Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris

Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris

Nguyễn-Đại-Thuật

Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparnasse làm trạm trung chuyển.

Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài…

Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ…

Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?

Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.

Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: “những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn… làm ê mặt nước Pháp quá ! “.

Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sỏ làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó…

Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.

Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:

– Cám ơn ông.
– Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.

Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:

– Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.
– Tôi là người Việt-nam.

Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :

– Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không?.

Quốc gật đầu:

– Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước

Vẻ mặt bà thoáng suy-tư:

– Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .

Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.

Quốc hỏi:
– Bà xuống trạm nào ?
– Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.

Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.

Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại, Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: “Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu… bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?

********************
Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: “Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng thường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà”.

Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang dường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy… Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:

– Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển… gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France 3: một người đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ… vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi… giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?

Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.

Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong… cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:

– Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây?

Quốc cười, lắc đầu:

– Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.

Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:

– Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin túc về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-túc trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thỏa mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại… trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng… Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.

Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:

– Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về… lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương… đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy!

Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu… Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình… đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời đề vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc:
– Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông?

Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:

– Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn… Nguyễn-minh Quốc.
– Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.

Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:

– Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện?

Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:

– Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi dạy tôi đọc và tập viết chữ a, b, c, đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:
– Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.

Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.

“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch… tạch”, tiếng “chéo chéo” của đạn bay… tiếng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt…ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ… rồi có tiếng ai đó nói to: ” Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông?”.

Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.

Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn… nay hai mẹ con tôi có chỗ nằm để tránh đạn.

Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác… tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc… Lại một tiếng la to: ” bắn “… một tiếng súng nổ… tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết. Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm… Có tiếng ra lệnh: “Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa… nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! “

Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập:

– Tôi mở… tôi mở… nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!

Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!”

Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.

Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:

– Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.

Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền. Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.

Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:

– Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.

Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:

– Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.

Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.

Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.

Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:

– Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !

Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:

– Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.

Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:

– Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.

Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:

– Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.

Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:

– Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn… khi gần hết hàng… phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng… nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi… còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .

Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:

– Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?
– Đồng-ý… đồng-ý !

Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.

Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.

Cả khu xóm lại yên-lặng… Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

– Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.

Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.

Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn:

– Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với… không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi…

Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.

Tôi hét lên… và không còn biết gì nữa.

Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:

– Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:
– Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không? Con ráng chịu đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ!
“ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm. Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con, nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.

Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.

Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng đươc xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.

Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường… và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.

Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim. Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:

– Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông… Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.

Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.

– Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó? Ông bác nói với mẹ.

Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:

– Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân… Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy.”

Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.

Ông bác kể tiếp:

– Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.

Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ. Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau… Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.

Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp… cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiếng nạng “cộp… cộp” của tôi nghe buồn da diết.

Trong những ngay chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:

– Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.

Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:

– Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.

Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ và tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:

– Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím?

Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.

Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai… Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;

– Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.

Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:

– Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.

Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái trên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon… thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp!

Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ:

– Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.
– Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau với Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau… người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.

Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.

Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.

Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vục dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé đó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà. Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức… Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào… Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự. Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:

– Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỷ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.

Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.

Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh: “Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà… Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi? “. Rồi tôi tự cười mình… ba mươi bảy tuổi rồi… còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !

Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:

– Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rủa.

***************

Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.

Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự” bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi… nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm. Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi đã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp. Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp… Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dùng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui, đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.

Người ta hỏi:

– Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam?

– Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đai dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.

***************

Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Để lại phản hồi

TUỔI XUÂN HUY HOÀNG, TUỔI GIÀ HIU QUẠNH

TUỔI XUÂN HUY HOÀNG, TUỔI GIÀ HIU QUẠNH

Margaret Thatcher là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh quốc, cũng là một trong những chính trị gia quyền lực nhất trong lịch sử, được truyền thông gọi là “Người đàn bà thép” (Iron Lady) của nước Anh. Nhưng đằng sau hào quang chính trị, “người phụ nữ thép” ấy lại phải chịu đựng nỗi buồn vô tận của sự cô độc và bi ai.

Có sự nghiệp và tình yêu, nhưng thất bại khi làm mẹ

Thatcher từng nói rằng, trong thế hệ của bà, sẽ không có một người phụ nữ nào trở thành thủ tướng. Nhưng chính bà lại làm được điều ấy. Bà không chỉ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên ở Anh, chứng minh rằng phụ nữ có thể đặt chân lên bục vinh quang vốn thuộc về nam giới, mà còn làm được điều mà nam giới không thể làm.

Thời trẻ, Thatcher học hành rất chăm chỉ, nhờ vào nghị lực và sự kiên trì bền bỉ, bà đã thi đậu vào trường đại học Oxford. Thatcher đã trở thành nữ ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở tuổi 25.

Vào thời điểm này, bà gặp Denis, một thương nhân giàu có đang điều hành tập đoàn của gia đình. Denis yêu Thatcher ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc ấy là một cô gái trẻ xinh đẹp và có đầu óc chính trị. Không lâu sau hai người tiến đến hôn nhân, sau hai năm kết hôn họ sinh được đôi long phụng – một trai, một gái.

Nhưng bà mẹ trẻ như Thatcher không có nhiều thời gian dành cho con cái. Khi cặp song sinh mới được hơn hai tuần tuổi, bà lập tức quay trở lại với sự nghiệp chính trị của mình. Lúc ấy, Denis luôn ở phía sau âm thầm ủng hộ vợ, Thatcher đạt được hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân nhưng trong quan hệ với con cái bà lại là một người mẹ thất bại.

Bà bận rộn với các hoạt động chính trị, bỏ bê việc giáo dục con cái, cuối cùng trở thành trường hợp “mẫu từ tử bại”, ý nói mẹ tài giỏi nhưng con thì thất bại.

Những năm cuối đời, Thatcher từng nói rằng: “Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi tuyệt đối sẽ không bước chân vào đấu trường chính trị, vì gia đình tôi đã phải trả giá quá đắt cho điều ấy”.

Bởi vì trong suốt sự nghiệp, Thatcher luôn bận rộn với các hoạt động chính trị, đến mức không còn thời gian và tâm trí dành cho con cái. Quan hệ giữa bà với cô con gái Carol vô cùng lạnh nhạt; mặc dù cậu con trai Mark gần gũi hơn nhưng lại không cho bà được nở mày nở mặt. Cậu bé ham chơi, lười học, chẳng những thành tích học tập kém mà còn ỷ lại vào quyền thế của mẹ mà tỏ ra cao ngạo, thường “xưng vương xưng bá” trong những năm học đường.

Sau khi trưởng thành, Mark tham gia cuộc đua xe Paris-Dakar Rally năm 1982, sau đó bị lạc nhiều ngày trong sa mạc Sahara. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiếp nhận vị trí thủ tướng, Thatcher rơi nước mắt trước mặt công chúng. Bà đã phải chỉnh cầu chính phủ các nước giúp đỡ để giải cứu con trai.

Sau khi được cứu, con trai của Thatcher lại tiêu phí một lượng rượu lớn trong khách sạn nhưng không chịu chi trả. Cậu cho rằng việc chính phủ giải quyết giúp mình là điều đương nhiên nên không ngừng tranh chấp với ban ngoại giao và các nhân viên khách sạn, cuối cùng cảnh sát phải đích thân can thiệp.

Những năm sau đó, Mark lại mượn địa vị của mẹ và tiền tài của vợ mà không ngừng chơi bời, tham gia các hoạt động mạo hiểm, tiêu tiền tốn của. Khi tham gia vào cuộc đảo chính ở Guinea, cậu bị bắt ở Nam Phi và bị kết án 4 năm tù treo cùng với khoản tiền phạt khoảng 313.000 bảng Anh. Bà Thatcher cũng buộc phải cầm tiền đi Nam Phi để chuộc con trai về.

Những năm cuối cùng khiến người đời cảm thán mãi không thôi

Thủ tướng Thatcher từng nói rằng, nhà là nơi mà bạn không cần phải làm bất cứ điều gì.

Trong ngày kỷ niệm 50 năm kết hôn, Thatcher bất ngờ đột quỵ và mất đi một phần ký ức. Hai năm sau chồng bà qua đời, đó là cú sốc mạnh đối với Thatcher khiến trí nhớ của bà ngày càng kém hơn, bà thường nghĩ rằng ông vẫn còn sống trên đời. Nỗi đau mất chồng không hề thuyên giảm theo thời gian, có một lần tỉnh dậy giữa đêm khuya, bà đã khoác lên mình một bộ quần áo trang trọng, rồi đi đến viếng mộ phần của ông.

Trong lễ sinh nhật lần thứ 77, Thatcher nhận được bốn tấm thiệp chúc mừng, bà bày chúng lên bàn và đăm chiêu ngắm nhìn. Lúc ấy, con trai bà sống ở Tây Ban Nha, con gái thì ở Thụy Sĩ, những đứa cháu đang ở Mỹ, tất cả những người thân yêu đều hiếm khi trở về thăm bà. Carol, con gái của Thatcher tâm sự: “Một người mẹ không thể mong đợi những đứa con đã trưởng thành của mình bỗng chốc trở nên vồn vã, nồng ấm – điều mà chúng không quen”. Đánh đổi cho những năm tháng huy hoàng trên vũ trường chính trị là một tuổi già cô đơn, hiu quạnh. Bà không thể hy vọng được vui hưởng tuổi già bên con cháu, thậm chí một mơ ước con cái sẽ trở về thăm nhà cũng là mơ ước quá xa vời. Đời người giống như một vòng quay tuần hoàn, khoảng thời gian không có người thân bên cạnh ai ai cũng từng trải qua, với Thatcher là những năm cuối đời trống trải, còn với các con của bà là một tuổi thơ thiếu vắng hình bóng mẹ.

Lady Margaret Thatcher, former Prime Minister of Great Britain, exits a limousine on the ramp at Andrews Air Force Base (AFB), Maryland (MD). Following a 24-hour lying-in-state in the US Capitol Rotunda and a State Funeral in the National Cathedral, President Ronald Wilson Reagan’s remains are to be flown back to California (CA) for burial today at his presidential library.

Vào lễ đại thọ ba năm sau, có lẽ vì quá tưởng nhớ đến những ngày tháng nhộn nhịp trước kia, nên bà đã tổ chức đại tiệc với 650 khách tham dự, ngay cả Nữ hoàng Elizabeth II, Hoàng tử Charles và Thủ tướng Tony Blair đều đến chúc thọ bà. Thatcher đã lấy lại phong thái năm xưa, vẫn là nụ cười tự tin như ngày nào, nhưng đáng tiếc tất cả chỉ giống như một ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Còn lại bên bà, vẫn là màn đêm tịch mịch và những căn phòng hoang vắng không một bóng người thân.

Ở tuổi xế chiều, nhà mới là nơi cuối cùng chúng ta trở về

Trong những năm tháng dài dằng dặc cùng với nỗi cô độc lúc cuối đời, Thatcher lại bị đột quỵ. Mọi thứ đối với bà đều trở thành thử thách, ngay đến xem báo cũng rất khó khăn, vừa đọc câu sau đã quên câu trước. Ở tuổi xế chiều, Thatcher phải chịu nỗi khổ về tinh thần, cơ thể cũng bị bệnh tật tàn phá, lại còn phải chịu đựng sự lạnh nhạt và xa cách của con cái.

Trong phòng, bà đặt rất nhiều bức ảnh của chồng, con, và các cháu. Nhưng bên cạnh bà lại không có bất cứ người thân nào, làm bạn với bà chỉ có bác sĩ và y tá. Cho đến phút lâm chung, con trai, con gái cũng không có mặt kịp thời để lo lắng hậu sự cho bà.

Những năm cuối đời của Thatcher thật khiến người đời phải cảm thán, nhưng làm sao trách được mệnh Trời ? Ai ai cũng phải sống cho xã hội, cho thân nhân, và cho chính mình. Những năm tháng son trẻ khiến con người ta chìm đắm trong sự nghiệp, trong danh vọng và hào quang của quyền lực. Nhưng khi ánh hào quang ấy qua đi, ta chỉ còn lại ta, chỉ còn lại cái thân xác đã hao mòn vì năm tháng. Vậy thì, đâu mới là cuộc sống đích thực của chúng ta ? Là tuổi trẻ ước mơ hoài bão, là những năm tháng phồn hoa, là vinh quang tột đỉnh, hay là một tinh thần thản đãng và bình yên ?

Với cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher, có lẽ bà là người thấu hiểu hơn ai hết rằng: Sự nghiệp có thể cho chúng ta danh tiếng, địa vị và cảm giác thành tựu. Nhưng đến lúc chúng ta cởi bỏ chiếc áo choàng danh vọng ấy, thì trong đêm khuya một mình thanh tĩnh cũng là lúc chúng ta hiểu rằng ai cũng sẽ dần dần già đi. Danh tiếng cuối cùng rồi cũng sẽ phai nhạt, cảm giác thành tựu rồi cũng dần tan biến. Tiền dẫu còn giữ lại được, thì khi già cả yếu ớt, cả núi vàng biển bạc cũng không thể mang lại hạnh phúc. Cuối cùng, chỉ có gia đình mới là nơi trở về, nơi cho ta nương tựa.

Lúc bị thương, nhà là một chiếc ô che mưa chắn gió, lúc vui vẻ nhà là nơi hạnh phúc ấm áp đong đầy. Sự nghiệp không thể nào thay thế cho tình người, công danh cũng không thể thay thế cho một gia đình hạnh phúc. Đáng tiếc đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, rất nhiều tỷ phú và những chính trị gia quyền lực mới nhận ra điều này.

Mong rằng những ai đọc bài viết này sẽ hiểu được, tiền tài, danh tiếng chỉ là những thứ nhất thời, đều không thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc lâu dài, chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta dựa dẫm cả đời, là nơi đáng tin cậy và là nơi cuối cùng chúng ta đi về.

Nguyện cho những ai đọc bài viết này đều cùng gia đình sống hòa thuận, hạnh phúc.

Theo Soundofhope
Thanh Bình

From: Lucie 1937

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Để lại phản hồi

Hình ảnh ‘lũ lụt ngập không cọng rác’ ở Nhật gây sốt cộng đồng mạng

Hình ảnh ‘lũ lụt ngập không cọng rác’ ở Nhật gây sốt cộng đồng mạng

Trước hình ảnh biển nước bao quanh các ngôi nhà sau khi bị siêu bão Hagibis đổ bộ làm tan hoang nhiều khu vực ở Nhật Bản nhưng không mang theo bất cứ cọng rác được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội, khiến dân mạng quốc tế phải thán phục vì nước lũ sạch đến không có cọng rác nào.

Ngày hôm qua (12/10), người dân và đất nước Nhật Bản đã phải gánh chịu sự tàn phá của siêu bão Hagibis – được đánh giá là cơn bão mạnh nhất tàn phá nước này trong vòng 60 năm qua. Từ sáng, khi chỉ mới tiếp cận, Hagibis đã gây ra mưa lớn, gió ở nhiều khu vực khiến các con đường chìm ngập trong biển nước, giao thông tê liệt và có thiệt hại về người đầu tiên.

Ngoài những hình ảnh và video thể hiện sức tàn phá khủng khiếp của siêu bão thì có 2 hình ảnh khiến cộng đồng mạng đặc biệt xôn xao và liên tục chia sẻ, đó là cảnh những ngôi nhà chìm trong biển nước nhưng xung quanh không hề có một chút rác nào.

Chúng ta đều biết Nhật Bản là một đất nước nổi tiếng về sự sạch sẽ, người dân từ khi còn bé đã được dạy về việc giữ gìn vệ sinh thật tốt môi trường sống của mình. Và đến bức ảnh này thì dân mạng quốc tế thực sự thêm ngả mũ thán phục. Trước khi một số khu vực bị cơn lốc mạnh tàn phá khiến nhà cửa, đồ đạc tan hoang thì khi nước lũ dâng lên không hề thấy có bóng dáng chút rác xuất hiện.

Cũng theo một số thông tin cho hay, trước khi siêu bão Hagibis đổ bộ, chính phủ Nhật Bản đã thông báo cho người dân dọn sạch rác nơi mình sinh sống. Các nhân viên vệ sinh đô thị cũng làm sạch đường ống, cống thoát nước để không gây ra sự tắc nghẽn khi mưa bão ập về.

Hình ảnh những ngôi nhà chìm trong nước lũ nhưng xung quanh không một tí rác được chia sẻ rộng rãi trên Twitter

Ở một góc khác, khi những chiếc xe hơi bị ngập trong biển nước thì xung quanh vẫn không có cọng rác nào

Cộng đồng mạng trước đây cũng từng xôn xao và chia sẻ rầm rộ hình ảnh nước lũ trong vắt như hồ bơi ở bến xe điện ngầm tại thành phố Hamamatsu trong cơn bão nhiệt đới Etau vào năm 2015. Và sau nhiều năm, quang cảnh thành phố vẫn sạch sẽ khi chìm trong nước lũ của Nhật Bản vẫn tiếp tục khiến dân mạng quốc tế phải hết lời ngợi khen và đáng để mọi người học hỏi .

From: TU PHUNG

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

XIN MẸ THIÊN CHÚA GỞI CÁC THIÊN THẦN ĐẾN BẢO VỆ CHÚNG CON!

Gương chứng nhân của Sr. Minh Nguyệt
14- tháng 10-2012

XIN MẸ THIÊN CHÚA GỞI CÁC THIÊN THẦN ĐẾN BẢO VỆ CHÚNG CON!

.. Chúa Nhật 13-2-2005 Chị Lucia dos Santosêm ái trút hơi thở cuối cùng nơi Đan Viện Kín Cát-Minh Coimbra hưởng thọ 98 tuổi. Chị chào đời ngày 22-3-1907 tại làng Fatima bên nước Bồ-Đào-Nha.

Chị Lucia dos Santos cùng với 2 em họ Phanxicô và Giaxinta Marto được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ MARIA hiện ra lần đầu tiên tại Fatima ngày 13-5-1917. Phanxicô Marto qua đời năm 1919 hưởng dương 11 tuổi và Giaxinta Marto qua đời năm 1920 hưởng dương 10 tuổi. Hai anh em Phanxicô và Giaxinta Marto được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 13-5-2000 trong Thánh Lễ trọng thể cử hành tại đền thánh Đức Mẹ ở Fatima.

Lúc sinh thời, Chị Lucia dos Santos đã viết một bức thư gởi các Cộng Đoàn Thánh Mẫu nói về tầm quan trọng, quyền lực và sức hữu hiệu của việc lần hạt Mân Côi như sau.

Anh chị em rất thân mến. Tôi khuyến khích anh chị em đọc lại và suy gẫm sứ điệp mà Đức Mẹ MARIA gởi đến chúng ta trong đó Đức Mẹ nói với chúng ta về quyền lực và sức hữu hiệu của Kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi đạt mức thành công rất lớn trên Trái Tim THIÊN CHÚA và Trái Tim Con Chí Thánh của Ngài.

Vì vậy mà, trong những lần hiện ra, chính Đức Mẹ MARIA cũng dự phần vào việc lần hạt Mân Côi như nơi Hang Đá Lộ-Đức với thánh nữ Bernadette Soubirous (1844-1879) vào năm 1858, và tại Fatima khi hiện ra với tôi và Phanxicô cùng Giaxinta vào năm 1917.

Và chính trong lúc lần hạt Mân Côi mà Đức Mẹ MARIA xuất hiện từ đám mây rồi đứng trên cây sồi xanh và nói chuyện với chúng tôi từ trong ánh sáng của Đức Mẹ. Về phần tôi, từ Đan Viện Kín Cát-Minh ở Coimbra này, tôi hiệp ý với tất cả anh chị em để chúng ta cùng nhau tạo thành một mặt trận hùng mạnh đại đồng của kinh nguyện và của lời cầu xin.

Tuy nhiên xin anh chị em ghi nhớ rằng không phải chỉ riêng tôi góp lời cầu nguyện với anh chị em mà còn có toàn thể triều thần thiên quốc cùng hợp chung tiếng hát hòa điệu với các tràng kinh Mân Côi nhịp nhàng anh chị em đọc. Thêm vào đó cũng có các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội kết hợp lời nguyện xin tha thiết của các vị với lời khẩn cầu của anh chị em.

Ngoài ra ngay mỗi khi bàn tay anh chị em mân mê tràng chuỗi và bắt đầu lần hạt Mân Côi thì tức khắc các Thánh Thiên Thần và Các Thánh Nam Nữ cũng hòa nhịp với anh chị em trong lời Kinh.

Chính vì các lý do trên đây mà tôi khuyến khích anh chị em hãy sốt sắng lần hạt Mân Côi. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm tình, với Đức Tin và cùng lúc hãy suy gẫm ý nghĩa các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi. Tôi cũng xin nhắc anh chị em nhớ rằng đừng đợi đến khuya-lắc khuya-lơ mới lẩm nhẩm lời Kinh Kính Mừng. Đừng lần hạt Mân Côi khi anh chị em đã mệt-đừ sau một ngày lao công vất vả! Rồi xin anh chị em hãy lần hạt Mân Côi riêng hoặc lần hạt chung nơi cộng đoàn, lần hạt ở gia đình hay bên ngoài, lần hạt trong nhà thờ cũng như khi đi lại ngoài đường phố. Anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với tâm tình đơn sơ như đi theo từng bước của Đức Mẹ MARIA và Con Dấu Ái của Đức Mẹ.

Anh chị em hãy lần hạt với trọn Đức Tin để cầu cho các trẻ em sắp sinh ra, cho người đau khổ, cho người đang làm việc cũng như xin cho người hấp hối được ơn chết lành.

Mỗi khi lần hạt Mân Côi anh chị em hãy hiệp ý với mọi người công chính trên toàn cõi địa cầu cũng như với tất cả các Cộng Đoàn Thánh Mẫu, nhưng nhất là anh chị em hãy lần hạt Mân Côi với trọn tâm lòng đơn sơ con trẻ, bởi vì, tiếng nói trẻ thơ thường hòa nhịp êm ái với tiếng hát du dương của Các Thánh Thiên Thần.

Đã không có biết bao nhiêu lần, chỉ một tràng hạt Mân Côi thôi, đủ để làm nguôi cơn thịnh nộ của THIÊN CHÚA Chí Công khiến THIÊN CHÚA tuôn đổ Tình Yêu từ bi thương xót của Ngài trên thế giới và cứu được nhiều linh hồn khỏi hư mất và bị trầm luân đời đời trong Lửa Hỏa Ngục. Chính với tràng chuỗi Mân Côi, với việc sốt sắng lần hạt Mân Côi mà chúng ta sớm được trông thấy ngày Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA chiến thắng trên thế giới.

Tôi xin ưu ái ôm hôn tất cả anh chị em.

Ký tên: Nữ Tu Lucia dos Santos.

Đăng tải tại CHUYỆN VỀ CHÚA VÀ ĐỨC MẸ, TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

BA VỊ TIẾN SĨ “LẶNG THINH” TRƯỚC CÂU HỎI CỦA MỘT CỤ BÀ

BA VỊ TIẾN SĨ “LẶNG THINH”
TRƯỚC CÂU HỎI CỦA MỘT CỤ BÀ

(Sau Thế chiến I, một nước nọ muốn dùng phương pháp khoa học để tuyên truyền người dân không tin vào Thần Phật, họ mong muốn cả dân tộc thoát ly khỏi tín ngưỡng. Vậy là trong một buổi hội thảo, chính quyền mời ba vị Tiến sĩ lên thuyết giảng…)

  • Vị thứ nhất là Tiến sĩ về Thiên văn, sau khi ông bước lên sân khấu lý giải vô số lý do về thuyết vô thần, cuối cùng ông hô to: “Tôi đã dùng kính viễn vọng quan sát vũ trụ hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ trông thấy Thần, vì thế chắc chắn không có thần thánh”. Sau câu nói ông nhận được tràng pháo tay của số đông công chúng.
  • Vị thứ hai là Tiến sĩ Y học, sau khi nói rất nhiều đạo lý cho rằng con người tuyệt nhiên không có linh hồn, ông kết luận: “Tôi từng giải phẫu hàng trăm thi thể, quan sát tỉ mỉ các bộ phận, thế nhưng không phát hiện có nơi nào để linh hồn gửi gắm. Trong tim à? Trong đầu à? Trong máu à? Tôi đều giải phẫu nhiều lần rồi nhưng không thấy gì, vì thế chắc chắn không có linh hồn”. Nói xong lại nhận được tràng pháo tay vang dội.
  • Vị thứ ba là một nữ Tiến sĩ, một nhà luận lý học. Cô từ từ bước lên sân khấu rồi phát biểu: “Người chết giống như cái đèn bị tắt. Chết là hết, tuyệt đối không có cái gọi là Thiên đàng hay Địa ngục để phán xét. Tôi từng đọc qua các sách cổ kim đông tây nhưng không thấy ghi chép gì về chuyện này”.

✪ Sau khi ba vị tiến sĩ thuyết giảng xong, người chủ trì hướng về phía công chúng nói: “Nếu trong tất cả mọi người có ai không thỏa mãn, hoặc muốn tranh luận, đều có quyền lên thảo luận công khai”.

Sau một lúc lâu nhưng không có ai lên tiếng phản bác, buổi tuyên truyền chuẩn bị kết thúc trong sự đắc thắng. Bỗng một bà cụ bước lên sân khấu, nói với người chủ trì: “Tôi có thể hỏi thêm vài câu hỏi được không?”

Vị chủ trì nói: “Rất hoan ngênh cụ!”

✔️Thế rồi bà cụ nhìn vị tiến sĩ đầu tiên, hỏi: “Anh dùng kính viễn vọng nhìn được hơn 20 năm, thế anh có nhìn thấy gió không? Nó có hình dạng thế nào?”.

Vị tiến sĩ trả lời: “Kính viễn vọng sao có thể trông thấy gió được thưa cụ?”

Bà cụ nói: “Trên thế giới có gió không? Anh dùng kín viễn vọng nhìn không thấy gió, lẽ nào anh có thể dùng kính viễn vọng nhìn thấy Thần? Anh dùng kính viễn vọng nhìn không thấy Thần thì có nghĩa là không có Thần sao?”. Vị Tiến sĩ chỉ biết im lặng không thể nói lại được.

✔️Thế rồi bà cụ lại nhìn sang vị Tiến sĩ thứ hai, hỏi: “Anh có yêu vợ anh không?”

Vị Tiến sĩ kia thưa: “Dạ, có yêu thưa cụ”.

Bà cụ tiếp lời: “Vậy anh đưa con dao giải phẫu cho tôi, tôi thử mổ bụng anh xem thử cái gọi là ‘yêu’ đó nằm ở bộ phận nào? Trong gan? Trong dạ dày? Hay trong ruột?”. Bên dưới mọi người cười vang dội.

✔️Tiếp tục, bà cụ lại nhìn sang nữ Tiến sĩ hỏi: “Cô đã đọc quyển sách này chưa? Nó gọi là ‘Kinh thánh’. Chẳng phải rõ ràng quyển sách này có nói mọi người sau khi chết đều chịu phán quyết sao? Cô đừng tưởng chết là hết, phải biết rằng việc sau khi chết còn nhiều và dài hơn lúc còn sống rất nhiều!

Khi cô còn trong bụng mẹ, nếu có người nói với cô rằng ‘không lâu nữa cô sẽ có mặt trên trái đất, có trời trăng sơn thủy, phải ăn cơm mặc quần áo’, cô có tin không? Thế nhưng hôm nay cô không chỉ tin mà còn thực sự đã đang sống trong thế giới này. Thế giới vĩnh hằng cũng là như thế!”

…..(khoảng lặng dài)……
Theo ĐKN

Bao Nguyen Quang

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Hãy Tìm Cách Biến Thù Thành Bạn

Hãy Tìm Cách Biến Thù Thành Bạn

Trong Cuộc Sống Hãy Tìm Cách Biến Thù Thành Bạn

Ngày xưa , có một người nông dân và một người thợ săn là hàng xóm của nhau. Người thợ săn nuôi một đàn chó săn rất dữ tợn và khó bảo, chúng thường nhảy qua hàng rào và rượt đuổi đàn cừu của người nông dân. Người nông dân bảo người hàng xóm của mình hãy trông nom đàn chó cẩn thận, nhưng xem ra những lời đó đều bị bỏ ngoài tai.

Một ngày nọ, đàn chó lại nhảy qua hàng rào, chúng đuổi cắn đàn cừu và làm nhiều con trong đàn bị thương nặng.

Lúc này, người nông dân không thể chịu đựng thêm nữa. Anh ta bèn lên phủ để báo quan. Vị quan phủ chăm chú lắng nghe đầu đuôi câu chuyện rồi nói:

“Ta có thể phạt người thợ săn và bắt anh ta xích hoặc nhốt đàn chó lại. Nhưng anh sẽ mất đi một người bạn và có thêm một kẻ thù. Anh muốn điều gì hơn: một người bạn hay một kẻ thù làm hàng xóm của mình?”

Người nông dân trả lời rằng anh muốn có một người bạn hơn. Vị quan phủ nghe vậy bèn phán:

“Được, vậy ta sẽ bày cho anh một cách để vừa bảo vệ an toàn cho đàn cừu, vừa giữ được một người bạn”.

Người nông dân bèn nghe theo lời chỉ dẫn của vị quan phủ.

Vừa về đến nhà, người nông dân liền thử làm theo những gì vị quan phủ đã bày cho anh ta. Anh ta bắt ba con cừu tốt nhất của mình và đem tặng chúng cho ba cậu con trai nhỏ của người hàng xóm. Đám trẻ rất vui thích quấn quít chơi đùa bên mấy con cừu. Để bảo vệ cho đồ chơi mới của lũ trẻ, người thợ săn đã làm một cái cũi chắc chắn để nhốt đàn chó. Từ đó trở đi, đàn chó không bao giờ quấy rầy đàn cừu của người nông dân nữa.

Cảm kích trước sự hào phóng của người nông dân với những đứa con của mình, người thợ săn thường mang chiến lợi phẩm mà anh ta săn được sang cho người nông dân. Người nông dân đáp lại bằng thịt cừu và phô mai mà anh ta làm ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, hai người hàng xóm đã trở thành bạn tốt của nhau.

Có một câu ngạn ngữ thế này: “Một người chỉ có thể cảm hóa và thu phục người khác bằng lòng tốt và thiện tâm”.

Người Mỹ cũng có một câu thành ngữ tương tự như thế: “Người ta bắt được nhiều ruồi bằng mật hơn là bằng giấm” (“Mật ngọt chết ruồi”). “You can catch more flies with honey than with vinegar”

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Kinh hãi cảnh khu dân cư sống trên dòng kênh chết ngập ứ rác thải

Minh Phuong Nguyen and 3 others shared a link.
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

TÁC HẠI CỦA TƯ DUY LỆNH MIỆNG!

Nguyễn Đình Ngọc
TÁC HẠI CỦA TƯ DUY LỆNH MIỆNG!

_____________________________

(Bài đã đăng ngày 16/7/2019)

Năm xưa, 64 người lính Việt Nam đã trở thành “bia sống” cho Trung Cộng nã đạn tại Gạc Ma – Trường Sa.

Sự tàn ác “trời không dung đất không tha” của Trung Cộng, do CSVN “góp tay” rất lớn, trong đó vai trò của Lê Đức Anh – lúc bấy giờ trong tư cách Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng – mang tính quyết định. Theo ông Lê Mã Lương, Lê Đức Anh đã “truyền lệnh miệng” cho người lính VN không được phép chiến đấu.

Tai hại ghê gớm chính là chỗ đó!

Càng khủng khiếp hơn nhiều lần, bởi lịch sử vốn là môn khoa học, nên không thể dung chứa “sự mờ ám” trong đó. Đã là khoa học, tất cả phải có đầy đủ căn cứ và bằng chứng. Và cũng chính vì lẽ đó, dù có muốn, cũng không thể buộc Lê Đức Anh phải chịu trách nhiệm về hành vi phản bội dân tộc do y gây ra, dù tội phản bội Tổ Quốc được quy định hẳn hòi trong Bộ Luật Hình Sự và thuộc loại trọng tội!

Những ngày này, bãi Tư Chính – quần đảo Trường Sa đang bị Trung Cộng uy hiếp. Không một dòng tin nào hiện ra trên các báo đài của CSVN, trong khi lòng dân “như thiêu như đốt”!

Chắc chắn tất cả các báo đài đã nhận được “lệnh miệng” ở những kẻ nắm chức vụ cao nhất trong Bộ Chính Trị ĐCSVN. Ai đã ra “cái lệnh miệng” đó?

Thật đáng lên án cho những kẻ nào đã “truyền lệnh miệng”. Bởi “di họa” để lại từ “lệnh miệng” là không tài nào quy nổi trách nhiệm mà vốn buộc phải có những con người cụ thể nhận lãnh hình phạt, dù nặng hay nhẹ!

Và cũng thật đáng chê trách những kẻ đã phục tùng “lệnh miệng”, bởi họ, dường như trở thành những cỗ máy vô tri vô giác, trước vấn đề an nguy của cả quốc gia gần trăm triệu người!

“Tư duy lệnh miệng” làm cho biết bao vụ án “kinh thiên động địa” rơi vào ngõ cụt, kể từ khi CSVN “cướp chính quyền” và áp đặt ách cai trị bạo ngược lên toàn dân tộc VN.

“Tư duy lệnh miệng” xói mòn và tàn phá khốc liệt “tính trách nhiệm” trong mỗi con người Việt Nam trên mọi lãnh vực, không chỉ trong lãnh vực bảo vệ chủ quyền biển đảo.

“Tư duy lệnh miệng” biến con người trở nên đớn hèn, bạc nhược, vong thân, vong bản và từ đó dẫn đến vong quốc!

Kẻ thích “tư duy lệnh miệng” là những kẻ vô học, vô trách nhiệm, chà đạp luật pháp và các chuẩn mực văn minh của loài người.

Những kẻ yêu chuộng “tư duy lệnh miệng” là những con người tôn thờ “bạo quyền” và chúng hằng tin “bạo quyền” là phương cách duy nhất hiệu quả để quản trị quốc gia, trong khi không thấy được những tác hại khôn lường do “tư duy lệnh miệng” gây ra!

Không cần đề cập những vụ án thuở “xa xưa” của người CSVN, bởi những tấm gương tày liếp như; Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Vũ Nhôm v.v… vẫn còn nóng hổi.

Tôi cũng từng vấp phải “tư duy lệnh miệng”!

Khoảng năm 2006, Đài Truyền Hình Tp.HCM (HTV) xây dựng cột antenna với độ cao 252m để thay thế cột cũ (cao 125m) do chế độ VNCH để lại. Đây cũng là lần đầu tiên, trên toàn quốc, cần có 1 cột antenna đáp ứng nhu cầu vào lúc bấy giờ. Hợp đồng được ký giữa HTV và nhà sản xuất Hoa Kỳ.

Mọi việc tiến hành suôn sẻ và khá nhanh chóng với nền hành chính trì trệ, bởi HTV luôn được “ưu ái và dòm ngó kỹ lưỡng” vì vai trò quan trọng của nó!

Khi cột antenna được dựng lên khoảng trên 100m, một hôm, Tổng Giám đốc thời bấy giờ – Huỳnh Văn Nam (con trai của người được gọi là “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ), lúc đó đang đi công tác tại Mỹ, gọi điện cho tôi và… “truyền lệnh miệng”: Tạm ngưng thi công!

Sau phút choáng váng, tôi hỏi lý do phải tạm ngưng.

Ông Huỳnh Văn Nam cho biết, Nguyễn Văn Đua (lúc bấy giờ là Phó bí thư thường trực Thành ủy Tp.HCM) cũng… “truyền lệnh miệng” trực tiếp với lý do: Trong mắt Ba Đua, cột antenna chỉ “cao cỡ đó mà rung lắc dữ quá”! Ba Đua sợ nó…sụp, khi đạt đến độ cao theo thiết kế (!).

Sau một ngày suy nghĩ, tôi quyết định để bên thi công tiếp tục công trình trong lặng lẽ. Tôi dặn viên chỉ huy trưởng công trình người Mỹ: Ông cứ làm việc bình thường. Bất cứ ai nếu xuống gặp ông, hãy nói với họ làm việc với tôi.

Công trình thi công đúng tiến độ theo hợp đồng. Trong khoảng thời gian đó, cũng không có bất kỳ một nhân vật nào ở Thành Ủy hay UBNDTP hoặc Sở Xây Dựng, Sở KH & ĐT v.v… xuống “dòm ngó”!

Chừng khoảng 2 tháng sau, ông Huỳnh Văn Nam về Việt Nam. Tôi chủ động gọi điện và báo là công trình đã hoàn thành, chờ nghiệm thu và khánh thành.

Ông Nam trố mắt kinh ngạc và trầm ngâm: Tại sao anh biểu em ngưng mà không nghe?

Tôi “giả điên” mà rằng: Ủa?! Anh có dặn hả anh? Thiệt tình em không nhớ!

Lúc này thì ông Nam không còn giữ bình tĩnh nữa và gay gắt: Ông Ba Đua sẽ “kỷ luật” tất cả, kể cả tao và mày!

Tôi thủng thẳng hồi đáp:

Anh đừng lo! Ổng ra “lệnh miệng”, có bằng chứng đâu mà ngại. Lời nói “gió thoảng mây bay” thôi anh! Nhưng công trình mà ngưng là anh “chết” và em là người “chết chung” [*], bởi hợp đồng đã ký rồi. Mọi việc đã được tính toán kỹ lưỡng và thỏa thuận (thời gian thi công, các sự cố xảy ra, thời hạn bảo trì – bảo hành, thanh toán v.v… kể cả phạt tiền nếu lỗi do bên A hay bên B gây ra làm công trình chậm trễ).

Nếu công trình giả sử “sụp” thì “thằng Mỹ” nó chịu, anh không cần lo. Cái đáng lo là dừng theo “lệnh miệng” thì ông Ba Đua có bỏ tiền ra đền không? Anh và em lấy tiền đâu mà đền? Tiền đô đó anh! Không đùa giỡn được đâu!

Cuối cùng, cột anntenna 252m nghiệm thu và khánh thành đúng như mong muốn.

Kết

Người CSVN nên giật mình về “tư duy lệnh miệng”, bởi cũng cần nhắc lại câu ca dao:

Trăm năm bia đá cũng mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

“Bia miệng” sẽ được “trao tặng” cho những kẻ nào ưa thích “lệnh miệng” là vậy!

______________

Nguyễn Ngọc Già

Giải thích: Tại sao NNG bị “chết chung”.Vì hợp đồng “kiểu CS” luôn có người “ký nháy” trước khi được ký chính và đóng dấu. Lý do? Để khi có sự cố gì xảy ra thì “người ký nháy” sẽ phải “đưa đầu” ra chịu trước hết! “Ký nháy” là “đặc sản” của CSVN – độc nhất vô nhị trên thế giới!

Image may contain: 11 people, people sitting
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) là một luật sư, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam.

Lê Vi

Ông học giỏi, năm 1926 đỗ Tú tài triết học (16 tuổi) hạng ưu, được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại Trường đại học Tổng hợp Montpellier (1927). Năm 1929, ông đỗ Cử nhân văn chương, và năm sau đỗ Cử nhân Luật (1930).

Năm 23 tuổi (1932), ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp, được khen ngợi là một tài năng hiếm có.

Năm 1932 Ông về nước và mở văn phòng luật sư riêng.

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông giúp đỡ Việt Minh, hiến 3 căn biệt thự cho chính quyền mới (số 1-2 Mai Xuân Thưởng), từ 1945 đến 1956 ông lên Việt Bắc, đi theo kháng chiến.

Tháng 10 năm 1956 ông viết bản tham luận về những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, đề xuất xây dựng chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự và trả lời phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Đang.

Ông bị chính quyền trừng phạt nặng nề, đuổi việc, không có lương, cuộc sống khó khăn, bị công an giám sát cô lập suốt 30 năm sau đó.

Năm 1991 ông hoàn thành cuốn Hồi ký “Kẻ bị khai trừ”, viết về những trải nghiệm của ông từ năm 1945 đến 1989.

Ngày 13 tháng 6 năm 1997, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường qua đời vì tuổi già tại nhà số 34 phố Tăng Bạt Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Nguồn Lịch sử Việt Nam qua Ảnh

Image may contain: 1 person, closeup
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Lấy lại niềm tin, tình yêu thương của dân: Có quá trễ?

Nguyễn Đình Ngọc
…Kiến trúc sư Trần Thanh Vân, một trí thức phản biện ở Hà Nội, cho rằng giờ mà kêu gọi lấy lại niềm tin và tình yêu thương của nhân dân chẳng khác nào mất bò mới lo làm chuồng:

“Mất lâu rồi, không có tình thương yêu nào không có tin tưởng nào hết. Thực sự mà nói thì ông biết là không có niềm tin, không còn được nhân dân tin, ông biết thế là tốt. Tôi không quan tâm đến đại hội đảng vì nói thật hội nghị gì cũng chỉ là hình thức, nội bộ họ đang đấu tranh với nhau. Tôi chẳng quan tâm đại hội đảng đâu, tôi không chửi họ và không theo họ thế thôi, kệ!”

Toàn bộ bài phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng vào khi bế mạc Hội Nghị Trung Ương 11 chứng tỏ ông không đủ sức thuyết phục, là nhận định của ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu –Ban Dân Vận Trung Ương Đảng:

“Bởi vì toàn nói chuyện chung chung thôi, khen Ban Chấp Hành Trung Ương là có nhiều ý kiến sắc sảo, nhưng ý kiến gì thì không rõ. Khen ba bốn cái văn phòng làm việc tử tế nhưng đề xuất được cái gì thì cũng không nói rõ, tới đây sẽ chuyển biến cái gì, tập trung vào việc gì cũng không nói rõ. Trong Huế tôi có câu “ném cát bụi tre”, nghe rào rào, ào ào như thế, tôi thấy chả có tin tưởng gì.”

Ông Nguyễn Khắc Mai phân tích tiếp:

“Ông Trọng nhiều lần nói rằng tình hình Việt Nam chưa bao giờ tốt đẹp như hiện nay. Ông tự hào về một số kết quả ví dụ tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng và các thứ khác. Thế nhưng dân người ta đặt vấn đề là kết quả như thế, thành tựu như thế mà phải trả một giá rất đắt vì sự suy đồi của con người và xã hội, đặc biệt sự suy đồi thoái hóa của cơ quan hành pháp. Nói thế chỉ là lên dây cót cho anh em thôi chứ còn thực sự lòng dân người ta chán chê ra, người ta yêu cầu mười thì anh làm được vài ba, có khi còn lỗi âm, thử hỏi làm sao mà dân tin được.”…

Muốn biết rõ ý dân, lòng dân đối với đảng và Nhà Nước thì cứ mạnh dạn trưng cầu dân ý sẽ hai năm rõ mười, là ý kiến của nhà báo, blogger, cựu tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già từ Sài Gòn:

“Từ Điều 86 cho đến Điều 93, cả trong 8 Điều này đều qui định về quyền hạn và trách nhiệm của một chủ tịch nước. Thiết nghĩ bổn phận là chủ tịch nước thì ông cứ thi hành theo đúng Hiến Pháp.

Ông Nguyễn Phú Trọng nói rằng cần lấy lại niềm tin, tình thương của nhân dân là nói cho đảng của ông ta. Suốt 70 năm qua cái gọi là niềm tin, tình yêu của dân dành cho đảng chỉ là sự nhồi sọ. Tôi xin phép mượn tựa đề một cuốn sách của nhà văn Vũ Thư Hiên, tức là người miền Bắc lúc bấy giờ và người miền Nam sau này đều sống trong cảnh” Đêm Giữa Ban Ngày”. Người dân Việt Nam đã bị lầm quá sâu và ông Nguyễn Phú Trọng tưởng rằng người dân hiện nay vẫn còn lầm lẫn như vài chục năm về trước nên ông ta bảo là lấy lại niềm tin. Thực chất người dân không còn tin đâu.

Nếu họ dám thực hiện trưng cầu ý dân, và Luật trưng cầu ý dân đã có hiệu lực rồi, nếu cho rằng người dân Việt Nam hiện nay còn tin tưởng còn thương yêu đảng cộng sản Việt Nam thì trưng cầu ý dân ngay đi.”…

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Năm 2019 ngoài Hà Nội bà con xếp hàng chờ lấy nước

Huỳnh Thị Thu Hồng is feeling bad with Huỳnh Thu Hồng and Huỳnh Thị Hường.
Những năm của 1975 cửa hàng chất đốt bà con chờ mua dầu hỏa hình này ở ngoài Bắc 😒..Vụ xếp hàng chờ mua dầu hỏa , bột cưa, tại Tam Kỳ (Bột cưa của gổ đó bà con ạ )😞về nấu, em có tham gia rồi nha 😏 2 chị em mình thức 3 giờ sáng xếp hàng mới mua được 2 tạ bột cưa, rả cả thân người khi phải chen chúc 😔

Năm 2019 ngoài Hà Nội bà con xếp hàng chờ lấy nước 😞😒Em chưa nhưng chắc cũng sắp rồi 😞

Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: one or more people, people standing, crowd and outdoor
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Tôi đã ra thăm gặp chồng tôi là Ký Giả Trương Minh Đức…

Nguyễn Kim Thanh is with Trần Bang and 13 others.
Hôm nay ngày 16/10/2019 tôi đã ra thăm gặp chồng tôi là Ký Giả Trương Minh Đức ….tại trại giam Số 6 …Thanh Chương …Nghệ An .

Kỳ thăm chồng lần này ,đúng thật là ko may mắn với tôi, vì đã lỡ mua vé máy bay gần một tháng nay rồi , nên dù có mưa bão cũng phải đi ,trưa hôm qua ngày 15 ở Sài gòn đi thì nắng đẹp ,cũng ko biết ngoài miền Trung ..toàn Thành phố Vinh ..Nghệ An …mưa tầm tã kéo dài mấy ngày liền , đường ngập lụt có chỗ xe ngập hết bánh xe ,trận mưa ko ngớt , cứ vừa bớt trận mưa này ,thì lại đến trận mưa khác xối xả rất lớn ,đến nỗi cả đêm tôi lo lắng ko sao ngủ được vì nghĩ sáng mai mưa lớn ngập lụt thế này … liệu xe họ có chạy được ko ???

Vì đường vào trại giam ,đường đá lởm chởm ổ gà bình thường khô ráo đã khó đi , mà giờ mưa lớn ngập lụt nữa , thì sao xe chạy được, bao nhiêu những trăn trở lo lắng , cứ suy nghĩ ko biết mai có thăm gặp chồng được ko ???
Mà đúng như vậy cả một tuyến xe đường dài như vậy , có ba người khách …cũng tội nghiệp cho các bác tài chủ xe …vì mưa gió ngập lụt vậy nên ko ai đi .
Đường ngập lụt vậy nên xe ko đến nơi đón rước lên xe được ,nên Khi tôi Bước ra khỏi phòng nghỉ ,phải sắn quần cao lên đến đầu gối , giày thì cho vào bọc sách theo ,rồi đi chân ko , bước thấp bước cao , ko thấy đường , để đi đến chỗ nên xe . Giỏ sách, ba lô thì ướt hết .

Khi vào đến trại giam là 8 g30 vào cổng làm thủ tục thăm nuôi , họ gọi cho cán bộ ra lấy sổ thăm ,chứng minh thư vào cho giám thị trại giam duyệt xét …mất hơn nửa tiếng ,thì họ ra gọi mình đi vào trại , đường vào tới chỗ phòng thăm gặp gần 1 cây số , mưa lớn xối xả ba lô đeo và Vali đựng đồ ướt đẫm nước ,còn người thì mặc áo mưa ,nhưng mưa lớn xong đi bộ gần cả một cây số ,nên cũng ướt gần hết , cán bộ họ chạy xe ra lấy sổ và chạy vào , họ chạy để theo dõi tôi ,một khúc thì lại đứng đó chờ mình gần tới , thì họ lại chạy tiếp , có vẻ nay ngày mình thăm trời mưa lớn ,họ cũng vất vả nên khó chịu , vào được đến nơi thì hai bàn chân đau buốt rớm máu vì đá nhỏ lởn chởm xong lại nước ngập , cán bộ nói sao chị đi chân không sao chịu nổi , vậy mà họ ko nỡ cho mình quá dang đi xe vào trong trại ….

Vào tới nơi phòng thăm gặp , vì nay trời mưa nên tôi đi chậm và lâu hơn ,nên họ đã cho anh Đức ra gần đến nơi , họ lại cho anh đứng lấp vào những gốc cây ,chờ tôi đến trước ,vợ thấy chồng ,chồng thấy vợ hai người mặc áo mưa lụp xụp bao nhiêu cảm xúc ùa về tôi đã khóc , lúc đó ko biết khóc vì cái gì … có phải vì mưa gió thế này mà vợ chồng cũng vẫn gặp được nhau phải ko ??, hay vì sao !!! ko biết …

Câu đầu anh nói trời mưa thế này anh rất xót xa , vì em hay đau bệnh ,vất vả đường xá xa xôi mưa gió ngập lụt mà em cũng phải đi , chắc là mua vé máy bay rồi , anh hiểu được cả như vậy , lúc đó là tôi đã phải mạnh mẽ lên ,rồi nói anh đừng lo , ra đây nhìn thấy anh như thế này ,thì em an tâm rồi có vất vả một chút ko sao? Nhìn thấy chồng là bao nhiêu mệt mỏi ướt lạnh quên đi rồi ….

Anh Đức nói đơt này sức khỏe anh ổn định hơn đợt trước một chút và tôi nhìn thấy chồng đỡ xanh và ko tái mét như đợt trước , vì nay anh đã ăn uống bình thường lại , anh nói giờ hàng ngày anh tập sáng tác nhạc ,học anh văn , thỉnh thoảng chơi đàn một lúc , rồi tập thể dục , còn thời gian thì đọc kinh cầu nguyện cho gia đình vợ con , và cầu cho quê hương đất nước có những đổi mới , để bận rộn bớt suy nghĩ thì đầu óc đỡ căng thẳng thì huyết áp tim mạch đỡ tăng cao , anh nói dù anh ở trong này , nhưng anh ko để phí thòi gian lúc nào , anh phải cố gắng làm bất cứ cái gì để giúp ích cho mình và cho xã hội , anh rất tin tưởng rồi chúng ta sẽ có một tương lai tươi sáng ….

Tinh thần anh ổn định ,rất mạnh mẽ ,kiên cường , anh nói anh đã đòi lên gặp Giám Thị Trại giam Thái Văn Thuỷ …nói về tại sao những lúc gia đình chúng tôi nói chuyện luôn bị cắt ngang , dừng cuộc nói chuyện ,cắt giảm giò thăm ,anh Đức đã đưa ra đòi hỏi và giải thích những bức xúc và đấu tranh những quyền lợi của anh em trong đó … ông GT hứa sẽ xem xét và giải quyết tốt hơn .hôm nay vợ chồng tôi được gặp 45 phút và lúc anh ra tôi và anh nắm được tay nhau một chút .để truyền hơi ấm cho nhau bớt lạnh .

Anh Đức nói Tất cả anh em trong này cũng khỏe ,anh Túc ..thầy giáo Quang Thực …cũng khỏe anh em luôn quan tâm yêu thương nhau và giúp đỡ lẫn nhau …
Anh hỏi thăm đến MS Tôn , tôi kể anh ở cùng nhóm Thúy Nga ..Vịnh Lưu và Oai ở Gia Trung Gia Lai , thế là cán bộ ko cho nhắc nữa họ gõ bàn nên ko nói thêm được về các anh em .

Còn nói Ngày mai là ngày 17/10/2019 là ngày xét xử phiên toà Sơ Thẩm em Nguyễn Năng Tĩnh . Xin Chúa cho em được bình an ,sự sáng suốt khôn ngoan . Biết rằng những việc em làm là đúng , em vô tội , nhưng xã hội này tất cả những người yêu nước hoàn toàn bị những bản án bất công và oan sai .

Tôi muốn chia sẽ cho anh chị em biết , …( có thể cũng có người sẽ nói tôi than thở dài dòng hay làm màu để mọi người thương hại hay gì ….) …nhưng vì tôi muốn nói chia sẻ cho mọi người biết ,dù mệt mỏi vất vả , nhưng chúng tôi luôn cố gắng và mạnh mẽ ,dù thế nào cũng ko ngại khó khăn , thì những người thân người chồng của chúng tôi mới kiên cường mạnh mẽ yên tâm trong chốn lao tù , và cả những người đang đấu tranh ngày đêm cho quê hương đất nước , cũng có thêm động lực là tất cả chúng ta đều ko sợ khó khăn vất vả ko chùn bước và sợ hãi trước nhà cầm quyền CS…

Chúng tôi muốn được sự quan tâm động viên của mọi người rất nhiều ..
Thì mới cảm thấy ko mệt mỏi và ấm áp để làm hậu phương cho chồng .

Tôi kể anh Đức nghe ở ngoài Quý Cha Quý Thầy cùng tất cả bạn bè anh chị em trong và ngoài nước gởi lời thăm hỏi anh và các anh em trong đó rất nhiều …

Anh Đức cũng gởi lời thăm hỏi đến Quý Cha Quý Thầy cùng tất cả anh chị em đã luôn yêu thương quan tâm Chia sẻ giúp đỡ anh cách này cách khác những khó khăn trong thời gian qua .

Xin Chúa và Mẹ Maria luôn gìn giữ che chở ban ơn cho chồng con và các anh chị em TNLT được khỏe mạnh bình an và tránh mọi sự dữ và gặp mọi sự lành .

Nguyễn Kim Thanh.

Image may contain: 3 people, including Nguyễn Kim Thanh, people sitting and indoor
Image may contain: Nguyễn Kim Thanh, standing and outdoor
Image may contain: Nguyễn Kim Thanh, standing
Image may contain: outdoor
Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Để lại phản hồi

Hà Lội – thiên đường đáng…chết !

Image may contain: 1 person, standing, meme, text and outdoor
Hải UyênFollow

Hà Lội – thiên đường đáng…chết !

Muốn nô lệ ngoan, hãy để chúng thật đói thật khát …và lâu lâu vất cho chúng một ít thức ăn, nước uống chúng sẽ nhớ ơn ta suốt đời.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Nu ốt trắng 1.700 tỉ tiền BHXH, Thứ trưởng Lê Bạch Hồng chỉ nhận 8 – 9 năm tù để cải tạo trở thành công dân có ích

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

VINH ƠI ! LU CHẠY LŨ ĐI

Image may contain: one or more people and outdoor

Lm Trần Chính Trực is with Trần Huy and Trần Chính Trực at Lm Jos Trần Chính Trực.

VINH ƠI ! LU CHẠY LŨ ĐI

Hôm nay 16/10/2019, tôi có việc đi Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Đi được một lúc, ông bạn tôi gọi điện và gửi cho tôi tấm ảnh này và nói: CHA ĐƯA LU ĐI KHÔNG ? Cha mà vào đây thì phải đi thuyền. Tôi nói: trời mới mưa phải đưa lu chống lũ hả ? Lũ quan tham đó. Nói xong, tôi quay trở về xứ Đông Kiều.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi