“QUAN ĐIỂM: TAM QUYỀN PHÂN LẬP KHÔNG PHẢI LÀ LÝ DO NỀN CỘNG HÒA MỸ THOÁT KHỎI TAY TRUMP

 

Bài phân tích hay.

Giá trị thật sự của nền dân chủ, nền cộng hoà chính là đây.

“QUAN ĐIỂM: TAM QUYỀN PHÂN LẬP KHÔNG PHẢI LÀ LÝ DO NỀN CỘNG HÒA MỸ THOÁT KHỎI TAY TRUMP

Vậy lý do thực sự là gì?

Người Mỹ được dạy rằng chức năng chính của bản Hiến Pháp là kiểm soát quyền hành pháp: ngăn chặn những tổng thống có thể tìm cách trở thành bạo chúa. Những nền dân chủ khác đã rơi vào chế độ độc tài (Cộng hoà La Mã, Cộng hoà Đức sau Thế chiến thứ I, Trung Hoa Dân Quốc và còn nữa), nhưng hệ thống tam quyền phân lập tinh vi trong Hiến Pháp, được thiết kế chủ yếu bởi James Madison, đã luôn bảo vệ chúng ta khỏi đi vào vết xe đổ đó.

Hoặc là chúng ta cứ tưởng như vậy. Tuy nhiên, nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump, một người quyết liệt tìm cách hiện thực hoá ham muốn toàn trị của mình nhưng bị ngăn chặn hầu hết, cho thấy chúng ta nên xem xét lại quan điểm đó. Bởi vì hệ thống tam quyền phân lập của chúng ta, trong đó ba nhánh của chính quyền có quyền hạn để kiểm soát và tác động lẫn nhau, đã đóng vai trò nhỏ bé đến mức đáng thất vọng trong việc ngăn chặn ông Trump có được quyền lực vô hạn mà ông ta muốn.

Thứ thực sự cứu được nền Cộng hoà khỏi ông Trump là những quy củ hệ thống phi chính thức được các công tố viên liên bang, sĩ quan quân đội và quan chức bầu cử tiểu bang giữ vững. Có thể gọi những giá trị này là “bản Hiến Pháp bất thành văn”, mà dù gọi đó là gì thì những yếu tố này đã đóng vai trò quyết định trong việc giới hạn quyền lực hành pháp, chứ không phải hệ thống tam quyền phân lập.

Đúng là toà án các cấp, ở những thời điểm khác nhau, đã chế ngự xu hướng bạo ngược của ông Trump, như khi họ bác bỏ những cáo buộc vô căn cứ của ông ta nhắm vào cuộc bầu cử và ngăn chặn nỗ lực nhằm huỷ bỏ chương trình DACA (1) không qua quy trình chuẩn mực. Nhưng trong những vụ án khác, như lệnh cấm du khách từ các quốc gia Hồi giáo, toà án các cấp đã cho thấy họ không muốn phán quyết vượt khỏi khuôn khổ để tìm ra động cơ vi hiến đằng sau. Nói đại khái hơn thì ông Trump thường hành động rất nhanh, trong khi các toà án lại vận hành chậm chạp, và điều này khiến toà án không thể phán xử được.

Một yếu tố thất bại lớn và quan trọng hơn nữa chính là Quốc hội. Ý đồ của Madison là Quốc hội phải đóng vai trò chủ đạo trong việc kiểm soát tổng thống. Tuy nhiên, thiết kế đó có một nhược điểm then chốt (như chính Madison đã nhận ra): dễ bị vô hiệu hoá bởi chính trị đảng phái. Hoá ra là, nếu đa số thành viên của ít nhất một trong lưỡng viện cho thấy sự trung thành với đảng của họ hơn với Quốc hội, Quốc hội sẽ không thể hoạt động như một chốt chặn đáng tin cậy với tổng thống cùng đảng. Đó là điều đã xảy ra với ông Trump và Thượng viện do đảng Cộng Hoà kiểm soát.

Đây là một vấn đề thâm căn cố đế, nhưng trong 4 năm qua nó đã bùng phát lan rộng dữ dội. Đối mặt với một tổng thống bất chấp luật lệ, các Thượng nghị sĩ đảng Cộng Hoà đã dung túng cho ông ta làm gì thì làm, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Họ cho phép ông ta bổ nhiệm quan chức lâm thời để vận hành chính quyền (mà không cần Thượng viện phê chuẩn). Họ cho phép ông ta tiếm quyền tấn công Iran mà không cần Quốc hội cho phép. Quy trình luận tội tổng thống chỉ còn là cuộc đấu giữa hai đảng phái. Thượng viện đã mặc nhiên chấp nhận sự vượt quá thẩm quyền của nhánh hành pháp.

Thay vào đó, những ham muốn tồi tệ nhất của ông Trump đã bị vô hiệu hoá bởi ba trụ cột của “bản Hiến Pháp bất thành văn”. Thứ nhất là sự độc lập giữa tổng thống và bộ phận công tố hình sự liên bang (ngay cả khi Bộ Tư Pháp là một phần của hành pháp). Thứ hai là sự trung lập chính trị truyền thống của quân đội (ngay cả khi tổng thống là tổng tư lệnh tối cao của quân đội). Thứ ba là sự trung thực cá nhân của các quan chức quản lý bầu cử ở các tiểu bang.

Nếu như một trong những “bức tường lửa” này sụp đổ, Tổng thống Trump đã có thêm một nhiệm kỳ thứ hai và trở nên còn độc tài hơn nữa. Nhưng chúng đã đứng vững, và nền Cộng hoà nên cảm thấy biết ơn vì điều đó.

Hãy xem xét yếu tố tường chắn đầu tiên: sự độc lập công tố. Chức năng công tố của nhánh hành pháp không được đề cập trong Hiến Pháp, và nếu chỉ dựa vào chữ nghĩa được ghi trong đó – “Quyền hành pháp sẽ được giao phó cho một Tổng thống của Hợp Chúng Quốc” – một số người sẽ nghĩ (và một số khác thậm chí khăng khăng) rằng tổng thống có toàn quyền ra lệnh công tố viên liên bang làm theo ý ông ta. Ông Trump đã khẳng định ông có quyền này vào năm 2017 khi nói rằng “Tôi có quyền hành tuyệt đối để làm bất kỳ điều gì tôi muốn với Bộ Tư pháp.”

Nhưng từ lâu đã có một thông lệ bất thành văn rằng tổng thống không nên chi phối quyết định của các cơ quan thực thi pháp luật nói chung, và công tố hình sự nói riêng. Đó là lý do tại sao trong suốt mùa thu vừa qua các quan chức Bộ Tư pháp do ông Trump bổ nhiệm đã không công khai tuyên bố mở cuộc điều tra hình sự gia đình ông Biden như ông Trump đã thúc giục. Không người nào mà ông Trump bổ nhiệm muốn công khai điều tra ông Biden hay thành viên gia đình của ông ta, chứ đừng nói là ra quyết định truy tố hình sự hay kiện cáo dân sự.

Hãy tưởng tượng nếu Bộ Tư pháp tuân theo mệnh lệnh của Trump. Tưởng tượng nếu như họ truy tố hình sự ông Biden với tội danh lừa đảo như luật sư của ông Trump, Rudolph Giuliani, đòi hỏi. Cho dù ông Biden cuối cùng có thắng kiện đi chăng nữa, việc đương đầu với những cáo buộc đó trước công chúng, giữa một cuộc bầu cử, sẽ là một thảm hoạ cả về mặt chính trị lẫn tổ chức. “Bản Hiến Pháp bất thành văn” đã ngăn chặn đòn tấn công vào quy trình bầu cử này.

Sự độc lập công tố không chỉ giới hạn ở việc cự tuyệt truy tố đối lập chính trị của ông Trump, mà còn mở rộng đến mức truy tố cả đồng minh của ông ta. Trong 4 năm vừa qua, đã có sáu nhân vật thân cận của ông Trump bị kết án và bảy người bị truy tố, trong đó có cố vấn Steve Bannon, trưởng ban tranh cử Paul Manafort và luật sư riêng Michael Cohen. Hoàn toàn không thể tưởng tượng những cáo trạng đó có thể xảy ra trong một nhà nước độc tài.

Điều này không có nghĩa là Bộ trưởng Bộ Tư pháp William Barr đã hành xử phi đảng phái một cách gương mẫu, hay là Bộ Tư pháp chí công vô tư trong mọi trường hợp. Cái mà chúng ta thấy ở đây là sức mạnh của những quy củ bất thành văn, ngay cả trong một cơ quan được điều hành bởi một trung thần của tổng thống.

Bức tường lửa thứ hai của “bản Hiến Pháp bất thành văn” là truyền thống lâu đời của quân đội Mỹ tránh nhúng tay vào chính trị quốc nội. Giá trị này là vô cùng hệ trọng trong việc kiểm soát bản năng quân phiệt của ông Trump.

Ngày 1 tháng 6, khi các cuộc biểu tình và phản biểu tình nhân vụ sát hại George Floyd dẫn đến bạo lực và phá hoại tài sản, ông Trump xuất hiện trong Vườn Hồng của Nhà Trắng và lên án điều mà ông ta gọi là “hành vi khủng bố quốc nội.” Ông nói rằng sẽ “triển khai quân đội Mỹ” nếu cần thiết để “bảo vệ mạng sống và tài sản” của công dân Mỹ. Trong một buổi chụp ảnh sau đó, ông đứng giữa những quan chức cao cấp như ông Barr, Bộ trưởng Quốc Phòng Esper và tướng Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, trong bộ quân phục. Không lâu sau đó, lực lượng chính quy từ Sư đoàn Không quân thứ 82 đã được điều động đến bên ngoài thủ đô Washington.

Kế hoạch của ông Trump nằm trong khuôn khổ luật thành văn. Không có điều khoản Hiến Pháp hay đạo luật Quốc Hội nào có thể ngăn chặn tổng thống trực tiếp ra lệnh cho quân đội chính quy đàn áp biểu tình. Hiến Pháp quy định rằng tổng thống là tổng tư lệnh quân đội; và Đạo luật Chống Nổi Loạn năm 1807 cho phép tổng thống sử dụng quân đội hoặc Cảnh vệ Quốc gia để đàn áp bất ổn dân sự, tạo ra một ngoại lệ lớn cho quy tắc chung không được sử dụng quân đội trong nội địa.

Đó là một khoảnh khắc nguy khốn một cách vô cùng bất thường cho đất nước. Như lịch sử những nhà nước cộng hoà trở nên vô hiệu dụng cho thấy, khi quân đội can thiệp vào chính trị nội địa, họ thường sẽ tiếp tục duy trì sự can thiệp. Nhưng hai ngày sau bài phát biểu của ông Trump, ông Esper đã công khai phản đối tổng thống, nhấn mạnh rằng quân đội chính quy chỉ nên được dùng trong những trường hợp nội chính “như một giải pháp tối hậu, và chỉ trong những tình huống khẩn cấp và ngặt nghèo nhất.” Ông kết luận rằng “tôi không ủng hộ kích hoạt Đạo luật Chống Nổi Loạn.”

Tướng Milley sau đó cũng đã xin lỗi trước công chúng vì đã tham gia vào buổi chụp ảnh của ông Trump. Ông nói “Sự hiện diện của tôi lúc đó đã tạo ra ấn tượng rằng quân đội đang nhúng tay vào nội chính”. Ông nói thêm “Lẽ ra tôi không nên có mặt ở đó.”

Kế hoạch của ông Trump không phải vi phạm pháp luật, nhưng đi ngược lại một quy tắc bất thành văn. Chỉ trong vài ngày, các binh lính chính quy tập trung quanh Washington được cho về nhà. Dù bị thử thách trong thời gian ngắn, quy củ này đã đứng vững.

Bức tường lửa cuối cùng của “bản Hiến Pháp bất thành văn” là sự trung thực của các quan chức quản lý bầu cử ở tiểu bang. Sự hủ bại của những cá nhân và định chế ban hành luật bầu cử cũng như đếm phiếu là một mối đe doạ hiển nhiên đến tiến trình dân chủ. Ví dụ như ở Nga, tính trung lập của Uỷ ban Bầu cử Trung ương dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã liên tục bị nghi vấn, nhất là khi xét đến việc chính cơ quan này lại tước bỏ tư cách tranh cử của các ứng viên và đảng phái đối lập hàng đầu.

Câu chuyện của Brad Raffensperger, bộ trưởng nội vụ tiểu bang Georgia và là quan chức đứng đầu về quản lý bầu cử, là minh chứng cho những mối đe doạ tiềm tàng đến sự trung thực của một cuộc bầu cử nóng hực. Ông Raffensperger, một đảng viên Cộng Hoà, là người chịu trách nhiệm việc kiểm phiếu ở một tiểu bang mà ông Biden thắng sát nút. Ở cương vị đó, ông Raffensperger đã bị công kích và mạt sát bởi các thành viên cao hơn trong đảng của ông, trong đó có những nhân vật sừng sỏ trong chính trường như hai Thượng nghị sĩ của bang Georgia, David Perdue và Kelly Loeffler. Hai vị này đòi ông Raffensperger phải từ chức không vì lý do nào khác hơn việc ông ta đã thất bại trong việc ngăn chặn ông Biden thắng cử ở tiểu bang này.

Bất chấp áp lực, ông Raffensperger và thống đốc tiểu bang Brian Kemp vẫn đứng vững, cùng với tuyệt đại đa số viên chức phụ trách bầu cử ở các tiểu bang trên toàn quốc. Họ từ chối “phát hiện” gian lận bầu cử mà không có bằng chứng đáng kể. Lòng trung thành với đảng phái – cho đến giờ phút này – dường như vẫn chưa suy đồi đến mức chết người để có thể làm hỏng quá trình kiểm phiếu đến mức tận cùng.

Liệu kết quả đáng mừng này có thể được tính đến cho bản thiết kế hiến định được không? Không hẳn. Các tiểu bang là một phần quan trọng trong thiết kế Hiến Pháp, và văn bản Hiến Pháp đúng là trao cho họ vai trò trung tâm trong các cuộc bầu cử liên bang. Nhưng có vẻ điều có ý nghĩa quan trọng nhất, trên khía cạnh bảo đảm sự minh bạch của quy trình bầu cử, là sự trung thực cá nhân của các quan chức quản lý bầu cử ở tiểu bang hơn là cấu trúc hiến định. Sự cam kết chức nghiệp trước việc bảo đảm tính công bằng của lá phiếu của những người này có lẽ đã cứu nền Cộng hoà thoát khỏi một cuộc khủng hoảng sống còn. Madison từng viết một câu nổi tiếng, “Nếu con người đều thánh thiện thì chẳng cần đến chính quyền làm gì.” Những bộ óc đa nghi có thể hiểu câu này theo nghĩa rằng chúng ta không bao giờ nên tin vào con người, mà chỉ có thể dựa vào những cơ chế kiểm soát có hệ thống trên quyền lực chính quyền.

Bốn năm qua cho thấy một điều khác: các cấu trúc kiểm soát quyền lực có thể bị đánh giá quá cao. Sự sinh tồn nền Cộng hoà của chúng ta phụ thuộc, nếu không muốn nói là nhiều hơn, vào đức hạnh của những người trong chính quyền, đặc biệt qua việc giữ vững các quy củ bởi các viên chức dân sự, công tố viên và sĩ quan quân đội. Chúng ta chán ngấy những thứ như sự chuyên nghiệp hóa và các định chế, và quan niệm về những người thực hiện nghĩa vụ của họ một cách nghiêm túc. Nhưng, như mọi truyền thống đạo đức chủ lưu giảng dạy, không có sự ràng buộc bên ngoài nào có thể thay thế trọn vẹn cho sự thôi thúc bên trong bản thân để làm điều chính trực.

Nghe có thể ngây thơ khi hy vọng con người sẽ quan tâm đến luân lý và trách nhiệm nghề nghiệp trong thời đại bất tín mà chúng ta đang sống này. Nhưng Madison cũng đã thấy được sự cần thiết của niềm tin này. “Có một sự suy đồi ở mức nào đó bên trong loài người,” ông viết, “nhưng cũng có những phẩm chất trong nhân tính giúp đánh giá được phẩm hạnh và sự tín cẩn ở một mức độ nhất định nào đó.” Một chính quyền cộng hoà làm việc hiệu quả, theo ông, “đòi hỏi sự tồn tại những phẩm chất này ở một mức độ cao hơn bất kỳ dạng thức nào khác.”

Nó được gọi là đức hạnh công dân, và sau tất cả, không gì khác có thể thật sự thay thế điều đó.

Người dịch:

Khoa Le

Đường link bài viết trên NYT: https://www.nytimes.com/…/trump-constitution-norms.html…

THE-INTERPRETER.ORG

Quan điểm: Tam quyền phân lập không phải là lý do nền cộng hoà Mỹ thoát khỏi tay Trump.

Đường link bài viết trên NYT: https://www.nytimes.com/…/trump-constitution-norms.html…

Quan điểm: Tam quyền phân lập không phải là lý do nền cộng hoà Mỹ thoát khỏi tay Trump.

THE-INTERPRETER.ORG

Quan điểm: Tam quyền phân lập không phải là lý do nền cộng hoà Mỹ thoát khỏi tay Trump.

Translated from New York Times article Opinion | What Really Saved the Republic from Trump? Tim Wu, ngày 10 tháng 12, 2020 Ông Wu là giáo sư luật tại Đại học Columbia. Vậy lý do thực sự là gì? Annie Jen Người Mỹ được dạy rằng chức năng chính của bản Hiế…

Jocelyn Yow, nữ thị trưởng gốc Việt trẻ nhất California

Jocelyn Yow, nữ thị trưởng gốc Việt trẻ nhất California

EASTVALE, California (NV) – Cô Jocelyn Yow, 25 tuổi, vừa tuyên thệ nhậm chức thị trưởng thành phố Eastvale ở Riverside County tuần này, trở thành thị trưởng gốc Việt – và gốc thiểu số – trẻ nhất California, theo CBSLA hôm Thứ Năm, 10 Tháng Mười Hai.

Cô Yow có mẹ là một người tị nạn gốc Việt và cha là một di dân người Malaysia.

Tân Thị Trưởng Jocelyn Yow và đứa con 6 tháng tuổi. (Hình: Charles Lin)

“Là một người mẹ có con mới sinh 6 tháng càng làm cho tôi muốn phục vụ cộng đồng hơn nữa,” Tân Thị Trưởng Joycelyn Yow cho biết qua một tuyên bố. “Chính quyền địa phương đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta và là nơi chúng ta chứng kiến dân chủ hoạt động như thế nào.”

Cô Yow đắc cử nghị viên Eastvale năm 2018 và từng được các đồng viện chọn làm phó thị trưởng năm 2019.

Hội Đồng Thành Phố Eastvale có năm nghị viên, do dân trực tiếp bầu, với nhiệm kỳ bốn năm. Thị trưởng và phó thị trưởng do các đồng viện chọn, với nhiệm kỳ một năm.

Tân Thị Trưởng Jocelyn Yow tốt nghiệp đại học cộng đồng Norco College và đại học UC Berkeley.

Hiện cô đang theo học cao học ngành chính quyền qua chương trình Harvard Extension của đại học Harvard University, theo trang web của thành phố.

Theo tiểu sử đăng trên Linkedin, cô Yow từng làm đại diện địa phương cho một số thượng nghị sĩ tiểu bang và dân biểu liên bang.

Cô cũng là thành viên trong ủy ban vận động cho ông Dave Min, giáo sư luật đại học UC Irvine và là người vừa thắng cử chức thượng nghị sĩ tiểu bang California, Địa Hạt 37, trong cuộc bầu cử vào ngày 3 Tháng Mười Một.

Tân Thị Trưởng Jocelyn Yow hiện là quản lý của IGNITE National, một tổ chức chính trị có mục tiêu thăng tiến phụ nữ trong xã hội.

“Điều quan trọng nhất là chúng ta bao gồm quan điểm của phụ nữ trẻ và các bà mẹ trẻ trong lúc đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến các gia đình mà chúng ta phục vụ,” vị nữ thị trưởng trẻ cho biết. “Trong khi tôi là phụ nữ gốc thiểu số trẻ nhất và là một trong số ít người mẹ trẻ nắm giữ vai trò thị trưởng ở tiểu bang California, tôi cũng hy vọng ngày càng có nhiều người như tôi thành công trong chính trị.”

Theo đài truyền hình KCET, cha mẹ của tân Thị Trưởng Jocelyn Yow có nguồn gốc người Hoa.

Cha cô từ Malaysia đến Mỹ học trung học. Mẹ cô từ Việt Nam đến tị nạn tại Hoa Kỳ.

Hai người gặp nhau ở San Jose, nơi cô Yow ra đời.

Năm 1996, khi cô Yow mới 1 tuổi, cha mẹ cô chuyển đến Malaysia sinh sống để chăm sóc bà nội cô.

Năm 2011, khi được 16 tuổi, cô và người em trai trở về Mỹ để đi học. Hai năm sau, cha mẹ cô từ quê nội trở về Hoa Kỳ.

Eastvale là một thành phố tương đối trẻ, tọa lạc gần giao lộ của xa lộ 60 và xa lộ 10, thuộc Riverside County, miền Nam California, và mới được chính thức thành lập năm 2010.

Tính đến năm 2019, thành phố có gần 65,000 cư dân. (Đ.D.)

Nước Mỹ thật vĩ đại!

Nước Mỹ thật vĩ đại!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Quang A

12-12-2020

Rất nhiều người chê hệ thống Mỹ quá lộn xộn, để cho Covid phá toang, bầu cử thì chửi nhau chẳng ra gì nữa, “không có kỷ cương phép nước gì cả”…

Đúng là rất bùi tai bọn độc tài. Nghĩ thế là sai! Đúng là hệ thống Mỹ bị lâm nguy, nhưng rốt cuộc nó đã đứng vững và từ từ sửa các lỗi đã tích tụ nhiều năm (mà chủ yếu vẫn là những bất bình đẳng kinh tế và xã hội, sự thích ứng với phát triển công nghệ). Mỹ sẽ vẫn là tấm gương cho thế giới.

Covid là tai hoạ, nhưng rủi ro chính trị, sự tồn vong của nền dân chủ Mỹ bị đe doạ còn là mối nguy to lớn hơn đối với nước Mỹ và nhân loại. Tổng thống đương nhiệm suốt 4 năm qua đã dùng mọi cách để làm xói mòn các định chế cốt lõi của nền dân chủ Mỹ:

1) Gieo rắc sự hoài nghi của nhân dân vào các định chế đó bằng cách tấn công chúng một cách liên tục và khi tinh vi, khi thô bạo (chỉ nêu 5 định chế căn bản):

1.1) Tấn công, làm mất uy tín của báo chí độc lập, vu cho báo chí là “Kẻ thù của nhân dân“, là tung Fake news,…

1.2) Tấn công các cơ quan tư pháp và các thẩm phán nào không làm ông ta vừa ý, làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào một trong ba trụ cột chính của hệ thống, can thiệp thô bạo vào hoạt động tư pháp mà điển hình nhất là vai trò của ông trong vụ kiện của bang Texas.

1.3) Tấn công nhánh hành pháp của các bang không vừa ý ông ta.

1.4) Làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào nhánh lập pháp.

1.5) Chiếm hữu Đảng Cộng hoà để làm công cụ cho mình và đã biến một Đảng Cộng hoà đáng kính thành một đảng không còn giống mấy với Đảng Cộng hoà trước kia (các lãnh đạo của Đảng Cộng hòa ai cũng sợ Trump mà điển hình nhất là số đông các dân biểu và thượng nghị sĩ cộng hoà; mỉa mai nhất là 106 dân biểu Cộng hoà ủng hộ vụ kiện của Texas, trong đó có nhiều dân biểu Cộng hoà mới được bầu ở chính 4-5 bang bị cho là có bầu cử gian lận đó [hoá ra chính họ được bầu bởi các cuộc bầu cử gian lận!?])

Và như thế, nền tảng của nền dân chủ Mỹ bị ông ta và những người theo ông ta tấn công dữ dội.

2) Dùng mọi thủ tục pháp lý được phép để kiện về kết quả bầu cử. Đây là một việc làm hợp pháp nhưng không hợp đạo lý và các chuẩn mực [lưu ý xã hội được quản lý bởi cả 3 thứ: Pháp luật, các chuẩn mực và các tập quán văn hoá trong đó các chuẩn mực đạo đức là quan trọng nhất] và làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào định chế quan trọng nhất của dân chủ, các cuộc bầu cử (với những vu cáo gian lận, bị đánh cắp,…).

Trong 4 năm, ông đã bổ nhiệm 3 thẩm phán vào Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ (khiến cho tương quan bảo thủ/ khai phóng là 6/3 áp đảo có lợi cho phe ông). Có tính toán cả! Ngay đầu tháng 11 ông đã nói, sẽ yêu cầu Tối cao Pháp Viện can thiệp. Khoảng 50 vụ kiện đã được các toà án bang và liên bang xử với sự thất bại thảm hại. Một vụ được đưa lên Tối cao Pháp Viện bị bác bỏ thẳng thừng với 9/9 phiếu.

Cú cuối cùng là Tổng chưởng lý bang Texas kiện các bang chiến trường lên Tối cao Pháp Viện vừa qua (được 18 tổng chưởng lý của 18 bang do Cộng hoà chi phối, và 106 dân biểu Cộng hoà ủng hộ). Đấy là đòn pháp lý cuối cùng.

Sáng nay 12-12, (tức là chiều tối 11-12 giờ miền Đông nước Mỹ) Tối cao Pháp Viện lại bác bỏ thẳng thừng (9/9) vụ đó 3 ngày trước khi các đại cử tri bỏ phiếu chính thức, quyết định ai là tổng thống mới của Hoa Kỳ vào ngày 14-12.

Nền dân chủ Mỹ bị suy yếu nhiều nhưng vẫn qua được cuộc tấn công nguy hiểm nhất trong mấy trăm năm lịch sử của nó.

May thay: Hoa Kỳ không phải là Cộng hòa Weimar!

CHÚA NHẬT HỒNG – NIỀM VUI CỨU ĐỘ

CHÚA NHẬT HỒNG – NIỀM VUI CỨU ĐỘ

Chúa Nhật hôm nay được gọi là: “Chúa Nhật Hồng, Chúa Nhật Vui.”  Đây là một niềm vui rất to lớn và tràn đầy hy vọng của những người tin vào Đấng Cứu Thế và đang hân hoan chờ đón Ngài.  Niềm vui này chúng ta được nghe trong Lời Chúa hôm nay: “Anh chị em hãy vui lên trong Chúa!  Tôi nhắc lại một lần nữa: Anh chị em hãy vui lên vì Chúa đã đến gần!”  Niềm vui này là một niềm vui được ơn Chúa cứu độ, niềm vui được an bình, niềm vui được hạnh phúc!  Vậy thì chúng ta phải sống như thế nào trong Mùa Vọng này, để hưởng được trọn vẹn hạnh phúc Chúa ban?

Chuyện kể rằng: Có một Ông Vua kia lúc nào cũng lo âu, mặc dù sống trong quyền lực và nhung lụa sung sướng nhưng ông không có hạnh phúc, không biết cách nào để có được hạnh phúc.  Nhà Vua gọi các nhà khôn ngoan lại bàn hỏi xem làm thế nào trút bỏ những âu lo đang đè nặng tâm trí Vua đến nỗi Vua không thể nào có được một cuộc sống hạnh phúc?  Nhà thông thái trả lời: “Chỉ có một cách duy nhất để giúp nhà Vua.  Đó là Vua phải mặc chiếc áo của người có hạnh phúc thật sự!”  Thế là các sứ giả được sai đi khắp nơi để tìm kiếm một người đang mặc chiếc áo hạnh phúc.  Nhưng bất kỳ người nào được hỏi đến cũng có lý do để đau khổ, buồn sầu… một điều gì đó đã cướp mất hạnh phúc của họ.  Sau cùng thì họ cũng tìm một người, đúng hơn là một người ăn xin.  Người ăn xin này ngồi mỉm cười ở giữa chợ và tự xưng mình là người hạnh phúc nhất, không có một điều gì buồn rầu, lo âu.  Sứ giả của Nhà Vua nói với người ăn xin về điều Nhà Vua cần mặc chiếc áo hạnh phúc ấy, và hứa trả cho người ăn xin một món tiền thật lớn để mua chiếc áo hạnh phúc ấy.  Chúng ta nghĩ sao?  Anh chàng ăn xin này có đồng ý bán chiếc áo hạnh phúc của mình không?  Chúng ta có biết phản ứng của người ăn xin ra sao không?  Không nín được cười, người ăn xin bật cười to lên và nói rằng: Thật đáng tiếc!  Tôi không thể nào làm hài lòng Nhà Vua được.  Vì tôi chẳng có chiếc áo nào cả!”  Vâng người hạnh phúc nhất trên đời lại là người không có một chiếc áo nào cả!

 Bài Tin mừng hôm nay Ga 1, 6-8, 19-28 cho chúng ta thấy nhiều người kéo đến với Gioan Tiền Hô để tìm kiếm hạnh phúc.  Và ông cũng đã vạch ra cho họ những con đường trong chính cách sống của ông để họ thực sự hạnh phúc khi họ biết tin vào Đấng Cứu Thế đang đến gần.  Đó là những con đường như:

Con đường sống khổ hạnh: Gioan sống ẩn dật trong sa mạc.  Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh: sống trong sự khắc nghiệt của thời tiết, trong sự hoang vu cô tịch, sự đe dọa của thú dữ.  Sống khó nghèo, đơn sơ đạm bạc: mặc áo bằng da thú, ăn châu chấu và mật ong rừng.

Con đường sống khiêm nhường: Gioan từ chối vinh quang mà người ta ban tặng cho mình. Ông thành thật nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế.  Ông chỉ là “tiếng kêu trong sa mạc”, không đáng cởi giây giày cho Đấng Cứu Thế.

Con đường sống trung thực: Gioan đến để làm chứng về ánh sáng.  Trung thực với sứ mạng của mình, một mặc ông chỉ cho chúng ta thấy ánh sáng thật là ai, mặt khác khi có người lầm tưởng ông là ánh sáng ấy thì ông thẳng thắn phủ nhận.  Trung thực về những lời nói về mình nên ông không nhận vinh quang mà người ta lầm tưởng ban tặng.  Trung thực với lòng mình nên Ông sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối… Trung thực trong phán đoán nên ông thẳng thắn khuyên Vua Hêrôđê không được lấy chị dâu.

Con đường sống quên mình: nhìn nhận là người đưa tin nên ông quên mình để cho Đức Giêsu nổi bật lên.  Ông tự hủy mình để Đấng Cứu Thế được nhận biết.

Tóm lại Gioan Tiền Hô là một chứng nhân tuyệt hảo, Ông là chứng nhân của ánh sáng, chứng nhân của hy vọng, của hạnh phúc.  Ông là làm chứng cho sự sáng thật là Đức Kitô.

Mùa Vọng này, mọi người đang chờ Chúa đến, Chúa muốn chúng ta giới thiệu Chúa cho người khác, Chúa muốn chúng ta làm chứng cho Chúa.  Thế nhưng rất nhiều khi thay vì mở đường cho Chúa, chúng ta chỉ lo mở đường cho chúng ta.  Hay thay vì làm chứng cho Chúa thì chúng ta làm chứng cho ta….

Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta hãy nhìn vào tấm gương của Gioan Tiền Hô để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến bằng đời sống chứng tá là “để Chúa lớn lên” và để cho chúng ta biết đường tìm đến hạnh phúc đích thực.

Xin Thánh Gioan giúp chúng ta sống trong ánh sáng của Chúa Cứu Thế để chúng ta được hưởng trọn vẹn hạnh phúc Chúa ban.

Sưu tầm

30 - John the Baptist 2.jpg

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

 

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.

Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.

” Anh yêu quý,

Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.

Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.

Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.

Vợ anh

Lê Thị Hồng”

Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.

“Hồng em,

Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.

Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.

Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.

Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.

Chồng em

Nguyễn Hữu”

Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”

Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. “

“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”

Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”

Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”

Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”

Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.

Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.

Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.

Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.

Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.

Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…

Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

Phan Xuân Sinh

__._,_.___
Image may contain: 1 person

Mỹ chính thức phân phối vaccine chống Covid-19 đến các tiểu bang

 

Mỹ chính thức phân phối vaccine chống Covid-19 đến các tiểu bang .

Giờ phút chờ đợi của người dân Hoa Kỳ cũng đã đến . Hàng triệu liều Vaccine sẽ được vận chuyển đến nhiều tiểu bang của nước Mỹ chỉ trong vài giờ nữa . Hiện nay mỗi địa điểm ít nhất phải được cung cấp 975 liều của Pfizer và 100 liều của Moderna .

Điều quan trọng là việc bảo quản lạnh, đối với Vaccine của Pfizer phải đạt yêu cầu bảo quản “ siêu lạnh “ trong khi Vaccine của Moderna thì chỉ yêu cầu bảo quản ở nhiệt độ không quá lạnh hơn tủ lạnh ở nhà bếp . Ở nhiệt độ thích hợp Vaccine của Pfizer giữ được 20 ngày và Vaccine của Moderna giữ được 30 ngày . Do đó Vaccine Moderna có thể là loại sẽ được ưu tiên vận chuyển đến các vùng nông thôn của nước Mỹ. Hai nhà thuốc quốc gia lớn là CVS và Walgreens đã sẳn sàng cho chiến dịch này .

Những người ưu tiên được tiêm Vaccine trước là những người đang làm việc trực tiếp và ở tuyến đầu chống đại dịch cũng như những người có nguy cơ bị nhiễm virus cao . Hiện nay Vaccine chỉ dùng cho người từ 16 tuổi trở lên .

Ghi nhận lại giây phút này trong một giai đoạn lịch sử của Hoa Kỳ . Cầu chúc mọi người một mùa lễ bình an

https://www.defense.gov/…/covid-19-vaccine-delivery…/

https://nymag.com/…/what-we-know-about-u-s-covid-19…

Nhà khoa học trẻ ở Việt Nam bật khóc vì lương chỉ được 3 triệu đồng

 

BẢO SAO XỨ SỞ ĐÔNG LÀO KHÔNG CHỊU LỚN – THẰNG EM CAM & LÀO ĐÃ VƯỢT MẶT THẰNG ANH VIỆT!

Có đồng nghiệp gốc Việt nào ờ Úc, Mỹ, Canada hay Âu châu giúp bảo trợ cho cháu Hương có cơ hội để phát triển khoa học? Lương có 3 triệu làm sao đủ sống, nói chi đến phát triển tài năng?

******

Nhà khoa học trẻ ở Việt Nam bật khóc vì lương chỉ được 3 triệu đồng

Tin Vietnam.- Báo Dân trí ngày 11 tháng 12 năm 2020 loan tin, Hồ Thị Thương, 29 tuổi, là Nghiên cứu sinh tại Viện Công nghệ sinh học- viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Cộng sản Việt Nam đã bật khóc khi chia sẽ về mức lương mình nhận được chỉ có 3 triệu đồng một tháng.

Với mức lương này, chị Hương cho biết, chị cảm thấy rất có lỗi với cha mẹ vì từ khi ra trường đến nay không có nhiều tiền gửi về đỡ đần cha mẹ.

Cha mẹ chị dù tuổi đã cao, vẫn làm nghề nông nên vẫn phải chăm chỉ lao động kiếm sống. Cá nhân chị Thương luôn phải cố gắng dành thời gian nghỉ ngơi của mình để nhận làm thêm công việc bên ngoài để kiếm thêm thu nhập, chứ không dám nghỉ ngơi.

Theo báo Dân trí, chị Thương tốt nghiệp đại học vào hạng thủ khoa. Do có niềm đam mê với khoa học nên đã bỏ qua các công việc lương cao hơn để về làm việc tại Viện kỹ thuật nghệ sinh học.

Chị là đồng tác giả của một bằng độc quyền sáng chế quốc tế năm 2018 có tên là Oligomeric vaccine from plants by S-tag-S-protein fusions, do tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới cấp. Ngoài ra, chị Thương cũng là tác giả chính của 2 công bố, và đồng tác giả của 4 công bố quốc tế uy tín.

Chị Thương đã cùng với giáo sư Udo Conrad, và tiến sĩ Phan Trọng Hoàng, thuộc Viện Di truyền Thực vật và Nghiên cứu cây trồng, IPK của Cộng hoà liên bang Đức phát minh ra phương pháp sản xuất protein oligomer trong tế bào nhân thực.

Chị Thương cho biết, do yêu nghiên cứu khoa học nên chị chấp nhận để gắn bó với công việc.

Theo dư luận, những người đơn thuần chỉ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam bị nhà cầm quyền xem khá rẻ hơn bèo. Chỉ những ai biết luồn cúi, tìm cách phối hợp với viên chức Cộng sản để kiếm tiền thì mới khá giả.

Một độc giả ngạc nhiên bình luận rằng, lâu nay ông cứ tưởng các nhà khoa học thì lương cao lắm, sau khi đọc bài viết mới biết lương của họ kém hơn lương phụ hồ của ông nhiều.

Hồ Thị Thương khóc khi nhắc đến thu nhập và cha mẹ– Nguồn hình Dân trí

Image may contain: 2 people, closeup

KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE

Một bài khác về Đức Mẹ Guadalupe cũng rất đáng đọc. Kính mời bà con.

KHOA HỌC LÀM SÁNG TỎ CÁC BÍ MẬT

CỦA ĐỨC BÀ GUADALUPE

Philip Callahan

Hôm đẹp trời lạnh lẽo 12-12-1531 ấy, Juan Diego -một trong những người cải đạo sớm nhất ở Mêhicô- không thể mơ có một ngày trong tương lai xa xôi, ông lại được bất tử hóa và được đặt trên bàn thờ của Giáo Hội hoàn vũ.

Juan Diego đang trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì lại nghe tiếng nói ngọt ngào của Bà Đẹp vốn đã hiện hình trước mắt ông tại chân Đồi Tepeyac ở ngoại ô Thành phố Mêhicô hai hôm trước.

Bà Đẹp đã lặp lại ước muốn của mình là có một teocali (nhà nguyện) được xây nơi Bà đã hiện ra. Juan Diego nói với Bà rằng Đức Giám mục Juan Zumarraga đòi bằng chứng về tính xác thực của yêu cầu này. Đức Bà đã chấp thuận. Theo hướng dẫn của Người, Juan Diego đã hái một bó hoa hồng Castilian rồi chính Người xếp trên tilma của ông (áo choàng, ct: một loại poncho hai vạt trước và sau). Ông sẽ phải đưa bó hoa hồng đó cho ĐGM. Vâng, những đóa hồng Castilian lạ lùng nở vào mùa Đông!

Juan Diego vội vàng đến gặp ĐGM. Và khi ông trải áo choàng của mình ra thì lạ chưa, ĐGM và mọi người có mặt đều hết sức kinh ngạc khi thấy không những nhiều đóa hồng thơm ngát rơi xuống từ áo choàng của ông mà còn cả một bức ảnh (cao 143 cm) của một phụ nữ trẻ đẹp với nước da hơi sẫm.

Đó là câu chuyện hay về việc làm sao hình ảnh Đức Bà Guadalupe đã xuất hiện. Hình Mẹ được bao quanh bằng những tia sáng mặt trời và dưới chân Đức Trinh Nữ có một vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Người lên. Đức Bà mặc một áo choàng màu xanh dương lẫn xanh lục với những ngôi sao vàng, và bên trong là một áo dài hồng thêu những nụ hoa viền vàng. Một đai lưng màu tía sẫm thắt quanh eo Đức Trinh Nữ theo kiểu các thai phụ Aztec vẫn thường mang.

Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Người là coatloxopeuh mà trong tiếng Nahuatl, ngôn ngữ Aztec châu Mỹ, có nghĩa là “người đạp dẹp con rắn”. Trên phương diện lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec đương thời, vốn hàng năm dâng ít nhất 20.000 đàn ông, đàn bà và trẻ em cho các thần của họ như tế vật. Nhờ Đức Bà Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người đã trở lại Kitô giáo, như thế là đạp dẹp con rắn của việc thờ ngẫu tượng.

Áo choàng của Juan Diego được làm bằng sợi thô, cứng, một thứ vải hoàn toàn không thích hợp để vẽ. Cuộc nghiên cứu và nhiều thử nghiệm khoa học đã được thực hiện trên áo choàng đó từ năm 1666 bởi các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia. Những phát hiện của họ cho thấy như sau: các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh vượt quá mọi hiểu biết khoa học; hình ảnh xem ra đã không được vẽ bởi bàn tay con người; các màu sắc xuất hiện như “tích hợp” vào thớ vải; và chất màu được sử dụng không có nguồn gốc từ động vật hay khoáng vật. Hơn nữa, áo choàng, được làm bằng sợi đặc biệt đó, là tấm khăn duy nhất cùng loại còn tồn tại sau 476 năm [ct: 2007, thời điểm tác giả viết bài này].

Renzo Allegri, trong bài viết trên báo Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng đã đánh thức sự tò mò khoa học đối với hình ảnh Đức Bà Guadalupe, liên quan đến cái đã được khám phá trong đồng tử đôi mắt Đức Mẹ. Năm 1929, Alfonso Gonzales, một nhiếp ảnh gia của Vương cung Thánh đường Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản (phim) của hình ảnh, đã tìm ra cái có vẻ là hình ảnh rõ nét của một người nam có râu phản chiếu ở mắt bên phải.

Hơn 20 năm sau, một nhiếp ảnh gia khác của Vương cung Thánh đường, Carlos Chavez, đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái cũng như mắt bên phải của Đức Bà Guadalupe. Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner đã thực hiện 5 cuộc nghiên cứu sử dụng các thấu kính phóng đại và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có nhiều hình người trong đôi mắt của Đức Trinh Nữ.

Các hiện tượng như thế trở nên giật gân hơn nữa khi đôi mắt Đức Bà được nghiên cứu có sử dụng kỹ thuật tinh vi hơn nối kết với các máy vi tính.

Năm 1979, Tiến sĩ Jose Aste Tousman, một kỹ sư xuất sắc chuyên về vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mêhicô. Ông là một trong những nhà nghiên cứu có khả năng nhất về đôi mắt Đức Bà Guadalupe. Allegri viết rằng công trình TS Tousman thực hiện trong 23 năm thật đáng kinh ngạc; ông đã sử dụng thiết bị cập nhật hay tinh vi nhất, giống các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã các bức ảnh do vệ tinh chụp trong không gian. TS Tousman đã phóng to hình ảnh đôi mắt Đức Bà Guadalupe tới 2.500 lần, sử dụng 25.000 màu được chiếu sáng cho mỗi mm vuông.

Sau khi lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, TS Tousman khám phá ra một toàn cảnh được bắt hay được chụp trong đôi mắt Đức Bà Guadalupe. Trong toàn cảnh, có khoảng 11 người. Có một người Mêhicô bản địa ngồi xếp hai chân và tóc dài tết thành đuôi ngựa. Kế ông là một cụ già, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và một giọt nước mắt chảy dài xuống má phải. Nhân vật này được xác định là ĐGM Juan Zumarraga. Bên trái ngài là tay phiên dịch của ngài, Juan Gonzales. Có bóng dáng một ông già để râu và ria, với một cái mũi to kiểu Rôma, xương gò má lồi lên, đôi mắt chìm sâu và đôi môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là một thổ dân châu Mỹ – đang mở áo choàng của mình khi quay mặt về phía ông già đầu hói. Rõ ràng là Juan Diego, kẻ đem những đóa hồng trong áo choàng mình tới cho ĐGM. Cũng có nhiều kẻ không xác định được gồm một người cha, một người mẹ, hai ông bà già và 3 đứa trẻ.

Cảnh tượng được khám phá trong đôi mắt phóng đại của hình ảnh kỹ thuật số cho thấy rằng trong giây phút đầy xúc động ấy, khi Juan Diego trải áo choàng cho Đức Giám mục và khi tất cả những ai đang hiện diện trong căn phòng thấy hình ảnh Đức Bà được vẽ lên đó, thì Mẹ Thiên Chúa thực sự có mặt: như những caméra tinh vi nhất, đôi mắt của Người đã chụp cảnh tượng và đã bảo tồn nó cho các thế hệ tương lai. Cũng kỳ lạ ở chỗ: ý thức những giới hạn của khoa học và kỹ thuật thời đó, Đức Mẹ biết rằng điều này sẽ chỉ được khám phá vài trăm năm sau, khi các thiết bị tinh vi nhất được con người phát minh chế tạo.

Sứ điệp của Đức Bà Guadalupe có thể là gì qua các phát hiện ấy của khoa học? TS Aste Tousman đã đi đến những suy nghĩ như vậy. Sự hiện diện của những kẻ không xác định có thể là một sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình. Vì hai người đàn ông da trắng và những thổ dân châu Mỹ được tìm thấy trong cảnh tượng, sự hiện diện của những chủng tộc pha trộn có thể là một cảnh báo chống kỳ thị chủng tộc và là một lời kêu gọi tình huynh đệ giữa con người. Việc khám phá cảnh tượng nhờ thiết bị hiện đại có thể là một lời mời gọi dùng kỹ thuật để loan truyền lời Chúa Kitô.

Juan Diego đã được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong thánh tại Mêhicô. Thổ dân châu Mỹ khiêm nhường, đơn sơ này có thể đã không hình dung rằng Bà Đẹp Guadalupe mà ông đã nói chuyện với ở đồi Tepayac còn có nhiều bí mật khác được tiết lộ, được dành riêng cho các thế hệ tương lai. Trong trí óc đơn giản của mình, ông đã không thể nhận thức điều ấy. Chỉ cần nói rằng ông đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng đã yêu mến ông vì tâm hồn đơn sơ và trong sạch của ông.

Xem ra lạ lùng đối với một khoa học gia khi nói lên điều ấy, nhưng với tôi là kẻ cảm thấy liên hệ, bức ảnh gốc thật kỳ diệu. Nghiên cứu hình ảnh này là kinh nghiệm cảm động nhất của đời tôi. Tiếp cận với nó, tôi có cùng cảm giác lạ lùng như những ai đã nghiên cứu Khăn liệm thành Turin (Italia). Tôi tin vào những cách giải thích lô-gích tới một điểm nào đó. Nhưng không có cách giải thích lô-gích cho cuộc sống. Bạn có thể bẻ sự sống thành các nguyên tử, nhưng cái gì đến sau đó? Ngay cả nhà bác học Einstein cũng chân nhận có Thiên Chúa mà!

(*) Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida năm 1979.

Trích Francis Johnston, Sự kỳ diệu của Guadalupe.

Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi dịch từ nguyên bản Anh ngữ

Nguồn: http://www.all-about-the-virgin-mary.com/our-lady-of…

Hôn Nhân Buồn Chán

Hôn Nhân Buồn Chán

image.png

Những ngày này, tôi đang bất mãn về cuộc hôn nhân của mình, người chồng sáng sáng ra khỏi nhà từ lúc tôi chưa ngủ dậy, tối khuya mới trở về, nhưng thu nhập chẳng khá khẩm gì, tình cảm thì cứ nhạt dần, không còn khái niệm tặng quà, cũng chẳng còn niềm vui mỗi khi chồng đi làm về…

Khi nghe nỗi niềm tâm sự của tôi, mấy cô bạn gái thân nghiêm túc phân tích vấn về rồi kết luận: “Sống với nhau nhạt nhẽo như vậy thì nên giải thoát sớm đi”.
Chia tay hội chị em, trên đường về nhà, tôi bắt đầu suy nghĩ về việc ly hôn.

Bước vào nhà, nhìn căn phòng đơn giản mấy năm rồi không có gì thay đổi, tôi bỗng cảm thấy chán chường khó tả. Đón con về, nó đánh đổ cả sữa xuống sàn nhà, rồi nó bày bừa đồ chơi khắp nơi khiến căn nhà đã chật chội càng thêm bừa bộn. Tôi chỉ lo thu dọn cái bãi chiến trường ấy cũng đủ mệt bở hơi tai.

Đang vội vàng nấu cơm thì chuông điện thoại réo rắt, chồng báo tối nay về muộn, cả tuần nay anh ấy không về nhà ăn tối lấy một bữa. Tôi bực mình, thò tay nắm hai quai nồi định bắc xuống bếp thì bị rớt, tay tôi bị bỏng rộp cả lên. Miếng nhựa chống bỏng ở quai nồi đã rụng ra từ lâu, tôi đã nói với chồng năm lần bảy lượt, nhưng mãi vẫn chưa sửa.

Tôi tắt bếp, bước vào phòng, soi vào gương, đôi mắt trong trẻo ngày nào nay bỗng trở nên mờ nhạt và lấm tấm nếp nhăn.
Cuộc sống gia đình thật đáng sợ, đã bao lâu rồi tôi không chăm sóc cho bản thân mình, mọi thứ chỉ xoay quanh căn hộ bé xíu và cậu con 3 tuổi.
Tôi cần phải thoát khỏi cuộc sống vô nghĩa này, nhanh chóng rời xa khỏi đây.

Hai tiếng sau chồng tôi về, không thấy có cơm trên bàn, chỉ thấy tôi ngồi một mình trong bóng tối.
– Sao chưa nấu cơm?
– Sao phải nấu cơm? Tôi nấu đủ rồi, từ nay trở đi sẽ không nấu nữa. Sống thế này tôi không chịu được. Chúng ta ly hôn thôi.
– Anh nghe nhầm phải không? Em nói lại xem nào!
Lúc này con trai tôi bỗng cất tiếng khóc, anh ta chạy vội vào trong phòng bế con và cho nó uống sữa, ngạc nhiên hỏi dồn: “Sao đang sống tử tế lại đòi ly hôn?”. Tôi cười khẩy.

Tối đó, tôi cố ý ngủ riêng. Theo kinh nghiệm của các cô bạn, ly hôn không đơn giản, nhiều thứ ràng buộc như tình cảm, tài sản, thói quen, vì thế nhất định phải có nghị lực mới làm được.
Để có thể tiến hành thuận lợi, tôi cần thực hiện 3 điều:
Thứ nhất không nấu cơm nữa, tách sinh hoạt của hai người ra.
Thứ hai không ngủ chung, không cho cơ hội làm lành.
Thứ ba, kinh tế riêng rẽ.

Nằm trên ghế sofa mãi mà không sao ngủ được, tôi bật dậy viết đơn ly hôn. Tôi người Bắc, chồng người Nam, cùng nhau đến thành phố biển này, mua được căn nhà đứng tên tôi.
Chồng tôi có một cửa hàng làm ăn có vẻ không khá lắm, nhưng dù sao đó cũng là tài sản của anh ta. Như vậy chia ra tôi sở hữu căn nhà, anh ấy lấy cửa hàng cũng là hợp lẽ. Con trai tôi nuôi, anh ta gửi tiền trợ cấp hàng tháng là ổn.

Hôm sau, khi đưa cho anh ta tờ đơn ly hôn:
– Tôi muốn tự do!
Anh ta ngây người ra, tôi sốt ruột giục:
– Anh ký đi! – nói xong tôi liền cảm thấy mình có phần hơi quá đáng, liền đổi giọng
– Lẽ nào anh không thấy chúng ta là người của hai thế giới? Chia tay tốt cho cả anh lẫn tôi…

Một tuần sau, anh gọi điện cho tôi và nói:
– Anh ký rồi, chiều nay cùng ăn với nhau một bữa nhé. Vẫn chỗ cũ, anh sẽ đưa đơn cho em.
Hết giờ làm việc, tôi đi đến nhà hàng ven biển mà chúng tôi thường đến.
Mấy hôm không gặp, trông anh gầy đi, ánh mắt ưu tư, râu đã được cạo nom sáng sủa hơn.
Anh lặng lẽ đẩy cái phong bì đến trước mặt tôi, bỗng tôi thấy cay cay mắt, trong lòng có một cảm giác hoang mang khó tả.
– Đã đến rồi thì gọi chút gì ăn nhé, có thể đây sẽ bữa cơm cuối cùng của chúng ta.
Anh quay ra gọi người phục vụ:
– Cho một suất cơm thịt bò xào ớt, một bát canh ngao.
Đây đều là những món tôi thích nhất. Tôi ngồi im, anh bỗng nói với tôi:
– Bữa cơm cuối cùng này em có thể gọi cho anh món anh thích ăn không?

Tôi bỗng bối rối, tôi chẳng biết anh thích ăn món gì. Trước giờ anh đều rất dễ tính, món nào cũng ăn được, món nào cũng thấy ăn ngon lành.
– Anh thích món gì? Chẳng phải anh luôn ăn giống em hay sao?
Anh lại mỉm cười, nói chậm rãi:
– Thực ra, ngần ấy năm, anh luôn ăn những món mình không thích. Em quên rồi sao, anh là người miền Nam, anh thích chế biến kiểu miền Nam, hơi ngọt chút. Anh cũng thích ăn cay nhưng em không thích nên đành thôi.

Nghe anh nói, mặt tôi nóng bừng. Đúng là tôi chưa từng nghĩ đến việc hỏi anh thích ăn món gì. Lần đầu tiên biết anh thích ăn ngọt lại là lúc ly hôn, thật nực cười. Tôi muốn ứa nước mắt nhưng cố kìm lại.
– Anh quyết định rồi, nhà, cửa hàng, mọi đồ đạc trong nhà đều thuộc về em, anh chỉ mang theo mấy quyển sách và vài bộ quần áo thôi.
– Anh định đi đâu?

Hình như tôi thực sự chưa từng suy nghĩ nghiêm túc rằng chúng tôi sẽ sống như thế nào sau khi ly hôn.
– Bố mẹ và bạn bè anh ở miền Nam luôn giục anh về quê làm ăn. Nhưng do em thích biển nên anh chiều theo em. Ở đây gió biển mang mùi tanh của cá, ăn đồ biển anh cũng không thích, công việc cũng chẳng sáng sủa gì, đã làm em thiệt thòi…
– Anh nói gì thế? Em không phải ly hôn vì những thứ đó.
Tôi không ngăn được nước mắt.

– Ly hôn xong anh sẽ về Nam. Sau này em sống một mình nuôi con sẽ vất vả. Anh để lại tất cả cho em. Cửa hàng dạo này kinh doanh cũng khá hơn trước, em lấy tiền đó tích lại, đừng tiêu linh tinh, để phòng khi cần có cái mà tiêu.
– Vậy anh thì làm thế nào?
– Đàn ông quăng đâu chả sống, không như đàn bà con gái, cả tin lương thiện, dễ bị tổn thương.
Tôi bỗng trào nước mắt.

“Đừng khóc!” – Anh đặt tay lên vai tôi, cử chỉ quen thuộc, vậy mà không hiểu sao lúc sống bên nhau tôi lại không hề nhận thấy tình cảm của anh.
– Anh phải đi rồi. Em biết không, mỗi lần gia đình bên em tụ họp đông vui anh đều cảm thấy trống trải. Anh cũng rất nhớ ba mẹ, họ cũng già cả rồi…

Tôi bỗng thấy mình quá vô tâm. Anh là người đàn ông tốt, vậy mà đến tận giây phút này tôi mới biết sống với tôi, anh đã phải che giấu những cảm xúc không vui, những điều không hợp, chỉ vì tôi.
– Sao anh không nói những điều này sớm hơn?
– Anh muốn em sống vui vẻ, không phải bận lòng vì những việc vặt ấy.
Tôi thẫn thờ, một lúc sau tôi nói:
– Anh… Anh có thể không đi không?

Chúng tôi bước ra khỏi nhà hàng, bên ngoài gió biển rất mát, tôi ngồi sau xe của anh đi về nhà. Tôi ôm chặt lấy anh, cảm thấy thật hạnh phúc.
Sự việc vừa rồi đã cho tôi một bài học. Sau khi kết hôn, những lo toan chuyện cơm áo gạo tiền khiến người ta ngày càng không có thời gian quan tâm tới nhau, nhưng đó thực ra không phải vì họ đã thay lòng đổi dạ, mà bởi cuộc sống cần phải vậy.
Nếu mỗi người biết nghĩ cho người kia một chút, bao dung và nhường nhịn lẫn nhau một chút, gia đình sẽ êm ấm, hạnh phúc.

Xã hội ngày nay ly hôn càng ngày càng dễ, chính vì thế, chúng ta càng cần trân trọng, giữ gìn hôn nhân phải không các bạn?

S.T.

From:TU-PHUNG

    3 năm nằm trên mộ cậu chủ đã mất, chú chó đã đợi được điều diệu kỳ

3 năm nằm trên mộ cậu chủ đã mất, chú chó đã đợi được điều diệu kỳ

 – Xúc động trước tình yêu thương của chú chó đen dành cho cậu chủ nhỏ của mình, nhiều người đã góp tiền lại xây một mái che trên mộ cho chú có chỗ trú mưa nắng.

 Cách đây không lâu, câu chuyện về chú chó đen nằm trên mộ chủ ròng rã 3 năm trời không rời đi nửa bước do một tài khoản facebook chia sẻ đã làm xôn xao mạng xã hội. Bài viết có chủ đề “Giống chó đen tuyền và đốm lưỡi thật sự rất khôn và trung thành” đã thu hút nhiều sự chú ý.

Theo chia sẻ của người này, suốt 3 năm qua, kể từ khi cậu chủ nhỏ tên Kiệt qua đời do đuối nước, chú chú đen tuyền tên Mino lúc nào cũng túc trực nằm trên mộ của chủ. Dù ngày nắng hay mưa, dù bị đuổi, bị cấm cản, Mino cũng không rời khỏi ngôi mộ.

gtV3sDYteBJWcnayWzlYS9yW3YDFtJnLPgZP1l1H

Được biết, chú chó được gia đình cậu bé xấu số xin về nuôi từ khi cậu bé mới 2 tuổi. Từ khi được mang về, Mino lúc nào cũng quấn quýt bên cậu chủ không rời. Mặc dù nhà bà Út (bà của Kiệt) nhiều cháu thế nhưng chú chó chỉ tỏ ra thân thiết và thường xuyên chơi đùa với mỗi bé Kiệt. 

Kể từ khi Kiệt mất do đuối nước, chú chó Mino lúc nào cũng túc trực bên mộ của cậu, dù làm cách nào nó cũng không chịu vào nhà. Có hôm trời nắng gay gắt hoặc mưa to thật to chú chó mới lánh tạm nhưng sau đó lại trở ra và nằm suốt ở mộ. Đặc biệt, hễ nhà cho đồ ăn hoặc bánh trái gì chú chó cũng tha ra mộ.

LMRtZsrDfTFGZXDXWIAkXgzbv3c1ooWT20kFszds

Sau khi câu chuyện về chú chó trung thành được chia sẻ trên mạng xã hội, rất nhiều người đã bày tỏ sự nể phục với tấm lòng trung thành tuyệt đối của Mino. Cảm thương cho chú chó phải đội mưa nắng, nhiều mạnh thường quân đã gom góp tiền dựng mái che cho phần mộ của cháu bà Út để chú chó nằm được thoải mái. 

Từ khi có mái che, Mino lại càng gắn bó hơn với mộ cậu chủ. Chú chó chỉ vào nhà lúc ăn cơm còn lại mưa hay nắng cũng chỉ nằm ngoài mộ và duy trì thói quen tha bánh trái ra mộ như muốn chia sẻ với cậu chủ nhỏ của mình.

H5OJEqDO726D6l2PBg9e0DWDOFZynKVqhy5Y8ZVu (1)

 From: TU-PHUNG

Người Thua Cuộc Hay Bản Lãnh Một Người Đàn Bà…

 

BẠN SẼ XỬ SỰ RA SAO, NẾU LÀ BẠN?

******

Người Thua Cuộc Hay Bản Lãnh Một Người Đàn Bà…

Một năm trước, tôi và Kiệt làm chung hãng. Tuy biết nhau qua nhiều lần gặp gỡ trong những giờ cơm trưa nhưng chưa có dịp để trò chuyện.

Một hôm, thấy Kiệt ngồi ăn trưa với gói xôi, hơi ngạc nhiên tôi hỏi:

– Bà xã đâu mà phải ăn xôi thay cơm vậy anh Kiệt?

Kiệt cười:

– Bả về Việt Nam rồi, phải chay tịnh kiểu này tới hai tháng lận, cô ơi!

Ngày hôm sau, khi chuẩn bị thức ăn trưa, tôi bỗng nảy ra ý nghĩ mang thêm một phần cơm cho Kiệt. Không chút khách sáo, Kiệt vui vẻ nhận lấy với lời cám ơn nồng nhiệt. Vậy là từ đó, chúng tôi có những bữa cơm trưa thân mật. Một vài tiếng xầm xì bắt đầu nổi lên, nhưng tôi lờ đi như không biết gì. Kiệt là một người thật thà, dễ tính, nên anh cũng chẳng quan tâm đến lời gièm pha của thiên hạ. Anh bảo tôi:

– Ai nói gì thì nói, mình không có thì thôi.

Tôi nhìn Kiệt đẩy đưa:

– Mà nếu có gì thì “đây” cũng chẳng ngán ai.

Kiệt cười phá lên một cách vô tư. Nụ cười thoải mái nhưng đầy hấp lực của Kiệt, làm khơi dậy trong tôi một ý tưởng táo bạo “hai tháng cũng đủ cho một cuộc tình manh nha”.

Tôi vốn là người đàn bà bất cần đời sau hai lần dang dở. Tôi đủ khôn ngoan để không “mắc cạn” như thuở đôi mươi. Và tôi cũng muốn thử sức chinh phục của mình với độ tuổi bốn mươi. Vì thế, tôi bắt đầu tấn công Kiệt. Một cuối tuần tôi hỏi Kiệt:

-Ði biển chơi không?

Kiệt trầm ngâm do dự. Tôi gõ nhẹ vào tay anh:

-Coi vậy… anh cũng thuộc loại “thờ bà” há? Vợ vắng nhà mà cũng giữ kỷ luật nghiêm minh. Phục anh thiệt!

Kiệt nhướng mày, bặm môi với tôi:

– Ðừng có xuyên tạc. Tôi đang nghĩ xem có bận gì không?

Tôi cười nắc nẻ:

– Xin lỗi, tôi đánh giá anh quá thấp… Anh Kiệt chứ đâu phải đồ bỏ.

Kiệt đứng lên, nói vài câu đùa cợt trước khi bỏ đi, nhưng không đá động gì đến lời đề nghị của tôi.

Quyết không chịu thua, tôi nghĩ đến việc mời Kiệt đến nhà, dự sinh nhật của tôi. Buổi tối sinh nhật, khi bước vào nhà chẳng thấy một người khách nào, Kiệt có vẻ bối rối. Tôi vội vàng lên tiếng:

– Lâu lắm rồi tôi không tổ chức sinh nhật. Hôm nay, bỗng nhiên thấy hứng thú nên muốn mời bạn bè đến chung vui, nhưng vì bất ngờ quá, nên không ai sắp xếp để đến dự được, may còn có anh, để tôi cảm thấy ngày sinh nhật của mình ấm áp đôi chút.

Kiệt ngồi vào bàn với nụ cười quen thuộc. Bữa tiệc trong một khung cảnh lãng mạn với nến hồng, hoa tươi, với tiếng nhạc dìu dặt và rượu nồng, đã làm Kiệt quên giữ gìn ý tứ mà thường ngày anh vẫn có. Tôi cố ý. Kiệt vô tình. Vậy là anh lọt vào cái bẫy êm ái của tôi.

Buổi sáng, khi mở mắt dậy và nhận biết mình đang nằm trên giường của tôi, mặt Kiệt tái xanh. Cái vẻ lúng túng ngượng ngập như con trai vừa mới lớn của Kiệt làm tôi phì cười:

– Anh hối hận à?

Kiệt ấp úng:

– Tôi … tôi…

Thương hại Kiệt, nên tôi níu tay anh trấn tĩnh:

– Có gì đâu … Tôi và anh, không ai dụ dỗ ai hết, mình đồng ý cuộc chơi này mà.

Kiệt nhìn tôi bằng cái nhìn kinh ngạc. Nét hiền lành và thật thà trên khuôn mặt bảnh trai của Kiệt làm tôi xao động. Dù sao, Kiệt cũng là một người đàn ông, khi tôi đã quyết chí quăng mẻ lưới tình, thì làm sao anh có thể thoát được. Thế là tôi và Kiệt trở thành đôi tình nhân.

Thời gian vợ Kiệt vắng nhà quả là thời gian trăng mật tuyệt vời của chúng tôi. Với những kinh nghiệm trên tình trường của một người đàn bà “dám chơi, dám chịu” như tôi, Kiệt chỉ có nước xuôi tay, dấn thân vào cuộc chơi mà không cần biết đến hậu quả.

Rồi cũng đến ngày vợ Kiệt trở về, anh như ngồi trên lò lửa vì không biết phải làm thế nào để chuyện “lăng nhăng” của anh đừng đến tai vợ và làm thế nào để anh có thể đến với tôi thường xuyên.

Tôi hỏi Kiệt:

– Em muốn hỏi, anh yêu em thật sự hay chỉ vì một lý do nào khác?

Kiệt cầm tay tôi, hôn nhẹ:

– Anh không biết nói những câu văn hoa, bóng bẩy, nhưng anh biết rằng anh không thể nào xa em và quên em được.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, tôi nhận rõ được những cảm tình tha thiết mà tôi đã dành cho Kiệt, nên quyết định phải làm những việc tôi nên làm, để giành lấy tình yêu này.

*****

Tôi gửi vợ Kiệt tấm ảnh tôi và Kiệt chụp chung trên bãi biển. Tôi tin chắc rằng, không một người vợ nào có thể ngăn được sự ghen hờn, tức giận, khi nhìn thấy chứng tích ngoại tình của chồng mình. Vợ Kiệt sẽ giày xéo, đay nghiến, hành hạ anh cho thỏa cơn tức giận. Có thể, bà sẽ tìm đến tôi để đánh ghen, để chửi bới. Có hình ảnh nào thê thảm, xấu xí hơn hình ảnh người đàn bà đỏ mặt, tía tai, la hét, khóc lóc trong cơn ghen tuông lồng lộn. ..

Còn tôi. Tôi sẽ kiêu sa, quyến rũ trong căn phòng xinh xắn, ấm cúng của tôi để chờ đợi Kiệt đến tạm trú trong cơn hoạn nạn. Tôi sẽ ngọt ngào an ủi, chiều chuộng Kiệt hết lòng.

Và ai… Ai sẽ là người thắng thế?

Tôi nghe lòng rộn rã với niềm mơ ước sắp thành tựu.

Mấy ngày sau, Kiệt hớt hải tìm tôi. Anh ôm đầu khổ sở:

– Không biết ai cho tin mà vợ anh có vẻ nghi ngờ!

Tôi thăm dò:

– Bà ấy có gặng hỏi, có đưa ra bằng chứng gì không?

– Không… nhưng anh biết, vợ anh là người rất bản lãnh.

Tôi cười mỉa mai:

– Vậy thì bà ta sẽ làm gì được mình?

Kiệt ra về với nét mặt âu lo.

Hai tuần sau, vợ Kiệt gọi điện thoại cho tôi, hẹn gặp ở một nhà hàng Mỹ. Với lòng tự tin, tôi hân hoan đi đến điểm hẹn sau khi trang điểm thật kỹ lưỡng với bộ quần áo thời trang rất “sexy”. Tôi quyết phải để cho người đàn bà này thấy rõ sự thua kém của mình, mà đừng lấy danh nghĩa là vợ của Kiệt để lấn át tôi.

Tôi đến nhà hàng khoảng năm phút sau thì vợ Kiệt xuất hiện. Người đàn bà trước mặt tôi thật xinh đẹp, tươi tắn và quý phái. Với nụ cười rạng rỡ, tự nhiên, bà chìa tay để bắt tay tôi và tự giới thiệu:

– Tôi tên Kiều Loan, bạn bè thường gọi tôi là chị Kiệt. Hân hạnh được biết chị.

Giọng nói dịu dàng, ngọt ngào và điềm tĩnh của vợ Kiệt làm tôi thoáng bối rối. Tôi đã có chuẩn bị. Nhưng chỉ chuẩn bị đối phó với một người đàn bà buồn thảm, hốc hác vì ghen tuông, bà sẽ khóc lóc, van xin tôi trả Kiệt lại cho bà, chứ không phải người đàn bà rất thong dong, tươi tỉnh, đang nhìn tôi bằng cái nhìn rất kẻ cả.

Ngay lúc tôi chưa biết phải nói gì thì Kiệt bước vào. Mặt Kiệt biến sắc khi nhìn thấy tôi và vợ anh.

Ðến lúc này thì tôi chợt hiểu. Vợ Kiệt đã sắp đặt cuộc gặp gỡ ngày hôm nay, để xem Kiệt sẽ xử sự ra sao trước mặt tôi, và cũng để xác định rõ vị trí của bà trong tình cảm của Kiệt.

Bà nhìn Kiệt nhỏ nhẹ nói:

– Ngồi đây anh, có cần em giới thiệu người khách quý này không?

Kiệt vừa lắc đầu, vừa cười. Nụ cười của anh hôm nay trông thảm hại làm sao. Tôi nhìn Kiệt tức tối. Kể từ khi bước chân vào đây, anh không một lần liếc mắt đến tôi. Mới hôm qua anh còn nồng nàn, tình tứ. Mới hôm qua anh còn chất ngất đam mê, sao bây giờ phũ phàng đến thế?

Tôi phóng một nụ cười chua chát về hướng Kiệt, nói rõ từng tiếng một, khi vợ Kiệt yêu cầu tôi chọn món ăn:

– Anh Kiệt có thể chọn món ăn cho tôi. Anh ấy biết rõ tôi thích gì.

Vợ Kiệt nghiêng đầu nhìn sâu vào mắt chồng:

-Em thích món nào anh cũng biết, phải không?

Rồi vợ Kiệt nheo mắt với tôi, thân mật đề nghị:

– Vậy thì tôi và chị cũng nên làm khó anh Kiệt một chút nha.

Quay sang Kiệt, bằng giọng nói thật mềm mỏng, nhưng ánh mắt của bà sâu thẳm, đầy cương quyết:

– Anh chỉ được chọn một món trong những món em và … khách thích.

Kiệt cười không thành tiếng. Thái độ lúng túng của Kiệt đêm nào trên giường ngủ của tôi dễ thương bao nhiêu, thì cái lúng túng của anh ngày hôm nay đáng ghét bấy nhiêu.

Kiệt đã nói rằng anh không thể xa tôi, không thể quên tôi, nhưng món ăn anh lựa chọn ngày hôm nay đã làm đau buốt trái tim tôi.

Vợ Kiệt âu yếm gắp từng món ăn cho Kiệt và luôn miệng khen:

– Món ăn anh chọn cho em ngày hôm nay ngon thật. Cám ơn anh vẫn còn nhớ vợ anh thích gì, dù em không ở cạnh anh mấy tháng nay.

Gắp một ít thức ăn đặt vào bát tôi, vợ Kiệt nói:

– Chị ăn thử món tôi thích xem có hợp với khẩu vị của chị không?

Chưa bao giờ môi miệng tôi lại bị khóa cứng như hôm nay. Tôi ngồi yên không cử động, quên cả lời cám ơn để chứng tỏ sự lịch sự của mình.

Giọng vợ Kiệt như sắc lại:

– Nếu không hợp khẩu vị của chị, là vì nó không phải là món ăn của chị. Chị nên gọi món khác, tôi sẵn sàng mời chị.

Tôi nhìn vợ Kiệt không chớp mắt. Cảm tưởng như mình đang tham gia một vở kịch trên sân khấu mà tôi là một diễn viên không diễn trọn vai trò, làm tôi bối rối, sượng sùng.

Tôi ra về trong nỗi đau và sự thán phục. Giá như vợ Kiệt mắng nhiếc, sỉ vả tôi, có thể tôi sẽ dễ đối phó hơn là thái độ nhẹ nhàng, lịch sự nhưng không kém phần cứng cỏi của bà.

Tôi thua cuộc vì tôi đã khinh địch, đã xem thường câu nhắc nhở của Kiệt “vợ anh là một người đàn bà bản lãnh”, đồng thời tôi cũng nhận ra một điều,

Thượng đế đã dành cho mỗi người một chỗ đứng. Và tôi. Tôi không thể giành lấy những gì không thuộc về tôi…/.

Image may contain: one or more people, tree, outdoor and nature

 Tuổi Già Trống Vắng…

 Tuổi Già Trống Vắng…

Nghỉ hưu, tuổi hạc cao và sự ra đi của người phối ngẫu là những giai đoạn trong cuộc đời mà phần đông mọi người trước sau gì ai ai cũng đều phải trải qua hết.

Những giai đoạn vừa kể thúc đẩy chúng ta dần dần tách rời ra khỏi cuộc sống và sinh hoạt xã hội bình thường mà chúng ta hằng quen thuộc từ trước tới giờ. Sự thay đổi trong hoàn cảnh sống có thể dẫn đến tâm trạng buồn chán khiến chúng ta cảm thấy rất lẻ loi, trống vắng và cô đơn. Các nhà tâm lý học Tây phương đều khuyên chúng ta nên cố gắng đừng để các sự thay đổi làm giới hạn và ngăn trở mình trong mọi sinh hoạt gia đình cũng như xã hội.

Sau đây là những lời khuyên. (Không nhứt thiết là mọi người đều đồng ý tất cả…)

1- Nên duy trì một cuộc sống linh động (Be active)

Để giúp cho thân và tâm được quân bình. Việc duy trì một nếp sinh hoạt vừa thể xác và vừa trí tuệ được xem như là một phương pháp dưỡng sinh rất tốt và rất hữu hiệu để làm chậm lại tiến trình lão hóa. Bắt trí não làm việc thường xuyên, rèn luyện trí nhớ, giao tiếp xã hội, đọc sách, viết lách lăng nhăn, chơi cờ…đều là những phương cách tốt để phòng ngừa bệnh lú lẫn Alzheimer.

Nghỉ hưu là thời gian để quân bình lại cuộc sống, để chúng ta có thể quan tâm hơn về sức khỏe của chính mình. Đây cũng là dịp thuận tiện để mình có thể thực hiện những gì mình hằng mong ước và ưa thích từ trước nhưng chưa có thời gian và cơ hội thực hiện được. Thiết lập một thời khóa biểu nhất định trong ngày để luyện tập thân thể như: đi bộ, tập thể dục, tập tài chi, tập khí công vv…

2- Giữ một chỗ cho gia đình

Nếu con cái ở gần, ta nên đề nghị với chúng để chúng ta có thể giữ hộ các cháu mỗi tuần một ngày hoặc giữ cháu trong thời gian cha mẹ cháu bận hay cần phải đi đây đi đó…

Chúng ta lợi dụng các dịp nầy để truyền đạt kiến thức, dạy dỗ lễ nghi, phong tục Việt Nam…Đây cũng là dịp để thắt chặt thêm tình yêu thương giữa ông bà và các cháu. Về điểm nầy, có người đã góp ý là mình không nên dính vào vì sợ con cái mình trách móc nầy nọ nếu lỡ làm không đúng ý của chúng. Riêng tác giả thì mình hoàn toàn không nghĩ như thế. Chung quy cũng do mối quan hệ và tình cảm giữa cha mẹ và con cái mà thôi.

3- Giao tiếp xã hội: Nên thường ra khỏi nhà để tiếp xúc với người khác.

Duy trì năng lực và sự linh động đồng nghĩa với sự học hỏi. Giao tiếp xã hội sẽ giúp chúng ta biết thêm nhiều tin tức và có thêm bạn mới. Đối với người Việt Nam mình thì các hội đoàn, hội cao niên, chùa chiền, thiền viện, nhà thờ là những nơi các bạn già chúng ta có thể đến sinh hoạt để trau đổi, chia sẻ tâm sự, hàn huyên với bạn bè và đồng hương, đồng cảnh… Như vậy mình sẽ cảm thấy bớt lẻ loi cô đơn hơn. Tuy nói thế nhưng cũng có người né tránh các sinh hoạt nầy vì nhiều lý do rất cá nhân…

Chúng ta cũng có thể ghi tên tham gia vào các câu lạc bộ thể thao như bóng bàn, quần vợt, badminton, golf, pétanque, quille, bowling… Chúng ta cũng có thể gia nhập vào những club sinh hoạt nghệ thuật, văn nghệ, văn học, viết văn, làm thơ, gõ báo chùa, tùy theo sở thích, trình độ và điều kiện của mỗi người.

Nếu có máu văn nghệ, chúng ta có thể tham gia vào những nhóm văn nghệ nghiệp dư để vừa hát hò cho nhau nghe, vừa ăn nhậu no nê, rồi sau đó ôm nhau nhảy nhót (của ai nấy ôm nhé!) để được giãn gân giãn cốt. Cam đoan vui lắm. Trong những giây phút nầy, mình sẽ quên mình già, quên những buồn bực về con cái và về chuyện nầy chuyện nọ trong gia đình.

4- Giữ cho mình phải bận rộn (Keep busy)Viết thơ, E mail thăm hỏi bạn bè, xem internet, đọc sách báo, thăm viếng bạn bè, đi đó đi đây, sửa chữa lặt vặt những đồ đạc hư hỏng, sắp xếp lại nhà cửa, sưu tập tài liệu, đồ vật mà mình ưa thích, làm vườn, trồng hoa trồng kiểng, cắt cỏ, rửa xe, làm tài xế cho bà chủ… đó chỉ là một vài thí dụ nho nhỏ mà thôi.Riêng nội cái vụ sắp xếp, sửa chữa lại đồ đạc trong nhà, rửa xe… các bạn đừng có sợ thiếu việc làm vì bà chị sẽ tìm cho bạn làm trối chết hổng hết đâu, đừng có lo mà thêm già.

Để thoát ra khỏi cảm giác cô đơn chúng ta phải tự tạo cho mình một sự bận rộn (hoặc do người khác tạo cho mình!) để khỏi nghĩ quẩn và nhờ vậy chúng ta sẽ bớt cảm thấy trống vắng trong tâm hồn. Thông thường thì cảm giác cô đơn chỉ xuất hiện vào những thời điểm nhất định nào đó chẳng hạn như vào những dịp lễ lộc, ngày giổ, ngày sinh nhật, hay trong thời gian mùa lễ Giáng Sinh, Tết Tây và Tết Ta mà thôi.

5- Dấn thân, tham gia vào các sinh hoạt xã hội. (Involve yourself, joint social group)

Điểm nầy cũng hơi tương tợ điểm ba ở trên. Tham gia vào các sinh hoạt nhóm, xã hội, đoàn thể, cộng đồng, hoặc làm thiện nguyện cũng là một cách giúp chúng ta bớt cảm thấy cô đơn, lẻ loi đồng thời chúng ta cũng cảm thấy mình còn có ích cho xã hội.

Nếu suốt ngày chỉ ngồi xem tv, xem phim truyện, nhìn ra cửa sổ, thở vắng thở dài thì rất dễ cảm thấy cô đơn và buồn chán.

6- Giúp đỡ người khác (Help others)

Sự kiện giúp đỡ người khác sẽ làm cho mình cảm thấy hữu ích trong cuộc sống và quên đi nỗi niềm hiu quạnh cô đơn. Cuộc đời mình sẽ có ý nghĩa hơn.

7- Tránh cảnh thoát ly giả tạo (avoid escape)

Chẳng hạn như xem tv quá nhiều hoặc ngủ quá nhiều trong ngày.

Nếu cảm thấy cô đơn buồn chán thì nên tránh ngủ quá nhiều để quên đời cũng như tránh việc đốt thời gian bằng cách ngồi xem Tv suốt ngày.

Không nên để những giấc mơ giả tạo dẫn dắt chúng ta.

8- Tạo hoàn cảnh để có được hạnh phúc (choose to be happy)

Nếu bạn cảm thấy cô đơn thì chắc chắn bạn cũng cảm thấy buồn chán, khổ sở vô cùng. Hoàn cảnh này dễ đưa bạn đến tình trạng trầm cảm không mấy hồi. Hãy tự hỏi liệu những sự dày vò về tinh thần có thể nào giúp mình làm thay đổi được hoàn cảnh của mình hay không? Câu trả lời chắc chắn là không rồi.

Bởi vậy, bạn nên gia nhập và tham gia vào những nhóm sinh hoạt để chia sẻ, nói ra bớt những sầu muộn của mình với bạn bè thân thích, với các thầy trong chùa hoặc với các cha trong nhà thờ, hoặc với những người nào thật tình muốn nghe mình nói.

9- Nuôi thú vật trong nhà

Chúng ta có thể nuôi một con vật nào đó (chó, mèo, chim, cá…) để giúp chúng ta bớt căng thẳng tinh thần, tạo thư giãn và bớt cô đơn trong cuộc sống. Đây là phương pháp thú vật trị liệu (Zootherapy) rất hữu ích đối với những người sống lẻ loi, già nua, gáo bụa đơn chiếc.

10– Lo phần tâm linh (spirituality)

Đi chùa, đi thiền viện, đi nhà thờ, đọc kinh, sách tìm hiểu về tôn giáo và tín ngưỡng đều là những cách giúp những người cao tuổi tìm được sự thanh tịnh trong tâm hồn nhờ đó mà thân tâm được nhiều an lạc.

Sau đây là một bài thơ rất Thiền của Ghyslaine Delisle giúp chúng ta bớt lo nghĩ về tuổi già.

Già an lạc là già trong hy vọng,

Vieillir en beauté, cest vieillir avec espoir,

Lòng sung mãn trong giấc mộng bình an.

Être content de soi en couchant le soir.

Khi số tận kêu ta dừng bước tiến,

Et lorsque viendra le point de non recevoir,

Chỉ là tạm biệt, vô thường sắc không.

Se dire quau fond, ce nest quun au revoir.

Nguyễn Thựơng Chánh,

KẾT LUẬN

Sự cô đơn thường xãy ra khi chúng ta muốn nhờ cậy người khác làm một công việc gì đó giùm mình. Trường hợp ngược lại, mình sẽ không bao giờ cảm thấy cô đơn nếu chính mình giúp họ và chính mình làm được những gì có ích cho người khác.

Nhưng còn một thứ cô đơn khác cũng rất tác hại cho hạnh phúc gia đình. Đây là nỗi cô đơn đồng sàng dị mộng, Tây họ gọi là solitude à deux thường xảy ra trong những cặp vợ chồng già, tuy sống với nhau trong cùng chung một mái nhà nhưng hai tâm hồn lại bay di theo hai hướng khác nhau.

Vướng nhầm loại cô đơn nào thì cũng đều khổ hết nhưng nếu mình còn có bà xã bên cạnh là có phước lắm đó, tuy đôi khi phải chịu nhức đầu, nhức lỗ tai một chút cũng hổng sao vì đã quá quen rồi, đã miễn nhiễm rồi, còn hơn là phải sống cu ki có một thân một mình./.