Chủ tịch HĐQT công ty ‘thu hồi nợ toàn quốc’ tàng trữ ma túy trên ô tô

Quá hay, đúng bản chất của những tên Vịt vô lại .

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

600.000 quân Trung Quốc được huy động để thực hiện một cuộc phá hoại rộng lớn trên đất Việt Nam. Mọi chuyện không như ý muốn của kẻ thù

600.000 quân Trung Quốc được huy động để thực hiện một cuộc phá hoại rộng lớn trên đất Việt Nam. Mọi chuyện không như ý muốn của kẻ thù.

***

Nhiều năm sau này, người trong vùng vẫn kể về cái đêm con trai cô Dén chết. Đoàn người sơ tán từ thị xã Cao Bằng, lần rừng về cầu Tài Hồ Sìn, tìm đường xuôi về Bắc Kạn, Thái Nguyên, những vùng chiến sự chưa lan tới. Gặp một trại lính Trung Quốc, đoàn người bấm nhau đi thật khẽ. Đúng lúc, từ phía nhà cô Dén có tiếng ọ ọe của trẻ con. Thằng bé bú no nê và được ủ ấm, đã thức giấc. Cô Dén loay hoay tìm cách để nó thôi khóc.

Ai nấy nín thở, đã có tiếng thì thào gắt gỏng. Dưới áp lực sống của hàng trăm con người, người mẹ đã bịt chặt miệng con để nó không còn phát ra tiếng kêu nữa. Thằng bé càng giãy, mẹ nó càng bịt chặt. Đoàn người vượt qua bản, thằng bé cũng không còn thở nữa. Nó mới hai tháng tuổi.

Người mẹ ôm chặt con không nấc lên được tiếng nào. Một ngôi mộ cỏn con được đắp vội bên đường. Những bước chân nặng nề bước tiếp.

Đó là một khung cảnh biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2 năm 1979, nơi Đặng Tiểu Bình tuyên bố đang tìm kiếm “sự bình yên nơi biên viễn”.

Ngày 2 tháng 2 năm 1979, trên khán đài một buổi đua ngựa ở bang Texas, Mỹ, một người đàn ông châu Á thấp bé mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn tối màu tay giơ chiếc mũ cao bồi, cười tươi. Khoảnh khắc đó, được các hãng thông tấn khắp thế giới truyền tải, trở thành một biểu tượng ngoại giao. Người đàn ông đó là Đặng Tiểu Bình, Phó thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

27 ngày sau khi quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung được ký kết, 28 tháng 1 năm 1979, chiếc Boeing 707 từ Bắc Kinh cất cánh, nhắm hướng Washington. Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyến thăm chính thức nước Mỹ.

Trong tiệc chiêu đãi cùng ngày, Đặng yêu cầu một cuộc gặp riêng với Tổng thống Jimmy Carter về vấn đề Việt Nam. Yêu cầu của Đặng được thực hiện ngay hôm sau. Hai mươi vị lãnh đạo đôi bên dành tròn 7 tiếng cho cuộc hội đàm, từ 10 giờ 40 đến 17 giờ 40.

Đặng Tiểu Bình và Jimmy Carter tháng 1/1979. Ảnh: UPI.

Trong sáu tiếng đầu tiên, Đặng nhấn mạnh về “chủ nghĩa bá quyền của Liên Xô”, cảnh báo “nguy cơ chiến tranh bắt đầu từ Liên Xô”, “Mỹ chưa chống trả Liên Xô thỏa đáng”; “Mỹ và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng trong cuộc chiến này”.

Bàn đến Việt Nam, Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đề nghị chuyển địa điểm sang phòng Bầu Dục. Cuộc họp rút xuống chỉ còn 8 người. Đặng Tiểu Bình đề cập đến “Việt Nam xâm lược Campuchia” để tiếp tay cho ý đồ bá chủ của Liên Xô. “Campuchia hy vọng Trung Quốc giúp đỡ, nhưng chúng tôi quá hiền lành”.

Ngày hôm sau, Việt Nam tiếp tục là chủ đề chính của cuộc hội đàm, lần này, của riêng Đặng và Carter. Trong biên bản cuộc họp có trích một phát biểu của Đặng: “Trung Quốc phải dạy Việt Nam một bài học”.

Jimmy Carter gọi ý định của Đặng là một “serious mistake”- sai lầm nghiêm trọng và từ chối giúp đỡ. Tổng thống Mỹ đích thân đọc một lá thư tay, nêu 8 lý do tại sao Trung Quốc không nên tấn công Việt Nam tại thời điểm này. Trong đó có “ảnh hưởng đến hình ảnh về một Cộng hòa nhân dân Trung Hoa yêu chuộng hòa bình”.

Đặng trả lời: “Cuộc chiến sẽ giới hạn trong quy mô nhỏ. Chúng tôi chỉ tìm kiếm một sự bình yên nơi biên viễn”.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Hãy Già Một Cách Khôn Ngoan

Hãy Già Một Cách Khôn Ngoan

  1. Đây là lúc mà ta phải tiêu hết số tiền mà ta đã để dành.

    Hãy tiêu chúng đi và tiêu một cách hoan hỉ.

    Hãy đừng đưa tiền đó cho những người mà họ không có một ý nghĩ gì về tại sao ta đã khó khăn mới kiếm được.

    Hãy đặc biệt lưu ý tới những người cùng huyết tộc với các chương trình về cách kiếm tiền khó khăn như thế nào mà quý vị đã làm để có chúng.

    Bây giờ cũng là thời gian không thuận lợi cho các đầu tư khác mặc dù việc đầu tư này có ít rủi ro. Đầu tư vào giai đoạn này chỉ mang lại lo âu và nhiều chuyện khó khăn. Đây là lúc mà quý vị cần tận hưởng một cách im lặng.

    2. Hãy đừng lo nghĩ tới tài chánh của con cháu.

    Xin hãy ngưng lo nghĩ về tình trạng tài chánh của con cháu mình và đừng cảm thấy tội lỗi về cách mà bạn tiêu tiền do chính mình làm ra. Quý vị đã nuôi chúng trong nhiều năm và đã chỉ dẫn cho chúng tất cả những gì mà quý vị biết. Quý vị đã giúp chúng về học vấn, thực phẩm, nhà ở và tiền túi. Bây giờ chính là lúc chúng phải lo kiếm tiền để tự túc.

    3.-Hãy giữ sức khỏe.

    Tập thể dục vừa phải như đi bộ mỗi ngày, dinh dưỡng đầy đủ và hãy ngủ đều đặn Ở tuổi này, quý vị rất dễ bị bệnh và muốn được khỏe mạnh thì cần nhiều cố gắng khó khăn hơn.Vì thế quý vị phải giữ mình ở tình trạng tốt và hãy lưu ý tới các nhu cầu về sức khỏe.Hãy giữ liên lạc với các bác sĩ bằng cách khám bệnh định kỳ, thực hiện các xét nghiệm mặc dù quý vị vẫn cảm thấy bình thường. “Cẩn tắc vô ưu”, cổ nhân vẫn dạy ta vậy.

    4-Luôn luôn mua vật dụng tốt nhất.

    Luôn luôn mua vật dụng tốt nhất và đẹp nhất cho những người thân.Phần thưởng mà quý vị mua những quà với tiền của chính mình thật là vô giá. Vào một ngày nào đó, một trong số những người thân của quý vị sẽ nhớ đến nhau và khi đó thì tiền chẳng cung cấp một điều quý giá gì cho nhau, vì vậy hãy cùng nhau tiêu tiền khi quý vị còn có thể sống với nhau.

    5-Hãy bỏ qua những điều lặt vặt.

    Trong đời sống, hãy bỏ qua những điều nhỏ nhặt.Quý vị đã từng vượt qua những điều như vậy trong suốt cuộc đời. Quý vị đã từng có những kỷ niệm vui buồn nhưng hiện tại mới là điều quan trọng. Hãy đừng để quá khứ dìm quý vị xuống và đừng để tương lai làm quý vị sợ hãi. Hãy tận hưởng với những gì của hiện tại. Quý vị hãy quên đi những chuyện lặt vặt.

    6- Luôn luôn làm sống lại tình yêu.

    Dù quý vị ở vào tuổi nào, luôn luôn làm sống lại tình yêu và sự thơ mộng. Hãy yêu mến người bạn đồng hành của quý vị, yêu đời sống, yêu gia đình quý vị, yêu hàng xóm, yêu chó hoặc yêu mèo và luôn luôn nhớ rằng: “Một người đàn ông chẳng bao giờ già khi ông ta có sự thông minh và tình thân ái”.

    7-Hãy mạnh dạn tự kiêu…

    Hãy mạnh dạn và tự kiêu từ tâm hồn tới thể xác.Đùng ngưng tới tiệm hớt tóc, chăm sóc móng tay móng chân, đi khám bệnh ngoài da và đi nha sĩ, giữ đầy đủ đồ làm đẹp. Khi quý vị đã tự giữ mình thì quý vị sẽ cảm thấy kiêu hãnh và tự tin.

    8. Đừng để ý tới bề ngoài.

    Ở tuổi của quý vị hãy đừng để ý tới vẻ bề ngoài. Không có gì lố bịch hơn là một người ở tuổi quý vị lại mặc quần áo của giới trẻ. Quý vị đã tạo ra một cái gì thích hợp với quý vị thì xin hãy giữ lấy nó và kiêu hãnh với nó. Đó là một phần của quý vị.

    9. Luôn luôn theo dõi xung quanh.

    Đọc nhật báo, coi internet và đọc tin tức.Hãy có một điện thư còn hoạt động và cố gắng dùng một trong những điều của xã hội. Quý vị sẽ rất ngạc nhiên gặp những người bạn cũ. Giữ liên lạc với những gì đã xẩy ra và những người mà quý vị đã biết là điều quan trọng dù quý vị có già.

    10. Hãy tôn trọng thế giới trẻ

    Hãy tôn trọng giới trẻ và ý kiến của họ. Và hy vọng rằng họ sẽ kính trọng quý vị. Họ có thể không có cùng quan điểm với quý vị nhưng họ sẽ là tương lai và hướng thế giới về phía họ. Hãy góp ý mà chẳng nên chỉ trích và hãy cố gắng mà nhắc nhở họ rằng sự khôn ngoan của quá khứ bây giờ vẫn còn áp dụng.

    11.Đừng bao giờ dùng câu: “Vào thời của tôi”.

    Ngày của quý vị là bây giờ.Bao lâu mà quý vị còn sống, quý vị là một phần của hiện tại. Quý vị có thể trẻ hơn, nhưng quý vị vẫn là quý vị. Hãy vui lên và tận hưởng cuộc đời.

    12.Một số quý vị sẽ trìu mến những năm huy hoàng trong khi đó thì nhiều vị trở nên cay đắng và gắt gỏng.

    Đời sống quá ngắn để bận tâm với những điều nhỏ nhen.Hãy chia xẻ với những người tích cực và vui vẻ. Điều này sẽ mang lại niềm vui cho chính quý vị và thời gian sẽ dễ chịu hơn. Sống với người yếm thế sẽ làm quý vị già hơn và khó mà sống với người khác.

    13. Hãy đừng bỏ ý định sống với các con.

    hoặc các cháu, nếu hoàn cảnh tài chính cho phép. Thực vậy, sống với nguời thân là điều tốt nhưng chúng ta có nếp sống riêng tư. Chúng thích sống cuộc đời của chúng và ta cần cuộc sống của ta.Nếu chẳng may mà quý vị mất người bạn đường (chúng tôi chia buồn cùng quý vị), hãy kiếm một người sống cùng và giúp lẫn nhau. Và cả khi đó nếu quý vị thấy thật cần sự giúp đỡ và không muốn sống một mình.

    14. Hãy đừng từ bỏ các thú vui.

    Nếu quý vị không có thì hãy tạo ra một thú vui khác.Quý vị có thể đi du lịch, nấu ăn, đọc sách báo và khiêu vũ.Quý vị có thể nuôi một chú mèo, một con chó, làm vườn, đánh bài, chơi domino, quần vợt.Quý vị có thể vẽ, làm việc thiện nguyện hoặc chỉ sưu tầm một loại đồ vật nào đó.

    Hãy kiếm điều gì mà quý vị thích và tận hưởng niềm vui với chúng.

    15. Hãy nhận lời mời mặc dù quý vị không muốn.

    Hãy tới các lễ rửa tội, hội họp, ra trường, ngày sinh nhật, đám cưới và hội thảo.

    Hãy ra khỏi căn nhà và gặp những người quen từ lâu mà quý vị chưa gặp lại.

    Hãy trải qua điều gì mới hoặc cũ nhưng hãy đừng bực mình nếu không được mời.Một vải hoạt động như vậy bị giới hạn vì phương tiện và quý vị nhớ cho rằng không phải ai cũng mời được như vậy.

    Điều quan hệ là đôi khi hãy ra khỏi căn nhà. Hãy tới viện bác cổ hoặc đi lang thang trong vườn bách thảo. Điều cần là hãy tạm thời ra khỏi căn nhà một khoảng thời gian ngắn.

    16. Hãy tiết kiệm lời nói.

    Nghe nhiều, nói ít. Có nhiều trong số quý vị liên tục nhắc lại quá khứ mà không để ý người khác có thích nghe không.

    Hãy nghe trước và trả lời câu hỏi sau nhưng đừng quá kéo dài câu chuyện trừ khi được yêu cầu.

    Hãy nói với giọng nhã nhặn và nên trành than phiền hoặc chỉ trích nhiều quá trừ khi cần.

    Hãy cố gắng chấp nhận hoàn cảnh khi việc xẩy ra. Mọi người đều trải qua những hoàn cảnh như vậy và nhiều người khó chịu vì phải nghe các lời than phiền. Vậy thì hãy cố gắng tìm các điều tốt để nói.

    17. Đau và khó chịu thường xuất hiện ở tuổi cao.

    Không nên cố bám lấy nó và cho nó là một phần của cuộc sống mà mọi người phải trải qua. Hãy cố gắng giảm thiểu sự đau nhức và sự khó chịu ra khỏi trí óc.Chúng không phải tự nhiên mà quý vị có, chúng là những gì thêm thắt mà đời sống thêm vào cho quý vị. Nếu quý vị bận tâm đến nó, quý vị sẽ mất vai trò của quý vị. Hãy tha thứ.

    Nếu quý vị bị người khác làm tổn thương, hãy quên đi. Nếu quý vị làm người khác buồn, hãy xin lỗi. Đừng kéo dài sự bất mãn với chính mình. Nó chỉ làm quý vị cảm thấy mất vui và cay đắng. Ai phải cũng thế thôi.

    Có người đã nói: “Giữ sự bực tức thì cũng giống như uống chất độc và hy vọng rằng người đó sẽ chết”.

    18. Hãy tận hưởng niềm tin mãnh liệt nếu quý vị đã có.

    Nhưng xin đừng cố thuyết phục người khác.Họ sẽ tự quyết định và quý vị sẽ bất mãn.Hãy sống với điều mà mình tin.

    19. Hãy cười to lên.

    Và cười thật nhiều.Cười về mọi thứ.Hãy nhớ quý vị là một trong những người có may mắn.Quý vị đã thu xếp để có một nếp sống, một nếp sống kéo dài.Nhiều người không bao giờ đạt được tuổi đó, chưa bao giờ hưởng trọn cuộc đời..Nhưng quý vị đã đạt được điều đó.Như vậy thì tại sao quý vị không vui cười to lên? Hãy mỉm cười trong bất cứ hoàn cảnh nào.

    20. Đừng để ý tới lời bình phẩm của người khác về quý vị và đôi khi không thèm để ý tới những gì họ nghỉ về mình.

    Họ sẽ luôn luôn bình phẩm và quý vị nên tự kiêu hãnh và những điều tốt mình đã thực hiện. Hãy để họ nói và đừng quan tâm.Họ không hiểu tý gì về quý vị, về các ký ức của quý vị và đời sống của quý vị. Có nhiều điều cần ghi lại vậy thì hãy viết và đừng phí thì giờ về những gì mà ngưởi khác có thể gán cho quý vị. Bây giờ là lúc cần nghỉ ngơi và sống hạnh phúc càng nhiều càng tốt./.

    Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

    Texas-Hoa Kỳ

Đăng tải tại GIA ĐÌNH | Để lại phản hồi

Học cách tu cái miệng!

Học cách tu cái miệng!

Sống ở trên đời, “tu cái miệng” là một điều đặc biệt quan trọng. Người xưa có câu: “Nước đổ khó hốt, gương vỡ khó lành”. Mỗi lời nói ra cũng giống như bát nước hắt đi, thật khó lòng thu hồi về được nữa…

Nói chuyện là một nghệ thuật, dù là lời hay ý đẹp cũng phải đắn đo. Nói điều không tốt khiến đôi bên nghe xong đều mất hứng thì đương nhiên là không nên nói.

Vậy những lời thế nào là không tốt và không nên nói ra? Học cách “tu cái miệng” bằng cách không nói 8 lời sau đây:

  1. Không nói những lời chán nản, thối chí

Co’ người bình thường thích nói những lời chán nản làm người khác nhụt chí. Thật ra cuộc sống rất cần những lời cổ vũ động viên từ người khác, cho dù không có ai khích lệ thì cũng phải tự khích lệ chính mình. Bản thân không cổ vũ chí hướng của mình, trái lại còn nói ra những lời thoái chí thì đương nhiên sẽ rơi vào vực sâu suy sụp.

  1. Không nói những lời tức giận

Con người đang lúc tức giận thường không tự chủ được mà nói ra những lời giận dữ, có lúc làm tổn thương người khác, có khi lại làm tổn thương chính mình. Người ta khi bị xúc phạm thì cần nhất là giữ được tỉnh táo, không nên tùy tiện phát ngôn, vì lời nói lúc nóng giận thường rất khó nghe, vì vậy nhất định đừng nên nói.

  1. Không nói những lời oán trách

Khi không hài lòng, người ta thường nói ra những lời bất mãn, oán giận ông chủ, oán giận bạn bè, thậm chí oán giận cả người nhà. Nếu bạn thường xuyên nói những lời oán trách, người khác nghe được sau này sẽ mượn đó làm đề tài để nói về bạn, gây ra bất hòa thị phi, khiến bạn phải đối phó với người này, đối phó với người kia, cuối cùng tự mình làm khổ mình, bạn việc gì phải khổ như vậy?

  1. Không nói những lời tổn thương

Có người lỗ mãng nói năng tùy tiện, không biết bao dung tôn trọng người khác, thường hay nói những lời tổn thương người khác, có lúc “hại người ích ta”, nhưng cũng có khi “hại người hại mình”. Lời nói tổn thương người khác có thể chỉ là nhất thời, nhưng nhân cách của mình đã bị người ta xem thường rồi đó, tổn thương ấy là vĩnh viễn!

  1. Không nói những lời khoe khoang

Có người khi nói chuyện thường thích tuyên truyền về bản thân, tự mình quảng cáo rùm beng, tự mình thổi phồng chính mình, người khác nghe xong nhất định không đồng tình. Cho nên khoe khoang thực tế cũng chẳng được lợi ích gì, trái lại còn làm mình bị tổn thương. Con người muốn vĩ đại thì phải làm những việc vĩ đại, vĩ đại ấy là phải để người khác nói, không thể tự nhận được đâu, bản thân mình khiêm tốn là tốt hơn cả.

  1. Không nói những lời dối trá

Phật giáo giảng “Ngũ giới”, “cấm nói dối” là một trong năm giới cấm này. Nói dối tức là “thấy mà nói không thấy, không thấy mà nói thấy, đúng mà nói là sai, sai mà nói là đúng”, nói một cách đơn giản thì đó là những lời không thật.

Truyện ngụ ngôn “Sói đến rồi” (hay “Chú bé chăn cừu”) từng nói về hậu quả nghiêm trọng của việc nói dối. Một ví dụ khác, ban đầu có 1 chiếc máy bay, qua tai người khác nói thành 11 chiếc, cuối cùng biến thành 91 chiếc, đây chính là những tin đồn thất thiệt, chuyện bé xé ra to, cũng tương tự như là nói dối.

  1. Không nói những lời bí mật

Trên đời này có lắm điều bí mật, từ gia đình đến công ty không đâu là không có, nghiệp vụ có bí mật nghiệp vụ, quốc gia có bí mật quốc gia. Hiện nay các quốc gia đều rất coi trọng việc bảo mật, nếu chẳng may tiết lộ bí mật quốc gia thì bạn sẽ bị xử lý nghiêm khắc và chịu hình phạt nặng nề.

Cho nên chúng ta cần phải tạo thành thói quen giữ bí mật, không được tùy tiện phát ngôn. Trước khi nói ra những chuyện bí mật, bạn phải nghĩ đến những hậu quả xấu có khả năng xảy ra, hiểu rõ tính nghiêm trọng của nó thì sẽ không dám tùy tiện ăn nói lung tung.

  1. Không nói những lời riêng tư

Mỗi người đều có những chuyện riêng tư, việc riêng của mình đương nhiên không muốn người khác biết, việc riêng của người khác cũng không thể mang ra nói lung tung. Cho dù bạn có nói ra hết chuyện riêng của người khác mà họ không phản kháng lại thì tính xấu của bạn cũng đã lộ ra rồi, sau này bạn sẽ khó mà có được hậu phúc nữa.

Con người sống trong nhà không chỉ để che mưa che nắng mà còn vì an toàn, nhưng chủ yếu nhất là để đảm bảo sự riêng tư. Người ta mặc quần áo một phần là để giữ ấm nhưng quan trọng là để che đậy thân thể của mình. Vì thế, nếu muốn tôn trọng lẫn nhau thì không được tiết lộ những việc riêng tư của người khác.

Ngoài những điều kể trên, đương nhiên còn có rất nhiều điều không nên nói và không nên làm, thận trọng với những lời nói của mình cũng chính là đang “tu khẩu” , tu cái miệng của mình, bằng không chính bạn đang hủy đi phúc đức của mình đấy !

Sống ở trên đời, “tu cái miệng” là một điều đặc biệt quan trọng. Người xưa có câu: “Nước đổ khó hốt, gương vỡ khó lành”. Mỗi lời nói ra cũng giống như bát nước hắt đi, thật khó lòng thu hồi về được nữa…

Nói chuyện là một nghệ thuật, dù là lời hay ý đẹp cũng phải đắn đo. Nói điều không tốt khiến đôi bên nghe xong đều mất hứng thì đương nhiên là không nên nói.

Vậy những lời thế nào là không tốt và không nên nói ra? Học cách “tu cái miệng” bằng cách không nói 8 lời sau đây:

  1. Không nói những lời chán nản, thối chí

Có người bình thường thích nói những lời chán nản làm người khác nhụt chí. Thật ra cuộc sống rất cần những lời cổ vũ động viên từ người khác, cho dù không có ai khích lệ thì cũng phải tự khích lệ chính mình. Bản thân không cổ vũ chí hướng của mình, trái lại còn nói ra những lời thoái chí thì đương nhiên sẽ rơi vào vực sâu suy sụp.

  1. Không nói những lời tức giận

Con người đang lúc tức giận thường không tự chủ được mà nói ra những lời giận dữ, có lúc làm tổn thương người khác, có khi lại làm tổn thương chính mình. Người ta khi bị xúc phạm thì cần nhất là giữ được tỉnh táo, không nên tùy tiện phát ngôn, vì lời nói lúc nóng giận thường rất khó nghe, vì vậy nhất định đừng nên nói.

  1. Không nói những lời oán trách

Khi không hài lòng, người ta thường nói ra những lời bất mãn, oán giận ông chủ, oán giận bạn bè, thậm chí oán giận cả người nhà. Nếu bạn thường xuyên nói những lời oán trách, người khác nghe được sau này sẽ mượn đó làm đề tài để nói về bạn, gây ra bất hòa thị phi, khiến bạn phải đối phó với người này, đối phó với người kia, cuối cùng tự mình làm khổ mình, bạn việc gì phải khổ như vậy?

  1. Không nói những lời tổn thương

Có người lỗ mãng nói năng tùy tiện, không biết bao dung tôn trọng người khác, thường hay nói những lời tổn thương người khác, có lúc “hại người ích ta”, nhưng cũng có khi “hại người hại mình”. Lời nói tổn thương người khác có thể chỉ là nhất thời, nhưng nhân cách của mình đã bị người ta xem thường rồi đó, tổn thương ấy là vĩnh viễn!

  1. Không nói những lời khoe khoang

Có người khi nói chuyện thường thích tuyên truyền về bản thân, tự mình quảng cáo rùm beng, tự mình thổi phồng chính mình, người khác nghe xong nhất định không đồng tình. Cho nên khoe khoang thực tế cũng chẳng được lợi ích gì, trái lại còn làm mình bị tổn thương. Con người muốn vĩ đại thì phải làm những việc vĩ đại, vĩ đại ấy là phải để người khác nói, không thể tự nhận được đâu, bản thân mình khiêm tốn là tốt hơn cả.

  1. Không nói những lời dối trá

Phật giáo giảng “Ngũ giới”, “cấm nói dối” là một trong năm giới cấm này. Nói dối tức là “thấy mà nói không thấy, không thấy mà nói thấy, đúng mà nói là sai, sai mà nói là đúng”, nói một cách đơn giản thì đó là những lời không thật.

Truyện ngụ ngôn “Sói đến rồi” (hay “Chú bé chăn cừu”) từng nói về hậu quả nghiêm trọng của việc nói dối. Một ví dụ khác, ban đầu có 1 chiếc máy bay, qua tai người khác nói thành 11 chiếc, cuối cùng biến thành 91 chiếc, đây chính là những tin đồn thất thiệt, chuyện bé xé ra to, cũng tương tự như là nói dối.

  1. Không nói những lời bí mật

Trên đời này có lắm điều bí mật, từ gia đình đến công ty không đâu là không có, nghiệp vụ có bí mật nghiệp vụ, quốc gia có bí mật quốc gia. Hiện nay các quốc gia đều rất coi trọng việc bảo mật, nếu chẳng may tiết lộ bí mật quốc gia thì bạn sẽ bị xử lý nghiêm khắc và chịu hình phạt nặng nề.

Cho nên chúng ta cần phải tạo thành thói quen giữ bí mật, không được tùy tiện phát ngôn. Trước khi nói ra những chuyện bí mật, bạn phải nghĩ đến những hậu quả xấu có khả năng xảy ra, hiểu rõ tính nghiêm trọng của nó thì sẽ không dám tùy tiện ăn nói lung tung.

  1. Không nói những lời riêng tư

Mỗi người đều có những chuyện riêng tư, việc riêng của mình đương nhiên không muốn người khác biết, việc riêng của người khác cũng không thể mang ra nói lung tung. Cho dù bạn có nói ra hết chuyện riêng của người khác mà họ không phản kháng lại thì tính xấu của bạn cũng đã lộ ra rồi, sau này bạn sẽ khó mà có được hậu phúc nữa.

Con người sống trong nhà không chỉ để che mưa che nắng mà còn vì an toàn, nhưng chủ yếu nhất là để đảm bảo sự riêng tư. Người ta mặc quần áo một phần là để giữ ấm nhưng quan trọng là để che đậy thân thể của mình. Vì thế, nếu muốn tôn trọng lẫn nhau thì không được tiết lộ những việc riêng tư của người khác.

Ngoài những điều kể trên, đương nhiên còn có rất nhiều điều không nên nói và không nên làm, thận trọng với những lời nói của mình cũng chính là đang “tu khẩu” , tu cái miệng của mình, bằng không chính bạn đang hủy đi phúc đức của mình đấy !

From: Tu-Phung

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

2019: Việt Nam sẽ đưa 120.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài

Thay vì tạo công việc làm cho nhân dân trong nước, đồng thời xuất khẩu hàng hóa để mang ngoại tệ về cho quốc gia.

Nhưng chế độ chỉ biết buôn người, mang con dân Việt bán ra thế giới để làm thân nô lệ lấy tiền nuôi báo cô “bộ máy kềm kẹp” bất nhân, tàn độc!!!
************

2019: Việt Nam sẽ đưa 120.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài

Năm 2019, Việt Nam đặt mục tiêu đưa 120.000 người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, nhắm vào các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Romania và Bulgaria.

Trang tin Novinite hôm 12/2 dẫn thông tin vừa nói từ TTXVN.

Theo lời của ông Nguyễn Gia Liêm, Phó Cục trưởng Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, nhiều nước Đông Âu quan tâm đến lao động Việt Nam. Cùng với các thị trường truyền thống, hàng trăm ngàn việc làm có sẵn cho người Việt Nam ở Châu Âu nhờ các thỏa thuận hợp tác lao động được ký kết vào cuối năm 2018.

Cũng theo ông Liêm, Bulgaria cần 50.000 công nhân Việt Nam trong ngành xây dựng, quần áo và dệt may, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ y tế.

Số lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài đã tăng lên tới 142.860 trong năm 2018, cao hơn khoảng 30% so với mục tiêu hàng năm. Theo dữ liệu từ Cục quản lý lao động ngoài nước, năm 2018 là năm thứ 5 liên tiếp khi số lượng lao động Việt Nam gửi ra nước ngoài vượt hơn100.000 người.

Nhật Bản vẫn là thị trường lao động nước ngoài lớn nhất đối với người Việt Nam với 68.737 lao động, tiếp theo là Đài Loan 60.369 lao động và Hàn Quốc là 6.538 lao động.

Một trong những động lực chính giúp Việt Nam phát triển như một trong những nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới là sự phát triển của ngành sản xuất. Hiện ngành này đóng góp vào GDP của Việt Nam rất lớn, ngoài ra lĩnh vực này tiếp tục đạt mức tăng trưởng đáng kể khi Việt Nam giữ vững vị thế là một trung tâm sản xuất chi phí thấp trên toàn cầu.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Chết vào tay Trung Quốc?

Chết vào tay Trung Quốc?

From: lucie1937

Tác giả:Nguyễn Văn Lục Nguồn:Đàn Chim Việt Ngày đăng: 2019-02-11

Gần đây sôi nổi vụ tình báo gián điệp Trung Quốc của công ty Huawei với bà Mạnh Vãn Chu phải ra hầu tòa. Bộ tư pháp Mỹ đã đưa ra hơn 10 chứng cớ buộc tội bà Mạnh Vãn Chu và công ty của bà. Xem ra nó có vẻ mới mẻ như một vụ xi căng đan lớn?

Tập Cận Bình lãnh tụ của Trung Cộng.

Thật ra, người hiểu chuyện xứ Tầu trong việc làm ăn, giao thiệp cho dù tầm cỡ quốc tế đi nữa thì có bao giờ nước Tầu tôn trọng luật lệ và làm ăn sòng phẳng đâu! Chủ nghĩa thực dụng với tích lũy kinh nghiệm buôn bán kế thừa từ đời nọ sang đời kia cho phép các nhà buôn Tầu làm ăn phát đạt. Phi thương bất phú. Đúng như thế. Nhưng làm giàu bằng cách nào là một chuyện khác.

Chỉ biết rằng ngày nay nước Tầu đang phát triển vào bậc nhất. Nhưng nạn nhân cũng chính là họ. Nạn nhân ấy là Môi trường. 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới thì riêng nước Tầu chiếm đến 16 thành phố. Giàu bất chính nên 2/3 những thương gia giàu có ở nước này đều co giấy xuất cảnh đi nước ngoài. Cho nên, chỉ cần một biến cố nhỏ đụng chạm đến quyền lợi, họ rụng như lá.

Thế giới nay kinh ngạc, hoảng sợ trước sức mạnh kinh tế của Tầu. Cũng đúng. Nhưng người ta quên rằng hơn ai hết người Tầu sợ chính họ. Có thể chỉ các doanh nhân và các công ty lớn của Mỹ đụng chạm với thực tế họ hiểu rõ điều này hơn ai hết.

* * * *

Nguyên nhân nào đã giúp nước Tầu vươn lên hàng cường quốc

Điểm quan trọng mà người viết muốn lưu ý bạn đọc là: Hầu như các tác giả Mỹ cũng như Tây Âu ít chú trọng đến biến cố “bắt tay” giữa Mao Trạch Đông và TT Nixon.

[DCVOnline: Truy cập bằng Google search người đọc sẽ có khoảng hơn 2 triệu kết quả từ những bài báo, luận văn nghiên cứu cho đến sách bằng Anh ngữ viết về “Mao và Nixon”; ví dụ “Sino-American Relations and Détente: Nixon, Kissinger, Mao and the One-China Policy, with special reference to Taiwan” (Luận án 2008) của Chun Yen Hsu (Chris); “Seize the Hour – When Nixon Met Mao” của Margaret MacMillan, “Ping-Pong Diplomacy: The Secret History Behind the Game that Changed the World” của Nicholas Griffin, “Nixon’s” Women: Gender Politics and Cultural Representation in Act 2 of “Nixon in China”, của Matthew Daines đăng trên The Musical Quarterly Vol. 79, No. 1 (Spring, 1995), pp. 6-34, và vô số những tác phẩm khác.]

Cho đến năm 1970, ai muốn có chiếu khán vào nước Tầu thì phải xin chiếu khán ấy qua tòa đại sứ Canada ở Ottawa. Nước Tầu lúc đó bị cô lập, không có chân trong LHQ cũng như Việt Nam.

Nếu không có cú bắt tay này liệu Trung Quốc có thể dễ dàng ra vào nước Mỹ, lợi dụng xuất cảng ồ ạt, ăn cắp kỹ thuật, gửi sinh viên đi du học, ngay cả chi phối cuộc bầu cử của TT. Clinton.

Đây là một trong những bằng chứng xâm nhập.

Trong bài “Chinese denies seeking White House Visit” do Steven Mufson đăng trên tờ Washington Post Foreign Service, ngày chủ nhật 13 tháng 6 năm 1997, Trang A0I, trong đó một thương gia Trung Quốc có thế lực tên Wang muốn đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton qua trung gian một chủ nhà hàng tên Charles Yah Lin Trie, bạn lâu năm của TT Clinton. Việc này được phát ngôn viên chính phủ chính thức cho biết Trung Quốc đóng góp 2 triệu đô la cho Clinton. Về điều này thủ tướng Li Peng thời bấy giờ của Trung Quốc tại Bắc Kinh cũng lên tiếng phủ nhận.

Tôi chỉ tóm tắt sơ lược, không đưa ra kết luận, nhưng chủ ý nhấn mạnh vào những mánh khóe mua chuộc mà Trung Quốc rất có thể làm.

Nguồn: Henry A. Kissinger’

Cho đến nay thì có thể gọi đó là điểm sai lầm chiến lược của Mỹ và hậu quả của nó thì ngày hôm nay mới thấy rõ. Trong khi đó, người dân miền Nam hơn ai – là nạn nhân của chính sách của Mỹ – nên hiểu rõ cú bắt tay của đôi bên đưa đến chỗ Người Mỹ đã “hy sinh” miền Nam như thế nào.

Người được TT. Nixon giao trọng trách nối lại mối liên hệ đứt đoạn giữa Mỹ và Trung Quốc từ hơn 20 năm nay, kể từ sau chiến tranh Triều Tiên, không ai khác là tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh Quốc Gia của Nixon.

Trong Hồi ký của Kissinger ông cho hay ông đã qua lại Trung Quốc như con thoi cả thẩy 50 lần để tiếp xúc với các lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Ông đủ khôn ngoan và láu cá khi cho rằng mục đích của các chuyến đi ấy chỉ vì muốn đi tìm hòa bình. ông viết:

“At the same time, all my life I have reflected on the building of peace, largely from an American perspective. I have had the good luck of being able to pursue these two stands of thinking simultaneously as senior official, as a carrier of messages, and as scholar.”(Henry Kissinger, “On China”, (2011) with a new afterword)

[DCVOnline: Ngay đoạn đầu tiên trong “Lời nói đầu” của cuốn “On China” (The Penguin Press, New York, 2011), tác giả Kissinger viết,

“Forty years ago almost to the day, President Richard Nixon did me the honor of sending me to Beijing to reestablish contact with a country central to the history of Asia with which America had had no high-level contact for over twenty years. The Ameri can motive for the opening was to put before our people a vision of peace transcending the travail of the Vietnam War and the ominous vistas of the Cold War.”

“Gần như đúng bốn mươi năm trước, Tổng thống Richard Nixon đã cho tôi vinh dự được gửi đến Bắc Kinh để tái thiết bang giao với một quốc gia là trung tâm trong lịch sử Châu Á mà nước Mỹ đã không có liên hệ cao cấp trong hơn hai mươi năm. Động cơ thúc đẩy Mỹ mở cửa với Trung Quốc là để trình bầy với nhân dân Mỹ một viễn tượng hòa bình vượt xa hơn cả những gì người Mỹ đang cố gắng trong Chiến tranh Việt Nam và những viễn cảnh đáng ngại của Chiến tranh Lạnh.”]

Người viết rất tiếc là không biết ông đã viết “Lời nói đầu” như thế nào của lần đầu tiên.

Nhưng Kissinger hơn ai hết đều hiểu rằng có một mối căng thẳng giữa Liên Xô- Stalin và sau này tiếp theo với Khruschev với Trung Quốc thời Mao Trạch Đông ngay từ Đại Hội Đảng của các nhà lãnh đạo Đông Âu ở Moskva vào năm 1957. Năm 1958, Khruschev đã phải thân hành sang Bắc Kinh để làm hòa dịu mối bất hòa giữa đôi bên.

Và đến tháng giêng năm 1972, TT Nixon sang Bắc Kinh. Cú bắt tay ấy tạo sự hòa dịu giữa đôi bên, đồng thời làm gẫy đổ một liên minh Sino-Soviet vốn đã mong manh từ thời Stalin.

Phải chăng, đấy là mục đích chính của Kissinger và TT Nixon, cô lập hóa sự liên minh giữa khối cộng sản với nhau? Và con đường tiếp cận với Mỹ mở ra cho Trung Quốc một tương lai đầy hứa hẹn như ngày nay?

Có phải đây là chuyện nuôi ong tay áo hay chuyện tò vò mà nuôi con nhện? Nixon đã không nhìn thấy mối hiểm nguy từ nước Tầu nên mua chuộc Tầu để làm giảm thế lực của khối cộng sản.

Vậy mà trong cả cuốn sách của ông Kissinger, dày 604 trang, xuất bản năm 2011, người viết không tìm thấy “một cái nhìn lại” chính sách sai lầm của Nixon như thế nào ?

Nhưng trong một cuốn sách khác cũng của ông, “Henry Kissinger. À la Maison Blanche 1968-1973”, ông lại dành 98 trang để nói về cái mà ông gọi là “Les affaires du Viêt Nam” (Vấn đề Việt Nam). Ông viết:

“Cho mãi đến tận bây giờ, tôi không thể nói về Việt Nam mà không cảm thấy một nỗi phiền muộn, một nỗi buồn sâu xa nhất.” (H. Kissinger. À la maison Blanche 1968-1973).

Đọc suốt gần trăm trang tài liệu này, người viết thấy ông không tin tưởng chiến thắng cuối cùng nào của VNCH. Vì thế, ông đã ngỏ ý riêng với TT Nixon là mời Sainteny sang hội kiến với Nixon. Đó là ngày 15-7 năm 1969. Và yêu cầu Sainteny – một nhà ngoại giao Pháp thân thiện với HCM – làm trung gian giao thiệp với Xuân Thủy một cách hoàn toàn bí mật. Nhưng Xuân Thủy chỉ là thứ công chức không có quyền quyết định gì. Người có quyền hành chính trị chính là Lê Đức Thọ.

Muốn hiểu cuộc thương thuyết và kết quả là Hiệp Định Ba Lê như thế nào, bạn đọc có thể tìm đọc một cuốn sách khá đầy đủ của phe cộng sản hai biên tập viên là: Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ nhan đề “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại París”.

Một tài liệu khác của bà Han Suyn đưa ra một số chi tiết mà Kissinger đã bỏ trong Hồi ký của ông. Tác giả Han Suyn cho rằng vào tháng 8, năm 1969, TT Nixon và ông H. Kissinger đã sang Romania. Tại nơi đây, họ đã bàn thảo về mối liên hệ Đông-Tây, trong đó đề cập đến Liên Xô và Trung Quốc.

Đối với vấn đề Á Châu thì Nixon khẳng định rõ ràng, dứt khoát: Máu của người Mỹ phải ngừng chảy ở đây. Chiến tranh Việt Nam phải được Việt Nam hóa.

Đối với Trung Quốc, lần đầu tiên, Nixon dùng chữ: Cộng Hòa nhân dân Trung Quốc. Đó chứng tỏ một hảo ý từ phía Nixon. Tiếp theo đó là những nhượng bộ nhỏ như công dân Mỹ đến nước Trung Hoa nay có quyền mua 100 đô la hàng hóa của Tầu mang về Mỹ. Các công ty Mỹ bắt đầu liên hệ thương mại với nước Tầu.

Nhưng quan trọng hơn là qua trung gian nhà báo Edgar Snow, Han Suyn viết:

“Ngày 1 tháng 10, Mao đã yêu cầu nhà báo Edgar Snow và bà vợ ông đứng bên cạnh ông trong buổi lễ tại khán đài La Paix céleste; Đó là một dấu hiệu tốt. Đến tháng 12-1970, Mao Trạch Đông cũng đã dành cho Snow một buổi phỏng vấn và Mao Trạch Đông đã trả lời công khai điều mà người ta trông đợi ở ông: “ông rất vui mừng được tiếp chuyện với TT Nixon, bởi vì ông Nixon là TT được nhân dân Mỹ bầu lên, ông Nixon có thể đến nước Tầu với tư cách một khách du lịch hay một tổng thống, Nixon sẽ được đón tiếp ở đây.” (Han Suyn. Le premier jour du monde, trang 432-433)

Trở về Mỹ, Snow cho đăng bài phỏng vấn của Mao Trạch Đông trên tờ Life, 30-4-1971.

Cũng vào tháng tư, một phái đoàn thể thao Ping-pong của Mỹ đến Bắc Kinh. Cho đến năm 1971, Kissinger từ Pakistan sang Bắc Kinh gặp Thủ tướng Chu Ân Lai để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm chính thức của TT Nixon vào tháng 2-1972. Tháng 10, nước Tầu chính thức vào Liên Hiệp Quốc và công việc bình thường hóa giữa Mỹ với Trung Quốc, có nghĩa loại bỏ Đài Loan.

Một quá trình đối đầu căng thẳng và Mao Trạch Đông đánh giá công việc của Nixon đã làm là vô giá. Việc Nixon sang nước Tầu là một trong những biến cố lơn lao nhất được trình chiếu trên Vô Tuyến truyền hình và truyền thanh tại Trung Quốc cũng như trên toàn thế giới. Đây có thể ví như một bước nhảy vĩ đại về chính trị giữa hai nước chẳng khác gì việc đặt chân lên mặt trăng của Mỹ.

Mao tuyên bố, “Thời gian và lịch sử đứng về phía chúng ta.

Thật đúng vậy, nước Tầu được tất cả và Mỹ được gì? Mao nay có thể làm ăn buôn bán chẳng những với Mỹ và tất cả các nước Tây Âu khác theo chân Mỹ. Mối lo ngại tranh chắp biên giới với Nga cũng sẹp xuống cũng như với Ấn Độ. Tham vọng làm thay đổi thế giới, thay đổi con người dần dần lộ diện!

Phần Nixon đã gửi riêng cho Hồ Chí Minh một lá thư. Và cảnh ngoại giao đi đêm bắt đầu với đầy vẻ bí mật và mánh khóe che đậy như sang Paris là để gặp Tổng thống Pompidou lúc bấy giờ; chính ở Paris, ông Kisinger đi găp Sainteny.

Sự tiết lộ này của Kissinger cho thấy, chính quyền Nixon đã bán đứng Việt Nam cho cộng sản Hà Nội. Và Việt Nam hoàn toàn không biết gì cái giai đoạn khởi điểm này.

Xin trích lại nguyên văn:

“Nous optames pour la première suggestion. Une lettre personnelle de Nixon à Ho Chi Minh fut rédigée. Nous demandames à Sainteny de la remettre en mains propres. La lettre insistait sur notre volonté de paix, proposait de discuter des plans de Hanoi en même temps que des nôtres, et concluait en ces termes:

“L’heure est venue de s’acheminer, à la table de conférence, vers une résolution rapide de cette guerre tragique. Vous nous trouvenez disponibles, prêts à apporter avec vous, dans un effort commun, les bienfaits de la paix au courageux peuple du Vietnam. Que plus tard l’on puisse dire qu’en cet ínstant critique les deux parties ont choisi la paix plutôt que le conflit et la guerre.” (Henry Kissinger, À la Maison Blanhce 1968-1973, Fayard, 1979, trang 290-291.

Chúng tôi đã chọn giải pháp đầu tiên. Một lá thư riêng của TT. Nixon được thảo ra và được gửi cho Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã yêu cầu Sainteny đưa tận tay cho Hồ Chí Minh. Lá thư nhấn mạnh đến ý muốn của chúng tôi là mong muốn hòa bình và đề nghị thảo luận những kế hoạch từ phía Hà Nội và cả từ phía chúng tôi và lá thư đã được kết thúc bằng những dòng sau đây.

“Đã đến thời điểm phải đi đến bàn Hội Nghị để tìm ra một giải pháp nhanh chóng về cuộc chiến bi đát này. Các quý ông sẽ thấy chúng tôi đã sẵn sàng trong một nỗ lực chung để đem lại những điều tốt đẹp cho hòa bình cho người dân Việt Nam can đảm. Và để sau này người ta có thể nói rằng ngay trong những giờ phút khó khăn này hai bên đã chọn hòa bình thay vì những xung đột và chiến tranh.”

Lá thư gửi đi ngày 15-7 thì hơn tháng sau, HCM trả lời Nixon vào ngày 30-8-1969. Chỉ ba ngày sau thì HCM chết bằng một giọng điệu cứng rắn và sắt máu không thưa gửi Tổng thống như Nixon đã làm. Đại khái chúng tôi sẽ chiến đấu tới cùng không ngại những hy sinh và khó khăn gặp phải. Rồi yêu cầu này nọ đủ thứ.

Tôi thiết nghĩ cũng cần đưa ra lá thư trả lời của Hồ Chí Minh mà tôi đã không tìm thấy trong các tài liệu bằng tiếng Việt. Lá thư có một phần nội dung như sau:

“Dân tộc Việt Nam chúng tôi rất tha thiết vào hòa bình, một hòa bình thực sự với sự dành được độc lập và tự do. Dân tộc Việt Nam cũng quyết tâm chiến đấu đến cùng, không ngaị hy sinh hay những khó khăn gặp phải, để bảo vệ sự sống của mình và bảo vệ những quyền lợi thiêng liêng của đất nước. Chương trình tổng quát 10 điểm, do Mặt trận thống nhất dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và của chính quyền Cách Mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là cơ sở căn bản hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam. Chương trình ấy được sự hưởng ứng đồng thuận và ủng hộ của các dân tộc trên toàn thế giới.

Ngài đã viết trong lá thư bày tỏ ý muốn đạt tới một nền hòa bình dựa trên sự công bằng. Từ đó, Chúng tôi yêu cầu phía chính quyền Mỹ phải chấm dứt việc xâm lấn và rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam và tôn trọng quyền của dân chúng miền Nam cũng như tôn trọng quyền của người dân miền Nam mà không có sự can thiệp của người ngoại quốc. Đó là cách thức đứng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam.” (H. Kissinger À la Maison Blanhche, 1968-1973, trang 295)

Lá thư mà nội dung toàn là những lời lẽ khuôn mẫu thuộc lòng và khô lạnh, không một chút hé lộ bất cứ một sự nhượng bộ dù nhỏ nhoi nào. Đòi Mỹ rút quân, nhưng không đả động gì đến việc đòi quân đội cộng sản rút về Bắc.

[DCVOnline: Văn bản chính thức (bằng tiếng Anh) của lá thư Nixon gởi Hồ Chí Minh (đề ngày 15 tháng 7, 1969, công bố ngày 3 tháng 11, 1969) và thư Hồ Chí Minh gởi Nixon (viết ngày 25 tháng 8, 1969). Nguồn: Richard Nixon: “Letters of the President and President Ho Chi Minh of the Democratic Republic of Vietnam.,” November 3, 1969. Online by Gerhard Peters and John T. Woolley, The American Presidency Project.

Tuy nhiên, theo Cheng Guan Ang viết trong cuốn “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists’ Perspective” do Routledge xuất bản năm 2004, ở trang 26: 1/ Mỹ nhận được thư của Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 8, 1969; 2/ Hồ không đọc và cũng không trả lời thư của Nixon; 3/ Vũ Kỳ, thư ký của Hồ Chí Minh, cho biết vào cuối tháng 8 Hồ Chí Minh đã không còn sức làm việc, không tiếp phái đoàn Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra miền Bắc từ 16-20. Tin của Trung Quốc cho biết bệnh tình của Hồ đã nguy kịch vào cuối tháng 8 và bị đã hôn mê, rồi sau đó chết vào ngày 2 tháng 9, 1969. Do đó có thể cho rằng lá thư Nixon nhận được không thể nào do Hồ Chí Minh viết.]

Trong khi quân đội VNCH vẫn xả thân chiến đấu thì trên Bàn Hội Nghị, phía Hà Nội đòi hỏi loại bỏ Thiệu, Kỳ và Hương để lập một chính phủ Liên Hiệp trước khi họ muốn nói chuyện.

Tôi viết lại những dòng này để thế hệ sau đọc cho biết. Còn thế hệ chúng tôi coi như bỏ.

Memoirs của Andrei Gromyko tiết lộ nhiều chi tiết liên quan đến chủ nghĩa Bá quyền Trung Quốc.

Cuốn Hồi ký của ngoại trưởng Gromyko giúp người đọc hiểu biết được nhiều truyện bí mật trong khối cộng sản Quốc Tế. Do là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, làm việc dưới nhiều đời Tổng Bí Thư cộng sản, giao thiệp nhiều, khôn ngoan và lịch thiệp nên quen biết hầu hết các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới ở cả hai phía.

Hồi ký của Andrei Gromyko. Nguoodn: Amazon UK

Cuốn Hồi ký không dầy lắm, 353 trang, nhưng hầu như điểm mặt và đưa ra những nhận xét khá khách qua`n về các sự kiện lịch sử của một nhà nhà giao chuyên nghiệp. Tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng giữa ngoại trưởng Gromyko và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Trong hồi ký của Gromyko, phần dành cho vấn đề bang giao giữa Liên Xô-Trung Quốc là một trong những tài liệu quý hiếm. Đọc phần tài liệu này, mặc dầu không nhiều, nhưng cũng giúp người đọc nắm được phần nào mối liên hệ tay đôi của hai nước cộng sản anh em, và giúp hiểu rõ hơn, tại sao Hoa Kỳ đã bắt tay với Mao Trạch Đông.

Mối liên hệ Stalin-Mao Trạch Đông lạnh nhạt và đi đến đối đầu

Cho đến nay thì người ta thấy rằng trong khoảng 70 năm trước đây – kể từ khi Mao Trạch Đông thống nhất toàn bộ nước Tầu, mối liên hệ Nga-Hoa bên không bình thường.

Bỏ qua những vấn đề nội bộ của hai bên, người ta thấy có thể có một xung đột về cá tính giữa Mao-Stalin. Mao Trạch Đông luôn giữ tính cách độc lập trong mọi chính sách nội bộ cũng như sự giao thiệp với các nước khác. Không hề bàn thảo hay thông báo cho nước cộng sản anh em Liên Xô những gì mà Trung Quốc làm.

Lần đầu tiên khi lên nắm chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông có sang Liên Xô từ tháng 12-1949 đến tháng 2-1950.

Mặc dầu chính quyền Liên Xô tổ chức một buổi đón tiếp rất trân trọng, tỉ mỉ từng chi tiết một biểu lộ tình bạn bè giữa đôi bên. Hai bên cũng đã có thỏa thuận với nhau trong mối quan hệ giữa hai đồng minh để ký vào ngày 14-2-1950 trước khi Mao Trạch Đông về nước.

Thế nhưng đó có thể chỉ là việc trên giấy tờ mà nội dung cụ thể vẫn là phải tiến hành trên bình diện con người.

Một bữa tiệc đã được tổ chức tại khách sạn Metropolitain do Stalin và các ban lãnh đạo Sô Viết chủ trì. Gần như hai vị lãnh đạo hai nước hầu như không nói với nhau. Gromyko nhận xét:

“Even so, I was not the only one to notice that conversation between the two leaders, who sat side by side at dinner, was sporadic, to say the least. They would exchange a few phrases, through an interpreter of course, and then a seemingly endless pause would ensue. I sat sitting opposite and did my best to help them out, but without much success. My chief impression was that they did not have enough in common of a personal nature to make the necessary minimum of contact.”(Andrei Gromyko “Memoirs”, Lời tựa của Henry Kissinger, Bản dịch của Harold Shukman. 1989, trang 248-249)

Vài ngày sau, tình trạng lạnh nhạt ấy cũng không thay đổi gì.

Sang đến 1957, tình trạng lạnh nhạt giữa đôi bên nay không còn là giữa hai nhân vật mà là giữa hai nước càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Mao Trạch Đông lại sang Moskva lần thứ hai. Và lần này gặp riêng Gromyko. Mao hứa không làm cho tình trạng đôi bên căng thẳng hơn và cần phải sát cánh bên nhau để tranh đấu cho hòa bình.

Cũng theo sự nhận xét riêng của ông Gromyko thì Mao mong muốn Trung Quốc trở nên một siêu cường, nhất là trong lãnh vực kinh tế. Và ông cứ nhắc đi nhắc lại: Mỹ chỉ là một con hổ giấy. Ông trù liệu là Mỹ có thể dùng bom nguyên tử tấn công nước Tầu. Và ông chờ đợi điều đó xảy ra và để cho quân đội Mỹ lấn sâu vào trong đất liền, lúc đó Mao mới ra tay. Gromyko sững sờ khi nghe Mao trình bày như vậy về cách thí quân.

Tháng 10, năm 1959, một phái đoàn Liên Xô một lần nữa sang Bắc Kinh. Dẫn đầu là Khrushchev cùng với các Suslov, Nikolaev và Gromyko.

Một lần nữa, nhiều bất đồng nữa nổi lên giữa đôi bên. Trong đó có tranh cãi về việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên tại sông Amurn và việc thiết lập một đường xe lửa qua các vùng Xinjiang-Uyghur-Kazakhstan.

Với một biên giới rộng và trải dài như vậy, cộng thêm rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, cộng thêm vốn liếng văn hóa cổ truyền bắt buộc hai bên phải ngồi lại thảo luận để nhìn nhận nhu cầu quan trọng của láng giềng và tình bạn. Phải củng cố tình bạn giữa các nước XHCN.

Cuốn Hồi ký của một nhà ngoại giao như Gromyko là nên đọc và phải đọc.

Ông đề cập đến mọi vấn đề tranh chấp Quốc tế cũng như những nhà lãnh đạo cả hai phía.Vậy mà rà soát đi soát lại, người viết đã không tìm thấy dù chỉ một vài dòng nói về chiến tranh Việt Nam cũng như các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, v.v.. Theo thói quen, đọc phần Index vẫn không tìm ra tên một nhân vật cộng sản Việt Nam nào.

Điều đó cho thấy Stalin và cả Gromyko có vẻ coi thường và không cần che dấu sự đánh giá thấp lãnh đạo miền Bắc như những kẻ án bám.

Đây hẳn là một nỗi nhục của đám lãnh đạo miền Bắc, mỗi lần sang chầu chực nhờ vả Liên Xô. Việc Hồ Chí Minh sang Liên Xô mà mới đầu Stalin không muốn tiếp ai cũng biết cả.

Sự coi thường ấy hiểu được vì họ chỉ là thứ ăn mày đi nhờ vả kẻ mạnh. Việt Nam là con số không đối với Gromyko và nhất là đối với Stalin.

Khám phá này đối với người viết là một điều nhục nhã cho tập đoàn cộng sản Hà Nội.

Trong cái dở có cái may Sự tranh chấp đối đầu giữa Stalin và Mao Trạch Đông là một sự kiện hiển nhiên. Stalin còn tìm cách đỡ đầu Lâm Bưu để tìm cách lật đổ và ngay cả ám sát Mao Trạch Đông. Nhưng công việc bất thành. Moskva còn tấn công Trung Quốc bằng ngoại giao ve vãn các nước tư bản như qua các tòa đại sứ Mỹ tại Washington, tại Paris, tại Bonn và Londres về thảm họa Péril jaune (Hiểm họa da vàng, tiếng Anh: Yellow Peril). Người viết thắc mắc không biết cụm từ này có phải do Liên Xô đưa ra hay không?

[DCVOnline: Hiểm họa da vàng (tiếng Anh: Yellow Peril) là thuật ngữ xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 ám chỉ việc những công nhân và phu phen người Trung Quốc nhập cư đến các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ; sau đó vào giữa thế kỷ 20, thuật ngữ này còn liên quan đến người Nhật với việc Nhật Bản bành trướng quân sự. Có nhiều nguồn cho rằng Kaiser Wilhelm II là người đã tạo ra cụm từ “hiểm họa da vàng” (tiếng Đức: gelbe Gefahr) vào tháng 9 năm 1895. Wilhelm II đã cho vẽ một bức chân dung với tiêu đề này. Bức tranh mô tả cảnh tổng lãnh thiên thần Michael biểu trưng cho nước Đức, ra lệnh chống lại mối đe dọa từ châu Á, đại diện là bức tượng một vị Phật bằng vàng, thường được treo trên tất cả cá tàu trên con đường biển Hamburg – Hoa Kỳ. Dường như bức họa do chính Kaiser Wilhelm II vẽ. Nguồn: Daniel C. Kane, introduction to A.B. de Guerville, “Au Japon, Memoirs of a Foreign Correspondent in Japan, Korea, and China, 1892-1894” (West Lafayette, IN: Parlor Press, 2009), p. xxix]

Trong cuộc tranh chấp giữa đôi bên về hòn đảo Chen Pao. Người Trung Hoa đã vận dụng các cuộc biểu tình lên đến 300 triệu người với biểu ngữ: “Đả đảo bọn Nga Hoàng mới.”

Thời Brezhnev, tháng giêng 1967. Ông ra lệnh cho điều 13 sư đoàn lính Nga dàn quân ra biên giới trước hiểm họa Cuộc Cách mạng văn hóa của Tầu..

Ở vào thế kẹt trong vụ tranh chấp giữa hai quan thầy, vì thế, trong chúc thư để lại trước khi chết vào đầu tháng 9, họ Hồ mong mỏi hai nươc đàn anh tìm được sự hòa giải.

Đại diện trong đám tang Hồ Chí Minh, có Chu Ân Lai về phía Tầu, Kosygin phía Nga hẳn là cả hai đều đã nhận được chúc thư của Hồ Chí Minh.

Trên đường trở lại Nga, Kosygin đã ghé qua Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai và họ Chu đã đưa ra ba đề nghị: Giữ tình trạng status quo về tranh chấp biên giới; giải giới quân đội hai bên ở một khoảng cách chiến lược, ở những điểm nhạy cảm để tránh các cuộc nổ súng; chấm dứt các vụ tuyên truyền đả phá trên báo chí, đài phát thanh trong thời gian hai bên thương thuyết, v.v..

Cuối cùng chẳng biết việc ám sát Mao có thật hay giả, con “gà nòi” Lâm Bưu cùng với vợ là Yeh Chun, người con trai là Lin Likuo và 6 đồng chí khác đã tẩu thoát trên một chiếc máy bay Trident. Nhưng chẳng may máy bay bị rớt ở Nội Mông, tại vùng Oundour Khan. (Han Suyn. “Le premier jour du monde”, Stankes/Stock các trang từ 417- 423)

Chính sự tranh chấp giữa hai nước XHCN Tầu và Liên Xô đã mở đường cho nước Tầu có một địa vị trong thế giới tự do mà trước đây họ không thể có. Trước đây, nước Tầu trù tính có thể phải phải đối đầu cùng một lúc với bốn kẻ thù là: Mỹ, Liên Xô, Ấn Độ theo Liên Xô, Nhật ngả về phía Mỹ.

Han Suyn đã phỏng vấn Chu Ân Lai vào năm 1971. Chu Ân Lai trả lời là:

“Nước Tầu phải sẵn sàng, trong mọi trường hợp đẩy lui sự xâm chiếm của một trong hai siêu cường, hoặc hai siêu cường cùng một lúc. Và trong một tình huống tệ hơn, nước Tầu phải đối đầu với 4 nước cùng một lúc.” (Han Suyn, Ibidm trang 425)

Tình huống ấy đã không xảy ra vì cú bắt tay với Nixon! Phải nói là trong cái rủi có cái may cho nước Tầu, nhờ đó có cơ hội trở thành cường quốc trên thế giới.

Bởi vì dưới mắt Mao Trạch Đông, Á Châu phải do người Á Châu tự giải quyết. Vì thế, để chuẩn bị cho tình huống có thể xảy ra. Mao Trạch Đông đã kêu gọi dân Tầu: Hãy đào sâu các đường hầm, hãy tích trữ ở khắp nơi lúa gạo,, v.v.” Vì thế, mọi thành phố đều đào những đô thị ngầm dưới đất có tích trữ lương thực đầy đủ. Cho dù chiến tranh không xảy ra đi nữa thì tốt hơn hết cứ đề phòng những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

Vậy mà có một chiều hướng chính trị thuận lợi đã làm thay đổi tất cả.

Một nước Tầu ngày hôm nay, một tham vọng bá chủ toàn cầu theo đúng tham vọng của Mao Trạch Đông đề ra ngay từ khi làm chủ nước Tầu năm 1949. Nhưng lời căn dặn của Đặng Tiểu Bình dặn các thế hệ sau:Hãy kiên nhẫn, ẩn mình. Phải chăng lời căn dặn ấy vẫn còn có giá trị. Phải chăng cái tội lớn nhất của Tập Cẩn Bình là phô trương quá lộ liễu sức mạnh kinh tế lẫn quân sự làm mất niềm tin nơi nhiều quốc gia chậm tiến?

Cái sai lầm về chính sách của Nixon bắt tay Tầu, chia rẽ hai đại cường cộng sản nay còn có chút hy vọng Mỹ tìm lại được sức mạnh vốn có của mình nhờ sụ liên minh với phần đông các nước kỹ nghệ cả trên đất liền và cả trên biển, nhất là trên biển với liên minh với Ấn Độ? Hơn một tỷ người Trung hoa được thay thế bằng một tỉ người Ấn Độ ?

Đó là một chọn lựa khôn ngoan nhất hiện nay với chính sách xoay trục này để thấy ai xử dụng được sức mạnh mềm thì kẻ đó thắng.

Nguyễn văn Lục
© 2019 DCVOnline

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức là một thành phố nhỏ thuộc miền tây nam nước Pháp, ngày nay được nhiều người trên thế giới biết đến là nhờ cuộc hiện ra của Đức Mẹ Chúa Trời với một em nhỏ cách đây 150 năm vào năm 1858.

1. Sự Tích Hiện Ra:

Hôm đó là ngày 11 tháng 2 năm 1858, trời mùa Đông ở miền núi, lạnh kinh khủng. Bernadette Soubirous cùng với 2 bạn khác ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi. Bernadette lúc đó 15 tuổi mà chưa biết đọc biết viết, vì nhà nghèo, em phải làm việc để phụ vào với gia đình.

Sau khi vào tu Dòng, Benadette được học và cô tả lại trong lá thư trình bề trên như sau: “Hôm ấy tôi đi kiếm củi với hai đứa bạn ở bờ sông Gave. (Khi ra tới bờ sông, hai em kia đi xa hơn, còn Benađette tìm củi quanh hang Massabiel.) Bất ngờ tôi nghe có tiếng động. Tôi ngoái nhìn về phía đồng cỏ. Không thấy cây cối rung động gì cả. Tôi ngẩng đầu nhìn lên hang. Tôi thấy một Bà mặc áo trắng (bà còn trẻ lắm, chừng 16, 17 tuổi, mặc áo dài trắng, thắt dây lưng xanh da trời, hai tay chắp lại, đeo tràng hạt trên cánh tay phải. Bà đẹp vời Benadette tiến lại gần hơn và mỉm cười với em). Áo bà trắng nhưng thắt lưng lại xanh, và mỗi bên bàn chân có một bông hồng vàng. Mầu chuỗi hạt của Bà cũng vàng nữa.

Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm. Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt. Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán. Tay tôi rớt xuống. Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá. Tay tôi run quá. Tôi thử làm dấu lại và làm được. Tôi bắt đầu lần chuỗi. Hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi. Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì.

(Khi gặp lại hai đứa bạn kia ) Tôi hỏi hai đứa không thấy gì sao? Chúng bảo không. Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy, và buộc tôi phải nói cho chúng nghe. Tôi kể rằng tôi đã thấy một Bà mặc áo trắng, nhưng tôi không biết Bà đó là ai, và không cho chúng được kể lại với ai. Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa. Tôi bảo không. Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại đó lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi. Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong 15 ngày liên tiếp không. Tôi bằng lòng. Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này. Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối. Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi ra đi uống nước ở sông Gave. Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ suối nước. Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước dơ. Tôi thò tay xuống nhưng không múc được. Tôi liền cào đất ra, và tôi đã múc được nước, nhưng tôi lại hất đi ba lần, đến lần thứ bốn tôi mới dám uống. Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

Trong 15 ngày liên tiếp, tôi đã trở lại nơi đó. Ngày nào tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ ngày thứ Hai và thứ Sáu. Bà nói đi nói lại với tôi rằng: “Tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây. Tôi phải đến rửa ở suối nước, và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại.”

Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai? Nhưng Bà chỉ cười. Rồi bỏ tay thõng xuống, Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi Bà là Đấng đầu thai Vô nhiễm.

Trong khoảng thời gian 15 ngày đó, Bà nói với tôi 3 điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy.”

2. Sứ Điêp Đức Mẹ Muốn Nhắn Nhủ Con Cái Người :
“Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội”
“Hãy nói với các linh mục xây nhà thờ kính Mẹ ở đây, và để dân chúng đến đây rước kiệu.”


3. Ta Là Đấng Vô Nhiễm:
Khi linh mục xứ muốn biết tên Bà, Bernadette đã hỏi thì ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình là: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội.” Nhưng Bernadette không hiểu. Khi cô nói lại với cha xứ ngài mới nhận ra bà lạ đó là Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng tỏ Mẹ hiện ra thật, Mẹ bảo Bernadette bới đất chỗ cô qùy để có một giòng nước vọt ra cho cô uống và sau đó chữa mọi thứ bệnh.

Sau này, ĐGM giáo phận đã gửi Bernadette đi tu tại Nevers cách xa Lộ đức cả nửa ngày đường xe. Bernadette sống rất khiêm tốn ở đây. Cô bị nhiều xỉ nhục nơi các chị em dòng, bị nhiều bệnh đau đớn cho tới chết, nhưng lúc nào Tràng hạt Mân côi cũng là niềm an ủi của cô. Chính kinh Mân côi đã là đường lối nên thánh của cô. (Riêng Bernadette Đức Mẹ đã nói: ” Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng là hạnh phúc đời sau.)

4. Lộ Đức Ngày Nay:
Đã trở nên một trung tâm hành hương lớn nhất thế giới. Hàng năm có tới 4 triệu người đến kính viếng và xin ơn Đức Mẹ. Giáo hội đã đặt lễ kính Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức vào ngày 11 tháng 2 hàng năm. Từ năm 1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chỉ định ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức là Ngày Thế giới cầu cho các bệnh nhân.

5. Đức Thánh Cha Với Lộ Đức:
Ngày 14 và 15 tháng 8 năm 2004, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viếng Đức Mẹ Lộ Đức. Đây là chuyến đi để kỷ niệm 150 năm Giáo hội Công giáo tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, là chuyến đi thứ 104 ra ngoài Vatican của Đức Thánh Cha, là lần thứ 7 Người tới nước Pháp. Lần trước Người tới Lộ Đức vào tháng 8 năm 1997 để dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chủ ý viếng nơi Đức Mẹ đã hiện ra với cô thôn nữ Bernadette, và ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội”, bốn năm sau khi Đức Thánh Cha Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm (1954). Ngày lễ kính Đức Mẹ Lên Trời, Đức Thánh Cha dâng lễ lúc 10 giờ sáng tại đền thánh. Sau trưa, Người cầu nguyện âm thầm trước hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra.

Sáng 15-9-2008, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã cử hành thánh lễ cho 100 ngàn tín hữu, trong đó có đông đảo các bệnh nhân, tại quảng trường trước Vương cung thánh đường Đức Mẹ Mân Côi ở Lộ Đức.

Đây là thánh lễ lộ thiên thứ 3 và cũng là thánh lễ cuối cùng trong 4 ngày viếng thăm của nước Pháp.

Dưới bầu trời nắng đẹp, các bệnh nhân và người tàn tật, phần lớn ngồi trên xe lăn, ở khu vực trước bàn thờ. Đồng tế với Đức Thánh Cha còn có hàng trăm Giám mục Pháp và nước ngoài.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa ngày lễ Đức Mẹ sầu bi, mừng kính ngày 15-9-2009. Ngài nhận định rằng “ngày nay, Mẹ Maria đang ở trong niềm vui và vinh quang Phục Sinh. Những giọt lệ của Mẹ dưới chân Thánh Giá đã biến thành một nụ cười mà không gì xóa bỏ được, trong khi lòng từ bi hiền mẫu của Mẹ đối với chúng ta vẫn nguyên vẹn. Mẹ Maria yêu thương mỗi người con của Mẹ, Mẹ đặc biệt quan tâm đến những người, giống như Con của Mẹ trong giờ Khổ Nạn, đang phải chịu đau khổ; Mẹ yêu thương họ chỉ vì họ là con cái của Mẹ, theo ý muốn của Chúa Kitô trên Thánh Giá.”

Đức Thánh Cha đặc biệt giải thích câu 13 của thánh vịnh 44 trong bài đáp ca của ngày lễ nói tiên tri về Mẹ Maria “Những người giàu có nhất trong dân… sẽ tìm kiếm nụ cười của bà” (TV 44,13). Ngài nói: “Nụ cười của Mẹ Maria là cho tất cả mọi người chúng ta, và đặc biệt cho những người đau khổ, để họ có thể tìm được qua đó sự an ủi và giảm bớt đau khổ. Tìm kiếm nụ cười của Mẹ Maria không phải là một điều sùng mộ theo tình cảm hoặc lỗi thời, nhưng đúng hơn đó là một sự diễn tả đúng đắn quan hệ sinh động và có đặc tính nhân bản sâu xa liên kết chúng ta với Đấng mà Chúa Kitô đặt làm Mẹ chúng ta”.

Đức Thánh Cha cũng nhận xét rằng “Mỗi lần đọc kinh Magnificat là chúng ta được trở thành chứng nhân về nụ cười của Mẹ Maria. Tại Lộ Đức này, trong cuộc hiện ra của Đức Mẹ ngày thứ tư, 3-3-1858, thánh nữ Bernadette đặc biệt chiêm ngắm nụ cười của Mẹ Maria. Nụ cười này là câu trả lời đầu tiên mà Bà Đẹp gửi tới Bernadette khi cô bé muốn hỏi danh tánh của Bà”.

Cũng trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói về sự trợ giúp của Mẹ Maria dành cho các bệnh nhân và những người đau khổ, và nói rằng:

“Có những cuộc chiến đấu mà con người không thể một mình đương đầu được, nếu không có ơn Chúa. Khi lời nói không tìm được những từ thích hợp, ta cần có một sự hiện diện yêu thương: khi ấy chúng ta tìm kiếm sự gần gũi không những của những người ruột thịt và bạn hữu, nhưng của những người gần gũi chúng ta qua liên hệ đức tin. Ai có thể gần gũi thiêng liêng với chúng ta hơn là Chúa Kitô và Đức Mẹ Vô Nhiễm, Người Mẹ thánh thiện của Ngài? Hơn ai hết, các Ngài có thể hiểu chúng ta và thấy rõ cuộc chiến đấu cam go chống lại bất hạnh và đau khổ… Ngoài ra, nơi Mẹ Maria chúng ta cũng được ơn thánh để chấp nhận rời bỏ trần thế này vào thời điểm Chúa muốn mà không chút sợ hãi hay cay đắng.”

Sau cùng, Đức Thánh Cha giải thích về ý nghĩa bí tích xức dầu bệnh nhân và nói rằng: “Ơn thánh thiêng của bí tích này hệ tại đón nhận vào mình Chúa Kitô Y Sĩ. Nhưng Chúa Kitô không phải là y sĩ theo kiểu thế gian này. Để chữa lành chúng ta, Chúa không ở bên ngoài đau khổ người ta phải chịu; để thoa dịu đau khổ, Chúa đến ở trong tâm hồn người bị bệnh tật, để cùng chịu và sống đau khổ ấy với họ. Con người không còn chịu thử thách một mình, nhưng họ trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô Đấng tự hiến dâng cho Chúa Cha; trong tư cách là chi thể của Chúa Kitô chịu đau khổ, người bệnh tham gia vào việc sinh ra thụ tạo mới trong Chúa Kitô”.

“Nếu không có ơn phù trợ của Chúa, cái ách bệnh tật và đau khổ sẽ nặng nề kinh khủng. Khi lãnh nhận bí tích bệnh nhân, chúng ta không mong muốn mang ách nào khác ngoài ách của Chúa Kitô, trong niềm tin tưởng mạnh mẽ nơi lời hứa của Ngài cho chúng ta, theo đó ách của ngài dễ mang và gánh của ngài nhẹ nhàng (cf Mt 11,30). Tôi mời gọi tất cả những người sẽ lãnh nhận bí tích bệnh nhân trong thánh lễ này hãy tiến vào niềm hy vọng như vậy.”

Nguyễn Thế Bài

Đăng tải tại CHUYỆN VỀ CHÚA VÀ ĐỨC MẸ, TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

Cướp chiếu để mong sinh con trai

Image may contain: 3 people, people smiling, text
Đoàn Minh Tuân

Cần gì phải vào chùa cướp chiếu để mong sinh con trai dữ vậy mấy em , cần thì gặp anh chỉ bí kiếp cho , u mê và dị đoan cho lắm vào , anh kiếm đứa con gái không ra đây này . Khà khà.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

CƯỚP HIẾP GIẾT CÔ GÁI SHIPPER KẺ SÁT NHÂN VÀ ĐỒNG BỌN ĐỐI MẶT ÁN TỬ

Hoa Do shared a post
Image may contain: 1 person, smiling, plant, flower, closeup and outdoor
Image may contain: 1 person, closeup

Phan Vân BáchFollow

CƯỚP HIẾP GIẾT CÔ GÁI SHIPPER
KẺ SÁT NHÂN VÀ ĐỒNG BỌN ĐỐI MẶT ÁN TỬ

Thấy cô gái xinh đẹp phụ mẹ bán gà ngoài chợ, yêu râu xanh nổi lòng và nảy sinh ý định chiếm đoạt, hắn đã dùng thủ đoạn đặt mua gà và yêu cầu giao tận nhà với số lượng lớn, khi gặp cô gái hắn và đồng bọn đã tấn công và thay nhau cưỡng hiếp nhiều lần. Để che dấu hành vi của mình chúng đã giết và ném xác nạn nhân vào chuồng lợn trong một ngôi nhà hoang.

Dư luận không khởi bàng hoàng khi biết tin cô gái xinh đẹp 20 tuổi Cao Thi Mỹ Duyên là sinh viên của một trường Đại học ở Thái Nguyên, trong lúc nghỉ tết phụ mẹ bán gà ngoài chợ lại là nạn nhân của một vụ Cướp hiếp giết dã man xảy ra ở Điện Biên chiều 30 tết.

Trong lúc mọi người đang hối hả lo tết thì Vương Văn Hùng ra chợ và trông thấy cô gái bán gà xinh đẹp, hắn đã nổi máu dê và nảy sinh ý định chiếm đoạt cô gái, hắn đặt mua 10 con gà và yêu cầu cô gái giao tận nhà. Khi tới nhà, hắn đã đề nghị giao tại một địa điểm khác và tại đó, hắn cùng đồng bọn đã có hành vi Hiếp dâm, cướp tài sản và Giết chết cô gái.

Sau khi thấy con gái không về nhà, gia đình đã trình báo công an, ngay chiều 30 tết, các lực lượng chức năng của công an thành phố và công an tỉnh Điện Biên đã nỗ lực tìm kiếm và đến ngày mùng 3 tết thì phát hiện thi thể của nạn nhân trong chuồng lợn ngôi nhà hoang cách nhà 7km, trước đó công an cũng tìm thấy chiếc xe máy của nạn nhân.

Sau khi khám nghiệm tử thi, nạn nhân bị xâm hại tình dục, có dấu hiệu đây là vụ giết người. Công an tỉnh Điện Biên đã tổ chức sàng lọc hơn 1000 đối tượng, và đã bắt tạm giam nghi can Vương Văn Hùng ở Tuần Giáo, Điện Biên. Tiến hành lấy lời khai, ban đầu hắn đã thừa nhận hành vi phạm tội và còn có 5 đồng bọn khác cùng hắn thực hiện hành vi phạm tội.

Thật khó để có bất kỳ lời bào chữa nào cho những kẻ bất lương đã có hành vi cướp hiếp giết rồi vứt xác phi tang cô gái nhằm che dấu hành vi phạm tội ghê rợn mà chúng đã thực hiện. Hành vi của chúng cùng lúc đã phạm nhiều tội được quy định tại Bộ luật hình sự 2015.

Cụ thể như tội

1 Bắt giữ người trái pháp luật theo điều 157,

2 tội Hiếp dâm điều 141,

3 tội Cướp tài sản điều 168,

4 tội Giết người điều 123.

Hành vi của Vương Văn Hùng cùng năm tên đồng bọn được thực hiện từng bước như sau: Ban đầu chúng khống chế và bắt nạn nhân, sau đó chúng thay nhau thực hiện hành vi Hiếp dâm. Sau khi thỏa mãn thú tính, chúng ăn hết 10 con gà để bồi bổ sức khỏe và lấy đi 1 điện thoại di động của nạn nhân. Tiếp đó cả 6 tên bỏ ra ngoài chơi tết khi cô gái vẫn bị nhốt trong nhà. Khi quay lại chúng tiếp tục thực hiện hành vi hiếp dâm thêm lần nữa và giết cô gái vứt vào chuồng lợn ngôi nhà hoang để vứt xác phi tang.

Tôi sẽ không bao giờ nhận bào chữa cho những kẻ cướp giết hiếp bất lương này, bởi lẽ những gì chúng đã thực hiện thật là ghê tởm, và có áp dụng những hình phạt thời trung cổ như ngũ mã phanh thây hay ném vào vạc dầu cũng không hết tội. Trong vụ án này, chỉ có nỗi đau của gia đình nạn nhân và cái chết của cô gái là không gì bù đắp được. Qua vụ án này cũng cho thấy nghề shipper là một nghề rất nguy hiểm nhât là đối với những cô gái trẻ đẹp, hãy cẩn thận với những đơn hàng bất bình thường như trường hợp này (kẻ sát nhân đã đặt mua và giao hàng tận nhà 10 con gà làm sẵn)

Xin thắp một nén tâm hương và mong nạn nhân sớm siêu thoát bên kia thế giới.

Nguồn: Ls Nguyễn Hưng

https://www.facebook.com/100001149567271/posts/2125403600841271?sfns=mo

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Ta chọn lương thiện không phải là vì ta mềm yếu!

Ta chọn lương thiện không phải là vì ta mềm yếu!

Lương thiện không phải mềm yếu hay khờ khạo, nó chính là bản tính nguyên sơ của sinh mệnh con người. Vậy nên, nếu có lúc cuộc sống này bắt ta lựa chọn, đừng ngại ngùng khi lựa chọn trở thành người thiện lương.

Ta chọn lương thiện không phải vì ta mềm yếu, mà bởi vì ta hiểu rằng lương thiện là bản tính nguyên sơ của mỗi con người, “nhân chi sơ, tính bổn thiện”. Làm người thì không thể chọn con đường trở thành kẻ ác, người ác tất sẽ có báo ứng.

Ta chọn nhường nhịn không có nghĩa là ta đang bị thụt lùi, mà vì ta hiểu rằng, “một sự nhịn, chín sự lành”, nhịn một chút sóng yên biển lặng, lùi một chút biển rộng trời cao.

Ta chọn tha thứ không phải vì ta nhu nhược, mà bởi vì ta hiểu rằng tha thứ là một trong những đức tính tốt đẹp nhất trên đời, không bao giờ là sai cả.

Ta lựa chọn tha thứ còn một nguyên nhân nữa, không phải vì ta không giữ vững lập trường, mà bởi vì ta hiểu rằng mọi chuyện không nên làm tận, làm tuyệt.

Ta chọn “khờ khạo” không phải vì ta khờ khạo thật, mà bởi vì ta hiểu rằng, khi đối diện với hiểu lầm, oan ức, bất công thì không nên so đo tính toán quá, cứ nở nụ cười mà lặng nhìn thế thái nhân tình.


Đôi khi giả ngốc không phải là ngốc thật, mà chỉ là muốn cấp cho đối phương thêm một cơ hội nữa.

Ta chọn chân thành và nói lời thẳng thắn là bởi vì ta hiểu rằng, những lời nói dối, trái với lương tâm chỉ dùng để đối phó tình huống, trong khi thật lòng đối đãi, nói lời chân tình mới thật sự giải quyết tận gốc vấn đề và không có hậu họa về sau.

Ta trân trọng nghĩa tình không phải vì ta quỵ lụy, mà bởi vì không nhất thiết phải vứt bỏ khoảng thời gian tốt đẹp giữa chúng ta.


Cuộc đời vốn dĩ có nhiều điều dù ta có muốn hay không chúng vẫn tồn tại. Tuy nhiên khi đối diện với cuộc đời thì bản tính của mình như thế nào mới là điều quan trọng nhất.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

MỘT ĐÁM CƯỚI VUI VẺ ĐẶC BIỆT

MỘT ĐÁM CƯỚI VUI VẺ ĐẶC BIỆT

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Tuần trước tôi cử hành một lễ đám cưới. Tất cả các đám cưới đều đặc biệt, nhưng đám cưới này có nét đặc biệt riêng. Tại sao?

Cô dâu trẻ hôm đó rạng rỡ và tràn đầy sức sống một cách lạ thường, đó là người đã chiến thắng căn bệnh ung thư. Năm năm trước đây, trong cột báo này, tôi có kể sơ sơ câu chuyện của cô. Tôi xin phép kể lại câu chuyện này, cập nhật thời gian hơn một chút:

Trong hai mươi lăm năm liên tiếp, hè nào tôi cũng đến dạy một khóa hè ở đại học Seattle. Trong suốt các mùa hè này, tôi có thói quen, gần như thông lệ, là đi một chuyến phà ngắn từ Seattle đến đảo Bainridge để nghỉ ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 với gia đình một người bạn. Gia đình này có nhiều tập tục riêng, một trong các tập tục này là ngắm đoàn diễn hành mừng lễ Quốc Khánh đi qua bãi cỏ phía trước nhà người hàng xóm của họ.

Mười năm về trước, lúc ngồi trên bãi cỏ này để đợi đoàn diễn hành đi qua, tôi được gia đình giới thiệu cô gái nhỏ nhất nhà. Em đang học lớp 12 và là thành viên đội bóng rổ giành chức vô địch toàn liên bang của trường, nhưng em lại đang mắc bệnh ung thư và phải dùng hóa trị để chống chọi với bệnh tật. Mười tám tuổi, cân nặng chưa đầy 36 kilô, mùa hè nắng ấm mà em ngồi yên lặng, buồn bã, quấn mình trong chăn trong khi bạn bè em khỏe mạnh, tràn đầy sức sống uống bia và vui chơi. Sức khỏe em không được tốt. Chẩn đoán về lâu dài không chắc chắn, ít nhất, cơ thể và tinh thần của em cho thấy như vậy dù bạn bè và người thân không tin. Em được mọi người chung quanh quan tâm, yêu thương lo lắng. Em bệnh, nhưng em được yêu thương.

Tôi biết em hôm đó và những năm tháng sau này tôi còn biết nhiều hơn. Gia đình và mọi người cầu nguyện nhiều cho em, cầu xin em được lành. Cuối cùng, lời cầu nguyện và thuốc men chữa trị đã có tác động. Em bám lấy hy vọng nhỏ nhoi nhất, dần dần hồi phục và mấy tháng sau đó, em có sức khỏe lại, đời sống trở lại bình thường, ngoại trừ một điều không bao giờ giống như trước, đó là em nhìn cái chết với vẻ mặt “bình thường.”

Khi lắp ráp lại từng mảnh cuộc sống ban đầu, em nhận ra có những thứ đã trở lại như cũ, nhưng cũng có những thứ đã khác trước rất rất nhiều. Qua trải nghiệm thức tỉnh này, cuộc sống bình thường không còn là một cái gì là hiển nhiên nữa, có một niềm vui sâu đậm trong tất cả mọi chuyện bình thường, có một chân trời, một khôn ngoan, một trưởng thành, một thành quả mới mà trước đây chưa có. Thiên Chúa viết đường thẳng bằng những nét cong cong và đôi khi căn bệnh ung thư dù rất khủng khiếp, lại mang đến nhiều điều kỳ diệu hơn là nó lấy mất đi.

Sức khỏe mới của em không chỉ là sức khỏe thể chất. Đó là sức khỏe tâm hồn, một tinh thần vững mạnh, có chiều sâu, có khôn ngoan. Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi nếu được chọn, em sẽ mong mình không bị bệnh và có cuộc sống như lúc đầu không. Em trả lời: “Không, em không chọn như vậy, qua bệnh tật, em học được yêu thương.” Yêu thương trải nghiệm khi bị bệnh dạy cho em biết có những bi kịch còn nặng hơn bi kịch mang bệnh ung thư.

Văn sĩ John Powell có viết một cuốn sách nhỏ đáng chú ý, cuốn Yêu Thương Không Điều Kiện, kể về anh Tommy, sinh viên của ông đã chết vì ung thư ở tuổi hai mươi bốn. Không lâu trước khi chết, Tommy đến gặp và cám ơn Powell đã giúp anh có được một am hiểu nội tâm sâu sắc mà anh rút ra được từ lớp học của ông. Powell đã giảng trong lớp học: Chỉ có hai bi kịch tiềm ẩn trong cuộc sống, chết trẻ không phải là một trong hai bi kịch này. Bi kịch thứ nhất là chết và không yêu thương; bi kịch thứ hai là chết và không bày tỏ yêu thương với người chung quanh.

Các bác sĩ nghiên cứu về não bộ con người cho biết chúng ta chỉ mới sử dụng 10% năng lực não bộ của mình mà thôi. Hầu hết các tế bào não không bao giờ được kích hoạt, vì chúng ta không cần chúng (chúng giành cho khôn ngoan hơn là gây lợi) và vì chúng ta không biết cách tiếp cận chúng. Cũng các bác sĩ này cho biết, một cách nghịch lý, có hai điều giúp chúng ta tiếp cận chúng: trải nghiệm yêu thương và trải nghiệm bi kịch. Tình yêu sâu đậm và đau đớn sâu đậm đều làm cho tâm hồn sâu sắc một cách mà không điều gì khác có thể làm được.

Điều đó giải thích tại sao Thánh Têrêsa Hài Đồng là bác sĩ tâm hồn ở tuổi 24. Nó cũng giải thích sự khôn ngoan của người đàn bà trẻ sống với các thử thách nhẹ nhàng với bạn bè và tỏa rạng với thế giới chung quanh cô ngày hôm nay.

Cách đây mười năm, khối u não đã lấy đi tuổi trẻ và ước mơ của một cô gái trẻ. Khi đó là nỗi đau, thất vọng, xuống tinh thần, cay đắng, mất hy vọng. Ai cũng có vẻ như may mắn hơn cô. Chỉ lúc đó thôi. Hôm nay, cô gái trẻ ấy là giáo viên ngoại hạng về giáo dục đặc biệt, cô Katie Chamberlin-Malloy, đang đi hưởng tuần trăng mật. Cô hạnh phúc, thông minh, lên kế hoạch cuộc sống, sau khi đã học những gì đa số chúng ta sẽ học khi gần chết, ấy là, cuộc sống bình thường sẽ tốt hơn trong một chân trời rộng lớn hơn, rằng cuộc sống sâu đậm và hân hoan hơn khi chúng ta không cho nó là điều hiển nhiên, và rằng yêu thương còn quan trọng hơn sức khỏe và sự sống – và rằng tất các câu chuyện cổ tích thần tiên đều kết thúc bằng một đám cưới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

BBC: Trương Duy Nhất: Những ngày ở Thái Lan trước khi ‘mất tích’

BBC: Trương Duy Nhất: Những ngày ở Thái Lan trước khi ‘mất tích’

Tina Hà Giang – BBCvietnamese.com

10 tháng 2 2019

Khách sạn nơi ông Trương Duy Nhất ở trước khi “mất tích”
Hơn hai tuần trôi qua kể từ khi có tin blogger Trương Duy Nhất ở Đà Nẵng có khả năng “mất tích” sau khi tới Thái Lan.

Hôm 9/2, từ Canada, cô Trương Thục Đoan, con gái ông Nhất cho BBC biết:
“Cuộc gọi cuối cùng của ba và con là 9h tối ngày thứ Sáu, 25/1 theo giờ Bangkok. Lúc ba điện con thì ba đang ở trong phòng khách sạn. Nhưng lần cuối ba online trước khi con không liên lạc được là 5h39 chiều ngày thứ Bảy, 26/1 theo giờ Bangkok. Con check giờ online cuối cùng của ba trên facebook, facebook có tính năng đó nên con mới biết, vì cuộc gọi cuối cùng của con và ba là vào ngày 25.”

Ông Trương Duy Nhất đến cơ quan UNHCR hôm 25/1 để nộp đơn xin tỵ nạn

Trước áp lực của nhiều tổ chức quốc tế, chính phủ Thái Lan hôm thứ Năm tuần qua chính thức thông báo sẽ mở cuộc điều tra về sự có mặt của ông tại đây cũng như điều gì đã xảy ra với ông.

Trong khi đó, mạng internet vẫn lan truyền nhiều tin tức mâu thuẫn nhau về nghi vấn ông Nhất bị cho là “mất tích” thậm chí bị “bắt cóc” tại Bangkok.

Có đến Cao Uỷ UNHCR xin tị nạn

BBC được biết qua một nhà hoạt động ở Thái Lan (tạm gọi là ông A), người giúp đỡ ông Trương Duy Nhất trong thời gian ông ở Thái Lan, rằng ông đưa ông Nhất đến cơ quan UNHCR hôm 25/1 để nộp đơn xin tỵ nạn.

Trước đó, hôm 30/1, một nhà đấu tranh khác cho BBC biết đã được một nguồn tin đáng tin cậy có thẩm quyền xác định là ông Nhất đã đến đây.

Tuy thế, theo nhà hoạt động này thì ông Nhất “chưa ghi danh”.
“Việc làm hồ sơ tị nạn với UNHCR có nhiều bước. Bước đầu tiên là xin lấy hẹn ghi danh. Để làm việc này, người muốn mở hồ sơ điền một mẫu đơn ngắn, ghi rõ tên tuổi, công dân nước nào, và để lại số phôn. Sau đó UNHCR mới gọi phôn cho hẹn để họ quay trở lại làm đơn ghi danh, rồi từ đó mới lập hồ sơ. Trong trường hợp của blogger Trương Duy Nhất khi họ gọi lại thì không gọi được nữa.”

Chạy khỏi nơi trú ngụ

Hôm 9/2, tại một khách sạn nhỏ bé ở ngoại ô Bangkok người ta xác định ngay với phóng viên BBC là “người có hình giống ông Trương Duy Nhất có ở đây 6 ngày”.
Nhưng trước những câu hỏi tỉ mỉ hơn, người chủ nói ông không làm việc ở đó thường xuyên, và gọi một người phụ nữ dọn phòng đứng tuổi ra nói chuyện.

Qua lời dịch của một đồng nghiệp thuộc BBC Thái, bà nói:

“Ổng có ở đây. Tôi nhớ rõ vì ông là người ngoại quốc duy nhất, không nói được tiếng Thái.”
“Ông bất chợt mang đồ rời đi vào một sáng, cuối tuần, tôi không nhớ rõ ngày nào, chỉ biết hôm đó rất đông, và ông đi bằng taxi, ” một người phục vụ nói với BBC Thái.

Theo tìm hiểu, chủ hotel rất e ngại lôi kéo sự chú ý đến cơ sở làm ăn của mình, nói khách sạn của ông quá nhỏ “không có hệ thống ghi danh, nên không thể cung cấp thêm chi tiết.” Và mặc dù “có camera, nhưng bộ nhớ nhỏ nên mỗi tuần tự xóa đi và thu dữ kiện mới lên.”

Ông A, người giúp ông Trương Duy Nhất mướn khách sạn nói:
“Anh Trương Duy Nhất vào đến đất Thái đêm 19 rạng sáng ngày 20/1. Em đón anh ấy ở tiệm Starbuck tại Future Park Mall, rồi đưa anh ngay đến khách sạn đó vì nó tiện việc đi lại. Em đặt phòng ba đêm. Sau đó anh Nhất tự lo sáng sáng trả tiền 500 baht để ở thêm. Giấy tờ rất đơn giản không có gì. Một bà Thái làm việc ở đấy lấy phôn chụp passport anh Nhất, nhận tiền, thế là xong.”

Một ngày trước khi mất tích, ông Trương Duy Nhất than phiền với ông A là “cảm thấy bất an quá” vì sau khi đến văn phòng UNHCR về, không hiểu tại sao ông liên tục nhận được những cú phôn lạ, của đàn ông lẫn phụ nữ, cả người Việt lẫn người Thái. Hai người bàn nhau là sẽ phải đi mua thẻ điện thoại mới.

Ông A kể:

“Thứ Bảy 26/1, lúc 17:20 anh Nhất gọi em qua Whatsapp, nói anh đang ngồi ở một quán cà phê trên lầu ba của Future Park Mall.”

”Anh Nhất lúc đó rất lo. Anh kể có ít nhất là ba cú điện thoại gọi cho anh sáng hôm đó. Cú gọi cuối cùng, anh Nhất nói là của một người đàn ông nói “anh nên bỏ số điện thoại đó đi, và đi khỏi khách sạn đó đi” nên anh Nhất lúc đó sợ quá vội vã rời khỏi khách sạn. Rồi anh Nhất nhờ em giúp tìm người giúp đỡ.”

Ông A cho biết sau khi cúp phôn, ông gọi cho ông B, một người bạn để nhờ bạn giúp đỡ ông Nhất.

Tối hôm 9/2, ông B xác nhận với BBC rằng ông có cuộc điện đàm này với ông A vào hôm 26/1.

Ngay sau đó, không còn ai liên lạc được với blogger Trương Duy Nhất.

Nơi trú ẩn không còn an toàn?

Cho đến hôm 10/02 vẫn ai chưa được biết đích xác blogger Trương Duy Nhất đang ở đâu và chuyện gì đã xảy ra cho ông.

Đài Á Châu Tự Do hôm thứ Sáu đưa tin Hoa Kỳ hoan nghênh tin chính phủ Thái Lan sẽ điều tra việc Trương Duy Nhất bị mất tích.

Trong một tuyên bố ngày 8/2, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết họ hoan nghênh cuộc điều tra của chính phủ Thái Lan về vụ mất tích của ông Nhất, thêm vào đó, “chúng tôi đang theo dõi chặt chẽ tình hình”, đài Á Châu Tự Do viết.

“Tự do báo chí là căn bản của sự minh bạch và sự có trách nhiệm của chính quyền. Các nhà báo thường gặp những nguy cơ lớn khi làm công việc của họ, và nhiệm vụ của các chính phủ và công dân trên toàn thế giới là phải lên tiếng bảo vệ họ,” một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được trích lời nói.

Trong vòng hai năm qua, giới bất đồng chính kiến Việt Nam thường chạy qua nước láng giềng như Thái Lan để tìm nơi ẩn náu.
Nhưng dường như Thái Lan dần dà không còn là nơi trú ẩn an toàn cho họ.

Trong thông cáo báo chí gửi đi hôm 6/2, tổ chức Uỷ ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), viết:

“Thái Lan trước đây được xem là nơi trú ẩn an toàn trong khu vực cho các nhà báo và nhà bất đồng chính kiến, nhưng tình hình đã xấu đi sau gần năm năm cai trị của quân đội Thái Lan, với các trường hợp bất đồng chính kiến bị bắt cóc bởi các đặc vụ nước ngoài hoặc bị chính quyền Thái Lan bắt giữ và trục xuất về nước phải đối mặt với sự trả thù khắc nghiệt.”

Thái Lan là nước không tham gia Hội nghị Quốc tế về người Tị nạn, không cấp quy chế tị nạn cho những người đến đây nương náu như một số các quốc gia khác. Người muốn tị nạn phải ghi danh với Cao Uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees – UNHCR), phải chờ khoảng 3 tháng để được phỏng vấn, sau đó chờ 3 đến 6 tháng nữa mới có quyết định.

Thêm vào đó, tại nước này, dù đã được UNHCR cấp quy chế tỵ nạn họ vẫn bị xem là những kẻ cư ngụ bất hợp pháp, không nhận được sự giúp đỡ bất kỳ nào từ UNHCR, phải vừa tự tìm cách mưu sinh vừa tránh bị càn quét.

Chính phủ Thái Lan ban hành một Luật Lao Động mới vào tháng 04/2018, qua đó người lao động bất hợp pháp có thể bị phạt tới 3.000 Mỹ kim và bị tù 5 năm.

Blogger Trương Duy Nhất là trường hợp người bất đồng chính kiến bị ‘mất tích’ thứ năm trong năm nay tại Thái Lan hay những nước quanh vùng.

Vài ngày trước, Thái Lan loan báo sẽ điều tra việc ông Trương Duy Nhất dường như mất tích trong lúc có cáo buộc về khả năng ông bị bắt cóc ở Bangkok.

Người đứng đầu cơ quan di trú Thái Lan Surachate Hakparn nói với Reuters rằng không có hồ sơ chính thức về việc ông Nhất đã nhập cảnh Thái Lan.

Tuy vậy, văn phòng di trú Thái Lan đang xem xét có phải ông Nhất đã nhập cảnh Thái Lan bất hợp pháp và xem chuyện gì đã xảy ra với ông.

“Tôi đã ra lệnh điều tra vụ này,” ông Surachate nói với Reuters ngày 7/2.

‘Đã có mặt ở Bangkok’

Tổ chức nhân quyền Ân xá Quốc tế tuần này nói họ đã xác nhận tin ông Nhất bị những người vô danh bắt giữ tại một trung tâm thương mại, Future Park, ở Bangkok ngày 26/1.
Ân xá Quốc tế nói họ xác nhận tin này với “các nguồn độc lập giấu tên”.
Ân xá Quốc tế đã kêu gọi Việt Nam và Thái Lan cung cấp thông tin về vụ việc.
Ông Phil Robertson, từ tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, thì nói ông Nhất đến Thái Lan “chỉ vì một nguyên nhân”.

“Là để xin tị nạn, và ai đó không muốn ông ta làm thế, vì vậy chính phủ Thái nên mở ngay điều tra.”

UNHCR – Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn – tại Thái Lan từ chối bình luận.

Từng ở tù

Blogger Trương Duy Nhất, chủ nhân của trang blog “Một góc nhìn khác”, từng bị tù 2 năm tại Việt Nam.

Ông bị bắt hôm 26/5/2013 tại nhà riêng ở Đà Nẵng.
Phiên tòa ở Đà Nẵng năm 2014 kết tội ông “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Cáo trạng nói ông Nhất có các bài viết “không đúng sự thật, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng”.

Ông ra tù hôm 26/5/2015.

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47140347

BBC.COM
BBC Tiếng Việt tìm hiểu những ngày ở Thái Lan của blogger Trương Duy Nhất trước khi ông được ghi nhận “mất tích”.
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

MỘT XÃ HỘI KÌ LẠ!

Image may contain: 8 people, people smiling, crowd
Image may contain: one or more people and crowd
Image may contain: 4 people, people standing and outdoor
Image may contain: 9 people, people sitting
Image may contain: 4 people, outdoor
Mạc Van Trang is with Chú Tễu and Anh Le.

MỘT XÃ HỘI KÌ LẠ!

Xã hội ta đang diễn ra nhiều hiện tượng kì lạ.
1. Đảng Cộng sản chính thức đưa chủ nghĩa Mac- Lê nin vào Việt Nam từ 1930 và hơn nửa thế kỷ nay đã được giảng dạy trong các nhà trường, từ bậc phổ thông trở lên, thành hệ tư tưởng chính thống, chủ đạo, bao trùm toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội; mà chủ nghĩa Mac- Lê nin được giới thiệu là học thuyết Khoa học tiên tiến nhất (vô địch) – Biện chứng – Duy vật – Vô thần…
Thế nhưng ai cũng thấy: Chưa bao giờ Việt Nam xây lắm chùa, có nhiều sư như ngày nay; chưa bao giờ lắm thầy tâm linh (ngoại cảm, tử vi, tướng số, bói toán, phong thủy, thầy mo, thầy cúng…) như ngày nay; chưa bao giờ xã hội Việt Nam từ quan chức, trí thức, sinh viên, doanh nhân đến dân thường lại có lắm người mê tín, cúng lễ tùm lum như ngày nay. Tất cả những hiện tượng đó đều phản lại chủ nghĩa Mac- Lênin! Karl Marx cho rằng “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, nhưng chưa bao giờ, Phật giáo ở Việt Nam được khuyến khích đầu tư phát triển số lượng ào ạt như thời nay. Khắp đất nước đâu cũng thấy chùa mới xây; kinh kệ, đồ nghề phụ vụ cho tăng ni phật tử bán la liệt; các học viện, trường lớp đào tạo sư thành hệ thống từ trung ương đến các địa phương. Tóm lại, chưa bao giờ Việt Nam nhiều chùa, nhiều sư, nhiều người đi chùa, đi lễ, đi cầu cũng, bói toán… như dưới chính thể nhà nước cộng sản. Kì lạ chưa!? Xin nhờ GS Nguyễn Phú Trọng, Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban tuyên giáo lý giải cho nghịch lý này, để bà con được tỏ tường!
Ví dụ thực tế chứng minh cho nhận định trên thì nhiều vô kể.
– Mấy đời Chủ tịch nước và biết bao nhiêu quan chức trung ương, các địa phương, các đại gia về Khai ấn đền Trần và dẫn đến cảnh chen lấn, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để cướp Ấn, cướp lộc. Rồi Ấn được in ra bán khắp nơi, như bùa phép, khiến chính quyền Nam Định vớ bẫm…

– Các quan chức nhà nước từ Chủ tịch, Thủ tướng trở xuống hầu hết đều đầu tư khá lớn để xây Đền thờ cho họ mình, nhà mình, lo lăng mộ cho mình thật hoành tráng; nhiều người âm thầm “công đức”, “cung tiến” vào đền, chùa.. khá nhiều tiền của. Rồi họ tổ chức cúng lễ linh đình, cầu khẩn thần, phật khắp nơi … Có những quan chức có cả thầy tướng số, phong thủy thân cận để thường xuyên “tham vấn” mọi việc từ lớn đến nhỏ…

– Hiện tượng sĩ tử trước mùa thi kéo nhau đến các đền chùa cầu cúng, nhất là đến Văn Miếu- Quốc tử giám khấn vái, sờ đầu rùa đá lấy may, ngày càng rầm rộ…

– Việt Nam một năm có hơn 8000 lễ hội, hầu hết các lễ hội đều có yếu tố tâm linh. Các tầng lớp nhân dân ngày càng nhiều người mê tín, cầu cúng tùm lum, chen lấn, tranh cướp trong các lễ hội thật khủng khiếp. Có đến hàng vạn người ngồi thâu đêm, chen lấn, bệ rạc để nộp tiền “dâng sao, giải hạn”; người ta bế cả trẻ con, trèo hàng rào, giẫm lên đầu nhau, chen lấn, tranh giành bằng được để mình vào cúng lễ trước; hàng trăm người xô đẩy nhau để nhúng những đồng tiền vào máu lợn tóe ra khi đao phủ vừa chém lợn, để lấy may; ở khắp các nơi thờ cúng thường thấy cảnh người ta nhét tiền vào tay thần, phật… Việc đốt vàng mã càng khủng khiếp, theo báo Nghệ An, “Mỗi năm dân ta đốt 5.000 tỷ đồng vàng mã”…Còn nhiều dẫn chứng sinh động, không sao kể hết!

2. Đến đây lại nảy ra một nghịch lý lạ kì khác. Tại sao một xã hội “sùng bái” thần phật, sợ ma quỷ, cầu cúng nhiều như vậy, mà đạo đức lại băng hoại suy đồi, nhân cách con người lại tha hóa? Tại sao xã hội lại lan tràn hành động bạo hành, độc ác, lắm mưu hèn kế bẩn, nhiều gian dối, lừa đảo như vậy?

– Có thời nào “thiên hạ thái bình” mà bộ máy chính quyền lại cướp đất, cưỡng chế phá nhà dân tàn khốc như dưới chính thể này? Có thời nào lắm dân oan lê lết từ Nam ra Bắc, nằm đầu đường, xó chợ khiếu kiện triền miên mà vô vọng như thời nay? Có thời nào mà câu “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” đúng như ngày nay? Quan chức ăn cắp, ăn cướp triền miên, đến mức bà Phó Chủ tịch nước phải thốt lên: “Bọn nó ăn của dân không chừa thứ gì”!

– Sự gian dối trong “toàn hệ thống chính trị” thì không ai kiểm soát được, biết, nhưng không làm gì được nhau: từ thành tích thi đua, báo cáo láo, gian lận bằng cấp, “chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy tội…” đến khai báo thu nhập, kê khai tài sản, đều chẳng ai tin. Với lương quan chức trung bình 10 triệu đồng, cao nhất 20 triệu đồng một tháng, lấy đâu ra mà nhà lầu, xe hơi, ăn chơi xa hoa như vua chúa, cho con du học, mua nhà ở nước ngoài?…Mới đây ông Thủ tướng Phúc phải hò hét “phải khắc phục bệnh dối trá, đạo đức giả, nói không đi đôi với làm”…

– Có thời nào mà Công an lại dùng bạo lực, cưỡng chế, xô xát với dân tàn bạo như thời nay?

– Có thời nào mà dân lại sản xuất và buôn bán lắm thứ hàng nhái, hàng giả, hàng độc hại như thời nay; nhất là biết là hàng độc hại, mình không dám dùng nhưng cứ bán ra để đầu độc người khác, làm nguy hại cho xã hội, cho nòi giống? Mỗi ngày hơn 300 người chết vì ung thư, nhưng dường như cũng chẳng rúng động xã hội!

– Có bao giờ tệ nạn trộm cướp, cờ bạc, mại dâm, lừa đảo rộng khắp và nguy hiểm như ngày nay không? Người ta có thể đâm chém nhau chỉ vì “nhìn đểu”, “cười đểu” hay xích mích nhỏ. Mỗi dịp Tết lại mấy ngàn người nhập bện viện cấp cứu vì đánh nhau!…

– Có thời nào ngành giáo dục lại thi cử gian dối, học hành tốn kém, bằng dởm, bằng giả nhiều và bạo lực học đường, quan hệ thầy trò tồi tệ như ngày nay?

– Có bao giờ gia đình đổ vỡ, trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại nhiều như ngày nay?

Tóm lại, xã hội ta, đang chứa đựng đầy những nghịch lý: càng tuyên truyền giáo dục học thuyết Mac- Lênin duy vật, vô thần, con người càng duy tâm, mê tín, dị đoan, càng mất niềm tin vào khoa học, mất niềm tin vào chân lý, vào công lý… Mặt khác, đáng lẽ nhiều người đi chùa, giác ngộ Phật pháp thì con người càng bớt Tham, Sân, Si, bớt Sát, Đạo, Dâm, bớt lừa lọc, gian dối, hung bạo; con người sẽ giàu lòng Tư bi, Hỉ xả, sống lương thiện, chạy tịnh, xã hội an lạc, hòa vui…

Nhưng tất cả dường như đều ngược lại! Con người có quá nhiều hành động vô minh tăm tối, bất lương; cái ác được kích thích và “lan tỏa”; xã hội ngày càng xuống cấp về đạo đức, lối sống. Mới hôm qua, trên VTV1 có cuộc thảo luận “làm sao kinh tế thời nay, đạo đức được như ngày xưa”!?

Những vấn đề nêu trên, Hội đồng Lý luận trung ương và Ban Tuyên giáo GIẢI THÍCH thì tài lắm, nhưng bao năm nay, càng GIẢI QUYẾT thì càng trở nên tồi tệ hơn! Vậy là sao?
12/2/2019

MVT

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

XÃ HỘI VIỆT NAM KHỦNG KHIẾP

XÃ HỘI VIỆT NAM KHỦNG KHIẾP….

183,000 bệnh nhân vào bệnh viện trong 7 ngày Tết

Tin Việt Nam – Báo Vietnamplus loan tin, báo cáo của Bộ Y tế CSVN cho biết, tính từ ngày 28 Tết đến 7 giờ giờ sáng ngày mùng Năm Tết Kỷ Hợi, cả nước có 182,700 bệnh nhân phải đến bệnh viện để khám, và cấp cứu. Trong đó, có 114,200 bệnh nhân phải điều trị nội trú, 11,600 bệnh nhân phải phẫu thuật; số bệnh nhân tử vong cả trong lúc nằm viện và trước khi đến được bệnh viện là 600 người.

Thông tin trên báo Dân trí cho biết thêm, tại bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân nhập viện ngày Tết tăng 30% so với ngày thường. Các trường hợp vào bệnh viện chủ yếu do tim mạch, huyết háp, hô hấp, đột quỵ, sốc nhiễm khuẩn, xuất huyết tiêu hóa do liên quan đến rượu, suy gan, suy thận cấp.

Trung tâm chống độc của bệnh viện Bạch Mai cho biết, người Việt vẫn uống rượu quá nhiều, mỗi ngày Trung tâm phải tiếp nhận 2 đến 3 bệnh nhân vào cấp cứu do ngộ độc rượu. Các bệnh nhân ngộ độc rượu đều xảy ra ở cả nam và nữ trong mọi lứa tuổi. Có những nữ bệnh nhân ngộ độc rượu chỉ mới ở tuổi 19.

Trong một bối cảnh khác, tính đến 7 giờ sáng ngày mùng Bốn Tết, cả nước có 35,366 người vào bệnh viện khám, cấp cứu do tai nạn giao thông, chiếm 19.4% số lượng bệnh nhân đến bệnh viện. Ngoài các bệnh nhân nhập viện, thì mỗi ngày cả nước có 20 người chết vì tai nạn giao thông trong dịp Tết.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

GÓC NHÌN CUỘC SỐNG.

GÓC NHÌN CUỘC SỐNG.

Posted by Nguyễn Đình Phương on Wednesday, January 23, 2019

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi