ĐIỀU KỲ LẠ CỦA CON NGƯỜI

  ĐIỀU KỲ LẠ CỦA CON NGƯỜI

  • Đệ tử hỏi sư phụ: “Thầy có thể nói cho con biết về chỗ kỳ lạ của con người không?”

Sư phụ: “Họ vội vàng trưởng thành, sau đó lại than thở là mất đi tuổi thơ. Họ dùng sức khỏe để đổi lấy tiền bạc, không lâu sau lại muốn dùng tiền bạc để khôi phục sức khỏe. Họ đối với tương lai thì lo lắng không nguôi, nhưng lại không trân trọng hiện tại. Vì vậy, họ vừa không sống trong hiện tại, vừa không sống trong tương lai. Họ sống như thể là sẽ không bao giờ chết, và sẽ chết như thể chưa bao giờ từng được sống.”

NỤ CƯỜI VÀ NƯỚC MẮT

  • Vị Lạt Ma già nói với vị Lạt Ma trẻ: “Khi đến với thế giới này, anh khóc, nhưng người khác đều rất vui mừng. Khi anh rời khỏi thế giới này, người khác đều đang khóc, nhưng bản thân anh lại thường cảm thấy rất vui. Vì thế, chết không hẳn là điều tồi tệ, còn sự sống cũng chưa chắc là điều đáng mừng”.

BAO DUNG VÀ KHIÊM TỐN

  • Giọt mực rơi vào một ly nước trong, ly nước này lập tức thành màu đen, không uống được nữa. Nhưng nếu giọt mực rơi vào trong biển lớn, biển vẫn là biển cả nhuộm màu xanh lam. Tại sao vậy? Vì sự bao dung, sức chứa đựng của 2 thứ này là khác nhau.

Lúa chưa chín thì đâm thẳng lên trên trời, lúa đã chín thì ngả đầu cúi xuống. Làm người, càng thành công càng hiểu phẩm giá của sự khiêm nhường.

Theo Xuân Giao

  • Châu Yến biên dịch

Image may contain: plant, outdoor and nature

CÓ TIẾNG GỌI LƯƠNG TÂM TRONG TỪNG NGƯỜI

CÓ TIẾNG GỌI LƯƠNG TÂM TRONG TỪNG NGƯỜI

Tuyết Mai

Cần để Lời Chúa được dễ hiểu thì chúng ta cứ đem lương tâm của mình ra để mà cân, đo, đong, đếm và để dễ bề đối xử với anh chị em mình. Điển hình nhất mà chúng ta có thể thấy hằng ngày là sự bất công của những người còn khỏe mạnh nhưng vì lý do cá nhân ích kỷ nên đã cố tình dành chỗ đặt riêng cho người thật sự bị tàn tật hay bị khuyết tật “handicap”, rất cần chỗ đậu xe cho gần với nơi họ cần được đến; đó là chưa kể đến sự cố tình khai gian tiền bạc trợ cấp dài hạn của những người bất hạnh rất cần sự trợ giúp của chính phủ.

**

Đây là hành động tồi tệ và bất công nhất ở một lương tâm hình như bị đóng đá. Một người con cái Chúa mang danh Kitô hữu thì thật là đáng trách, hổ thẹn và rất đáng buồn. Mà bên lương giáo thì người ta rất tin vào cái “huông” xấu khi một người lành lặn giả bệnh, giả ngồi xe lăn, giả điên, v.v… không chóng thì chầy cũng sẽ bị tật nguyền, què quặt hay bị liệt?. Nhất là những tấm bảng treo “handicap” xạo trong xe cũng sẽ có ngày bị vận vào thân. Gần nhất là bị cảnh sát cho giấy phạt khi bị phát hiện sự gian dối ấy.

**

Thiên Chúa Người ban cho chúng ta một Lương Tâm thật tinh vi, thật tế nhị và thật bén nhậy để nhắc nhở chúng ta sống “phải, quấy” ở đời; hay có thể nói lương tâm là tiếng nhắc nhở của Thiên Thần Bản Mệnh mà ai cũng có. Ngay cả người lương giáo cũng có. Chớ bẻ cong Lời Chúa thì cũng chẳng giúp gì hay ích gì cho linh hồn sống đời của chúng ta cả đâu. Như những pharisêu của mọi thời đại mà Chúa vẫn hoài chê trách vì hành động của họ luôn đi phản ngược lại những điều họ giảng dạy trong Đền Thờ. Nhất là những Pharisêu hay nhà thông luật càng giảng hay, giảng giỏi chừng nào thì Chúa khuyên chúng ta hãy coi chừng. Vì họ đã nuốt chửng biết bao tiền của những bà góa nghèo.

**

Sống ở trên đời lương tâm của một con người rất là quan trọng, nên rất thường phải nghe ngóng tiếng nói ấy! Cũng cùng đồng nghĩa với tiếng kêu trong Hoang Địa của Thánh Gioan xưa. Tại sao lại gọi là tiếng kêu trong Hoang Địa? Có phải vì tiếng kêu ấy nó như mất hút vào khoảng không gian rộng lớn và ồn ào? Hay vào hoang mạc mênh mông không ai nghe thấy?.

–*–

Ngày xa xưa và ngày nay, con người vẫn không thay đổi. Vì tiếng kêu trong Hoang Địa ấy chẳng thấy mấy ai đáp trả?. Ngày nào chúng ta còn thấy nhan nhãn những bất công, những tội ác, những việc làm mà một người để cho cái lương tâm (là lời nhắc nhở của Thiên Thần Bản Mệnh hay của tiếng kêu trong Hoang Địa) ngủ yên thì ngày ấy vẫn còn chiến tranh, hận thù, tranh chấp và Thiên Đàng còn ở xa lắm tầm tay với của con người.

**

Có rất nhiều sự việc bất công trong một xã hội mà chúng ta cố tình làm ngơ y như chuyện của một anh phú hộ giàu có ngày ngày chè chén, nhậu nhẹt, say sưa và anh Lazarô nghèo ghẻ chốc ngày ngày sống trước nhà của anh phú hộ giàu có kia. Nhưng có phải vì Thiên Chúa Người quá yêu thương con người, muốn hết thảy con người được lên Nước Chúa, nên những tiếng kêu trong Hoang Địa vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay?.

**

Vâng, trong một xã hội có lắm tội ác nhưng tiếng kêu trong Hoang Địa cũng rất thường lanh lảnh kêu vang và vẫn được nhiều người đón nghe. Thưa đó là những con cái Chúa có tinh thần sống tốt, bác ái, muốn mọi người cùng được nên tốt. Sự mong ước của một Gioan là muốn từng người nắm tay cùng dắt nhau Về Trời. Nơi mà lương tâm (là đường) của từng người được sửa đổi cho ngay thẳng, cho công bằng và biết chia sẻ yêu thương đến cho mọi người.

–*–

Để làm rõ nghĩa và đúng nghĩa hơn cho một lương tâm của con cái Chúa ấy là chớ lấy của người làm của riêng mình. Chớ có tham của người với ý đồ muốn tích trữ thêm mà lấy của kẻ khó nghèo, khi họ rất cần nếu không có thì họ sẽ chết. Đừng làm chứng gian để cho anh chị em phải bị tù đày. Đừng chứa đựng sự hận thù và ganh ghét vì điều đó sẽ gây chiến tranh không bao giờ ngừng. Nhất là trong gia đình là nơi mà tình yêu thương phải luôn đầy tràn. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 12, 2020

 Lợi ích của đọc sách

 Lợi ích của đọc sách

Có một chú tiểu sống trên núi cùng với sư phụ tại một ngôi chùa nhỏ, cậu bé rất chăm chỉ làm các việc đã được giao phó như gánh nước, nấu cơm, quét dọn bụi bặm… nhưng riêng việc đọc sách cùng sư phụ là cậu không hào hứng cho lắm.

Trong khi đó, ngày nào sư phụ cũng không quên nhắc cậu đọc sách, cậu thắc mắc: “Tại sao chúng ta phải đọc nhiều sách như vậy, con thấy việc đọc sách có ích gì đâu?”.

Sư phụ nghe vậy bèn mỉm cười nói với cậu ngày mai hãy mang cái giỏ dính đầy than bẩn để xách nước thay vì cái thùng hay xách bấy lâu nay. Chú tiểu mặc dù không hiểu nhưng vì đó là yêu cầu của sư phụ nên chú đành nghe và làm theo. Ngày nào cũng mang cái giỏ đi để xách nước nhưng bao nhiêu nước cũng chảy hết qua cái lỗ trên giỏ, không thể mang chút nước nào về nhà.Khi cậu thắc mắc về việc này thì sư phụ nói hãy cứ tiếp tục và cậu vâng lời nhưng chẳng được bao lâu. Nỗi thất vọng ngày càng lớn khi ngày nào cũng phải làm việc vô ích này khiến cậu chán nản, đến khi không chịu được nữa cậu nói với sư phụ rằng từ ngày mai mình sẽ không đi xách nước nữa.

Sư phụ mỉm cười, bảo chú tiểu lấy cái giỏ ra đây và ôn tồn nói: “Con nghĩ việc làm của con là vô ích sao? Hãy nhìn thử xem, cái giỏ này trước kia đựng than đen nhẻm nhưng từ ngày con lấy nó để xách nước nó đã sạch trong không còn lấm lem vết than như xưa nữa.

Việc đọc sách cũng vậy, lợi ích của nó không thấy được bằng mắt, không phải ngày một ngày hai để mong thành công nhưng không có nghĩa là quá trình này trải qua vô nghĩa. Con đọc một quyển sách mỗi ngày, tâm hồn sẽ được rửa trôi một ít, đến khi đủ thì sẽ sạch bong như cái giỏ than này”.
 Chú tiểu hiểu ra, thầm cảm ơn sư phụ và từ đó không còn chán ghét việc đọc sách nữa. 

Nhìn chung có rất nhiều lợi ích của đọc sách như để giải trí, để có thói quen lành mạnh, hoàn thiện kỹ năng viết, nâng cao kiến thức, kích thích tinh thần, cải thiện trí nhớ… Thế nhưng hầu hết chúng ta né tránh chúng chỉ vì một chữ LƯỜI và bao biện rằng không có thời gian, trong khi họ chỉ cần 20-30 phút mỗi ngày để cho não mình được “ăn” mà họ không chịu thực hiện.

Cơ thể chúng ta muốn nạp năng lượng thông qua việc tiêu thụ thức ăn, còn não của chúng ta cũng vẫn hàng ngày cần “ăn” nhưng ta chẳng bao giờ chịu chăm sóc chúng. 

Có hai cách để bạn có được kiến thức: một là tự học, tự đọc và tìm hiểu, cách thứ hai là có một người thầy chỉ dẫn.  Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bao lâu nay vẫn sẵn sàng ở bên chúng ta nhưng không phải ai cũng nhận ra.

Nếu bạn phải học qua thực tế, qua vấp ngã của chính mình thì điều đó không chỉ gây đau đớn mà còn tốn rất nhiều thời gian. Cách để giảm bớt rủi ro và rút ngắn thời gian đó là thông qua sách vở.

Đọc sách như là một cách để trò chuyện với những bộ não vĩ đại nhất trên thế giới này khi họ đã ghi ra những kiến thức, hiểu biết của mình vào những cuốn sách sống mãi với thời gian.

​Sách là tri thức lưu truyền mãi cho thế hệ về sau, là những công trình nghiên cứu, là nguồn kiến thức tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Vì vậy đừng nghi ngờ về ý nghĩa của việc đọc sách, hay có suy nghĩ chúng chẳng có tác động gì đến cá nhân bạn cả.Không có quyển sách nào vô ích cả, tiểu thuyết, sách văn học, sách kinh doanh, sách dạy kỹ năng mềm, sách hội họa, âm nhạc, lịch sử… đều cho ta những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống này. Bằng một cách vô tình nào đó, tất cả đều tác động đến nhân cách cũng như cuộc sống mỗi người chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó mà thôi.

S.T.

From: TU-PHUNG

  Liệu đại cử tri có đi ngược phiếu phổ thông để bầu cho ông Trump?

 

Van Pham   is with Tú-Minh Hoàng Phạm

  Liệu đại cử tri có đi ngược phiếu phổ thông để bầu cho ông Trump?

Rất khó có khả năng các đại cử tri đi ngược lại ý nguyện của đa số các cử tri trong tiểu bang của họ để bầu cho ông Donald Trump làm Tổng thống một nhiệm kỳ nữa, một người gốc Việt từng làm đại cử tri bầu Tổng thống nói với VOA.

Chỉ còn 10 ngày nữa các đại cử tri trên toàn nước Mỹ sẽ bỏ phiếu để bầu Tổng thống – một hành động chính thức hóa kết quả cuộc phổ thông đầu phiếu hôm 3/11 mà qua đó ứng cử viên Joe Biden được xem là đã giành chiến thắng.

Tổng thống Trump đang vận dụng mọi phương cách để lật ngược kết quả bầu cử này nhưng trong bối cảnh các nỗ lực pháp lý của ông đa số đều bị tòa án ở các tiểu bang bác bỏ, ông đang đặt hy vọng vào các đại cử tri sẽ bỏ phiếu cho ông vào ngày 14/12.

‘Tuân theo Hiến pháp’

Phát biểu trước báo giới hôm 26/11, ông Trump nói ông sẽ rời Nhà Trắng nếu các đại cử tri bỏ phiếu chính thức xác nhận chiến thắng của ông Biden nhưng ông cho rằng quyết định đó ‘là một sai lầm’. Kể từ khi có kết quả bầu cử cho đến nay, ông Trump và đội ngũ của ông liên tục cáo buộc ‘đã xảy ra gian lận quy mô lớn’ nhưng không đưa ra được bằng chứng.

Trong lúc này, tất cả các bang chiến trường quyết định kết quả bầu cử như Pennsylvania, Wisconsin, Michigan, Georgia và Arizona đều đã chứng nhận kết quả bầu cử mà theo đó ông Biden giành tất cả phiếu đại cử tri ở các tiểu bang này. Đây là tiền đề để các bang này đưa ra danh sách đại cử tri bỏ phiếu vào ngày 14/12.

Trao đổi với VOA từ bang Georgia, ông Vũ Nguyễn Bảo Kỳ, người từng được Đảng Cộng hòa chọn là một trong 16 đại cử tri của bang bỏ phiếu cho ông Donald Trump làm Tổng thống hồi năm 2016, cho biết cách nay 10 ngày, Thống đốc Brian Kemp, một đồng minh của ông Trump, đã chọn danh sách cử tri đoàn do Đảng Dân chủ đưa ra để bầu cho Joe Biden sau khi kết quả đếm phiếu được kiểm toán.

“Trước cuộc bầu cử thì hai đảng đã đề ra danh sách đại cử tri của mình bao gồm 16 người. Sau khi Tổng thư ký bang công nhận chính thức kết quả bầu cử thì ứng viên đảng nào đạt đa số thì danh sách cử tri đoàn của đảng đó sẽ được đưa lên,” ông Bảo Kỳ giải thích.

Ông Kỳ, cũng là Phó Chủ tịch Ban Bầu cử và Đăng ký Cử tri hạt DeKalb, bang Georgia, cho biết mặc dù ông Kemp chịu áp lực và công kích từ phía ông Trump nhưng ông Kemp đã nói rằng ‘ông phải tuân theo Hiến pháp của Georgia chứ ông không có vai trò đảo ngược kết quả bầu cử của cử tri và nước Mỹ là xã hội dân chủ có luật lệ chứ không phải là vương quốc của một ông vua’.

Theo lời giải thích của cựu đại cử tri này, theo luật của bang Georgia, các đại cử tri ‘không bắt buộc phải bầu theo đa số phiếu phổ thông trong tiểu bang’ và ‘có thể bầu theo ý mình’ nhưng việc các đại cử tri của Đảng Dân chủ bầu cho ông Trump là ‘khó xảy ra’.

Bang Georgia nằm trong số 20 tiểu bang không quy định đại cử tri phải bỏ phiếu như thế nào. Còn 30 tiểu bang còn lại có luật rõ ràng bắt buộc các đại cử tri phải bỏ phiếu thể hiện nguyện vọng của cử tri trong bang. Nếu đại cử tri nào làm sai sẽ bị trừng phạt, ông cho biết.

Ông Kỳ nói trong lịch sử đã có những trường hợp đại cử tri ‘lật kèo’ – bỏ phiếu ngược lại kết quả bầu cử phổ thông chẳng hạn như trong cuộc bầu cử hồi năm 2016 khi ông Trump giành thắng lợi trong cuộc bầu cử phổ thông, nhưng ‘chưa bao giờ kết quả bỏ phiếu đại cử tri lật ngược được kết quả bỏ phiếu phổ thông’.

Ông Kỳ từng vận động cho nhiều ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hòa từ ông John McCain, Mitt Romney cho đến ông Donald Trump. Ông cũng từng nằm trong ủy bang đặc trách cử tri người Mỹ gốc Việt cho ông George W. Bush. Chính vì bề dày hoạt động đó mà ông được chọn làm đại cử tri bầu cho ông Trump hồi năm 2016, ông nói.

‘Trưng cầu dân ý đã rõ ràng’

Để lật ngược được kết quả, ông Trump phải cần tới 38 đại cử tri có nghĩa vụ bầu cho ông Biden quay sang bỏ phiếu cho ông thì mới đạt được con số 270 cần thiết.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay thì ông Kỳ cho rằng điều này ‘hết sức khó xảy ra’.

Theo giải thích của ông Kỳ, đến giờ ông Biden đã giành được 81 triệu phiếu phổ thông so với 74 triệu phiếu của ông Trump. Con số phiếu phổ thông nhiều nhất từ trước đến giờ mà một ứng viên Tổng thống giành được của ông Biden là ‘kết quả trưng cầu dân ý rõ ràng về sự lãnh đạo của ông Trump,’ ông Kỳ nhận định.

Do đó, cũng theo lời ông, các đại cử tri sẽ chịu sức ép nặng nề từ ý nguyện của người dân nên sẽ không dám đi ngược lại.

Ngoài ra, các đại cử tri được chọn lựa là những người được tin tưởng đại diện cho ý nguyện của cử tri trong tiểu bang của họ. “Họ có đủ khả năng, tri thức và lương tâm để làm đại diện cho lá phiếu phổ thông của người dân Mỹ,” ông cho biết.

“Họ biết là họ không thể đi ngược Hiến pháp. Cuộc bầu cử đã xong rồi. Họ đã chứng kiến tòa án các tiểu bang đã bác bỏ gần 40 vụ kiện cáo của ông Trump nên họ phải chấp nhận ý nguyện của người dân,” ông nói thêm.

Mặc dù ông Trump nỗ lực mời dân biểu các bang chiến trường đến Nhà Trắng để vận động nhằm thuyết phục họ mở phiên họp đặc biệt để hủy bỏ kết quả bầu cử ngày 3/11 vừa qua và đề cử ra các đại cử tri bầu cho ông, nhưng trong bối cảnh chỉ còn 10 ngày nữa các cử tri đoàn phải nhóm họp để bầu Tổng thống, điều này ‘khó xảy ra’, theo ông Kỳ.

– Đại cử tri William Rauwerdink và lá phiếu bầu tổng thống của ông vào ngày 19/12 năm 2016 ở Lansing, bang Michigan

– Khi người Mỹ bỏ phiếu cho một tổng thống, họ thực sự đang bỏ phiếu cho các đại cử tri ở bang của họ, những người sẽ thay mặt họ bỏ phiếu cuối cùng. (Reuters: Jonathan Drake)

– Deborah Gonzalez (trái) đã được yêu cầu trở thành đại cử tri cho bang Georgia trong cuộc bầu cử Hoa Kỳ năm 2020. (Twitter: Deborah Gonzalez)

https://www.voatiengviet.com/…/li%E1%BB…/5688206.html

https://www.abc.net.au/…/meet-the-americans…/12911222

Ngụy biện về độc tài  

Xin chuyển bài viết này lên cho quí vị cũng đọc. Tui xin miễn có ý kiến trong lúc nầy, vì cần phải “Động Não” thêm về nội dung bài viết. Lịch sử thế giới cũng đã có nhiều nhà độc tài làm chết nhiều con người từ Đông sang Tây. Thế chiến lần thứ nhất rồi lần thứ hai, bắt nguồn cũng từ những cá nhân Độc Tài đầy Tham Vọng nắm quyền lực trong tay.

Van Pham

Tác giả, cô Mai V. Phạm là một cựu quân nhân trong binh chủng Hải quân Mỹ….

Bài viết này được cô viết vào cuối năm ngoái, nhưng đến hôm nay, sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ ngày 01-11 vừa qua… mới đúng thời điểm để chúng ta cùng đọc lại và rút ra cho mình một kết luận TT Trump đã dẫn đưa nước Mỹ đi đúng hướng hay trật đường rày?

*******

Ngụy biện về độc tài  

Mai V. Phạm,

Có lẽ Việt Nam là một trong những dân tộc luôn bị cai trị bởi các nhà nước độc tài chuyên chế từ lúc hình thành cho đến nay. Trừ khoảng 10 năm 1963 – 1973 tại miền Nam được đánh giá là có dân chủ, lịch sử Việt Nam chỉ gắn liền với các triều đại phong kiến và độc tài cộng sản. Thêm vào đó là di sản hơn 2000 năm của Khổng giáo, đã khiến tính chuyên chế và tâm lý tôn sùng lãnh tụ thấm sâu vào ADN của phần đông người Việt.

Chính cụ Phan Châu Trinh đã chỉ ra: “Chẳng những vua quan chuyên chế, họ lại còn kéo cả kẻ làm cha kẻ làm chồng vào cái cạm độc ác ấy nữa. Khi còn ở trong gia đình thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thở cái không khí chuyên chế trong trường học, thì làm sao khi bước ra ngoài xã hội khỏi quen tính nô lệ chịu luồn cúi người? Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ lúc trong gia đình chuyên chế mà ra vậy”.

Trong một bài viết mới đây, tôi lên án những thay đổi có tính chuyên chế đang xảy ra ở Mỹ dưới thời Trump. Như thường lệ, một số ‘Trump luận viên’ bất chấp sự thật và lý lẽ để bạo biện cho các sai trái và vô đạo đức của Trump. Một trong những lập luận mà họ dùng để bênh vực Trump là “người Mỹ cần độc tài như Trump để nước Mỹ vĩ đại trở lại” và lấy Park Chung Hee, Tưởng Giới Thạch là ví dụ của “thắng lợi”.

Bạn đọc nào nắm rõ lịch sử thì sẽ dễ dàng nhận ra lập luận trên không chỉ là ngụy biện, mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết nghiêm trọng, đặc biệt về lịch sử.

  1. Độc tài là kẻ thù của chính trị và dân chủ

Người có tính cách chuyên quyền có thể thành công trong lĩnh vực kinh doanh nếu họ có tài, đức thực sự. Tuy nhiên, trong chính trị, lãnh đạo độc tài luôn xem mình như ‘Thượng đế’, xem quốc dân ngu dốt, và các ý kiến trái chiều là ‘phạm thượng’, để tự quyết định mọi vấn đề. Đảng Cộng sản Việt Nam là hiện thân của độc tài chuyên chế, bởi chúng xem nhân dân ngu dốt, không đủ khả năng và xứng đáng để tham gia vào bộ máy nhà nước.

Bản chất của chính trị gia độc tài là kiêu căng bệnh hoạn. Cách thức hoạt động của họ như một cái tát mạnh vào ý nghĩa cao đẹp của chính trị: Đó là chung tay, cùng nhau giải quyết các vấn đề của xã hội. Lịch sử thế giới cũng chứng minh các nhà độc tài là mối nguy hại với nền dân chủ tự do.

– Dân chủ là chống lại sự tập trung quyền lực của cá nhân hoặc tập thể (chính quyền trung ương), đồng thời phân quyền và tản quyền đến các đại diện được cử tri bầu chọn ở chính quyền địa phương. Ngược lại, lãnh đạo độc tài thâu tóm mọi quyền lực, bất chấp ý kiến của đại đa số.

– Công dân ở các nước dân chủ không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động chính trị để bảo vệ nhân quyền và tự do của chính họ. Ngược lại, lãnh đạo độc tài ngăn cản sự tham gia và đóng góp thiện chí của công dân để duy trì quyền lực.

– Dân chủ tôn trọng tự do báo chí, đề cao tự do và minh bạch thông tin. Ngược lại, lãnh đạo độc tài tìm mọi cách kiểm soát thông tin và ngăn cản báo chí, để tuyên truyền và mị dân.

Một khi đã nắm được quyền lực, các nhà độc tài sẽ kêu gọi thân tín đứng về phía họ chống lại nhân dân nhằm duy trì quyền lực. Ví dụ điển hình là Park Chung Hee. Năm 1979, Kim Jae-kyu, người đứng đầu Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) đã dùng súng, giết chết Park Chung Hee. Nguyên nhân là do ông Kim tức giận khi Park Chung Hee ra lệnh phải thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình, “ngay cả khi phải trả giá bằng 30.000 sinh mạng”.

Trong buổi gặp gỡ với ông Kim, Park Chung Hee chỉ trích KCIA vì không dứt khoát đàn áp các cuộc biểu tình ở vùng Cholla. Ông Kim nói rằng, nếu thực hiện các cuộc đàn áp, sẽ có ít nhất 3.000 người phải thiệt mạng. Ông Park nói rằng, ông không quan tâm và nhấn mạnh KCIA phải tuân lệnh dù cho phải sát hại “tới 30.000 sinh mạng”.

Đặc điểm chung của các nhà độc tài là sẵn sàng tàn sát dã man tiếng nói bất đồng để duy trì quyền lực. Adoft Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Joseph Statin, Fidel Castro, triều đại nhà họ Kim… đã sát hại hàng triệu người dân vô tội chỉ vì họ dám bày tỏ thái độ không ưa thích chúng.

Nước Mỹ hùng mạnh và phát triển như ngày nay là nhờ vào nhiều yếu tố. Nhưng quan trọng nhất chính là nhờ sự kết hợp của đội ngũ trí thức tài, đức đã xây dựng nước Mỹ dựa trên thể chế dân chủ, kết hợp với các giá trị cao đẹp của nhân quyền, bình đẳng, bao dung và hợp tác. Nói cách khác, nền dân chủ Mỹ phát triển không phải nhờ vào một cá nhân riêng lẽ, mà nhờ sự kết hợp của nhiều cá nhân tài năng và đức độ, quyết tâm xây dựng dân chủ. Quan trọng hơn, nhờ sự đấu tranh không mệt mỏi của hàng triệu thường dân và các tổ chức dân sự, đòi quyền công dân trong thập niên 1960s nên Đạo luật Dân quyền mới ra đời, đánh dấu bước ngoặt dân chủ vĩ đại trong lịch sử nước Mỹ.

Cho rằng “người Mỹ cần độc tài như Trump để nước Mỹ vĩ đại trở lại” chỉ có thể thiếu hiểu biết về lịch sử lẫn chính trị. Đa số cử tri không bỏ phiếu cho Trump. Nền dân chủ Mỹ chống lại những lãnh đạo độc tài như Trump, thể hiện rất rõ qua Hiến pháp, cụ thể nguyên tắc “tam quyền phân lập”. Thêm nữa, lập luận trên là một sỉ nhục với đại đa số dân Mỹ, cơ quan Lập pháp và Tư pháp vì cho rằng họ quá ngu dốt để “cùng nhau” giải quyết các vấn đề của quốc gia và chỉ có Trump mới có khả năng đó.

Nước Mỹ không tuyệt hảo trước thời Trump, nhưng nếu nói “Trump giúp Mỹ vĩ đại” là chà đạp trắng trợn lẽ phải và sự thật. Theo thăm dò mới nhất của tổ chức uy tín Gallup, vai trò lãnh đạo toàn cầu và uy tín của nước Mỹ ngày càng suy giảm nghiêm trọng dưới thời Trump. Năm cuối nhiệm kỳ Tổng thống của Obama, tỉ lệ ủng hộ Mỹ tại 133 quốc gia là 48%. Nhưng hiện tại, chỉ có 31% người dân ở 133 quốc gia ủng hộ Mỹ. Trump đang biến Mỹ thành “trò cười của thế giới” bằng những phát ngôn ngu dốt, thì “giúp Mỹ vĩ đại” bằng cách nào? Trump ca ngợi lãnh đạo độc tài cộng sản và phớt lờ các vi phạm nhân quyền – là giá trị mà Mỹ luôn bảo vệ như lợi ích quốc gia, thì “giúp Mỹ vĩ đại” bằng cách nào?

  1. Park Chung Hee và Tưởng Giới Thạch thiết lập độc tài chuyên chế

Một số người Việt cho rằng Park Chung Hee và Tưởng Giới Thạch đã thiết lập dân chủ “thành công” bằng lối cai trị độc đoán. Phải dõng dạc khẳng định rằng, ý kiến này là một cú đấm vào mặt lịch sử và hàng triệu người dân hai nước Nam Hàn và Đài Loan đã hy sinh xương máu cho dân chủ.

Park Chung Hee

Sau Thế chiến II, Park Chung Hee (1917 – 1979) đã tham gia vào một chi bộ cộng sản hoạt động bí mật trong quân đội Nam Hàn và bị kết án tử hình. Do sự hợp tác với chính quyền, ông được xóa án tử.

Vào tháng 5/1960, ông Park và một nhóm sĩ quan quân đội Nam Hàn tiến hành một cuộc đảo chính và nắm quyền kiểm soát chính phủ. Sử sách ghi lại, tư tưởng và phương thức lãnh đạo của ông Park đậm chất độc tài khét tiếng của Josepth Stalin.

Sau khi giành được quyền kiểm soát của chính phủ, ông Park đã cai trị bằng bàn tay chuyên chế từ năm 1963 đến 1979. Vào năm 1972, ông Park đã tuyên bố “thiết quân luật” (martial law), thay đổi hiến pháp để ông có thể cai trị vô thời hạn. Thay đổi độc đoán này đã đập nát nền dân chủ sơ khai của Hàn Quốc.

Sau khi ông Park bị lãnh đạo Cục Tình báo giết chết năm 1979, Choe Kyu-ha, thủ tướng dưới trướng ông Park, trở thành Tổng thống vào tháng 12/1979. Nhưng đầu năm 1980, Tướng Chun Doo-hwan đã giành lại quyền lực và tiếp tục đường lối lãnh đạo độc đoán của Park Chung Hee. Ông Chun ban hành một sắc lệnh đóng cửa các trường cao đẳng, đại học và cấm tất cả các cuộc tụ họp chính trị. Tất cả báo chí và chương trình truyền hình đều phải được kiểm duyệt. Bất kỳ sự chỉ trích nào với Tổng thống đương nhiệm và cựu Tổng thống đều bị cho là phạm pháp. Lại một lần nữa sau thời Park Chung Hee, người dân Nam Hàn tiếp tục sống trong ách cai trị độc đoán của một lãnh đạo chuyên chế khác.

Có lẽ sự kiện quan trọng nhất xảy ra dưới thời Tổng thống Chun Doo-hwan là cuộc thảm sát Kwangju. Việc bắt giữ Kim Dae-jung – là một trong những thủ lĩnh phe đối lập, đã dấy lên các cuộc biểu tình rầm rộ ở Kwangju vào ngày 18/5/1980. Chỉ vài ngày sau, ông Chun đã huy động quân đội dập tắt các cuộc biểu tình. Cuộc đàn áp này khiến cả nước bàng hoàng bởi hàng trăm người, trong đó có nhiều sinh viên đã bị quân đội thảm sát dã man.

Cuối năm 1987, ông Chun bị loại khỏi chức vụ Tổng thống sau nhiều cuộc biểu tình liên tiếp của sinh viên và áp lực quốc tế. Năm 1988, tướng Roh Tae-woo đắc cử Tổng thống, trở thành sự kiện chuyển đổi quyền lực trong hòa bình đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc. Tình hình chính trị Hàn Quốc đã có thay đổi tích cực sau đó, đánh dấu bằng các cuộc bầu cử quốc hội tự do vào năm 1988.

Sơ lược lịch sử Nam Hàn để thấy rằng, từ sau chế độ Park Chung Hee năm 1979, đến tận năm 1988, người dân Hàn Quốc mới trải nghiệm dân chủ thực sự.

Cho rằng Park Chung Hee đã “thành công” trong việc thiết lập nền dân chủ tại Nam Hàn là phủ nhận mọi nỗ lực và xương máu của hàng triệu người dân. Nếu không nhờ sự phản đối liên tục của người dân chống đối các lãnh đạo độc tài, thì nền dân chủ đích thực đã không được thiết lập trên đất nước này, nếu không muốn nói đã bị chế độ Park Chung Hee dần xóa sổ.

Tưởng Giới Thạch

Năm 1949, sau thất bại trong cuộc nội chiến với lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch cùng lực lượng Quốc Dân Đảng (Chinese National Party) đã tới hòn đảo Đài Loan, thiết lập chế độ độc đảng. Sau khi lên nắm quyền, mặc dù hứa sẽ thiết lập một nền dân chủ lập hiến, nhưng Tưởng Giới Thạch đã dùng mọi lý do để trì hoãn và duy trì chế độ độc đảng.

Hai nguyên nhân mà chế độ Tưởng Giới Thạch đã bao biện cho chế độ độc đảng (1) “dân trí thấp” nên chế độ dân chủ không thích hợp; (2) chế độ chuyên chế cần thiết vì có thể tạo ra ổn định kinh tế và chính trị. Hai luận điệu bịp bợm này đã gây ra biết bao khốn khổ và góp phần dung dưỡng các chế độ độc tài ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Bởi thế, trong suốt thời gian nắm quyền từ năm 1950-1975, Tưởng Giới Thạch và sau là Tưởng Kinh Quốc, con trai của Tưởng Giới Thạch, đã bỏ tù, tra tấn, và giết vô số người dân, mà không thông qua xét xử, để thẳng tay đàn áp bất đồng chính kiến và bảo vệ chế độ chuyên chế.

Trong suốt hơn 30 năm, trí thức Đài Loan đã đối mặt với đàn áp, oan ức, cầm tù, tra tấn, và thậm chí bị ám sát. Tuy nhiên, cuối cùng Tưởng Kinh Quốc đã nhận ra rằng, chế độ chuyên chế của Quốc Dân Đảng càng giúp nhiều người dân đoàn kết lại để chống lại nó. Ông ta nhận ra rằng, chỉ khi trao trả lại quyền lực cho nhân dân, Quốc Dân Đảng mới có thể tồn tại.

Bởi thế, vào năm 1986, Tưởng Kinh Quốc cam kết cải cách chính trị, bao gồm cho phép tự do báo chí, dỡ bỏ lệnh cấm đối với các chính đảng đối lập, và cho phép người dân biểu tình. Sau đó, lực lượng bất đồng chính kiến ​​đã liên kết lại để thành lập đảng đối lập đầu tiên của Đài Loan, Đảng Dân chủ Tiến bộ (Democratic Progressive Party). Năm 1987, Tưởng Kinh Quốc bãi bỏ “thiết quân luật” kéo dài gần 4 thập niên.

Rõ ràng, nếu Tưởng Kinh Quốc không nhận thức được quyền lực thật sự của dân chúng và cam kết chuyển giao quyền lực ôn hòa, thì Đài Loan vẫn sống trong chế độ độc đảng. Kể từ năm 2016, khi Quốc Dân Đảng bị loại khỏi lực lượng cầm quyền, đông đảo người dân yêu cầu chính quyền Đài Loan phá hủy tượng đài Tưởng Giới Thạch vì những bắt bớ, chết chóc mà ông ta đã gây ra trong suốt hơn 40 năm của thời kỳ “Khủng bố Trắng” (White Terror) và “thiết quân lập”. Hàng chục ngàn người đã bị bắt giữ và ít nhất 1200 người bị tử hình trong những năm từ 1949 đến 1992 chỉ vì bị tình nghi là chống chính phủ Tưởng Giới Thạch.

Điểm qua lịch sử Đài Loan để thấy rằng, Tưởng Giới Thạch không bao giờ mong muốn thiết lập dân chủ thực sự, mà chỉ muốn duy trì độc đảng chuyên chế. Nếu cho rằng ông ta đã “thành công” thiết lập nền dân chủ tại Đài Loan là chà đạp mọi nỗ lực và xương máu của rất nhiều người dân đảo quốc này. Nếu không nhờ những con người can đảm, đã hy sinh máu và mạng sống, đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền, thì nền dân chủ thực sự đã không thể thiết lập ở Đài Loan.

Thay Lời Kết

Trong sâu thẳm trái tim của Park Chung Hee và Tưởng Giới Thạch là tình yêu cho bản thân và quyền lực, lớn hơn tình yêu cho đồng bào mình. Nếu họ thực sự yêu đồng bào, họ đã không tìm mọi cách để duy trì độc đảng và đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến. Một lãnh đạo tự coi mình là “trời”, xem người dân là ngu dốt, rồi đàn áp, thậm chí thủ tiêu những ai lên tiếng phản đối, là đại họa đối với mọi dân tộc.

Cứu cánh của chính trị không chỉ là tự do, mà còn là đạo đức. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Một người tuyên bố “làm chính trị”, mà không có đạo đức, sẽ là nỗi bất hạnh và mầm tai họa đối với dân tộc. Bởi thế, phải dứt khoát lên án luận điệu bịp bợm cho rằng độc tài là cần thiết cho Việt Nam, bởi độc tài là kẻ thù của chính trị và đi ngược lại các giá trị dân chủ. Na Uy, Hà Lan, Mỹ, Đức, Úc, Nhật, Thụy Sĩ… đã thành công xây dựng dân chủ nhờ sự liên kết của toàn dân, là các minh chứng bẽ gẫy luận điệu cho rằng, một số nước cần “độc tài sáng suốt” để xây dựng dân chủ và phát triển kinh tế.

Bí mật của hạnh phúc là dân chủ và tự do. Dân chủ không phải là một “chiếc đũa thần kì”, ngay lập tức biến một nước nghèo khổ, thành phát triển vượt bậc. Lịch sử nhân loại đã chứng minh dân chủ là một phương thức tổ chức xã hội hiệu quả nhất, khuyến khích hợp tác để chung tay xây dựng một quốc gia thịnh vượng và công bằng. Mức độ dân chủ quyết định sự cường thịnh của một quốc gia. Dân chủ càng cao, người dân càng có nhiều cơ hội sống trong tự do, bình đẳng, bao dung, và hợp tác.

Ngay sau khi Park Chung Hee và Tưởng Giới Thạch qua đời, Hàn Quốc và Đài Loan vẫn tiếp tục bị cai trị bởi bóng đêm độc tài, trước khi thắp được ánh sáng dân chủ thực sự. Họ giành được thắng lợi dân chủ là nhờ sự liên kết của đông đảo trí thức, tạo nên các đoàn thể mạnh hướng dẫn quần chúng biểu tình đòi dân chủ. Còn Việt Nam chưa có dân chủ, ngắn gọn là vì phần lớn còn bám chặt tâm thức nô lệ, tự cho mình là bất lực, để dựa dẫm và cậy nhờ “độc tài sáng suốt” hoặc nước ngoài mang đến dân chủ.

Quên là không còn nhớ?! HUY PHƯƠNG

Image may contain: one or more people, people sitting, ocean, sky, beach, outdoor, water and nature

TẠP GHI HUY PHƯƠNG….

Quên là không còn nhớ?!

Bây giờ chúng ta không còn lấy lý do vì tuổi già mà quên nữa, bằng chứng là một thanh niên chỉ mới 19 tuổi, Connor Spear, ở Anh Quốc, đi dự một lễ hội âm nhạc, đậu cái xe của mình ở đâu, mà mãi một tuần sau vẫn chưa nhớ ra.

Cái quên vớ vẩn thì ai cũng có lần quên, cái chìa khóa xe, cái kính lão. Đi ra khỏi nhà quên cái điện thoại, cái ví đựng tiền và bằng lái xe cũng là việc thường tình. Nếu không ghi vào tờ lịch treo tường, thì ngày đi dự đám cưới, tang lễ bạn bè cũng có khi quên. Có người quên cả tên người bạn cũ, quên cái tên đường, quên tên cái quán ăn.

Nhưng cái quên đau đớn nhất của con người là quên trẻ nhỏ trên xe giữa trời nóng mà không nhớ ra. Chỉ trong năm 2018, trên nước Mỹ đã có hơn 50 em bé thiệt mạng vì cha mẹ không nhớ ra, là trước khi xuống xe, khóa cửa mà đứa con mình còn ngồi trong cái car-seat. Có những bà mẹ “đoảng” ham hú hí với bạn trai mà bỏ con trên xe, nhưng cũng có nhà thông thái là giáo sư đại học, thay vì trước khi đến trường, phải ghé qua gửi con ở nhà trẻ, lại quên mất là con mình đang ở trên xe, đến chiều ra parking lấy xe về nhà mới phát hiện con mình đã chết.

Có những bà mẹ trẻ để con bị chết nóng trên xe bị kết án 20 năm tù, nhưng cũng có tòa kết luận tha bổng vì tòa án cho đây là một việc làm không có chủ đích, mà chỉ vì quên, nhưng chính bản án lương tâm sẽ làm ray rứt bậc cha mẹ suốt đời, nếu vì quên mà để xẩy ra những thảm kịch mất con như thế!

Đôi khi chúng ta tự nghĩ: “Làm sao để không quên!”

Và cũng ngược lại, có nhiều điều chúng ta muốn quên đi mà không quên được!

Trong đời sống hiện tại, có rất nhiều điều cần nhớ, mà cũng có rất nhiều cái cần quên đi. Chỉ tiếc là chúng ta đôi khi phải nặng lòng nhớ những điều không đáng nhớ, và đã quên đi những điều không đáng quên! Nhà thơ Trạch Gầm, thay vì những điều không đáng nhớ, ông phải chôn vào huyệt quên, thì trớ trêu thay, ông đã chôn lầm vào huyệt nhớ nên phải nhớ suốt đời!

Người xưa khuyên người đời nên quên đi những oán thù và những điều gì người khác làm tổn hại mình, nhưng phải nhớ kỹ những điều người khác đã ra ơn, làm tốt cho mình.

Chuyện có hai người thương buôn thân thiết cùng đi qua sa mạc. Trong cuộc hành trình, họ cũng có những chuyện va chạm. Một lần hai người cãi nhau, một người bị đánh đến đổ máu. Sau đó, không nói một lời, trước khi tiếp tục ra đi, nạn nhân bình tĩnh viết lên đồng cát ven đường: “Hôm nay bạn tôi đã đánh và chửi tôi…” Một lần khác, cũng nạn nhân này bị trượt chân sa xuống suối, được người bạn đồng hành nỗ lực cứu sống. Lần này, người được cứu, dùng dao khắc trên đá: “Hôm nay bạn tôi đã cứu sống tôi…”

Ngạc nhiên trước hành động của bạn mình, người kia hỏi: “Sao chuyện lần trước, anh viết lên cát, và lần này, anh lại khắc lên đá?” Người kia trả lời: “Những gì bạn làm tổn thương tôi, tôi muốn quên, nên viết lên cát cho gió thổi bay đi, nhưng những gì bạn đã làm tốt cho tôi, tôi nguyện không quên, nên đã phải khắc vào đá!”

Tâm lý người đời, người ta thường quên ơn nhưng hay nhớ hận.

Câu ngạn ngữ “Người quân tử mười năm trả thù chưa muộn!” nói về nhân vật Câu Tiễn mang mối hận mất nước, phải lưu vong. Sau khi thua trận Cối Kê, Vua Ngô Phù Sai bắt hai vợ chồng Câu Tiễn về nước, cho ở trong một ngôi nhà đá, hằng ngày phải đi chăn ngựa, quần áo lam lũ, ăn toàn cám và rau dại (một lối tù “cải tạo” dành cho người thua trận!).

Nuốt hận, sau khi bị bắt làm “tù binh” từ nước Ngô trở về, không bao giờ quên mối nhục mất nước, Câu Tiễn ngày đêm un đúc ý chí phục thù. Vị vua mất nước cố sức chăm chỉ làm việc suốt ngày đêm, khi buồn ngủ thì lấy cỏ lục xoa vào mắt cho cay làm mắt phải mở, chân lạnh muốn co thì dầm vào nước lạnh, mùa Ðông lạnh thì ôm băng tuyết. Mùa Hè nóng nực thì ngồi bên lửa, lấy gai, lấy củi lót làm giường mà nằm. Một quả mật luôn luôn được treo trước mắt, thỉnh thoảng lại nếm mật đắng để đừng quên những nỗi tủi nhục, khổ đau, đêm nào cũng sùi sụt khóc.

Nhờ ý chí “không quên,” về sau Câu Tiễn đã đánh bại được nước Ngô, báo thù cho nước Việt.

Trong Cổ Học Tinh Hoa có chuyện, “một chiếc đò sang sông. Có chiếc thuyền không có người lái ở đâu trôi đến, đâm phải. Người lái đò tuy hẹp bụng đến đâu cũng không lấy làm giận. Giả sử trên thuyền có người ngồi, thì người lái đò tất đã tru tréo, rồi đến buông lời chửi rủa thậm tệ!” Có điều khi chúng ta ra ơn cho ai đó, một người xa lạ, không biết tên biết tuổi thì chúng ta không nhớ, nhưng những ai đó, quen thân đã chịu ơn mình, thì khó mà quên được, nhất là lúc họ không biết điều! Nhất là khi kẻ hàm ơn chúng ta ngày nay đã trở nên thành đạt giàu có mà ngoảnh mặt làm ngơ ơn nghĩa cũ, hẳn chúng ta sẽ nguyền rủa không tiếc lời.

Và cũng có nhiều điều chúng ta có thể tha thứ, nhưng không bao giờ quên!

Những người quên hẳn hạnh phúc hơn người nhớ. Bệnh lãng quên hay lú lẫn không làm hại ai, nhưng bệnh nhớ chất chồng trong lòng có thể làm cho người ta điên loạn. Khi đời sống nhọc nhằn chúng ta muốn quên, nhưng vì sao chúng ta thường có khuynh hướng trăn trở nhớ đến những khổ đau trong đời, mà ít khi nhớ đến những hạnh phúc chúng ta đã có.

Rồi một ngày nào đó, chúng ta cũng vậy, trí óc trống không, không biết “tiết” còn “trực” không, nhưng “tâm” hoàn toàn “hư.” Chẳng nhớ gì, chẳng biết thương ai, ghét ai, mọi sự như để ngoài cửa, ta như người sống trong mộng, đi trên mây. Rồi cầm tay người vợ hiền, ngọt bùi năm mươi năm mà hỏi: “Ai đây!”

Thánh nhân thì cũng vậy thôi.

Nhưng trước khi đi vào thế giới quên hãy ráng nhớ một vài điều.

Chuyện đại sự thì phải hỏi: “Tôi là ai, từ đâu đến và vì sao mà ta đến đây?”

Thật ra, trên đời này, có những điều không nhớ, thì không lớn nổi thành người!

Chuyện tiểu tiết thì nhớ trả bills kẻo trễ, kéo thùng rác ra đường, cuối tuần này nhớ ghé qua Peek Family viếng bạn già mới ra đi. Buổi sáng sợ ngủ quên thì để đồng hồ báo thức, chuyện khác thì ghi vào tấm giấy để trước mặt. Tuổi này không ai trách móc, lên án những chuyện quên, nhưng chớ bao giờ “giả vờ quên!”

Bây giờ bạn già gặp nhau thường than thở bệnh quên, quên nhiều thứ.

Được nhớ cũng là tốt, nhưng quên được cũng là vui, nhiều khi đó là thứ hạnh phúc mà chúng ta không bao giờ nghĩ đến!

Nhớ như Xuân Diệu: “Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!” thì thôi xin hãy quên đi, cho đời bớt khổ!

Image may contain: one or more people, people sitting, ocean, sky, beach, outdoor, water and nature

10 quốc gia có dân số học thức nhất thế giới.

10 quốc gia có dân số học thức nhất thế giới.

(Theo 24/7 Wall Street) Tổ chức Phát Triển và Hỗ Tương Kinh Tế (OECD) vừa công bố một bản khảo cứu cho biết là trong vòng 50 năm qua, số sinh viên đại học ở các quốc gia phát triển gia tăng gần 200 phần trăm.

Bản công bố này cũng liệt kê danh sách 10 quốc gia trên thế giới có cư dân học thức nhất trên thế giới.

image

Đứng hàng thứ 10 là Phần Lan với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 37 %.

Sản lượng quốc gia (GDP) tính theo đầu người là 36,585 Mỹ kim

image

Úc Đại Lợi là quốc gia có cư dân học thức đứng hàng thứ 9 trên thế giới,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học cũng 37 %.

Sản lượng GDP tính theo đầu người là 40, 719 Mỹ kim

image

Anh là quốc gia đứng hàng thứ về số dân học thức,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp cũng ở mức 37 %,

và sản lượng GDP tính theo đầu người là 35, 504 Mỹ kim

image

Na Uy là quốc gia đứng hàng thứ 7 trong bảng sắp hạng,

với sản lượng GDP ở mức 56,617 Mỹ kim một đầu người

image

Nam Hàn là quốc gia đứng hàng thứ 6,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 39 %, 

trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 29,101 Mỹ kim

image

Quốc gia đứng hàng thứ 5 là Tân Tây Lan,

với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 40 %. 

Sản lượng GDP mỗi đầu người chỉ ở mức 29,871 Mỹ kim

image

Hoa Kỳ là quốc gia đứng hàng thứ 4,

với số dân có bằng cấp đại học ở mức 41 %.

Trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người là 46,588 Mỹ kim

image

Quốc gia đứng hàng thứ 3 trong bảng danh sách là Nhật,

với 44 % dần số có bằng cấp đại học.

Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 33,751 Mỹ kim

image

Do Thái là quốc gia đứng

 hàng thứ 2 trong bảng danh sách

với 45 % dân số có bằng cấp đại học,

trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người chỉ ở mức 28,596 Mỹ kim

image

Canada là quốc gia đứng hàng đầu về trình độ trí thức,

với 50 % dân số có bằng cấp đại học.

Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 39, 070 dollars

VẪN CÒN CÁI GỐC

 

 Diem Chi

 TRUYỆN

VẪN CÒN CÁI GỐC

Tiểu Tử

Tôi sanh ra vào thời Pháp thuộc, lớn lên, ra đời với Mỹ Diệm, Mỹ Thiệu rồi… già trước tuổi sau ngày “cách mạng thành công” ! Để thấy tôi đã có cái may mắn biết thằng Tây, biết Chú Sam, biết Bác. Thằng Tây đội nón cối thực dân ngồi trên đầu thằng dân đội nón lá. Chú Sam với cái nhãn bàn tay của chú nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ – cái nhãn chưa kịp tróc, chú đã buông rơi thằng bạn như buông rơi một vật vô tri! Trải qua ba trào như vậy mà tôi đã không thành Tây, không thành Mỹ, cũng không thành Bôn-sê-vít, nhờ truyền thống của ông cha: Biết giữ gìn cái gốc. Điều này, tôi rất tự hào.

Bây giờ, tôi xin tự giới thiệu …

Tôi tên là Tư – Lê Di Tư – Theo ông nội tôi kể lại thì tôi thuộc dòng họ Lê Di ở Huế, một dòng họ nổi tiếng khoa bảng. Hồi đó, ông sơ ông sờ gì của tôi đã làm quan lớn trong triều đình. Ổng được lệnh vua, đưa dân đi dài vào Nam khai hoang, dựng làng lập ấp, để mở mang bờ cõi. Khi ổng vào đến vùng rừng thiêng nước độc mà sau này người ta gọi là Tây Ninh, ổng ngã bịnh rồi chết. Sau đó, không nghe ông nội tôi kể tiếp. Điều mà tôi biết là đến đời ông nội tôi, cái gia tài quyền quy chữ nghĩa của dòng họ Lê Di chỉ còn lại đủ để ông nội tôi…bắt mạch hốt thuốc độ nhựt! Rồi qua đến đời cha tôi, đời anh chị tôi…chỉ còn làm ruộng dài dài, mà mớ chữ nghĩa thì vừa đủ để ngâm nga mấy truyện thơ bình dân như Chàng Nhái Kiểng Tiên hay Bạch Viên Tôn Các.

Hồi đó, có người thắc mắc tại sao tôi đã mang cái họ Lê Di rất văn vẻ, rất …quí phái mà lại có cái tên Tư nghe quá cộc lốc khô khan? Nói cho có vẻ…văn chương, cái họ của tôi như tấm lụa mềm mà sao cái tên của tôi thì như hòn sỏi nhám? Đó là do bản chất thật thà của cha tôi. Ổng đặt tên anh em chúng tôi giống như ổng đếm bầy con! Đầu tiên là anh cả tôi: Lê Di Một. Kế đó là anh Lê Di Hai. Tiếp theo là chị tôi: Lê Thị Ba. À! Chỗ này được cha tôi giải thích…gọn bâng: Tại nó là con gái, mang họ Lê Di sao được, nữ sanh ngoại tộc mà ! Cuối cùng là tôi, Lê Di Tư, sanh cách chị tôi đến chín năm. Vì vậy, ở nhà gọi tôi là thằng Út, còn hàng xóm thì gọi tôi là Út Tư, chắc là để khỏi lầm với những thằng Út khác.

Năm đó, tôi đến tuổi vào trường tiểu học. Cha tôi xách xe đạp chạy ra nhà việc (hồi đó, chỗ ban hội tề –là những người chức trách trong làng – làm việc được gọi là nhà việc, cũng có người gọi là nhà vuông bởi vì ngôi nhà đó có bốn cạnh bằng nhau) để trích lục khai sanh của tôi. Khi ổng về đến nhà, ổng cầm tờ khai sanh vừa chỉ chỏ vừa phàn nàn: “Con mẹ thằng lục bộ! Hồi đó tao khai là Lê Di Tư, nó nghe rõ chớ, lại còn gục gặc đầu nói đứa thứ bốn phải không. Vậy mà nó đánh dấu ư cách xa chữ u đến cả thước lận, thành ra là dấu sắc. Bây giờ thằng chả chết mất rồi, lấy ai mà đối chất đây? Còn thằng lục bộ mới này thì nó đọc sao là chép y ra vậy. Con mẹ nó! Làm thằng nhỏ bây giờ tên là Tú. Coi vô duyên không?”

Vậy là trong khai sanh – và mãi về sau này – tôi tên là Lê Di Tú! Phiền một điều là hồi đó cái tên Tú này tôi nghe không quen lỗ tai. Cho nên, ngày đầu trong trường tiểu học, khi thầy giáo điểm danh, gọi đến Tú là tôi vẫn tĩnh bơ ngồi yên. Còn dòm qua ngó lại coi là đứa nào! Cũng may là thầy giáo lớp chót đó là cậu Sáu An – bà con bạn dì với má tôi – nên cẩu đã biết qua cái sự trục trặc trong cái tên của tôi. Thẩy bèn gọi ‘’ Tư ‘’ làm tôi giựt mình dạ một tiếng lớn. Cả lớp cười rộ. Rồi mấy ngày sau đó, khi gọi đến Tú là thẩy… chêm ngay tiếng Tư cho xong chuyện. Trẻ con dễ thấm, nên chỉ mấy hôm sau là tôi đã quen với cái tên Tú văn vẻ đó, như đã quen lâu !

Lật bật rồi tôi cũng trèo tới lớp nhứt, rồi đậu xép-phi-ca (certificat). Hồi này, ở nhà trúng mấy mùa lúa, nên cha tôi quyết định cho tôi học tới. Ổng nói: ‘’Thằng Út nó lanh lợi, bắt nó làm ruộng cũng uổng ‘’ (Bây giờ nhớ lại, tôi không khỏi phì cười : ổng làm như phải là …cù lần mới đi làm ruộng!) Vậy là tôi được xuống Sàigòn thi vào trường lớn (hồi đó, bậc trung học đã được gọi là trường lớn, bởi vì nó… lớn hơn trường tiểu học). Tôi thi đậu và ở nội trú.. Cha tôi sắm cho tôi cái nón cối hiệu Con Gà Trống và đôi xăng-đan (sandales). Xưa nay, lúc nào tôi cũng đầu trần và đi chân không – đôi guốc chỉ dùng để…rửa chân ban đêm trước khi leo lên ván ngủ. Bây giờ, vào trường lớn phải khác !

Ở trường lớn, người ta gọi tôi là Tú Lê để phân biệt với thằng Tú Phạm học cùng lớp và cũng ở nội trú như tôi. Tôi mang cái tên Tú Lê được hai năm thì trong nước có giặc. Sàigòn bị đồng minh gì gì đó dội bom. Trường lớp bị đóng cửa, dân chúng thị thành tản cư. Cha tôi vội vã đem tôi về làng. Từ đó, tôi tập tành làm ruộng. Điều này không đi đúng với sự mong muốn của cha tôi. Lâu lâu ổng hay nhắc :’’Con mẹ nó! Nếu không có giặc thì thằng nhỏ đã không phải về làm ruộng. Giòng họ Lê Di bây giờ chỉ còn có mình nó là khá. Vậy mà…’’. Câu nói thường bị bỏ lửng. Để thấy ổng cũng hơi phiền trách ông Trời đã không giúp tôi đi theo “con đường chữ nghĩa” cho dòng họ Lê Di được nở mặt, mà đẩy tôi về với ruộng lúa, con trâu, cái cày…Riêng tôi thì lại thích được như vậy. Có lẽ tại vì cái gốc “ruộng” của tôi đã ăn quá sâu vào đất. Tôi sung sướng được trở về với cái tên “Út Tư” bình dị mà hàng xóm dùng để gọi tôi từ thuở ấu thời. Và tôi cũng quên dễ dàng cái tên “Tú Lê” văn vẻ đã bỏ lại ở một góc sân nào đó trong trường lớn…

Vào thời ông Diệm/ông Thiệu, tôi “đi” dân vệ. Để được ở lại làng giúp gia đình làm ruộng ngoài giờ công tác ở đơn vị địa phương. Bởi vì gia đình tôi không có tá điền tá thổ gì hết. Ngoại trừ mùa cấy hay mùa gặt phải mướn thêm người giúp cho “kịp mưa kịp nắng”, kỳ dư đều do người trong gia đình tôi làm lấy, kể cả mẹ tôi, mấy chị dâu anh rể tôi và vợ tôi nữa (hồi này tôi đã có vợ con). Kể lại như vậy để thấy rằng gia đình chúng tôi thuộc loại “tay làm hàm nhai” chớ không phải loại “chỉ tay năm ngón, ngồi không trục lợi” ! Và nhờ trời, gia đình tôi làm ruộng mà “lúa ăn không hết”…

Sau biến cố tháng Tư 1975, tôi đi học tập hết ba hôm rồi về nhà tiếp tục làm ruộng. Yên chí rằng mình thuộc giới công nông đem “mồ hôi đổi lấy bát cơm”, lấy sức “lao động làm nên của cải” (mấy câu này tôi mới học được của mấy cán bộ cách mạng, cha nào cha nấy nói y như nhau, còn lập đi lập lại nữa nên…dễ nhớ!) Chớ không thuộc loại “Mỹ Ngụy ác ôn” hay “trí thức vong bản” hay “địa chủ phú nông , cường hào ác bá “ gì gì…Tôi đã thật tình tin tưởng rằng mình “không có nợ máu với nhân dân” thì không có gì phải lo âu sợ sệt. Chẳng dè ít lâu sau ruộng bị “sung” vào hợp tác xã, còn chúng tôi thì làm công lại cho họ. Ngang ngược một cách rất…tự nhiên! (May quá! Cha mẹ tôi đã thất lộc trước ngày “cách mạng thành công”. Mừng cho ổng bả!)

Vào hợp tác xã chưa đủ. Còn phải đi lao động (làm như đi làm ruộng mỗi ngày chưa phải là lao động!) Rồi đi họp hành, học tập đường lối chủ trương (làm như phải có những thứ đó thì lúa…mới tốt!) Rồi đi mết tinh, rồi hô khẩu hiệu, rồi khai lý lịch khai tới khai lui…Có đêm tôi nằm trăn trở, nghĩ tiếc cho cái gốc của ông bà để lại, bây giờ không còn đứng vững nữa. Cái gì không giống cái gì hết ! Lai căn tạp nhạp.

Vậy là sau một thời gian nhẫn nhục làm một “nhân khẩu“ của chế độ, tôi thấy tối ngày cứ hô “sống mãi, sống mãi, sống mãi” chắc… chết quá! Tôi đành liều mạng mang vợ con vượt biên. Nhờ ơn trên phò hộ, chúng tôi đi thoát và tấp lên đảo Pulau Bidong (Mã Lai).

Sau hơn bốn tháng “nằm” đảo, chúng tôi được chánh quyền Pháp nhận cho định cư. Đó là nhờ chút ít tiếng Pháp còn sót lại của thuở thiếu thời xa xưa. Thuở đó, mỗi ngày học trò phải chào cờ “Đại Pháp”, phải hát bài “Maréchal ! Nous voilà !”. Vào lớp phải đứng thẳng, đợi thầy nói “Asseyez-vous” rồi chấm câu với tiếng roi mây hay cây thước bảng đập lên bàn. Chừng đó, cả lớp đồng nói “Nous nous asseyons” rồi mới ngồi xuống. Ở cái thời như vậy mà sao cái “gốc” vẩn còn. Có lẽ nhờ truyền thống của ông cha và nhờ mấy quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã âm thầm nhen nhúm tình thương quê hương dân tộc.

Chúng tôi được “bốc” về đất liền ở thị xã Trenganu, rồi từ đó về Kuala Lampur, thủ đô Mã Lai, để làm thủ tục giấy tờ.

Hôm chuẩn bị lên xe để ra phi trường Kuala Lampur “bay” đi Paris, lòng tôi như mở hội. Ngày mai chẳng biết ra sao, nhưng chân trời mới này đã thấy rộng thênh thang. Không phải cho tôi, mà là cho hai thằng con tôi đang trong tuổi lớn ! Điều này tôi muốn chia xẻ với những người ti. nạn đang đứng chùm nhum ở lãnh sự quán Pháp đợi gọi lên xe ca, nhưng tiếc quá họ toàn là người Tàu Nam Vang và người Miên người Lào. Họ không biết tiếng Việt Nam, thành ra tôi… cụt hứng.

Chính ông phó lãnh sự gọi tên từng gia đình để trao thông hành và mời lên xe. Khi ổng gọi đến gia đình “Lơ đi”, chẳng thấy ai nhúc nhích. Ổng đưa mắt tìm trong đám đông rồi cái nhìn của ổng ngừng lại ở tôi. Ổng mỉm cười hỏi bằng tiếng Pháp:”Gia đình ông người Việt phải không?”. Tôi gật đầu “Ùy mong xiừ” mà tự hỏi làm sao ổng nhận ra cái gốc Việt Nam của mình? Ổng bèn trao tờ thông hành rồi chúc thượng lộ bình an. Lên xe ca, tôi đọc tấm giấy thấy đề :”Nom: Ledi- Prénom: Tu”. Tôi nhổm dậy định xuống xe phân trần, nhưng xe đã rồ máy và tôi cũng nghĩ lại: Cái vốn Pháp ngữ quá ít ỏi của mình không đủ để giải thích những gút mắt của cái họ cái tên Việt Nam, của dấu ê dấu sắc trong tiếng Việt Nam. Tôi đành ngồi xuống, thở dài… : Thân phận lưu vong, bỏ hết mất hết đã đành, chỉ có cái họ cái tên là mang theo được bên mình, vậy mà bây giờ nó cũng không còn nguyên vẹn hình hài và âm thanh của nó nữa ! Nghĩ đến đó, tôi bỗng nghe tủi thân đến ứa nước mắt….

Ở Pháp, tôi không “hành” nghề làm ruộng. Tôi làm thợ nhà in. Chắc tổ tiên dòng họ Lê Di, nhứt là vong hồn của cha tôi, muốn cho tôi -dù sống ở xứ người- cũng vẫn được gần với…chữ nghĩa ! Ở đây, người ta hay gọi tôi bằng cả họ lẫn tên “Ledi Tu”, bởi vì phát âm ‘Lơ đi tuy‘ theo tiếng Pháp có nghĩa là “ Mầy có nói ra không? “.Tôi không thích, nhưng phải chấp nhận, như tôi đã chấp nhận định cư ở xứ này, bởi vì điều quan trọng vẫn là tương lai của hai thằng con. Tuy nhiên, lâu lâu tôi vẫn thèm được nghe gọi “Út Tư”, cái tên có âm thanh hiền lành bình dị, cái tên sao mà gợi nhớ quê cha đất mẹ vô cùng…

Bây giờ tôi đã về hưu. Ngày ngày tôi “chăn” bầy cháu nội, dạy dỗ chúng nó từng chút để chúng nó đừng thành “Tây con”. Khi nói chuyện với cha mẹ của chúng, tôi thường ví von: ”Ba giống như cây bần cây đước đã bị cơn bão năm 1975 bứng ra khỏi đất. Trôi nổi bập bềnh theo sống gió đại dương đến khi đụng một bến bờ nào đó, cho dù đất khô đá cứng, cây bần cây đước đó vẫn cố bám rễ . Để giữ lấy cái gốc. Bởi vì những nhánh nhóc bên trên rồi sẽ đâm chồi nẩy lộc. Cái gốc đó – chắc các con còn nhớ – nó tên là Việt Nam“.

Tiểu Tử

TẤM BẰNG GIẢ CHO CHẾ ĐỘ

TẤM BẰNG GIẢ CHO CHẾ ĐỘ

Đỗ Ngà

Mục đích của tấm bằng giả là gì? Đó là một “vật thể” dùng để chứng nhận danh hiệu cho một con người về những giá trị mà họ không hề có. Tri thức của anh chỉ biết đọc biết viết, nhưng anh muốn xã hội thừa nhận anh là bậc khoa bản. Vậy thì anh tìm đến với “bằng giả”.

Để xây dựng hình ảnh lãnh tụ, người ta không thể dùng tấm bằng giả làm bằng giấy vô tri vô giác như thế trương lên truyền thông để lừa gạt dân được, mà phải dùng vật thể khác thuyết phục hơn. Một vật thể chết như tấm bằng giả bằng giấy kia không đủ khả năng biến con người bình thường thành thánh nhân được, mà cần phải có một tấm bằng giả đặc biệt hơn nhiều, tấm bằng ấy phải là một “vật thể sống”. Tức người ta cần một con người thay cho một tờ giấy để xác nhận những thứ mà chính bậc “vĩ nhân” đó không có. Chỉ có như thế mới biến con người bình thường thành thánh nhân được.

Ông Hoàng Chí Bảo là một giáo sư tiến sĩ chuyên về triết học Marx Lenin, là thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương. Công việc của ông là đi khắp nơi kể chuyện bác Hồ. Và “nghiên cứu” thực sự của ông lại là “sáng tác”. Trong 26 năm ông đã sưu tầm và sáng tác hàng ngàn câu chuyện về bác Hồ của ông để xây dựng và củng cố hình ảnh lãnh tụ trong mắt dân chúng. Khoảng 5 năm trước đây, trên mạng xã hội có lan truyền clip ông Hoàng Chí Bảo kẻ về “bác Hồ của ông nói được 29 thứ tiếng”. Rõ ràng nếu là người có lí trí thì không khó để nhận ra đây là câu chuyện tô vẽ về những khả năng mà ông Hồ Chí Minh không có. Với hàng ngàn mẩu chuyện, ông đã vẽ vào trong não bộ của rất nhiều người rằng, “bác rất siêu phàm”.

Thực ra để cấy vào trong đầu người dân Việt suy nghĩ về điều không có thực về lãnh tụ thì không chỉ riêng một mình ông Hoàng Chí Bảo làm việc đó mà có có cả bộ máy tuyên giáo vào hệ thống giáo dục. Nếu ví ông Hoàng Chí Bảo là “tấm bằng giả sống” của ông Hồ Chí Minh thì thực tế ông Hồ có vô số thứ “bằng giả sống” như thế. Và kết quả ĐCS đã biến một con người được thế giới liệt vào những nhà độc tài khát máu bên cạnh Pol Pot, Mao, Stalin vv.. thành một ông thánh và được rất nhiều người sùng bái.

Chủ thuyết Marx – Lenin nó đã được lịch sử kiểm chứng là giả, tức là những gì chủ thuyết này nói đến trên giấy nó hoàn toàn ngược lại khi thực hành. CS tự tô vẽ XHCN là “thiên đường” thì lịch sử thế giới đã xác nhận nó chính là địa ngục. Tuy nhiên để cấy vào đầu rất nhiều thế hệ trẻ của Việt Nam rằng “chủ thuyết này vẫn rất tốt đẹp” thì tất ĐCS phải tạo ra cho chủ thuyết này một thứ “bằng giả” tương tự như “bằng giả sống” mà họ đã dành cho ông Hồ. Thứ “Bằng giả sống” cho chủ thuyết, cho chế độ này không gì khác, đó chính là “công tác tuyên giáo”. Hiện nay Ban Tuyên Giáo vẫn mở hết công suất để cấy vào nhận thức của người dân về một thứ tốt đẹp về “định hướng XHCN” nào đó.

Với một chủ thuyết sống nhờ “bằng giả”, một chế độ tồn tại cũng nhờ “bằng giả”, một hình ảnh lãnh tụ cũng được xây dụng dự trên những “bằng giả” ấy thì liệu một bộ máy nhà nước nằm trong 2 lớp rọ giả tạo đó chuộng “bằng thật” được sao? Vậy nên, bằng giả ở cơ quan nhà nước nó như trăm hoa đua nở là điều không thể nào tránh khỏi, một xã hội với nạn buôn bán bằng giả nhộn nhịp và công khai không bao giờ loại trừ được. Nó thuộc về một phần của bản chất chế độ.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.youtube.com/watch?v=JkXi5HsLVB4…

https://www.baogiaothong.vn/nguoi-26-nam-ke-nghin-chuyen…

https://baophapluat.vn/…/gs-ts-hoang-chi-bao-pho-su…

https://www.sggp.org.vn/mua-ban-su-dung-bang-cap-gia-van…

Image may contain: 1 person
You and 72 others
6 Comments
8 Shares

NGỤY BIỆN

 

NGỤY BIỆN

Socrates, một triết gia người Hy Lạp, được mệnh danh là bậc thầy về lý luận, truy vấn. Một hôm, ông được các đệ tử đặt câu hỏi:

– Thưa thầy, thầy có thể lấy ví dụ để nói rõ ngụy biện là gì?

Socrates suy nghĩ một lúc rồi hỏi lại:

– Giả sử có hai người, một người sạch sẽ tươm tất, còn người kia bẩn thiểu xuề xòa. Nếu mời hai người này đi tắm, các em thử nghĩ xem, hai người họ ai sẽ đi tắm trước?

Một đệ tử lớn tiếng nói:

– Tất nhiên là người bẩn thỉu rồi.

Socrates phản bác nói:

– Sai rồi, là người sạch sẽ. Bởi vì người sạch sẽ kia đã có thói quen thích tắm gội. Còn người bẩn thỉu lại cho rằng không cần phải tắm.

Nói rồi ông hỏi lại lần nữa:

– Hãy nghĩ thử đi, rốt cuộc ai sẽ di tắm trước?

Hai đệ tử đồng thanh:

– Là người sạch sẽ.

Socrates lại phản bác nói:

– Không đúng, là người bẩn thỉu . Bởi vì người bẩn thỉu càng cần phải tắm gội hơn người sạch sẽ.

Sau đó, Socrates lại hỏi thêm lần nữa:

– Vậy trong hai người rốt cuộc ai sẽ đi tắm trước?

Ba đệ tử lớn tiếng trả lời như lần thứ nhất:

– Là người bẩn thỉu.

Một lần nữa Socrates lại nói:

– Lại sai nữa rồi, dĩ nhiên là cả hai người đều sẽ đi tắm. Bởi người sạch sẽ có thói quen tắm gội, còn người bẩn thỉu cần phải đi tắm. Thế nào, rốt cuộc ai sẽ là người đi tắm trước đây?

Lần này bốn đệ tử lưỡng lự trả lời:

– Thế thì xem ra hai người đều sẽ đi tắm.

Socrates giải thích:

– Không đúng, cả hai đều sẽ không tắm. Bởi vì người bẩn thỉu không có thói quen tắm gội, còn người sạch sẽ kia thì vốn không cần phải tắm.

Lần này các đệ tử nhôn nhao nói:

– Mỗi lần thầy nói đều khác nhau, nhưng lại đều đúng, chúng tôi rốt cuộc nên hiểu thế nào đây?

Socrates nói:

– Đúng vậy, về hình thức là dùng thủ đoạn suy luận chính xác nhưng thực tế lại trái với quy luật khách quan. Đưa ra kết luận nghe thấy đúng nhưng lại là sai, đấy chính là ngụy biện!

Các đệ tử lại đặt câu hỏi:

– Thưa thầy, ngụy biện có phải là cố ý luận chứng cho lý lẽ sai nào đó và sai lầm khách quan trong đó thật không dễ phát hiện. Vậy làm sao để nhìn thấy sai lầm khách quan trong nguỵ biện đó?

Socrates suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Có hai người cùng nhau chui vào sửa ống khói. Khi họ chui từ ống khói ra, một người thì rất sạch sẽ, còn một người thì muội than nhem nhuốc khắp người. Tôi hỏi ai sẽ đi tắm trước đây?

Tất cả đệ tử ngập ngừng trả lời:

– Đương nhiên là người bị lấm bẩn khắp người sẽ đi tắm trước.

Socrates nói:

– Thật vậy ư? Các ngươi hãy chú ý, người sạch sẽ thấy người kia lấm bẩn khắp người anh ta nghĩ rằng từ ống khói chui ra sẽ rất bẩn. Còn người kia nhìn sang thấy người trước mặt rất sạch sẽ thì lại nghĩ rằng bản thân mình cũng rất sạch sẽ. Bây giờ tôi hỏi lại, ai sẽ là ngưòi đi tắm trước?

Hai đệ tử phấn khích tranh nhau:

– Ồ, tôi biết rồi ! Vậy nhất định là người sạch sẽ chạy đi tắm gội trước trước.

Cuối cùng Socrates chậm rãi nói:

– Những câu trả lời đó đều không đúng. Hai người đều cùng chui từ ống khói đó ra, làm sao người này thì sạch sẽ, người kia thì nhem nhuốc bẩn thỉu được. Đây gọi là trái với quy luật khách quan, dẫn tới sai lầm khách quan trong ngụy biện.

Socrates nói tiếp:

– Kẻ giỏi nói không bằng người biết phân tích lắng nghe.

– Ngụy biện nhìn ngoài thì hiệu nghiệm thật nhưng không bền vững.

– Xảo trá chi bằng hãy sống chân thành, muôn nghìn diệu kế chẳng bằng sống đúng đạo làm người.

Ảnh : Socrates and Alcibiades

Sưu tầm

Image may contain: one or more people, people sitting and indoor

NHÌN BỨC HÌNH

NHÌN BỨC HÌNH

Trong cuộc sống, con người có thể gặp rất nhiều bất ngờ. Có vui- buồn, hờn- giận… đan xen, và cũng không thiếu những điều thú vị, đôi khi phải mở tròn xoe đôi mắt để cố gắng tự mình giải thích. Nhưng câu hỏi tại sao ấy vẫn còn để ngỏ chờ chúng ta câu trả lời…

Bạn giúp người ta cắt dây,

nhưng người ta lại đá ghế dưới chân của bạn

Người nhân hậu giúp ai cũng không ngại, chỉ lo vô ý làm gì đó phương hại đến người khác. Họ luôn chỉ nhìn điểm tốt của người khác, nhìn nhận mọi người đều là người tốt, luôn cởi mở không đề phòng ai, thậm chí làm gì cũng nghĩ cho người khác trước.

Người nhân hậu làm vậy không sai, họ cũng không phải là người ngốc, mà họ hiểu rằng đối xử tốt với người khác chính là đối tốt với bản thân mình. Nhưng xin hãy nhớ, khi bạn làm tổn thương người nhân hậu, họ sẽ không chọn làm tổn thương bạn, mà họ sẽ rời xa bạn, không tiếp xúc với bạn nữa. Vì thế bất kể là trong tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xin đừng chà đạp những người nhân hậu.

Sau khi nổ súng, người chiến thắng là ai?

Có câu cửa miệng rằng: “Làm hại người khác chính là hủy diệt chính mình.” Cũng có nhiều người không đồng ý với câu nói trên.

Nhưng hãy nhìn kỹ bức hình trong bài bạn sẽ thấy được rõ ràng. Con người sinh ra quý nhất ở chỗ nhân hậu, người chiến thắng là người có đạo đức, có đức tin, hiểu luật nhân quả. Xin hãy nhân hậu với tất cả mọi người, thế giới quá rộng lớn, nhìn thấy nhau thoáng qua cũng không phải là ngẫu nhiên, có thể gặp được nhau chắc chắn là do duyên phận.

Tại sao chúng ta đối xử với nhau càng ngày càng đề phòng?

Tại sao chúng ta ngày càng thận trọng với cuộc sống?

Tại sao cứ phải sống giả dối?

Mọi thứ tốt hay xấu là do chính mình tạo nên.

Hãy rộng lượng, khoan dung, và biết nghĩ cho người khác, bạn nhất định thấy cuộc sống không giống như những gì đang thấy ngày hôm nay.

Têrêsa NgọcNga (st)

TUỔI HƯU

TUỔI HƯU

Tuổi hưu nào có nể ai!
Cuộc đời bước ngắn bước dài tới nơi!
Tuổi hưu là tuổi ăn chơi;
Sáng, trưa, chiều, tối hết ngồi lại đi.
Tuổi hưu là tuổi dậy thì,
Rất mê bác sĩ, thuốc gì cũng nghe…
Tuổi hưu thích gặp bạn bè;
Chén chú, chén bác, lè phè, lai rai.
Tuổi hưu là tuổi thành tài,

Được con bổ nhiệm trông vài nhân viên.

Tuổi hưu là tuổi thần tiên,
Một mình lo liệu chẳng phiền cháu con.
Tuổi hưu là tuổi trăng tròn,
Khớp xương nhức mỏi, mạch còn vữa xơ…
Tuổi hưu là tuổi mộng mơ,

Đêm đêm thao thức nằm chờ bình minh.

Tuổi hưu là tuổi si tình,
Mắt nhìn đắm đuối một hình hóa hai.
Tuổi hưu như giọt sương mai,
Tinh mơ luyện tập kéo dài tuổi xuân.
Tuổi hưu chưa muốn dừng chân,
Vẫn ham tranh luận chuyện gần chuyện xa.
Tuổi hưu ông vẫn chưa già,
Nếp nhăn trên trán, ấy là sợi yêu…

Tuổi hưu tô phấn hơi nhiều,
Cụ bà chứng tỏ tình yêu mặn mà…

Hết hưu về với ông bà,
“Ngồi sau nải chuối ngắm gà khỏa thân”.
Chẳng ai sống mãi cõi trần,
Về hưu tếu táo, góp phần vui tươi.

Gặp nhau thì hãy vui cười,

Tuổi hưu sống khỏe, vui tươi an lành!

S.T.

From: HUNG TRAN