THÁNH ANPHONSÔ M. LIGUORI( lễ kính 1/8)

 Thần học gia,

Đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế,

Giám mục,

Tiến sĩ Hội thánh,

Sanh tại Marianella, gần Napoli, ngày 27 tháng 9 năm 1696,

Qua đời tại Pagani, gần Salerno, ngày 1 tháng 8 năm 1787.

Anphongsô là con trai cả của ông Giuseppe de Liguori, một gia đình quý tộc và lâu đời của Napoli, một sĩ quan của hải quân hoàng gia, và bà Anna Cavalieri. Anphongsô nhận được nền giáo dục ban đầu tại nhà dưới sự chăm sóc của các gia sư. Anphongsô đã ghi danh vào Đại học Napoli, năm 1708, nơi ngài học cho đến ngày 21 tháng 1 năm 1713, khi ở tuổi 16, ngài đã nhận bằng tiến sĩ luật học đạo và đời. Ngài đã hành nghề luật sư trong một vài năm, trong khi đó vẫn sống một cuộc sống Kitô giáo mẫu mực. Khi được giao nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công tước Gravina chống lại đại công tước Tuscany vào năm 1723, Anphongsô đã mất niềm tin vào sự công bằng trong vụ kiện của thân chủ, có lẽ là do hậu quả của những âm mưu. Bị sốc bởi trải nghiệm này, Anphongsô đã từ bỏ thế gian với câu nói danh tiếng: “Thế gian ơi, ta biết ngươi rồi”! Anphongsô vào chủng viện ngày 23 tháng 10 năm 1723. Ngài bắt đầu học thần học tại nhà dưới sự hướng dẫn của giáo sư Don Julio Torni và gia nhập một nhóm linh mục nhập thế (Hội Truyền giáo Tông đồ), nơi ông tham gia các hoạt động truyền giáo từ năm 1724.

Anphongsô được thụ phong linh mục ngày 21 tháng 12 năm 1726, ngài đã dành trọn cuộc đời mình cho công việc giải tội và rao giảng. Năm 1727, ngài thành lập Hội nhà nguyện Buổi Tối (Cappelle Serotine), một hiệp hội của những người lao động và thợ thủ công với mục đích hỗ trợ lẫn nhau, hướng dẫn tâm linh và các hoạt động tông đồ nhiệt thành. Năm 1729, ngài rời nhà để đến cư trú tại Học viện Thánh Gia, còn được gọi là Học viện Trung Hoa, do cha Matteo Ripa thành lập tại Napoli. Tại đây, ngài đã dành trọn cuộc đời mình cho mục vụ bằng cách truyền giáo và làm việc tại nhà thờ. Vì bị kệt sức, ngài bị buộc phải đi nghĩ bệnh tải Scala. Sau một thời gian lưu trú tại Scala và những cuộc gặp gỡ đầy quan phòng với cha Thomas Falcoia của hội Pii Operarii, người sẽ được bổ nhiệm làm giám mục của Castellamare di Stabia vào năm 1730, và Sơ Maria Celeste Crostarosa (1696–1755), ngài đã tham gia thành lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Scala, năm 1731, một dòng tu của các nữ tu chiêm niệm tận tụy noi gương Chúa Yêsu Kitô, và được Đức giáo hoàng Bênêđictô XIV chấp thuận vào năm 1750.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1732, cũng tại Scala, dưới sự linh hướng của Đức giám mục Falcoia, ngài thành lập một hội dòng các linh mục dưới danh hiệu Chúa Cứu Thế Chí Thánh (ở Việt Nam thường được gọi là Dòng Chúa Cứu Thế). Hội dòng này được thành lập là một hiệp hội các linh mục và tru sĩ không linh mục sống cuộc sống chung và chia sẻ mong muốn noi gương Chúa Yêsu Kitô, đặc biệt là trong công việc rao giảng lời Chúa. Hội dòng này được thành lập với mục đích đặc biệt hướng đến nhu cầu của những người dân quê, những người thường thiếu cơ hội đón nhận Tin Mừng, dạy giáo lý và giúp tĩnh tâm. Cha Anphongsô đã cống hiến hết mình cho công việc truyền giáo, cho việc tổ chức hội dòng của mình và trung thành với lời thề của mình. Những người bạn đồng hành đầu tiên của ngài đã bỏ rơi ngài, nhưng ngài vẫn kiên định và chẳng bao lâu sau, số lượng ơn gọi tăng lên và các tu viện mới được thành lập nhiều hơn, trong số những tu viện sớm nhất có Villa Liberi (1734), Ciorani (1735), Pagani (1742), Deliceto (1745) và Mater Domini (1746).

Ngày 25 tháng 2 năm 1749, Đức thánh cha Bênêđictô XIV đã chấp thuận Dòng Chúa Cứu Thế Chí Thánh bằng sắc lệnh Ad Pastoralis Dignitatis Fastigium. Cha Anphongsô được bầu làm bề trên tổng quyền trọn đời tại Tổng công hội được tổ chức cùng năm đó. Do sự thù địch của hầu tước Tanucci và chính phủ, vốn phản đối các dòng tu, nên cha Anphongsô không thể có được quyền thừa kế hoàng gia tại Napoli theo sắc lệnh của Đức Bênêđictô XIV. Một sắc lệnh hoàng gia ngày 9 tháng 12 năm 1752, đã đưa ra sự đảm bảo hạn chế cho tương lai của Dòng, khi đó đang mở rộng hoạt động của mình tại các Quốc gia Giáo hoàng và ở Sicily. Cha Anphongsô cai quản dòng của mình, rao giảng các sứ mệnh và bận rộn với việc viết lách và các công việc tông đồ khác. Ngài được bổ nhiệm làm giám mục của giáo phận Sant’ Agata dei Goti và được tấn phong tại Rome vào ngày 20 tháng 6 năm 1762.

Với tư cách là một giám mục, ngài sớm nổi tiếng vì công cuộc cải cách của mình. Ngài đã chấm dứt các vụ lạm dụng, khôi phục các nhà thờ, đấu tranh cho phụng vụ, cải cách chủng viện của mình, kinh lý giáo phận của mình, thúc đẩy các cuộc truyền giáo và thường đích thân tham gia vào các cuộc truyền giáo, và thực hành lòng bác ái đối với tất cả mọi người, đặc biệt là trong nạn đói lớn năm 1763–64. Ngài luôn để mắt đến việc quản lý giáo đoàn của mình, tại Tổng công hội năm 1764 đã thông qua hiến pháp đã hoàn thành và tiếp tục viết lách. Ngài bị mắc một căn bệnh đau đớn vào năm 1768 khiến cho việc mục vụ trở nên khó khăn; ông đã nộp đơn từ chức khỏi giáo phận của mình và được Đức Piô VI chấp thuận vào năm 1775. Sau đó, ngài nghỉ hưu tại Pagani, nơi ngài cống hiến hết mình cho việc quản lý Nhà Dòng. Những rắc rối liên quan đến luật lệ do chính quyền Vương quốc Napoli gây ra đã làm ông buồn bã trong những năm cuối đời.

Tương lai của hội dòng có vẻ bấp bênh sau khi các tu sĩ Dòng Tên bị đàn áp. Ngài đã đàm phán thông qua một trung gian với chính phủ để có được sự chấp thuận của chính phủ, nhưng quy tắc được nhà vua chấp thuận và áp đặt cho hội dòng – regolamento – khác biệt đáng kể so với quy tắc được ĐGH Bênêđictô XIV chấp thuận. Tòa thánh, trong cuộc đấu tranh với Vương quốc Napoli, đã tước bỏ địa vị giáo luật của các Nhà trong vương quốc thuộc nhà vua và đặt cho các Nhà trong nước Giáo hoàng vị lãnh đạo riêng. Giám mục Anphongsô qua đời trước khi hai nhánh của hội dòng được tái hợp, sau đó mở rộng ra toàn thế giới.

Ngài được ĐGH Piô VII phong chân phước vào ngày 15 tháng 9 năm 1816, được ĐGH Gregorio XVI phong thánh vào ngày 26 tháng 5 năm 1839, và được ĐGH Piô IX tuyên bố là Tiến sĩ Hội thánh vào năm 1871, cuối cùng thánh Anphongsô được ĐGH Piô XII phong làm quan thầy của các cha giải tội và nhà luân lý, vào ngày 26 tháng 4 năm 1950.

From: NguyenNThu


 

Tình hình Venezuela và bài học về cái chết của những kẻ độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Trần Trung Đạo

31/07/2024

Ảnh AP

Một căn bệnh không thuốc nào chữa khỏi mà những kẻ độc tài đều mắc phải là bệnh hoang tưởng quyền lực..

Ngoại trừ một số chết già vì điều kiện cách mạng dân chủ tại quốc gia họ cai trị chưa chín muồi, một phần không nhỏ đã chết một cách thê thảm bằng những cực hình mà họ chưa bao giờ tưởng tượng ra khi còn nắm quyền sinh sát.

.Một hiện tượng đáng lưu ý khác, những kẻ độc tài này thường chết trong tay của những người trước đó không lâu đã thề trung thành với họ.

.Ali Abdullah Saleh của Yemen là một trong những kẻ độc tài cai trị bằng bàn tay sắt suốt 33 năm từ 1978 đến 2011. Gia đình bảy anh em của Saleh nắm giữ hầu hết các chức vụ quan trọng trong chính phủ Yemen. Các cấp thấp hơn được phân bố trong bà con dòng họ. Saleh giao cho con và rể điều hành bộ máy công quyền. Chịu đựng áp lực do ảnh hưởng của phong trào Cách Mạng Hoa Lài Bắc Phi 2011, Ali Abdullah Saleh bàn giao chức vụ tổng thống lại cho phó tổng thống Abdrabbuh Mansur Hadi.

.Ali Abdullah Saleh có tài sản kếch xù ước lượng vào khoảng 22 đến 64 tỷ Mỹ kim được gởi tại nhiều ngân hàng Châu Âu và y có thể sống một cuộc đời đế vương tại Saudi Arabia. Nhưng không, Saleh liên minh với phong trào Yemen Houthis võ trang với ý định tiếp tục cai trị Yemen.

.Ngày 4 tháng 12, 2017, Ali Saleh bị chính những người Houthis mà y tin tưởng giết.

Tháng 8, 2011, khi Tripoli lọt vào tay quân cách mạng Libya, Muammar Gaddafi thay vì trốn sang Chad hay Nigeria đã rút về Sirte, quê hương của ông ta để tìm cách tiếp tục chiến đấu.

.Gaddafi gan lì và can đảm? Không phải. Y không rời Libya vì tin tưởng rằng người dân Sirte được y ưu đãi trước đây vẫn còn yêu mến và sẽ bảo bọc, che giấu y để chờ cơ hội phục hồi quyền lực. Gaddafi lầm. Không ai che giấu, bảo bọc Gaddafi . Ông ta phải trốn trong ống cống ở Sirte nhưng bị lôi ra bắn và thân thể đẫm máu cho thấy đã bị đâm nhiều nhát dao.

Saddam Hussein của Iraq bị xử treo cổ vào sáng ngày thứ bảy, 30 tháng 12, 2006 vì “tội ác chống lại nhân loại” và “tội giết 148 người Iraq Shiites tại Dujail vào năm 1982 sau khi một cuộc mưu sát nhắm vào Saddam Hussein thất bại.”

.Trước đó, TT George W Bush đòi hỏi Saddam Hussein và gia đình phải rời Iraq trong 48 giờ. Trong suốt cuộc chiến kéo dài hơn một tháng, Saddam Hussein có nhiều cơ hội để trốn đi khi liên quân Mỹ và đồng minh tấn công Iraq. Nhưng Saddam Hussein không bỏ trốn vì y tin tưởng vào lòng trung thành của quân đội.

.Saddam Hussein cũng lầm. Một quân đội từng được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới với những sư đoàn Vệ Binh Cộng Hòa (The Republican Guard) tinh nhuệ đã chọn đầu hàng.

Một cái chết gần gũi với giới cai trị CS nhất là cái chết của vợ chồng Nicolae Ceausescu.

Phần đông thế giới ngày nay đã biết khá chi tiết về cái chết của họ. Điều đáng nói là chính Ceausescu trong buổi gặp gỡ Gorbachev chỉ mười ngày trước đó vẫn nghĩ chế độ CS tại Romania sẽ “muôn năm trường trị”.

.Ngày 21 tháng 12, 1989, Nicolae Ceaușescu đọc diễn văn trước hàng trăm ngàn người dân Romania. Họ là những người được cơ quan tuyên truyền huấn luyện khi nào cần phải hoan hô và khi nào cần phải vỗ tay. Khi Ceaușescu đọc diễn văn được khoảng tám phút, một nhóm công nhân nhà máy điện bỗng la lớn “Timișoara! Timișoara!” để phản đối sự kiện công an CS đàn áp đẫm máu hàng ngàn người ở thành phố Timișoara.

.Những người dân được chọn để tham dự cuộc biểu tình nhằm tái lập uy tín của Ceausescu cũng là những người đầu tiên khai tử chế độ. Bốn ngày sau vợ chồng Ceausescu bị xử bắn.

Người muốn xử bắn Ceausescu nhanh chóng chính là tướng Victor Stanculescu, Bộ trưởng Quốc Phòng đầy tin tưởng của Ceausescu.

.Nhà độc tài Nicolas Maduro của Venezuela học thuộc những kết liễu thê thảm của Muammar Gaddafi, Saddam Hussein, Ali Abdullah Saleh, Nicolae Ceausescu và nhiều người khác.

.Học thuộc là một chuyện nhưng chữa khỏi căn bệnh hoang tưởng quyền lực đã ăn sâu vào trong xương tủy là chuyện khác.

.Nicolas Maduro, 62 tuổi, người kế thừa quyền lực của nhà độc tài Hugo Chávez. Theo phóng sự điều tra “Nicolás Maduro là ai?” của báo The Guardian phát hành 15 tháng 4, 2013, Maduro hoạt động trong phong trào học sinh khuynh tả từ khi còn là học sinh nhưng ông ta chưa học hết bậc trung học.

.Mặc dù ít học, Maduro, từ một tài xế xe bus, đã thăng tiến nhanh chóng nhờ sự nâng đỡ của nhà độc tài Hugo Chavez qua nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Quốc Hội, Bộ trưởng Ngoại Giao, Phó Tổng thống, và cuối cùng là Tổng thống Venezuela.

.Suốt thời gian từ khi chiếm được quyền lực, Maduro Cai trị bằng sắc lệnh (Rule by decree), một hình thức độc tài do chính đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Đoàn Kết của Venezuela (United Socialist Party of Venezuela) do ông ta lập ra trao quyền.

.Nicolás Maduro liên tục phải đối phó với hàng loạt các cuộc biểu tình chống đối từ người dân và kết án từ thế giới. Một lần nữa, cuộc bầu cử vừa qua là một cuộc bầu cử gian lận.

Theo bản tin của AP loan hôm nay 30 tháng 7, 2024, Ứng cử viên Edmundo González tuyên bố có bằng chứng số phiếu bầu cho ông ta nhiều gấp đôi số phiếu của Nicolas Maduro. Trên khắp Venezuela các cuộc biểu tình đang nổ ra.

.Các quốc gia độc tài thường nương tựa vào nhau, Nga, Trung Cộng, Cuba, Iran, Syria, Việt Nam đứng về phía Nicolas Maduro.

.Theo bản tin “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác toàn diện với Venezuela” đăng trên báo Nhân Dân, ngày 8 tháng 6, 2024 mới đây nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại Giao Venezuela Yván Gil Pinto và trong dịp này thủ tướng Phạm Minh Chính chính thức mời Nicolas Maduro thăm Việt Nam lần nữa..

Với tội ác trầm trọng chống lại Venezuela trong suốt thời gian cầm quyền, bám lấy quyền lực bằng mọi giá là chọn lựa quy nhất của Maduro. Nhưng Maduro quên rằng mọi chế độ độc tài chống lại các quyền tự do căn bản của con người, sớm hay muộn đều bị lật đổ.

.Cái chết của những kẻ độc tài để lại cho những ai còn đang cố bám lấy quyền lực một bài học: Tình đồng chí chỉ có giá trị khi chiếc ghế quyền lực còn vững chắc, một khi chiếc ghế quyền lực lung lay, kẻ xử bắn không phải ai xa lạ mà chính là những kẻ xưa nay đã thề thốt trung thành.

.Trần Trung Đạo

 (Facebook) 


 

TRỞ VỀ CÁT BỤI – Nhật ký sau khi chết

Nhật ký sau khi chết

– Vào một ngày, khi người không còn nữa, đứng cạnh thân xác đang nguội lạnh, cứng đờ người đã thấy…

Người ghét ta, nhảy múa vui mừng

Người thương ta, nước mắt rưng rưng.

– Ngày Động Quan… thân thể ta nằm sâu dưới lòng đất mẹ hướng về trời tây.

Người ghét ta, nhìn nấm mộ của ta, niềm vui hiện rõ trên gương mặt.

Người thương ta, chẳng nỡ quay đầu nhìn lần cuối.

– Ba Tháng sau, thân xác ta đang dần trương sình, bốc mùi hôi thối, thuở còn sống ta vô cùng ghét côn trùng, giờ đây giòi bọ đang nhăm nhi cái thân mà ta cả đời nâng niu, tàn sát sinh mạng để cung phụng cho nó đủ thức ngon, mặc đẹp, đắp vào bao nhiêu tiền của.

– Một Năm Sau: thân thể của ta đã rã tan… nấm mộ của ta mưa bay, gió thổi… ngày giỗ ta, họ vui như trẩy hội, mở tiệc hội họp ca nhạc, ăn uống linh đình.

Người ghét ta, lâu lâu trong buổi trà dư tửu hậu nhắc đến tên ta…họ vẫn còn bực tức.

Người thương ta, khi đêm khuya vắng lặng, khóc thầm rơi lệ tìm ai bày tỏ.

– Mười Năm Sau: ta không còn thân thể nữa, chỉ còn lại một ít xương tàn.

Người ghét ta, chỉ nhớ mơ hồ tên ta, họ đã quên mất gương mặt của ta.

Người yêu thương ta nhất, khi nhớ về ta có chút trầm lặng. Cuộc sống xô bồ dần dần làm phai mờ đi tất cả.

– Vài Chục Năm Sau… nấm mộ của ta hoang tàn không người nhan khói, quan tài nơi ta nằm đã mục nát, chỉ còn một mảng hoang vu.

Người ghét ta, đã già lú cũng quên ta rồi.

Người yêu thương ta nhất, cũng tiếp bước ta đi vào nấm mộ.

– Đối Với Thế Giới Này…

Ta đã hoàn toàn trở thành hư vô, không ai biết ta từng tồn tại, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, mỗi người một nơi, kẻ già, người chết, những gì ta dùng đã mất, những gì ta để lại rơi vào tay kẻ khác.

Ta phấn đấu, hơn thua, tranh giành cả đời, cũng không mang theo được nhành cây ngọn cỏ. Tiền tài, gia sản mà tôi cố giữ, cố thủ đoạn, mưu mô để có cũng không mang được một phần hư danh, vinh dự hão huyền nào.

– Ta nhận ra sống trên đời này, bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn. Khi nhắm mắt, xuôi tay phải bỏ lại tất cả, trả hết cho đời. Cái ta mang theo được, chính là cái ta đã cho đi là đạo đức là tình thương. Bất giác ta có chút ân hận, lòng lâng lâng một nỗi buồn khó tả, cứ da diết, da diết mãi không thôi.

Bao nhiêu phồn hoa, thoáng qua phút chốc. Trăm năm sau, chỉ còn lại một nắm cát vàng.

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi, lợi danh như bóng mây chìm nổi, chỉ có tình thương ở lại đời.

Đã biết chốn này là quán trọ…

Hơn thua hờn oán để mà chi…

Thử ra ngồi xuống bên phần mộ.

Hỏi họ mang theo được những gì.

From: Do Tan Hung & Kim Bằng Nguyễn

Thánh Inhaxiô (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556)- Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay giáo hội mừng kính Thánh Inhaxiô (I Nhã) Loyola Đấng sáng lập dòng Tên. Mừng lễ quan thầy đến những ai nhận Thánh Inhaxiô làm bổn mạng nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 31/07/2024

Thánh Inhaxiô (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). Vị sáng lập dòng Tên này đang trên đà danh vọng và quyền thế của một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha thì một trái đạn đại bác đã làm ngài bị thương ở chân. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, vì không có sẵn các cuốn tiểu thuyết để giết thời giờ nên ngài đã biết đến cuộc đời Ðức Kitô và hạnh các thánh. Lương tâm ngài bị đánh động, và từ đó khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô.

Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491 tại Loyola, Guipuzcoa, Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc. Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.

Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, cuốn Những Thao Luyện Tâm Linh.

Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Rôma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học hành ở Alcalá, Salamanca và Balê.

Vào năm 1534, lúc ấy đã 43 tuổi, cùng với sáu người khác (trong đó có Thánh Phanxicô Xaviê) ngài thề sống khó nghèo và khiết tịnh và tất cả cùng đến Ðất Thánh. Các ngài thề quyết rằng nếu không thể ở đây thì sẽ dâng mình cho công việc tông đồ của đức giáo hoàng. Và đó là điều đã xảy ra. Bốn năm sau, ngày 15 tháng 8 năm 1534  Ignatius hợp thức hóa tổ chức của ngài. Tu Hội của Ðức Giêsu (The Constitutions of the Society of Jesus / Dòng Tên) được Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận năm 1541 và Ignatius được bầu làm bề trên đầu tiên.

Trong khi các bạn đồng hành được đức giáo hoàng sai đi truyền giáo thì  Ignatius vẫn ở Rôma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi, cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội. Ngày nay Tu Hội của Đức Giêsu (Dòng Tên) phát triển trên 500 đại học với 30,000 thành viên khắp nơi trên thế giới và mỗi năm dạy trên 200,000 học sinh.

Thánh Y Nhã đích thực là một vị thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo – Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên, ad majorem Dei gloriam – “để Thiên Chúa được vinh danh hơn.” Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện, vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà đức giáo hoàng đã sai đi vì sự cứu rỗi các linh hồn.

Trong những năm tháng cuối đời, ngài phải chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật và qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 tại Rome, nước Ý. Đức Giáo Hoàng Pius V đã tôn phong Chân Phước cho Ignatius ở Loyola ngày 27 tháng 7 năm 1609 và Đức Giáo Hoàng Gregory XV đã tôn phong hiển thánh cho Ignatius ở Loyola ngày 12 tháng 3 năm 1622. ( Người Tín Hữu online)

Sau đây là những câu nói của Thánh Inhaxiô Loyola. Mời Bạn suy niệm những lời này để nâng cao tâm trí và linh hồn đến Chúa.

❦ Việc làm đầu tiên là tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng làm như Chúa đang làm mọi sự và bạn không làm điều gì cả.

❦ Ai muốn làm cho những người khác tốt hơn thì vô ích, trừ khi người ấy bắt đầu từ chính mình trước.

❦ Từ thiện và tử tế mà không có chân lý thì là sự giả dối và hư vô.

❦ Sao bạn lại để mọi sự sang một bên cho tháng sau hay năm sau? Tại sao, tại sao bạn lại tin rằng bạn sẽ sống lâu như thế?

❦ Không nên nói hay làm điều gì mà không tự hỏi xem những điều ấy có làm Chúa vui lòng không, có ích lợi cho bạn và có làm ích cho người khác không?

❦ Nếu Chúa muốn cho bạn đau khổ nhiều, đó là dấu hiệu mà Chúa muốn bạn trở nên một vị thánh vĩ đại.

❦ Cẩn thận khi chê trách hành động của người khác. Hãy quan tâm đến ý nghĩ của người khác, có khi họ thành thật và vô tội, dù cho hành động của họ có vẻ xấu xa khi ta nhìn vào. (Nguồn HĐđaminh)

Câu nói nào đánh động Bạn nhất, tại sao?

Lạy Thánh I Nhã, xin Cha Thánh cầu bầu cho con được ơn hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.

From: Do Dzung

**************

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ 

Phía sau những đám tang lớn của chế độ- Blog RFA – Song Chi

Ba’o Tieng Dan

Blog RFA

Song Chi

31-7-2024

Đám tang lớn không chỉ dành cho người chết 

Còn nhớ năm 2013, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã tổ chức một đám tang rất lớn, nói theo ngôn ngữ bây giờ là “hết sức hoành tráng”. Toàn bộ bộ máy truyền thông của đảng đã được huy động hết công suất để ca ngợi ông Võ Nguyên Giáp, hàng trăm bài báo, bài thơ với mọi ngôn ngữ, lời lẽ tốt đẹp nhất, thậm chí so sánh ông Võ Nguyên Giáp ngang hàng với Alexander Đại đế, Napoleon…; rồi những hình ảnh tràn ngập về những dòng người xếp hàng bên ngoài nhà Đại tướng chờ viếng, những khuôn mặt đẫm nước mắt, đoàn xe tang với nghi thức quốc tang…

11 năm sau, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam lại có dịp tổ chức long trọng một đám tang khác cho ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người vừa qua đời ngày 19/7/2024. Lại một lần nữa, bộ máy tuyên truyền khổng lồ với nghệ thuật thuộc hàng thượng thừa của nhà nước cộng sản lại được dịp phát huy. Rất nhiều từ ngữ, cụm từ đẹp đẽ, khoa trương được sử dụng cho ông Nguyễn Phú Trọng và sự kiện này như “người đốt lò vĩ đại”, “người cộng sản cuối cùng”, “nhà lãnh đạo lỗi lạc”, “sau Hồ Chí Minh, Trường Chinh, ngang Lê Duẩn” rồi thì “sự đau thương mất mát lớn của dân tộc, đất nước” v.v…

Đâu là sự giống và khác nhau ở những đám tang này?

Đối với nhà cầm quyền, những đám tang lớn hiếm hoi này là cơ hội để đánh bóng, tô son trát phấn cho chế độ, để cố gắng đề cao tính chính danh của đảng với trong nước và thế giới. Và tất nhiên khi đã đánh bóng thì “tốt khoe, xấu che”.

Với ông Võ Nguyên Giáp, nhà cầm quyền bám vào những chiến thắng trong quá khứ thời chống Pháp gắn với tên tuổi của ông Giáp, nhưng cố tình bỏ qua vai trò của các cố vấn Trung Quốc trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 hay cái giá sinh mạng rất lớn phải trả theo chiến thuật “biển người” của ông Giáp. Báo chí cũng cắt bỏ luôn trong tiểu sử của ông Giáp, giai đoạn ông bị điều làm “Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch” cho đỡ xấu hổ bộ mặt của nhà nước trong khi ai cũng biết có một giai đoạn như vậy trong đời ông Đại tướng.

Với ông Nguyễn Phú Trọng, họ nhắc đến cuộc chiến “đốt lò” chống tham nhũng nhưng bỏ qua sự thất bại của chiến dịch này trước thực tế là hàng trăm hàng ngàn đảng viên, quan chức từ thấp đến cao đã phải từ chức, bị mất chức hay phải vào tù vì tham nhũng, nhưng tham nhũng vẫn tiếp tục hoành hành trong xã hội Việt Nam; cũng như sự thất bại trong việc xây dựng, chọn lựa nhân sự của ông Trọng khi hàng loạt cán bộ do chính ông giới thiệu cũng bị khui ra là tham nhũng.

Họ ca ngợi sự thành công của chính sách ngoại giao đa phương được gọi là “ngoại giao cây tre” của ông Trọng, nhưng bỏ qua sự tai hại của việc quá mềm mỏng, bạc nhược của Việt Nam trước Trung Quốc, và thực tế Việt Nam ngày nay đã bị Trung Quốc bao vây mọi mặt từ biên giới phía Bắc, biển Đông cho tới phía Tây khi mối quan hệ giữa Campuchia và Trung Quốc trở nên gắn bó hơn nhiều v.v…

Cái khác nhau trong cách tuyên truyền là trong trường hợp ông Võ Nguyên Giáp, họ gắn ông Giáp với cái quá khứ chống Pháp, chiến thắng Điện Biên Phủ để nhắc nhở đến điều mà họ cho là “công lao đánh Pháp giành độc lập của đảng Cộng sản”, mặc dù trên thực tế thì có nhiều quốc gia sau thế chiến thứ Hai đã được Anh, Pháp trả tự do độc lập mà không cần phải tiến hành một cuộc chiến hao tốn xương máu. Còn trong trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng thì họ gắn với hình ảnh một người hiếm hoi ngay trong chính đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn tin và suốt ngày nói về chủ nghĩa Mác Lenin, về con đường tiến lên XHCN…giữa lúc đảng Cộng sản từ lâu rồi chỉ còn Cộng sản ở cái tên. Và tình trạng “nhạt đảng, khô đoàn, xa rời lý tưởng, tự diễn biến” trong đảng viên diễn ra rất nhiều, tình trạng cán bộ quan chức tham nhũng càng kinh khủng hơn, cho nên họ phải dùng hình ảnh một người Cộng sản thanh liêm để cố vớt vát bộ mặt của đảng, của chế độ.

Những đám tang này cũng là dịp để trưng ra với người dân và quốc tế hình ảnh đoàn kết một lòng trong nội bộ đảng cộng sản, nhằm cố gắng dẹp đi dư luận về sự bất hòa hay khủng hoảng bên trong. Ví dụ, với ông Võ Nguyên Giáp, rất nhiều người dân hôm nay còn nhớ rõ ông Giáp đã bị Lê Duẩn liên minh với Lê Đức Thọ loại cho ra rìa từ lâu, sau đó bị đưa qua làm Phó Thủ tướng kiêm Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ Có Kế hoạch từ năm 1984; và suốt gần bốn thập niên vừa qua các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản đã đối xử với ông Võ Nguyên Giáp như “một người đã chết”, nhưng khi ông qua đời thì họ lại làm đám tang rình rang, tân dụng cái chết đó cho những mục đích như đã nói ở trên.

Với ông Nguyễn Phú Trọng, ai cũng biết, suốt một thời gian dài kể từ khi phát động cuộc chiến chống tham nhũng, ông Nguyễn Phú Trọng và phe của ông đã khui ra và hạ bệ bao nhiêu quan chức, mối quan hệ giữa ông với những quan chức “ngã ngựa” này không thể nào vui vẻ, tốt đẹp được; càng về sau cuộc chiến càng khốc liệt, thậm chí khi sức khỏe ông Trọng đã suy yếu thì những người mà ông giới thiệu, tiến cử hoặc thân cận cũng bị phe khác, ở đây là phe Tô Lâm, đánh văng như Vương Đình Huệ, Võ Văn Thưởng, Trương Thị Mai v.v…Nhưng trong đám tang của ông Trọng, người ta lại thấy có mặt đầy đủ các nhân vật đã từng bị mất chức hoặc bị buộc phải từ chức như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng. thậm chí một người vừa bị kỷ luật cách tất cả các chức vụ trong Đảng như Lê Thanh Hải cũng xuất hiện…Cứ như thể không có chuyện gì xảy ra, mọi người đều đoàn kết đề huề.

Và cuối cùng, những đám tang của các nhân vật cỡ lớn như Võ Nguyên Giáp hay Nguyễn Phú Trọng là dịp để đảng và nhà nước đo lường, kiểm soát phản ứng của người dân. Ai dám có những lời chỉ trích trên mạng sẽ bị phạt, ai không tỏ ra đau buồn, biết ơn thì sẽ bị “nhắc nhở” ngay.

Yêu hay ghét cũng phải được chỉ đạo và yêu nước có nghĩa là yêu lãnh đạo

Như đã nói ở trên, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã rất thành công trong việc tổ chức một tang lễ lớn, và kiểm soát mọi thứ trong khuôn khổ. Bên ngoài thì lãnh đạo các nước đều chia buồn, một số quốc gia như Lào, Cuba còn để quốc tang, các nước khác thì cử người đến viếng tại đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài hoặc đến Việt Nam dự tang lễ, thậm chí Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken còn đến viếng tận tư gia ông Nguyễn Phú Trọng. Trong nước thì con số hàng trăm ngàn người xếp hàng viếng, có lẽ cũng không thua hồi đám tang ông Võ Nguyên Giáp bao nhiêu.

Nhưng phía sau và bên lề cái đám tang “hoành tráng”, trọng thể đó là gì?

  1. Gia tăng đàn áp trước và trong những ngày diễn ra lễ tang:

Đài RFA tiếng Việt có bài “Việt Nam tăng cường đàn áp trên mạng và ngoài đời trước tang lễ ông Nguyễn Phú Trọng” nêu lên một số trường hợp nổi bật như bà Phạm Thanh Nghiên, cựu tù nhân lương tâm hiện đang sống ở Mỹ và ông Lê Trung Khoa –Chủ bút trang thoibao.de ở Đức bị Facebook thông báo “Bài viết của bạn không hiển thị tại Việt Nam” vì “Chúng tôi nhận được yêu cầu từ Vietnam Ministry of Information and Communications (Bộ Thông tin và Truyền thông- Bộ 4T- PV) đề nghị hạn chế khả năng tiếp cận bài viết của bạn.” Nguyên nhân chỉ vì họ đã có những bài viết có những góc nhìn khác về ông Nguyễn Phú Trọng. Bài báo trên RFA cũng cho hay “Nhiều Facebooker bị phạt tiền, có người bị công an đánh” vì đã “chỉ trích những việc ông [Nguyễn Phú Trọng] đã làm và chưa làm được trong thời gian ông tại thế.”

Chính báo chí trong nước cũng đưa tin “3 chủ tài khoản Facebook bị phạt vì xuyên tạc Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng”, báo VnExpress, “Thêm hai đối tượng đăng tải thông tin xuyên tạc, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước bị xử lý”, báo Tiền Phong, “Triệu tập một số đối tượng đăng tin sai sự thật về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, Báo Lào Cai v.v…

  1. “Đấu tố”, “săn lùng” những ai không buồn, không tỏ ra thương tiếc hay biết ơn ông Tổng Bí thư vừa qua đời:

Còn trên mạng xã hội là hiện tượng “đấu tố”, “săn phù thủy” những người nổi tiếng, nhất là giới showbiz, vì đã không tỏ ra thương tiếc ông Nguyễn Phú Trọng hoặc lỡ xếp lịch biểu diễn trùng ngày đang làm tang lễ. Ví dụ chương trình biểu diễn Mây Concert dự kiến diễn ra tối 27/7 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), trưa 27/7/2024, Ban Tổ chức chương trình nhận được công văn từ Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và đơn vị cho thuê địa điểm về việc tạm dừng chương trình. Fanpage của chương trình đăng bài “kêu cứu” vì đang tổng duyệt thì nhận tin phải dừng chương trình, liền bị “phản ứng” dữ dội, bài viết này đã bị xóa, ban tổ chức đã dời ngày và xin lỗi nhưng vẫn bị “ném đá” (“Mây Lang Thang phải dừng gấp đêm nhạc, xin lỗi nhưng dân mạng vẫn phẫn nộ”, Tiền Phong)

Hay như trường hợp một cô ca sĩ trẻ H.L Hạ Linh bị những người tự cho là yêu nước, kính yêu lãnh tụ đòi “phong sát” chỉ vì cô này đăng lịch trình làm việc (biểu diễn nghệ thuật) của mình lên vào ngày 21/7. Phải đọc những comment mắng mỏ cô này mới thấy hãi v.v…

Thật ra chuyện một nước nào đó có cái gọi là quốc tang thì mọi chương trình biểu diễn vui chơi phải dừng lại là chuyện có thể hiểu được. Nhưng nhân danh “quốc tang”, nhân danh “ngày đau thương mất mát của đất nước, dân tộc” để mắng người khác không buồn, không biết ơn; rồi đòi báo công an, đòi cấm sóng vĩnh viễn ở Việt Nam và nước ngoài (như trường hợp Đàm Vĩnh Hưng bị cấm biểu diễn 9 tháng vì đeo huy chương “lạ”), rồi so sánh với bên Trung Quốc cho rằng fan Việt còn quá hiền, chứ fan Trung là phong sát luôn…thì không còn bình thường nữa rồi.

Những thái độ này từ đâu mà có?

Nếu không phải là dư luận viên tức là những người được trả tiền, ăn lương của nhà nước để theo dõi, báo cáo những bài viết nào trên mạng có tính phê phán, chỉ trích nhà cầm quyền và các quan chức lãnh đạo, chỉ ra những sự thật về thực trạng xã hội Việt Nam; mà là những người bình thường nhưng lại có những phản ứng, ngôn ngữ cực đoan như vậy thì chúng ta thấy gì?

Rõ ràng là sau gần 80 năm độc quyền lãnh đạo ở miền Bắc và gần nửa thế kỷ độc quyền lãnh đạo trên toàn quốc, đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã quá thành công trong việc tạo nên vài thế hệ bị tẩy não, tin và nghe theo những gì đảng và nhà nước nói, gắn việc yêu nước với yêu CNXH, yêu nước với yêu kính lãnh đạo.

Người Việt Nam chúng ta đã từng bật cười khi đọc những bài báo của Triều Tiên ca ngợi các lãnh tự họ Kim của họ ra sao, hay những hình ảnh người dân Bắc Hàn khóc ngất lên ngất xuống trong đám tang lãnh tụ Kim Jong-il, chúng ta có bao giờ giật mình nghĩ rằng thế giới thật sự nghĩ gì về cách báo chí Việt Nam đưa tin về việc hàng trăm ngàn người khóc trong đám tang ông Giáp trước kia hay trong đám tang ông Trọng bây giờ với những câu như “đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa” và “Dân đã thờ ai thì không sai bao giờ”? Và họ sẽ nghĩ gì nếu biết đến những cuộc “đấu tố”, “săn phù thủy” trên mạng để tìm ra ai không khóc, không thương tiếc, biết ơn ông Trọng?

Những cuộc đấu tố kiểu này khiến nhiều người, nhất là những người có tên tuổi mà công việc của họ tùy thuộc rất nhiều vào dư luận, vào sự yêu thích của đám đông như văn nghệ sĩ, giới biểu diễn… ngày càng ít dám chia sẻ thành thật cảm xúc, suy nghĩ của mình trên mạng xã hội. Họ sẽ sống theo thời, trưng ra những tình cảm yêu ghét theo đám đông.

Có phải nhiều người Việt có tính thích thần tượng hóa ai đó và nếu có thì tại sao?

Thứ nhất, do người Việt chúng ta phải sống quá lâu trong một chế độ độc tài có xu hướng thần thành hóa, thần tượng hóa các lãnh đạo từ thời ông Hồ Chí Minh, ông Lê Duẩn, ông Võ Nguyên Giáp… rồi bây giờ là ông Nguyễn Phú Trọng. Thứ hai là do chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục tuyên truyền một chiều, thường xuyên cắt xén sửa đổi bóp méo lịch sử và hiện thực cho phù hợp với quan điểm và vai trò của đảng, một nền giáo dục chỉ đọc và chép, làm theo văn mẫu, không dạy cho học trò và cả sinh viên thôi quen suy nghĩ độc lập, tư duy phản biện (critical thinking)…

Thứ ba nữa là Việt Nam dù sao vẫn là một nước Á Đông, văn hóa Nho giáo, Khổng giáo lâu đời vẫn còn ảnh hưởng, trong đó người trẻ được dạy phải tôn trọng người già, tôn trọng thầy cô cha mẹ cấp trên, những người dám cãi lại hay nói khác cha mẹ, thầy giáo, sếp…thường không được đám đông đồng tình; và trong xã hội đó thì cái tôi cá nhân không được coi trọng mà phải xếp sau gia đình, dòng tộc, làng xã …

Cái tính thần thành hóa lãnh tụ này còn xuất phát từ trong thâm tâm sâu xa một số người dân vẫn khao khát một vị “minh quân”, một quan chức tử tế. Giữa tình trạng hàng trăm hàng ngàn quan chức sống xa hoa, tham nhũng nặng nề thì cứ nghe nói ông Trọng thanh liêm, sống giản dị, quyết liệt chống tham nhũng là tin, là kính trọng, còn những mặt trái hay những sự thật về con người và xã hội dưới thời ông Trọng ra sao, người dân bình thường làm sao biết được.

Còn việc khó chấp nhận sư khác biệt cũng do sống trong một xã hội độc tài, quen phải nghĩ và sống theo “chỉ đạo”, theo đám đông. Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam đa số là người Kinh, cho dù có 54 sắc dân bản địa, dân tộc thiểu số nhưng vẫn là người Việt Nam, khá là thuần nhất; không phải như Mỹ, Canada, Úc, hay các nước châu Âu… ở đó con người ta đến từ mọi nơi trên thế giới, khác nhau về nguồn gốc, sắc tộc, tôn giáo, với cả một hành trang văn hóa lịch sử khác nhau, cho nên người ta đã quen với việc chấp nhận sự khác biệt và sống hòa hợp với những sự khác biệt, và vì vậy trở nên khoan dung hơn.

Cả hai hiện tượng thích thần tượng hóa ai đó hay khó chấp nhận sự khác biệt đều là hệ quả của việc thiếu thói quen suy nghĩ độc lập, thiếu tư duy phản biện, không trưởng thành.

Còn nhớ câu thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:

Dân hai nhăm triệu ai người lớn?

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con

Câu thơ viết từ những năm hai mươi của thế kỷ XX đến giờ vẫn đúng.

So với xã hội Bắc Hàn bị khép kín với thế giới, xã hội Việt Nam mở hơn, người dân Việt Nam chính thức kết nối Internet toàn cầu từ năm 1997 tức là gần 30 năm qua, vậy nhưng hầu như nhận thức chung về chính trị không khá hơn Bắc Triều Tiên là bao nhiêu. Cứ nhìn vào những gì diễn ra trước và trong đám tang ông Nguyễn Phú Trọng là có thể thấy điều đó. Và đây là một điều rất đáng buồn.


 

Harris nhắn với Trump: ‘Ông muốn nói gì thì nói thẳng vào mặt tôi’

Ba’o Nguoi-Viet

July 31, 2024

ATLANTA, Georgia (NV) – Hôm Thứ Ba, 30 Tháng Bảy, Phó Tổng Thống Kamala Harris xuất hiện trước đông đảo khán giả tại Georgia, một tiểu bang chiến chiến trường quan trọng, lên tiếng chỉ trích cựu Tổng Thống Donald Trump về các vấn đề nóng hổi như an ninh biên giới, The Hill loan tin.

“Chắc là quý vị cũng dần dần cảm nhận được rằng, diễn tiến trong cuộc bầu cử năm nay đang đổi chiều và dường như Donald Trump cũng đang cảm nhận được điều đó,” Harris nói với khán giả tại Atlanta.

Bà chê bai Trump vì “rút lui” khỏi cuộc tranh luận sau khi cựu tổng thống nói rằng ông “có thể” đấu khẩu với Harris tại cuộc tranh luận được đôi bên đồng thuận vào Tháng Chín.

Phó Tổng Thống Kamala Harris phát biểu tại một buổi vận động tranh cử ở Atlanta, Georgia, ngày 30 Tháng Bảy, 2024 (Hình: ELIJAH NOUVELAGE/AFP/Getty Images)

“Này Donald, mong là ông suy nghĩ lại chuyện đối đầu với tôi trên sân khấu tranh luận vì ông muốn nói gì thì cứ nói thẳng vào mặt tôi,” Harris vừa dứt thì khán giả đồng thanh reo hò.

Harris tới Atlanta nhằm tìm cách thu hút cử tri trước làn sóng năng lượng mới, có thể thấy được từ cả hoạt động gây quỹ lẫn ghi danh làm tình nguyện viên từ lúc bà tuyên bố trông cầu đề cử chính thức của Đảng Dân Chủ cách đây hơn một tuần. Harris lưu ý rằng bà tập trung vào Georgia trước Tháng Mười Một, nơi Tổng Thống Biden từng giành chiến thắng năm 2020 với ít hơn 12,000 phiếu bầu.

Harris công kích Trump về vấn đề biên giới, thề ký ban hành luật luật nhập cư lưỡng đảng từng được đặt lên bàn cân tại Thượng Viện nếu bà đắc cử.

“Trong chiến dịch này, tôi tự hào lấy thành tích luật pháp tôi từng có được để chống lại ông ấy không sót một ngày nào trong tuần,” Harris nói, nhấn mạnh rằng với tư cách là tổng chưởng lý California, bà từng truy tố các băng đảng xuyên quốc gia, các băng đảng ma túy và những kẻ buôn người.

Harris lưu ý rằng Đảng Cộng Hòa tại Thượng Viện ngăn không cho dự luật được thông qua hai lần sau khi Trump hối thúc Đảng Cộng Hòa phản đối luật định, cho rằng điều đó có thể đem lại chiến thắng cho Biden trong năm bầu cử.

“Nếu thắng cử, tôi sẽ hồi sinh dự luật an ninh biên giới bị Donald Trump nhấn chìm, đồng thời tôi sẽ ký thành luật và cho Donald Trump thấy thế nào mới là một nhà lãnh đạo thực sự,” bà nói thêm.

Sau khi dự luật được Biden tích cực vận động hành lang nhưng bất thành, tổng thống bèn ban hành một sắc lệnh hành pháp nhằm từ chối di dân xin tỵ nạn xâm nhập biên giới phía Nam bất hợp pháp tại những thời điểm quá tải do phải giáp mặt di dân hàng ngày.

Sáng Thứ Ba, chiến dịch tranh cử của Harris công bố một đoạn phim mới về biên giới, phản pháo Trump sau khi chiến dịch của ông cũng đăng một quảng cáo gắn mác Harris với xú danh “sa hoàng biên giới” trong chính quyền Biden, ám chỉ chính sách do bà hoạch định trong việc giải quyết căn nguyên của làn sóng di dân ở khu vực Tam Giác Miền Bắc.

Harris cũng nói trước đông đảo khán giả tại Atlanta rằng “giá cả tiêu thụ vẫn còn quá cao” và nêu rõ những bước đi bà sẽ làm để hạ giá, nói rằng “trong Ngày Đầu Tiên,” bà sẽ thực thi các chính sách chẳng hạn như hạn chế tình trạng tăng giá quá mức, cấm thêm các khoản phí không minh bạch, hạn chế mức tăng tiền thuê nhà “không công bằng” và hạn chế giá thuốc kê toa cho toàn bộ dân Mỹ.

Các kế hoạch kinh tế của Harris phần lớn phù hợp với các lời hứa trong chiến dịch tranh cử của Biden lúc ông còn tham gia tái tranh cử, và phần lớn trong số đó, đặc biệt là chiến dịch trấn áp các khoản phí bất minh, là hành động triệt để do chính quyền Biden thực hiện nhằm chống lạm phát.

Ngoài ra, Harris cho biết với tư cách là tổng thống đắc cử, bà sẽ thông qua các dự luật về quyền bỏ phiếu, gồm có Đạo Luật Tự Do Bỏ Phiếu và Đạo Luật Quyền Bỏ Phiếu John Lewis. Georgia là tâm điểm liên quan tới các chính sách bầu cử gây tranh cãi sau khi Thống Đốc Brian Kemp thuộc Đảng Cộng Hòa thông qua một đạo luật vào năm 2021, cấm phân phối thức ăn hoặc nước uống cho những cử tri đang chờ bỏ phiếu, cùng với các lệnh cấm khác.

Hai trong số những nghệ sĩ nhạc rap da đen danh tiếng nhất, Quavo và Megan Thee Stallion, bước lên sân khấu trước khi Harris mở màn phần phát biểu đồng thời kêu gọi khán giả hãy chuẩn bị sức lực cho Tháng Mười Một.

“Chúng ta sắp viết nên lịch sử với nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ,” nghệ sĩ nhạc rap từng đoạt giải Grammy, Megan Thee Stallion, nói. “Nữ tổng thống da đen đầu tiên của Hoa Kỳ.”

Quavo, dân xứ Atlanta và cũng là thành viên của ban nhạc hip-hop Migos, lưu ý rằng ông từng làm việc với Harris nhằm giải quyết tình trạng bạo lực súng đạn, rằng “Một điều tôi học được từ phó tổng thống đó là bà ấy luôn luôn kiên định với con đường đã vạch ra.” (TTHN)


 

Chém người bằng gươm Samurai, bà gốc Hoa bị buộc tội sát nhân

Ba’o Nguoi- Viet

July 29, 2024

LOS ANGELES, California (NV) – Một người phụ nữ bị bắt trong tháng này liên quan tới một vụ hành hung trong gia đình bằng gươm Samurai, vừa bị buộc tội sát nhân và mưu sát.

Hôm Thứ Hai, 29 Tháng Bảy, Biên Lý Cuộc Los Angeles thông báo Weichien Huang bị buộc tội giết vợ của bà và toan tính giết luôn mẹ vợ.

Huang bị bắt ngày 18 Tháng Bảy ở San Dimas khi cảnh sát Los Angeles LASD tới dãy nhà số 300 đường South Huntington Avenue và thấy một người phụ nữ đi bộ trên đường, tay lê theo một thanh gươm katana, loại mà chiến binh Samurai Nhật Bản thường dùng.

Weichien Huang cầm gươm đi trên đường phố San Dimas trước khi bị cảnh sát LASD chặn bắt ngày 18 Tháng Bảy, 2024 (Hình: Danielle Leivo/KTLA)

Cảnh sát chặn người phụ nữ lại, ra lệnh cho bà bỏ gươm xuống, và giơ hai bàn tay vấy đầy máu lên trời đầu hàng.

Sau đó, giới chức cho biết, Huang đưa cảnh sát về một căn nhà gần đó, nơi có một người phụ nữ đã chết và một người nữa bị thương.

Do những người liên can nội vụ chỉ nói tiếng Hoa, không có nhiều chi tiết được cung cấp vào thời điểm đó.

Nay thì Biện Lý Cuộc cho biết, Huang bị buộc tội giết vợ là bà Fei Chen Chen, bằng thanh gươm tại nhà. Huang cũng bị buộc tội tấn công người mẹ vợ cao tuổi, nhưng bà này sống sót sau một tuần chữa trị thương tích trong bệnh viện.

Công Tố Trưởng George Gascón của Los Angeles nói vụ tấn công bạo lực này là một thí dụ “vấn đề ẩn khuất tai hại của bạo lực gia đình ảnh hưởng nhiều người trên toàn đất nước chúng ta.”

Huang ra tòa Pomona vào Thứ Hai để chính thức bị buộc một tội sát nhân và một tội mưu sát, với cáo trạng gia trọng vì gây thương tích cho một người trên 70 tuổi và dùng một thanh gươm trong khi gây án.

Công tố viên yêu cầu giam giữ Huang với $3 triệu tiền thế chân. Nếu bị phán có tội, Huang có thể đối diện mức án tối đa là tù chung thân.

Cảnh sát LASD vẫn đang điều tra vụ án này. (TTHN) 


 

MỘT MÌNH – Lang Thang Chiều Tím

Lang Thang Chiều Tím

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  “Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình, ngoài hiên nắng lóe, đàn chim giật mình…” đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình “biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

“Nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành, đời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…”  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận “tình duyên trăm mối, một kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì túy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

CHỐN NƯƠNG MÌNH  – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Chúa là chốn con nương mình!”.

Đọc Augustinô, chúng ta hiểu thế nào là sự chữa lành! “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy Thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!”. Và Augustinô kết luận, “Lãng quên Thiên Chúa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa là sống!”; “Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Lãng quên Thiên Chúa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa là sống!”. Cùng với Tin Mừng hôm nay, Thánh Vịnh đáp ca – “Chúa là chốn con nương mình!” – cho thấy hành trình cuộc đời mỗi người là một hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, tìm kiếm kho báu, tìm ‘chốn nương mình’.

Có ‘chốn nương mình’ tạm bợ; có ‘chốn nương mình’ bền vững! Và Giêsu, ‘chốn’ đáng nương mình nhất vì Ngài là ‘Kho Báu’ của mọi kho báu! Sự bồn chồn trong trái tim mỗi người về một tình yêu có thể sánh với sự bồn chồn của người đi tìm kho báu. Theo những cách khác nhau, chúng ta trải qua những khát khao về một tình yêu vô điều kiện; một bảo đảm hạnh phúc đời này, đời sau và câu trả lời cho mọi nan đề. Trong Chúa Giêsu, chúng ta có tất cả! Hãy đào sâu ý thức về sự vĩ đại của món quà tình bạn mà Ngài ‘tặng không’ như người kia tình cờ tìm được kho báu ngoài đồng. Hãy ra sức tìm kiếm và củng cố tình bạn này bằng sự cởi mở trước tình yêu của Ngài như người kia ‘rảo khắp’ tìm ngọc đẹp. Và bạn sẽ nghiệm ra Giêsu là ‘chốn nương mình’ đích thực nhất.

Trong Chúa Giêsu, chúng ta khám phá cuộc sống mình có giá trị vô hạn trước mặt Thiên Chúa; trong giáo huấn Ngài, chúng ta khám phá sự khôn ngoan để xây dựng cuộc sống mình trên nền tảng vững bền; và trong ân sủng Ngài, chúng ta nhận được sức mạnh để lớn lên trong tình yêu! Kho báu Giêsu là nơi đầu tư tốt nhất cho một tương lai vững chắc; nơi mỗi người có thể sống ơn kêu gọi ‘cho sự vĩ đại’ của mình. Vì thế, hãy gác lại mọi bận tâm khác để làm sao thực sự sở hữu Ngài! Hãy bỏ qua một bên bất cứ điều gì tìm cách mang lại cho chúng ta một cảm giác an toàn ngoài Ngài! Vì lẽ, không chỉ là ‘chốn nương mình’, Chúa Giêsu còn là Đấng biến đổi tất cả những ai tìm Ngài nương thân!

Giêrêmia đã nói lên niềm xác tín đó khi coi Thiên Chúa là ‘chốn nương mình’, coi Lời Ngài như của ăn – bài đọc một. “Gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ”; và Chúa phán, “Chúng có chống lại ngươi cũng chẳng làm chi được, vì Ta ở với ngươi để cứu sống và giải thoát ngươi!” đúng như lời Thánh Vịnh đáp ca, “Chúa là chốn con nương mình!”.

Anh Chị em,

“Chúa là chốn con nương mình!”; “Con càng khốn khổ, Ngài càng gần con!”. Ai gần Giêsu, sở hữu Giêsu, người ấy sở hữu Thiên Chúa, sở hữu thiên đàng. Augustinô và các thánh sở hữu Giêsu, họ được Ngài biến đổi. Như vậy, với Chúa Giêsu, một con tim không hoán cải, không thể dịch chuyển, là một con tim của người đánh mất khả năng cảm nhận rằng, mình được yêu; đánh mất khả năng đó, bấy giờ, sẽ là đánh mất một kho tàng! Hãy như Augustinô, như các thánh, một khi tìm được Giêsu, bạn và tôi hãy cố ôm chặt Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, “con càng khốn khổ, Ngài càng gần con”. Cho con biết rằng, càng gần thế gian, con càng nghèo; càng gần Chúa, con càng bớt nghèo và giàu ra!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*****************

Thứ Tư Tuần XVII, Mùa Thường Niên, Năm Chẵn

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

44 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho dân chúng nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. 46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Xe lôi, xe kéo & xe ôm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

30/07/2024

Từ Rạch Giá, nhà văn Thận Nhiên đã gửi đến độc giả xa gần tấm hình của người đàn ông gầy gò/đen đủi, ngồi trên chiếc xe lôi (trong một con phố nào đó) ở thị xã này. Bức ảnh tuy chỉ đơn sơ và giản dị thế thôi nhưng vẫn khiến tôi không khỏi ngậm ngùi tự hỏi, theo thói quen nghề nghiệp:

  • Xe của thằng chả hay là xe thuê vậy ta?

Dù đều phải “nhọc nhằn cam chịu mưu sinh” nhưng dân chạy mướn phải đổ mồ hôi gấp đôi mới đủ ăn vì tiền thuê xe khá bộn. Tuy thế, đây vẫn chưa phải là đám cùng đinh mạt hạng. Ít nhất thì họ cũng còn có đủ “uy tín” và “tư cách” để thuê được một cái xe.

Tôi thì không!

Không tiền, không nhà, không một tờ giấy lận lưng, cũng không quen biết bất cứ một ai ở Rạch Giá – ngoài ông chủ ghe tổ chức vượt biên nhưng thằng chả đã bị công an bắt mất tiêu rồi.

Lạnh và đói nên giấc khuya tôi hay la cà trước rạp hát Châu Văn ở trung tâm thành phố. Nơi đây, ngoài mấy cái xe hủ tíu/mì của người Tầu, còn có hơn chục cái bàn ăn thấp lè tè chuyên bán rượu đế (tôm khô, củ kiệu, cải chua, hột vịt bắc thảo, hột vịt muối …) và cháo trắng cho đám dân nghèo mà phần lớn đều là phu xe cả!

Tôi chưa lần nào dám xin xỏ gì ai (và cũng chả bao giờ giành giật chi với đám trẻ bụi đời còi cọc) chỉ lặng lẽ đi loanh quanh nhặt những mẩu thuốc lá hay thu vét chút thực phẩm thừa cho vào một cái lon gô, rồi tìm một góc khuất ngồi ăn.

Đôi lúc, tôi cũng được mời một ly rượu nhỏ, hay một chén cháo khuya, từ quí vị thực khách hảo tâm và hào sảng. Thảng hoặc, cũng có một hai tay chạy thuê may mắn (kiếm đủ sở hụi sớm hơn mong đợi) nên họ có thể yên tâm ngồi nhậu lai rai và cho tôi được mượn tạm cái xe – đạp lòng vòng – kiếm khách.

Tôi vợ con không có (mèo chó cũng không) và lại rất hảo rượu nên kiếm được đồng nào cũng đều bỏ hết vào bàn nhậu để chung vui với mọi người. Ai cũng vui như Tết nên dần dà tôi được dân xe lôi ở Rạch Giá “chấp nhận” như là một thành viên chính thức, và rồi cũng thuê được một cái xe, như nhiều người khác.

Từ đó, tôi sống khỏe! Ngày nào cũng cơm no, xui lắm mới có hôm chỉ chạy đủ tiền thuê xe và đành phải nhai khoai nướng hay chuối nướng (chan nước dừa) cho qua bữa. Đêm lại càng khoẻ nữa. Từ đây, khỏi còn lo chuyện bắt bớ lôi thôi như trước.

Thỉnh thoảng, bạn đồng nghiệp trúng mánh (chắc mới chở dầu cho ghe vượt biên) còn lôi dậy rủ nhậu vài ly nữa chớ. Sau khi uống “sương sương” chừng nửa chai, có người còn rủ rê về chơi (cho biết nhà biết cửa) dù giữa đêm khuya khoắt.

Tôi chả hề phân biệt (hay kỳ thị) ngày/đêm gì sất nên gật đầu là cái chắc. Thực sự, tôi không cần chỗ ngủ nhưng cần được xối vài gáo nước cho sạch sẽ và mát mẻ. Tắm rửa là một trong những nhu cầu cấp thiết nhưng rất khó thực hiện khi lâm vào cảnh … không nhà!

Nói chung là tôi OK. Không có gì để phàn nàn cả, nếu so với cuộc sống nhếch nhác của đám phu kéo xe thời trước :

“Ở Hà Nội có tới ngàn rưỡi người chỉ vì bát gạo mà làm cái nghề kéo người. Bất cứ trời rét hay trời nóng, đang mưa như trút nước hay đang nắng như hun trời, đút đầu qua hai cái càng gỗ, anh em phu xe phải thúc tay co vó, chạy bở hơi tai, mình mẩy nhễ nhại mồ hôi, áo quần ướt như dúng nước. Họ khó nhọc như thế để kiếm cái gì! – Năm ba xu, một hào, một cuốc. Vừa đúng số tiền để mua ít cơm đút miệng, cái thứ cơm thổi bằng gạo hẩm trộn với ít nước hàng. Ăn để mà sống, ta không cần nói đến cái ăn! Nhưng sống nào đã được yên?” (Tam Lang. Tôi Kéo Xe. Mai Lĩnh, Hà Nội: 1935).

Đạp xe lôi cũng không “yên” lắm nên một đêm tối trời – vào tháng 3 năm 1980, khi mà nước biển êm ru như nước trong lu – tôi đã đành đọan bỏ Rạch Giá ra đi. Tôi  đến được nơi mà người ta sẵn sàng cấp phát cho mình một cái căn cước mới (với tên họ cũ) và một cái thẻ cử tri mà không cần phải qua một cuộc điều tra lý lịch xét nét hay lôi thôi nào cả. Nói cách khác là tôi đã tìm được một cơ hội đổi đời.

Những bạn đồng nghiệp còn lại tại Rạch Giá thì không. Tấm ảnh Thận Nhiên chụp được gần nửa thế kỷ sau, vào hôm 21 tháng 3 vừa qua, cho thấy là họ vẫn sống như xưa: chưa ráo mồ hôi đã cạn túi rồi!

Ở những thành phố lớn mới có ít nhiều đổi thay. Xe lôi và xích lô nay đã được thay thế bằng xe ôm hay xe grab. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét: “Những cảnh làm ruộng của những người nông dân của mấy chục năm trước kia và bây giờ chẳng khác nhau chút nào. Có khác thì chỉ khác một điểm. Đó là người nông dân đi sau đít con trâu mấy chục năm trước kia hiện ra trong ảnh đen trắng còn người nông dân bây giờ vẫn đi sau đít trâu nhưng là trong ảnh màu rực rỡ.”

Những thay đổi trong giới phu phen ở thành phố, xem chừng, có vẻ “triệt để” hơn thế. Phu quét rác nay đã trở thành “công nhân vệ sinh đường phố” với đồng phục đàng hoàng và tươm tất. Đám phu xe kéo hay xe lôi cũng thế. Họ được mệnh danh là “công nhân công nghệ xe ôm” với phương tiện hành nghề là những chiếc xe máy tân kỳ (với đủ loại sắc mầu tươi tắn thật sự) chứ chả phải là “ảnh mầu” đâu.

Chỉ có sự cơ cực thì dường vẫn không khác mấy. Báo Tuổi Trẻ vừa đăng tải một bài viết ngắn (Xe Ôm Chắt Bóp Mưu Sinh”) với những chi tiết não lòng: “Những ngày qua, nhiều tài xế xe ôm phải tăng giờ chạy xe từ 10 tiếng lên 14-15 tiếng mỗi ngày để bù đắp cho các khoản chi phí gia tăng. Cuộc sống họ đang phải đắp đổi từng ngày.”

Bài báo thượng dẫn cũng trích dẫn vài lời tâm sự của đôi ba người trong cuộc :

  • Nguyễn Văn Thảo: “Dân chạy xe ôm chỉ qua năm thứ ba, thứ tư trở lên đã hay đổ bệnh, mà nhiều nhất là bệnh hô hấp và mắt vì khói bụi. Còn tai nạn thì chỉ biết tự an ủi là gặp xui xẻo thôi.”
  • Trần Văn Chí: “Rất nhiều dân xe ôm chạy đến nát xe và không dành nổi tiền để mua lại xe mới. Nghĩ lại cứ y như lấy mỡ mình rán mình.”
  • Ngô Du: “Sáng xách chiếc xe ra đổ 100 ngàn xăng để mưu sinh. Họ đã cúng cho nhà nước 64 ngàn. Chạy một cuốc xe… Nộp thêm 10% VAT nữa.”

Blogger Nguyễn Thùy Dương cho biết thêm :

“Mội tài xế chạy Grab được xem như một giám đốc doanh nghiệp riêng lẻ. Và mức thuế họ chịu bằng với mức thuế của một doanh nghiệp vận tải. Đúng là một niềm vui hiếm thấy, khi chỉ cần một bản xác minh lý lịch của địa phương, một chiếc xe máy, một cái điện thoại, một bộ đồ, 2 cái nón bảo hiểm, 2 triệu đồng ký quỹ, từ người tốt nghiệp Tiểu học cho đến Cử nhân Đại học đều có thể cùng nhau làm Giám đốc doanh nghiệp.

Các giám đốc doanh nghiệp này không được giảm trừ gia cảnh, không được trừ các loại thuế phí hao hụt, không có chế độ bảo hiểm, không có chế độ đãi ngộ. Ngày đêm, họ cần mẫn nuôi ‘Má mì’ Grab và đóng góp vào ngân sách Quốc gia.”

Thùy Dương giúp tôi nhớ đến đôi câu ca dao Việt Nam mà mình đã quên bẵng từ lâu, sau nhiều năm viễn xứ: Thương thay thân phận con rùa/Lên đình cõng hạc xuống chùa đội bia!


 

Bàn về Hạnh phúc- Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Tôi là con người của thường dân, hay viết về những gì diễn ra xung quanh mình bằng những từ ngữ đơn giản. Hôm nay, tôi sẽ cố gắng dùng những từ đơn giản để nói về một vấn đề tưởng như phức tạp mà lại thật là đơn giản

Gần đây có vụ ông « giáo sư » Phan Văn Trường nói về hạnh phúc về tiêu chuẩn văn minh…

Giáo sư đã trở thành người nổi tiếng rầm rầm và cũng bị ăn rất nhiều gạch đá. Nhân vụ này, tôi mạo muội bàn về hạnh phúc.

Hạnh phúc không phải là một vật chất cụ thể, chỉ là 1 trạng thái, không cân đong đếm được vì thế mấy kẻ lộng ngôn cũng có thể dựa vào đó để múa mép biện hộ cho 1 cái gì đó hoặc dẫn dắt du luận.

Thực ra, theo tôi, hạnh phúc cũng chẳng phải một khái niệm gì trìu tượng đến mức khó hiểu và người ta muốn nói thế nào cũng được.

Có rất nhiều người định nghĩa hạnh phúc khác nhau. Mình tổng kết lại thì đại loại như sau :

« Hạnh phúc là một trạng thái của một đời sống viên mãn, luôn luôn có sự hài lòng, nó đươc thể hiện bởi những cảm xúc tích cực, những thành công trong cuộc sống và sự cân bằng trong tất cả các khía cạnh của cuộc sống »

Tuy nhiên, nói như vậy vẫn rắc rối quá. Nếu cứ nói một cách dân dã nhất và ngắn gọi nhất thì hạnh phúc chẳng qua là sự sung sướng. Hết chuyện.

Tuy nhiên cái sự sung sướng ở đây nó phải được hiểu như một sự sung sướng bình thường được đa số chấp nhận hay cho đó là sung sướng. Nói như vậy là để loại những kẻ lý luận cùn cho rằng ăn C hay ở tù cũng có thể là là sung sướng…

Đúng là mức độ thỏa mãn của con người rất khác nhau. Có người cần phải có nhà lầu xe hơi… thì mới sướng, có người chỉ cần có một căn nhà nhỏ và 1 cái xe đạp. OK, cái đó đúng. Tuy Nhiên, để đáp ứng được cái sướng thì cũng cần phải có một cái tối thiểu gì đó. Không có nó thì chắc chắn không thể sướng được mà thậm chí đau khổ. Muốn sướng bắt buộc phải có một lượng vật chất nhất định đã.

Bây giờ nói về cảm nhận sự sướng(hay hạnh phúc)

Sáng nay, tình cờ đọc được bài kể về một cậu bé. Bố chết, mẹ bỏ nhà lên thành phố « làm việc » và không bao giờ về. 3 anh em phải ở với bà ngoại và đi làm thêm để kiếm sống. Rồi bà cũng chết nên cậu bé phải lên thành phố tìm mẹ, sống vất vưởng, trong người chỉ có mấy nghìn đồng…Cậu bé được người chủ quán phở cho ăn và cho tiền để quay về quê.

Nếu hỏi cậu bé có hạnh phúc không thì chưa chắc nó đã biết trả lời cho đúng và có khi cũng không hiểu hạnh phúc là gì.

Một thí dụ khác nữa là có 1 bạn lý luận rằng một bộ phận dân Ấn độ không có nhà cửa, sống vất vưởng cùng với chuột, với cứt đái…  họ không cảm thấy đau khổ và vậy họ có thể vẫn hạnh phúc.

Nhưng nếu hỏi đa số quần chúng trên thế gian này thì tất cả những người bình thường đều cho rằng hai thí dụ nêu trên là những trường hợp khổ(hay bất hạnh).

VẬY, SUNG SƯỚNG (HAY HẠNH PHÚC) CÒN PHẢI LÀ SỰ CẢM NHẬN, SỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SỐ ĐÔNG CHỨ KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ SỰ CẢM NHẬN CỦA 1CÁ NHÂN, MỘT THẬP THỂ (Nhiều khi) VÔ THỨC.

Đây là tôi mới đang nói về sự sướng liên quan đến đời sống vật chất. Người ta cũng không thể sướng được khi phải sống trong một xã hội không có tự do. Và trớ trêu thay, kể cả có rất rất nhiều vật chất mà không có tự do thì vẫn chỉ là thân nô lệ bất hạnh. Vật chất không có nhiều, tự do cũng không có thì không thể nói là dân hạnh phúc hơn được. Đó chỉ là một thứ ngụy biện bằng thước đo hạnh phúc và văn minh riêng của mình.


 

Chuγện xảγ ra ở hành lang một Ьệпh viện-Truyen rat ngan

Võ Thanh

Chuγện xảγ ra ở hành lang một Ьệпh viện. Cô con dâu nhăn mặt nói với chồng:

– Ở nhà đủ thứ ρhải lo, làm sao mà vô trong đâγ hầu ba được?

Anh nói cô Năm haγ cô Bảγ ở không thì chia nhau vô chăm sóc ba “.

Anh con trai chưa kịρ trả lời thì có lẽ cô Năm haγ cô Bảγ gì đó đã cong môi ρhản đối:

– Tui cũng có đủ thứ chuγện để lo chứ bộ, quên tui đi”.

Một cậu con trai khác cau cau lông màγ:

– Nói chung là ai cũng bận hết, với lại ba mắc Ьệпh lâγ nhiễm, vô hầu ba rồi lỡ bị lâγ thì làm sao ?

Cô con dâu trưởng ρhán một câu:

– Thôi khỏi bàn tán gì hết, mướn người nuôi là xong chuγện.

Tất nhiên sau đó, sự việc xảγ ra đúng như hoạch định của họ.

Một ρhụ nữ khỏe mạnh, có dáng vẻ nông dân đang nuôi một người Ьệпh nằm giường bên cạnh ông cụ đã chủ động đề nghị nuôi Ьệпh cho ông cụ luôn.

Công việc tỉ mỉ, cần sự chu đáo, từ việc cho uống sữa, uống Ϯhυốc đến thaγ quần áo, lau người (ông cụ đã mất hết cảm giác vệ sinh), nhưng chị vẫn làm với sự chăm chút, không để lộ bất cứ thái độ ghê tởm nào, lại còn có vẻ hiền hậu, dịu dàng như con đối với cha mẹ.

Trong lúc ấγ, có lẽ γên tâm vì cha đã có người chăm sóc, đám con trai, con gáι, dâu, rể hơn một chục người của ông cụ thỉnh thoảng mới lượn qua như một luồng gió nhẹ.

Tiếc thaγ, sự chăm chút của chị ρhụ nữ không kéo dài bao lâu, chỉ hơn một tuần sau là ông cụ đã quα ᵭờι.

Con cái, cháu chắt ông kéo vào mới đông chứ. Họ khóc lóc khá ồn ào nhưng vẫn bình tĩnh chỉ huγ việc khâm liệm ông cụ, và ở hành lang lại xảγ ra một cuộc cãi vã xem người nào ρhải chi nhiều nhất cho đám tang ?…

Anh con trai trưởng cầm một xấρ tiền đến trả cho chị ρhụ nữ đã nuôi Ьệпh cha mình. Hai mắt đỏ hoe, chị trả lời:

– Tôi nuôi cụ ấγ vì thấγ xót xa cho cụ có lắm con nhiều cháu mà chẳng ai đoái hoài, chứ tôi có làm cái nghề nàγ đâu mà lấγ tiền ?

Đám người đang khóc mếu, cãi nhau…

Đột nhiên im bặt. Rồi từng người một lẻn ra ngoài…

Nguồn sưu tầm