Donald Trump và sự suy tàn về quyền lực mềm của Hoa Kỳ

Donald Trump và sự suy tàn về quyền lực mềm của Hoa Kỳ

Tác giả: Joseph S. Nye

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

6-2-2018

Bằng chứng là hiển nhiên. Nhiệm kỳ tổng thống của ông Donald Trump đã xói mòn quyền lực mềm của Hoa Kỳ. Trong cuộc thăm dò gần đây của Viện Gallup ở 134 quốc gia, chỉ 30% số người đã có một cái nhìn thuận lợi cho Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của ông Trump, giảm gần 20 điểm kể từ nhiệm kỳ của tổng thống Barack Obama. Trung tâm Nghiên cứu Pew phát hiện rằng với mức tỷ lệ 30% là đồng tình, Trung Quốc đã đạt đến mức tương đương với Mỹ. Bảng chỉ số của nước Anh về Sức mạnh mềm 30 cho thấy là nước Mỹ đã trượt từ vị trí hàng đầu vào năm 2016 xuống thứ ba trong năm ngoái.

Những người ủng hộ cho ông Trump trả lời rằng, sức mạnh mềm không thành vấn đề. Ông Mick Mulvaney, Giám đốc Ngân sách của ông Trump, đã tuyên bố “ngân sách về quyền lực cứng” khi ông cắt giảm 30% ngân quỹ của Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ. Đối với những người quảng bá cho chính sách “nước Mỹ trên hết”, thì những nơi khác còn lại của thế giới nghĩ gì, đó là chuyện thứ yếu. Họ có đúng không?

Sức mạnh mềm dựa vào sự thu hút hơn là ép buộc hoặc mua chuộc. Nó kết chọn con người thay vì cưỡng chế họ. Trên bình diện cá nhân, các bậc cha mẹ khôn ngoan biết là quyền lực sẽ lớn lao và lâu bền hơn khi họ đưa ra những tấm gương về giá trị đạo đức vững chắc cho con mình, thay vì họ dùng roi vọt, tặng tiền quà hay ngăn cản.

Cũng tương tự như vậy, các nhà lãnh đạo chính trị đã hiểu từ lâu là quyền lực đến từ khả năng lập ra nghị trình và quyết định khuôn khổ cho việc thảo luận. Nếu tôi có thể khiến cho bạn làm những gì mà tôi muốn, thì tôi không phải buộc bạn làm những gì mà bạn không muốn. Nếu Hoa Kỳ biểu hiện được các giá trị mà nước khác muốn theo đuổi, Hoa Kỳ có thể bớt đi chính sách dùng gậy và cà rốt. Thêm vào sức mạnh cứng, sự thu hút có thể là một tác lực của cấp số nhân.

Sức mạnh mềm của một quốc gia xuất phát chủ yếu từ ba nguồn lực: nền văn hóa (khi nó hấp dẫn nền văn hoá khác), các giá trị chính trị như dân chủ và nhân quyền (khi nước này sống phù hợp với các giá trị này) và các chính sách (khi các chính sách này được coi là chính thống vì nó nằm trong khuôn khổ với sự khiêm nhường và ý thức về quyền lợi của người khác. Những gì mà chính phủ áp dụng ở trong nước (ví dụ như bảo vệ báo chí tự do), trong các tổ chức quốc tế (tư vấn cho nước khác và chủ nghĩa đa phương) và trong chính sách đối ngoại (thúc đẩy phát triển và nhân quyền) có thể tác động đến người khác bằng ảnh hưởng của các tấm gương của mình. Trong tất cả các lĩnh vực này, ông Trump đã làm đảo ngược các chính sách gây thu hút của Mỹ.

Điều may mắn là nước Mỹ không chỉ có ông Trump hay chính phủ. Không giống tài sản thuộc về sức mạnh cứng (thí dụ như quân đội), nhiều nguồn lực do sức mạnh mềm khác biệt với chính phủ và chỉ đáp ứng một phần các mục đích của chính quyền. Trong một xã hội tự do, chính phủ không thể kiểm soát văn hoá. Thật vậy, việc thiếu các chính sách văn hoá chính thức có thể tự nó là một nguồn thu hút. Các bộ phim Hollywood như “The Post” thể hiện việc các phụ nữ độc lập và tinh thần tự do báo chí có thể thu hút người khác. Cũng có thể đó là công việc từ thiện của các đoàn thể Hoa Kỳ hay các lợi ích của quyền tự do nghiên cứu tại các trường đại học Hoa Kỳ.

Các doanh nghiệp, trường đại học, hiệp hội, tôn giáo và các đoàn thể phi chính phủ khác phát triển quyền lực mềm của họ theo khả năng riêng mà quyền lực mềm này có thể tăng cường hoặc làm phản tác dụng đối với các mục tiêu trong chính sách đối ngoại chính thức. Đó là một sự thật. Tất cả những nguồn lực thuộc về sức mạnh tư nhân này có thể sẽ trở nên quan trọng hơn trong thời đại thông tin toàn cầu. Đây là lý do tại sao các chính phủ đoán chắc rằng các hành động và chính sách riêng tạo ra và thúc đẩy chứ không phải là cắt giảm và phí phạm sức mạnh mềm của họ.

Các chính sách đối nội hoặc đối ngoại có vẻ là ngụy biện, kiêu căng, thờ ơ với quan điểm của người khác, hoặc dựa trên một khái niệm hẹp về lợi ích quốc gia có thể làm giảm sức mạnh mềm. Lấy ví dụ như trong các cuộc thăm dò dư luận được thực hiện vào năm 2003 sau cuộc xâm lược Iraq, sự suy giảm nặng nề về tính hấp dẫn của Hoa Kỳ là phản ứng đối với chính quyền của Tổng thống Bush và các chính sách của ông, chứ không phải là cho nước Mỹ nói chung.

Chiến cuộc Iraq không phải là chính sách đầu tiên của chính phủ làm cho Hoa Kỳ không được ưa chuộng. Trong thập kỷ 1970, nhiều người trên thế giới đã phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam và lập trường toàn cầu của Mỹ phản ánh tình trạng không được ưa chuộng của chính sách đó. Khi chính sách thay đổi và những ký ức của Mỹ mờ nhạt, Mỹ đã hồi phục được phần lớn sức mạnh mềm bị mất. Cũng tương tự như vậy, sau hậu quả của chiến cuộc Iraq, Hoa Kỳ đã tìm cách phục hồi phần lớn sức mạnh mềm ở hầu hết các nước trên thế giới (mặc dù ở Trung Đông là ít hơn).

Những người hoài nghi vẫn có thể lập luận rằng, sự thăng trầm về quyền lực mềm của Hoa Kỳ là không quan trọng, vì các quốc gia hợp tác nhau cho lợi ích riêng. Nhưng lập luận này bỏ qua một điểm chính: hợp tác là một vấn đề mức độ và mức độ bị ảnh hưởng bởi sự thu hút hoặc cự tuyệt. Hơn nữa, ảnh hưởng của các quyền lực mềm của một quốc gia sẽ mở rộng đến các tác nhân ngoài phạm vi của nhà nước – ví dụ như bằng cách hỗ trợ hoặc cho phép tuyển dụng hoặc ngăn trở bởi các tổ chức khủng bố. Trong thời đại thông tin, sự thành công không chỉ phụ thuộc vào quân đội của ai thắng, mà còn về chuyện thắng như thế nào.

Một trong những nguồn lực lớn nhất của quyền lực mềm của Mỹ là tinh thần cởi mở của tiến trình dân chủ. Ngay cả khi những chính sách lầm lạc làm giảm sức hấp dẫn của Mỹ, khả năng chỉ trích và sửa đổi của Mỹ khiến Mỹ trở nên thu hút đối với những người khác ở mức độ sâu xa hơn. Khi người biểu tình hải ngoại diễn hành chống chiến tranh Việt Nam, họ thường hát bài “Chúng ta phải vượt qua”, bản thánh ca của Phong trào Dân quyền Hoa Kỳ.

Chắc chắn là nước Mỹ cũng muốn vượt qua. Với kinh nghiệm trong quá khứ, có mọi lý do để hy vọng rằng Mỹ sẽ khôi phục lại quyền lực mềm sau thời của ông Trump.

***

Joseph S. Nye: Giáo sư Đại học Harvard; cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tình báo Quốc gia. Ông là tác giả của cuốn sách Is the American Century Over?

Nguyên tác: Donald Trump and the Decline of US Soft Power

***

Sách mới của dịch giả: Giới Thiệu Các Danh Tác Cổ Điển Và Hiện Đại Của Phương Tây

Bình Luận từ Facebook
Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

Từ chặt hoa đến bẻ hương

Từ chặt hoa đến bẻ hương

Viết Từ Sài Gòn
2018-02-19

Những cặp đôi nhảy đầm ở tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội hôm 17/2/2018

Những cặp đôi nhảy đầm ở tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội hôm 17/2/2018

Courtesy FB Lê Hoàng

Đầu năm, đầu tháng, lẽ ra tôi nên nói chuyện gì đó vui vui. Nhưng thực sự khó mà nói chuyện vui được khi mọi thứ trong xã hội tôi sống trở nên tệ hại và bệ rạc. Từ chuyện cuối năm nông dân bán hoa không được thì thẳng tay chặt hoa cho đến chuyện một người đàn bà xông vào phá lễ tưởng niệm những chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến Việt – Trung 1979, và thêm nữa, Võ Văn Thưởng, con trai cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hiện là Trưởng ban tuyên giáo Trung ương trả lời với truyền thông là “tôi mới nhậm chức nên không biết gì về cuộc chiến biên giới 1979”.

Vì sao nông dân trở nên máu lạnh? Họ máu lạnh từ bao giờ? Vì sao người ta trở nên hỏng hóc tư duy đến độ không biết phải trái, xông vào bẻ hương, phá đám lễ tưởng niệm? Vì sao Võ Văn Thưởng lại trả lời ngô nghê như một đứa thất học?

Ở khía cạnh thứ nhất, nói nông dân trở nên máu lạnh, điều này vô hình trung vơ đũa cả nắm và xúc phạm những người quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để làm ra hạt gạo, làm ra lương thực cho quốc gia. Nhưng đâu đó, rau bơm thuốc hôm nay, ngày mai hái đi bán, bơm dầu nhớt cho rau muống, nhúng rau củ quả vào hóa chất để tăng trọng lượng sau một đêm và đi bán, đều do người nông dân, nhà buôn Việt Nam và cả nông dân Trung Quốc thực hiện. Và người tiêu dùng Việt Nam trở thành cái sọt rác hứng toàn bộ chất độc của nông nghiệp vô lương Việt – Trung.

Vì sao lại có chuyện đổ đốn, đau khổ như vậy? Khi chính những người chân lấm tay bùn, những người gần gũi thiên nhiên và lương thiện nhất lại trở thành kẻ giết đồng loại không thương tiếc, tôi nhấn mạnh là cả nông dân Trung Quốc và nông dân Việt Nam đều là những kẻ máu lạnh đáng thương, giết đồng loại một cách không thương tiếc. Và sở dĩ xảy ra nông nổi này, nói cho cùng, nông dân cũng là nạn nhân, họ là nạn nhân của nhà quản lý và nạn nhân của sự mù mờ, thiếu kiến thức khoa học và cả ham tiền bởi từng sống qua quá nhiều gian khổ, đau khổ.

Một đứa bé đói khổ, cần ăn một ổ bánh mì cầm hơi, đang nằm giữa đường, thứ mà nó cần nhất không phải là bài giảng về lòng yêu thương hay tính từ bi hỉ xả của một vị sư hay một vị linh mục nào đó, mà một ổ bánh mì của kẻ cướp có giá trị hơn nhiều trong lúc ấy.

Tình trạng người nông dân Việt Nam và nông dân Trung Quốc là tình trạng của đứa bé đói ăn trong câu chuyện dài dòng của lịch sử. Người nông dân không có kiến thức về hóa chất, đương nhiên, người nông dân cần có tiền để tồn tại, thậm chí để làm giàu, đương nhiên. Và mọi hoạt động, làm ăn của người nông dân, bao giờ cũng thụ động hơn rất nhiều so với các nhóm ngành nghề khác, người nông dân, đặc biệt là nông dân Việt buộc lòng phải chạy theo thị trường, chạy theo chính sách nhà nước. Nhà nước mở cửa cho lưu thông hành hóa với Trung Quốc thì người nông dân cả hai quốc gia này nghĩ đến chuyện làm sao có nhiều nông sản bán sang nước kia. Nhà nước thả cửa các loại hóa chất bơm kích thích hoa củ quả chóng lớn thì người nông dân tin rằng nó không tệ, nó giúp mình mau giàu.

Bởi nhà nước chi phối toàn bộ, từ y tế đến giáo dục, văn hóa, khoa học… Người nông dân tiếp nhận một cách thụ động mọi thứ nhà nước bán ra, ban hành ra… Đó là sự thật ở các nước độc tài, gồm cả Việt Nam và Trung Quốc. Và cái giá của việc thụ động này là vì chén cơm manh áo, vì chút tiền để nộp các khoản phí cho con học hành, vì chút tiền để ăn Tết, người nông dân phải chạy đua, chạy đua đến độ bất chấp và máu lạnh.

Câu chuyện, hình ảnh người nông dân chặt cây quất, bẻ hoa mào gà, đập nát hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa thược dược, hoa lay ơn, hoa cẩm chướng… (Ui cả chục loài hoa và cả hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, hàng triệu chậu hoa trên cả nước bị chính tay người đã trồng, đã nâng niu hoặc chí ít người đã dám bỏ ra hàng chục, hàng trăm triệu đồng để mua nó về với tràn trề hi vọng… đập nát, giết chết trong trưa Ba Mươi, Chiều Ba Mươi Tết…) lại cho thấy một ‘ổ bánh mì khác’.

Vì sao? Vì lẽ, cái ổ bánh mì trong cơn đói, hay niềm hi vọng nào đó đã bị giết trong cơn hỗn loạn của sự trí trá, của một chính sách vô trách nhiệm hay trong một giác độ khác, đó là thứ đòn mị dân và người nông dân nếm đủ, nếm trọn vẹn. Để rồi, đôi khi người ta đâm ra giận và thù ghét cả máu tim hay sự tồn tại của mình. Phản ứng của người nông dân đầy vẻ máu lạnh từ chuyện nhúng hóa chất rau củ quả để bán kiếm nhiều tiền, chặt cây, chặt hoa khi không bán được… Tất cả, như một sự quyên sinh về nhân cách. Rất may là người ta đã có cái cây, chậu hoa để thế mạng trong cuộc quyên sinh này! Nhưng cũng không ít nông dân, nhà buôn đã tự tử, đã quyên sinh bản thân vì những chuyện tương tự!

Và hôm 17 tháng 2, khi các nhà hoạt động dân chủ, xã hội dân sự tổ chức tưởng niệm cuộc chiến Biên giới phía Bắc 1979, đã có một người đàn bà bước vào buổi lễ trang nghiêm, sẵn sàng để người khác ghi hình ảnh quấy rối, hành vi nhiễu loạn, hồ đồ của mình. Rồi thêm cảnh các cặp đôi hưu trí mặc áo dài, veston ôm nhảy xà nẹo với nhau, tan, te ngay trước tượng đài, một số khác thì đi rút chân hương mà bẻ… Dường như mọi hành vi xấu xa, hoen ố nhất đều được họ trưng ra ngay giữa thủ đô Hà Nội, trong ngày Tết Nguyên Đán, ngày thiêng liêng của đất nước, dân tộc, họ không ngán gì cả!

Điều này khiến tôi liên tưởng đến cuộc chiến Mậu Thân 1968, khi mà cả nước đang trong giờ phút thiêng liêng, đón giao thừa, thì họ đã khai hỏa, tiếng súng của họ làm cho nhiều người mơ hồ, nhầm tưởng là tiếng pháo. Dường như không còn yếu tố nhân cảm hay tôn trọng một luật chơi nhân đạo nào đối với người Cộng sản mặc dù họ nhân danh hòa bình, nhân đạo và tương lai dân tộc để phát động chiến tranh chiếm miền Nam.

Và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều thế hệ trở nên máu lạnh dưới triều đại Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Bởi phải sinh ra và lớn lên trong một chế độ chính trị mà ở đó, sự tàn độc, tính tiểu nhân, nhược tiểu sợ lớn hiếp bé, tính thủ đoạn được thả sức lên ngôi. Con người ngày càng trở nên mụ mị bởi chính sách ngu dân của nhà cầm quyền… Thì e rằng rất khó để có được một xã hội tử tế.

Một xã hội mà con người muốn thỏa mãn cái ăn, cái mặc và chỗ ở thì phải chấp nhận quyên sinh nhân cách, quyên sinh mọi giá trị đạo đức và quyên sinh cả tình thương, tình thân để đánh đổi lấy nó, thì làm sao tìm ra sự tử tế, lòng lân mẫn hay tính tự trọng?

Một xã hội có bề dày cả ngàn năm văn minh lúa nước, con người gắn bó, hòa điệu với cây cỏ, thiên nhiên, nhưng cũng chính những con người gần với thiên nhiên nhất lại vung tay chặt phá thiên nhiên một cách không thương tiếc và có chút gì đó hả hê, thỏa mãn trong đau khổ… Thì liệu sự tử tế có còn?

Một xã hội có cả ngàn năm Bắc thuộc, trải qua nhiều cuộc binh biến, chiến tranh và giữ nước, xây dựng đất nước. Nhưng cuối cùng cái tinh thần xây dựng đất nước lại gắn với tính lệ thuộc chính trị và mọi gái trị qui ước về đạo đức chính trị bị phá vỡ không thương tiếc, dẫn đến hệ lụy một dân tộc đáng tự hào trở nên đớn hèn và tội nghiệp thì liệu tương lai dân tộc sẽ về đâu?

Một năm mới ghé đến, nhưng nghe sao buồn vẫn cứ nhiều hơn vui? “Vui là vui gượng kẻo mà”!

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Mậu Thân 1968: Tổng tấn công và nổi dậy, cuộc chiến xâm lược hay cuộc nội chiến tương tàn?

Mậu Thân 1968: Tổng tấn công và nổi dậy, cuộc chiến xâm lược hay cuộc nội chiến tương tàn?

Bởi AdminTD

19/02/2018

FB Trương Nhân Tuấn

19-2-2018

Ảnh: Tạp chí LIFE

Lập luận của nhà nước CSVN hiện nay cuộc chiến Mậu thân 1968 là cuộc “tổng tấn công và nổi dậy”. Theo lập luận này chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh “giải phóng”, đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào. Mỹ là lực lượng xâm lược “thực dân kiểu mới”. “Ngụy” là lực lượng “tay sai” của Mỹ. Tổng tấn công là vì lực lượng quân đội tổng hợp đến từ miền Bắc (quân chính qui) và quân “nằm vùng”, gọi là quân “giải phóng” (thuộc MTQGGPMNVN). “Nổi dậy” là vì có yếu tố “nhân dân nổi dậy cướp chính quyền”, điển hình ở Huế.

Nhưng nếu ta xét dưới một lăng kính khác, như dưới cái nhìn của phía người Mỹ, hay của phía Việt Nam Cộng Hòa, trận Mậu Thân còn có tên gọi khác, không đơn thuần là “tổng tấn công và nổi dậy”.

Dưới cái nhìn của người Mỹ, chiến tranh VN là chiến tranh “quốc tế”, theo đó “quốc gia South Vietnam” là một “quốc gia độc lập có chủ quyền”. Quốc gia này bị quân miền Bắc “xâm lược”. Đạo quân miền Bắc được sự yểm trợ vũ khí đạn dược, cũng như ý thức hệ chính trị, của khối cộng sản, gồm Liên Xô, Trung Cộng và khối XHCN gồm các nước Đông Âu. Còn quân “giải phóng”, thuộc MTGPMN, là một “cánh tay nối dài” của CS miền Bắc. Bởi vì lực lượng này do miền Bắc vũ trang đồng thời nhân sự lãnh đạo tất cả đều là đảng viên của đảng CSVN. Tức là, quân “chính qui” miền Bắc hay quân “giải phóng” trong Nam, thực tế chỉ là một, do đảng CSVN lãnh đạo.

Sự có mặt của Mỹ ở miền Nam VN, tương tự như sự có mặt của quân đội này ở Nam Hàn (từ năm 1952), ở Tây Đức (từ sau Thế chiến thứ II cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ trước), hay ở một số nước Á Châu hay Châu Âu. Mục đích sự hiện diện quân đội Mỹ ở các nơi đây không nhằm “chiếm hữu lãnh thổ” mà nhằm bảo vệ “thế giới tự do”, chống lại thế lực cộng sản bành trướng, như làn sóng đe dọa nhuộm đỏ thế giới.

So sánh với thực tế hiện nay, khối cộng sản đã sụp đổ. Ai thắng ai thua đã rõ. Khẩu hiệu “chống Mỹ xâm lược” của CS miền Bắc là không có căn cứ. Mỹ không hề “xâm lược” miền Nam.

Cũng như việc gọi chính quyền miền Nam là “Ngụy”. Hà Nội đã từng gọi chính quyền Nam Hàn, chính quyền Tây Đức… là “ngụy”, là “tay sai thực dân Mỹ”, như đã từng gọi chính quyền VNCH. Đến nay ta thấy lãnh đạo VNCH không hề phụ thuộc Mỹ, ở các quyết định “kinh bang tế thế”.

Mục tiêu “giải phóng dân tộc” của CS miền Bắc vì vậy cũng không đúng. Người Mỹ không hề có tham vọng bành trướng lãnh thổ ở Tây Đức, ở Nam Hàn, hay ở miền Nam VN. Dân tộc miền Nam cũng không hề bị “kềm kẹp” bởi bất kỳ thế lực nào. Nếu so sánh mức độ “tự do và dân chủ”, chế độ miền Nam thời đó hơn xa các nước Châu Á bây giờ như Thái lan, Mã Lai, Phi v.v… Các bộ luật của miền Nam không hề hạn chế người dân ở các quyền tự do cơ bản (như luật của VN bây giờ). Người dân miền Nam không cần ai “giải phóng” hết cả.

Chiến tranh VN, miền Bắc từ cây súng viên đạn cho tới cục lương khô, đều đến từ TQ, LX hay từ khối XHCN “anh em”.

Tài liệu từ phía TQ được bạch hóa, quân TQ thường xuyên có mặt ở VN, có lúc đến 200.000 quân, trong những thời điểm gay cấn nhứt. Trận Điện Biên Phủ, tài liệu TQ bạch hóa, rõ ràng chiến thắng là chiến thắng của quân Tàu. Từ cấp chỉ huy chiến lược, cho tới mọi thứ vũ khí, đều do Tàu cung cấp. Hiệp định Genève 1954, ký kết do hai sĩ quan CSVN và Pháp, là ý nguyện của Tàu và Pháp, nhằm tránh một cuộc chiến tranh thế giới bùng nổ (kiểu Đại Hàn).

Lê Duẩn từng tuyên bố câu để đời “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”.

Dĩ nhiên, nhận viện trợ của LX và TQ thì phải đánh cho LX, cho TQ mà thôi.

Lập trường VNCH là “một quốc gia độc lập có chủ quyền” đã được nhìn nhận, không chỉ ở các nước đồng minh tham gia chiến tranh VN (Úc, Canada, Tân Tây Lan, Phi, Thái lan, Nam Hàn…). Các nước này trong thời điểm Mậu Thân đều có mặt ở VN. VNCH là một “quốc gia” còn được đông đảo học giả VN hiện nay công nhận.

Phần lớn các học giả “nghiên cứu Biển Đông” của VN hiện nay đều khẳng định “VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền”.

Nếu thật sự như vậy, chiến tranh VN là một cuộc chiến “xâm lăng”, quốc gia này đem quân chiếm một quốc gia khác, như Đức đánh chiếm nước Pháp năm 1940.

Vì vậy làm gì có chuyện “tổng tấn công và nổi dậy”!

Quân CS miền Bắc, cùng với tay sai MTGPMN, là quân “xâm lược”. Những “trí thức phật tử” nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân… là quân “cộng hòa gian”, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản.

Nếu chiếu theo luật Hình sự của VN hiện nay, đám đồ tể “phật tử mài dao” HPN Tường, ND Xuân… đều bị kết vào tội “phản bội tổ quốc”, lý ra phải tử hình.

Nhưng luật của VNCH ngày xưa không có các điều 79, 88, 258 v.v… Vì vậy bọn “cộng hòa gian” mới lớn mạnh, trở thành một “lực lượng”. Họ muốn làm gì thì làm, muốn bán nước thì bán.

Nhưng lực lượng “cộng hòa gian” ngoại trừ ở Huế, không đủ “mạnh” để “nổi dậy”. Dân chúng không ai theo cộng sản hết cả. Bọn này nhanh chóng bị dân chúng cô lập, tố cáo. Hầu hết lớp CS “nằm vùng” sau 1968 đều ra “hồi chánh”.

Tức là yếu tố “nổi dậy” cũng không đúng. Ở Huế là phản loạn nổi dậy, giết chóc dân lành. Không hề có dân chúng nào “nổi dậy” hết cả. Cuộc thảm sát ở Huế thuộc về “tội ác diệt chủng”.

*****

Nếu đứng trên một lập trường khác, nhìn chiến tranh VN qua một lăng kính khác. Hai bên VNDCCH và VNCH là hai thực thể chính trị cùng thuộc về một “quốc gia duy nhứt” gọi là Việt Nam. Hai bên VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel”, mỗi bên đều có nguyện vọng “thống nhứt đất nước”.

Cái nhìn này thuộc “thiểu số”, do chính tôi đề xướng, nhằm mục đích khẳng định chủ quyền HS và TS vẫn thuộc về VN hôm nay.

Dưới quan điểm này thì chiến tranh VN là một cuộc “nội chiến” nồi da xáo thịt. Hai bên là “nạn nhân” của các thế lực quốc tế. Cuộc chiến VN là thí điểm “nóng” của “chiến tranh lạnh”, của hai thế lực toàn cầu là CS và tư bản.

Trận Mậu Thân, cũng như thảm sát Mậu Thân ở Huế, là “hệ quả tất yếu” của “chiến tranh cách mạng” ở hình thức “nóng”.

Các phong trào cách mạng như “cải cách ruộng đất”, “cách mạng văn hóa”, “cải tạo công thương nghiệp” ở VN hay ở TQ, hay các vụ “kinh tế mới” ở LX, … nạn nhân của cộng sản trên 100 triệu người (VN khoảng 4 triệu người). Đó là nạn nhân ở hình thức “lạnh”.

Thảm sát ở Huế, cũng như 100 triệu người là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, là “tội ác của cộng sản” mà những thành phần “đồ tể” như HPN Tường, ND Xuân là những kẻ phạm “tội ác diệt chủng”, “tội ác chống nhân loại”.

Từ hai cái nhìn, của Mỹ “VNCH là một quốc gia độc lập có chủ quyền”, hay cái nhìn (của tôi) “VNCH và VNDCCH là các quốc gia chưa hoàn tất. Cả hai đều thuộc về một quốc gia VN duy nhứt”. Thì chiến thắng của đảng CSVN là chiến thắng của một “lực lượng nội xâm”. Một chế độ “thực dân mới” đã xuất hiện ở VN. Chúng ăn của dân không từ một thứ gì. Chúng buôn dân, bán nước. Các chủ trương “xuất khẩu lao động” là một hình thức buôn dân. Các chủ trương “cho mướn đất 70 năm, 100 năm” như Formosa, Bô xít… là bán nước trá hình. Chúng ký kết các hiệp định đưa VN vào vòng lệ thuộc (vói TQ)…

Nếu CSVN là một “lực lượng dân tộc” thì họ đã không đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.

Thảm sát Huế đã qua 50 năm. Các “bí mật” về cuộc thảm sát lý ra phải được bạch hóa. Vấn đề khó khăn là Hoàng Phủ Ngọc Tường có trách nhiệm (ít nhứt) vê 3 cái chết : hai người Mỹ và một người Pháp.

Vì vậy các bí mật này khó được bạch hóa. Các văn khố nước ngoài không nói chi tiết về các vụ này. Chỉ khi mà văn khố chiến tranh của VN được mở ra cho mọi người tham khảo. Ta mới có thể đọc được những “bản án” của các “tòa án nhân dân” tại Huế.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” từng chủ trương xóa bỏ Việt Nam

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” từng chủ trương xóa bỏ Việt Nam

Polpot và Đặng Tiểu Bình. Ảnh: internet

Những bồi bút, văn nô của đảng trong thời gian qua xuất bản hàng loạt sách ca ngợi Đặng Tiểu Bình với những cái tựa đọc lên rất dễ bị tăng xông máu như “Con đường phi thường của Đặng Tiểu Bình”, “Đặng Tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt” v.v…

Lẽ ra nên có một tác phẩm kể tội ác của y đối với dân tộc Việt Nam và đặt tựa là “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” mới đúng. “Côn đồ” là chữ y dùng để chỉ Việt Nam.

Lý do vì “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” đã từng chủ trương xóa bỏ nước Việt Nam trong bản đồ thế giới bằng một cuộc chiến đánh phủ đầu (preemptive war).

“Đánh phủ đầu” theo chủ trương của “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” không phải là để dời vài cột mốc, đụng độ lẻ tẻ dọc biên giới mà là cuộc tấn công quyết định trước khi Việt Nam có khả năng chống trả.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” nói với Tổng thống Jimmy Carter trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979: “Bất cứ nơi nào, Liên Sô thò ngón tay tới, chúng ta phải chặt đứt ngón tay đó đi.”

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger giải thích quan điểm này trong tác phẩm Về Trung Quốc (On China):

“Những gì Đặng Tiểu Bình đề nghị về căn bản là chính sách đánh phủ đầu, đó là một lãnh vực trong chủ thuyết quân sự ngăn chận tấn công của Trung Quốc… Nếu cần thiết, Trung Quốc sẽ chuẩn bị phát động các chiến dịch quân sự để phá vỡ kế hoạch của Liên Sô, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á”.

“Đông Nam Á” và “ngón tay” theo ý “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” không phải là mục tiêu nào khác mà là Việt Nam.

Trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu năm 1979, Đặng không mua chuộc được sự ủng hộ công khai của Mỹ. Mỹ chỉ đồng ý giúp theo dõi sự động binh của 55 sư đoàn Liên Sô phía Bắc và chụp không ảnh các trận đánh vùng biên giới.

Đặng tưởng đó là một thành công nhưng hóa ra là một thất bại. Nhờ những tấm ảnh chụp từ vệ tinh mà các cơ quan truyền thông quốc tế biết dân quân Việt Nam vùng biên giới dù không chuẩn bị đã dạy cho Trung Cộng một bài học đích đáng.

Theo nhận xét của Đại Tá Russell D. Howard thuộc Học Viện An Ninh Quốc Gia của Không Quân Hoa Kỳ, Trung Cộng thiệt hại chỉ trong vài ngày bằng hơn một nửa số tổn thất của Mỹ trong 10 năm tham dự chiến tranh Việt Nam.

Sau tuần lễ đầu chịu đựng nhiều thiệt hại nhưng danh sách các vùng chiếm được chỉ là những làng xã dọc biên giới, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” ra lịnh bằng mọi giá phải chiếm cho được thành phố Lạng Sơn, thủ phủ tỉnh Lạng Sơn để lấy tiếng trước khi rút lui. Chiều ngày 4 tháng Ba, sau nhiều trận giao tranh đẫm máu quân Trung Cộng tiến vào Lạng Sơn.

Khi rút khỏi những nơi này, quân Trung Cộng san bằng tất cả nhà cửa để trả thù cho số thương vong quá lớn.

Ký giả Nayan Chanda thăm vùng giao tranh vài ngày sau cuộc chiến đã ghi nhận không chỉ các công sở mà cả trường học, bịnh viện đều bị quân Trung Cộng giựt sập.

Để ngăn chận khối Việt Miên Lào liên minh nhau, tháng 8 năm 1975, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” chia sẻ với Khieu Samphan, nhân vật số ba trong Khmer Đỏ “Khi một siêu cường [Mỹ] rút đi, một siêu cường khác [Liên Sô] sẽ chụp lấy cơ hội mở rộng nanh vuốt tội ác của chúng đến Đông Nam Á”.

Để xóa bỏ Việt Nam, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” ủng hộ CS Campuchia giết một cách dã man đồng bào Việt sống dọc biên giới Việt Miên.

“Côn đồ Đặng Tiểu Bình” gặp riêng “khát máu Pol Pot” từ 28 tháng 9 đến 22 tháng 10, 1977 tại Bắc Kinh.

“Khát máu Pol Pot” chủ trương chỉ cần một người Campuchia diệt được ba chục người Việt, dân Campuchia sẽ tiêu diệt toàn bộ dân tộc Việt Nam. Các cuộc đột kích vào đảo Thổ Châu, Phú Quốc, nhiều địa phương thuộc các tỉnh An Giang, Tây Ninh, đốt phát làng mạc, giết người, bắt cóc, bịt mắt thả sông của Khmer Đỏ trong giai đoạn 1977-1978 phát xuất từ chủ trương này.

Về mặt đối ngoại, “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” cố gắng thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á, Á Châu và Mỹ.

Từ cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, Đặng viếng thăm hàng loạt quốc gia châu Á như Nhật, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Miến Điện, Nepal. Tại mỗi quốc gia thăm viếng, họ Đặng luôn đem thỏa ước Việt-Sô ra hù dọa các nước láng giềng như là mối đe dọa cho hòa bình và ổn định Đông Nam Á.

Đặng phát biểu tại Bangkok ngày 8 tháng 11 năm 1978: “Hiệp ước [Việt Sô] này có ý nghĩa quan trọng hơn đối với Á Châu và Thái Bình Dương. An ninh và hòa bình châu Á, Thái Bình Dương và toàn thế giới bị đe dọa”. Ngoại trừ Singapore, Đặng nhận sự ủng hộ của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.

Lý Quang Diệu sáng suốt chỉ ra cho “Côn đồ Đặng Tiểu Bình” thấy: “Không có một cộng đồng Nga kiều nào tại các nước Đông Nam Á có thể dẫn đến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản do Liên Sô ủng hộ nhưng ở đâu cũng có các cộng đồng Hoa kiều được đảng và nhà nước Trung Cộng xúi dục và ủng hộ”.

Việt Nam, quốc gia vùng trái độn giữa hai quyền lực thế giới, chưa bao giờ đứng trước một chọn lựa sinh tử như hôm nay.

Một người có trách nhiệm với tương lai đất nước, dù cá nhân mang một thiên kiến chính trị nào, cũng phải biết thức tỉnh, đặt quyền lợi dân tộc lên trên, chọn hướng đi thích hợp với đà tiến văn minh dân chủ của thời đại, chấm dứt việc cấy vào nhận thức của tuổi trẻ một tinh thần bạc nhược, đầu hàng, vinh danh kẻ thù dân tộc.

Chỉ với vài trong số rất nhiều tội ác mà lịch sử sẽ lần lượt viết ra trong tương lai, Đặng Tiểu Bình xứng đáng được gọi “Côn đồ”.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Lúng túng, loay hoay: không thể che lấp sự thật

J.B Nguyễn Hữu Vinh
2018-02-19

Ông Phan Văn Anh Vũ (giữa) trong một sự kiên ở Đà Nẵng hôm 29/4/2016.

Ông Phan Văn Anh Vũ (giữa) trong một sự kiên ở Đà Nẵng hôm 29/4/2016.

AFP

Dân gian có câu ví khá hay: “Loay hoay như chó bí ỉa”“lúng túng như gà mắc tóc”.

Những câu ngạn ngữ này để chỉ thái độ lúng túng của ai đó khi thiếu hiểu biết, hoặc gian lận, hoặc muốn che giấu một sự thật nào đó. Trong cuộc sống, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy hoặc là ở những người dốt, hoặc ở những kẻ gian có thái độ này.

Nhiều vụ việc, hễ dính đến Công an, thì y như rằng hiện tượng “chó đau ỉa” và “gà mắc tóc” liên tục xảy ra. Nó xảy ra ở cách tiếp nhận, nó xảy ra ở cách xử lý, nó xảy ra ở cách đối phó, nó xảy ra ở cách thông tin…

Những chuyện đã qua

Người ta thấy rõ ở rất nhiều vụ việc:

– Công an đánh hướng dẫn đám côn đồ bao vây Thái Hà, Tòa TGM Hà Nội năm 2008. Khi bị các cơ quan ngoại giao nước ngoài chất vấn, Lê Dũng đã nói: Đó không phải là dân, công an mà là “Quần chúng tự phát”. Câu “ngu ngữ” này đã bị cả thế giới làm cho te tua đến mức sau đó cả hệ thống quan chức không dám mở mồm ra lần nào nữa chỉ bằng một câu hỏi: Vậy thì cứ dân tự phát là hiển nhiên đúng và được bảo vệ kể cả khi chúng vi phạm luật pháp?

– Công an đánh nhà báo sưng mặt, đá nhà báo trước bao nhiêu ống kính và hình ảnh đầy trên mạng, nhưng tay Đại tá Nguyễn Duy Ngọc – phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội cho rằng không phải công an đánh nhà báo, mà chỉ là “Gạt tay trúng má và giơ chân hơi cao”.

Sáng tác này của đại tá Công an, khiến xã hội được trận cười không dứt. Một nữ nhà báo nói với mình rằng: Bố tổ sư lão Ngọc, hôm ấy, báo hại em đang đi họp dở phải chạy về thay quần lót vì lão phát biểu xong em không nhịn được, vãi ra cả quần, xấu hổ khiếp. Thế mà lão không hề xấu hổ.

Có lẽ vì sự dày… mặt này, nên sau đó lão được lên chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an.

Không rõ với những người trình độ và liêm sỉ như vậy thì Bộ Công an sẽ đến đâu.

Chuyện hiện tại

Thì đây, hôm nay lại có một tay Tướng Công an hẳn hoi, Trung tướng Trần Đăng Yến – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, trong cuộc họp báo về vụ Vũ Nhôm, ông ta trả lời các câu hỏi như sau:

” Nói về tấm thẻ ngành công an của ông Phan Văn Anh Vũ được lan truyền trên mạng là thật hay giả Trung tướng Trần Đăng Yến khẳng định: “Tấm thẻ ngành công an của Vũ “nhôm” được đăng trên mạng cũng nằm trong quá trình điều tra, làm rõ.

Về thông tin trên mạng xã hội cho rằng, Vũ “Nhôm” có 3 hộ chiếu và được giúp đỡ khi chạy trốn, Trung tướng Trần Đăng Yến cho rằng, có nhiều thông tin chưa chính xác và Cơ quan An ninh điều tra đang làm rõ.

“Trường hợp phát hiện vi phạm, Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xử lý nghiêm” – Trung tướng Trần Đăng Yến khẳng định.

Bên cạnh đó, Trung tướng Yến cho rằng, khi báo chí thu thập thông tin thì phải có nguồn kiểm chứng.

“Hiện nay, vấn đề lộ lọt thông tin trên mạng đang rất phức tạp, nhất là trong sự phát triển của Internet. Chúng ta rất dễ bị nhiễu từ các thông tin này…”- Trung tướng Yến nói. (Trích nguyên văn)

Lời bàn:

Buổi họp báo của Bộ Công an, tập trung báo chí là để có những thông tin cần thiết cho xã hội được rõ, được minh bạch. Cũng theo các cán bộ lãnh đạo Cộng sản, thì phải cung cấp cho báo chí những thông tin chính xác, kịp thời để “ngăn chặn những tin đồn thiếu căn cứ hoặc có ý đồ xấu”, nhất là chuyện “báo chí chạy theo mạng xã hội”. Tay lãnh đạo nào cũng ông ổng như vậy từ Chủ tịch nước đến Bộ trưởng Công an, Truyền thông…

Thế nhưng buổi họp báo của Bộ Công an có nội dung gì?

– Về cái thẻ công an của Vũ Nhôm, rõ như ban ngày là cấp bậc: Cấp tá, số hiệu sĩ quan hẳn hoi, có thằng ký, có con dấu… Vậy với nghiệp vụ Công an, chỉ cần chưa đầy 10 phút có thể xác định thẻ đó, chữ ký đó là dởm hay thật, do ai làm và vì sao? Vũ Nhôm có số hiệu sĩ quan, có danh sách quân số… đủ cả có ở trong ngành công an hay không.

Vậy mà từ ngày bị khởi tố đến giờ tròn 2 tháng mà hệ thống công an ta “giỏi nhất thế giới” vẫn “đang điều tra, làm rõ” chứ không biết sự thật? Lý do là vì nó có thật nhưng làm giả, hay nó là thẻ giả nhưng có thằng công an khác làm thật cho nó, hay vì nó giả cả thẻ cả người… chắc không đầy 30 phút thì đã rõ vì Vũ Nhôm đang trong tay Công an chứ đâu xa, nhưng cứ cho là mất đi nửa ngày. Thế mà hai tháng qua, vẫn không rõ đâu là thật, đâu là giả? Chẳng lẽ cả Bộ công an này đi ngủ hai tháng qua?

– “Về thông tin trên mạng xã hội cho rằng, Vũ “Nhôm” có 3 hộ chiếu và được giúp đỡ khi chạy trốn”, thì vẫn là điệp khúc “Cơ quan An ninh điều tra đang làm rõ”. – Nghĩa là vẫn dẫm chân tại chỗ mà chưa điều tra ra được cái gì cả.

Quả là đáng nể, mấy cái hộ chiếu, được giúp đỡ chạy trốn hay không thì không điều tra cư dân mạng vẫn biết rất rõ nó từ đâu. Và cũng như cái thẻ ngành công an, nó lồ lộ ra đó chứ đâu đến mức nó biến đi mất tích như con tàu MH370 của Malaysia mà không thể điều tra được?

Điều người ta không hiểu nổi là các vụ án chống lại những người yêu nước, thương dân, chống bành trướng, vì lãnh thổ và vì đất nước tiến bộ thì Công an điều tra rất nhanh quá mức có thể ngờ. Thậm chí không chỉ là điều tra ra “tội” mà còn điều tra ra cả những ý nghĩ trong đầu người khác để kết tội “âm mưu”… chống nhà nước với các công dân vô tội. Kỳ quặc nhất là Công an còn điều tra ra cả tội “Tuyên truyền lật đổ chế độ” của hai người mù chữ trong vụ án vừa qua mấy hôm thôi.

Thế mà vụ này, hai tháng trời công an không thể điều tra ra được Vũ Nhôm là công an thật hay công an giả. Hộ chiếu thật hay giả… Có lẽ những người có đầu óc hài hước số 1 thế giới chưa chắc đã nghĩ ra chuyện này.

Mà chưa nói đâu xa, vụ án Trịnh Xuân Thanh kia thôi, từ khi bắt, đến khi có kết luận điều tra cũng chỉ có chục ngày.

Thực ra, đơn giản dễ hiểu chỉ vì đó là vụ thanh trừng phe nhóm, loại trừ đối thủ chính trị thì Đảng cho thực hiện theo một nguyên tắc khác hẳn: Đảng đã muốn bắt, là phải có tội.

Điều hài hước, nực cười nhất lại là sau khi trả lời các câu hỏi mà không trả lời điều gì, thì Trung tướng Trần Đăng Yến khẳn định: “Trường hợp phát hiện vi phạm, Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xử lý nghiêm”.

Điều này thể hiện một vấn đề rất rõ ràng là ông Yến này không hề hiểu Tiếng Việt. Nghĩa là ông ta không hiểu các nhà báo đang hỏi vấn đề gì. Thế nên, mới xảy ra hiện tượng ông hỏi gà, bà nói vịt là thế.

Tại sao nhà báo hỏi mấy cái thật giả, thì ông không trả lời được, đáp án là con sống không tròn trĩnh mà ông lại khoe sẽ “xử lý nghiêm khi phát hiện sai phạm”?

Tại sao chưa ai đánh mà ông đã khai cách làm việc của công an?

Lẽ dĩ nhiên là nếu luật pháp nghiêm minh, thì chuyện xử lý nghiêm là chuyện không cần bàn cãi và không cần rêu rao.

Lẽ dĩ nhiên là đã vi phạm luật pháp thì đến vua cũng phải trị tội như thường dân, huống chi là công an.

Thế nhưng, xin cam đoan là những vụ việc liên quan đến công an thì hầu hết không thể làm rõ, không thể nghiêm minh. Vì thế ông ta đã vội quảng cáo cho điều mà ông ta biết là chẳng ai tin ông ta.

Cứ xem lại thì rõ: Vụ em Dư chết vì “rửa bát bẩn” trong đồn công an, dù em chưa đến tuổi thành niên, tiếp theo là vụ đánh các luật sư mặt mũi tím bầm, nhìn không ra hình tượng con người kia. Rồi cũng chìm xuồng, đã có tên Công an nào bị “xử lý nghiêm” bao giờ.

Cứ xem lại vụ đánh nhà báo vì “Gạt tay trúng má, giơ chân hơi cao” đến mức nhà báo đi nằm viện, đại biểu quốc hội yêu cầu khởi tố… rồi cũng cứt trâu hóa bùn.

Cứ xem lại biết bao vụ khác nữa, đâu có đó và vẫn “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường. Cứ lần theo bước đoạn trường mà đi” vậy thôi.

Mới đây nhất, viên CSGT Hà Nam khi chặn xe dọc đường không đúng nguyên tắc, cầm tiền rơi xuống lại dẫm chân lên, nhặt dưới đường bỏ túi… Có lẽ đến đứa trẻ con nó cũng biết đó là cái gì?

Thế nhưng dù đã báo cáo lên tận Bộ Công an, nhưng sau khi điều tra, công an vẫn “không thể làm rõ” vì “Do hình ảnh trong clip không phản ánh đầy đủ các thông tin nên không đủ căn cứ xác định cán bộ CSGT trong clip nhận mãi lộ”.

Điều này giống như câu hát nào đó: “Ai cũng hiểu, chỉ… công an Hà Nam không hiểu”.

Xưa nay, đã động vào công an, thì đừng mong chuyện xử lý nghiêm bất cứ chỗ nào. Công an là “lá chắn, là thanh kiếm”, là con chó giữ nhà của đảng và “chỉ biết còn đảng, còn mình”. Do vậy nếu xử lý nghiêm đám công an, thì ai giữ nhà cho đảng tung hoành muốn gì được nấy trên xương máu, tài sản, tính mạng của người dân và lãnh thổ đất nước cho ai nấy được?

Bởi nếu xử lý nghiêm” thì lại phải nhớ câu của Nguyễn Sinh Hùng: “Cứ vi phạm mà kỷ luật thì lấy đâu ra cán bộ mà làm việc”.

Bởi nếu không có hệ thống “lá chắn, là thanh kiếm”, là con chó giữ nhà kia, thì cam đoan rằng cái Đảng “quang vinh, vĩ đại” kia không thể tồn tại nổi 2 ngày.

Hài nữa, là ông ta yêu cầu “báo chí thu thập thông tin thì phải có nguồn kiểm chứng”. Nhà báo sẽ kiểm chứng ở đâu khi mà chính công an cũng chưa biết đầu đuôi nó ra sao dù đã hai tháng trôi qua? Việc điều tra, kiểm chứng mà công an còn chưa làm được gì sao yêu cầu báo chí?

Tạm kết:

Sở dĩ có những câu trả lời còn hài hơn cả vua hài, còn nhố nhăng hơn cả đám du thủ du thực, còn bẩn thỉu hơn cả đám cùng đinh kia. Chỉ vì điều duy nhất họ thiếu: Sự thật.

Vì không có sự thật, họ phải vòng vo.

Vì để vòng vo né tránh, nên họ phải sáng tác ngôn ngữ mới.

Vì không thể minh bạch những cái thối, cái bẩn nên họ phải đánh bài lờ rằng “đang điều tra, làm rõ” nhằm câu giờ.

Những cách vòng vo, luẩn quẩn và bất chấp sự thật, bất chấp liêm sỉ cũng như tiếng cười của thế gian, miễn là đạt mục đích hóa bùn bãi cứt trâu vốn ngày càng lớn.

Điều đó người ta không còn thấy lạ.

Điều người ta lạ nhất, là không hiểu vì sao một chế độ, một thể chế lại có thể là nơi sinh ra, dung dưỡng cho sự dối trá phát triển đến mức bất chấp quy luật đến vậy mà vẫn cứ tồn tại.

Tất cả những điều trên, có một tác dụng hết sức rõ ràng là nó chứng minh một chân lý đã được nhiều người, thậm chí là các trùm lãnh đạo cộng sản khẳng định như Tổng Bí Thư ĐCS Liên xô Mikhail Gorbachev: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”

Hay như Tổng thống Nga Putin nói: “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim“.

Ngày 18/2/2018

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

BỐ NÓ

Image may contain: one or more people, people standing, people dancing, people on stage and outdoor
Image may contain: outdoor

Tran Manh Hao added 2 new photos.Follow

BỐ NÓ

Thơ Trần Mạnh Hảo

Bố nó tên là Bình
Đặng hay Tập nó đều kêu là bố
Nó giả đò làm người Việt mình
Kỷ niệm 39 năm hàng vạn dân quân Việt bị bố nó giết
Nó sai đười ươi ra nhảy múa mừng công trước tượng đài Lý Thái tổ

Bố nó xoa đầu khen nó mà bụng rất khinh :
– Mày dù giả Hán vẫn là Kinh !
– Bao giờ tao cướp trọn nước Việt
– Tao sẽ đem mày ra giữa chợ hành hình
– Vì tao là hoàng đế Tập Cận Bình….
– Mày hãy nhìn gương tên bán nước Tống cho giặc Kim là vợ chồng Tần Cối
– Tao ghét vô cùng bọn bán nước cầu vinh

Sài Gòn ngày 19-2-2018

T.M.H.

Chú thích ảnh 1: ngày 17-2-2018 ( kỷ niệm 39 năm giặc Tầu cho ngót triệu quân qua giết hại hàng vạn quân và dân Việt Nam. “Nó” cho nhiều cặp đười ươi ra nhảy múa trước tượng đài Lý Thái tổ mừng công giặc, đồng thời để ngăn cản hàng vạn người yêu nước muốn đến thắp hương tưởng nhớ đồng bào đã bị giặc giết dọc tuyến 6 tỉnh biên giới phía Bắc 17-2-1979).
Chú thích ảnh 2 : những tên gian thần móc nối với giặc Kim bán nước Tống để giết trung thần Nhạc Phi nghìn năm bị làm tượng quỳ gối trước mộ Nhạc Phi cho dân Trung Hoa đến nhổ nước miếng vào mặt. Bốn tên bán nước đó là : Trương Tuấn, Vạn Sĩ, Tần Cối và vợ là Vương Thị. SỐ PHẬN “NÓ” và “CHÚNG NÓ” sau này ở Việt Nam sẽ giống như thế.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

DIỄN HÀNH TẾT MẬU TUẤT 2018

DIỄN HÀNH TẾT MẬU TUẤT 2018 PHẦN 1

DIỄN HÀNH TẾT MẬU TUẤT 2018 PHẦN 2

DIỄN HÀNH TẾT MẬU TUẤT. 2018. PHẦN 3

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Hội nghị Thành Đô- Hồi ký Trần Quang Cơ

Hội nghị Thành Đô- Hồi ký Trần Quang Cơ

This entry was posted on Tháng Sáu 16, 2016, in Lịch sử Việt Nam and tagged 1979, Hội nghị Thành Đô, Trần Quang Cơ. Bookmark the permalink. 5 phản hồi

Trích Hồi ký Trần Quang Cơ

  1. CUỘC GẶP CẤP CAO VIỆT – TRUNG TẠI THÀNH ĐÔ

Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp TBT Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp anh Tô. Trung Quốc còn lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được vì khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.

Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề bình thường hoá quan hệ. Năm ngày trước – ngày 24.8.90 – Trung Quốc còn bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ý cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ.

Thái độ “thiện chí” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách:

  1. Tất cả những hoạt động đối ngoại và đối nội của Trung Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định chiến lược nhất quán của họ là kiên quyết thực hiện “4 hiện đại”, biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu trên thế giới, đồng thời xác định vị trí nước lớn của mình trước hết ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương. Vì lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên trì tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng thời bình thường hoá quan hệvới Liên Xô. Nhưng sau hơn 10 năm cải cách và mở cửa, tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của Trung Quốc rất khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu chiến lược đó đang bị đe doạ nghiêm trọng. Về đối ngoại, bị Mỹ, Nhật và phương Tây thi hành cấm vận. Trong khi đó, quá trình cải thiện quan hệ Mỹ – Xô tiến triển rất nhanh44. Xô – Mỹ hợp tác chặt chẽ giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực không kể đến vai trò của Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai trò Trung Quốc cũng bị lấn át (Xô – Mỹ tiếp xúc trao đổi chặt chẽ về vấn đề Campuchia, cuộc gặp Sihanouk – Hunxen ở Tokyo là do sự dàn xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ý muốn của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đòi Trung Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết vấn đề Campuchia trên cơ sở kiềm chế Khmer Đỏ.
  2. Chuyến đi Đông Nam Á của Lý Bằng (6-13.8.90) nằm trong yêu cầu chiến lược của Trung Quốc tranh thủ hoàn cảnh quốc tế hoà bình để thực hiện “4 hiện đại”, diễn ra trong bối cảnh liên minh Trung Quốc xây dựng ở Đông Nam Á trong 10 năm qua để chống Việt Nam đang tan vỡ sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và sau khi Mỹ đã điều chỉnh chính sách. Cuộc đi thăm của Lý đã bộc lộ những điểm đồng và bất đồng giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Các nước ASEAN vẫn rất lo ngại lý do bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam kết nội bộ các nước trong khu vực, ủng hộ các đảng cộng sản và vấn đề Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương lượng và hợp tác về vấn đề Trường Sa. Tiếp tục đối đầu với Việt Nam không còn phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa.
  3. Sau khi Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào cải thiện quan hệ với ta theo hướng không có lợi cho tính toán của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước tình hình đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.
  4. Về thời điểm: trong cuộc họp ngày 27 và 28.8.90 tại Nữu-ước, P5 đã thoả thuận văn kiện khung về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia (gồm các vấn đề: các lực lượng vũ trang Campuchia, tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo đảm quốc tế đối với thể chế tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân quyền không đề cập trực tiếp đến vấn đề diệt chủng, chỉ nói Campuchia sẽ “không trở lại chính sách và hành động trong qúa khứ”. Còn Trung Quốc buộc phải nhân nhượng không còn đòi lập chính phủ liên hiệp 4 bên ngang nhau, phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ. P5 thoả thuận lịch giải quyết vấn đề Campuchia: trong tuần từ 3.9 đến 9.9 họp các bên Campuchia ở Jakarta để lập SNC trước phiên họp Đại hội đồng LHQ, tiếp đó họp mở rộng với các nước trong khu vực (có Trung Quốc), đến khoảng tháng 10-11.90 họp uỷ ban Phối hợp Hội nghị Paris về Campuchia để soạn thảo Hiệp định trên cơ sở văn kiện khung do P5 vạch ra, các ngoại trưởng ký Hiệp định; 15 nước trong Hội đồng Bảo An thông qua. Trung Quốc đặt cuộc gặp cấp cao Trung – Việt trong cái khung thời gian này. Tuy nhiên Bắc Kinh dấu không cho ta biết gì về những thoả thuận giữa họ và các nước lớn trong Hội đồng bảo an, mặt khác cũng giữ kín cuộc hẹn gặp ta ở Thành Đô vì không muốn làm cho phương Tây và ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Ngày 30.8.90, Bộ Chính trị họp bàn về việc gặp lãnh đạo Trung Quốc. Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ CNXH chống đế quốc, và hợp tác giữa PhnomPenh và Khmer đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia, mặc dù trước đó Bộ Ngoại Giao đã trình bày đề án nêu rõ là rất ít khả năng thực hiện phương án này vì phương hướng chiến lược của Trung Quốc vẫn là tranh thủ phương Tây phục vụ “4 hiện đại”. Anh Lê Đức Anh bổ sung ý anh Linh: “Phải nói về hoà hợp dân tộc thực sự ở Campuchia. Nếu không có Polpot thì vẫn tiếp tục chiến tranh”. Anh Võ Chí Công không đồng ý, nói: “Trung Quốc sẽ không nghe ta về hợp tác bảo vệ CNXH. Trung Quốc muốn tranh thủ phương Tây”. Anh Thạch cảnh giác: “Vẫn có 3 khả năng về quan hệ giữa ta và Trung Quốc, không phải chỉ là khả năng tốt cả. Dự kiến Trung Quốc sẽ nêu công thức “SNC 6+2+2+2” để nhấn rõ là có 4 bên Campuchia (trong đó Khmer đỏ là 1 bên), xoá vấn đề diệt chủng…” Sự thực sau này cho thấy Trung Quốc còn đòi cao hơn thế !

Ngày 2.9.90, ba đồng chí lãnh đạo cao cấp của ta đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có Hồng Hà – Chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn – Trưởng ban Đối ngoại, và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao. Đáng chú ý là trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Sau 2 ngày nói chuyện (3-4.9.90), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên đang còn tranh cãi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia có dẫn chứng), còn 5 điểm thì hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả. Trong bản thoả thuận, vấn đề nổi cộm nhất là điểm 5 về việc thành lập SNC. Lãnh đạo ta đã thoả thuận dễ dàng, không do dự (!), công thức “6+2+2+2+1” (phía PhnomPenh 6 người; phía “3 phái” 7 người; 2 của Khmer đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk và bản thân Sihanouk) mà Từ Đôn Tín vừa đưa ra ở Hà Nội và bị tôi bác. Công thức này bất lợi cho PhnomPenh, với công thức “6+6” hay “6+2+2+2”, tức là hai bên có số người ngang nhau mà Sihanouk và Hunxen đã thoả thuận ở Tokyo.

Về sáng kiến “giải pháp Đỏ” cho vấn đề Campuchia mà lãnh đạo ta đưa ra, tưởng như phía Trung Quốc sẽ nhiệt liệt hoan ngênh, song Lý Bằng đã bác đi: “Các đồng chí nói cần thực hiện 2 đảng cộng sản hợp tác với nhau để phát huy hơn nữa. Tôi đồng ý một phần và không đồng ý một phần. Bốn bên Campuchia, xét về lực lượng quân sự và chính quyền, mạnh nhất là hai đảng cộng sản, có vai trò nhiều hơn. Nhưng phần tôi không đồng ý là ở campuchia không chỉ có hai đảng cộng sản mà còn có các thế lực khác là lực lượng của Sihanouk và lực lượng của Son San. Lực lượng của họ không lớn lắm nhưng họ được quốc tế ủng hộ. Bài xích họ thì cô lập SNC, không thể đoàn kết Campuchia. Cần phải để cho hai bên kia phát huy tác dụng ở Campuchia”. Và Giang Trạch Dân cùng nói thêm: “Các nước phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho rằng Việt nam XHCN, Trung Quốc XHCN đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, họp với nhau bàn cái gì đây? Vì vậy chúng tôi giữ kín chuyến đi này. Tình hình quốc tế hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.

  1. THÀNH ĐÔ LÀ THÀNH CÔNG HAY LÀ THẤT BẠI CỦA TA ?

Ngay sau khi ở Thành đô về, ngày 5.9.90 anh Linh và anh Mười, có thêm anh Thạch và Lê Đức Anh, đã bay sang PhnomPenh thông báo lại với BCT Campuchia nội dung cuộc gặp gỡ cấp cao Việt-Trung. Để thêm sức thuyết phục PhnomPenh nhận Thoả thuận Thành đô, anh Linh nói với lãnh đạo Campuchia: “Phải thấy giữa Trung Quốc và đế quốc cũng có mâu thuẫn trong vấn đề Campuchia. Ta phải có sách lược lợi dụng mâu thuẫn này. Đừng đấu tranh với Trung Quốc đến mức xô đẩy họ bắt tay chặt chẽ với đế quốc.” Lập luận này được Lê Đức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.”

Nhưng câu trả lời của Heng Somrin, thay mặt cho lãnh đạo Campuchia, vẫn là: “Phải giữ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Những vấn đề nội bộ liên quan đến chủ quyền CPC phải do các bên CPC giải quyết”. Về “giải pháp Đỏ”, PhnomPenh nhận định: “Trung Quốc không muốn hai phái cộng sản ở Campuchia hợp tác với nhau gây phức tạp cho quan hệ của họ với Sihanouk và với phương Tây. Vì vậy chúng tôi thấy rằng khó có thể thực hiện “giải pháp Đỏ” vì “giải pháp Đỏ” trái với lợi ích của Trung Quốc”. Mặc dù ban lãnh đạo Campuchia đã xác định rõ thái độ như vậy, song Lê Đức Anh vẫn cứ cố thuyết phục Bạn: “Ta nói “giải pháp Đỏ” nhưng đó là “giải pháp Hồng”, vừa xanh vừa đỏ. Trước mắt không làm được nhưng phải kiên trì. Ta làm bằng nhiều con đường, làm bằng thực tế. Các đồng chí cần tìm nhiều con đường tiếp xúc với Khmer Đỏ. Vấn đề tranh thủ Khmer Đỏ là vấn đề sách lược mang tính chiến lược… Nên kiên trì tìm cách liên minh với Trung Quốc, kéo Khmer Đỏ trở về… Ta đừng nói với Trung Quốc là làm “giải pháp Đỏ”, nhưng ta thực hiện “giải pháp Đỏ”; có đỏ có xanh…nhưng thực tế là hợp tác hai lực lượng cộng sản”. Nguyễn văn Linh bồi thêm: “Xin các đồng chí chú ý lợi dụng mâu thuẫn, đừng bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc muốn đi với Mỹ, nhưng Mỹ ép Trung Quốc nên Trung Quốc cũng muốn có quan hệ tốt với Lào, Việt Nam và Campuchia. Nếu ta có sách lược tốt thì ta có giải pháp Đỏ.

Theo báo cáo của đại sứ Ngô Điền, thái độ của bạn Campuchia đối với ta từ sau Thành Đô có đổi khác. Về công khai, bạn cố tránh tỏ ra bị lệ thuộc vào Việt nam. Trên cơ sở tính toán về lợi ích của mình, bạn tự quyết định lấy đối sách, không trao đổi trước với ta, hoặc quyết định trái với sự gợi ý của ta trên nhiều việc.

Nhìn lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đã mắc lỡm với Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm:

* Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ, nhưng thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, còn vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia mới nói đến chuyện bình thường hoá quan hệ hai nước;

* Trung Quốc nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp cố vấn Phạm Văn Đồng, nhưng đó chỉ là cái “mối” để kéo anh Đồng tham gia gặp gỡ cấp cao.

* Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước, nhưng ngay sau cuộc gặp hầu như tất cả các nước đã được phía Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo nội dung chi tiết bản thoả thuận Thành Đô theo hướng bất lợi cho ta.

Ngày 7.9.90 BCT đã họp thảo luận về kết quả cuộc gặp cấp cao Việt – Trung và cuộc gặp cấp cao Việt – Campuchia sau đó, và quyết định ngay hôm sau Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc thông báo lại lập trường của Campuchia; đồng thời thông báo với Liên Xô, Lào như đã thông báo với Campuchia. Nếu có ai hỏi về công thức “6+2+2+2+1”, nói không biết.

Nhưng Báo Bangkok Post ngày 19.9.90 trong bài của Chuchart Kangwaan đã công khai hoá bản Thoả thuận Thành Đô, viết rõ Việt Nam đã đồng ý với Trung Quốc về thành phần SNC của Campuchia sẽ gồm 6 người của Nhà nước Campuchia, 2 của Khmer đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk, thành viên thứ 13 là Hoàng thân Sihanouk giữ chức Chủ tịch Hội đồng. Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (FEER) số 4/10 (10.10.90) đăng bài “Củ Cà-rốt và cái gậy” viết về cuộc gặp gỡ cấp cao Trung-Việt ở Thành Đô giữa TBT Đảng và Thủ tướng hai nước, cho biết hai bên đã thoả thuân công thức “6+6+1” về việc lập SNC. Phía Việt Nam có nhượng bộ nhiều hơn. Việc Ngoại trưởng hai nước không dự họp cấp cao là đáng chú ý. Bên trong, Trung Quốc nói họ coi ông Thạch là người có quan điểm cứng rắn về vấn đề Campuchia cũng như đối với Trung Quốc. Ngày 12.10.90, nhà báo Nayan Chanda nói với anh Thạch: “Trung Quốc đang tuyên truyền rộng rãi là lãnh đạo Việt Nam đánh lừa mọi người, họ ký kết với lãnh đạo Trung Quốc về thành phần SNC nhưng đã không thực hiện thoả thuận cấp cao Việt-Trung. Việt Nam lại còn xúi dục chính quyền PhnomPenh chống việc bầu Sihanouk làm chủ tịch SNC và đưa ra hết điều kiện này đến điều kiện khác.” Ngày 5.10.90, anh Nguyễn Cơ Thạch gặp Ngoại trưởng Mỹ Baker. Baker cho biết là sau khi cuộc họp các bên Campuchia ở Bangkok vừa qua thất bại, Trung Quốc rất bất bình với lãnh đạo Việt Nam. Trung Quốc cho rằng lãnh đạo cấp cao của Việt nam đã hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Trung Quốc về con số 13 thành viên của SNC nhưng lại nói với PhnomPenh là công thức đó là ý kiến riêng của Trung Quốc, đã không làm gì để thúc đẩy PhnomPenh thực hiện thoả thuận giữa cấp cao hai nước. Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam cũng như Bộ Ngoại giao Việt Nam. Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị của lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam là Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ CNXH chống âm mưu của đế quốc Mỹ xoá bỏ CNXH cũng như đề nghị của Việt Nam về giải pháp dựa trên liên minh giữa PhnomPenh và Polpot.

Còn Lý Bằng trong khi trả lời phỏng vấn của Paisai Sricharatchang, phóng viên tờ Bangkok Post tại Bắc Kinh, ngày 24.10.90, đã xác nhận có một cuộc gặp bí mật giữa lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam hồi đầu tháng 9 và cho biết kết quả cuộc gặp đã được phản ảnh qua cuộc họp giữa các bên Campuchia ngày 10.9.90 tại Jakarta. Trong khi nói không biết chắc phía Việt Nam đã cố gắng thuyết phục PhnomPenh đến đâu, Lý nhận định là Hà Nội chắc chưa làm đủ mức. Điều đó có thể thấy được qua việc PhnomPenh đã có “một thái độ thiếu hợp tác45”.

Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ ‘diễn biễn hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm ““giải pháp Đỏ”.

Sau Thành Đô, trong BCT đã có nhiều ý kiến bàn cãi về chuyến đi này. Song mãi đến trước Đại hội VII, khi BCT họp (15-17.5.91) thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”, cuộc gặp cấp cao Việt Nam – Trung Quốc ở Thành Đô mới lại được đề cập tới khi bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại Giao có câu “có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”. Cuộc họp này đầy đủ TBT Nguyễn văn Linh; các cố vấn Phạm văn Đồng, Võ Chí Công; các uỷ viên BCT Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, Nguyễn Đức Tâm, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh Bình.

Anh Tô nói: Có thời giờ và có cơ hội đem ra kiểm điểm những việc vừa qua để nhận định sâu sắc thì tốt thôi. Sau chuyến đi Thành Đô, tôi vẫn ân hận về thái độ của mình. Nói là tự kiểm điểm thì tự kiểm điểm. Tôi ân hận là ở hai chỗ. Lúc ở Thành Đô, khi bàn đến vấn đề Campuchia, người nói là anh Linh. Anh Linh nói đến phương án hoà giải dân tộc Campuchia. Sau đó Lý Bằng trình bày phương án “6+2+2+2+1” mà Từ Đôn Tín khi đàm phán với anh Cơ ở Hà Nội đã ép ta nhận song ta bác. Anh Linh đã đồng ý (nói không có vấn đề). Lúc đó có lẽ do thấy thái độ của tôi, Giang mời tôi nói. Tôi nói: tôi không nghĩ phương án 13 này là hay, ý tôi nói là không công bằng… Tôi ân hận là lẽ ra sau đó đoàn ta nên hội ý lại sau bữa tiệc buổi tối. Nhưng tôi không nghĩ ra, chỉ phân vân. Sáng sớm hôm sau, mấy anh bên Ban Đối Ngoại và anh Hồng Hà nói nhỏ với tôi là cốt sao tranh thủ được nguyên tắc “consensus” (nhất trí), còn con số không quan trọng. Tôi nghe hơi yên tâm nhưng vẫn nghĩ có hội ý vẫn hơn. Sau đó, Trung Quốc đưa ký bản thoả thuận có nói đến con số 13… Tôi phân vân muốn được biết nội dung trước khi ta hạ bút ký. Nếu như đoàn ta trao đổi với nhau sau phiên họp đầu, sau khi Lý Bằng đưa ra công thức 6+2+2+2+1 thì ta có thể có cách bàn thêm với họ. Hai là trước khi ký văn bản do chuyên viên hai bên thoả thuận, các đồng chí lãnh đạo cần xem lại và bàn bạc xem có thể thêm bớt gì trước khi ký. Nghĩ lại, khi họ mời TBT, Chủ tịch HĐBT ta sang gặp TBT, Chủ tịch Quốc vụ viện, lại mời thêm tôi. Tôi khá bất ngờ, không chuẩn bị kỹ. Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng, cơ hội lớn, nên đi. Nhưng đi để rồi ký một văn bản mà ta không lường trước hậu quả về phản ứng của Bạn Campuchia, rất gay gắt. Tôi hiểu là Bạn khá bất bình, thậm chí là uất nhau. Cho ta là làm sau lưng, có hại cho người ta.”

Anh Linh: “Anh Tô nhớ lại xem. Không phải tôi đồng ý, tôi chỉ nói ta nghiên cứu xem xét và cuối cùng đặt vấn đề thông báo lại Campuchia… Bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng. Tôi không thấy ân hận về việc mình chấp nhận phương án 13… Vấn đề Campuchia dính đến Trung Quốc và Mỹ. Phải tính đến chiến lược và sách lược. Phải tiếp tục làm việc với Campuchia về chiến lược, phải có nhiều biện pháp làm cho bạn thấy âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xã hội ở châu Á, cả ở Cuba. Nó đã phá Trung Quốc qua vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta… Trung Quốc muốn thông qua Khmer Đỏ nắm Campuchia. Song dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước XHCN.”

Anh Thạch: “Về chuyện Thành Đô, Trung Quốc đã đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lãnh đạo ta ở Thành Đô cho PhnomPenh. Hunxen nói là trong biên bản viết là “hai bên đồng ý thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1” nhưng băng ghi âm lại ghi rõ anh Linh nói là “không có vấn đề gì”. Tôi xin trình bày để các anh hiểu nguyên do con số 13 là từ đâu. Tại Tokyo tháng 6.90, Sihanouk và Hunxen đã thoả thuận thành phần SNC gồm hai bên ngang nhau = 6+6. Từ Đôn Tín sang Hà nội, ép ta nhận công thức 6+2+2+2+1 không được. Đến cuộc gặp Thành Đô, Trung Quốc lại đưa ra. Khi ta sang PhnomPenh để thuyết phục bạn nhận con số 13 với nguyên tắc làm việc consensus trong SNC, anh Hunxen nói riêng với tôi: chúng tôi thắng mà phải nhận số người ít hơn bên kia (bên ta 6, bên kia 7) thì mang tiếng Campuchia bị Việt nam và Trung Quốc ép. Như vậy, dù là consensus cũng không thể thuyết phục nhân dân Campuchia được. Chỉ có thể nhận 12 hoặc 14 thành viên trong Hội đồng Dân tộc Tối cao. Phải nói là PhnomPenh thắc mắc nhiều với ta. Liên xô, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ đều cho ta biết là Trung Quốc đã thông báo cho họ đầy đủ về Thoả thuận Thành Đô và nói với họ là lãnh đạo Việt nam không đáng tin cậy. Trung Quốc đã sử dụng Thành Đô để phá quan hệ của ta với các nước và chia rẽ nội bộ ta…”

Hôm sau, BCT họp tiếp, anh Mười nói: “Ta tán thành Sihanouk làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối cao, Hunxen làm phó chủ tịch, lấy nhất trí trong Hội đồng Dân tộc Tối cao làm nguyên tắc. Đây không phải là một nhân nhượng… Nếu có anh Thạch đi Thanh Đô thì tốt hơn…”

Anh Tô: “Vấn đề chủ yếu không phải là thái độ của ta ở Thành Đô như anh Mười nói, mà là kết quả và tác động đến bạn Campuchia đánh giá ta như thế nào? Ở Thành Đô, điều ta làm có thể chứng minh được nhưng Campuchia cho là ta giải quyết trên lưng họ. Vì vậy mà tôi ân hận. Tôi ân hận là về sau này sẽ để lại hậu quả.”

Anh Mười: “Với tinh thần một người cộng sản, tôi cho là ta không sai. Bạn Campuchia nghĩ gì về ta là quyền của họ. Với tinh thần một người cộng sản, ta không bao giờ vi phạm chủ quyền của bạn.”

Anh Thạch: Họp Bộ Chính trị để kiểm điểm, tôi xin được nói thẳng. Có phải khi đi Thành Đô về, anh Đỗ Mười có nói với tôi là hai ông anh nhận hơi sớm. Anh Linh nhận công thức 13 và anh Tô nhận consensus” (nguyên tắc nhất trí).

Anh Võ Văn Kiệt: Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có anh Tô trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng thì anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”

Vốn là người điểm đạm, song anh Tô có lúc đã phải phát biểu: Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, còn được hay không thì không sao. Cùng lắm là nói cái đó, nhưng tôi không nghĩ như vậy là thượng sách. Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy.

Thoả thuận Việt Nam – Trung Quốc ở Thành Đô đúng như anh Tô lo ngại đã để lại một ấn tượng không dễ quên đối với PhnomPenh. Trong phiên họp Quốc hội Campuchia ngày 28.2.91, Hunxen phát biểu: “Như các đại biểu đã biết, vấn đề SNC này rất phức tạp. Chúng ta phải đấu tranh khắc phục và làm thất bại âm mưu của kẻ thù nhưng bọn ủng hộ chúng không đâu. Mặc dù Hội đồng đã được thành lập trên cơ sở 2 bên bình đẳng nhưng người ta vẫn muốn biến thành 4 bên theo công thức 6+2+2+2+1, và vấn đề chủ tịch làm cho Hội đồng không hoạt động được”.

Tôi còn nhớ khi tiếp tôi ở PhnomPenh, ngày 28.9.90, Hunxen đã có những ý khá mạnh về việc nối về thoả thuận Thành Đô: “Khi gặp Sok An ở Bangkok hôm 17.9, Trung Quốc doạ và đòi SOC phải công nhận công thức mà Việt Nam và Trung Quốc đã thoả thuận. Nhưng PhnomPenh độc lập. Sok An đã nói rất đúng khi trả lời Trung Quốc là ý này là của Việt Nam không phải của PhnomPenh.”

Cuộc hội đàm Thành Đô tháng 9.90 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của ta, hiện tại đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. Vì quá nôn nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đã hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thoả thuận như thế sẽ được lòng Bắc kinh nhưng trái lại thoả thuận Thành Đô đã làm chậm việc giải quyết vấn đề Campuchia và do đó làm việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.

Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ CNXH chống đế quốc Mỹ, thực hiện “giải pháp Đỏ” ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13 của BCT mà còn gây khó khăn với ta trong việc đa dạng hoá quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia. Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.

Cùng với việc ta thúc ép PhnomPenh đi vào “giải pháp Đỏ”, việc ta thoả thuận với Trung Quốc công thức SNC tại Thành Đô là không phù hợp với nguyên tắc nhất quán của Đảng ta là không can thiệp và không quyết định các vấn đề nội bộ của Campuchia, làm tăng mối nghi ngờ vốn có của Campuchia đối với ta, đi ngược lại chủ trương tăng cường và củng cố mối quan hệ với ta với Campuchia và Lào.

  1. AI LÀ NGƯỜI ĐÁNG LÝ RA PHẢI NHỚ DAI?

Sau cuộc gặp cấp cao ở Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta trong vấn đề Campuchia tập trung chủ yếu vào việc đòi ta thực hiện thoả thuận Thành Đô, tác động với PhnomPenh theo hướng: “nhận bầu Sihanouk làm chủ tịch SNC gồm 13 thành viên của 4 bên Campuchia; chấp nhận văn kiện của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an về vấn đề Campuchia.

6 giờ sáng ngày 9.9.90, đại sứ Trung Quốc đến Ban Đối ngoại (chứ không đến Bộ Ngoại giao) gặp Hồng Hà trao thông điệp báo các bên Campuchia sẽ họp ngày 10.9 tại Jakarta để bàn việc lập SNC và nhấn mạnh yêu cầu Việt Nam tác động theo hướng đã thỏa thuận tại Thành Đô. Ngay sau đó BCT đã họp trao đổi về thông điệp đó và quyết định cử tôi đi Jakarta. Trong cuộc họp này BCT đã quyết định từ nay các tiếp xúc đối ngoại về mặt Nhà nước đều phải qua Bộ Ngoại Giao và phải báo cáo với anh Thạch và bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh (?) vì cách làm của đại sứ Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại Giao một cách quá lộ liễu.

Trưa ngày 9.9.90 tôi cùng anh Huỳnh Anh Dũng đáp máy bay qua đường Bangkok sang thủ đô Inđônêxia để theo dõi cuộc họp của các bên Campuchia bàn về việc thành lập SNC. Không có “cẩm nang” nào kèm theo chỉ thị đó cả, chỉ có lời dặn ngắn gọn của TBT Nguyễn Văn Linh là cố lập được SNC.

Chiều tối 10.9.90, vừa chân ướt chân ráo từ sân bay về đến sứ quán ta ở Jakarta, tôi đã nhận được một cú điện thoại từ sứ quán Trung Quốc gọi tới. Trương Thanh gọi điện thoại đến nói là chào trước khi rời Jakarta và cảm ơn tôi đã tác động tích cực khiến cho cuộc họp các bên Campuchia này đạt được một số kết quả (!). Tôi trả lời là tôi không dám nhận sự biểu dương đó, nếu như cuộc họp kết quả tốt thì đó là do thiện chí của Nhà nước Campuchia.

Chả là lúc tôi xuống sân bay Jakarta cũng là lúc cuộc họp giữa các bên Campuchia vừa bế mạc sau khi đã thoả thuận lập SNC gồm 12 thành viên, chức chủ tịch còn để trống và tuần tới sẽ họp phiên đầu tại Bangkok để giải quyết nốt vấn đề chủ tịch SNC. Bản tuyên bố chung của cuộc họp có ghi “Các bên Campuchia chấp nhận toàn bộ văn kiện khung của P5 làm cơ sở để giải quyết cuộc xung đột Campuchia”. Tôi nghĩ rằng Bộ Chính trị bảo tôi sang Jakarta có thể là một động tác sách lược để tỏ ra với Trung Quốc là ta tích cực thực hiện thoả thuận Thành Đô. Còn Trương Thanh gọi điện cảm ơn tôi thực ra cũng là một sự vỗ về của Trung Quốc để khuyến khích tôi tiếp tục cố gắng thực hiện thoả thuận Thành Đô! Nhưng sự khuyến khích đó lại có tác dụng trái ngược lại, làm thức tỉnh cái con người bướng bỉnh trong tôi. Từ đầu, tôi và số anh em chuyên nghiên cứu vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc trong Bộ Ngoại Giao đã rất không thông với thoả thuận Thành Đô vì nhiều lẽ, nay tôi càng thấy mình không thể hành động trái với điều mình cho là lẽ phải.

Ngày 13.9.90 tôi lại được trong nước chỉ thị đi thẳng từ Jakarta sang Bangkok để theo dõi phiên họp đầu tiên của SNC ở đó. Sáng 14.9.90 Bí thư thường trực Bộ Ngoại Giao Thái Kasem mời tôi tới Bộ Ngoại giao Thái Lan nói chuyện. Chủ đề câu chuyện vẫn là vấn đề Campuchia. Kasem hỏi dò tôi về thoả thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc về cơ chế SNC. Tôi trả lời đó chỉ là những tin đồn không căn cứ, không nên tin. Trưa hôm đó, Sok An, thứ trưởng ngoại giao Campuchia, tìm đến gặp tôi. Anh hỏi ý kiến về cuộc họp SNC ở Bankok sắp tới, thái độ ta nên như thế nào nếu đối phương đòi đưa Sihanouk làm chủ tịch SNC và là thành viên thứ 13 cuả SNC? Tôi gợi ý cần giữ vững nguyên tắc hai bên ngang nhau. Để thiện chí, một lần nữa, ta có thể nhận cho đối phương thêm một người nhưng bên ta cũng phải thêm một người (mỗi bên 7 người). Không 12 thì 14 chứ không nhận 13. Sau đó tôi lại được anh Sok An cho biết là Kraisak, con trai Thủ tướng Chatichai và là thành viên trong nhóm cố vấn của Thủ tướng Thái, đã bảo anh rằng ông ta được Bộ Ngoại giao Thái thông báo là Việt Nam cũng ủng hộ việc lập SNC với 13 thành viên do Sihanouk đứng đầu. Tôi nói với Sok An đấy là điều bịa đặt và tôi sẽ gặp Kraisak dể nói lại. Chiều hôm khi gặp Kraisak, tôi nói khá thẳng rằng: “Không thể coi ông Sihanouk là ông chủ ở Campuchia, là vua trên tất cả. Vấn đề thành phần cũng như chức chủ tịch SNC phải do người Campuchia quyết định. Việt Nam và Trung Quốc không có quyền bỏ phiếu về vấn đề đó”. Sau đó Kraisak kể lại cả cho Kasem. Kết quả là cuộc họp SNC phiên đầu tiên 17.9.90 tại Bangkok đã tan vỡ vì Hunxen không chấp nhận công thức “6+2+2+2+1”, cự tuyệt bầu Sihanouk làm chủ tịch với tư cách là thành viên thứ 13 của SNC. Hẳn Trung Quốc đã gắn trách nhiệm hoặc ít ra cũng là một phần trách nhiệm về thất bại đó cho tôi.

Hạ tuần tháng 9.90, Trung Quốc đón Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp thăm Trung Quốc và dự lễ khai mạc Á Vận Hội (ASIAD) 11 với tư cách là “khách mời đặc biệt của Chính phủ Trung Quốc” (tuy nhiên báo chí Trung Quốc vẫn đưa tin việc Trung Quốc mời Võ Nguyên Giáp là thể theo yêu cầu của ta, dù rằng ngày 4.9.90 khi tiếp đoàn cấp cao của ta ở Thành Đô chính Giang Trạch Dân đã nói sẽ mời anh Giáp dự khai mạc ASIAD như một cử chỉ thiện chí của họ). Ngày 24.9.90 khi tiếp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Lý Bằng có nói: “Sau cuộc gặp cấp cao ở Thành Đô, cuộc họp Jakarta kết quả tốt, đã ra được tuyên bố SNC 13 người. Song đến khi họp SNC ở Bangkok thì không tốt. Xin nói thẳng thắn với đồng chí là chúng tôi thấy Thứ trưởng Trần Quang Cơ có tác dụng xấu trong việc này. Khi Kasem hỏi có phải thực sự giữa Việt Nam và Trung Quốc đã đi đến thoả thuận lập SNC gồm 13 người hay không? Trần Quang Cơ đã đáp rằng hoàn toàn không có việc đó; đó hoàn toàn là những điều dối trá. Chúng tôi không biết tại sao Thứ trưởng Trần Quang Cơ lại nói những lời như vậy, hoàn toàn truyền đạt thông tin không đúng đắn”. Anh Giáp đáp: “Khi về tôi sẽ hỏi lại về phát biểu của đồng chí Cơ. Nếu có như vậy thì đây không phải là ý kiến của Trung ương chúng tôi. Tôi không biết việc này vì tôi không phụ trách công tác ngoại giao”.

Tiện đây tôi thấy cũng nên ghi lại một chuyện có thể giúp cho chúng ta hiểu thêm đặc điểm của người Trung Quốc: sau khi đến Bắc Kinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đề nghị gặp một số tướng lĩnh trong quân đội Trung Quốc như Dương Đắc Chí (Dương là tổng chỉ huy cuộc chiến tranh đánh Việt Nam năm 1979). Nhưng Dương nói một cách bực tức: “Đời nào tôi lại gặp ông ta. Mộ của các cán bộ chiến sĩ còn chưa xanh cỏ!”. Ngày 1.10.90 Dương cùng một số tướng lĩnh khác còn gọi điện thoại thăm hỏi động viên sĩ quan binh lính ở Vân Nam, Quảng Tây. Nhà văn quân đội Lý Tôn Bảo tác giả cuốn “Vòng hoa dưới chân núi cao” viết về cuộc tấn công vào Việt Nam tháng 2.79, phát biểu: “Xem tin Lý Bằng tiếp Võ Nguyên Giáp mà trong lòng tôi cảm thấy bứt rứt. Giờ đây chúng ta phải xem xét lại xem có gây ra cuộc chiến tranh đó không? Chẳng những phần lớn sĩ quan binh lính dưới đơn vị không thông ngay cả một số tướng lĩnh cao cấp cũng không thông nổi”.

Tư liệu trên đây tôi lấy ở bài “Võ Nguyên Giáp thăm Bắc Kinh gây chấn động” của Quan Nghiệp Thành đăng trên báo “Tranh Minh” xuất bản ở Hồng Kông tháng 11.90. Từ đó đến nay, tôi vẫn phân vân là giữa người Việt Nam và người Trung Quốc đáng lý ra ai là người phải nhớ dai hơn về sự kiện tháng 2.79?

  1. MÓN NỢ THÀNH ĐÔ

46[Từ tháng 9.90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó,] cụ thể là tác động với PhnomPenh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch47. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta… Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3.10.90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung – Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3.91, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia. Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihaouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hunxen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24.7.91).48

Chiều chủ nhật 18.11.90 họp BCT về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28.8.90) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để BCT cho ý kiến. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị BCT khẳng định 2 điểm:

  1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;
  2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.

Cuối cuộc họp, TBT Linh kết luận: về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, BCT sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến Ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào? Nguyễn Cơ Thạch nói luôn: Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô.

Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26.11.90 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23.12.90. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.

Theo yêu cầu của bạn, ngày 14.1.91, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang PhnomPenh làm việc với bạn với mục đích:

  1. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10.9.90 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26.11 của P5 tại cuộc họp Paris 23.12.90;
  2. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thaỏ luận và giải quyết trong SNC;
  3. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.

Khi tiếp tôi, anh Hunxen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại… Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhau một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.

Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, thứ trưởng Dith Munty và thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hunxen chiều 16.11, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hunxen cho biết theo quyết định của BCT Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17.1.91, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”. Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.

Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24.2.91, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với BCT Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hunxen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, BCT Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13.3.91 Hunxen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hunxen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.

Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với PhnomPenh.

Đầu năm 1991, BCT đã có cuộc họp tại T78 thành phố HCM (24-25.1.91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hunxen cho biết là BCT Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. BCT quyết định cần thăm dò khả năng họp BCT 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.

Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2.91, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn la và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn la đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.Tháng 6.91, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp

tục tham gia Trung ương khoá VII.

Tình hình bất đồng ý kiến trong BCT càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13.4.91, trong cuộc họp BCT bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, TBT Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại Giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tìnhhình trước, nhưng cách đánh gia tình hình còn khác nhau”

Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. BCT đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.

Lê Đức Anh: “BCT nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh gía chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được”.Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.

Trên tinh thần đó, ngày 2.5.91, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân (thường gọi là Lân thọt), Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo. Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.

Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, BCT họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17.5.91) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. BCT có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16.5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi). Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của BCT (20.5.88)”, 49giữa ta và bạn Campuchia50 đã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô…; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.90 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.

Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp… BCT đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt XHCN và bá quyền. Về XHCN cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra… Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa?

Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói: “Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến BCT còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn BCT này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại.

Chú thích:

46 Phần [ ], bản 01 viết: [Từ sau cuộc gặp Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta về vấn đề Campuchia chủ yếu là thực hiện thoả thuận Thành Đô,]

47 bản 01 thêm: [chấp nhận văn kiện của P5].

48 bản 01 thêm: [Những thoả thuận cấp cao ở Thành Đô đã trở thành vô nghĩa.]

49 bản 01 thêm: “một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”,

50 bản 01 viết: Lào

 

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Bữa Ăn Lặng Lẽ Một Mình – Tạp Ghi Huy Phương

Van Pham

Bữa Ăn Lặng Lẽ Một Mình – Tạp Ghi Huy Phương

Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm.

Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:
-“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình. Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.
Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.

Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng. Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn. Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.
Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống. Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn. Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống. Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình. Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ.

Image may contain: one or more people
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, GIA ĐÌNH | Để lại phản hồi

Chúa Thánh Thần hiện diện qua TT Trump

Chúa Thánh Thần hiện diện qua TT Trump

Trong một diễn từ đáng kinh ngạc TT Trump nói về tình yêu Thiên Chúa hùng hồn như một linh mục đang giảng đạo.

Chúa Thánh Thần hiện diện qua TT Trump.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong một diễn biến gây sững sờ cả cho những người hiện diện và các phương tiện truyền thông, Tổng thống Donald Trump đã mạnh dạn và công khai nói về niềm tin vào Thiên Chúa của người dân Hoa Kỳ và tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân tộc này. Bài diễn văn của ông liên tục bị gián đoạn bởi những tràng pháo tay của cử toạ.

Các quan sát viên nhận xét rằng Tổng thống Donald Trump có khiếu giảng đạo hùng biện như một linh mục sau bài diễn văn hùng hồn của ông tại buổi Điểm tâm Cầu nguyện Quốc Gia (National Prayer Breakfast) lần thứ 66 tại khách sạn Hilton ở thủ đô Washington DC hôm thứ Năm 8 tháng 2 vừa qua.

Ông nói:

Hoa Kỳ là một quốc gia của các tín hữu, và cùng nhau chúng ta được củng cố bởi quyền năng của lời cầu nguyện. Sáng nay, trái tim chúng ta tràn đầy lòng tri ân Thiên Chúa khi chúng ta đến với nhau để tham dự buổi Điểm tâm Cầu nguyện Quốc Gia lần thứ 66

Mỗi năm, sự kiện này nhắc nhở chúng ta rằng đức tin là trung tâm của cuộc sống và nền tự do của Hoa Kỳ. Những người sáng lập quốc gia này đã nhắc đến Đấng Tạo Hóa bốn lần trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Giấy bạc của chúng ta cũng khẳng định “Chúng tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa.” Và chúng ta đặt tay lên trái tim của chúng ta khi chúng ta đọc Lời Tuyên Thệ trung thành và tuyên bố chúng ta là “Một Dân tộc dưới quyền Thiên Chúa”.

Quyền của chúng ta không phải do con người trao ban cho chúng ta; quyền của chúng ta đến từ Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Không có gì, không một thế lực trần thế nào có thể tước mất những quyền ấy của chúng ta. Đó là lý do tại sao những lời “Khen ngợi Thiên Chúa” được ghi khắc trên đỉnh Đài tưởng niệm Washington, và những lời tương tự được khắc sâu trong tâm khảm nhân dân chúng ta.

Vì vậy, hôm nay, chúng ta ngợi khen Thiên Chúa vì chúng ta thật sự quá may mắn khi được là người Mỹ. Trên khắp đất nước, chúng ta nhìn thấy những kỳ công sáng tạo huy hoàng của Thiên Chúa. Trong suốt lịch sử của chúng ta, chúng ta thấy biết bao những câu chuyện về ơn quan phòng của Thiên Chúa. Và trong mọi thành phố và thị trấn, chúng ta thấy ân sủng của Chúa tràn ngập xung quanh chúng ta, thông qua hàng triệu hành động bác ái, can đảm và quảng đại. Chúng ta yêu mến Thiên Chúa.

Chúng ta nhìn thấy ân sủng Chúa trong các nhân viên phục vụ, những người liều mạng để bào vệ tự do cho chúng ta. Chúng ta thấy ân sủng Chúa trong những giáo viên làm việc không mệt mỏi vì những học sinh của mình, và các nhân viên cảnh sát đã tận tụy cho cộng đồng của chúng ta. Chúng ta thấy ân sủng Chúa trong những hy sinh của họ.

Và chúng ta nhìn thấy ân sủng Chúa trong các bà mẹ và những người làm hai và ba công việc để mang lại cho con cái họ cơ hội có được một cuộc sống tốt đẹp, thịnh vượng hơn và hạnh phúc hơn.

Như Kinh Thánh nói với chúng ta, chúng ta là kỳ công được tay Chúa tác tạo, được tạo thành trong Chúa Giêsu Kitô để làm việc lành. Những anh hùng của nước Mỹ đã đứng dậy đáp lời mời gọi này. Trong hành động xả thân quên mình của họ, họ cho thấy vẻ đẹp và sự tốt lành của tâm hồn con người.

Khi những cơn bão thảm khốc xảy ra, những lực lượng sơ cứu và những người dân bình thường lao vào vùng nước để cứu các gia đình bị mắc kẹt khỏi nguy hiểm. Và họ đã cứu hàng ngàn những người như thế. Những người hàng xóm mở rộng cửa nhà mình cho những người cần thức ăn, quần áo, chỗ ở. Lính cứu hỏa can đảm đã dập tắt khói lửa để cứu trẻ con khỏi thảm hoạ cháy rừng.

Trong những vụ nổ súng khủng khiếp, những người lạ đã bảo vệ những người chưa hề quen biết, và các nhân viên cảnh sát đã xông vào những lằn đạn để cứu mạng sống của người Mỹ, như tại Las Vegas. Một ngày khủng khiếp, một đêm khủng khiếp. Nhưng thật là dũng cảm.

Tất cả những gì chúng ta phải làm là mở mắt ra và nhìn quanh chúng ta, và chúng ta có thể thấy bàn tay của Chúa. Trong lòng can đảm của đồng bào chúng ta, chúng ta thấy quyền năng của tình yêu Thiên Chúa đang hoạt động trong tâm hồn chúng ta, và quyền năng của Chúa sẽ đáp lại tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta.

Khi người Mỹ có thể sống với xác tín của họ, có thể nói công khai về đức tin của họ, và dạy cho con mình những gì là đúng, gia đình chúng ta phát triển, cộng đồng của chúng ta triển nở, và đất nước chúng ta có thể đạt được những điều chúng ta mong muốn.

Cùng với nhau, trong tư cách là người Mỹ, chúng ta là một lực lượng không mệt mỏi cho công lý và hòa bình. Chúng ta đã chứng kiến sự thật này trong năm qua.

Trong nhiều năm, bọn khủng bố Hồi Giáo IS đã tra tấn tàn bạo và giết hại các Kitô hữu, các tín hữu Do Thái, các nhóm tôn giáo thiểu số và vô số người Hồi giáo.

Hôm nay, liên minh được thành lập để đánh bại bọn khủng bố Hồi Giáo IS đã giải phóng gần 100 phần trăm lãnh thổ trước đây đã bị bọn giết người ở Iraq và khắp Syria này chiếm đóng.

Nhiều công việc vẫn luôn luôn còn phải làm, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ ngơi nghỉ cho đến khi những công việc ấy được hoàn thành. Và chúng ta thực sự đang thực hiện xuất sắc như chưa bao giờ.

Xin Chúa ban phép lành cho các bạn, và ban phước cho Hoa Kỳ. Cảm ơn các bạn nhiều. Cảm ơn các bạn.

Anh chị Thụ & Mai gởi

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU


THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU

Hôm nay, ngày đầu năm Bính Tuất, chúng ta nhắc lại câu chuyện cổ tích “Con Chó Đá”.

Ngày xưa, có người học trò nghèo dùi mài kinh sử chờ khoa thi ở kinh đô. Một hôm, anh đi qua cổng làng, thì con chó bằng đá đang đứng trên bệ bỗng nhổm dậy vẫy đuôi mừng rỡ. Lấy làm lạ, anh học trò bèn hỏi tại sao lại vẫy đuôi. Con chó trả lời: “Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng.” Anh học trò về kể cho cha mẹ nghe. Thế là từ đó người cha lên mặt hống hách với mọi người, không coi ai ra gì.

Tháng sau, trước ngày đi thi, anh học trò đi ngang qua cổng làng, không thấy con chó vẫy đuôi nữa, bèn hỏi tại sao. Con chó đáp: “Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người, nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu.” Y rằng như thế.

Anh học trò về kể lại với người cha. Ông hối hận, từ đó tu thân tích đức, sửa chữa lỗi lầm. Khóa sau, anh học trò đi qua, chó đá lại vẫy đuôi. Quả nhiên, sau đó anh đỗ đạt và làm quan lớn.

Hình ảnh con chó đá luôn gắn bó với làng quê miền Bắc Việt Nam bao đời qua, trở thành một biểu tượng dân gian thân thuộc. Chó là con vật trung thành với con người, luôn biết phục vụ con người qua việc canh giữ nhà cửa và bảo vệ con người sống trong sự bình an. Hình ảnh con chó đá vẫy đuôi trong câu chuyện cổ tích còn cho thấy chó luôn sống thân thiện với con người, hòa nhập vào đời sống tình cảm của con người, trở thành niềm vui và niềm động viên cho con người.

Từ những nét đặc trưng của loài chó kể trên, ta mới nghiệm thấy Xuân Bính Tuất đang đến với ta cũng có những đặc tính đáng yêu đáng mến ấy. Đó cũng chính là những ước vọng của chúng ta trong năm mới Bính Tuất này.

Một năm mới tràn ngập bình an

Bình an luôn là ước vọng lớn của con người. Cũng vậy, hòa bình cũng chính là hoài bão lớn nhất của nhân loại. Thế nhưng, đã nhiều thế kỷ trôi qua, con người vẫn sống trong chiến tranh điêu tàn. Con người vẫn chưa tìm được sự bình an, và thế giới vẫn chưa có hòa bình đúng nghĩa.

Hôm nay, ngày đầu năm chúng ta hãy nguyện xin Thiên Chúa là Chúa Xuân ban cho chúng ta sự bình an như lòng chúng ta mong ước và ban hòa bình cho thế giới. Chỉ có Chúa mới có thể ban tặng cho ta sự bình an đúng nghĩa, vì chính Người là nguồn bình an đích thực.

Tuy nhiên, sự bình an chỉ có thể có được nếu chúng ta biết hoàn toàn phó thác cậy trông vào tình thương và sức mạnh của Chúa, như lời Chúa dạy chúng ta : “Các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai”.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa quan phòng những ước vọng, và mọi âu lo trong đời sống, nhất là trong những ngày tháng sắp tới. Trong niềm phó thác và cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ luôn được bình an.

Một năm mới tràn ngập yêu thương

Tình yêu cũng luôn là khát vọng khôn nguôi của con người. Vì thiếu tình yêu, con người đã rơi vào những thảm cảnh của bạo lực và khủng bố. Vì thiếu sự thân thiện, nên con người đã lao vào chém giết nhau. Vì thiếu sự yêu thương, nên gia đình ly tán, tan vỡ. Và cũng vì thiếu tình thương yêu nên con người càng ngày càng đắm chìm trong hận thù ghen ghét.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa là Thiên Chúa tình yêu, những nguyện ước chân thành, xin cho mọi người biết yêu thương nhau hơn, bớt đi những khủng hoảng và chiến tranh, thay vào đó là tinh thần đại đồng và hiệp nhất giữa mọi quốc gia, luôn giúp nhau cùng phát triển trong một “nền văn minh tình thương”.

Muốn được thế, mỗi người chúng ta hãy biết loại bỏ đi những tị hiềm ghen ghét, biết cảm thông và tha thứ cho mọi người sống chung quanh. Chúng ta hãy để cho “Thiên Chúa tình yêu” luôn ở giữa chúng ta và liên kết mọi người nên một trong tình yêu và sự hiệp nhất.

Một năm mới tràn ngập niềm vui

Thế giới luôn chìm ngập trong nỗi buồn muôn thuở: nỗi đau “huynh đệ tương tàn”, nỗi niềm xót xa của những thảm cảnh chiến tranh từng ngày, ở khắp nơi. Tâm hồn con người cũng không thoát khỏi nỗi ưu sầu nhân thế: sự cô đơn, thất vọng và khủng hoảng. Các gia đình cũng không thiếu cảnh buồn sầu: gia đình xung đột, chia rẽ và cuối cùng dẫn đến sự đổ vỡ hoàn toàn.

Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta niềm vui trọn vẹn và bền vững, niềm vui xuất phát từ chính Thiên Chúa, niềm vui không phai nhòa và lụi tàn. Niềm vui ấy chỉ có được ở nơi những tâm hồn đầy tràn ơn Chúa. Niềm vui ấy cũng chỉ có được nếu biết hướng tới tha nhân. Và niềm vui ấy thật sự bền vững khi niềm vui ấy là kết quả của một đời biết hy sinh phục vụ người khác.

Hôm nay, chúng ta còn khát khao một điều cao cả hơn hết: đó là xin Chúa mãi mãi là mùa xuân vĩnh cửu của cuộc đời ta. Muốn được thế, ta phải biết chọn lựa và tìm kiếm Người giữa những thần tượng trần thế. Hãy biết đặt Người lên trên mọi ưu tiên của cuộc đời, như lời Chúa dạy chúng ta : “Tiên vàn các con hãy biết tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”.

“Nước Thiên Chúa” là gì nếu không phải là “Vương quốc tình yêu”, vương quốc mà chỉ có những con người biết yêu thương mới đạt tới? “Sự công chính” của Thiên Chúa là gì, nếu không phải sự thánh thiện của những con người luôn biết vâng theo thánh ý Chúa hằng ngày?

Hôm nay, chúng ta mở sang một trang sách mới của cuộc đời, trang sách đầu tiên của năm mới. Chúa mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc lựa chọn: Thiên Chúa hay thế gian. Trong suốt cả năm, chúng ta có hạnh phúc, an vui, thành đạt hay không là tùy thuộc ở sự lựa chọn này.

Một đứa bé đã khóc thét lên khi nó thọc tay vào miệng một cái bình sứ Trung Quốc rất đắt tiền mà không thể rút tay ra được. Cha mẹ nó tìm mọi cách kéo tay đứa bé ra. Nhưng hoài công vô ích! Mọi cách đều làm đứa bé khóc to hơn vì đau và sợ.

Cuối cùng, họ đành đập bể chiếc bình quý giá đó. Khi những mảnh vỡ rơi tan tác dưới sàn, mọi người mới hiểu tại sao tay đứa bé kẹt cứng ở trong cái bình: Nó nắm chặt lấy một đồng tiền cắc mà trước đó nó đã làm rơi vào trong bình. Vì cứ nắm chặy lấy đồng tiền, nó đã không thể rút tay ra khỏi chiếc bình. Không chỉ riêng đứa bé, rất nhiều người trong chúng ta đã không nhận ra được giá trị thật của cuộc sống. Bàn tay ta cứ nắm chặt lấy những đồng tiền trong cuộc sống, khiến ta không thể nắm bắt được hạnh phúc mà Thiên Chúa tặng ban.

Sưu tầm

****************************** ********

Lạy Chúa

365 ngày vụt qua nhanh, ngày đầu năm mới đó mà hôm nay đã cuối năm rồi.

Tờ lịch sang trang mới.

Cuộc sống của con còn bao nhiêu tờ lịch sang trang nữa?

Con không biết.

Ngày mai là của Chúa.

365 ngày cũng có chút sóng gió trong công việc, trong sức khỏe,

nhưng Chúa đã dẫn chúng con trong bình an.

Con kính dâng lên Chúa lời tạ ơn chân thành với tất cả tâm tình biết ơn.

Qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria,

Con kính dâng lên Chúa những dự tính, những ước mơ về một năm mới.
Xin Chúa là nguồn bình an, thương chúc phúc cho gia đình con,

những người thân yêu của con, bạn bè con.

Xin Chúa thương chúc phúc cho những người chung quanh con:

những người đang ưu tư tìm kiếm công việc làm ăn,

những người vất vả sớm hôm mà vẫn sống trong cảnh nghèo khổ,

những người lang thang cơ nhỡ,

những người cô đơn, bệnh hoạn, đói khát, tật nguyền, khổ đau cùng cực,

những người đang phải sống trong vùng chiến tranh với biết bao lo sợ, tiếng súng thay cho tiếng cầu kinh.

Xin trải dài trên suốt cuộc đời của mỗi người chúng con

tình thương vô biên của Lòng Thương xót Chúa:

để chúng con luôn có tấm lòng mở rộng, chia sẻ với nhau từ vật chất đến tinh thần,

để lời nguyện cầu của chúng con luôn được Chúa chấp nhận. Amen.

From Langthangchieutim gởi

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

Chuẩn bị “hậu sự”

Chuẩn bị “hậu sự”

Ng. Dân (Danlambao)Mừng tuổi thọ – 88 niên – coi như là “đại thọ”. Tính ra thì cũng khá lâu, đã già rồi. Khó ai tránh khỏi cái chết. Dường như đảng đang bắt đầu lo… “hậu sự”.

Những ngày đầu, bước qua năm 2018, cả nước có khá nhiều biến động. Bao sự việc vui buồn lẫn lộn, việc nào cũng là đáng quan tâm: nào là kinh tế suy kiệt, nào là biển đông sắp dậy sóng. Tham nhũng tràn lan, nội bộ xào xáo, dân tình đói lạnh… Và nhất là Tàu cộng cứ vẫn xâm nhập rộng khắp v.v…

Dĩ nhiên là mọi việc có đảng và nhà nước lo. Người dân chỉ biết phải đợi, phải chờ, và phải làm theo lời đảng.

Trong số hàng trăm, ngàn việc cần làm, đang được rầm rộ nổi trội là: Xây dựng nghĩa trang cho đảng – chính xác là cho đảng viên lãnh đạo cao cấp – Vì một nghĩa trang đồ sộ, hoành tráng, cao sang, và phải đẹp (như của Tàu) tên gọi Yên Trung, với diện tích 120 ha (tổng thể), vùng huyện Thạch Thất, Hà Nội, dưới chân núi Ba Vì. Một nơi được gọi là “địa linh”. Với ngân khoản dự trù 1.400 tỷ đồng, đã được bộ xây dựng quy hoạch cho xúc tiến.

Vùng đất rộng, nhưng mà theo dự kiến thì chỉ khoảng 2.500 ngôi mộ, với diện tích cho mỗi mộ là 25m2 – 35m2. Khá rộng, chỉ dành cho cán bộ, lãnh đạo cao cấp.

Tin cho biết, một số đất và dân cư sinh sống dưới chân núi Ba Vì bắt buộc phải di dời, giải tỏa.

Một khu nghĩa trang với tầm mức “khủng”, không thua gì nghĩa trang (cao cấp) bên TQ. Đặc biệt dành cho hàng cán bộ cao cấp có nhiều công lao.

Tin được báo Vietnamnet đưa lên từ 1/2/2018. Từ đó cũng đã dấy lên phong trào: ủng hộ và chống. Ủng hộ thì cũng chẳng cần nhiều, vì đảng quyết thì là phải tuyệt đối, một số vài ý kiến phụ họa là lẻ đương nhiên, để tô vẽ cho quyết định. Như ông Phạm Sĩ Liêm hết lời ca ngợi. Chắc cũng mong cho mình có được một chỗ.

Phần dư luận chống đối thì là khá nhiều. Đa số từ dân, và những người với lương tâm, tâm huyết, với kiến nghị, bài viết là: không nên thực hiện.

Người ta nói: đất nước còn nghèo, nhân dân còn khổ. Đất đai dần eo hẹp, do Tàu cộng cứ thuê mướn, lấn chiếm, và các công trình quy hoạch không ngừng lấy, cướp đất dân. Tham nhũng cứ được thể hoành hành không dứt. Người dân đói rách, co ro với cái lạnh mùa đông, chưa đủ nhà ở, chưa đủ cơm ăn. Trẻ em không đủ ấm, không có trường học, không đủ bệnh viện để nằm điều trị lúc ốm đau… Còn biết bao nhiêu là thiếu thốn, những cái cần làm, bây giờ lại lo xây dựng tượng đài, cổng chào, nghĩa trang nghìn tỷ… là vô cùng lãng phí. Của tiền vẫn là do người dân còng lưng gánh vác, làm không đủ ăn, lại phải đóng thuế đủ thứ… Đảng và nhà nước sao không lo nghĩ tới dân, tới an nguy xã tắc, mà lại đi lo những việc chưa cần: lo cho cái chết?

Sao lo cho người sẽ chết “an nghỉ”, mà lại làm cho người sống không thể “an cư”? Nhà báo Nguyễn Thị Hậu…

Nhớ trước kia, xẻ dọc trường sơn đi cứu nước (“cứu” hay là “cướp”?), bao người rầm rập lên đường, từ Bắc vô Nam: trẻ có, già có, nam, nữ có. Họ đi theo tiếng gọi non sông? – theo lời đảng.

Bao nhiêu thân xác đã phải nằm xuống, rải rác khắp nơi. Xương trắng nằm phơi, máu đào nhuộm đỏ. Hằng bao triệu con người ngã xuống (cả quân lẫn dân) qua 2 cuộc chiến: chống Pháp và chống Mỹ, ngụy, ròng rã 30 năm. Chết khắp nơi, chết mọi nẻo. Chết mà không lấy được xác, không được chôn cất, thây rữa mục trong núi, trong rừng, sông suối… Phải nói đó là những “công lao”, những hy sinh cao cả vô bờ, góp phần cho mọi thứ của ngày hôm nay. Có được bao nhiêu người được xây mộ? Được gom nhặt thi hài, xương cốt để cho có được nấm mồ? Việc này, nhân dân ta, đảng và nhà nước ta phải có trách nhiệm để gọi là “đền ơn đáp nghĩa”, để gọi là an ủi nỗi mất mát đau thương. Có chưa? Chưa có! Chưa đủ!

Bây giờ, được hưởng phú quí vinh sang, được ăn quá nhiều bổng lộc, dư thừa với nhà cao cửa rộng, sang cả đủ đầy – chỉ nói riêng với những người có quyền hành chức tước – Chứ còn người dân thì vẫn thiếu thốn, nghèo nàn, khó khăn, cơ cực. Ăn cho đã, hưởng cho nhiều, quá đủ, quá đầy… bây giờ lại tính việc “vinh sang”, ấm êm khi chết?

Ai là người có đầu óc suy nghĩ? Ai là người có chút lương tri? Và ai là người biết nghĩ về đồng bào, đồng đội, đồng chí, biết nghĩ đến đất nước dân tộc? – Trong số các đảng viên đang ngự trị uy quyền, đang nghênh ngang võng lọng? Thử suy, thử nghĩ! Nếu quí vị có còn chút lương tri? Có đáng để “thụ hưởng”? Có đáng để được cái “quang vinh” mà từ lâu những đầu óc vị kỷ, hẹp hòi, thường hô hào, ru ngủ, và tự tâng bốc?

Nhìn lại đất nước này, từ 88 năm qua, từ khi có đảng CSVN. Thử hỏi: đảng đã làm được gì? Nếu không có toàn thể người dân? Nhất là đối với quí vị “ăn trên ngồi trước” như hôm nay?

Người viết không dám (thay mặt) viết kể. Việc này – công và tội – dành cho lịch sử phán xét. Phán xét của toàn dân.

Thời gian gần nhất – từ 43 năm – từ khi mà đảng dành được toàn quyền thống trị. Đất nước VN, dân tộc VN đến bây giờ đã được ra sao?

Dân tộc lầm than. Nhà đã tan, và nước cũng sắp mất? Bao sự việc từ 43 năm qua đã cho thấy rõ: sự việc trong nước, sự việc biên giới, sự việc biển đảo. Và nhất là bóng dáng, hình ảnh của từng khu “tự trị” của Tàu cộng, và từng đợt người không dứt dân Tàu vào sinh cư và chiếm lĩnh Việt Nam… Đã nói lên rất rõ những gì là: sáng suốt, anh minh, tài tình và quang vinh của đảng?

Đất nước sắp mất, dân tộc sẽ phải trở thành nô lệ? Người dân thấy trước, đoán trước (qua viễn ảnh hiện giờ) rất là đáng sợ. Mọi người đều cảm thấy sợ, thấy lo. Không biết biết quí vị – đảng CSVN – có cảm thấy lo không? Bao giờ đảng vẫn cứ bưng bít, âm thầm, giữ kín (tất cả những gì mà đảng đã và đang làm) – toa rập, tự ý, tự quyết… nói rõ ra thì người dân vẫn phải phải là: chỉ biết nghi ngờ, nghi hoặc?

Một nghĩa trang đẹp đẽ, lớn lao, hoành tráng, đang dự định thực hiện, sẽ được hình thành (thời gian 36 tháng?). Người dân đang tự nghĩ: có thể đây là “công trình” cao đẹp nhất sau cùng mà quí vị – đảng CSVN – muốn được hình thành. Biết đâu đây là dự định, một sự chuẩn bị “hậu sự” cho đảng CSVN, mà chỉ có tầng lớp đảng viên, lãnh đạo cao cấp mới được hưởng?

88 năm – mừng đại thọ – Chuẩn bị cho “hậu sự” cũng là vừa.

12/2/2018

Ng. Dân

danlambaovn.blogspot.com

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Cảm ơn Facebook!

Cảm ơn Facebook!

Ảnh: internet

Xem VTV4, có tên là “Truyền hình đối ngoại” suốt mấy ngày Tết, thấy dân ta trong nước và “Người Việt bốn phương” đón Tết thật tưng bừng muôn màu sắc rực rỡ; rượu chè, cỗ bàn ê hề; nhảy múa, ca hát, vui chơi thỏa thích; tình người dạt dào, thăm hỏi, tặng quà, chúc tụng hả hê; đất nước thanh bình, đẹp tươi vô hạn… Cứ trong phòng ấm áp, coi VTV4, rung đùi xài rượu ngoại và các món nhắm thỏa thuê… tưởng mình đang sống giữa Thiên đường rồi còn gì!

May quá, sớm mồng 2 Tết vào Facebook, mới thấy được MỘT NỬA SỰ THẬT bị che đậy, khỏa lấp đi! Ôi, nếu không có FB thì mình đã vô tâm, vô tình mắc vào điều tệ hại, như ông tổ của những người cộng sản – Karl Marx – từng nói: “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại để chăm lo riêng cho bộ da của mình”! Nhờ FB mới biết nhiều sự thật:

– Biết, ngày 17/2/1979, quân “bành trướng, bá quyền Bắc Kinh” đã đem 60 vạn quân lính bất ngờ tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Chúng đã “phá sạch, giết sạch” ở nơi nào chúng đến, khiến hơn 50 ngàn đồng bào ta đã bị giết hại thảm thương… Đặng Tiểu Bình cho đánh trận này “để cho người Mỹ hả lòng, tin tưởng hợp tác với Trung quốc và để dẹp yên các phe phải trong nước”… Hưởng ứng lời Kêu gọi và Lệnh của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết một lòng, quyết hy sinh “đánh dập đầu quân xâm lược”, chúng đã phải tháo chạy về nước…

– Thế nhưng ngày nay, Trung cộng không hề nhận lỗi, tạ lỗi, để hòa hiếu, mà còn muốn xóa bỏ hoàn toàn ký ức của dân ta về tội ác chiến tranh do chúng gây ra năm 1979; chúng ép các nhà lãnh đạo Việt Nam phải làm mọi cách để không ghi cuộc chiến đó vào sử sách, ngăn cản người dân tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vệ quốc 1979…

– Thấy dân ta không câm lặng hèn nhát, không lãng quên tội ác dã man của Trung cộng và càng không bao giờ quên các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc. Trên các trang mạng tràn ngập hình ảnh, bài viết, thơ ca tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, lên án tội ác trời không dung, đất không tha của Tàu cộng và những kẻ cúi đầu tiếp tay cho giặc…

– Thấy một bộ phận dân ta u mê tội nghiệp, như những con rối bị giật dây, đi ngăn cản, phá đám những người có lương tri làm lễ Tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong cuộc chiến vệ quốc 17/2/1979; lố bịch, nhố nhăng hơn nữa, có đám người còn nhảy múa, ca hát để ngăn cản người tưởng niệm và như để ăn mừng “chiến công” của bọn xâm lược Trung cộng!

– Thấy những “chú an ninh” tội nghiệp, sáng mồng 2 Tết phải đến chực ở cửa nhiều “đối tượng có nguy cơ” đi “tụ tập” tưởng niệm ngày 17/2…

– Thấy nhiều Dân oan ở xa lên Hà Nội “khiếu kiện kéo dài”, Tết không có tiền về quê, hoặc không còn nhà để về… Ngày Tết thiêng liêng là thế, họ vẫn vật vờ đầu đường, xó chợ bầy tỏ nỗi ức với Trời, Đất, Thiên hạ. Nhưng chính quyền các cấp “đá họ như quả bóng” tội nghiệp. May có những đồng bào “Bầu bí tương thân”, “Lá lành đùm lá rách” đã chia sẻ cho họ phần quà Tết và an ủi những số phận khốn cùng…

Còn bao nhiêu chuyện vui, buồn của đời sống bị khuất lấp, mà nhờ có FB, ta mới có cái nhìn tỉnh táo, để suy nghĩ chân thật, mở lòng trắc ẩn với những đồng bào khốn khó…

Cảm ơn Facebook!

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Quái vật Mác-Lê đội lốt Dân Tộc Chủ Nghĩa

Quái vật Mác-Lê đội lốt Dân Tộc Chủ Nghĩa

 

Sáng 17/2/2018 một số nhà hoạt động cho biết, tại tượng đài Lý Thái Tổ vẫn có cảnh khiêu vũ. Ảnh: internet

Không bỏ được Mác-Lê vì bỏ Mác-Lê tức là phải trả quyền lại cho dân, nhưng Mác-Lê không còn sức thu hút quần chúng thì Đảng CSVN phải làm sao đây?

Thôi thì chồng lên nó cái áo Dân Tộc Chủ Nghĩa, một hình thức sói đội lốt cừu. Mà Dân Tộc Chủ Nghĩa ở Việt Nam là chống xâm lược.

Chống xâm lược trong lịch sử Việt Nam là chống ai? – Chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ (dù Mỹ vào VN không phải là để xâm lược).

Nhưng chống Tàu sao được khi Đảng CSVN đang dựa vào Đảng CS Tàu để tồn tại. Đảng không dám chống Tàu mà cũng không dám để cho dân chúng trong nước chống Tàu vì sợ Tàu gõ đầu bảo tại sao không ngăn chận lại.

Để ngăn chận lại một chính nghĩa như việc tưởng niệm hàng vạn những chiến sĩ và dân chúng đã hy sinh bỏ mình chống xâm lược Tàu ngày 17/2/1979, Đảng đã huy động tay sai ra khiêu vũ trước tượng đài Lý Thái Tổ hôm 17/2/2018.

Đảng CS Tàu đã tròng lên đầu Đảng CSVN vòng kim cô Hội Nghị Thành Đô năm 1990 mà trong đó có một điều kiện đã được tiết lộ là: KHÔNG ĐƯỢC NHẮC ĐẾN CUỘC CHIẾN ĐÃ QUA.

Cho nên cái quái thai Mác-Lê đội lốt dân tộc này UỶ NHIỆM việc chống Tàu cho người Việt hải ngoại. Người Việt hải ngoại, vô tình hay cố ý, lại có người rơi vào cái game này của họ, cho nên ta thấy nào là chống Trung Cộng trước chống Việt Cộng sau, chống Trung Cộng để Trung Cộng sụp thì Việt Cộng sẽ sụp theo…

Trong nước, quái thai Mác-Lê đội lốt dân tộc này chỉ tập trung chống Pháp, chống Mỹ và khai thác chôm chỉa bất kỳ cái gì của dân có được làm cái của Đảng, như khai thác đội bóng U23 vào được chung kết Á Châu đến báo công Bác Hồ mặc cho các em đang rất mệt, thiếu ăn, thiếu tiêu, thiếu tiểu khi đi cà nhích từ phi trường Nội Bài mất khoảng 6 tiếng đồng hồ về.

Quái thai này những ngày trước Tết Mậu Tuất 2018 đã phô trương chống Mỹ bằng việc tổ chức rầm rộ 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 với chủ đề “Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968” (http://bit.ly/2sEPdmB).

Cũng khoảng thời gian trước Tết này họ chôm anh hùng chống Pháp Phó Đức Chính của Việt Nam Quốc Dân Đảng để cổ suý dân tộc chủ nghĩa (http://bit.ly/2sDhlX6).

Chúng ta sẽ còn chứng kiến nhiều trò làm tuồng nữa của quái thai Mác-Lê đội lốt dân tộc chủ nghĩa này. Nhưng ngày nay dân tộc đang sống trong Thời Đại Thông Tin, với sự thật được phơi bày qua các thông tin đa chiều, không như thời 1940s mà hệ thống nói dối có tổ chức của họ có thể bịt mắt quần chúng để dẫn họ đi.

Như đại văn hào Nga Leo Tolstoy nhận xét, đại ý như sau: dân tộc như con thuyền lớn, lãnh đạo như chiếc thuyền nan ở phía trước, người trên thuyền nan chống cây sào vào thuyền lớn và nói rằng mình đang lãnh đạo. Khi thuyền lớn và thuyền nan đi cùng một hướng thì dân chúng cũng nghĩ như thế, nhưng khi thuyền lớn cứ đi về hướng riêng của nó và cây sào trên thuyền nan không đụng vào được nữa thì nó thật là trơ trẽn để nói rằng Đảng đang lãnh đạo.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ không sai khi viết “sản tiêu vong” trong hai câu sau đây:

“Bỉnh chúc vô minh quang tận diệt
Trọng ngân bạc phúc sản tiêu vong”
(Ngọn đuốc tối tăm thì ánh sáng mất hết
Ham tiền mỏng phúc thì của cải tiêu tan)

Nghiệp chướng cộng sản rồi cũng sẽ qua, Xuân Mậu Tuất 2018 là mùa xuân mở đầu cho hừng đông của cách mạng dân chủ.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Bộ Thương mại Mỹ đề xuất áp thuế nặng lên thép, nhôm từ Việt Nam

Bộ Thương mại Mỹ đề xuất áp thuế nặng lên thép, nhôm từ Việt Nam

VOA

Công nhân kiểm tra chất lượng thép tại nhà máy thép Hòa Phát ở tỉnh Hải Dương, ngày 14 tháng 6, 2016.

Việt Nam nằm trong số các nước mà Bộ Thương mại Mỹ đề xuất áp mức thuế quan nặng lên các sản phẩm thép và nhôm xuất khẩu sang Mỹ, theo các báo cáo công bố hôm thứ Sáu của bộ.

Biện pháp này là một trong ba biện pháp khắc phục mà Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross nêu ra trong khuyến nghị trình lên Tổng thống Donald Trump để đối phó với tình trạng dư thừa thép và nhôm nhập khẩu, sau khi Bộ Thương mại tiến hành các cuộc điều tra về tác động của việc nhập khẩu thép và nhôm đối với an ninh quốc gia của Mỹ.

Tổng thống Donald Trump chỉ định tiến hành các cuộc điều tra này theo một luật thương mại năm 1962 vốn chưa được dẫn ra làm căn cứ pháp lý kể từ năm 2001. Ông Trump có hạn chót là ngày 11 tháng 4 để loan báo quyết định của mình về các hạn chế đối với thép nhập khẩu và ngày 20 tháng 4 để quyết định về các hạn chế đối với nhôm.

Bộ Thương mại khuyến nghị mức thuế quan ít nhất là 53 phần trăm áp lên tất cả các sản phẩm thép nhập khẩu từ Việt Nam và 11 nước khác, bao gồm Ai Cập, Ấn Độ, Brazil, Costa Rica, Hàn Quốc, Malaysia, Nam Phi, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc.

Việt Nam cũng bị đề nghị mức thuế quan 23,6 phần trăm đối với tất cả các sản phẩm nhôm, cùng chung nhóm với Hong Kong, Nga, Trung Quốc và Venezuela.

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Để lại phản hồi