Cuộc sống của chúng ta sẽ có kết thúc. Chết là gặp gỡ với Thiên Chúa

Cuộc sống của chúng ta sẽ có kết thúc. Chết là gặp gỡ với Thiên Chúa

11/17/2017

Suy tư về ngày cùng tận của thế giới và cũng là ngày cuối cùng của mỗi người chúng ta: đó là lời mời gọi mà Giáo hội ngày nay cũng nói với chúng ta qua đoạn Tin mừng thánh Luca 17,26-37 trong Thánh lễ ngày hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ điều này trong Thánh lễ tại nhà nguyện thánh Marta sáng hôm nay.

Đoạn Tin mừng thuật lại cuộc sống bình thường của những người nam nữ trước đại hồng thủy và trong thời ông Lot. Họ ăn uống, mua bán, cưới vợ lấy chồng …, nhưng rồi ngày Thiên Chúa tỏ hiện đến và mọi sự đều thay đổi. Giáo hội, Mẹ của chúng ta, muốn mỗi người chúng ta suy nghĩ về chính cái chết của mình.

Tất cả chúng ta đều quen thuộc với sự bình thường đều đặn của cuộc sống, giờ giấc, công việc, nhiệm vụ, nghỉ ngơi và chúng ta nghĩ rằng cuộc sống thì luôn luôn như thế. Nhưng rồi một ngày, Chúa Giêsu sẽ gọi chúng ta “hãy đến!”. Với một số người, tiếng gọi của Chúa sẽ là bất ngờ, còn đối với những người sau một thời gian dài nằm bệnh, chúng ta không biết có bất ngờ đối với họ không. Tiếng gọi của Chúa sẽ đến. Tiếng Chúa gọi sẽ là một sự ngạc nhiên, nhưng rồi sẽ có một ngạc nhiên khác của Chúa, đó là sự sống đời đời. Bởi thế, Giáo hội trong những ngày này nói với chúng ta: dừng lại một tí, dừng lại để suy nghĩ về cái chết.

Ngày nay việc tham dự các đám tang, hay ngay cả đi đến đất thánh (nghĩa trang), đôi khi trở thành một biến cố xã hội. Người ta đi đến đó, nói chuyện với những người khác, trong một số trường hợp người ta còn ăn uống. Nó trở thành dịp hội họp gặp gỡ thêm, để không phải suy nghĩ. Ngày hôm nay, Giáo hội và Thiên Chúa, với sự tốt lành của mình, nói với mỗi người chúng ta: Hãy dừng lại, dừng lại, không phải mọi ngày sẽ luôn như hôm nay. Đừng trở nên quen thuộc với suy nghĩ rằng cuộc sống hôm nay sẽ là vĩnh cửu. Sẽ có một ngày bạn sẽ bị mang đi, người khác sẽ ở lại, bạn sẽ bị mang đi, bạn sẽ bị mang đi và đi với Thiên Chúa. Hãy nghĩ rằng cuộc sống của chúng ta sẽ có kết thúc. Nghĩ như thế là điều tốt.

Nó là điều tốt vì ví dụ, trước khi bắt đầu một ngày làm việc mới, chúng ta có thể suy nghĩ: Hôm nay có thể là ngày cuối cùng, tôi không biết, nhưng tôi sẽ làm công việc thật tốt. Và chúng ta làm tốt như thế, trong các mối liên hệ trong gia đình hay khi chúng ta đi khám bệnh.

Suy nghĩ về cái chết không phải là một sự tưởng tượng tồi tê.Tồi tệ hay không, tùy thuộc ở tôi, tôi nghĩ đến nó như thế nào. Nhưng nó sẽ đến, cái chết sẽ đến. Và ở đó sẽ là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, và điều này sẽ là nét đẹp của cái chết. Nó sẽ là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, sẽ là Chúa đến gặp, sẽ là Ngài nói: “hãy đến, hãy đến, kẻ được Ta chúc phúc, hãy đến với Ta.”

Khi Chúa gọi thì sẽ không còn thời giờ để sắp xếp mọi vấn đề của chúng ta. Đức Thánh Cha kể lại điều một linh mục đã kể với ngài: Một ngày kia tôi gặp một linh mục, hơn kém 65 tuổi, vị linh mục đó không cảm thấy khỏe. Linh mục đó đi khám bệnh và bác sĩ nói: “Xem kìa, sau khi khám bệnh, cha có bệnh này. Đây là một điều xấu nhưng có lẽ chúng ta đang trong thời gian để chặn bệnh này lại. Nếu nó không dừng lại, chúng ta sẽ chữa cách khác và nếu nó không hết, chúng ta sẽ bắt đầu bước đi và tôi sẽ đồng hành với cha cho đến phút cuối.” Kết thúc câu chuyện, Đức Thánh Cha khuyến khích: Chúng ta cũng thế, chúng ta cùng đồng hành với nhau trên con đường này, chúng ta làm tất cả nhưng luôn luôn hướng về lúc đó, về ngày mà Thiên Chúa sẽ đến để đưa tôi đến với Ngài.

(Hồng Thủy, RadioVaticana 17.11.2017/ REI 17/11/2017)

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Nước Thiên Chúa

Nước Thiên Chúa

(16.11.2017 – Thứ năm Tuần 32 Thường niên)

Lời Chúa: Lc 17,20-25

20 Khi ấy, người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Người trả lời : “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. 21 Và người ta sẽ không nói : ‘Ở đây này !’ hay ‘Ở kia kìa !’, vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.”

22 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Sẽ đến thời anh em mong ước được thấy một trong những ngày của Con Người thôi, mà cũng không được thấy. 23 Người ta sẽ bảo anh em : ‘Người ở kia kìa !’ hay ‘Người ở đây này !’ Anh em đừng đi, đừng chạy theo. 24 Vì ánh chớp chói loà chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ như vậy trong ngày của Người. 25 Nhưng trước đó, Người phải chịu đau khổ nhiều và bị thế hệ này loại bỏ.”

Suy Niệm

Từ sau khi dân Ítraen định cư ở đất Canaan,

Thiên Chúa được họ coi như một vị Vua cai trị mọi dân tộc.

Đặc biệt Ngài là Vua ngự giữa dân Ítraen để lãnh đạo và chăm sóc họ.

Các vị vua trần thế đã xuất hiện trong dòng lịch sử của Ítraen

như những người phục vụ cho Đức Vua, cho Nước Thiên Chúa.

Tiếc thay có những vị vua đã không làm tròn sứ mạng.

Trải qua bao triều vua của nước Ítraen, bao thịnh suy của đất nước,

từ sau khi lưu đầy trở về, dân chúng chỉ còn biết chờ một Đấng Mêsia.

Họ tin Đấng ấy sẽ khai mở Nước Thiên Chúa.

“Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (c. 21).

Đức Giêsu đã nói với các ông Pharisêu như vậy

khi họ hỏi Ngài khi nào Nước Thiên Chúa đến.

Nước ấy không đến một cách lộ liễu ở đây hay ở kia để kiểm tra (c. 20).

Người Pharisêu không nhận ra Nước ấy đang ở giữa họ.

Chỉ ai biết nhìn, mới nhận ra Nước ấy đang hiện diện và hoạt động

nơi lời giảng và các phép lạ của Đức Giêsu.

Khi bệnh được khỏi, khi quỷ bị trừ, khi tội được tha,

khi con người biết hoán cải để sống những đòi hỏi của Đức Giêsu,

khi ấy Nước Thiên Chúa có mặt và tăng trưởng.

¬¬¬Đức Giêsu đã khai mở Nước Thiên Chúa.

Và Nước đó vẫn lớn lên từ từ qua dòng thời gian.

Như hạt giống được gieo trong đất, đêm hay ngày cũng cứ lớn lên,

như chút men làm dậy khối bột, như hạt cải thành cây cao rợp bóng,

Nước Thiên Chúa cũng cần thời gian để đạt đến chỗ viên mãn.

Hai ngàn năm trôi qua, Nước Thiên Chúa đã lớn lên về mọi mặt.

Nhưng Kitô hữu chúng ta vẫn thấy còn nhiều điều phải làm

để Nước đó được nhìn nhận bởi hơn 6 tỷ người trên trái đất.

Ngày nào thế giới còn chiến tranh, bạo động, còn áp bức, bất công,

ngày nào nhân loại còn bệnh tật đói nghèo, còn nô lệ cho vật chất,

ngày ấy Nước Thiên Chúa chưa ngự trị trên địa cầu.

Nơi nào công lý và hòa bình, khoan dung và nhân hậu,

chi phối trái tim và cách hành xử giữa người với người,

nơi đó Nước Thiên Chúa đã đến gần hơn.

Chúng ta không chỉ cầu xin cho Nước Cha trị đến (Mt 6, 10).

Chúng ta biết mình được mời gọi để xây dựng Nước đó trên trần gian.

Để chuẩn bị cho Ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang,

chúng ta còn bề bộn công việc phải làm.

Ngài phải có chỗ trong lòng dân tộc, giữa thế kỷ hai mươi mốt.

Nhưng trước hết Ngài phải có chỗ trong lòng chúng ta.

Xin được đón lấy Nước Thiên Chúa như trẻ thơ, như người nghèo tay trắng.

Xin được quảng đại bán tất cả để mua viên ngọc quý là Nước Trời.

Xin được chia sẻ cho Giêsu nơi những người anh em bé nhỏ nhất.

Vì Nước Thiên Chúa là một tiệc vui quy tụ mọi người từ bốn phương,

xin được mở rộng vòng tay từ bây giờ để ôm lấy cả thế giới.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới :

Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này

là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.

Con mơ ước

không còn những Ladarô đói ngồi ngoài cổng,

bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.

Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,

không còn những cô gái đứng đường

hay những người ăn xin.

Con mơ ước

những ngưòi thợ được hưởng lương xứng đáng,

các ông chủ coi công nhân như anh em.

Con mơ ước

tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,

các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.

Lạy Chúa của con,

con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,

xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,

và xanh của bao niềm hy vọng

nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.

Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,

thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

Đối diện với cái chết

Đối diện với cái chết

01-11-2017

Ronald Rolheiser, 2010-01-03

Vài năm trước đây, người em họ của tôi chết trong một tai nạn nghề nghiệp. Anh phụ trách chất hàng lên toa xe lửa và khi sợi giây cáp bật đứt dưới sức nặng ngàn cân của sức ép, thì người anh như bị cắt đôi. Anh chết trên đường đến bệnh viện. Anh còn trẻ, đang độ tuổi xuân, là lực sĩ tài năng có mặt trong các đội thể thao địa phương.

Cái chết của anh thật đau đớn và buồn thảm, tuy vậy gia đình và bạn bè anh có vài chuyện an ủi: Những ngày cuối cùng của anh thật dễ thương, các hành vi cuối cùng của anh thật nồng ấm: Trước đó vài ngày, anh tạt qua thăm mẹ và ăn trưa với mẹ, có một thời gian vui vẻ tuyệt vời, và khi đi về anh hôn mẹ chào từ giã, mẹ anh yên lòng biết anh thương mẹ. Cách đó mấy tuần, anh đưa người em út, người em rất thần tượng anh, đi nghỉ vài ngày để xem các trận đấu bóng bầu dục. Theo cách mọi người vẫn nghĩ, anh đã từ giã thế gian trong bình an, anh chết trong khi làm việc. Chất hàng là công việc của anh, khi giây cáp bị đứt, anh bị chết, anh ở đúng nơi anh phải ở, đúng giây phút làm việc của anh. Nếu anh không ở đó vào lúc đó, một người khác cũng sẽ ở đó và họ sẽ chết. Anh chết ở cương vị của anh, đang làm công việc của anh, làm việc lương thiện, anh kiếm sống, anh là nạn nhân của một chuyện bất ngờ, ở nơi mà anh phải ở.

Rốt cùng đó là những gì chúng ta cố gắng để đảm trách cho chính chúng ta. Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ.

Mỗi người chúng ta, không ngoại trừ ai, bất kể tuổi tác, sức khỏe như thế nào, chúng ta đều mong manh, đều không biết gì trước, đều có thể chết, một nhịp tim hụt là rời thế gian, một cú đột quỵ là mất cuộc sống, một tai nạn cho chúng ta biết sức mạnh của chúng ta là phù du, sợi giây cáp đứt và chết trong xe cứu thương. Chúng ta có thể cẩn trọng với mạng sống của mình, sống thận trọng, cố gắng đảm bảo an toàn cho mình, cho người thân, nhưng cuối cùng vẫn không đủ. Chúng ta không thể bảo đảm tim của chúng ta luôn đập.

Vậy chúng ta phải làm gì?

Chúng ta có thể sống cẩn thận, săn sóc sức khỏe và sự an toàn của chúng ta, và nếu chúng ta có đức tin, chúng ta có thể xin Chúa quan phòng. Đương nhiên đó là điều tốt. Nhưng chúng ta có thể làm những chuyện khác, những chuyện còn quan trọng hơn.

Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ. Chúng ta có thể luôn luôn cố gắng giữ nhiệt tâm, phòng hờ đó là những hành vi cuối cùng của chúng ta. Chúng ta có thể ăn điểm tâm với mẹ và tỏ lòng âu yếm mẹ. Chúng ta có thể đưa người thân đi xem trận đấu bóng bầu dục và cố gắng hoà thuận với mọi người. Cốt yếu, chúng ta có thể trung tín, chân thật với những người chúng ta thương, chân thật với những gì chúng ta tin. Chúng ta ở đúng trách vụ của mình, trong dấn thân, trong tình yêu và bổn phận.

Rốt cùng, đó là những gì chúng ta có thể làm, và rốt cùng, như thế là đủ. Ý thức về tính mong manh và về cái chết không có nghĩa là chúng ta sợ hãi, khiếp nhược, rụt rè trước cuộc đời hay cảm thấy tội lỗi vì vui sướng. Chúng ta không buộc phải hướng về một cuộc sống ở thế giới khác mà buông bỏ cuộc sống này. Ngược lại, chúng ta cũng không buông tuồng vui hưởng vì cuộc sống này ngắn ngủi và đầy chuyện không ngờ tới được. Đó là lời mời gọi lòng trung tín; luôn luôn cố gắng để trụ nơi chúng ta phải trụ, trong nhiệt tâm, tình yêu, bổn phận và vui hưởng.

John Powell đã viết có thể có hai thảm kịch trong cuộc sống, mà chết trẻ không nằm trong số đó. Hai thảm kịch đó là: Sống mà không yêu, yêu mà không bao giờ nói lên được tình yêu và lòng biết ơn. Quả đúng như vậy.

Có thể vì tuổi của tôi và cũng có thể đó là chỉ là một thời gian khác thường, nhưng suốt năm vừa rồi, không một tháng nào trôi qua mà thần chết không lấy đi một người tôi thương mến. Chưa bao giờ tôi ý thức tính mong manh của cuộc sống như bây giờ. Về mặt bên ngoài nó làm cho tôi phải nhìn lại sức khỏe của tôi: Tôi đã săn sóc đủ cho tôi? Tập thể dục đủ chưa? Chế độ ăn uống đúng không? Nghỉ ngơi đủ không?

Tuy nhiên, ở tầng mức sâu hơn, nó buộc tôi nhìn lại sức khỏe của tôi theo nghĩa rộng hơn: Tôi có đang trụ nơi tôi phải trụ? Liệu tôi có trung tín với con người của tôi và với những gì tôi tin để mà thanh thản biết rằng tôi đang làm những việc tôi phải làm, giả như hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi? Những gì tôi làm có nồng ấm không?

Tôi cố gắng trung tín mỗi ngày – cầu nguyện, dâng thánh lễ, nhiệt tâm với mọi người, làm công việc của tôi tốt nhất có thể, biết rằng, nếu tôi làm như vậy, tôi đang trụ nơi tôi phải trụ và tôi có thể vui hưởng cuộc sống tốt đẹp này, không mặc cảm tội lỗi, không sợ hãi, sẵn sàng, đứng trụ ngay thẳng, dù sợi giây cáp có đứt thình lình.

J.B. Thái Hòa dịch

(phanxico.vn)

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

Mugabe: độc tài nào cũng tan hoang đất nước

CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI,SỨC TÀN PHÁ KINH KHỦNG CỦA MỘT QUỐC GIA,DÂN TỘC VÀ LOÀI NGƯỜI..!

Mugabe: độc tài nào cũng tan hoang đất nước

– Tin tức từ đất nước Zimbabwe vẫn còn khá lùng bùng. Quân đội đưa xe tăng chận các ngã đường chính tại thủ đô, và cô lập Tổng thống Mugabe tại nhà riêng, nhưng vẫn tuyên bố trên đài truyền hình “đây không phải là cuộc đảo chính”. Tuy nhiên, ít nhà phân tích nào còn tin ông Mugabe sẽ trở lại nắm quyền.

Robert Mugabe là một nhà độc tài khét tiếng Phi Châu. Năm nay 93 tuổi, ông đã cai trị đất nước này 37 năm, nhân danh công trạng lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Anh, giải phóng đất nước vào cuối thập niên 1970 của thế kỷ trước.

Kể từ đó, phần đất nổi tiếng giàu đẹp Rhodesia được đổi tên thành nước Zimbabwe, được cai trị bởi độc đảng Zanu-PF, đứng đầu là ông Mugabe, và tiến nhanh xuống hàng chót trong bảng xếp hạng kinh tế thế giới. Nhà nước Zimbabwe cũng xóa sạch hệ thống nông trại nhân danh đánh tư sản da trắng, phân chia bổng lộc cho hệ thống cán bộ trung thành, và chuyên khai thác tài nguyên đem bán. Họ nổi tiếng thế giới vào năm 2008 khi mức lạm phát lên đến 231 triệu phần trăm (tức áp dụng tối đa công thức “cần tiền thì cứ in ra mà dùng” của cụ Lê Duẩn).

Ông Mugabe cũng sử dụng nhuần nhuyễn bạo lực cách mạng dựa trên quân đội và công an. Đặc biệt ông mời các “thầy” Bắc Hàn vào dạy cho các lữ đoàn hung thần chuyên trấn áp quần chúng. Cứ mỗi lần cho bầu cử mà ông có vẻ thua phiếu, hàng chục ngàn người dân tại những vùng ủng hộ ứng viên đối lập lại bị thảm sát, mặc cho thế giới lên án. Và thế là các ứng viên đối lập lại trân trọng nhượng ghế tổng thống cho ông Mugabe, rồi khép mình vào ghế phó tổng thống hoặc chạy ra nước ngoài.

Lần này, quân đội ra tay vì mới tuần trước Tổng thống Mugabe hạ bệ Phó tổng thống Mnangagwa để chuẩn bị nhường ngôi cho bà vợ trẻ Grace Mugabe (thua ông 41 tuổi). Lỗi lầm của bà Mugabe là chưa lên tổng thống đã công khai chê bai quân đội.

Zimbabwe với Robert Mugabe một lần nữa tô đậm bài học: Độc tài, toàn trị, hay chuyên chính đều làm tan hoang đất nước, dù được bọc trong lá cờ Phát-xít, Cộng Sản, hay Giải Phóng.

Tại sao vậy? Lịch sử cận đại của nhân loại đã cung cấp những câu trả lời rõ đến độ hiển nhiên:

– Điều hiển nhiên thứ nhất: Chế độ độc tài không tận dụng được sức lực và trí tuệ của toàn dân.

Chẳng ai dại gì đổ sức ra làm chỉ để cán bộ “nhân danh nhân dân” độc quyền hưởng thụ. Những người có lòng với đất nước cũng không dám đề xuất sáng kiến vì có thể bị trừng phạt nặng nề nếu không hợp ý lãnh đạo. Đặc biệt những trường hợp mới hôm nay “có công”, ngày mai đã trở thành “có tội” vì quan điểm của Đảng đã thay đổi.

– Điều hiển nhiên thứ nhì: Chế độ độc tài là ổ sinh bệnh hoạn.

Quyền lực cá nhân tuyệt đối và dành riêng cho hệ thống cán bộ trung thành, tức tương đương hệ thống vua và chư hầu, không thể không dẫn đến các loại bệnh hoạn ăn sâu vào xương tủy Đảng và làm hấp hối cả xã hội:

– Bệnh tham nhũng tràn lan như một loại thuế phí bất thành văn.

– Bệnh hoang phí trong các cung điện giữa một đất nước cạn kiệt.

– Bệnh lừa dối, bịp bợm nhau hàng ngày và được xem là qui luật tự nhiên.

– Bệnh bạo hành như giải pháp nhanh gọn cho mọi vấn đề.

– …

– Điều hiển nhiên thứ ba: Chế độ độc tài không có khả năng chữa bệnh hay đổi đường đi.

Khi cả tập thể cán bộ đang sống “an lạc” với cơ chế đó, ai nghĩ đến kế hoạch chữa bệnh thường bị loại trừ ngay bởi chính đồng đội của họ. Lãnh đạo, do đó, chỉ NÓI về các căn bệnh mà thôi.

Chế độ độc tài cũng không có khả năng đổi đường đi dù biết sẽ chết nếu tiếp tục kéo dài các căn bệnh. Lý do đơn giản là vì các lãnh tụ sau lên nắm quyền đều dựa trên “công đức” của lãnh tụ khai sáng. Họ KHÔNG dám phê bình con đường do lãnh tụ khai sáng đã chọn, đặc biệt vì con đường ấy biện minh cho chiếc ghế cai trị độc tài họ đang ngồi. Hệ quả là họ chỉ dám điều chỉnh đôi chút nhưng giữ cốt lõi nguyên thủy theo tinh thần “hoà hợp chứ không hoà tan”, “đổi mới chứ không đổi màu”.

– Điều hiển nhiên thứ tư: Chế độ độc tài luôn có sóng ngầm bất ổn rất lớn.

Khi cả 3 ngành hành pháp, lập pháp, và tư pháp đều do 1 đảng nắm chặt để chỉ phục vụ kẻ cầm quyền, xã hội không có nơi thực sự giải quyết cho những nạn nhân từ các căn bệnh của cán bộ. Bức xúc chỉ có thể tích tụ ngày một cao.

Cùng lúc với việc không rút củi bức xúc ra khỏi đáy nồi đó, nắp nồi còn bị niềng ngày một chặt hơn bằng hệ thống công an, an ninh, trật tự, dân phòng, đảng ủy cơ quan, tổ dân phố theo nỗi lo của lãnh đạo. Trái bom uất ức, do đó, chỉ chờ ngày nổ chứ không có con đường nào khác.

Và đóng góp không nhỏ vào các cuộn sóng ngầm bất ổn là nạn giành quyền đến mức sinh tử giữa các phe cánh trong đảng, đặc biệt vào mỗi chu kỳ chia lại ghế.

Trong xã hội bất ổn đó (mà chỉ người sống bên trong mới biết) chẳng ai muốn làm gì lâu dài. Mọi người chỉ vừa làm vừa ngó dáo dác; cứ có lợi ngắn hạn trước mắt là chụp ngay, bất kể các tai hại lâu dài; và có được bao nhiêu của cải là đem cất kỹ bên ngoài đất nước.

oOo

Một xã hội luôn bị đè bởi bằng đó tảng đá thì thở được bình thường đã là phép lạ, chứ đừng nói gì đến “cất cánh” hay “sánh vai thế giới”.

Nhiều dân tộc đã không chấp nhận cái chết từ từ vì nghẹt thở và chọn đứng lên hất các khối đá xuống. Chẳng phải vì họ anh hùng mà vì đường nào cũng chết. Nếu đứng lên, ít nhất, họ được chết và con cháu họ được sống NHƯ NHỮNG CON NGƯỜI.

Image may contain: 5 people, outdoor
Image may contain: 1 person, eyeglasses, sunglasses and closeup
Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

Mới thông xe, cao tốc tỷ đô ở Đà Nẵng ‘sạt lở là bình thường’

Mới thông xe, cao tốc tỷ đô ở Đà Nẵng ‘sạt lở là bình thường’

Mái ta luy dương bên đường bị sạt lở, trôi chảy đất có nguy cơ đổ xuống. (Hình: VietNamNet)

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Mới thông xe hơn ba tháng, tuyến đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi xây hơn $1.6 tỷ xuất hiện nhiều điểm sạt lở, nhưng chủ đầu tư cho đó là chuyện bình thường.

Theo báo VietNamNet, đoạn 65 cây số từ thành phố Đà Nẵng đến thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam, thuộc giai đoạn 1 của dự án cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi, vừa được thông xe ngày 2 Tháng Tám vừa qua, với tổng mức đầu tư lên đến khoảng 34,500 tỷ đồng (trên $1.6 tỷ).

Thế nhưng, trên đoạn cao tốc qua hai xã Hòa Mỹ và Quế Xuân, huyện Quế Sơn, Quảng Nam, đã xuất hiện nhiều điểm bị sạt lở, đất hai bên phần kè cao tốc bị cuốn trôi làm hỏng chân trụ tường.

Đặc biệt, có chỗ bị sạt lở lòi ra cả móng trụ bê tông nham nhở và một cống thoát nước ngang tuyến đã bị bong tróc phần mố và sạt lở nghiêm trọng. Đơn vị thi công đã vá nhiều lần nhưng không hết.

Ngoài ra, đoạn ra vào trạm thu phí Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam, có rất nhiều vị trí bị nước cuốn trôi trượt mái ta luy nền đường.

Tuy nhiên, nói với báo VietNamNet, ông Nguyễn Tiến Thành, giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Cao Tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi, cho rằng: “Đây là hiện tượng sạt lở cục bộ và hiện tượng này là bình thường.”

Theo ông, các vị trí sạt lở mái dốc ta luy dương ở đây thuộc hạng mục bổ sung ngoài hợp đồng và đơn vị gia cố chưa xong.

“Chúng tôi chấp nhận sạt lở đến đâu sẽ dọn đến đấy. Khi Bộ Giao Thông Vận Tải chấp thuận chủ trương cho gia cố mái ta luy, thì đúng vào mùa mưa không thể thi công được. Trong quá trình thi công, đơn vị đã đề nghị bộ đổi biện pháp gia cố. Đó là lý do có hạng mục thi công dở dang như hiện tại,” ông nói. (Tr.N)

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Các luật sư Việt Nam nên xem series phim American Crime Story,

From facebook: Trần Bang‘s post.
“Các luật sư Việt Nam nên xem series phim American Crime Story, đặc biệt bộ phim đầu tiên về vụ án O.J. Simpson, cầu thủ bóng bầu dục da đen huyền thoại của Mỹ, năm 1994.

Tiến trình xét xử vụ án này diễn ra một cách ngoạn mục với sự đấu trí giữa hai phía công tố và luật sư, gồm những cao thủ lão luyện bậc thầy trong ngành tư pháp Mỹ đương thời.

Trong khi bên công tố nắm trong tay hàng loạt chứng cứ (evidence), đặc biệt về vết máu và tóc, đủ để truy tố O.J. Simpson về tội mưu sát, thì đội ngũ luật sư của bị cáo biện luận theo hướng khiến bồi thẩm đoàn (jury) tin vào câu chuyện (story) điều tra viên nguỵ tạo chứng cứ lúc tiếp cận hiện trường vụ án đầu tiên.

Johnnie Cochran, trưởng nhóm luật sư (lead attorney) của O.J. Simpson vạch ra chiến lược chiến thắng vụ án như sau: kết quả vụ án không chỉ tùy thuộc vào chứng cứ, mà quan trọng hơn còn được dẫn dắt bởi một câu chuyện mà các luật sư trình bày trước bồi thẩm đoàn.

Với chiến lược đó, bất chấp các chứng cứ vững chắc của công tố viên, đội ngũ luật sư đã chứng minh rằng điều tra viên Mark Fuhrman có thể đã bỏ máu và tóc của của nghi phạm vào hiện trường, đồng thời bỏ máu và tóc của nạn nhân vào nhà nghi phạm, bởi lý do Mark Fuhrman kỳ thị dân da đen.

Tại tòa, Mark Fuhrman tuyên thệ khai trung thực và khẳng định chưa bao giờ dùng từ “Nigger” (một từ miệt thị, tạm dịch là “Mọi đen”) khi nói chuyện với bất kỳ người da đen nào. Tuy nhiên, sau đó nhóm của luật sư Johnnie Cochran đã tìm được các băng ghi âm ở một tòa án khác ghi nhận các mẩu đối thoại của Mark Fuhrman với người da đen, trong đó rất nhiều lần y dùng từ “Nigger”.

Thái độ kỳ thị chủng tộc đó hiển nhiên không loại trừ khả năng Mark Fuhrman cố tình hủy hoại O.J. Simpson bằng cách nguỵ tạo chứng cứ để đổ tội cho anh ta. Kết luận điều tra do vậy không đáng tin cậy, bởi có thể đã bị định hướng một cách chủ quan từ phía cơ quan điều tra.

Câu chuyện mà đội ngũ luật sư dẫn dắt đã thuyết phục đa số thành viên bồi thẩm đoàn tin vào sự thiếu trung thực và thiếu khách quan của mọi chứng cứ mà bên công tố đệ trình trước tòa. Nhờ đó bồi thẩm đoàn tuyên O.J. Simpson vô tội và trắng án.

Đội ngũ luật sư do Johnnie Cochran, một luật sư hình sự người da đen, làm thủ lĩnh, được dư luận lúc đó gọi là “Dream Team” nhờ chiến lược tiếp cận và giải quyết vụ án một cách xuất sắc.

Dù kết quả phiên tòa đó làm thất vọng nhiều người da trắng vì họ tin chính O.J. Simpson là thủ phạm giết vợ cũ và bạn trai của cô, nhưng đó là chiến thắng vang dội của nền công lý đặt trên nền tảng triết lý tôn trọng tự do cá nhân, theo đó xã hội chấp nhận bỏ sót tội phạm còn hơn bắt lầm người vô tội.

Triết lý hình sự nói trên được công nhận và dung nạp trong hầu hết nền pháp lý hiện đại trên thế giới, trừ vài nước như Việt Nam, Trung Quốc, v.v…, vốn thà bắt lầm hơn bỏ sót, thậm chí cố tình dàn dựng chuyện để bắt! “

(Copy FB LS Lê Công Định )

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN

TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng

  1. Không một tôn giáo nào có một lịch sử kỳ lạ như Kitô giáo. Quả vậy, không một tôn giáo nào bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương như Kitô giáo; và cho dù bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương, Kitô giáo không hề bị tiêu diệt, trái lại vẫn không ngừng tăng trưởng cả về phẩm chất lẫn số lượng. Đó là những bí ẩn của lịch sử không thể lý giải bằng lý lẽ tự nhiên, nhưng chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của niềm tin.

Quả vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên loan báo Tin Mừng, Hội Thánh đã trải qua 300 năm bị bách hại dưới thời các hoàng đế Roma. Rồi từ đó, Phúc Âm được rao giảng ở đâu, thì ở đó không sớm thì muộn, các Kitô hữu cũng bị bắt bớ và giết chết, Hội Thánh bị bách hại và loại trừ. Lịch sử Hội Thánh là một lịch sử đầy những cuộc tử đạo, ở khắp mọi miền trên thế giới, vào hết mọi thời kỳ trong lịch sử.

Ngay trong thời đại chúng ta, trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, nếu tính tổng cộng tất cả các Kitô hữu, gồm Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành, thì hằng năm có khoảng 170.000 người tử đạo, 200.000.000 người chịu bách hại vì đức tin Kitô giáo.

Trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này, 117 vị thánh đã được phúc tử đạo trong một giai đoạn bách hại kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi vào năm 1745 đến vị cuối cùng vào năm 1862, qua các triều đại vua Lê chúa Trịnh, Tây Sơn và các triều nhà Nguyễn. Đó là chưa kể chân phước Anrê Phú Yên tử đạo vào năm 1644, và hằng trăm ngàn tín hữu chết vì đức tin nhưng chưa được phong thánh.

Bức tranh trên đây là một thực tế, và đó cũng là một điều bí ẩn của lịch sử Hội Thánh. Các Kitô hữu bị ghét, vì trước hết, chính Chúa Giêsu đã bị ghét và đã chịu tử hình trên thánh giá. Chúa Giêsu chính là vị tử đạo đầu tiên vì Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Ngài là con đường dẫn đến sự sống đích thực, nhưng thế gian lại yêu sự tối tăm hơn ánh sáng.

Chúa nói: “Vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15, 19-21). Đơn giản chỉ là thế. Sâu xa là như vậy.

Tuy nhiên, Chúa đã hứa ở cùng Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế, và Chúa đã tuyên bố không quyền năng nào có thể tiêu diệt Hội Thánh. “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).

  1. Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại đời sống đức tin của các thánh tử đạo Việt Nam để xem các ngài đã tuyên xưng, đã sống và làm chứng cho đức tin thế nào. Tại sao các Kitô hữu bị ghét bỏ, bị bắt bớ và giết chết? Các thánh tử đạo đã làm gì?

Các thánh tử đạo bị giết chỉ vì tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu. Lòng tin ấy biểu lộ qua việc tôn thờ thánh giá Chúa. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được!” Thánh Têôphan Ven nói: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”

Chắc chắn không phải vì các ngài đã theo đạo Tây mà phản bội tổ quốc và dân tộc. Các ngài tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương. Thánh linh mục Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được.”

Nhiều vị thánh đã ở trong hàng ngũ quân đội bảo vệ đất nước. Thánh Trần Văn Trung là một binh sĩ, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ.” Thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng.” Yêu nước không có nghĩa là phải thù ghét loại trừ các Kitô hữu và chống lại Kitô giáo.

  1. Lời tuyên xưng của các thánh tử đạo không chỉ là lời tuyên bố trong một khoảnh khắc nhất thời trước khi chết, nhưng đó là hoa trái kết tinh từ một đời sống thấm nhuần Lời Chúa. Các ngài đã sống đức tin, đã thể hiện Tin Mừng yêu thương trong chính đời sống của mình.

Trước hết, đời sống đức tin của các thánh tử đạo được biểu lộ ngay trong bổn phận hằng ngày của đời sống gia đình.

Dù thời đó, chế độ đa thê vẫn đang thịnh hành trong xã hội Việt Nam, nhưng các thánh tử đạo đã trung thành với giáo huấn một vợ một chồng của Phúc Âm. Dĩ nhiên có những vị lúc đầu đã không trung thành với lời cam kết hôn nhân, như các thánh Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy… đã có thời gian sa ngã, thế nhưng sau đó tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Các thánh chu toàn bổn phận nuôi dạy con cái theo tinh thần đức tin. Thánh Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo.”

Về phần thánh Anê Lê Thị Thành, vị thánh nữ duy nhất trong số các vị tử đạo, người con gái thứ hai của ngài là cô Anna Năm xác nhận: “Bố mẹ chúng tôi chỉ gả các con gái cho những người thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn, mẹ tôi thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành. Có lần mẹ dạy tôi: “Tuân theo Ý Chúa, con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận thánh giá Chúa gửi cho.” Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi:“Hai con hãy sống hoà hợp, vui vẻ, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ.”

Kế đến, sống đức tin là sống Tin Mừng yêu thương.

Thánh y sĩ Phan Đắc Hòa rộng tay giúp người nghèo khổ, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa. Thánh Martinô Thọ nói: “Công bằng chưa đủ, phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, nên ngài trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người thiếu thốn. Người cùng tử đạo với ngài là Gioan Cỏn từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại chính sách đòi sưu cao thuế nặng. Thánh Năm Thuông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Còn thánh Trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.

Điều quan trọng trong đời sống đức tin của các thánh tử đạo là lòng tha thứ.

Nếu lòng anh dũng giúp các vị tử đạo bình thản đón nhận cái chết không run sợ, không quỵ lụy khóc than, thì chính lòng bao dung thứ tha mới là đặc tính phân biệt vị tử đạo với những vị anh hùng vì lý do khác.

Các tín hữu chỉ thực sự chết vì đạo nếu biểu lộ được tình yêu, lòng nhân ái, sự bao dung của Tin Mừng. Các vị chắc chắn không đồng ý với bản án bất công của triều đình, nhưng như Đức Giêsu trên thánh giá vẫn cầu nguyện cho quân lính giết hại mình, các chứng nhân tử đạo vẫn tiếp tục yêu thương vua quan, và những người hành xử mình.

Khi viên quan nói: “Tôi phải theo lệnh vua, đừng giận tôi nhé”, linh mục Théophane Ven đáp: “Tôi chẳng ghét gì ai cả, tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho quan.” Thánh Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười khi ngài đọc: “Cầu Chúa Giêsu, xin cho các quan trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh.”

Lời tuyên xưng và đời sống đức tin của các thánh tử đạo đã làm trổ sinh hoa trái phong phú trên quê hương Việt Nam thân yêu này. Chính đời sống của các thánh tử đạo đã cảm hóa và chiếm được tình cảm của bà con hàng xóm. Dù triều đình nhà Nguyễn ra chiếu chỉ bách hại, bà con hàng xóm vẫn tỏ dấu hiệu thân ái với người công giáo.

Thánh linh mục Vũ Bá Loan là niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đánh đòn; và trong ngày xử, mười lý hình chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé.” Trong vụ án thánh linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cỗ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ.”

Hơn nữa, ngay trong lúc bị giam tù, các ngài đã đưa hằng trăm người đến với Chúa. Và từ đó đến nay, hạt giống Tin Mừng không ngừng lớn lên trong đất nước này. Tin Mừng như men đang thấm vào mọi sinh hoạt xã hội để đưa thế gian đi theo con đường của chân lý Phúc Âm.

Là con cháu các thánh tử đạo, chúng ta hãy phát huy gia sản đức tin mà cha ông đã để lại cho chúng ta. Đức tin ấy đã lớn lên trong máu và nước mắt, trong hy sinh và gian khổ. Bao nhiêu thế hệ đã nằm xuống để chúng ta được trung kiên với đức tin tông truyền.

Ngày nay, tuy không còn phải chịu những đau thương dữ dằn như trong quá khứ, nhưng chúng ta đang phải đối diện với một cuộc tấn công khác có thể còn nguy hiểm gấp bội, đó là sức mạnh của tiền bạc, địa vị, khoái lạc, tự do buông thả. Những sức mạnh này đã làm cho bao nhiêu tín hữu gục ngã, đã lôi kéo bao nhiêu Kitô hữu rời xa Hội Thánh, đã làm cho biết bao người quên Thiên Chúa.

Chúng ta hãy bắt chước các thánh tử đạo tuyên xưng đức tin một cách xác tín, ý thức. Chúng ta có thể nói như thánh Phaolô không: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1, 12)? Hãy để cho lòng tin vào Chúa thấm nhuần và biến đổi cuộc sống chúng ta, để tất cả mọi hành vi, ứng xử, chọn lựa, thái độ, của chúng ta luôn tỏa chiếu sức mạnh của Tin Mừng và tạo nên một sức hấp dẫn đối với những người chung quanh để đưa họ đến với Chúa Giêsu Cứu Thế.

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng

From Langthangchieutim

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

HÃY CHỌN SỐNG LƯƠNG THIỆN

HÃY CHỌN SỐNG LƯƠNG THIỆN

Tuyết Mai

Nếu chúng ta chỉ là người quản lý cho Chúa thì sao chúng ta không chọn sống lương thiện nhỉ? Vì có phải tất cả những gì chúng ta là thì đều do Thiên Chúa tác tạo nên ta mới có được. Từ trí khôn cho đến tứ chi trong một thân thể bình thường. Từ việc suy nghĩ cho đến việc làm chúng ta cũng biết đâu là tốt, xấu. Đâu là việc làm lương thiện và đâu là việc làm tham lam, lấy của người làm của mình do sự dụ dỗ rất tinh xảo của quỷ Satan và bè lũ của chúng. Bởi con cái của ánh sáng thì sẽ học theo và sống theo những sự việc lành thánh theo gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, thánh cả Giuse (là gia đình Thánh) và tất cả các Thánh nam, nữ.

Nếu chúng ta chỉ là người quản lý cho Chúa thì nhất nhất những gì Chủ cho biết việc chúng ta cần phải làm hay những luật lệ mà người Chủ bắt chúng ta phải tuân theo thì lẽ đương nhiên chẳng một người quản lý nào lại khờ khạo, dại dột dám bất tuân lệnh truyền vì lẽ rất đơn giản là người quản lý đó sẽ bị Chủ cho nghỉ việc; mà nghỉ việc rồi thì tìm việc làm khác rất là khó (vì miệng truyền miệng). Mà theo lẽ thông thường người quản lý khôn ngoan thì luôn trung thành với Chủ của mình. Và sự trung thành đó của người quản lý sẽ luôn làm vừa lòng ông Chủ. Thì mọi thứ gì tốt đẹp trong nhà hay miếng ngon vật lạ mà ông Chủ đem về thì người quản lý ấy cũng đều được ông Chủ cho hưởng theo.

Mà người quản lý nào gặp được ông chủ thích sống rày đây mai đó thì cũng mang mình theo bên cạnh để mà hầu hạ cho ông. Vô tình chúng ta lại có được hưởng cuộc sống đi du lịch cùng ông chủ ở khắp mọi miền như các tông đồ của Chúa Giêsu xưa vậy. Ai bảo cuộc sống rày đây mai đó là không thú vị chứ mà không là ngược lại?. Hẳn cuộc sống rày đây mai đó có ông Chủ ở cùng thì còn hạnh phúc nào hơn như các linh mục của Chúa thích được bài sai đi đến những vùng xa vùng sâu để sống cuộc đời phục vụ đúng nghĩa cho những người anh em nghèo khổ, bệnh tật, khuyết tật, v.v… và thiếu thốn đủ mọi thứ mọi điều.

Nếu chúng ta chỉ là người quản lý cho Chúa thiết nghĩ chúng ta chẳng dại gì mà chọn cách sống gian xảo, lọc lừa, điêu ngoa với ông Chủ mà làm gì … Bởi Ông có nhiều quyền lực thì có quyền đem chúng ta ra tòa giam nhốt vì những tội ăn cắp, tham lam với những toan tính hãm hại ông. Mà chưa kể gặp ông Chủ có quyền giam hãm chúng ta ở một nơi vô cùng nóng bỏng, chung quanh vây bủa bởi lửa và lửa. Nhưng thưa trần gian con người ai mà không tham? Ai mà không có những giấc mơ thoát cảnh làm người quản lý? Ai không muốn ngoi lên để trở thành một ông chủ hống hách với người với đời?. Sao lại không nhỉ?.

Do đó mà quỷ dữ Satan nắm bắt được những gì chúng ta ao ước muốn có và chúng sẽ giúp chúng ta một cách rất tích cực, rất mời mọc, rất đam mê và chúng không ngừng cho chúng ta những giấc mơ về đêm vô cùng đẹp đẽ, lộng lẫy, nguy nga có bao nhiêu kẻ hầu người hạ, với biết bao nhiêu thiếu nữ trẻ đẹp luôn ở cạnh bên, v.v… Thưa đã gọi là trần gian thì hiếm có người làm gì mà cho là lương thiện cả!?. Gần nhất là chúng ta cứ nhìn xem ngay chính gia đình của chúng ta thấy có sống lương thiện không?.

Chúng ta là bậc cha mẹ có làm gương sống tốt lành cho con cái chúng noi theo hay không?. Hay chúng ta chỉ giỏi nói mà không làm?. Nói chi xa xa ra ngoài xã hội thì ai? Ai sẽ là người mà chúng ta có thể tin tưởng cho được hơn trong mái nhà của chúng ta?. Bởi trong gia đình sống không theo thói quen tốt lành trong việc giữ đạo, gia đình hai bên không cùng chung đạo, lời ăn tiếng nói cho nhau như dao cứa, nói một đàng nhưng lại làm một nẻo, gian dối lừa gạt nhau trong việc xài tiền, trên dưới cãi lộn rồi chửi rủa nhau tối ngày cũng chỉ vì đồng tiền nên con cái chúng bỏ nhà đi theo băng đảng là do chúng không tìm thấy có tình yêu thương trong gia đình. Thì cũng hiểu rằng nhà ấy không có bóng dáng của Thiên Chúa hiện diện.

Đây là một bài học lương thiện căn bản trong nhà thôi mà chúng ta thử hỏi lòng mình xem đã có ai từng phạm rồi không nhé? Là có ai đã từng lấy tiền (ăn cắp) từ trong bóp hay trong ví của vợ hoặc chồng mình bao giờ chưa? Và nếu có thì đã bao nhiêu lần làm thế rồi?. Rồi có ai đã từng biết chỗ giấu tiền của chồng hoặc vợ của mình và ăn cắp bao nhiêu lần?. Chớ xưa ông xã tôi còn nhỏ đã nhiều lần bắt gặp bà mợ của ổng làm chìa khóa giả để bả ăn cắp tiền trong tủ sắt của ông chồng rồi. Mà nếu ông xã tôi đã bắt gặp thì lẽ đương nhiên các con của hai ông bà cũng biết chứ. Thế thì xin được hỏi rằng cái tội ăn cắp đó nó có cho ai cuộc sống lương thiện … từ trong nhà cho ra đến ngoài xã hội hay không?.

Lạy Chúa là Đấng đầy lòng thương xót! Xin sửa đổi chúng con từ trong ra ngoài nhất là trong gia đình chúng con luôn biết sống Kính sợ Thiên Chúa và yêu thương người như yêu chính mình chớ đừng có sống bất lương. Đừng dùng lời nói ác độc mà nói với nhau. Cùng hằng gìn giữ chúng con khỏi sa Hỏa Ngục nơi mà bất cứ linh hồn nào cũng khiếp sợ, cũng không muốn đến … Chỉ vì chúng con sống cách tham lam, ích kỷ, không muốn làm mà muốn có ăn, lười biếng nên làm gương xấu cho các con cái chúng bắt chước theo nên xã hội ngày càng bất ổn, càng thêm chết chóc và càng nhiều đau khổ tang thương … Chúa ơi!!!.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

12 tháng 11, 2017

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Nếu không có Đảng, không có Bác thì làm gì

Dang Tuong
Nhiều người hay trách DLV là bọn đầu tôm hay là bọn bị nhồi sọ nặng nhưng tôi thấy có những cái họ phát biểu rất chính xác. Trong số các câu nói bất hủ mà DLV đưa ra khi bảo vệ quan điểm của mình, thì câu nói tôi ưng nhất là: Không có Đảng, không có Bác Hồ thì làm gì có Việt Nam hôm nay.

Quả thật câu này nó chính xác đến 100%, cố tìm cũng chẳng thấy tý tẹo cái sai nào trong đó. Hãy nhìn cái cách hiện tại mà người Việt Nam đối với người Việt Nam, hay cái nhìn khinh khi của người dân các nước có người Việt Nam đến lao động, học tập và sinh sống là chúng ta thấy câu nói ấy nó giá trị thế nào.

Nếu không có Đảng, không có Bác thì làm gì có một Việt Nam lẹt đẹt trên các bảng xếp hạng của thế giới, làm gì có một Việt Nam không sản xuất nổi con ốc vít hay phải nhập cả cái tăm xỉa răng.

Nếu không có Đảng, không có Bác thì làm gì có một Việt Nam nổi tiếng với việc xuất khẩu culi và gái điếm, nổi tiếng với nạn trộm cắp, giết, hiếp xảy ra hằng ngày như cơm bữa trên mảnh đất hình chữ S này.
Nếu không có Đảng, không có Bác thì làm gì có lãnh đạo lương tuy không quá 15 triệu/tháng mà ông nào cũng nhà lầu, xe hơi, cũng con du học nước này, nước nọ. Không có Đảng, không có Bác thì làm gì có chuyện mỗi người dân được vinh dự gánh 1200 đô tiền nợ công, 432 loại thuế phí, và vô số các chiêu trò bóc lột khác.

Nếu không có Đảng, không có Bác thì làm gì chúng ta có con đường đắt nhất hành tinh, rồi tới đây là tháp truyền hình cao nhất thế giới, hay việc biển đảo ngày càng mất dần vào tay Trung Cộng.

Tôi cố liệt kê, nhưng liệt kê mãi cũng không hết những cái mà nhờ có Đảng, có Bác mới có một Việt Nam như ngày hôm nay trên bản đồ thế giới. Cảm ơn các bạn DLV đã thông não, đã cho tôi được sáng mắt, sáng lòng.
Quả thực công ơn trời biển của Đảng, của Bác không một lời lẽ hay bút mực nào có thể tả hết được, nói gì đến một thằng ngu lâu, dốt bền, lại khó cải tạo như tôi đây.

Tác giả: Nhân Thế Hoàng.

Image may contain: 3 people, meme and text
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

9.000 tiến sĩ để làm gì ?

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 2 others.
9.000 tiến sĩ để làm gì ?

Các đề án đào tạo tiến sĩ đại trà đã thất bại.

Đề án 322 (năm 2000) 20.000 tiến sĩ
Đề án 911 (năm 2010) 23.000 tiến sĩ.

Mới đây – Đề án (năm 2017) – 9.000 tiến sĩ.

Liệu “nâng cấp” hàng loạt 9.000 tiến sĩ trong vòng 6 năm, mỗi năm cần ra lò ấp 1.500 tiến sĩ mới đạt chỉ tiêu, thì … lấy đâu ra chất lượng.

Tại các nước phát triển: Không nước nào đào tạo tiến sĩ đại trà.

Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định rằng Việt Nam hiện nay có khoảng:

– 9.000 giáo sư, phó giáo sư,
– 24.300 tiến sĩ

Nhưng kết quả nghiên cứu khoa học của Việt Nam tụt xa so với các nước trong khu vực ASEAN.

Vậy đào tạo đại trà 9.000 tiến sĩ này, họ sẽ làm được gì?

***

Ở các trường đại học danh tiếng trên thế giới, một giáo sư giỏi, cùng lúc có thể hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh, nhưng hàng năm chỉ có thể đào tạo 1 – 2 tiến sĩ với chất lượng chuẩn mực.

Ở VN, nếu một giáo sư giỏi được trao một khoản kinh phí đầy đủ, để họ có thể tăng thu nhập, giảm giờ dậy, mua sắm thiết bị, tham gia hội thảo quốc tế để trau dồi kiến thức, thường xuyên cập nhật được các vấn đề nghiên cứu khoa học “nóng” trên thế giới,…

Nhưng đó là chuyện xa vời. … Liệu VN có chính sách nào để thực hiện được những điều đơn giản nầy.

Việt Nam hiện không có chính sách gì cụ thể để mời các giáo sư, các nhà nghiên cứu tầm cỡ từ nước ngoài về giảng dạy.

Ngoài ra – theo thống kê – số lượng tiến sĩ loại giỏi tốt nghiệp ở nước ngoài về Việt Nam không nhiều.

Rất tiếc, có về nước, họ cũng tìm cách ra đi.

Xin tóm tắc bình luận của Giáo sư Vũ Hà Văn (Đại học Yale, Mỹ):

– “Với chất lượng đào tạo tiến sĩ như hiện nay, bạn sẽ lắc đầu ngao ngán là dù có thêm 9.000, hay 90.000 người, thì cũng vậy thôi”.

Ảnh: Giáo sư Vũ Hà Văn (Đại học Yale, Hoa Kỳ). Trong một dịp về nước, Gs. giảng bài tại Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán học. Ảnh Quý Hiên (Báo Thanh Niên).

Image may contain: 1 person, standing
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Hồi kết đảng cộng sản chắc chắn cũng sẽ như tên độc tài bị lật đổ ở Zimbabwe.

Hoang Le Thanh added 3 new photos — with Phan Thị Hồng.
Những tên độc tài thích tự xưng là nhà lãnh đạo.

Chúc Mừng Người Dân Zimbabwe đã được tự do !!!

Hồi kết đảng cộng sản chắc chắn cũng sẽ như tên độc tài bị lật đổ ở Zimbabwe.

Lê Công Định

Nhà độc tài già nua Robert Mugabe vừa bị lật đổ ở Zimbabwe từng luôn nghĩ rằng không có lực lượng chính trị và nhân vật chính trị nào đủ năng lực và uy tín quản lý đất nước … ngoài chính ông ta.

Luận điệu tự huyễn hoặc mình và huyễn hoặc thiên hạ của mọi kẻ độc tài trên khắp thế giới có vẻ giống nhau. Lão đãng ở Việt Nam cũng không khác, luôn cho rằng không tổ chức chính trị nào ngoài “đảng quang vinh muôn năm” có khả năng lèo lái con thuyền đất nước, vì đó là “lựa chọn của lịch sử”(!).

Độc tài như nhau, tham lam như nhau, tàn phá quốc gia như nhau, nguỵ biện như nhau, nên kết cuộc chắc chắn cũng sẽ như nhau.

Ảnh 1: Nhà độc tài Zimbabwe, tổng thống Robert Mugab khi còn quyền hành.

Ảnh 2: Tổng thống Robert Mugabe bị cô lập, mọi kẻ thân cận đều lìa bỏ ông và lên tiếng buộc ông ta từ chức.

Ảnh 3: Người dân Zimbabwe biểu tinh, họ trương biểu ngữ trên đường phố kêu gọi ông Mugabe phải ra đi.

Image may contain: 1 person, hat
Image may contain: one or more people, eyeglasses, hat and text
Image may contain: 6 people
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

9/11/1977: Sadat đến thăm Israel

19/11/1977: Sadat đến thăm Israel

Nguồn: Sadat visits Israel, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1977, trong một động thái chưa từng có của một nhà lãnh đạo Ả Rập, Tổng thống Ai Cập Anwar el Sadat đã đến Jerusalem để tìm kiếm một giải pháp hòa bình lâu dài với Israel sau nhiều thập niên xung đột. Chuyến thăm của Sadat, trong đó ông gặp Thủ tướng Israel Menachem Begin và phát biểu trước Quốc hội (Knesset), đã bị phỉ báng ở hầu hết các nước Ả Rập.

Mặc cho những lời chỉ trích từ các đồng minh khu vực của Ai Cập, Sadat vẫn tiếp tục theo đuổi hòa bình với Begin, và năm 1978, hai nhà lãnh đạo gặp lại nhau tại Mỹ, nơi họ đàm phán một thỏa thuận lịch sử với Tổng thống Jimmy Carter tại Trại David, Maryland. Hiệp ước Trại David (Camp David Accords), được ký vào tháng 09/1978, đã đặt nền móng cho một hiệp định hòa bình vĩnh viễn giữa Ai Cập và Israel sau ba thập niên chiến tranh.

Hòa ước chính thức – hiệp ước đầu tiên giữa Israel và một trong những nước láng giềng Ả Rập – đã được ký vào tháng 03/1979. Hiệp ước này chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa hai nước và thành lập các mối quan hệ ngoại giao và thương mại đầy đủ.

Sadat và Begin sau đó đã cùng nhau nhận giải Nobel hoà bình năm 1978 vì những nỗ lực của họ. Tuy nhiên, những nỗ lực hòa bình của Sadat lại không được đánh giá cao ở thế giới Ả Rập, và ông bị ám sát vào ngày 06/10/1981 bởi những người Hồi giáo cực đoan ở Cairo. Dù Sadat đã qua đời, nhưng tiến trình hòa bình vẫn tiếp tục dưới thời Tổng thống mới của Ai Cập, Hosni Mubarak. Vào năm 1982, Israel đã hoàn thành nghĩa vụ theo Hòa ước năm 1979 bằng cách trao trả lại phần cuối cùng của bán đảo Sinai cho Ai Cập. Hòa ước Ai Cập-Israel vẫn tiếp tục được duy trì tới ngày hôm nay.

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

Chúng tôi không là Việt Kiều… – Ts Nguyễn Đình Thắng.

Nguồn: Van Pham

Chúng tôi không là Việt Kiều… – Ts Nguyễn Đình Thắng.

Năm ngoái, một cô du sinh Việt Nam theo học chương trình tiến sĩ ở Hoa Kỳ phỏng vấn tôi cho luận án của cô ấy với đề tài: Cách nào để chính quyền Việt Nam đến với Việt kiều ở Mỹ.

“Trước hết hãy ngưng gọi chúng tôi là Việt kiều,” tôi trả lời.

Thấy cô ấy lúng túng, tôi giải thích: “Chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, không phải công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Chính quyền Việt Nam muốn xem người Việt ở hải ngoại là công dân Việt mang “hộ chiếu” nước ngoài.

Cứ xem thái độ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang của họ thì rõ. Khi gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama ở Toà Bạch Ốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ông Sang cảm ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn không đúng cương vị. Chính phủ Mỹ lo cho dân Mỹ là việc đương nhiên; hà cớ gì Ông Sang cảm ơn nếu không là muốn nhận vơ chúng tôi là dân của ông ấy?

Nhận vơ như vậy không ổn, vì nhiều lý do.

Những người không còn, hoặc chưa bao giờ mang hộ chiếu CHXHCN VN liệu có phải là Việt Kiều?

Trước hết, rất nhiều người chưa hề một ngày là công dân của nhà nước cộng sản Việt Nam: những người ngoài Bắc di cư vào Nam trước khi đảng cộng sản lập ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và những người trong Nam bỏ nước ra đi trước khi đảng cộng sản ấy xâm chiếm miền Nam.

Kế đến là những người bỏ nước đi tị nạn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, tị nạn có nghĩa từ bỏ sự bảo vệ của chế độ cầm quyền ở quốc gia nguyên quán. Theo nguyên tắc này, khi chúng ta đang xin hay còn mang quy chế tị nạn mà đặt chân về Việt Nam, dù chỉ để thăm gia đình, thì xem như tự đặt mình trở lại dưới sự bảo vệ của chế độ cầm quyền và sẽ tự động mất tư cách tị nạn. Pháp áp dụng đúng nguyên tắc này trong khi một số quốc gia khác thì nhân nhượng hơn.

Dù không thuộc các thành phần trên, một khi giơ tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, mỗi người trong chúng tôi đã chính thức từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Trước luật pháp Hoa Kỳ, chúng tôi là công dân Mỹ chứ không là công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Cô sinh viên tiến sĩ xem chừng hiểu ra câu trả lời: “Chúng tôi không là Việt kiều. Chúng tôi là người Mỹ gốc Việt,.”

Tôi giải thích thêm: “Cái gốc Việt ấy cho phép chúng tôi lên tiếng về các vi phạm nhân quyền và một số vấn đế khác nữa ở Việt Nam. Chúng tôi có thân nhân bị đàn áp. Chúng tôi có tài sản bị cưỡng chiếm. Đó là những vấn đề quyền lợi của công dân Mỹ, khi bị xâm phạm thì chính quyền Mỹ có nhiệm vụ can thiệp. Hơn nữa, chúng tôi có sự hiểu biết sâu sắc về hiện tình xã hội Việt Nam để giúp cho sự can thiệp ấy đạt hiệu quả.”

Nói đi thì cũng phải nói lại. Khi nhà nước cộng sản Việt Nam nhận vơ thì lỗi của họ chỉ có phân nửa. Phân nửa còn lại là lỗi của chúng ta.

Gần đây, cộng đồng Việt ở vùng Hoa Thịnh Đốn xôn xao về cuộc phỏng vấn video của một người Việt bị chặn ở phi trường, không được nhập cảnh, khi về thăm nhà ở Việt Nam. Cuộc tranh luận đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: Cả hai phía của cuộc tranh luận đứng trên cương vị Việt kiều hay trên cương vị công dân Mỹ?

Khi công dân Mỹ bị gây khó dễ ở phi trường, thì người ấy dứt khoát đòi liên lạc với toà lãnh sự Mỹ ở Việt Nam; nếu bị công an câu lưu “làm việc” thì người ấy tuyệt nhiên không hợp tác cho đến khi đã nói chuyện được với toà lãnh sự Mỹ; nếu bị tống tiền, chèn ép bởi giới chức chính quyền Việt Nam thì cũng báo ngay cho toà lãnh sự Mỹ. Khi về lại Hoa Kỳ thì nạn nhân phải báo động ngay với Bộ Ngoại Giao.

Chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ công dân Mỹ. Khi nhận được nhiều báo cáo từ các công dân Mỹ bị sách nhiễu, thì chính quyền Mỹ sẽ phải đặt vấn đề với phía Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam có dám đối xử tệ với những công dân Mỹ khác đâu, mà chỉ sách nhiễu người Mỹ gốc Việt. Chẳng qua chúng ta cho phép họ làm vậy. Lỗi ấy là của chúng ta.

Thành ra, muốn khẳng định “chúng tôi không là Việt kiều” với nhà nước Việt Nam thì trước hết chúng ta phải tự nhủ và nhắc nhở lẫn nhau: “Chúng ta không là Việt kiều”. Khi người người trong chúng ta ý thức điều này và hành xử đúng cương vị thìnhà nước Việt Nam sẽ phải thay đổi theo. Tôi tin là vậy.

VAWA,Hiệp Hội An Sinh Xã Hội Việt Úc, Vietnamese-Australian Welfare Association, hướng dẫn, giúp đỡ…
VAWANSW.ORG.AU
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Chế độ chia nhau ngân quỹ đút túi, nay hết tiền trả lương… đè dân ra … LỘT….

Nguồn: Van Pham
Chế độ tuyên truyền “Mỹ-Ngụy bóc lột”. Sao người dân của họ lại được đi học & chăm sóc y tế hoàn toàn miễn phí?

Chế độ CS của dân, sao cứ đè nhân dân ra trấn lột không chừa một thứ gì???!!!!
**************

Chế độ chia nhau ngân quỹ đút túi, nay hết tiền trả lương… đè dân ra … LỘT….

Phí học lại tăng gấp 5 lần, sinh viên bức xúc… có dám xuống đường như sinh viên Hồng Kông???

Dân trí Ngày 2/11, Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng (TPHCM) ban hành quyết định về các khoản thu của trường cho năm học 2015-2016. Ngay khi quyết định ban hành thì nhiều sinh viên của trường bức xúc vì số tiền học lại tăng bất thường, cao gấp 5 lần so với trước.

Theo quyết định số 623/QĐ-ĐHB về việc ban hành danh sách các khoản thu và mức thu năm học 2015-2016 có hiệu lực từ ngày 9/11 của Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, thì phí học lại đối với hình thức lớp học ghép và mở lớp riêng ở bậc đại học là 600.000 đồng/tín chỉ, cao đẳng 500.000 đồng/tín chỉ; bậc tiến sĩ là 1,5 triệu đồng, thạc sĩ là 1,2 triệu đồng,… Còn đối với những sinh viên (SV) nào có nhu cầu đăng ký học lại khi không có lớp (học theo yêu cầu) thì phải đóng 1,5 -3 triệu đồng/tín chỉ (bậc ĐH).

(Dân trí) – Ngày 2/11, Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng (TPHCM) ban hành quyết định về các khoản thu của trường cho năm học 2015-2016. Ngay khi quyết định ban hành thì nhiều sinh viên của trường bức xúc vì số tiền học lại tăng bất thường, cao gấp…
DANTRI.COM.VN
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Ông Vũ Đức Đam cần xin lỗi quốc hội và dân Việt lẫn nước Đức

Nguồn: Thuong Phan shared Vu Hai Tran‘s post.
Image may contain: 1 person, eyeglasses and suit
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Vu Hai Tran added 3 new photos.Follow

Ông Vũ Đức Đam cần xin lỗi quốc hội và dân Việt lẫn nước Đức vì đã thông tin sai về mạng xã hội Đức! (Xin cư dân mạng chia sẻ và cùng yêu cầu này).

Ngày 17/11/2017, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói trên diễn đàn Quốc hội về mạng xã hội. Ông nói vo, được bà Chủ tịch Quốc hội khen hay, cho thêm 10 phút. Ông dẫn nhiều số liệu về mạng xã hội Việt nam và các nước khác, có vẻ các ông bà nghị tin sái cổ. Tuy nhiên một số thông tin ông cung cấp không chính xác.

Hôm qua, trong một STT tôi đã phân tích ông VĐĐ đã sai khi khẳng định Việt nam không thu thuế được từ doanh thu quảng cáo hàng trăm triệu đô la từ Việt nam của hai ông lớn Facebook và Google, vì thực tế các doanh nghiệp Việt chuyển tiền cho hai ông lớn này phải trích trả hộ thuế nhà thầu nước ngoài cho Việt nam.

Đặc biệt ông VĐĐ đã thông tin sai về mạng xã hội Đức, khi ông nói “Chỉ 37% người Đức dùng mạng xã hội, bởi họ biết rằng dùng là bị lấy mất thông tin cá nhân”. Ý nói rằng, dân Việt dễ dãi quá, đua nhau dùng mạng xã hội và bị các hãng cung cấp dịch vụ (chủ yếu của nước ngoài) lấy mất thông tin cá nhân. Tôi không rõ ông Đam lấy số liệu trên từ nguồn nào. Trong khi theo những số liệu chính thức từ nước Đức về người sử dụng Internet và sử dụng mạng xã hội tại nước này như sau:

Năm 2016, có 79% người Đức sử dụng Internet, và 80% số người sử dụng Internet dùng mạng xã hội. (Trong số người sử dụng mạng xã hội, 88% sử dụng Youtube, 87% sử dụng Facebook). Như vậy, trong năm 2016 trên 63% người Đức sử dụng mạng xã hội, năm 2017, tỷ lệ này còn gia tăng. (Xem nguồn http://social-media-atlas.faktenkontor.de/2015/index.phphttps://de.statista.com/…/entwicklung-der-internetnutzung-…/)

Có lẽ ông VĐĐ do không biết tiếng Đức, nên không thẩm tra lại con số ” chỉ 37% người Đức sử dụng mạng xã hội”, đúng ra là “chỉ 37% người Đức không sử dụng mạng xã hội” và “có đến 63% người Đức sử dụng mạng xã hội”.

Ông Vũ Đức Đam cần xin lỗi quốc hội và dân Việt lẫn nước Đức vì đã thông tin sai về mạng xã hội Đức!
http://cafebiz.vn/pho-thu-tuong-vu-duc-dam-chi-37-nguoi-duc…

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi