NHÂN ĐỨC

NHÂN ĐỨC

Fr. Huynhquảng  

Kính gởi lời chào thân ái đến quí bạn hữu đã đồng hành và chia sẻ mục Sống Sao Cho Đẹp qua chín mươi bài vừa qua. Đời người vẫn còn đó những biến chuyển đổi thay; nổi thao thức cho một cuộc đời có ý nghĩa hay và đẹp vẫn bám chặt trong con tim khối óc của mỗi chúng ta. Với tinh thần học hỏi trao đổi giúp nhau sống tốt hơn, tác giả mục Sống Sao Cho Đẹp xin tiếp tục chia sẻ loạt bài cuối với chủ đề mới: Nhân đức.

* * *

Theo bạn, cuộc đời như thế nào được gọi là có ý nghĩa hay và đẹp? Câu hỏi này tựa như thật đơn giản, nhưng thực ra cả nhân loại từ nhiều ngàn năm qua vẫn đi tìm câu trả lời cho nó. Các nhà triết học, tôn giáo vẫn đi tìm câu trả lời cho nó; và đến lượt chúng ta hôm nay vẫn đi tìm câu trả lời cho nó. Tại sao nó khó quá vậy? Xin thưa, vì để trả lời cho câu hỏi về một cuộc đời hay và đẹp, không ai có thể thoả mãn câu trả lời này qua những minh giải lý thuyết của những người khác, nhưng chỉ thực sự hay và đẹp khi mình cảm nghiệm được cuộc đời hay và đẹp trong cuộc sống. Nói cách khác, đó là sự cảm nghiệm một cuộc sống hạnh phúc trong chính mình. Nhưng để đạt được sự hạnh phúc ấy, bên cận những yếu tố trợ lực, cũng có những yếu tố trở lục. Có những yếu tố trợ lực giúp chúng ta đạt hạnh phúc dễ dàng, nhưng cũng có những yếu tố trở lực ngăn cản chúng ta đạt hạnh phúc. Dầu vậy, có khi những yếu tố trở lực này đôi khi lại trở nên nguồn trợ lực khi chúng ta biết tận dụng nó cho hợp lý. Nói tóm lại, các tôn giáo, các triết gia phần nào chỉ cho chúng ta thấy đâu là trợ lực và đâu là trở lực trong hình trình đi tìm hạnh phúc cho mỗi đời người. Nhân đức chính là yếu tố trợ lực cho chúng ta đạt được hạnh phúc.

Nhân đức là gi? Thật đơn giản, Giáo lý Công giáo định nghĩa như sau: “Nhân đức là những thói quen tốt và bền vững, giúp ta làm sự thiện một cách dễ dàng hơn” (GLCG # 1803). Có hai loại nhân đức, nhân đức nhân bản và nhân đức hướng thần. Trong loạt bài cuối của mục SSCĐ, chúng ta sẽ lần lượt ôn lại bốn nhân đức nhân bản chính yếu và ba nhân đức hướng thần. Bốn nhân đức nhân bản chính yếu bao gồm: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ; ba nhân đức hướng thần bao gồm: đức tin, đức cậy và đức mến.

* * *

Nhân đức là thói quen tốt, và bền vững. Nhân đức có thể đạt được qua tập luyện, tuy nhiên việc tập luyện nhân đức không chỉ như là việc rèn luyện một kỹ thuật nào đó (ví dụ như chơi thể thao), nhưng nó là một sự biến đổi con người – điều này tạo ra tính bền vững; nó trở nên như bản tính tự nhiên thứ hai trong người chúng ta.

Giáo sư Kinh thánh Yohanna Katanacho, người Palestine bị cho là đối tượng bị tình nghi nằm trong nhóm người khủng bố tại Israel. Ông thường xuyên bị ngăn chặn và bị kiểm tra thẻ căn cước; có lúc ông bị giam giữ hằng giờ để bị thẩm vấn. Điều này làm ông vô cùng bực bội và căm thù những người lính Israel. Là người rao giảng Lời Chúa, ông hiểu rằng Chúa dạy phải yêu thương kẻ thù. Nhưng trong trường hợp này, làm sao ông có thể tha thứ và yêu thương những “kẻ thù” làm phiền và bắt bớ ông một cách vô cớ?!

Sau nhiều tháng trăn trở và cầu nguyện, ông cảm nghiệm được rằng, tình yêu kẻ thù mà Tin Mừng mời gọi không phải là loại tình yêu cảm tính, nhưng là một hành động. Nhưng phải làm gì để chứng tỏ tình yêu qua hành động với những người lính này? Ông nghĩ ngay tới việc “chia sẻ Lời Chúa” với những người lính. Nhưng làm cách nào để làm cho những người lính đối thoại với ông trên đường phố? Ông làm những mãnh giấy nhỏ có in đậm câu Lời Chúa trích từ sách Isaiah, “Yêu thật lòng” bằng tiếng Do Thái. Cứ mỗi lần bị chặn lại và yêu cầu đưa thẻ căn cước, ông đều tặng cho người lính câu Lời Chúa này. Vì câu Lời Chúa bằng tiếng Do Thái, nên những người lính thường hỏi han và trao đổi với ông trước khi để ông đi. Sau một thời gian, ông Yohanna nhận ra sự biến đổi trong con người ông; ông không còn cảm thấy hận thù và nhục nhả trong lòng mình nữa. Cũng hoàn cảnh đó, những con người đó, nhưng trong ông đã thay đổi khi gặp những người lính trên đường. Vì thế, khi bắt đầu đi ra khỏi nhà, ông đều cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin để cho con bị chận lại để con chia sẻ tình yêu của Chúa Kitô cho họ.”

* * *

Mẫu chuyện trên giúp chúng ta suy nghĩ đến việc luyện tập nhân đức. Ai trong chúng ta cũng thường hay gặp phải những chuyện không vừa lòng, trái ý trong cuộc đời. Có nhiều cách để vượt qua những trở ngại khó khăn đó, nhưng nếu chúng ta giải quyết bằng cách lấy mình làm trung tâm, có lợi cho mình, mà gạt Chúa và tha nhân ra khỏi bức tranh đời mình, thì có lẽ thành quả sẽ không đạt và bình an cũng không chiếm ngự được. Vì thế, tập nhân đức trước hết và cần trên hết chính là tập sống với Chúa. Lấy Chúa làm trung tâm chi phối mọi sinh hoạt, suy nghĩ của đời ta. Chỉ trong Chúa, ta mới thực sự trở nên người biết sống đẹp và có ý nghĩa.

Fr. Huynhquảng

Chúa chẳng của riêng ai!

Chúa chẳng của riêng ai!

Chúa có phải là của riêng tôi hay riêng một ai đó chăng?

Trưa nay trong lúc tôi với má tôi ngồi trò chuyện, tôi có nói với má tôi rằng: “tối nay con phải tới đường Nguyễn Thị Nhỏ để tập trung lên xe đi hành hương, nhưng con không biết đường đó ở đâu, vì chưa bao giờ con đi đường đó”. Má tôi liền nói rằng: “mày xin Chúa của mày chỉ đường đi, vì có Chúa tụi bây chỉ đường thì không bị lạc mà trễ giờ “. Tôi là một tân tòng, trong gia đình chỉ có mình tôi là người theo đạo, , còn các thành viên khác thì chưa nhận biết Chúa.

Chỉ một câu nói thật nhẹ nhàng và đơn giản như vậy, đã làm cho tôi hơi bất ngờ và chợt nhớ ra đã nhiều lần tôi cũng nhờ Chúa và Mẹ dẫn đường đến nơi một cách an toàn và đúng thời gian.

Cách đây khoảng 4 năm, trong nhóm Kinh Thánh Cầu Nguyện mà tôi sinh hoạt. Cô trưởng nhóm nói tôi đến dự một buổi sinh hoạt khá đặc biệt ở Giáo Xứ Mai Khôi ở đường Trần Bình Trọng. Nhận lời xong thì tôi mới nhớ là mình chưa biết giáo xứ đó nằm ở đâu, hỏi thì cô trưởng nhóm có hướng dẫn nhưng lại nói thêm là nằm trong cùng của một con hẻm. Lúc nghe thì thấy đơn giản, nhưng khi đi thì mới biết là xa quá so với nhà của tôi. Chạy xe tới đường Trần Bình Trọng thì có nhiều con hẻm, thế là tôi vội vàng nói với Chúa và Mẹ là xin dẫn con đi đúng hướng kẻo con bị trễ giờ thì tiếc lắm. Quả thật, sau khi tôi thỏ thẻ với Chúa và Mẹ như thế thì tôi đã quẹo đúng con hẻm dẫn đến ngay cổng nhà thờ.

Sau lần đó,  mỗi khi tôi đi đường thấy có vẻ bị lạc thì tôi vội vàng xin Chúa và Mẹ dẫn đi.

Cách đây hơn một năm, gia đình tôi có giúp những đứa cháu họ của má tôi. Trong đó có một con bé vào để luyện thi đại học. Mặc dù cô bé cũng cố gắng và dồn nhiều công sức để ôn luyện. Gần đến ngày đi thi đại học thì cô bé ấy xin tôi cho được đi lễ cùng, vì là người ngoại đạo, cô bé ấy cũng chỉ biết nói với Chúa trong Thánh Lễ là: “Chúa ơi, đi thi với con vì con sợ”.

Rồi cũng đến ngày thi đại học, cô bé ấy hỏi tôi là làm sao biết Chúa sẽ đi thi cùng. Lúc đó tôi hướng dẫn thêm cho cô bé làm dấu Thánh, đó là dấu chỉ cho Chúa biết là mình làm gì và ở đâu đều có Chúa ở cùng.  Và cô bé ấy đã vào phòng thi với thái độ rất tự tin.

Khi đón cô bé trước cổng trường sau buổi thi, tôi nghe cô bé ấy kể lại rằng: “đề thi năm nay quá khả năng của em, em nhìn đề không thấy có chút gì trong những đề em đã học. Sợ quá lúc đó em chỉ biết làm dấu Thánh và xin Chúa giúp em và em chỉ biết làm bài một cách máy móc, nhưng em thấy vui vui và không thấy sợ gì cả”.


Cho đến ngày có kết quả thi, thì cô bé ấy đã đậu vào một trường cao đẳng. Đó là một kết quả mà cô bé ấy cũng như gia đình không nghĩ tới, vì thật sự thì cô bé ấy đã bị mất căn bản từ những năm cấp ba ở trường tỉnh. Điều rất đặc biệt là cô bé này là  con trong một gia đình không biết Chúa và là một gia đình thờ đạo ông bà sinh sống ở Phan Thiết.

Người thứ hai là một đứa em gái họ nhà bên Nội của tôi, cô này đã gần 35 tuổi mà vẫn chưa hiểu gì cho lắm về tình yêu hôn nhân và chưa tìm được người yêu. Vì gia đình cô ở quê miền tây – Bạc Liêu nên chuyện hôn nhân của cô ấy khá quan trọng đối với gia đình cô ấy. Ba má cô ấy luôn lo lắng cho chuyện hôn nhân của cô con gái út và theo như tôi được biết thì hai bác của tôi cũng hay cúng hay cầu xin nhiều nơi. Nhưng tất cả gần như vô vọng, có lần tôi nghe bác trai tôi nói  buồn rằng: “số nó chắc ở vậy, không lấy được chồng” .

Một hôm nhân dịp Thanh Minh, gia đình đứa em trai tôi và ba tôi phải về quê ở Bạc Liêu để viếng mộ ông bà nội tôi. Tôi cũng tham gia đi cùng, nhưng ngoài việc tôi đi viếng Thanh Minh, tôi còn mục đích khác là viếng Giáo Xứ Tắc Sậy ở Hộ Phòng có mộ cha Phanxico Trương Bửu Diệp.

Mấy đứa em tôi tuy không biết Chúa nhưng chúng đã chứng kiến nhiều ơn lành và phép lạ mà qua cha Diệp. Nên khi nghe tôi nói đi cha Diệp thì tụi nó hưởng ứng và đi cùng. Trong chuyến đi cũng có nhỏ em con bác ruột của tôi, nó thì đi cho vui chứ không biết cầu xin gì.

Tới nơi thì tôi nói nó xin khấn những mơ ước của nó, nó nói là nó không biết vì truyền thống gia đình nó chỉ biết cúng vái ông bà và trời Phật. Lúc đó tôi chợt nhớ đến nhưng ưu tư của hai bác tôi, tôi nói nó cùng xin khấn với tôi, xin cha Diệp cầu với Chúa ban cho nó hiểu về tình yêu hôn nhân là gì. Thế là chúng tôi thành tâm xin khấn với những lời khấn đơn sơ và phó thác hoàn toàn.

Bẳng đi khoảng hơn một tháng sau khi xin khấn, thì nhỏ em tôi báo cho tôi một tin vui là đã tìm được người yêu và chúng nó cũng đang tính chuyện cưới xin. Tháng 11 tới đây sẽ là ngày cưới của chúng nó, tôi thấy rất vui và chỉ biết tạ ơn Chúa và cám ơn cha Diệp đã cầu thay chúng tôi.

Trong bài chia sẻ này, tôi đưa ra một vài chứng nhân gần gũi với tôi và tôi hiểu rõ. Họ đều là những người không biết Chúa và đều thuộc những gia đình thờ ông bà, thờ thần thánh và Phật.

Đọc đến đây thì chắc quý vị cũng đã rỏ câu trả lời cho câu hỏi ở đầu bài viết, Chúa thật sự là của ai rồi. Tôi xin khẳng định Chúa chẳng của riêng ai, chẳng thuộc lứa tuổi nào, lại càng không phân biệt lớn nhỏ, không phân biệt màu da, chủng tộc. Chúa là của mọi người, của toàn nhân loại chúng ta. Ngài chỉ cần ta thành tâm, đơn sơ và biết tin tưởng hoàn toàn khi cầu xin thì sẽ được Ngài chúc phúc và đồng hành.

Nguyện xin Tình yêu của Chúa, Mẹ Maria và các Thánh luôn chúc phúc và cầu thay cho chúng con trong suốt cuộc đời của chúng con, để chúng con luôn được sống trong ơn nghĩa con cái của Ngài, hầu danh Cha chúng con luôn được tôn vinh và cả sáng.


Sai gòn, ngày 10 tháng 10 năm 2013

Maria Túc Lynh

CHIẾC VĨ CẦM

CHIẾC VĨ CẦM

Tác giả: Fr. Huynhquảng

Chuyến tàu định mệnh Titanic đã nằm sâu trong lòng biển, dầu vậy những tấm gương làm người vẫn được thỉnh thoảng nhắc tới cho nhiều thế hệ mãi đến hôm nay. Trong những mẫu gương ấy, mẫu gương chung thuỷ của người nhạc trưởng Wallace Hartley và Maria Robinson được nhắc đến như một câu chuyện tình buồn, nhưng đẹp – Đẹp vì là vì tính chung thuỷ và trân trọng những báu vật họ trao tặng nhau.

* * *

Trong khi mọi người đang hoảng loạn lo sợ trước cảnh chiếc tàu Titanic gặp nạn, nhằm để giữ vững tinh thần cho hành khách, người nhạc trưởng trẻ 24 tuổi, Hartley đã dũng cảm triệu tập ban nhạc gồm tám nhạc công để trình diễn trên boong tàu. Họ cứ tiếp tục chơi giữa phong ba bảo táp, giữa cảnh náo loạn kêu la, và họ đã giữ vững vai trò nhạc công của họ cho đến giây phút cuối cùng cùng với gần 1.500 hành khách chìm vào lòng biển sâu thẳm vào ngày 15 tháng 4 năm 1912.

Sau một thời gian dài, các nhà chuyên môn đã tìm được một số báu vật trong con tàu định mệnh; trong số đó họ tìm thấy chiếc vĩ cầm của nhạc trưởng Harley được đặt trong chiếc vali bằng da. Lạ thay, dù đã bị chôn kín trong lòng biển nhiều năm, chiếc vĩ cầm vẫn còn như nguyên vẹn. Cây vĩ cầm là quà tặng do bà Maria Robinson tặng cho nhạc trưởng Wallace Hartley nhân ngày họ đính hôn. Trên thân đàn, người ta tìm thấy dòng chữ: “Dành tặng anh Wallace nhân ngày đính hôn của chúng mình. Em Maria.” Sau đó, chiếc vĩ cầm được trao lại cho bà Maria Robinson, vợ của nhạc trưởng, người đã sống cuộc đời còn lại trong bậc sống độc thân. Sau khi nhận lại chiếc đàn, Bà Maria đã viết trong nhật ký, “Cây vĩ cầm giờ đây là sợi dây kết nối tình yêu giữa chúng ta.”

* * *

Bạn thân mến, câu chuyện tình đẹp là chuyện tình diễn tả sự trọn vẹn của mối tình ấy. Người ta vẫn thường rêu rao, “Tình chỉ đẹp khi còn dang dỡ” – cái đẹp của mối tình “dang dỡ” đó chẳng qua là “đẹp” về cảm xúc chứ không thể nói là mối tình đẹp trọn vẹn được. Vì nếu đẹp, tại sao còn dang dở; và vì nếu nó dang dở thì không thể đẹp được.

Mối tình của Wallace và Maria có đẹp không? Có dang dở không? Vâng nó đẹp và không dang dở. Đẹp và trọn vẹn vì chính Wallace và Maria chọn lựa sống mối tình mình cho đẹp cho trọn dù cho hoàn cảnh đẩy họ vào thế “dang dở” nhưng họ, nhất là bà Maria vẫn quyết chọn và làm cho mối tình của họ nên đẹp. Cuộc tình đẹp hay dang dở đều là do sự chọn lựa giữa họ với nhau mà thôi. Thử hỏi là nếu Maria chọn tái hôn, thì liệu rằng chiếc vĩ cầm mà họ tặng cho nhau có giá trị như hiện nay hay không? Liệu rằng chúng ta có bàn đến cuộc tình của họ với tất cả sự ngưỡng mộ hay không? Cả hai Wallace và Maria, họ có quyền kết thúc cuộc tình đẹp  của họ trong dang dở; dầu vậy, họ đã chọn kết thúc cuộc đẹp của họ trong trọn vẹn. Nhất là Maria, cô có quyền kết thúc cuộc tình đẹp của cô với Wallace, và cũng có quyền để xây đắp một mối tình đẹp khác. Dầu vậy, Maria đã chọn đi trọn giao ước trong cuộc tình với Wallace, vì hơn ai hết, Maria hiểu rằng, cuộc tình này chỉ thực sự đẹp khi trong khối óc và con tim của cô không có sự “dang dở.”

Cũng như tất cả những ai đã và sẽ bước vào đời sống hôn nhân, mối tình của bạn có đẹp không, có dang dở không? Vâng nó đẹp lắm – dĩ nhiên nó phải đẹp bạn mới bước vào đời sống hôn nhân; nhưng nó có dang dở không? Đây chính là câu trả lời dành cho sự chọn lựa của bạn. Những cuộc tình hôn nhân thật đẹp không có nghĩa là họ không gặp éo le, ngang trái. Thực ra, có khi họ còn gặp nhiều nghịch cảnh dang dở  nữa là đàng khác; nhưng cuộc tình của họ đẹp là vì họ vẫn chung thủy với nhau bất chấp tất cả nghịch cảnh dang dở.

Thưa bạn, nhìn vào những người thân chung quanh, chúng ta vẫn thấy gặp những con người làm nên nhiều cuộc tình đẹp vì sự chung thủy của họ. Vẫn có đó những cảnh “gà trống nuôi con.” Vẫn có đó những người mẹ đơn độc nuôi con vì chữ tính với chồng. Những con người này có gặp dang dỡ trong cuộc đời không? Thưa có, nhưng cuộc tình của họ vẫn trọn vẹn và đẹp vì lời thề nên trọn và hoàn tất.

Thưa bạn, những chọn lựa nhỏ bé trong từng ngày của bạn  cũng góp phần làm cho cuộc tình của bạn đẹp tương tự như những cuộc tình đẹp bất hủ trong lịch sử con người. Lịch sử đang ở trong tay bạn!


Fr. Huynhquảng

“Người có đạo”

“Người có đạo”

Maria Túc Lynh

“Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ sẽ mở cho” (Mt 7, 8)

Vốn là một người có tính năng động, thích tìm hiểu từ khi còn bé, nên tôi hay chú ý nhiều đến những lời chia sẻ của người khác về những điều kỳ diệu và mới lạ của đạo Công Giáo.

Trước kia khi tôi chưa biết đến đạo Công Giáo, trong tôi có hai dòng suy nghĩ gần như là trái ngược nhau. Một là thấy những người theo đạo Công Giáo sao mà sang trọng quá, ở họ có chút gì đó hay hay. Mỗi khi họ đi lễ, tôi thấy họ ăn mặc rất chỉnh tề và đẹp, và tôi thầm ước chi tôi cũng là người có đạo. Có đạo, thì tôi cũng sẽ được nhiều dịp diện quần áo đẹp đi Nhà Thờ, chỉ đơn giản là được vào Nhà Thờ thôi chứ không hề hiểu biết ý nghĩa của Thánh Lễ. Hai là tôi thấy những người được gọi là người công giáo sao mà lại rất khó gần, dường như họ có vẻ rất kiểu cách, có thể nói là “chảnh” nữa. Điều này làm cho tôi cảm thấy không thiện cảm với họ chút nào, và cũng mất dần cảm hứng trong tôi muốn tìm hiểu về đạo.


Cho đến một hôm, tôi đã ngộ ra rất nhiều điều kỳ lạ và thú vị, tôi được tham dự một Thánh Lễ ngày chúa nhật và được nghe bài chia sẻ về danh xưng “Tôi là người có đạo” do một vị linh mục khá đứng tuổi chia sẻ, mà theo cảm nghĩ của tôi, đó cũng là một lời dặn dò cho những công dân nước Chúa rằng, điểm nổi bật nói cho đúng hơn là một tôn chỉ của “người có đạo” để mọi người nhận biết và công nhận, đó là: “Bác ái là đồng phục của người có đạo”, được thể hiện qua thái độ, cử chỉ, hành vi ứng xử trong đời sống hàng ngày với tha nhân, lời nói luôn nhã nhặn, hành động trong yêu thương vô vị lợi và chân thành. Sống như thế sẽ gặt hái được sự bình an, sống như thế là sống cho tình yêu.

Dần dần tôi hiểu rằng có một Đấng Tạo Hóa và thầm biết ơn Đấng đã sáng lập ra đạo Công Giáo, trong tôi đã mất hết những suy nghĩ nông cạn hời hợt trước kia và tôi đã tự nguyện tìm hiểu, học đạo, theo đạo và cố gắng sống theo những tôn chỉ và giáo huấn của đạo mà tôi đã được học.

Và một ngày gần đây trong một Thánh Lễ tôi lại nghe giảng về một chứng nhân là một nữ giáo viên trẻ rất đáng quý. Vị linh mục đã kể lại rằng ngày cô giáo đó được tuyên dương vì những thành tích mà cô đã làm với một tấm lòng của “người có đạo”. Tuy nhiên, người ta không nhìn nhận điều đó trong cái bằng tuyên dương, người ta tự ý điền vào là vì cô đã noi gương một vị lãnh tụ vĩ đại xa xăm nào đó mà cô chưa bao giờ biết, nên bây giờ cô mới được như vậy. Và khi nhận và đọc nội dung của tấm bằng, cô đã can đảm nói lên sự thật rằng. Cô đã sống và làm việc thế nào để có được một kết quả như ngày hôm nay, là do cô được sinh ra và giáo dục trong một gia đình có nền tảng đạo đức và một niềm tin tôn giáo mà cô đã được lãnh nhận từ bé, chứ cô không hề biết vị lãnh tụ nào cả, thì làm sao cô giáo ấy có thể học tập và noi gương. Và nếu cần thì cô sẵn sàng trả lại cái bằng tuyên dương của cấp trên tặng thưởng cho cô.

Rồi có một lần trong một buổi đi uống cà phê với những bậc đàn anh, đàn chị, họ cũng là những “người có đạo”. Có một anh là giáo viên dạy toán cấp ba. Anh là một người được nhiều người cán bộ nhà nước nể phục vì tính trung thực và thẳng thắng. Anh đã thẳng thừng từ chối khi biết người ta đã dùng tài sản của một người khác để cấp cho mình.

Rồi hôm nay khi tôi đi lễ như mọi ngày ở Giáo Xứ Ba Chuông lại được biết thêm một chứng nhân nữa, mà theo tôi là rất tuyệt vời. Người này là một người con duy nhất trong gia đình. Ngày ông chọn Chúa là tình yêu duy nhất và để sống trọn vẹn với tình yêu mình, ông đã dám hy sinh dứt bỏ cha mẹ, nhưng vốn là một người con hiếu thảo, ông vẫn tìm mọi cách để báo đáp chữ “Hiếu” cho trọn.

Chứng nhân ấy là một linh mục, ngài tên là Giuse Đỗ Văn Chung thuộc dòng Đa Minh. Ngài đã được thụ phong linh mục từ lâu và được bổ nhiệm sang Houston – Texas – Hoa Kỳ, ngài cũng đã ổn định nơi quê người cuộc đời dâng hiến. Tôi đã nghe từ những người giáo dân trong xứ nói lại rằng, tuy đã yên ổn nhưng ngài vẫn muốn dấn thân phục vụ nên đã xin bề trên về lại quê nhà phục vụ cho con cái Chúa. Nguyện vọng của ngài đã được chấp thuận, ngài đã trở lại quê nhà. Cách đây hơn một tuần, trên đường từ nhà mẹ ngài đi ra thì ngài đã bị một cậu bé 17 tuổi không kiểm soát được tốc độ gây tai nạn nghiêm trọng cho ngài. Ngài bị hoại tử ở chân và phải cưa mất một chân, sau một thời gian ngắn bất tỉnh từ khi xảy ra tai nạn, ngài đã hồi tỉnh và chính ngài đã nói lên lời tha thứ cho cậu bé và ngài đã căn dặn người thân của ngài không được làm khó hay thưa kiện cậu bé và gia đình cậu bé đó. Sau khi ngài nói và truyền đạt lại nguyện vọng của mình thì ngài đã ra đi trong bình an, để trở về với Chúa.

“Người có đạo” như thế đó, họ thật đơn sơ, thật can đảm, thật trung thực, dám sống thật với chính mình, trong họ có một tấm lòng rộng mở, sống bác ái và vị tha, họ đã tha thứ ngay cho cả người đã làm thiệt chính mạng sống của mình. Họ dám thẳng thừng từ chối danh vọng, bổng lộc khi biết chút danh vọng đó không trong sáng, nguồn bổng lộc đó lỗi đức công bằng và yêu thương.

Nếu là người chưa có đạo, chưa có niềm tin và sống theo lẽ thường tình của con người thì tôi sẽ phán cho những con “người có đạo” này có vấn đề về thần kinh.

– Ai lại dại dột chối bỏ những lời khen của cấp trên, để có thể bị nguy hại tới đường công danh và sự nghiệp?

– Ai lại khờ khạo dám khước từ một tài sản lớn, khi mà chính cuộc sống mình đang gặp khó khăn?

– Ai lại rộng lượng để nói lên lời tha thứ vô điều kiện cho một kẻ đã hủy diệt mơ ước, nguyện vọng  và đến ngay cả mạng sống  của mình?

Vâng, “Người có đạo” như thế đó, điều đặc biệt là trong họ có một niềm tin rất mạnh mẽ, họ luôn khắc tâm rằng họ được ơn bảo trợ rất tràn đầy. Đó là những điều tôi đã cảm nhận được nơi họ, đã chứng kiến tận mắt, đã củng cố trong tôi một niềm tin ngập tràn niềm vui là mối tương quan giữa họ và tôi giờ đây không còn như người xa lạ, mà là thật gần gũi trong mối tương quan là anh chị em, con cái của một Cha chung trên trời.

Cho tới hôm nay và cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, tôi thấy mình thật sung sướng khi chọn Đạo Công Giáo là tôn giáo của mình, giáo huấn của đạo là kim chỉ nam của cuộc đời tôi. Từ ngày tôi được trở thành “người có đạo” tôi thấy mình thật bình an và hạnh phúc. Vì tôi nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời là biết cách sống cho đúng với hai chữ “Tình Yêu”.

Còn các bạn, nghĩ thế nào về đạo Công Giáo? Tôi tin rằng, nếu các bạn có thiện chí đi tìm, các bạn cũng sẽ gặp và sẽ thấy được nhiều điều thú vị hơn nữa.

Xin hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn linh mục Giuse sớm được hưởng kiến nhan Thánh Chúa.


Sàigon, ngày 27 tháng 9 năm 2013

Maria Túc Lynh

Tôi nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời là biết cách sống cho đúng với hai chữ “Tình Yêu”. Maria Túc Lynh

NHÀ THƯƠNG HAY NHÀ THỜ

NHÀ THƯƠNG HAY NHÀ THỜ

Maria Túc Lynh

Vậy là con đã được làm công chúa hơn một năm – Cha làm vua thì con gái nhất định phải là một công chúa. Nói như thế không phải là con có ý “dụ dỗ” những ai nhất quyết không nhìn nhận Chúa, mà mất nhiều ơn ích. Và con càng không có ý khoe khoang là mình là con cưng, là công chúa thì muốn gì được đó, vì nhiều lúc con cũng không được Chúa nhận lời khi việc đó Chúa biết là không tốt. Tuy nhiên sự thật là khi biết mình có một Người Cha trên cả tuyệt vời, thì quả nhiên con được hạnh phúc.

Hôm nay con xin phép được chia sẻ với quý vị về quyền năng của Bí Tích Thánh Thể, về vai trò cầu thay của Mẹ Maria quan trọng tới mức nào.

Con đã từng có những bài chia sẻ, tâm sự về Bí Tích Thánh Thể và vai trò của Mẹ Maria. Nhưng lần này con xin nêu lên một mặt khác nữa của hai điều huyền nhiệm này.

Xưa giờ ai cũng nói Bí Tích Thánh Thể là một lương thực, không thể thiếu trong cuộc đời của người Công Giáo. Bí Tích Thánh Thể sẽ làm cho con người ta biết cách sống hơn, làm cho người ta hoán cải. Giải thoát bao nhiêu vất vả khó khăn trong vấn đề tâm linh, ngay cả trừ tà. Điều quan trọng hơn nữa là Bí Tích Thánh Thể, còn có thể giúp cho mọi người có thể nhận được nhiều ơn nhờ lời một người xa lạ cầu nguyện, còn gọi là được thông công.

Bí Tích Thánh Thể là tuyệt vời vậy đó, vì thế con tiếc cho những ai đã biết mà cố tình chối bỏ, những ai cứ vì một điều gì trong đời sống thế gian tạm bợ này mà khước từ đón nhận.

Vào ngày 13 tháng 12 năm 2011, tự nhiên con bị đau bụng một cách kỳ lạ. Lúc đầu thì đau râm rang, nhưng tới khoảng trưa thì bắt đầu đau từng cơn. Khi thì đau nhẹ, lúc thì đau dữ dội. Đau tới mức con không thể ngồi hay nằm, tất nhiên là con không ăn được gì cả. Tới gần 3 giờ chiều thì cơn đau bắt đầu lan rộng khắp vùng bụng, và đau rất mạnh. Khi đó thú thật là con quên mất tiêu việc cầu nguyện xin chữa lành, mà lúc đó chợt nhớ lời của một đàn anh rằng. Cứ dâng những cơn đau đó để cầu nguyện cho các linh hồn. Mà con nghĩ cũng ngộ, càng dâng thì càng đau. Cuối cùng thì không chịu nổi nữa nên con cầu cứu một chị bạn là bác sỹ. Chị ấy cho một vài tên thuốc để uống. Để yên tâm uống thuốc mà không sợ bị đau dạ dày, nên con ăn lót dạ một trái chuối sứ. Sau khi ăn và uống thuốc xong thì cũng không hết, và lúc đó cũng là gần tới giờ Thánh Lễ. Nhưng vì trong lòng con nghĩ, đây chắc là ma quỷ phá không muốn cho con đi lễ nên nó cản đường. Tính con vốn lỳ nên bất chấp, quyết định phải đi lễ để được gần gũi và rước Chúa. Nhưng cuối cùng thì con không đạt được ý định, vì đau quá và dạ dạy lại muốn nôn. Con đành bỏ lễ chiều trong tiếc nuối, mà đi tìm một phòng khám đa khoa để khám bệnh. Chạy loanh quanh mà vẫn không tìm ra, thì con chợt nhớ tới phòng khám đa khoa Việt Mỹ, nằm trên đường Hoàng Hoa Thám quận Bình Thạnh.

Vào tới nơi thì con cũng thấy mệt mỏi lắm rồi vì con cũng vừa nôn ra hết vừa thuốc vừa chuối. Những cô điều đưỡng ở đó cho con khám và làm một số xét nghiệm, siêu âm. Kết quả cuối cùng thì theo như một vị bác sỹ nam là con cần phải nhập viện vì bạch cầu tăng cao. Người bác sỹ đó bảo rằng đây có thể là viêm ruột thừa, nếu không nhập viện và nằm chờ điều trị thì có khi chết mất tiêu. Người bác sỹ tốt bụng đó nghĩ là con sợ nằm viện phẫu thuật nên hết lòng an ủi và khuyên con nên nhập viện.

Tạ ơn Chúa là ngay lúc đó thì bỗng nhiên con nhớ đế Người Cha yêu quý của con, và con cũng nhớ là hôm nay có một Thánh Lễ ở Giáo Xứ Đa Minh – Ba Chuông được tổ chức hàng tháng vào ngày 13 để Kính Đức Mẹ. Thế là con liền nói chuyện với Chúa rằng: Chúa ơi! Con muốn đi nhà thờ chứ không muốn đi nhà thương đâu. Ở nhà thờ con còn được cầu nguyện và thấy Chúa và rước Chúa, chứ vô nhà thương nằm thì buồn chết”. Sau đó thì con cũng nói với Mẹ Maria rằng: “Mẹ ơi, Mẹ cầu nguyện cho con đi. Một tháng mới có một Thánh Lễ Kính Mẹ mà Mẹ để con chui vô nhà thương nằm một mình sao?”.

Sau khi năn nỉ Chúa và Mẹ xong thì cái cảm giác đau ở vùng bụng của con mất mất đi hơn 80%, và con quyết định là phải đi lễ. Tuy nhiên vì cả ngày không ăn uống gì được nên con thấy đói và tìm ăn một chút rồi quyết định đi lễ. Tạ ơn Chúa là con vẫn còn kịp giờ dự Tiệc Thánh mà Mẹ và Chúa đã dọn sẳn cho con (Con cảm giác rằng bữa tiệc hôm đó chỉ dành riêng cho con).

Tuyệt vời lắm, khi vào Lễ thì con gần như không thấy đau nữa. Tới khi rước Lễ, con xin phép Chúa cho con được rước Chúa. Và sau khi rước Chúa xong thì con thấy trong cơ thể gần như bình thường và tươi tỉnh hẳn lên. Và con đã hoàn toàn hết đau một cách tuyệt vời, ngay sáng ngày hôm sau thì hết đau hơn 95%. Đến chiều tối thì coi như chấm dứt hết mọi cơn đau. Lẽ ra là sau đó con nên chia sẻ với quý vị ngay, nhưng vì con bận nhiều việc nên giờ con mới chia sẻ.

Ở đây, con muốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của Thánh Lễ, nơi đó giống như là một phòng chữa bệnh, mà không hề kén bất cứ một loại bệnh tật nào vì nơi đó có một Vị Bác Sỹ thật tài ba. Nơi đó còn có một Vị Y Tá rất dịu dàng, vị Y Tá này sẳn sàng đón nhận tất cả các bệnh nhân bất kể sang hèn mà không cần người bệnh phải làm bất cứ một xét nghiệm hay kiểm tra gì. Chỉ cần người bệnh nhân đó nhận thức được rằng mình là con, chỉ cần có một tâm tình phó thác, với tấm lòng đơn sơ vì tin rằng mình sẽ được chữa lành. Và nhất là người bệnh nhân không mất một bất cứ chi phí nào.

Trong bài viết này con rất muốn được đón nhận bởi những quý vị chưa Công Giáo, hãy xem xét lại những định kiến không tốt về Thánh Lễ, về Bí Tích Thánh Thể. Đó những huyền nhiệm mà nếu chúng ta không chịu mở lòng hay trân trọng khi chưa hiếu hết thì quý vị mãi mãi sẽ bị thiệt thòi.

Mỗi khi nghe ai đó nói là có một loại thuốc nào đó có giá trị vài ngàn đôla hay vài triệu đồng tiền VN thật quý giá có thể làm cho con người được sức khỏe hay được trẻ mãi không già và tin vào nó một cách tuyệt đối. Thì con lại nghĩ rằng, nhân loại đang hiện có một loại thuốc bổ, thuốc chữa bệnh, thực phẩm vô cùng quý giá, mà con người lại đang chối từ khi một Đại Thiên Y luôn sẳn sàng ban phát qua một Vị Y tá nhân từ hiền hậu.

Nhân đây con cầu xin Danh Vị Đại Thiên Y của nhân loại là Chúa Yêsu càng tỏa sáng, qua việc chữa lành cho tất cả những bệnh nhân, đang trông chờ vào quyền năng của Đức Giêsu Phục Sinh, qua lời cầu bầu của Vị Y tá hiền từ và đức độ là Mẹ Maria.

Con xin cám ơn quý vị đã đón nhận tâm tình chia sẻ của con.

Sàigòn, ngày 03 tháng 03 năm 2012
Con
Maria Túc Lynh

NÔNG TRẠI KOINONIA

NÔNG TRẠI KOINONIA

Br. Huynhquảng

Clarence Jordan (1912 – 1969) có hai bằng tiến sĩ, một về nông nghiệp và một về Kinh Thánh. Ông là người có nhiều tài năng và kiến thức sâu rộng, ông có thể kiếm tiền và tìm một địa vị trong xã hội một cách dễ dàng, tuy nhiên ông đã chọn phục vụ người nghèo.

Vào thập niên 1940, Clarence Jordan thành lập nông trại Koinonia tại Americus, Georgia. Trong nông trại này, nhiều nông dân da trắng lẫn da màu đều được tạo công ăn việc làm và đều được ông phục vụ như nhau. Vì ý tưởng này, dĩ nhiên vào thời điểm ấy, ông bị chống đối kịt liệt, đặc biệt từ những người cùng niềm tin tôn giáo với ông. Trong vòng 14 năm, rất nhiều người dân trong thành phố đã cố gắng ngăn chặn kế hoạch của ông, kể cả loại trừ ông và quấy rầy những người nghèo thuộc nông trại Koinonia. Cuối cùng vào năm 1954, quá mệt mõi vời Clarence Jordan, Ku Klux Klan (KKK) – một tổ chức phân biệt người gia màu và chống chính sách nhập cư tại Mỹ, đã quyết định loại bỏ ông Jordan. Vào một đêm tối, với vũ khí và đuốc, KKK đã đốt tất cả các căn nhà trong nông trại Koinonia và đuổi tất cả dân làng đi hết, chỉ trừ căn nhà của ông Clarence Jordan. Trong hoãng loạn đêm đen, ông Clarence cũng đã  nhận ra những giọng nói quen thuộc, trong đó có một số người cùng thuộc cộng đoàn tôn giáo với ông.

Sáng hôm sau, các phóng viên đến hiện trường để tìm hiểu sự việc. Họ gặp ông Clarence Jordan đang cuốc đất và trồng lại những cây cối đã bị tàn phá tối hôm qua. Các nhà báo hỏi chuyện, “Tôi nghe một thảm cảnh xảy đến với nông trại của ông, chuyện đầu đuôi ra sao?” Ông Clarence vẫn tiếp tục cuốc đất và trồng cây trong thinh lặng. Các nhà báo vẩn cố tìm cách lôi kéo ông Clarence vào cuộc với giọng dễu cợt, “Tiến sĩ Jordan, ông có hai bằng tiến sĩ và ông đã phí 14 năm trên nông trại này. Bây giờ không còn gì nữa. Ông nghĩ là ông đã thành công hay sao?” Ông Clarence ngừng lại, nhìn những nhà báo với giọng cương quyết ông đáp: “Thưa các ông, thành công như thập giá vậy! Tôi không nghĩ là các ông hiểu chúng tôi. Những gì chúng tôi đang làm tại nông trại này không phải vì thành công, nhưng là vì trung tín. Chúng tôi sẽ tiếp tục ở đây!” Từ ngày ấy trở đi, ông Clarence và những cộng sự của ông đã xây dựng lại nông trại Koinonia và nó vẫn phát triển cho đến ngày nay.[1]

* * *

“Những gì chúng tôi đang làm tại nông trại này không phải vì thành công, nhưng là vì sự trung tín.” Một lời khẳng định chắc chắn nhắm tới cho một mục đích rõ ràng: Trung tín với lý tưởng của mình. Đó có thể là thách đố cho những ai dấn thân đời mình cho lý tưởng phục vụ con người và xã hội.

Thông thường khi ta dấn thân cho một lý tưởng phục vụ, ta được thúc đẩy từ những hoàn cảnh thực tế – có thể ta là nạn nhân, hoặc có thể ta cảm nhận được lý tưởng dấn thân của ta có giá trị cho con người. Chính vì lẽ đó, thời gian đầu luôn làm cho ta phấn khởi bởi những thành quả mà ta đạt được; hay ít ra ta cũng thấy ý nghĩa của những hy sinh của ta. Nhưng theo thời gian năm tháng, những nỗ lực hay thành quả của ta – dù nó vẫn có đó, nhưng không còn mới mẽ như xưa, nên đôi khi ta cũng không nhận ra được thành quả nữa. Chỉ tiếc rằng, ta ít khi nhận ra điều này. Đáng buồn hơn, khi ta không “tạo” thêm thành quả mới thì ta dễ rơi vào suy  nghĩ tiêu cực là ta “vô dụng.”  Thực tế, căn nhà đã xây xong là một thành quả, dù sau 20 năm nó cũng là một thành quả. Không phải suy nghĩ như thế để an ủi chính mình, nhưng đó là thực tế thành quả của chính ta, của công sức của ta, của nỗ lực của ta. Căn nhà tôi xây dù có cũ đi, không có nghĩa rằng nó không phải là thành quả của tôi!

Lý tưởng phục vụ con người cũng như thế. Năm tháng và giới hạn về thể lý, hoàn cảnh của con người sẽ ảnh hưởng đến lý tưởng và sáng kiến phục vụ của mình, nhưng điều đó không có nghĩa là mình vô dụng. Điều quan trọng là sự trung tín với lý tưởng bao lâu có thể. Hoàn cảnh và thể lý có thể không cho phép ta thực hiện những hoài bão như dự tính, nhưng sự trung tín với lý tưởng đã là một nỗ lực thành công rất lớn rồi. Hơn ai hết, Mẹ Têrêsa Calcutta đã thấm thía thế nào là thành công khi xung quanh mẹ vẫn là những người bất hạnh không được chăm sóc đầy đủ. Tiếng kêu của Mẹ vẫn không được những người quyền thế và giàu sang hưởng ứng. Sự dấn thân của mẹ vẫn bị nhiều người phê bình lên án. Vâng, giữa những sự không thành công ấy, Mẹ vẫn khẳng định: “Tôi không được Chúa gọi vì sự thành công, nhưng vì sự trung tín.”[2]

Thưa bạn, khi chân bạn mõi, gối bạn chùn, mắt mờ, và trí óc tăm tối, bạn chỉ hướng đến một điểm thôi, để có thể nói rằng: Tôi được gọi không vì thành công, nhưng vì sự trung tín.

Br. Huynhquảng

CÂY PHIỀN MUỘN!

CÂY PHIN MUN!

Br. Huynhquảng

Ở một ngôi làng nhỏ tại Ba Lan có một nhà thông thái được nhiều người nể trọng; dân làng thường tìm đến ông để tâm sự, chia sẻ những nỗi phiền muộn trong cuộc sống.  Hằng ngày, ông lão nghe rất nhiều nỗi phiền muộn trong từng gia đình.

Họ cho rằng, ông trời không công bằng khi để cho họ mang quá nhiều gánh nặng so với những người hàng xóm:

– “Tại sao ông ấy thảnh thơi hơn tôi? –  Tại sao chồng chị ấy lại chăm chỉ còn chồng tôi lại ngày đêm nhậu nhẹt? –  Tại sao vợ của tôi chỉ thích đi mua sắm còn vợ của anh ấy thì lại đảm đang lo cho gia đình? –  Tại sao tôi phải mang căn bệnh nan y này còn ông hàng xóm thì sống bê tha mà lại tỉnh bơ phây phây?  –  Dù tôi không làm gì sai trái nhưng tại sao đời tôi vẫn không bình an như ông kia?”…..

Đó là những nỗi phiền muộn trách cứ mà dân làng tìm đến để nhờ ông lão giúp tìm câu trả lời…

Sau một thời gian, ông lão nảy ra một sáng kiến như sau.  Ông tổ chức một ngày hội.  Trong ngày ấy, mỗi người hãy chuẩn bị một cái bao với tên của mình được ghi ngoài bao.  Mỗi người dân trong làng hãy mang nỗi phiền muộn của mình, những khó khăn của mình và “đặt” chúng trong cái bao ấy và treo chúng lên một cây có tên gọi là “Cây Phiền Muộn” ở giữa làng nơi sẽ diễn ra lễ hội.  Sau khi chờ mọi người treo “bao phiền muộn” của mình lên cây, họ có quyền chọn bao của người khác và mang nó về nhà.

Việc tìm kiếm trao đổi “bao phiền muộn” rất sôi nổi, vì ai ai cũng muốn bỏ đi bao của mình và tìm bao “nhẹ” hơn, “dễ chịu” hơn của người khác.  Sau một hồi tìm kiếm, ai cũng tìm được cho mình một bao mà theo họ là vừa ý nhất.  Nhưng khi về đến nhà, những “bao phiền muộn” mà họ ôm lấy từ người khác cũng chẳng khác gì bao nhiêu so với “bao phiền muộn” của họ.  Không ai bảo ai, người dân làng hiểu rằng ai ai cũng mang nỗi phiền muộn, không ai nặng hơn và không ai nhẹ hơn.  Cách tốt nhất là đừng tìm cách đổi chác hay chạy trốn khỏi chúng, nhưng chấp nhận nỗi phiền muộn như là phương cách giúp họ đồng cảm và chia sẻ thân phận làm người với nhau.  Họ cũng nhận ra rằng khi cảm thấy nỗi đau của đồng loại là lúc họ trưởng thành hơn, biết yêu nhau hơn, và từ đó họ tìm thấy niềm vui trong cuộc sống nhiều hơn.

***

Bạn thân mến, câu chuyện trên minh họa cho chúng ta thấy việc chạy trốn nỗi khổ đau, hay tìm phương cách để thay đổi chúng…đều không phải là cách tốt nhất để hóa giải sự đau khổ, phiền muộn trong đời mình.

Theo Đức Phật, đời người là biển khổ: “Sinh khổ, hủy diệt khổ, chết khổ, và không sở hữu được điều mình muốn cũng khổ.”

Chúng ta có thể ví đau khổ và phiền muộn trong kiếp người như con rắn rượt đuổi mỗi chúng ta.  Nếu chúng ta không dừng lại và can đảm đối diện với nó, thì một lúc nào đó chúng ta sẽ bị kiệt sức với trò rượt bắt này.  Chỉ có phương cách là chấp nhận nó, đón nhận nó và sống với nó từng ngày như là một phần của đời ta.

Với một cảm nghiệm siêu phàm, thánh Gioan Thánh Giá đã khuyên những ai đang gặp khó khăn đen tối trong cuộc đời với những lời khuyên rất tâm huyết: “Hãy tìm kiếm sự khó khăn nhất thay vì sự dễ dàng thoái mái;… hãy sẵn sàng mang lấy bất lợi, sự cô đơn hơn là sự thuận lợi, an ủi…”

Thật là nghịch lý và khó hiểu khi chúng ta học hỏi những suy nghĩ và lối sống của các bậc thánh nhân, nhưng đó là con đường mà họ đã đi qua với bao kinh nghiệm xương máu.  Chính trong kinh nghiệm xương máu với lòng can đảm đón nhận và ôm chầm lấy đau khổ muộn phiền, họ gặp được niềm vui vô cùng lớn lao mà như thánh Gioan Thánh Giá gọi là: “Ôi đêm tối ngọt ngào và dịu êm.”

Br. Huynhquảng

LÀM SAO ĐỊNH NGHĨA ĐƯỢC HAI CHỮ “TÌNH YÊU”?

LÀM SAO ĐỊNH NGHĨA ĐƯỢC HAI CHỮ “TÌNH YÊU”?

Maria Túc Lynh                          nguồn:thanhlinh.net

“….Con quỳ lạy Chúa trên trời, xin cho con yêu được (mãi mãi) người con cưới…” Tôi xin phép được đổi lời trong một bài hát mà tôi có lần nghe : “…Con quỳ lạy Chúa trên trời, xin cho con lấy được người con yêu…” Vì theo tôi, từ giai đoạn yêu đến cưới là một hành trình vừa ngắn nhưng cũng vừa dài.

Sống trong đời, khi con người ta bắt đầu làm việc gì hay trong vấn đề tình cảm cũng vậy, luôn có một sự khởi đầu thật nhẹ nhàng và dễ thương. Đồng thời, cái được gọi là ban đầu hay bắt đầu thì luôn nồng nàn và thật trọn vẹn.

Đối với những người yêu nhau, thuở ban đầu mới đẹp làm sao! Cảm giác đó luôn thôi thúc hai người  phải nghĩ về nhau trong bất cứ trong hoàn cảnh nào. Nó luôn làm cho ta phải tìm mọi cách, tranh thủ mọi điều kiện để được thấy mặt nhau và cận kề bên nhau thì mới thỏa lòng.

Tôi đã từng chứng kiến và cũng trải qua cảm giác đó…  Tôi thật hạnh phúc và luôn cảm thấy mình như được nạp thêm năng lượng, mỗi khi ở bên cạnh và tâm sự với người tôi yêu.

Chiều nay, lại một lần nữa, tôi được tham dự Thánh Lễ về tình yêu. Đây là lần thứ ba từ ngày tôi trở thành một Kitô hữu, nhưng tôi vẫn thấy xao xuyến và tự hỏi lòng mình, tôi đã có đủ trí khôn để hiểu biết rõ về loại tình yêu chân chính, tình yêu đúng nghĩa chưa… Vì đã bao lần, tôi cảm thấy mình cô đơn, lạc lỏng, rồi hờ hững với Người tôi đã chọn.

Lần đầu, cũng ở nơi Giáo Xứ Ba Chuông này, tôi đã được tham dự Thánh Lễ do Đức Cha giảng. Hôm đó, Đức Cha đã nói về tình yêu rất nhiều, mà biểu tượng đặc trưng là chiếc nhẫn. Nói đến chiếc nhẫn, ai cũng biết rằng, nó là một vòng tròn không điểm nối, không ai có thể biết được đâu là điểm bắt đầu và điểm cuối cùng. Chiếc nhẫn luôn được người ta xem đó là một tình yêu trọn vẹn, một tình yêu tròn đầy không biết ranh giới, không có điểm dừng, không có kết thúc… Đặc biệt hơn, với loại nhẫn tình yêu này, cả người trao và người nhận không hề để ý tới giá trị vật chất, mà chỉ hướng đến giá trị thiêng liêng của tình yêu thật sự, cũng như sự chân tình của tấm lòng. Chỉ với suy nghĩ như vậy, người ta mới hiểu biết trọn  vẹn ý nghĩa của tình yêu.

Lần thứ hai, tôi được tham dự Thánh Lễ tĩnh tâm ở Bình Giã. Trong Thánh Lễ, vị chủ tế cũng giảng về tình yêu, nhưng gần như ngài chỉ cố tình nhắc nhớ mọi người về thái độ và mức độ tình cảm của những người đã từng yêu nhau nồng thắm. Tại sao Người Yêu của ta vẫn một lòng chung thủy, mà ta lại hờ hững? Người mà đã bao lần khiến cho nhân loại thao thức không yên, bao lần trái tim họ thổn thức khi vắng Người Yêu… Vậy mà đôi khi, chỉ do trục trặc vì những gia vị của cuộc đời thì người ta lại xao lòng, lại vội vàng rũ bỏ những giây phút êm đềm và thân ái bên nhau, rồi hững hờ, xem tình yêu chân thành ấy không còn quan trọng và cần thiết nữa trong cuộc đời mình.

Chiều nay, lại một lần nữa, tôi được nghe chia sẻ về tình yêu trong một Thánh Lễ ở Giáo Xứ Ba Chuông. Tâm tình chia sẻ cũng như lời khuyên của vị linh mục về tình yêu thật thú vị. Ngài nêu lên việc con người hợp tác, chung tay gánh vác, chia sẻ và hy sinh bản thân để có thể sống trọn vẹn và đúng nghĩa hai chữ “tình yêu”. Trong bài giảng, ngài có dùng một câu nói, mà theo tôi, thật dễ thương và ý nghĩa! Ai cũng thường xin Chúa, xin ơn trên cho con lấy được người mình yêu; nhưng khi lấy được rồi, liệu họ có còn yêu được người mình đã lấy, người mình đã quyết định chọn để gắn kết cuộc đời như lời mình cầu xin không? Và kết thúc bài giảng, ngài khuyên mọi người hãy nhận thức và chịu trách nhiệm về những gì mình đã cầu xin, đã hứa ngày nào khi mối tình còn nồng thắm…

Trên đây là những phát hiện mới của tôi – một tân tòng vừa được hai tuổi, mười hai ngày. Vì là một tân tòng, nên đối với tôi, đạo Công Giáo còn rất nhiều điều để tôi tìm hiểu, nhận biết và hòa mình theo dòng chảy yêu thương của nguồn suối tình yêu.

Theo tôi, có lẽ người ta chỉ cảm nhận hết ý nghĩa của hai từ “tình yêu”, khi xác tín rằng, tình yêu lớn hơn hết được bắt nguồn từ một ông vua trên tất cả các vua, của một vị Chúa tể nhân loại dám từ bỏ, dám hy sinh tâm hồn cũng như thân xác cho tất cả mọi người. Không biết tôi có nói quá không, nhưng tôi thật sự ngưỡng mộ và thần tượng người nào dám sống cho tình yêu, dù có bị người khác cho là điên dại hay ngu khờ…

Ngày trước, tôi cũng tự cho là mình đã nhận thức rất rõ về tình yêu. Tôi đã từng tự lựa chọn và quyết định người yêu cho cuộc đời mình. Và tôi cũng đã từng thất bại trong tình yêu, dù tôi đã làm tất cả để người yêu mình được vui và hạnh phúc. Nhưng thời gian đó, vì tôi chưa có được diễm phúc biết về Đức Kitô, nên tôi tự trói mình vào những sợi dây đau khổ. Rồi một lần may mắn duy nhất trong đời, tôi có cơ hội chọn lựa một tình yêu chân chính cho đời mình, đúng vào lúc tôi đang mất mát rất nhiều, đó là Chúa Giêsu. Chính Người Yêu này đã bù đắp và mang lại tất cả cho tôi, thậm chí tôi còn được nhiều hơn những thứ tôi đã mất, và giúp tôi nhận biết được, thế nào là tình yêu chân chính. Người đã dạy tôi hiểu rằng, tình yêu thật sự là phải để cho đối tác được tự do làm những điều họ thích, như Người đã đối với tôi. Người chỉ rõ cho tôi thấy, tôi có thể sai lầm, nếu luôn nghĩ  mình làm thế này thì tốt cho người ta . Vì thật ra, đó chỉ là một thứ tình yêu vị kỷ, tình yêu một chiều, mà phần lớn chỉ là để thỏa mãn chính  mình, chứ không nghĩ đến cảm nhận của đối tác.

Người yêu tôi, Chúa của tôi đã yêu chiều tôi quá đỗi, vậy mà có lúc tôi đã hờ hững với Người. Tôi vốn yêu thích những cuộc hẹn hò gặp gỡ Người, nhưng cũng có khi tôi thấy hầu như mình chỉ đến gặp Người vì bổn phận. Tâm trạng tôi lúc đó giống như là  “đi thì không nỡ, mà ở cũng không đành”,  làm cho tôi chẳng thấy chút hứng thú nào, thậm chí còn buồn ngủ nữa… Gần đây nhất là tôi cũng đã giận dỗi, không thèm trò chuyện, không thèm  tới gặp Người vì tôi cảm thấy mình “bị ép” quá đáng.

Tôi đã rơi vào tình trạng đó vài lần, và bây giờ, tôi được Người Yêu tôi nhắc nhở qua bài giảng về tâm trạng và thái độ của thuở ban đầu yêu thương nồng thắm. Cũng nhờ lời nhắc nhở này, tôi lại chợt nhớ tới vòng tròn tình yêu tròn đầy của Người đã dành cho tôi. Tôi tin là Tình Yêu này dành cho tôi muôn đời không có điểm dừng.

Cuối cùng, lại thêm một lần nữa, tôi được khuyên dạy cách sống làm sao để đón nhận và hưởng hạnh phúc bền vững trong tình yêu. Một điều rất đặc biệt trong những bài giảng, bài chia sẻ của quý cha là, để có được niềm vui trọn vẹn trong tình yêu thì người được nhận buộc phải nhờ đến một “Bà mai”, “Nhà tư vấn tình yêu”, “Nhà trung gian”… luôn tận tình, chu đáo và tâm lý. Đó là Đức Maria. Mẹ không những lo cho tất cả ai cậy nhờ về vấn đề tinh thần, mà còn quan tâm cả tới đời sống vật chất, dù rất nhỏ nhặt, của người ấy. Khi có Mẹ bên mình,  ta sẽ chiếm được ưu thế trong trái tim Chúa Giêsu, và  luôn được bảo vệ, chăm sóc một cách tuyệt vời nhất. Ở Mẹ Maria, tôi còn cảm nhận hai tính chất rất rõ rệt là thân tình và chu đáo.

Ở bài viết này, tôi chỉ xin chân thành chia sẻ với quý vị, đặc biệt là những quý vị chưa thuộc về Đạo Công Giáo, hiểu thêm vì sao người Công Giáo luôn gọi Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu của đạo Công Giáo là thứ tình yêu luôn biết quên mình để tìm tiếng nói chung giữa mọi người, là luôn luôn phải tương kính như tân, là luôn thủy chung trong đau thương…

Là một tân tòng còn non yếu, nên tôi chỉ biết chia sẻ những suy nghĩ đơn sơ như thế. Tôi rất mong được những tiền bối, đàn anh, đàn chị đã trưởng thành hướng dẫn và dạy dỗ thêm những điều tôi còn thiếu sót. Tôi cũng cầu mong cho tất cả quý vị là Kitô hữu hãy nhớ rằng, chúng ta phải làm sao đừng để những biến cố, những trắc trở của cuộc sống khiến ta quên lãnh hay thờ ơ, lãnh đạm với Người đã luôn mong chờ đón nhận những tâm tình yêu thương của chúng ta.

Nhân đây, tôi cũng xin quý vị cho tôi cũng như những tân tòng thêm một lời cầu nguyện, để ngày càng nhận biết và sống tốt hơn, cho xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa và của những người xung quanh đã dành cho chúng tôi.

Để cho bài viết được trọn vẹn và rõ nghĩa hơn, tôi xin được trích trong Kinh Thánh câu của Thánh Gioan: “…Thiên Chúa là Tình Yêu…”  (1 Ga 4,7). (Và) Chỉ có Tình Yêu này mới bền vững đời đời và nâng con người lên một cấp bậc đúng nghĩa.

“…Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình…” (Ga 15,13).

Thêm nữa, nếu để ý một chút, những người biết Kinh Thánh còn có thêm một ưu đãi rất quan trọng của Đấng Tối Cao. Đó là “…Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh  em sẽ được, để niềm vui của anh  em nên trọn vẹn…” (Ga 16,24).

Tôi đã xin và đã được, vì thế, tôi rất mong tất cả mọi người cứ xin tình yêu Chúa Cha qua Đức Giêsu. Tôi tin rằng, cho dù là tình yêu đôi lứa hay tình yêu duy nhất với Thiên Chúa, quý vị cũng sẽ được thỏa lòng. Dễ thương nhất là tình yêu lứa đôi, một khi ta có Chúa thì ta cứ yên tâm sống trọn con đường tình Chúa chọn cho ta. Chắc chắn, đó chỉ là những gì tốt đẹp nhất.

Tôi chân thành cám ơn quý vị đã dành thời gian quý báu để đọc và đồng cảm với tôi.

Xin Chúa và Mẹ Maria luôn đồng hành và giữ gìn mãi mãi ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa trong chúng con.

Sàigon, ngày 20 tháng 02 năm 2013

Maria Túc Lynh

CỤ GIÀ BÁN RAU

CỤ GIÀ BÁN RAU

Tác giả: Br. Huynhquảng

Qua loạt bài Sống Sao Cho Đẹp, chúng ta như được thưởng thức những món ăn ngon trong bàn tiệc cuộc đời, học được những bài học thấm đậm trong cách cư xử hằng ngày, và thấy được những gương sáng của những con người dù bình thường nhưng rạng chiếu vẻ đẹp trong thế giới chúng ta. Mục Sống Sao Cho Đẹp xin được tiếp tục chia sẻ với quí bạn chủ đề mới: Trung tín và Chung thuỷ. Hy vọng với chủ đề này, chúng ta tìm thêm niềm vui và vẻ đẹp vốn được phú bẩm trong con người chúng ta; để con người chúng ta ngày mỗi thêm hoàn thiện, và đời chúng ta thêm tươi đẹp hơn.

* * *

Gần đây qua internet chúng ta biết được, chuyện một bà cụ bán rau tại Việt Nam đã giữ chữ tín với khách hàng đến nỗi bà đã ngã bệnh và qua đời ít ngày sau đó. Gương của bà cụ đã làm cho nhiều người xúc động và cảm phục lòng chân thành và tín trung của người nông dân chất phát.

Do bị đánh động bởi lòng trắc ẩn khi thấy một bà cụ già phải bán rau vất vả kiếm sống hằng ngày, một chàng thanh niên trên đường đi làm đã dừng xe máy lại mua ít bó rau với mục đích là để giúp bà. Vì lý do đó, chàng luôn tiện nhờ bà giữ giúp rau cho đến lúc chiều đi làm về rồi chàng ghé lấy rau. Nhưng thực ra, ý của chàng là giúp bà chứ đâu phải mua rau, vì thế chàng đã quên hẳn việc “gởi” rau nhờ bà cụ giữ giúp. Hoá ra, bà cụ đã vì trách nhiệm và chữ tín đã ngồi chờ chàng thanh niên dưới cơn mưa tầm tả cho đến chiều tối – kết quả bà ngã bệnh và qua đời sau ít ngày. Những người bán nước xung quanh bà hối thúc bà cất rau, trốn mưa, đi về nhà sớm… bà cương quyết không nghe theo họ, vì bà chờ chàng thanh niên lấy rau, người mà bà đã nhận tiền của chàng từ sáng. Ôi! Chữ tín đẹp làm sao trong cuộc đời!

Trung tín, chung thuỷ có nghĩa trong tiếng Latin là “fidelis.” Fidelis được bắt nguồn từ danh từ fides, nghĩa là đức tin, tính thác. Khi bàn về nghĩa từ “đức tin, tính thác” tức là nói đến mối quan hệ không chỉ giữa con người với nhau, nhưng nói lên mối quan hệ giữa một vị thần linh và con người. Hay nói cách khác, từ mối quan hệ chung thuỷ giữa một vị thần với con người đã giúp con người học được ý nghĩa trọn vẹn thế nào là trung tín và chung thuỷ. Vị thần linh luôn luôn chung thuỷ với con người, còn con người thì thường thiếu sự chung thuỷ với ngài.

Khi bàn đến chung thuỷ và trung tín, chúng ta không thể không bàn tới “lời hứa.” Chính lời hứa là sợi mắc xích, là gạch nối, và cũng là nguyên nhân dẫn chúng ta suy tư và tập sống chung thuỷ và trung tín.

Lời hứa đi theo cuộc sống con người từ lúc có trí khôn cho đến lúc trưởng thành. Thuo thiếu thời, con trẻ được giáo dục và dạy bảo về giá trị của lời hứa qua những việc bình thường trong ngày: “Con nhớ nhé, con làm điều này nhé… Dạ, con nhớ. Dạ, con hứa…” Mối liên hệ, niềm tin giữa người lớn và trẻ nhỏ cũng được chớm nở và phát triển từ đó. Niềm tin dành cho nhau giữa hai người được hun đúc có lẽ phần lớn dựa vào khả năng giữ lời hứa của mỗi người. Cứ thêm một lần lời hứa được giữ, thì niềm tin dành cho nhau càng thêm được cũng cố và phát triển. Ngược lại, nếu cứ một lần lỗi hẹn, thì niềm tin dành cho nhau cũng bị  xói mòn. Trẻ em là người có khả năng nhạy bén nhất để nhận ra điều này. Niềm tin giữa cha mẹ và con cái phát triển tới mức nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giữ lời hứa của cha mẹ dành cho con cái, nhất là lúc các em con thiếu thời.

Khi một lời hứa với ai đó được giữ cẩn thận, thì điều đó có nghĩa là sự tôn trọng của chúng ta dành cho người kia được thẫm định. Dầu vậy, xa hơn thế nữa, khi một lời hứa được giữ, điều trước hết chính là chúng ta tôn trọng chính con người chúng ta, chúng ta giữ lời hứa, chữ tín với chính con người chúng ta – đó chính là điểm then chốt trong việc giữ lời hứa với người khác. Thực đúng như thế, khi tôi hứa một điều gì với ai, tức là tôi thừa nhận với chính tôi và đương sự ấy rằng tôi có khả năng để thực hiện điều đó – Chính giai đoạn thừa nhận với chính tôi đã tạo cho tôi một niềm tin trong tôi; nhờ niềm tin này mà tôi giám hứa với người khác.

Hôm nay, Sống Sao Cho Đẹp mời gọi bạn nhìn ngắm vẻ đẹp của đức tín trung tín và chung thuỷ. Hãy dành đôi phút để hãnh diện về chính con người của mình vốn được ban tặng đức tín cao đẹp này một cách nhưng không. Nhờ niềm tin và lời hứa mà mình đã tạo được biết bao nhiêu mối quan hệ đẹp trong đời: Tình cha mẹ, anh em, bạn hữu, và vợ chồng, con cái. Hãy dành đôi phút để tạ ơn cuộc đời, tạ ơn con người, tạ ơn người thân, vì cũng chính nhờ niềm tin và lời hứa của họ mà ta thêm vững tin xây dựng cuộc đời, xây dựng đời mình.

Bạn thân mến, việc hoàn thiện đời người không chỉ là việc nhổ cỏ dại, nhưng quan trọng hơn chính là trồng thêm lúa, hoa, và rau. Càng trồng thêm lúa, hoa, rau… thì cỏ dại không có cơ hội chiếm đất trống để mọc. Sống trong tâm tình tạ ơn, cảm kích sẽ giúp ta trồng thêm đức tính tốt và thực hiện được ước mơ làm người sống đẹp, sống tốt. Chúng ta cùng hứa với lòng mình và với nhau là trồng thêm lúa, hoa bằng cách giữ lời hứa với mình và với người trong niềm vui cảm tạ.

Br. Huynhquảng

CHỮ HIẾU – CHỮ TÌNH

CHỮ HIẾU – CHỮ TÌNH

Maria Túc Lynh

Hiếu và Tình bên nào nặng hơn, Hai chữ này viết và nói thì xem ra đơn giản, nhưng để làm cho trọn nghĩa của hai chữ này, theo tôi không đơn giản và nhẹ nhàng chút nào.Nó càng khó khăn ở bất đồng ý kiến của cha mẹ trong vấn đề dựng vợ, gả chồng. Nếu ta yêu phải một người mà cha mẹ hay ông bà không hài lòng, thì chữ đầu tiên mà ta thấy là một chữ “khổ” to đùng nằm chắn ngang trước cửa tình yêu. Tuy nhiên nỗi khổ đó thì ta còn có thể dùng biện pháp lấy lòng từng người, có thể gọi là đánh du kích từng mục tiêu. Cuối cùng thì không nhiều cũng có ít ra vài người, nhìn thấy thiện chí của mình mà khoan nhượng và đồng ý cho ta lấy người ta yêu.

Nhưng vấn đề rắc rối và phức tạp hơn, là phải chọn lựa một tôn giáo cho riêng tình yêu của mình. Là con gái thì có thể theo lề thói xưa là “lấy chồng thì phải theo chồng” nên cho dù có gặp chút trắc trở, nhưng không khó khăn và nặng nề. Chỉ tội nghiệp cho những chàng trai, đặc biệt là những thừa tự, những đích tôn. Ôi thôi, bao nhiêu là rắc rối đến với những cuộc tình này. Một bên thì nếu thương con gái tôi, anh phải chiều theo chúng tôi thì chúng tôi mới gả nó cho anh. Một bên thì con là đứa con gia đình mong mỏi nhiều nhất, giờ chỉ vì đứa con gái mà con lại đành lòng để bàn thờ ông bà lạnh lẽo không hương khói, mà con gái thì trên đời này đâu có thiếu … bao nhiêu hoàn cảnh, bao nhiêu trường hợp éo le để người trong cuộc cười ra nước mắt.

Đã bao nhiêu lần tôi được nghe những bạn đi học giáo lý dự tòng than thở nỗi khổ của mình.Một bên là tình yêu đã chín muồi, không thể sống thiếu nhau nữa. Một bên là chữ hiếu đạo với gia đình rất nặng nề, đặc biệt là những bạn là con duy nhất trong gia đình thì càng khổ sở hơn.

Một lần nữa trong tâm tình của một người con, một tân tòng non trẻ. Tôi xin được chia sẻ một chút, mong làm sao những bậc trưởng bối và những quý vị chưa là Công Giáo nhận ra và xoá đi thành kiến đã có từ rất lâu đời về việc theo Chúa là bỏ hết ông bà, là bất hiếu tử, là bất tùng cuốc xuổng… Bao nhiêu từ ngữ nặng nề phủ lên đầu chúng tôi. Và tôi cũng đã bao nhiêu lần thấy khổ tâm khi phải nghe má tôi cứ gằng giọng, mỗi khi nói tới vấn đề tôi đến với Chúa.

Trong bài viết này, tôi xin đưa ra những nhân chứng là những tân tòng và những chị chỉ đang tìm hiểu về Chúa, đã có những tính cách rất dễ thương và đáng quý.

Người thứ nhất là một chị trung niên, chị tên N. Chị sống ở Saigon, chị là một tân tòng được nhiều người ngưỡng mộ về cách sống đạo. Chị từng là một người kinh doanh khá thành công, nhưng vì chị chứng kiến những cảnh trái tai gai mắt trên thương trường và để sống đúng theo những gì Chúa dạy. Chị đã phải đánh đổi cuộc sống kinh tế hiện tại, để có được một sự sống đời đời. Chị không thể nào nói dối để bán được hàng, chị càng không thể chịu đựng và đồng lõa với sự giả dối của những người bán hàng chung quanh. Cuối cùng, điều đáng nói là sau khi chị đọc và tìm hiểu trọn bộ Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, thì chị đã quyết định phải thay đổi cuộc đời mình.

Chị kể lại rằng: Sau khi chị tìm hiểu thì cầu nguyện và quyết định một bước thay đổi rất ngoạn mục. Chị quyết định đánh đổi việc kinh doanh hiện tại, để được thay đổi cuộc đời cũng như đời sống tâm linh.Chị nói là từ ngày chị được trở lại và sống trong ơn nghĩa Chúa, thì chị thấy mình rất hạnh phúc và thoải mái. Chúa đã thu xếp cho chị một công việc rất nhẹ nhàng nhưng trọn vẹn nghĩa tình với Chúa cũng như với gia đình chị. Ngày ngày chị đi lễ sớm hơn mọi người để cầu nguyện và xướng kinh cho mọi người. Ngoài giờ Lễ thì chị chăm sóc mẹ chị và người thân chu đáo. Chị nói là cũng có nhiều khó khăn chị gặp phải trong những giao tiếp hàng ngày.Tuy nhiên vì chị có Chúa nên chị cũng đủ sức để vượt qua, và chị luôn nhận thức rằng đó chỉ là những trò của ma quỷ cố tình phá đổ những gì đẹp lòng Chúa.

Người thứ hai tên H,là một cô gái mà tôi quen biết đã hơn 10 năm. Cô này ngày trước rất ham thích những thú vui hiện đại, những người quen biết với cô ấy đã có lần nói rằng cô này chỉ toàn đi chơi vào ban đêm, mãi đến sáng thì cô mới về nhà. Gia đình cô thì chỉ còn cô và người mẹ đã lớn tuổi lại hay đau yếu, hoàn cảnh kinh tế cũng không khá giả. Công việc thường ngày là đi giúp việc chạy loanh quanh cho một chị gần nhà, vì chị ấy thương và xem cô ấy như người thân. Nên lắm khi cô gái ấy nghĩ mình cũng là tiểu thư giàu có sành điệu. Ngày trước tôi thường hay nghĩ không tốt về cô ấy và tôi không mấy thiện cảm, nhất là thấy cô ấy có thái độ khinh dễ người nghèo và người ăn xin. Bẵng đi một thời gian tôi có dịp gặp lại những người quen của cô ấy, đặc biệt là chị Mai (chị Mai được xem như là chị của cô ấy). Tôi vô tình hỏi thăm thì được biết một thông tin rất vui rằng, bây giờ cô ấy đã lãnh Bí Tích Rửa Tội được hơn 1 năm rồi. Điều đáng vui nhất là từ ngày cô ấy có Chúa, sau một biến cố trong đời thì cô ấy hoàn toàn thay đổi một cách kỳ lạ.Từ một cô gái đua đòi, ăn chơi không cần biết gì đến nỗi lòng của bà mẹ già, xin nói thêm là cô ấy không còn cha. Bây giờ cô ấy từ bỏ hết tất cả những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, mà chỉ chuyên tâm ở nhà để chăm sóc cho mẹ thật chu đáo. Tính tình cô cũng khiêm nhu hơn, cô biết quan tâm và giúp đỡ những ai cần giúp.Giờ cô được xem là đứa con ngoan trong gia đình.

Người thứ ba tên P.N, hiện giờ thì chị đang trong giai đoạn tìm hiểu và cố gắng sống đúng như những gì chị hiểu về Chúa và Mẹ Maria. Chị tâm sự với tôi rằng trước kia khi chị không có Chúa, tâm trạng của chị rất mệt mỏi nặng nề bởi bà mẹ chồng luôn làm khó và tạo áp lực cho chị. Tuy chồng chị rất yêu quý chị, nhưng không khí gia đình nhỏ của chị khá nặng nề. Chị là con gái Bắc, mẹ chồng chị lại là người miền Trung nên chị phải chịu nhiều điều trái khoáy từ bà mẹ chồng khắt khe. Rồi đến một ngày, chị được dịp tiếp xúc với một linh mục khi gặp một biến cố. Sau thời gian trao đổi và được hướng dẫn có một lối thoát trong suy nghĩ, chị đã thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn khi phục vụ mẹ chồng mình. Chị chia sẻ với tôi rằng, từ ngày có Chúa, từ ngày chị dành thời gian để tâm sự với Chúa thì chị thấy  mình hạnh phúc. Một điều quan trọng hơn nữa mà tôi cũng cần nêu lên để quý vị lưu ý, là mẹ chồng chị ấy bây giờ cũng được thay đổi. Bà ngày càng yêu quý con dâu mình, biết quan tâm tới con dâu, biết chia sẻ và nghe ý kiến của con dâu. Theo như lời chị vui vẻ chia sẻ thì bây giờ mẹ chồng chị rất dễ thương.

Người thứ tư tên là P.B, chị này là một phụ nữ trí thức. Chị luôn tự cho mình cái quyền là người hạch sách, đòi hỏi và ra lệnh mọi người trong gia đình phải luôn tuân theo ý kiến của mình. Cho dù đó lắm khi sai trái, chị bất kể đó là cha hay mẹ của mình. Mọi người gần như rất sợ tiếp xúc với chị, mỗi khi chị về nhà cha mẹ mình thì cuộc vui nơi đó gần như phải tan. Đối với mọi người chị giống như là một phần tử khủng bố, đó là danh từ mà người trong gia đình chị tặng cho chị. Rồi từ khi chị bị một căn bệnh khó chữa, thì chị càng tăng thêm quyền hành đòi hỏi mọi người phải phục vụ chị. Hôm nào mẹ chị nấu cơm cho chị ăn, mà món ăn không vừa miệng chị thì chị tha hồ nặng nhẹ, xách mé đến nỗi mẹ chị đã khóc vì chị không biết bao nhiêu lần. Chị luôn nghĩ là mình đã giúp đỡ cha mẹ, cha mẹ rất cần mình nên phải phục vụ mình và nhất định không được từ chối bất cứ yêu sách nào của mình, mặc dù nó rất vô lý. Rồi cũng đến ngày chị được Chúa đến thăm, Chúa đã âu yếm xoa dịu nỗi đau trên cơ thể chị, Chúa đã ôm chị vào lòng rất êm ái. Mẹ Maria thì nhỏ nhẹ tâm tình và dạy dỗ chị rất nhẹ nhàng. Chỉ với tình yêu Chúa và nỗi lòng bao la của một bà Mẹ Thánh. Chị gần như hoàn toàn thay đổi, sự thay đổi của chị đã làm cho những người trong gia đình rất đỗi bất ngờ. Chị tâm sự với tôi rằng, ngày trước mỗi khi mẹ chị không làm chị vừa lòng thì chị liền trả treo, đay nghiến cho thỏa mãn cái tính tự ái và kiêu căng của chị. Còn từ khi có Chúa thì chị bảo rằng chị không dám nói gì, mặc dù trong lòng cũng nổi cơn. Lúc đó chị chỉ còn nhớ tới việc đọc Kinh Kính Mừng của Đức Mẹ hay là lần Chuỗi Mân Côi, thì chị cảm thấy lòng mình dịu lại và thấy thương mẹ và thông cảm cho những vất vả của mẹ (xin được nói thêm một chút, về việc vì sao chị biết đọc kinh của Đạo Công Giáo trong khi gia đình chị thuộc Phật Giáo. Chị đã được người em gái của chị trong một biến cố đã tìm đến với Chúa trước chị, hướng dẫn và chia sẻ tâm tình của Chúa và Mẹ Maria dành cho nhân loại. Từ dịp đó, chị và em gái chị đã có tiếng nói chung về đời sống tâm linh). Giờ đây chị gần như là một con người khác, một con người biết chia sẻ, cảm thông với mọi người và biết chấp nhận những gian truân trong cuộc sống. Chị nói rằng khi có Chúa chị thấy mình rất yên tâm, chị thấy mình rất bình an trong mọi hoàn cảnh. Khi cảm nhận tình thương của Chúa và Mẹ Maria bên cạnh, thì chị càng thấy yêu quý cha mẹ ruột của mình hơn. Giờ thì mọi người trong nhà chị rất vui vẻ và luôn luôn mong muốn chị về chơi với gia đình. Hiện tại chị chia sẻ với tôi rằng chị đang cầu nguyện và xin thêm một ơn đặc biệt của Chúa là vượt qua tất cả để chị đến với Chúa trọn vẹn hơn.

Tôi xin phép gởi đến quý vị một câu trong Kinh Thánh, để quý vị rỏ hơn vì sao khi có Chúa thì những người chị em của tôi có thể vượt qua và làm hài lòng những người chung quanh tất cả. Chỉ vì họ tin vào Lời Hứa này của Chúa:

“…Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”. (Mt 11, 28-30)

Trên đây là những nhân chứng có thật, vì một lý do tế nhị nên tôi chưa tiện nêu tên cụ thể. Còn trong bài viết này thì tôi xin phép được chia sẻ tâm tư của mình, chỉ mong quý vị đón nhận trong thương yêu và đồng cảm.

Được gọi là Người Công Giáo thì nhất định, không ai không biết tới 10 Điều Răn của Đức Chúa Trời. Chỉ sau 3 điều răn đầu tiên là dành trọn vẹn cho Thiên Chúa, thì điều răn thứ 4 kế tiếp là Thiên Chúa đặc biệt nói đến điều luật là phải thảo kính cha mẹ. Cụ thể hơn nữa là nếu ai thờ cha kính mẹ một cách trọn vẹn thì con được Thiên Chúa chúc phúc và sống thọ trong ơn nghĩa Chúa.

Theo tôi nếu quý vị chịu khó dành một chút thời gian ít ỏi trong ngày, xin mời quý vị tham gia thử một Thánh Lễ một lần với tâm tình tìm hiểu để cảm thông và chia sẻ. Tôi chắc chắn rằng quý vị sẽ thấy Người Công Giáo chúng tôi, không hề quên hay từ bỏ tổ tiên ông bà. Mà trong tất cả những Thánh Lễ, cho dù là ngày thường (mỗi ngày có 2-3 Thánh Lễ) chúng tôi đều có lời cầu nguyện với Chúa cho tổ tiên, ông bà của mình sớm được hưởng hạnh phúc đời đời trên nước Trời. Trong mỗi Thánh Lễ đều có những lời nguyện của các linh mục, là xin Chúa tha thứ cho những việc làm không đẹp lòng Chúa của tiên nhân mình.

Không chỉ có vậy thôi, Người Công Giáo còn dành trọn tháng 11 hàng năm để tưởng nhớ, cầu nguyện và viếng thăm mộ của ông bà. Một điều đáng chú ý và làm cho tôi ngưỡng mộ hơn nữa, là chẳng những họ viếng mộ của người thân mình, mà Người Công Giáo còn viếng luôn mộ của nhưng người chưa một lần quen biết. Ở Đạo Công Giáo có một tính chất rất cao quý là tính thông công, con người sống thông công với các vị thánh, để các vị Thánh cầu nguyện cho người sống để người sống được hoàn thiện hơn. Người còn sống thì ngày ngày cầu nguyện và van xin Đấng Tối Cao tha thứ cho những thiếu sót, lỗi lầm của tổ tiên mình mắc phạm, hòng để cho các vị ấy sớm được hưởng phúc đời sau. Thậm chí giờ đây Người Công Giáo, còn hiệp ý để cầu nguyện cho những người không Công Giáo. Điều ngạc nhiên không kém là những người không Công Giáo, cũng được ơn Chúa ban từ những lời cầu nguyện của những người Công Giáo kia.

Trên đây là những điều tôi được biết, được hiểu và được cảm nhận những điều mà những bậc trưởng bối không phải người Công Giáo chưa được rõ.Tôi nghĩ là tôi cần phải nêu lên những điều cần thiết này, mong sao quý vị đón nhận dù là còn nghi ngờ khi quý vị chưa đến tham dự Thánh Lễ của chúng tôi.

Tôi không hề nói quá, nhưng vì là một tân tòng nên có thể tôi chưa trình bày cặn kẽ hơn và chi tiết hơn để hầu cùng quý vị.Trong bài tâm tình này tôi chỉ mong quý vị đọc để hiểu hơn và thông cảm hơn cho con cháu mình trong những hoàn cảnh được Chúa chọn bằng cách này hay cách khác.

Tôi xin chân thành cám ơn quý vị và dành thời gian quý báu để đọc bài chia sẻ của tôi. Chúng tôi, những người đã được Chúa chọn hay đang được Chúa chọn rất hy vọng quý vị sẽ thông cảm và xoá bớt đi định kiến nặng nề, mà không làm cho chúng tôi phải khổ sở, khó khăn trong việc làm tròn chữ hiếu với cha mẹ và vẹn nghĩa của chữ tình với bạn đời. Vì với tôi, chữ Hiếu và chữ Tình không thể thiếu nhau, vì trong cuộc sống mà thiếu đi một trong hai chữ, chắc chắn cuộc đời của ta sẽ không trọn vẹn. Hai chữ Hiếu -Tình luôn tương trợ và đồng hành cùng nhau, sẽ làm cho cuộc sống của con người ý nghĩa hơn và hạnh phúc hơn.

Sàigon, ngày 26 tháng 01 năm 2013

Maria Túc Lynh

Phanxicô Assisi

Phanxicô  Assisi

Br. Huynhquảng

 

 

Nếu Con Thiên Chúa không ngần ngại đến và  sống với thế giới vật chất đổ nát này, thì tôi là ai mà dám khước từ chạy  trốn khỏi thế giới vật chất này?

Khi nghe tên hay thấy hình ảnh của Phanxicô Assisi (Phanxicô Khó Nghèo), nhiều
người trong chúng ta dễ dàng bị thu hút bởi thánh nhân này. Vì lẽ đó, khi nghĩ
đến Phanxicô, chúng ta thường nghĩ về một con người đem sự bình an, yêu thương,
chan hoà giữa con người với nhau và giữa con người với vạn vật trong vũ trụ.
Phanxicô trở nên biểu tượng  cho các cuộc đối thoại nhằm tìm giải pháp hoà
bình, tranh chấp không những giữa các tôn giáo với nhau mà con giữa các nhà
chính trị. Phanxicô còn lá biểu tượng và mẫu gương cho nhiều nhà từ thiện trong
việc giúp đở người nghèo đói trong xã hội. Vậy Phanxicô đã có cuộc sống như thế
nào? Ngài đã hành động ra sao đến nỗi tầm ảnh hưởng của Ngài vẫn còn diễn ra
cho đến hôm nay, sau hơn tám thế kỷ?!

* * *

Phanxicô sinh vào năm 1182 tại Assisium, một thị trấn nhỏ toạ lạc
trên dãy đồi Assisi trong một gia đình thương gia giàu có tại Ý. Dầu được người
cha cưng chiều và được hướng dẫn để tiếp nối trở thành một thương gia giàu có,
Phanxicô đã không tìm được ý nghĩa đích thực của đời mình qua tiền bạc, giàu
sang, và thú vui trần thế. Nhưng Phanxicô đã thực sự tìm được hạnh phúc đời
mình khi chàng từ bỏ địa vị, sự an toàn của bản thân, và danh tiếng của gia
đình để sống và làm bạn với những người ăn xin, ôm ấp và chăm sóc người phong
hủi. Kết quả của sự dấn thân “liều mạng” này chính là bị khước từ quyền làm con
của ông Peter Bernardon, và từ một chàng thanh niên giàu có đã trở thành kẻ ăn
mày bên vệ đường. Đặc biệt từ trong cầu nguyện, Phanxicô đã nghe được tiếng
Chúa trong nguyện đường rách nát St. Damian, “Phanxicô, hãy sửa nhà cho Ta.” Từ
đó, Phanxicô càng dấn thân hơn nữa để sống theo giá trị của Tin Mừng một cách
tuyệt đối. Lạ lùng thay, càng làm người ăn mày, càng làm người chăm sóc bệnh
nhân, càng làm người đi xin từng đồng xu để xây dựng Nhà Chúa, Phanxicô càng có
nhiều bạn và càng thu hút nhiều người theo Phanxicô. Sức mạnh này từ đâu? Lý do
nào mà Phanxicô có sức thu hút lạ thường như thế?

Bàn về thần học, Phanxicô chú trọng vào mầu nhiệm Giáng Sinh hơn là
mầu nhiệm Tử nạn – Phục sinh. Đối với Phanxicô, cái chết và sự phục sinh của
Chúa Kitô là hệ quả tất yếu của mầu nhiệm Giáng sinh làm người của con Thiên
Chúa. Đương thời, nhóm dị giáo Cathars thuộc phái Nhị Nguyên cho rằng,
thế giới vật chất mà con người đang sống là do thần dữ (ma quỉ) và thần lành
tạo dựng. Vì thế, những gì mà con người đang hưởng thụ trong một thế giới vật
chất này đều của ma quỉ. Để cứu con người, Thiên Chúa gởi thiên thần Giêsu đến
để giải thoát con người ra khỏi thế giới vật chất này. Vì cho rằng thế giới này
rách nát và sa đoạ, nên nhóm Cathars chủ trương triệt để khước từ thế giới vật
chất và những đau khổ trong thế giới con người. Họ quan niệm rằng, bệnh hoạn,
tật nguyền, nghèo đói là hậu quả của thế giới vật chất này, nên không thể chấp
nhận chúng được! Vậy mà Phanxicô lại đi ôm và hôn người phong hủi! Vậy mà
Phanxicô lại đi làm bạn với vạn vật cây cỏ và gọi những thụ tạo là anh chị em!
Hành động dấn thân của Phanxicô đã phủ nhận học thuyết của dị giáo Cathars.

Phanxicô ôm trọn con người và thế giới vạn vật là vì Phanxicô được mặc khải tình yêu của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Nhậm Thể và Nhập Thế của con Thiên Chúa. Khi chiêm niệm mầu nhiệm Giáng Sinh, Phanxicô đã đi vào cung lòng của Thiên Chúa khi thấu chạm được rằng mầu nhiệm Giáng Sinh của Con Thiên Chúa là hành động tuyệt đối biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người: Chúa Giêsu đã ôm hôn thế giới tội lỗi này bất chấm sự ghê tởm của nó. Chúa Giêsu đã sống và làm người trong thế giới này bất chấp sự mục nát và suy đồi của nó. Đây chính là sức mạnh then chốt mà Phanxicô đã tìm gặp để dấn thân. Nếu Con Thiên Chúa đã không ngần ngại ôm hôn thế giới này, thì tôi là ai mà không ôm hôn và chăm sóc anh em tôi? Nếu Con Thiên Chúa không ngần ngại đến và sống với thế giới vật chất đổ nát này, thì tôi là ai mà dám khước từ chạy trốn khỏi thế giới vật chất này? Nếu Con Thiên Chúa đã tự hạ mình để chấp nhận làm người rách nát trong máng cỏ của chiên bò, thì tôi là ai mà không hạ mình xuống phục vụ anh em đồng loại rách nát như tôi? Chiêm ngắm sự hạ mình khiêm tốn của Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Giáng Sinh đã biến đối con người Phanxicô: Từ một người giàu có  thành kẻ ăn mày, từ một người làm chủ thành kẻ tôi tớ, và từ một người ăn chơi sung sướng trở thành kẻ nô lệ và tù nhân cho một Thiên Chúa vô hình.

Trong bài cuối của loạt bài học hỏi về đức khiêm tốn, chúng ta được
mời gọi nhận diện về giá trị và sức mạnh của sự khiêm tốn vốn thật sâu thẳm và
huyền nhiệm; vì thế, tự khả năng con người không thể có được. Chúng ta cần sức
mạnh của Thiên Chúa qua cầu nguyện và chiêm niệm. Có lẽ, những vấp ngã hằng
ngày của chúng ta cũng phần nào giúp ta thấm thía nhìn nhận rằng: Tôi thật yếu
đuối. Nhưng cũng có thể nhờ những vấp ngã này, chúng ta mới thấy rằng mình cần
Chúa biết bao!

 

ĐỨC TIN: QUÀ TẶNG VÔ GIÁ CHO MỌI NGƯỜI

ĐỨC TIN: QUÀ TẶNG VÔ GIÁ CHO MỌI NGƯỜI

Tác giả: Maria Túc Lynh

Nhớ lại những năm tháng đầu tiên khi tìm đến với Chúa, ở vào thời điểm đó tôi chưa được lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Tôi đã nhiều lần thắc mắc về chuyện khấn xin mà những người có đạo, tức là người Công giáo, thường hay làm với một vị thánh đen đen
được gọi là Martino ở nhà thờ Đa Minh Ba Chuông. Từ khi biết đến ngôi thánh
đường này, tôi thường hay nghe người ta nói nhiều về những ơn mà vị Thánh này
thường ban cho những ai đến khấn xin với ngài.  Nghe đồn là có người trúng
được những tờ vé số với giải thưởng khá cao để cải thiện đời sống kinh tế; có
người được chữa khỏi những cơn bệnh nan y; lại cũng có những người gặp được ân
nhân cứu khỏi nhưng vấn đề nan giải trong cuộc sống… tất cả những điều huyền
nhiệm đó xảy ra chỉ sau khi họ tìm đến cầu khẩn cùng vị Thánh này.

Tuy nhiên, nhiều lần tôi cũng nghe hay chứng kiến những người Công giáo, khi hướng về vị Thánh này mà cầu khấn, họ thường hay xin cho mình  ơn được nhiều sức mạnh để “vui vẻ” mà đón nhận những hy sinh.  Với tôi thì đây là một điều khó có thể
hiểu và  không thể chấp nhận được.  Hy sinh thì theo tôi là một hành động
trái ngược với ý và bản tính tự nhiên của mình, cũng có thể do gượng ép, bị bắt
buộc, hoặc cũng có thể do vì quá yêu, quá thương người nào đó.  Theo tôi chỉ với những lý do đó, thì chúng ta mới có thể vui vẻ mà đón nhận mà hy sinh.

Đằng này thì tôi lại thấy người Công Giáo, xin ơn này cùng vị Thánh để vui vẻ chấp nhận những trái khoáy, những gian truân, những thứ tạm gọi là bất hạnh, mất mát do cuộc sống mang lại.  Với tôi, lúc đó đạo Công Giáo có nhiều điều bí ẩn, huyền nhiệm
lắm.  Thú thật là tôi rất tò mò, và cứ bị thôi thúc muốn tìm hiểu sâu thêm, thế nên cứ mỗi khi cùng mọi người đọc kinh kính Thánh Martino hay là hát kính vị thánh này thì tôi lại để tâm trí mình mien man suy nghĩ thêm.

Cho đến một ngày, cũng theo thói quen tốt lành tìm đến với Thánh nhân để cầu nguyện cùng với cộng đoàn thì tự nhiên tôi thấy trong lòng mình trỗi lên một cảm xúc xao xuyến rất lạ thường.  Tâm trạng xao xuyến đó cứ tiếp tục theo tôi cho tới ngày tôi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.  Vào những ngày đó, tuy chưa hiểu hết nhưng tôi đã
phần nào cảm nhận điều mà lâu nay mình và mọi người đã cùng khấn xin.

Điều tôi khao khát, xao xuyến, băn khoăn trong lòng, tôi đã được Chúa cho cảm nhận một cách rất rõ ràng. Tôi muốn chia sẻ, muốn nói ngay ở đây là Chúa đã chọn đúng thời gian thích hợp để cho tôi chứng kiến và giao tiếp với con cái của Người.

Chị là một giáo dân cũng đứng tuổi, ngày xưa chị từng là một tiểu thư xinh đẹp, ngoan hiền. Gia đình chị khá giả nên chị thấy rất yêu đời và vô tư đón nhận tất cả những gì
Chúa ban cho gia đình chị. Gia đình chị thuộc một gia đình giáo dân gương mẫu,
nên chị chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày chị phải chạy đôn chạy đáo vì miếng ăn
cái mặc cho chồng con. Đến một ngày định mệnh, thì gia đình chị gần như suy sụp
hoàn toàn. Từ một tiểu thư chỉ biết ăn rồi học và vui chơi với bạn bè, giờ thì
phải chạy ăn sáng thì lo ăn chiều. Chồng chị lại là một tân tòng, nên cũng có
những xung đột làm chị rất đau lòng. Con cái thì ngoan ngoãn, nhưng cũng có lúc
gây khó khăn cho chị trong việc chị sống đạo. Có những khi ngồi nghe chị chia
sẻ, tôi thấy sao mà khó khăn để sống đạo quá. Nhưng chị có một niềm tin rất dễ
thương là, cứ sau mỗi dịp chị than thở chia sẻ cùng tôi, thì chị lại bảo là tạ
ơn Chúa và xin Chúa cho chị em mình đủ sức để vượt qua. Cuối cùng thì chị cũng
đã phần nào vượt qua những sóng gió, gia đình chị đã tìm thấy được một cuộc đời
mới với luồng sinh khí mới mà Chúa đã ban cho sau những ngày chị chịu thử thách
và hy vọng.

Người thứ hai là một bác lớn tuổi; bác này đã từng trải qua những thời kỳ khó khăn chung cùng với mọi người. Nhưng chỉ để vượt qua những khó khăn về cuộc sống, thì hai bác ấy có thể vượt qua. Đằng này hai bác ấy vừa lo cái ăn, cái mặc, mà lại vì không đủ điểu kiện đến nỗi đành lòng nhìn người con trai của mình chết trong cái thiếu
hiểu biết của người ta. Bây giờ thì hai bác ấy đã vượt qua được tất cả, thậm
chí còn dư đầy để có thể giúp đỡ người khác. Bác ấy bảo là những ngày ấy nếu
không có Chúa ban cho sức mạnh thì chắc chắn bác không thể nào vượt qua được
những khó khăn đó. Cho tới giờ phút này bác ấy vẫn ngày ngày tạ ơn và xin ơn
được đủ sức để sống cho trọn vẹn niềm tin của mình đợi ngày về với Chúa.

Người thứ ba là một người đàn ông trung niên mà tôi được phúc làm bạn với anh. Anh gần như là một bệnh nhân đối với tôi. Tôi nói thế là cứ mỗi khi anh đau đớn nhiều thì tôi luôn cầu xin Chúa và Mẹ của tôi xoa dịu và chữa lành. Chúng tôi đã được hồng ân như thế rất nhiều lần và chúng tôi rất hợp nhau. Duy có một điều là tư tưởng của
tôi và anh đôi lúc trái ngược nhau trong vấn đề xin ơn chữa lành. Lúc hay tin
anh đau đớn vì bệnh tật, tôi thì tích cực cầu xin Chúa và Mẹ cứu bạn con, chữa
bạn con, thì anh ta cứ cười hì hì tạ ơn Chúa đã cho con được dịp đền tội, tạ ơn
Chúa cho con được dịp hy sinh để cầu nguyện cho các linh hồn. Lúc đầu thì tôi
cũng thấy khó chịu, nhưng càng về sau thì tôi thấy rằng anh quả thật khôn
ngoan, vỉ anh được nhiều dịp đền hết những lỗi tội mà mình đã phạm và cầu cho
các linh hồn. Mỗi dịp như thế thì khi anh mất đi anh sẽ ở luyện ngục ít thời
gian hơn. Rồi bao nhiêu lần nghe anh chia sẻ về những đau khổ trong tinh thần,
nó làm cho anh thấy mất hết hy vọng, chán nản đến cùng cực. Những lúc như vậy anh
chỉ biết bám chặc vào Lòng Thương Xót Chúa, bám chặc vào những Lời Chúa dạy để
vượt qua. Giờ đây thì anh bảo rằng về đời sống đạo của anh tương đối ổn định và
không dễ gì bị mất hy vọng vào Thiên Chúa Tình Yêu của anh.

Người thứ tư là một chị nông dân, chị ở vùng quê thuộc miền đông của VN (Bà Rịa – Vũng Tàu). Trong một dịp tôi đi thăm người quen vào tháng 10 vừa qua, tôi lại được dịp tiếp xúc với đức tin rất đơn sơ và can đảm. Đức tin của chị đơn sơ như những hạt lúa, trái bắp hay củ khoai mì, mà gia đình của chị đã trồng trọt, canh tác. Tranh
thủ thời gian rảnh rỗi chờ lúa được phơi khô, chị đã chia sẻ với tôi thật nhiều
kinh nghiệm về cuộc sống đức tin vào Chúa của chị. Chị kể là chị đã không biết
bao nhiêu lần bị chồng bạo hành một cách rất nặng nề. Bao nhiêu lần chị đau khổ
vì chồng không thông cảm cho mình. Nhưng mỗi khi như thế thì chị lại nghĩ đến
Chúa, bám vào Chúa để chị cầu nguyện và hy vọng. Chị nói rằng có lần chị định
bỏ gia đình, mà đi tìm nơi khác sống vì quá đau khổ. Thế mà khi đi lễ chị xin
Lời Chúa thì được nhắc nhở là phải hy vọng và phải vững tin vào Chúa qua câu
Kinh  Thánh “… Không một thử thách nào đã xảy ra cho an hem mà lại vượt
quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ không để anh em bị
thử thách quá sức; nhưng khi để an hem bị thử sức, Người sẽ cho kết thúc tốt
đẹp, để anh em có sức chịu đựng… (1Cor 10,13). Thế là chị vì tin vào Chúa của
chị, chị đã tìm thấy được sự an ủi và chở che của Chúa. Và giờ thì chị thú nhận
là chị đang thật sự bình an, cho dù chị có gặp việc gì khó khăn.

Cuối cùng là cậu bé 22 tuổi, tên là Phêrô T. thuộc Giáo Xứ Mai Khôi, Quận 5. Tôi xin phép nói về cậu bé này dài dòng một chút, không những vì cậu bé có những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa dành cho mình, mà ngay chính người mẹ của cậu cũng được thật nhiều điều tuyệt vời từ lòng tin và tinh phó thác tuyệt đối của mình.

Cách đây không lâu, khi cậu bé đó mải mê đua đòi theo những trò chơi của thời đại. Cậu tham gia đua xe, theo bạn bè làm những viêc xấu. Mẹ cậu bé ấy, chị Terexa D. chia sẻ với tôi rằng. Ngày mà chị nghe tin con mình đau bệnh vì sau khi làm việc xấu với gia đình của bên ngoại, đến nỗi cả ông bà, dì rồi chính ba ruột cũng không chấp
nhận cho cậu ấy về nhà. Lúc đó chị Terexa D cũng đau lòng lắm, nhưng chị tin
rằng Chúa của chị còn thương con chị hơn chị, nên chị quyết định là không thể
nhượng bộ trước đưa con cứng đầu. Chị chỉ biết cầu nguyện và phó thác trong hy
vọng là Chúa sẽ giữ gìn con chị và chị vững tâm hơn khi chị biết rằng, chị còn
có Đức Mẹ luôn chăm sóc gia đình nhỏ của chị.  Đêm đêm mỗi khi cầu nguyện thì luôn chị lần chuỗi Mân Côi để cầu nguyện Mẹ Maria. Thật sự lúc đó chị cũng đâu biết rằng đứa con trai duy nhất của chị, sau những ngày tháng đi hoang. Cậu bé đó đã thấy hối hận và xin Chúa thật nhiều. Nhưng xin hoài mà không thấy Chúa nhận lời (theo lời cậu ấy nói với mẹ mình) là sẽ dẫn cậu ấy về với gia đình, vì cậu ấy thấy nhớ mẹ và cần tình yêu của gia đình. Thế là cậu ấy thủ thỉ với Mẹ Maria rằng: “ Mẹ ơi, con xin Mẹ dẫn con về nhà. Con hứa với Mẹ là con sẽ lần Chuỗi mỗi ngày để tạ ơn Mẹ”. Chỉ sau hai hoặc ba ngày gì đó thì cậu ấy đã được đón về nhà, trong vòng tay rộng mở yêu thương của gia đình- từ những người ngày trước nhất định sẽ không tha thứ và cho cậy ấy vô nhà. Bây giờ thì cậu bé ấy rất tuyệt vời, biết tìm nơi để học hỏi Lời Chúa, sống Lời Chúa và dễ thương hơn nữa là cậu bé đó ngày ngày lần Chuỗi Mân Côi để tạ ơn Đức Mẹ đã đưa về nhà và được mọi người yêu mến trở lại. Tôi đã gặp hai mẹ con chị Terexa D. ở Giáo Xứ Chợ Quán và thấy đúng đây là quyền năng tuyệt vời và phần thưởng thật quá sức tưởng tượng mà Thiên Chúa dành cho những người biết tin, biết phó thác và hy vọng như mẹ con chị.

Tôi thì đã cảm nhận được rât nhiều trong việc tốt lành, được gọi là đức tin này. Bao nhiêu lần tôi được thưởng bằng những niềm vui, sự bình an thật sự chỉ vì tôi tin vào Thiên Chúa của tôi. Những ai là tân tòng, những ai được thoát ra từ một tôn giáo khác
của gia đình mình thì sẽ hiểu, nếu tôi không tin vào quyền năng Chúa, tôi không
cố gắng sống để chứng minh cho những người trong gia đình, trong mối tương qua
xã hội hàng ngày rằng nhờ vào Thiên Chúa, nhờ vào chính cái chết tròn vẹn tình
yêu của Người mà chúng tôi được hiểu rõ hơn về chữ hiếu đạo, về chữ bác ái, về
tình yêu thương và sống sao để xứng đáng với Người thì có lẽ chúng tôi sẽ khó
lòng vượt qua trong những cảnh trái ý trái long với mình. Bao nhiêu lần tôi phiền muộn thì bao nhiêu lần tôi lần chuỗi Mân Côi, bao nhiêu lần tôi cô đơn thì bao nhiêu lần tôi chỉ nhìn Chúa của tôi mà khóc mà trút cạn. Để rồi sau những lời trần tình, tâm sự với Chúa và Đức Mẹ thì tôi liền lấy lại phong độ, can đảm vượt qua những thử thách. Như lời kinh “…xin cho con được mạnh sức đêm ngày vui đó hy sinh…” mà làm danh Chúa sáng hơn nữa qua những ơn Người đã ban cho tôi có thể làm được giữa đời thường.

Đức tin là một món quà vô giá, nhưng được Thiên Chúa tặng ban một cách vô điều kiện cho tất cả mọi người. Nhận hay không chỉ là sự tự do lựa chọn của con người, tin để được cảm nhận sự bình an, tin để được chữa lành cái thân xác yếu đuối bệnh tật, tin để được thêm lòng kiên trì và sức mạnh mà vượt qua những khó khăn trắc trở trong
cuộc sống … Có nhiều thứ mà chỉ khi ta tin thì ta mới có được, còn không tin
thì ta rất dễ rơi vào trạng thái thất vọng, nản lòng và luôn tìm mọi cách để trốn tránh đối diện với thực tế. Sự thật thì cũng đã có rất nhiều nhân chứng, vì không có đươc đức tin nên tìm đến cái chết trong sự giàu có và đầy danh vọng.

Phương cách để sở hữu được đức tin cũng rất dễ dàng và đơn giản, vì Chúa đã hứa là ban tặng cho tất cả nhân loại. Chúa không phân biệt dân tộc nào, từ bé đến lớn bất kể tuổi tác. Một ưu tiên nữa mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, có thêm cách được sở hữu món quà này là Đức Maria. Đức Maria luôn luôn là Người dẫn đường, là Người sẽ bảo vệ và dành mọi quyền ưu tiên cho con cái mình bằng mọi cách trước Thiên Chúa.
Đức Maria sẽ đưa tất cả những ai yêu mến và tin vào Người đến với mọi điều tốt
đẹp nhất. Nhất là chỉ có Mẹ mới có thể đưa chúng ta đến với Chúa cách gần gũi
nhất và ngắn nhất. Nhân đây tôi cũng xin trích dẫn Lời Chúa đã hứa, để những
quý vị nào còn e ngại hay rụt rè vì nghĩ là mình chưa là người Công Giáo nên
không dám xin. Cứ nhìn vào những câu nói dưới đây, mà quý vị tự tin đến đón
nhận. Nhận để cùng chúng tôi nhìn cuộc sống nhẹ nhàng trong mọi hoàn cảnh khó
khăn. Nhận để sống trong những quyền năng và ơn nghĩa của Đấng Tối Cao. Nhận để
thấy rằng được làm con người là một điều tuyệt diệu và đầy thú vị, chứ không
đến nỗi như câu nói “khổ thân tôi đã làm kiếp con người”.

“…Tất cả những ai đang vất vả mang gáng nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng
hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì
ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”. (Mt 11, 28-30).

“…Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho…” (Mt 7, 7-8)

Là một tân tòng nên có lẽ những cảm nhận về đức tin của tôi rất đơn sơ. Trong bài viết này, với tâm tình chia sẻ với những quý vị chưa hiểu sâu sắc về Đạo Công Giáo. Đạo Công Giáo là một Đạo hy vọng, những người đạo Công Giáo thường là những con người tự nhận biết là mình yếu đuối, luôn dựa dẫm vào Người Cha duy nhất của mình để sống. Luôn cần tới Lòng Thương Xót của Người Cha mình để hy vọng và tin tưởng tuyệt đối vào Người Cha đầy quyền năng của mình. Có một lần tôi được nghe một linh mục nói vui rằng: Những người đạo Phật là những người mạnh mẽ vì gần như họ luôn dựa vào chính mình.

Tôi xin chân thành cám ơn quý vị đã đành thời gian quý báo để đọc bài viết trải lòng của tôi. Rất mong quý vị sẽ đồng cảm và chia sẻ cùng chúng tôi-những người Công Giáo yếu đuối, những tâm tình, những khó khăn mà chúng tôi đã đang và sẽ gặp trong cuộc sống chung với quý vị.

Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu và đầy quyền năng ban xuống cho chúng con một sức mạnh tuyệt vời nhất, sức mạnh biết chấp nhận gian truân, sức mạnh biết nhẫn nhịn, sức mạnh biết can đảm chấp nhận mình chỉ là một tạo vật nhỏ bé và yếu đuối. Hòng để chúng con có thể vượt qua tất cả mà làm cho Danh Chúa được lan tỏa vì con cái Chúa rất dễ thương và đáng yêu.

Sàigon 2012

Maria Túc Lynh

nguồn: Maria Thanh Mai gởi

Kiên Nhẫn – Kiên Cường: Cậu Bé Glen Cunningham

Kiên Nhẫn – Kiên Cường: Cậu Bé Glen Cunningham

Br. Huynhquảng

Hôm nay, mục Sống Đẹp xin được nêu tấm gương của cậu bé Glen Cunningham nhằm
giới thiệu chủ đề mới: Kiên Nhẫn – Kiên Cường. Qua bốn chủ đề mà chúng ta đã
cùng nhau học hỏi: Tha Thứ Hòa Giải, Xây Dựng Hiệp Nhất, Sống Hiện Tại, và Đơn
Sơ Chân Thật, thì đây là lúc chúng ta cùng nhau trao đổi về chủ đề Kiên Nhẫn –
Kiên Cường. Vì thực ra, để có thể tha thứ, xây dựng hiệp nhất, sống hiện tại,
sống chân thật, tất cả đều đòi hỏi một sự kiên nhẫn không ngơi nghỉ.

Cậu Bé Glen Cunningham

Khi mới bảy tuổi, đôi chân của Glen Cunningham bị phỏng nặng do một vụ thảm
họa. Theo nhận xét của bác sĩ, cậu bé Glen sẽ không bao giờ đi lại bình thường
được. Các bác sĩ đề nghị cưa chân cậu bé nếu muốn cậu được sống sót. Như thế,
vấn đề bây giờ không còn là chuyện khi nào đôi chân của Glen được bình phục,
nhưng là sự sống của cậu bé. Những ngón chân trái dần dần bị hao mòn đi; chân
phải dần dần ngắn hơn chân trái. Với kinh nghiệm đau đớn trong bản thân và
chứng kiến cơ thể mình tàn lụi dần, Glen quyết tâm với lòng mình là không đầu
hàng với số phận. Hằng ngày cậu tập những động tác theo hướng dẫn của bác sĩ
chỉ nhằm với ý chí rằng: Cần làm những gì cần phải làm trước khi mình không bao
giờ còn cơ hội để làm. Với ý chí tích cực kiên cường ấy, ba năm sau, cậu tự đi
mà không cần dùng nạng. Xa hơn, cậu đã tập chạy và không ngừng chạy khi có thể.
Năm 1938, Glen làm cho cả thế giới kinh ngạc khi phá kỷ lục thế giới với 4 phút
4.4 giây trong đường chạy một dặm.

Ca dạo tục ngữ Việt Nam truyền dạy rằng: “Nước chảy đá mòn; có công mài
sắt có ngày nên kim.” Và đúng là như vậy, Glen Cunningham như mẫu gương để
khơi niềm hy vọng cho chúng ta, dù trong hoàn cảnh nào, nếu chúng ta quyết chí
vươn lên, một ngày nào đó, thành quả sẽ đến với chúng ta. Nhìn vào những người
như Glen Cunningham, phần nào ta tìm thêm nghị lực để tiếp tục tiến tới và tiếp
tục hoàn thiện chính mình, và để tiếp tục đi đến cùng đích của đời mình.

Kiên cường, can đảm (fortitude, fortitudo) là một đức tính rất được đề cao
trong nền triết lý văn minh Hy Lạp. Theo triết gia Aristotle (A-ris-tot),
“Kiên cường là đức tính của những người không tỏ lộ sự sợ hãi khi họ dám
chết cho lý tưởng cao thượng.” Nhưng đức tính (virtue, arete) này cần phải
có quá trình tập luyện bền bỉ. Mẫu gương cho những cái chết cao thượng là những
người chiến sĩ anh dũng hy sinh cho quê hương, cho dân tộc. Nhưng theo triết
gia Plato, kiên cường không chỉ được hiểu là can đảm chết cho những lý tưởng
cao đẹp, nhưng còn là “sự chiến đấu với những khát vọng thú vui.” Tức
là phải chiến đấu với chính con người của mình. Còn theo triết gia Cicero (45
B.C), “Kiên cường không gì khác hơn chính là thái độ tinh thần có khả năng
chịu đựng mọi nguy hiểm dù phải chịu cực nhọc đau đớn, nhưng đồng thời không để
cho sự sợ hãi tiếp cận gần ta.” Tóm lại, sự can đảm kiên cường không chỉ
là hành động anh hùng, nhưng còn là sự kiên nhẫn tập luyện chịu đựng gian khổ
để làm chủ con người mình để dám chết, nếu khi cần, cho lý tưởng cao đẹp, và
dám sống mỗi ngày nhằm nâng cao giá trị con người của mình.

Jean-Jacques Rousseau phát biểu rằng, “Kiên nhẫn thì cay đắng, nhưng trái
của nó lại ngọt ngào.” Và quả đúng như vậy, hạt giống chỉ có thể nảy mầm
khi nó liên tục âm thầm tự lột lớp vỏ của mình ra. Như thế, kiên nhẫn đòi hỏi
sự kiên cường và can đảm. Kiên cường ở đây không chỉ là thực hiện những việc
lớn lao, nhưng quan trọng hơn chính là làm những việc nhỏ bình thường hằng ngày
với ý chí hoàn thiện chính mình. Dù làm những việc nhỏ, nhưng sự kiên trì hành
động từng ngày cũng đủ làm ta phải trả giá cho sự đau đớn, mất mát và từ bỏ
những điều thân thiết.

Thưa bạn, trong bài đầu tiên về chủ đề Kiên Nhẫn – Kiên Cường, tôi mời bạn ví đời
mình như là một người thợ xây. Mỗi ngày chúng ta dù làm việc gì (học hành, rèn
luyện nhân đức, thao luyện, cầu nguyện), chúng ta hãy coi như chúng ta đang đặt
một viên gạch lên bức tường của đời mình. Bức tường ấy có chắc chắn hay không,
có thẳng hàng hay không, có đẹp hay không đều lệ thuộc vào từng viên gạch chúng
ta đặt vào nó. Nếu mỗi một ngày chúng ta chỉ được quyền xây một viên gạch, thì
chúng ta cũng nên cẩn thận và kiên nhẫn cho từng viên gạch ấy. Và cũng nếu hôm
nay mình không thể đặt viên gạch vào bức tường của mình, thì mãi mãi chỗ ấy sẽ
là chỗ trống. Nếu một bức tường có nhiều lỗ hổng, càng xây lên cao, nguy cơ sụp
đổ của nó càng lớn. Và cũng vậy, nếu hôm nay tôi không kiên nhẫn và kiên cường
thi hành phận vụ của tôi, thì lỗ hổng vẫn còn đó, không ai giúp cho tôi được.
Vâng, kiên nhẫn thì cay đắng, nhưng trái của nó lại ngọt ngào!

Đơn Sơ Chân Thật – Nhạc Bất Quần

Br. Huynhquảng
Thưa quí bạn, chúng ta đã lần lượt suy ngẫm về ba đề tài: Tha Thứ, Hiệp Nhất,
và Sống Hiện Tại. Thực ra, sống giây phút hiện tại không gì khác hơn chính là
sống thật với con người mình. Sống hiện tại luôn luôn níu kéo chúng ta trở lại
với hiện tại, với bản chất con người thật của mình. Vì lý do đó, mục Sống Đẹp
hân hạnh giới thiệu đến quí bạn đề tài mới: Đơn Sơ – Chân Thật, chỉ với hy vọng
phần nào góp thêm chất liệu màu sắc để bạn và tôi cùng nhau hoàn thiện bức
tranh của chính mình. Kỳ này mục Sống Đẹp xin mượn nhân vật Nhạc Bất Quần trong
tiểu thuyết võ hiệp lừng danh của Kim Dung để giúp ta hiểu thêm hậu quả của sự
gian trá, không chân thật. Nhưng quan trọng hơn, nhân vật này có thể giúp ta
dừng lại để lắng nghe tiếng nói trong con tim: Động cơ gì đã dẫn quân tử kiếm
Nhạc Bất Quần dùng mọi thủ đoạn âm mưu để lừa gạt, để hại người, hại gia đình,
và hại chính mình.
Nhạc Bất Quần
Kim Dung thoạt đầu miêu tả Nhạc Bất Quần như một bậc chính nhân quân tử thuộc chính phái. Ông là chưởng môn phái Hoa Sơn, luyện thành công môn Tử Hà Công; ông ăn nói nhỏ nhẹ, thái độ khoan thai cộng với võ nghệ cao cường nên ông được nhiều người trong chốn giang hồ kính nể, đặc biệt Lệnh Hồ Xung, chàng một lòng kính phục sư phụ mình.
Dầu vậy, do tham vọng hợp nhất năm môn phái thành một, và sau đó sẽ làm minh
chủ Ngũ Nhạc Phái, Nhạc Bất Quần đã lừa gạt mọi người và dùng Lệnh Hô Xung để
che đậy tội lỗi của ông. Ông đã ăn cắp Tịch Tà Kiếm Phổ của nhà họ Lâm; ông
đoạt ngôi minh chủ trên tay Tả Lãnh Thiền, người cũng có tham vọng làm minh chủ
Ngũ Nhạc Kiếm Phái, và tệ hại hơn, ông đã đánh lừa chính vợ con ông và bản thân
ông khi ông tự thiến để luyện Tịch Tà Kiếm Phổ. Cuối cùng, Nhạc Bất Quần đã
thành công và đã đạt được mục đích; ông trở thành minh chủ Ngũ Nhạc Phái; ông
đã luyện thành công Tịch Tà Kiếm Phổ; ông đã có tất cả những gì ông khao khát,
nhưng cuối cùng ông đã đánh mất đi chính bản thân ông. Khi ông được tất cả cũng
chính là lúc ông mất tất cả.
Kim Dung tài tình lột dần mặt nạ của Nhạc Bất Quần, để dù Nhạc Bất Quần đã có
trong tay tất cả những gì ông muốn, nhưng khi mặt nạ đã bị lột bỏ, thì dù là
minh chủ của Ngũ Nhạc Phái, bên ông không còn ai là bạn hữu, không còn ai là đệ
tử, và cuối cùng phải chết dưới tay Ni-Cô Nghi Lâm phái Hằng Sơn. Bộ mặt thật
“ngụy quân tử” của Nhạc Bất Quần lộ ra khi ông có trong tay mọi thứ ông tham vọng và khao khát. Cảnh cuối đời của Nhạc Bất Quần diễn tả đúng với tên gọi của ông, nghĩa là “không chơi với ai.” Vì thực ra dù trước khi bị lột mặt nạ, ông có rất nhiều bạn hữu và được nhiều người kính nể, nhưng thực ra ông đâu có thực lòng giao tình bằng hữu với ai đâu! Với ông, tất cả các mối quan hệ đều ngấm ngầm tính toán hơn thua; ông dùng mọi người kể cả đại đệ tử, vợ ông, và con ông làm bàn đạp cho ông thực hiện âm mưu bá chủ võ lâm. Mối quan hệ của ông từ trong gia đình ra ngoài xã hội đều dựa trên sự gian dối, lừa gạt,
âm mưu… chứ không dựa trên sự thật, đơn sơ, chân chính của người võ sư.
* * *
Thưa bạn, cũng như Nhạc Bất Quần, điều nguy hiểm nhất cho cuộc đời chúng ta là đôi khi chúng ta đã gạt bỏ những gì chúng ta đang có để cố chụp giựt cho được điều mà chúng ta thích, vui. Động cơ này dễ dàng thúc dục chúng ta tìm mọi phương cách để đạt được mục đích kể cả khi phải dùng những kỹ xảo thấp hèn. Gạt bỏ những gì sẵn gần bên ta, trong gia đình ta, trong tâm hồn ta để rong ruổi tham vọng những sự xa ta, ngoài gia đình ta, và ngoài tâm hồn ta… đó là thất bại lớn nhất của một đời người. Chạy theo dục vọng để chiếm hữu, để được làm chủ một điều gì ngoài ta là một cuộc rong ruổi nguy hiểm và dễ dàng đánh mất chính ta; vì thực ra khi ta chỉ lo kiếm tìm những sự “bên ngoài” thìchắc một điều, sự “bên trong” không được quan tâm và chăm sóc cho chu đáo. Được điều gì khi ta thắng trận mà ta không biết ta trở về đâu. Hóa ra, cái sự thật căn bản vẫn là chính ta, trong ta chứ không phải bên ngoài được tô điểm bằng danh thơm hão huyền hư ảo. Từ đó ta học được rằng, dù xã hội có thể ban tặng cho ta tước hiệu hoa mỹ đến đâu đi chăng nữa, nhưng ta không thật với lòng ta, thì ta cũng mất tất cả – và điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời chính là mất đi chính ta. Mong rằng chúng ta cùng giúp nhau mỗi ngày khám phá ra sự thật
về chính mình; cùng giúp nhau cẩn tĩnh về hiểm họa của những tiếng mời gọi ta
đi ra khỏi lòng ta. Thực tế cho thấy, “Đôi khi thế giới [con người] cứ lôi kéo bạn theo một hướng, mà theo con tim, bạn không mong muốn đi theo.”
Thưa bạn, nếu Nhạc Bất Quần biết nhận ra tài năng và thật tâm của Lệnh Hồ Xung,
nhận ra một gia đình hạnh phúc trong giá trị hiện tại của đời ông, chắc một điều ông sẽ đạt được cả “bên trong” lẫn “bên ngoài.” Nhưng đáng buồn thay ông đã không làm như vậy. Còn bạn thì sao?

Tiền bạc – mối đe dọa truyền kiếp

 

 

Tiền bạc – mối đe dọa truyền kiếp

 

Br. Huynh Quang                               nguồn: Brother Huynh Quảng

 

Aristotle cho rằng, tiền bạc chỉ là phương tiện hữu ích, nó chỉ có giá trị khi ta dùng nó để giúp ta đạt được những điều khác.

Khi quá tích trử và gom góp cho đời sống con người, chúng ta sẽ lãng quên khả năng tích trử công đức cho đời sống vĩnh cửu

Thời xưa, các ẩn sỉ ra chợ bán hàng và dùng tiền để mua bánh mì. Nếu tiền còn dư, họ sẽ cho người nghèo hết, vì họ sợ rằng, mang tiền về sẽ làm cho họ hằng ngày bận tâm tới việc cất giữ chúng; và nguy hiểm hơn chính là họ dần dần đặt sự an toàn của mình vào số tiền trong kho đó thay vì là Chúa.

.

“Đam mê tiền của là cội rể của mọi sự dữ” (I Tim 6:10). Giàu có không phải là tội, nhưng để tiền của làm chủ đích mọi suy nghĩ và hành động của mình là điều dễ dẫn ta tới tội. Mối nguy hiểm chính là khi ta có nhiều tiền bạc, ta dễ bị đánh lừa và nhận thức sai lầm rằng: Tiền bạc có thể ban cho ta có mọi thứ ta muốn mà không cần Chúa.[1] Nhưng thực ra, tài khoản trong nhà băng, dù nhiều đến bao nhiêu cũng không thể mua được bình an, công bằng, và tự tại. Như thế, tham lam cũng được cho là gốc của các loại tội vì nó rất gần với kêu ngạo – muốn làm chủ đời mình mà không cần Thiên Chúa. Mình muốn dùng những phương tiện vật chất để đảm bảo lấy trách nhiệm cuộc sống của mình và gạt Chúa ra khỏi đời mình – không lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa nữa, đó là một khuôn mặt mới của tội kêu ngạo.

Nhưng thực ra, theo Beothius, “Chúng ta càng sở hữu tiền của bao nhiêu, thì chúng ta cũng mất nhiều thời gian, sức lực, và tiền của bấy nhiêu để bảo vệ chúng.”[2] Như thế, sự giàu sang không làm cho ta nên giàu có, mà làm cho ta thêm héo khô, lo lắng, và bất an. Một ẩn sĩ đã tâm sự rằng, “Một tu sĩ với nhiều tiền của sẽ như một con thuyền nặng nề dễ dàng bị chìm trong cơn bão tố.”[3]

* * *

Chàng thanh niên trong Tin Mừng đã chạy đến Chúa Giêsu để hỏi xem làm thế nào để được hưởng sự sống đời đời (x. Mt 19:17). Ngoài vấn đề giữ lề luật ra, Đức Giêsu đánh thẳng vào tâm điểm của ơn gọi làm môn đệ khi Ngài mời gọi anh ta bán tất cả của cải mình có, bố thí cho người nghèo, và theo Ngài (x. Mt 19:22). Cốt lõi của vấn đề chính là từ bỏ chính mình, đặt cuộc đời mình trong tay Chúa, và liều thân theo Chúa với phận nghèo.

Tin Mừng thuật lại người thanh niên đã giữ nhiều lề  luật trong Mười Điều Răn, (chớ giết người, chớ ngoại tình, chở trộm cắp, chớ làm chứng dối, thảo kính cha mẹ, yêu người thân cận; ở đây, anh ta không nói đến lề luật “chớ tham tham”). Rõ ràng, “Khi đối diện với luật hoàn hảo của Thiên Chúa, anh ta buộc phải đối diện với điều luật ‘chớ tham lam’ (Ex 20:17).”[4] Tham lam, tôn sùng của cải là cản trở lớn nhất để người thanh niên theo Chúa. Anh ta không muốn từ bỏ của cải mình để theo Chúa, là vì của cải đã trở thành điểm tựa cho đời anh; của cải trở thành “chúa” của đời anh. Buồn thay, chân lý đã có được trong tầm tay, tự do và bình an đã được ban tặng, nhưng chỉ vì quá bận tâm đến của cải trần thế, người thanh niên đã khước từ những giá trị vĩnh cửu mà chọn những giá trị tạm bợ chóng qua. Đọc tiếp Mt 19: 23-30, Phêrô cũng đặt một câu hỏi tương tự như thế, “Thưa Thầy, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?” Câu trả lời là các con “Sẽ được gấp trăm ở đời này và đời sau.” Ai theo Chúa với tất cả niềm tín thác đều xác tín và cảm nghiệm lời Chúa đúng tuyệt đối.

* * *

Trong thư I Timothê 6:6-10, thánh Phaolô đã khuyên nhủ rằng, “Còn những kẻ muốn làm giàu, thì sa vào cám dỗ với cạm bẫy, và lắm đam mê ngông cuồng tai hại, mà trầm luân diệt vong, hư khốn. Vì tham tiền là cội rễ mọi sự dữ. Cầu thỏa lòng tham, thì có kẻ đã lạc xa đức tin và bị bao nỗi đớn đau xâu xé.”

Với tiền bạc sẵn có trong tay, tính tham lam sẽ có cơ hội trỗi dậy. Vì tham lam không những là mong muốn chiếm đoạt điều mình không có, nhưng còn muốn sở hữu và chiếm đoạt những thứ mà mình hoàn toàn không cần đến.

Thói quen “shopping” dường như trở thành một thói quen của nhiều người, đặc biệt tại Hoa Kỳ. Thói quen đi shopping hằng tuần ở những nơi “on sales” thực ra đó là những lần mua những hàng hóa ngoài nhu cầu cần thiết. Shopping nhiều lần như thế sẽ trở thành thói quen xấu. Vì thực ra của cải vật chất phải là phương tiện để phục vụ con người, chứ chúng không thể trở nên trung tâm đời sống chúng ta và làm cho chúng ta quá bận tâm tới việc sở hữu
chúng. Quá bận tâm sỡ hữu một sự vật nào đó biểu lộ cho thấy tâm hồn ta đang ở
trong tình trạng bất an, đang muốn tìm một điều gì để khỏa lấp nỗi bất an, trống vắng ấy. Và như thế, suy nghĩ về điều gì, muốn sỡ hữu điều gì, muốn trao tặng điều gì đều là những biểu hiện khác nhau của một quả tim ẩn chứa sự khao khát muốn lấp đầy và kiếm tìm để được no thỏa.

Rất nhiều gia đình đã tan vỡ cũng chỉ vì liên quan đến tiền bạc, mua sắm vật chất.

Anh A làm lụng vất vả hằng ngày; chị B lo chăm sóc con cái và đưa chúng đi học. Rảnh rỗi đôi chút, chị đọc báo thấy “on sales” ở siêu thị này, siêu thị nọ liền lên kế hoạch, trước là chỉ để xem cho biết vì rẻ, dần dần chị mua một hai món hàng thật sự rẻ – và đúng nó rất rẻ theo giá cả thị trường. Từ từ chị B có thói quen đi shopping và mua những món hàng chỉ vì thấy
chúng rẻ và lý luận, “Nếu không mua thì uổng.”

Anh A tỏ ra khó chịu, cứ mỗi tuần đi làm về thấy nhiều món hàng mới lạ trong nhà mà vợ cho rằng mua chúng vì rẻ. Nào lá cái máy xay sinh tố, nào là cái thớt cắt thịt, nào là cái máy xay đậu, v.v,… “Chúng ta đã sắm đầy đủ rồi mà,” anh A lên tiếng. “Rẻ mà anh, on sales không mua thì uổng.” Cứ như thế, anh A dần nghĩ rằng vợ mình không biết quí công sức và đồng lương mình kiếm được; chị B lại cho rằng chồng mình tỏ ra keo kiệt không thương mình như xưa nữa, chỉ có mấy đồng bạc mà cũng đắn đo, cằn nhằn.

Mối bất hòa dần dần xuất hiện khi để cho tiền và vật chất chiếm chỗ trung tâm trong lối suy nghĩ của hai người; chủ đề của nhưng lần gặp gỡ chỉ là xoay quanh những món hàng và tiền bạc. Và để bảo vệ mình và lập trường của mình, anh A tìm những biện minh, lý lẽ để chứng mình rằng việc mình nói là đúng. Đồng thời, chị B cũng tìm mọi lý lẽ biện hộ để bảo vệ cái tôi của mình. Những cuộc nói chuyện của họ dần dần đi ra xa những chủ đề về con cái,
gia đình, bà con, bạn hữu, nhưng thay bằng là tiền, là hàng hóa vật chất. Mối rạn nứt bắn đầu khi chị B nghĩ rằng anh A không thương mình nữa; còn anh A thì cho rằng chị B không còn biết lo cho gia đình, cho mình và cho con. Cải vã, lời qua tiếng lại, bằng mặt mà không bằng lòng,… từ từ hiện diện giữa hai người,… hạnh phúc bay xa tầm hai người.

Đối với bất cứ ai, tiền bạc vật chất có thể sẽ là một đầy tớ tốt trung tín, nhưng chúng cũng có thể là ông chủ rất tồi. Anh A không hiểu được chị B đi mua sắm chẳng qua là biểu hiện một sự thiếu hụt nào đó trong con tim, trong gia đình, chứ từ ban đầu chị B đâu có ý tiêu xài phung phí. Chị B đâu có hiểu rằng việc anh A “tính toán” đôi chút đó là một sự biểu hiện sự lo lắng cho tương lai của mình, vợ và con của mình – Nơi anh A có một chút lo âu cho gia tương lai gia đình. Nếu những cuộc trò chuyện của họ nhằm vào hai điểm này, thì chắc chắn bầu khí hạnh phúc trong gia đình sẽ phát triển tốt đẹp hơn, nhưng vì trung tâm của nhưng lần trò chuyện là tiền và vật chất, nên không lạ gì chuyện bất hòa là có thật. Như thế đó, bản chất của vấn đề là tình cảm, tình yêu chứ đâu phải vật chất tiền bạc. Nhưng nếu không hiểu nội vụ đằng sau của sự kiện, mà lại quá chú trọng đến tiền bạc trên bề mặt, người ta sẽ bị dẫn đến thảm cảnh chia lìa, đau xót ngay trong gia đình và tâm hồn mình mà chính đương sự không hay biết.

Các tác giả Tin Mừng kết luận rằng, Giuđa nộp Thầy là vì lòng tham tiền bạc. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng, “Chớ lo lắng về ngày mai…” (Mt 6:25). Quả thật, khi quá chú tâm đến của đời sống dương thế, con người sẽ đành mất hướng đi vào Nước Trời. Khi quá tích trử và gom góp cho đời sống con người, chúng ta sẽ lãng quên khả năng tích trử công đức cho đời sống vĩnh cửu. Đó chính là mối nguy hiểm lớn nhất của lòng tham.

* * *

Cốt lõi  của vấn đề chính là từ bỏ chính mình, đặt cuộc đời mình trong tay Chúa, và liều  thân theo Chúa với phận nghèo.

Nhìn vào chính con người của mình chúng ta thừa nhận rằng, dường như chúng ta dễ đánh giá người khác theo tiêu chuẩn “having” (có) mà không là “being” (là), đó là dấu hiệu của sự đảo lộn trật tự trong tâm thức của con người chúng ta. Chúng ta thích làm bạn với những người có tiền của, nể vị những người chức quyền và học vị cao, trong khi chúng ta ít để ý hay quan tâm đến những người bình thường khác trong cộng đoàn và xã hội. Nhưng theo đức
tin chúng ta tuyên xưng, mọi người đều là con cái Thiên Chúa và họ là anh em với nhau. Chạy theo tiêu chuẩn trần thế, ta không những coi thường phẩm giá của người khác, mà còn đánh mất căn tính Kitô của mình. Theo chân phước John Paul II, con người chạy theo cái gọi là “tiêu chuẩn cuộc sống” được hiểu là hữu dụng, có chức năng và phong phú về mặt kinh tế.[5] Với tiêu chuẩn này, con người chỉ có giá trị khi họ còn sức lao động, làm ra của cải vật chất, nếu không, họ không còn có giá trị nữa. Xét theo “tiêu chuẩn” này,các em bé và những người già yếu trở nên những “người thừa” của xã hội. Vì họ không “hữu dựng và có chức năng về mặt kinh tế.” Đến đây ta nhận định rằng, đây là sự sai lạc nghiêm trọng trong lối suy nghĩ đề cao tiền của vật chất trong đời sống và mối quan hệ. Nếu quan niệm tiền bạc lên trên giá trị con người và để cho tiền bạc điều khiển cuộc sống của mình, một ngày nào đó, không sớm thì muộn, đương sự ấy sẽ không tìm thấy “giá trị” của mình nữa; vì có lúc đời mình cũng trắng tay như một em bé mới chào đời. Chẳng lẽ khi con người trắng tay thì mình không còn giá trị?!

Tóm lại, thánh Augustino đã trải qua kinh nghiệm rong ruỗi những giá trị vật chất tạm bợ, cuối cùng cũng nhận định rằng: “Chúng ta sẽ không bao giờ có thể thỏa mãn nổi khao khát về hoàn mỹ sâu thẳm trong con người của mình bằng những giá trị tạm bợ bất toàn.”[6]

(Còn tiếp)

 

[1] Cf. Aquinas, 1368-72.

[2] Loc. 1383-88.

[3] Loc. 1383-88.

[4] Warren W. Wiersbe, Wiersbe’s Expository Outlines on
the New Testament
, 71-72 (Wheaton, Ill.: Victor Books, 1997).

[5] Cf. Loc. 1358-63.

[6] Loc. 1388-93.