mẹ ngọt ngào biết dường nào.” Thánh Ambrose nói: “Tên của Mẹ là hương thơm tỏa ra mọi ngưồn ân sủng. Nhưng đối với thánh Ephrem còn gọi tên của Đức Mẹ Maria là Chìa khóa cửa Thiên Đàng và thánh Bernard thì nói là khi kêu đến tên Maria thì mọi quỷ dữ đều bỏ chạy trốn.

 (PT Huỳnh Mai Trác)

THÁNH TÍCH: Bên Ý có một cô gái đang đi dọc đường, giữa một nơi xa vắng, gặp phải một tên cướp. Tên cướp ấy có tiếng là hung hãn và đã đoạt của cùng giết chết nhiều người. Giữa lúc bơ vơ không ai cứu chữa, cô sợ hãi khiếp kinh. Giáp mặt cô, tên cướp bảo rằng: “Cô hãy nghe ta, bằng không ta sẽ giết”. Trong lúc nguy khốn, cô chợt nhớ đến Đức Mẹ, liền kêu tên Cực trọng Maria, cô lạy tên cướp và xin vì Đức Mẹ mà tha cho mình. Tên cướp nghe nói đến tên Maria thì dừng lại, nghĩ một lúc rồi bảo cô ta: “Được, vì Đức Mẹ mà ta tha chết cho cô, nhưng xin cô nhớ cầu Đức Mẹ cho ta với”. 

Ta xem tên Cực trọng Đức Mẹ linh ứng dường nào, tên cướp định hãm hại cô gái, nhưng vừa nghe tên Cực Thánh Đức Mẹ liền đổi lòng, chẳng những tha cho cô ta, mà lại đưa cô ta qua quảng đường đầy cheo leo ấy nữa. 

*Trong mọi hoàn cảnh, mời bạn hãy kêu tên cực thánh Đức Bà Maria và luôn luôn chạy đến Mẹ với hết lòng tin tưởng nhé.

From: Do Dzung

*****

MẸ MARIA – NGUYỄN HỒNG ÂN

Cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Cang Huynh

NHỮNG CÂU CHUYỆN SAU NGÀY 11/9/2001.

Các bác sĩ ước tính cơ hội sống sót của Lauren Manning chỉ khoảng 15%.

Sau đó, tình trạng của cô trở nên nguy kịch đến mức ngay cả tỷ lệ mong manh đó cũng giảm xuống chỉ còn một con số.

Tuy nhiên, cô đã sống sót.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Lauren đang trên đường đến văn phòng của mình tại Cantor Fitzgerald, nằm trên tầng 105 của Tháp Bắc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới.

Ở nhà, cô có một người chồng và một cậu con trai mười tháng tuổi tên là Tyler.

Cô ấy không bao giờ đến được văn phòng của mình.

Khi Lauren bước vào sảnh, chuyến bay 11 đã đâm vào tòa tháp phía trên cô. Nhiên liệu cháy từ máy bay lan rộng qua các trục thang máy, trong khi một bức tường lửa quét qua sảnh.

Lauren đã cố gắng thoát khỏi tòa nhà, nhưng cô bị bỏng hơn 82% cơ thể.

Những gì xảy ra sau đó không được tính bằng ngày.

Mà bằng năm.

Lauren đã trải qua gần hai tháng trong tình trạng hôn mê do thuốc an thần gây ra. Cô ấy đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật, đối mặt với những biến chứng nghiêm trọng và dành nhiều tháng để phục hồi chức năng thể chất và tinh thần.

Cô ấy nằm viện tại Bệnh viện NewYork-Presbyterian trong 91 ngày.

Sau đó, cô được chuyển đến một trung tâm phục hồi chức năng, nơi cô ở thêm ba tháng nữa.

Ngay từ đầu, chỉ có một suy nghĩ duy nhất luôn ám ảnh cô.

Cô ấy muốn được gặp lại con trai nhỏ của mình.

Khi Lauren cuối cùng cũng được về nhà vào tháng 3 năm 2002, sáu tháng đã trôi qua kể từ buổi sáng tháng 9 định mệnh ấy khi cô rời nhà đi làm.

Nhưng quá trình phục hồi của cô vẫn chưa kết thúc.

Năm ngày một tuần, cô trở lại bệnh viện để trị liệu vài giờ, ngoài ra còn có một buổi trị liệu tại nhà vào Chủ nhật.

Và việc hồi phục không có nghĩa là trở thành người phụ nữ giống hệt như trước đây.

Nó có nghĩa là học cách sống với một cơ thể mang những vết sẹo vĩnh viễn từ buổi sáng định mệnh ấy.

Mười năm sau, Lauren kể lại câu chuyện của mình trong cuốn hồi ký, “Sức Mạnh Vô Biên”.

Cô không miêu tả sức mạnh như việc được miễn nhiễm khỏi bi kịch.

Cuộc đời cô đã chứng minh một điều gì đó khó khăn hơn nhiều.

Sức mạnh cũng có thể là việc thức dậy sau khi mọi thứ đã thay đổi và quyết định, hết lần này đến lần khác, tiếp tục xây dựng lại cuộc sống của mình.

Bạn nghĩ điều gì cần nhiều can đảm hơn: vượt qua một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể vượt qua, hay tiếp tục cuộc chiến trong những năm tháng sau đó?

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

Thương chiến Mỹ-Canada: Cầm đuốc đốt nhà mình – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

September 10, 2026

Trúc Phương/Người Việt

“Phe ta bắn phe mình” là chính xác những gì đang xảy ra khi Tổng Thống Trump gây ra cuộc hỗn loạn xuyên biên giới Mỹ-Canada. Ở đây không là chuyện “đao kiếm vô tình” mà thể hiện rất rõ của việc thiếu suy nghĩ đến mức cầm súng bắn thẳng vào chân người nhà. Điều hài hước nhất là chính các tiểu bang MAGA là những nơi “dính chưởng” của đại giáo chủ “Thần Giáo MAGA” Donald Trump.

Thủ Tướng Mark Carney (phải) nói chuyện với Tổng Thống Donald Trump trong bữa trưa tại Hội Nghị Thượng Đỉnh G7 ở Evian, miền đông nước Pháp, hôm 16 Tháng Sáu. (Hình minh họa: Evelyn Hockstein/POOL/ AFP via Getty Images)

Những tiểu bang nào “dính chưởng?”

Ngày 8 Tháng Chín, ông Trump ký lệnh cấm nhập cảng sản phẩm sữa, đồ uống có cồn và xe máy từ Canada trong vòng ba tuần. Cùng lúc, ông điều chỉnh phạm vi một số thuế quan. Các thay đổi về thuế quan có hiệu lực ngày 15 Tháng Chín, trong khi lệnh cấm có hiệu lực ngày 29 Tháng Chín.

Chưa hết, ông Trump dọa tăng thuế đối với kim loại và xe hơi nhập từ Canada lên 50% vào ngày 1 Tháng Giêng, 2027. Theo thăm dò Reuters công bố đầu Tháng Chín, chỉ 20% người Mỹ ủng hộ chính sách thuế quan nhằm vào Canada.

Vấn đề không chỉ là chính sách thuế quan mà là thái độ ngúng nguẩy làm nư rất trẻ con của ông già hơn 80 tuổi Donald Trump. Ngày 7 Tháng Chín, ông Trump lên cơn thịnh nộ khi nhắm vào công ty Canada Bombardier Aerospace. Ông gào thét trên Truth Social: “KHÔNG ĐƯỢC BÁN SẢN PHẨM CỦA BOMBARDIER TẠI MỸ NỮA! HÃY MUA HÀNG MỸ. BAY BẰNG MÁY BAY MỸ. THƯỞNG THỨC RƯỢU VÀ ĐỒ UỐNG MỸ. CHƠI THUYỀN TRÊN HỒ MỸ. NƯỚC MỸ TRÊN HẾT!”

Điều nực cười ở chỗ, với đòn tấn công này, ông Trump coi như “bắn nhầm” đồng minh là Thượng Nghị Sĩ Roger Marshall (Cộng Hòa-Kansas) – người đang đối mặt ứng viên Dân Chủ là ông Adam Hamilton tại một tiểu bang vốn được coi là “thành trì đỏ.” Cần biết, trụ sở chính của Bombardier tại Mỹ đặt ở thành phố Wichita của Kansas, nơi họ sử dụng hơn 1,000 lao động. Bombardier tạo việc làm cho người lao động Mỹ tại ít nhất 10 tiểu bang. Chuỗi cung ứng của họ liên quan khoảng 2,800 công ty trên khắp nước Mỹ.

Toàn cảnh, cuộc chiến leo thang với Canada gây nhốn nháo vùng Trung Tây – nơi định đoạt kết quả một số cuộc đua quan trọng nhất trong kỳ bầu cử giữa kỳ. Chính khu vực này là nơi góp phần tạo nên hai chiến dịch thành công của ông Trump, chẳng hạn Iowa và Ohio (nơi ông củng cố sự ủng hộ của Cộng Hòa); và Pennsylvania, Wisconsin, Michigan (nơi ông lội ngược dòng giành chiến thắng trong cả hai lần tranh cử). Trong cuộc bầu cử 2024, ông Trump thắng đậm tại Michigan khi giành được toàn bộ 15 phiếu đại cử tri.

Michigan có kim ngạch thương mại hàng năm đạt khoảng $80 tỷ với tỉnh Ontario của Canada. Theo Politico, hàng hóa xuất cảng trị giá khoảng $1.3 tỷ của Michigan đang đối mặt với các mức thuế trả đũa mới từ Canada. Đây là một trong những con số cao nhất so với các tiểu bang khác. Chuck Lippstreu, chủ tịch Hiệp Hội Kinh Doanh Nông Nghiệp Michigan, cho biết, “hàng hóa được vận chuyển qua lại giữa biên giới Michigan và Ontario, có thể nhiều lần trong suốt quá trình sản xuất thực phẩm. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của mối quan hệ thương mại hai chiều với Canada, đặc biệt đối với một tiểu bang biên giới như chúng tôi, nơi cũng nằm trên một trong những hành lang thương mại nhộn nhịp nhất lục địa.”

Điều này cũng đúng với công nghiệp xe hơi – lĩnh vực đóng góp khoảng ¼ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Michigan và tạo việc làm cho hàng trăm ngàn người. Quy trình sản xuất linh kiện và lắp ráp nhiều mẫu xe hàng đầu của Mỹ đều diễn ra ở cả hai bên biên giới. Chẳng hạn mẫu xe bán tải F-Series Super Duty của Ford được sản xuất tại một nhà máy ở Oakville, Ontario; hộp số xe được sản xuất tại Ohio; trục xe đến từ Michigan, còn động cơ được sản xuất tại Ontario.

Ông Trump nói đi nói lại, “CHÚNG TA KHÔNG CẦN CANADA, HỌ MỚI CẦN CHÚNG TA!” Tuy nhiên, có thể “chúng ta” không “cần” Canada nhưng các đảng viên Cộng Hòa trong khu vực thực sự “cần” ông Trump không làm rạn nứt quan hệ thương mại với đồng minh Canada, ít nhất từ nay đến bầu cử giữa kỳ. Cần biết, quyền kiểm soát Hạ Viện phụ thuộc phần lớn vào kết quả ba cuộc đua gay cấn tại Iowa, một cuộc đua ở Wisconsin và ba hoặc bốn cuộc đua ở Pennsylvania.

Điều đáng chú ý nhất là giới chính trị gia Cộng Hòa tại vùng Trung Tây đến nay vẫn không dám công khai chỉ trích thuế quan của ông Trump. Nhân vật gần như duy nhất lên tiếng là Thượng Nghị Sĩ Susan Collins (Cộng Hòa, Maine). Chẳng phải Susan Collins lo lắng gì cho số phận cử tri, bà chỉ quan tâm đến cái ghế của bà, trong bối cảnh đang đối mặt cuộc đua tái đắc cử đầy cam go trước đối thủ Dân Chủ là Troy Jackson. Năm 2025, bà Susan Collins cùng ba thành viên Cộng Hòa bỏ phiếu ủng hộ Dân Chủ kêu gọi ông Trump bãi bỏ các mức thuế áp lên Canada. Lần này, bà gọi việc leo thang thuế quan là một “sai lầm” và kêu gọi hai bên trở lại bàn đàm phán…

Tác động thuế quan gây ảnh hưởng rất sâu rộng tại Maine, làm tăng chi phí đối với hàng loạt mặt hàng, từ thép, giấy đến sản phẩm từ sữa. Kể cả muối rải đường dùng để bảo trì giao thông trong mùa Đông cũng tăng. Theo Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế Maine, Canada là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Maine. Tổ chức này ước tính khoảng 40% tổng kim ngạch xuất cảng hàng hóa của Maine là sang thị trường Canada.

Tại Ohio, cuộc chiến thương mại cũng trở thành vấn đề nóng trong cuộc đua giành ghế Thượng Viện giữa thượng nghị sĩ của Cộng Hòa là Jon Husted và cựu thượng nghị sĩ của Dân Chủ là Sherrod Brown. Đây là một trong những cuộc đua đáng chú ý nhất của Thượng Viện 2026. Reuters xếp Ohio vào nhóm chín cuộc đua có khả năng quyết định quyền kiểm soát Thượng Viện. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy Sherrod Brown đang dẫn Jon Husted khoảng 3-4 điểm.

Tương tự, tại Michigan, vấn đề ông Trump gây sự với Canada cũng biến tiểu bang này thành mặt trận quan trọng trong cuộc đua Thượng Viện giữa cựu dân biểu Cộng Hòa là Mike Rogers và ứng viên Dân Chủ Abdul El-Sayed. Và không dừng ở những tiểu bang chiến trường quen thuộc, phe Dân Chủ đang mở rộng tham vọng sang cả Iowa và Alaska – những thành trì Cộng Hòa mà họ nay nhìn thấy cơ hội bất ngờ để phá vỡ thế phòng thủ của Cộng Hòa tại Thượng Viện…

“Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”

Ngành công nghiệp xe hơi Mỹ vốn điêu đứng từ sau COVID-19 và khó khăn tiếp tục bủa vây ngay cả trước khi ông Trump áp thuế 50% lên các dòng xe mang lại lợi nhuận cao mà “Bộ Ba” nhà sản xuất xe hơi (Big Three) chế tạo tại Ontario. Nhìn chung, “thành phố xe hơi huyền thoại” Detroit (Michigan) là một trong những nơi chịu tác động trực tiếp nhất của cuộc chiến thương mại. Không đơn thuần là một thành phố sát biên giới, Detroit nằm ở trung tâm của nền kinh tế xuyên biên giới Detroit-Windsor.

Detroit nằm đối diện Windsor, Ontario, chỉ cách nhau qua sông Detroit. Hai thành phố được nối bằng cầu Ambassador Bridge và nay thêm Gordie Howe International Bridge. Detroit-Windsor là cửa quốc tế bận rộn nhất Bắc Mỹ về giá trị thương mại. Michigan cho biết tuyến này vận chuyển hơn một phần tư tổng thương mại Mỹ-Canada, trị giá khoảng $700 tỷ mỗi năm. Chỉ riêng cây cầu Ambassador Bridge đã giúp giao thương hơn $140 tỷ hàng hóa mỗi năm, tương đương khoảng $390 triệu/ngày. Gần một nửa lượng hàng qua đây liên quan đến xe hơi, phụ tùng, máy móc, thiết bị, nhựa và điện tử.

Chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất xe hơi Mỹ đan xen chặt chẽ qua lại giữa hai bên biên giới và rất khó tách rời. Ngoài xe tải hạng nặng – loại xe giờ đây phải chịu mức thuế 50% khiến doanh số sụt nghiêm trọng – “Bộ Ba” nhà sản xuất còn lắp ráp nhiều mẫu xe khác tại Canada, trong đó có Dodge Charger, Chrysler Pacifica và Chrysler Voyager. Theo các biện pháp trả đũa của ông Trump, thuế suất đối với sedan và xe tải nhẹ – vốn ở mức “chỉ” 25% – cũng sẽ tăng lên 50% vào ngày 1 Tháng Giêng, 2027. Các hãng xe còn phải chịu mức thuế 50% đối với thép và nhôm nhập cảng từ Canada.

Theo phân tích của National Taxpayers Union Foundation (thông qua công cụ theo dõi thuế quan Tariffs Tracker), thuế quan khiến Michigan thiệt hại khoảng $23 tỷ (tương đương $5,619 mỗi hộ gia đình) kể từ năm 2025. Đây là mức thiệt hại cao thứ ba cả nước, chỉ đứng sau California và Texas…

Như nói ở trên, dù đang bị bắn vào chân, giới chính trị gia Cộng Hòa tại các tiểu bang bị ảnh hưởng bởi đòn thuế quan vẫn gần như im như hến. Abdul El-Sayed (ứng viên Dân Chủ tranh cử Thượng Viện) và Jocelyn Benson (ngoại trưởng tiểu bang Michigan, đang tranh chức thống đốc kế nhiệm bà Gretchen Whitmer) giận đến mức thường xuyên chỉ trích hết lời các đối thủ Cộng Hòa. Ông Abdul El-Sayed nói: “Nếu bạn khơi mào cuộc chiến thương mại với Canada thì bạn không gì hơn là một kẻ khốn nạn.”

Dù vậy, với một số tín đồ MAGA, nguy cơ “đói rã họng” vẫn chẳng là gì to tát. The Washington Post thuật, khi được hỏi liệu có tin cuộc chiến thương mại của ông Trump đang bảo vệ việc làm tại địa phương mình hay không, cử tri Misti Robinette (nữ công nhân Ford) vẫn “can đảm” trả lời: “Tôi tin tưởng tuyệt đối. 500%!!” rằng Trump là “vị tổng thống tuyệt vời nhất mà tôi nghĩ mình từng chứng kiến trong đời!!!”

Cái này dân gian kêu là “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay!” [dt]


 

THA THỨ LÀ TỰ CỨU MÌNH – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (18, 21-35) Chúa nhật 24 thường niên)

Tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình là điều rất khó, lắm người không làm được, giận ai là giận dai dẳng, năm nầy qua tháng khác, có khi giận đến cuối đời!

Để có thể tha thứ cho người khác, trước hết, chúng ta cần nhận thức rằng: Tha thứ cho người khác thì có lợi cho chính ta, còn giận hờn ghim gút người khác là tự đày đọa chính mình.

 Có hai lý do đòi buộc mỗi người phải tha thứ.

– Lý do thứ nhất:

Nếu ta có tha thứ cho người khác thì Chúa mới tha tội cho ta. Đây là điều kiện bắt buộc phải có để được ơn tha thứ.

Chúa Giê-su khắc sâu điều nầy vào tâm trí chúng ta qua dụ ngôn Tin mừng thánh Mát-thêu sau đây: Một tên đầy tớ nợ vua một món nợ kếch xù, dù bán tất cả những gì anh có cũng không thể trả hết nợ; nhưng vì anh van xin nài nỉ, nên nhà vua đã động lòng tha hết nợ cho anh.

Vậy mà sau đó, anh ta lại tống cổ người bạn của mình vào ngục chỉ vì người nầy mắc nợ anh một số tiền nhỏ hơn nhiều.

Khi nhà vua biết được điều thất đức nầy, ông “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày trả hết nợ cho ông.”

Rồi Chúa Giê-su kết luận: “Cha của Thầy ở trên Trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 23-35).

 – Lý do thứ hai: Tha thứ cho người khác là tự cứu mình.

Có người xúc phạm đến ta khiến ta giận hờn tức tối.

Người làm ta tổn thương vẫn ăn ngon, ngủ yên, đang vui sống cuộc đời của họ; còn ta thì ngày ngày mang theo sự tức giận trong lòng, để nó giày vò tâm trí ta, làm huyết áp tăng cao, mất ăn mất ngủ, mất bình an… Đây chính là nguyên nhân gây nhiều tác hại lên sức khỏe thể xác và tinh thần.

Vậy thì hãy khôn ngoan dứt bỏ giận hờn! Đừng tiếp tục ôm hận, giữ hờn và nhai đi nhai lại những chuyện làm cho lòng ta đau đớn.

Hãy dứt bỏ ngay. Đừng trao cho người khác quyền xâm chiếm hồn ta, phá hỏng sức khỏe và đánh cắp sự bình an của ta.

Ta tha thứ cho người khác không phải vì họ đáng được tha, mà vì ta xứng đáng được bình an.

Vậy thì hãy buông bỏ nó ngay hôm nay.

Hãy cứu lấy chính mình ngay lúc nầy!

Đừng biến một lỗi lầm của người khác thành bản án trừng phạt đời ta!

 Lạy Chúa Giê-su,

Hành động cao cả nhất, câu nói đẹp nhất, đáng ghi nhớ nhất trong đời Chúa, đó là lời Chúa thân thưa cùng Thiên Chúa Cha khi đang bị treo thân trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.”

Chúa không những không trách móc hay lên án những người đóng đinh mình, mà còn tỏ lòng thương xót, sẵn sàng tha thứ và hơn thế nữa, cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho họ.

Xin cho chúng con biết noi gương Chúa để sẵn sàng tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con. Amen.

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu 


 

LẠY CHÚA  – RỒI THÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”.

“Chỉ người tin mới vâng phục; và chỉ người vâng phục mới tin!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải ai gọi “Lạy Chúa, lạy Chúa!” cũng để Chúa làm Chúa. Lời Chúa hôm nay chỉ ra khoảng cách giữa lời tuyên xưng trên môi và sự vâng phục trong cuộc sống – ‘Lạy Chúa – rồi thôi’.

Trong câu “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?”, bản Hy Lạp viết kaleîte – “gọi” và poieîte – “làm”; cả hai đều ở thì hiện tại. Đây không phải một lần yếu đuối, nhưng một mâu thuẫn đã thành nếp: vẫn gọi mà không làm; vẫn trao Ngài một danh xưng, nhưng giữ cho mình quyền quyết định. Lời tuyên xưng không sai; chỉ bị giữ lại trên môi, không xuống tới đôi tay. Chúa Giêsu không hỏi chúng ta nói đúng chưa; Ngài hỏi điều chúng ta nói đã thành điều chúng ta sống chưa. Có một đức tin đúng từng chữ mà vẫn sai cả một đời. 

Để cho thấy lời tuyên xưng phải đi sâu đến đâu, Chúa Giêsu ví hai người cùng nghe lời Ngài với hai người xây nhà. Một người “đào sâu và đặt nền móng trên đá”; người kia “xây nhà ngay mặt đất, không nền móng”. Chúng ta thường muốn thay đổi phần nhìn thấy: sửa một thói quen, thêm một việc đạo đức, giữ cho lời nói ngay ngắn. Thế nhưng, làm điều Chúa dạy không phải tô thêm vẻ Kitô giáo cho căn nhà, nhưng để Ngài trở thành nền tảng cho cả đời mình. Bão tố không tạo ra chỗ yếu; nó chỉ phơi ra điều mặt tiền từng che giấu. “Thay đổi cuộc đời không phải là trang điểm; nó đòi thay đổi nền tảng, nghĩa là tìm thấy Tảng Đá là Chúa Kitô!” – Phanxicô.

Phaolô đưa lời tuyên xưng “Lạy Chúa!” ấy đến tận bàn tiệc Thánh Thể. Tín hữu Côrintô muốn dự tiệc của Chúa mà vẫn có mặt ở một bàn khác: “Anh em không thể vừa ăn ở bàn tiệc của Chúa, vừa ăn ở bàn tiệc của ma quỷ được!” – bài đọc một. Thánh Thể không phải một việc đạo đức đặt bên cạnh đời sống; đó là sự thuộc về. “Hãy trở nên điều anh em lãnh nhận; hãy lãnh nhận điều anh em là!” – Augustinô. Miệng có thể hát: “Lạy Chúa, con sẽ dâng lễ tế tạ ơn Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – nhưng lòng vẫn chia cho nhiều chủ. Không phải ai uống chén của Chúa cũng để đời mình thuộc về Chúa: người môn đệ có thể rước lấy Chúa Kitô mà vẫn không để Ngài đi xuống những chọn lựa của mình.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống chén Ngài chưa uống, cũng không dạy chúng ta điều Ngài chưa sống. Điều Ngài dạy suốt ba năm, đặc biệt những gì Ngài nói trong bữa Tiệc Ly, Ngài đã sống trọn vẹn ngày thứ Sáu. Con Thiên Chúa không giữ quyền quyết định cho mình, nhưng vâng phục Chúa Cha đến cùng. 

Vì thế, cả cơn lũ thập giá cũng không thể lay chuyển một đời đã đặt nền trong thánh ý Cha. Phục Sinh là lời Chúa Cha xác nhận: một đời vâng phục không kết thúc trong mất mát! Nơi Đức Kitô, không có ‘Lạy Chúa – rồi thôi’; chỉ có “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha!” – và đi đến cùng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống bằng những lời đẹp; cho con can đảm chọn điều đúng; và biến điều con tin nên một đời trung tín!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Bảy Tuần XXIII – Mùa Thường Niên

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt. 44 Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho! 45 Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.

46 “Tại sao anh em gọi Thầy: ‘Lạy Chúa ! Lạy Chúa !’, mà anh em không làm điều Thầy dạy?

47 “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. 48 Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. 49 Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành.”