Các Nhà Truyền Giáo thời đại. (phần 2)

Các Nhà Truyền Giáo thời đại. (Phần 2)

Phan Sinh Trần

1)Cha Pallu truyền giáo tại Ni-giê-ria Phi Châu

Một đặc điểm ở một số các vùng truyền giáo Phi Châu, Trung Đông, là sự hiểm nguy cho tính mạng của Nhà Truyền Giáo, nhất là ở những nơi đạo Chúa bị cấm cách, thù ghét hay bị cho là dị biệt với Hồi Giáo. Chỉ tính riêng tại nước Ni-giê-ria trong vòng chưa trọn năm 2018, đã có trên 6000 Ki Tô hữu bị dân quân vũ trang giết hại đa phần là phụ nữ, người già và trẻ em, trong số tử đạo có các linh mục và tu sĩ. Vào một cuối tuần của tháng 6, 2018 có 238 người theo đạo Chúa bị tàn sát ở tiểu bang cao nguyên, Ni-giê-ria. (https://www.express.co.uk/news/world/981611/christian-persecution-christianity-nigeria).

…Vào ngay thời điểm này, cha Pierluigi Maccalli thuộc dòng “Truyền Giáo Phi Châu” công tác mục vụ ở Ni-giê-ria vẫn còn đang bị mất tích. Vụ bắt cóc xảy ra vào đêm 19 tháng 9, 2018 ở vùng sát với biên giới gần nước Bur-kina Faso.

Phải, sẽ đến giờ mà ai giết các ngươi sẽ tưởng thế là tôn thờ Thiên Chúa. (Gioan 16:2)

Năm Ngoái, thông tấn xã CNA và đài TV EWTN tường thuật lại câu chuyện Cha Maurizio Pallu, 63 tuổi, linh mục Ý Đại Lợi, đi truyền giáo ở nước Ni-giê-ria, bị bọn tội phạm gồm tám tên trang bị vũ khí súng ống, chúng chận đường khi đoàn đang di chuyển trên đường từ Calabar tới thành phố Benin vùng cực nam của Ni-giê-ria, chúng cướp và bắt cóc Cha Pallu và hai thành viên của đoàn tông đồ “Con Đường Tân Dự Tòng” truyền giáo cùng đi trong xe vào ngày 12 tháng 10, năm 2017.

Trong lúc bị bách hại, Cha Pallu lúc đầu cũng hoang mang lo sợ khi nghĩ đến sinh mạng đang treo lơ lửng và cảm thấy mình chưa sẵn sàng để chết, Cha kể:

– Tôi thưa với Chúa, con chưa đền đủ tội của con, nếu Chúa muốn con chết thì xin cho con được ơn và Thần Khí sức mạnh để chết như một người Ki tô hữu và dâng hiến đời sống mình (cầu chuộc) cho những người này vốn dĩ đã giết con.

Dẫu vậy, Cha nhớ lại những nhu cầu khác và đệ đạt với Chúa:

– Xin Chúa cứu lấy sinh mạng con và con xin hứa rằng con sẽ tiếp tục công bố Tin Mừng với sự nhiệt thành gia tăng gấp đôi.

Trong tình huống nguy nan, Cha có thể chứng nghiệm sức mạnh của lời cầu nguyện qua kinh Mân Côi thể hiện rõ dần trong thời gian năm ngày bị bắt giũ. Vào lúc Ngài chỉ còn giữ được một cỗ tràng hạt, bởi vì bọn bắt cóc đã cướp đi thánh giá nhỏ bằng vàng và khi bị bắt bất ngờ, Cha đã không mang theo mình Kinh Thánh hay sách kinh Nhật Tụng :

– Tôi chỉ có tràng chuỗi này, và bọn họ đã thấy tôi liên tục cầu kinh Mân Côi thành tiếng nho nhỏ. Tôi bảo họ rằng “Tôi cầu cho các anh nữa”, thế rồi … tôi thấy được sức mạnh của sự cầu nguyện, cho dù tôi là một người có đức tin nhỏ bé, tôi chỉ làm điều mà tôi có thể làm được nhưng đâu phải chỉ có lời nguyện của tôi mà còn có sự hỗ trợ nguyện xin của cả Hội Thánh Toàn Cầu cho sự vụ này.

Dần dần, Cha bắt đầu tạo được mối liên hệ với thủ lĩnh của bọn cướp, và có dịp nói chuyện với bọn họ. Cha kể:

– Tôi có thể bảo anh ta rằng tôi coi anh như là một huynh đệ của mình và tôi đang cầu nguyện cho mấy người anh em. Điều tôi lưu ý được đó là, anh ta đã thay đổi dần trong cách nói và thái độ khi đối xử với chúng tôi, mấy ngày sau này, hễ tôi nhẹ nhàng nói với anh “tôi đang cầu nguyện cho anh”, đáp lại, bằng một giọng thành thực “Được, Cha hãy cầu nguyện cho tôi”.

Cha Pallu kết luận:

– Tôi được sự can thiệp đặc biệt của Mẹ đồng trinh Maria, nhất là ơn của Đức Mẹ Fatima bởi vì cách Ngài hóa giải kế hoạch hãm hại, âm mưu đe dọa của thế lực sự dữ thật là hiển nhiên (qua việc hoán cải tâm hồn của thủ lĩnh băng cướp).

Cuối cùng, bọn cướp thả cho ba người được ra đi.

Cha Pallu là linh mục chứng nhân Tin Mừng tại Ni-giê-ria trong suốt ba năm qua, Cha bị bắt cóc lần này là lần thứ hai, trước đó Cha bị giữ vào ngày 13, tháng 10, năm 2016. Tuy nhiên ở lần đầu bị nạn, Ngài được thả ra chỉ sau một tiếng rưỡi đồng hồ bị nhóm vũ trang giam giữ. Tốt nghiệp cử nhân sử học, cha được ơn gọi đi tu làm linh mục triều, tiếp theo ơn gọi của Chúa tiếp tục dẫn đưa Cha vào con đường loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Cuộc đời của Cha đã trải qua 11 năm đi truyền giáo tại nhiều nước khác nhau.

Khi vị linh mục vốn xuất xứ từ Giáo Phận Rô Ma quay trở lại Ý Đại Lợi vào ngày 18, tháng 10, 2017 rồi sau đó được triều kiến Đức Thánh Cha Phan xi cô, nghe chuyện bắt cóc và được thả, người vui vẻ dịu dàng hỏi Cha Pallu “Thế rồi, khi nào con lại quay về (chốn xưa)?”

Ma Quỷ không chịu thua khi nhìn thấy cánh đồng truyền giáo của Chúa có thành quả đang nở rộ ở Ni-giê-ria, chúng gieo rắc chia rẽ và thù hận, có các nhóm Hồi Giáo quá khích như Boko Haram truy bức, bắt cóc và giết hại Tín Hữu Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, càng bách hại, Đạo Chúa lại càng phát triển, hạt giống tử đạo nảy sinh muôn vàn hoa trái phúc âm, lúa chín đầy đồng với hàng triệu người Ni-giê-ria đón nhận đức tin mới. Trong vòng chưa tới mười năm, từ 2001 tới năm 2010, con số tín hữu gia tăng thêm hơn tám phần trăm, từ 40% lên đến 48.3%. Hiện nay, Thiên Chúa Giáo trở thành đạo có nhiều người tin theo nhất, khoảng 89 triệu Ki Tô hữu, người Công Giáo chiếm khoảng một phần tư trong số đó.

Khi được nhà báo hỏi về sự quay trở lại quốc gia cũ đang đắm chìm trong bạo lực có là một điều dại dột? Cha Pallu trả lời rằng ngài không sợ âm mưu của Quỷ, bọn chúng vốn đã bị đánh thua, bị bại trận nhờ vào cái chết và sự sống lại của Chúa Giê Su Ki Tô:

– Ở nước Ni-giê-ria, bây giờ là thời kỳ hồng ân. Quỷ phải rất sợ hãi vì chúng bị sổng mất nhiều linh hồn quay về với Chúa nên chúng quay ra tấn công đoàn hai lần qua việc bắt cóc. Tôi muốn dẫn chứng lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II, “Lục địa Phi Châu là tương lai của Giáo Hôi”

Xin Chúa Mẹ thương đến dân tộc Ni-giê-ria đang phải gồng mình trong bách hại và bạo lực khi họ muốn vươn lên đón nhận Tin Mừng và ôm ấp hy vọng rạng ngời của Đức Tin.

2) Tín Hữu Yun truyền đạo ỏ Hồ Nam, Trung Quốc.

Ở các quốc gia theo chủ nghĩa Cộng Sản, vấn đề bách hại tôn giáo còn khốc liệt hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia Hồi Giáo. Năm 1970 phái đoàn dân biểu quốc hội Hoa Kỳ qua thăm Trung Hoa Cộng Sản, khi họ trở về đã cho biết “Không còn một người tín hữu Ki Tô nào sót lại ở Trung Cộng”, trước đó, từ năm 1958 chính Giang Thanh vợ của Mao Trạch Đông thủ lĩnh Cách Mạng Văn Hóa tuyên bố: “ Ki Tô Giáo ở Trung Hoa đã bị khai tử, nhốt vào bảo tàng lịch sử. Nó chết rồi và bị chôn vùi”. Các nhà thờ không thuộc giáo hội quốc doanh đều bị đóng cửa (Phong trào tam tự ái quốc do chính quyền thiết lập năm 1957), linh mục, giám mục, mục sư Tin Lành chân chính bị giết hại hoặc giam cầm cho chết dần mòn trong các trại cải tạo, sách Kinh Thánh bị đốt và cấm đọc.

Làm sao Chúa có thể đem ánh sáng Tin Mừng đến cho dân tộc Trung Hoa đáng thương?

Chúa có bỏ rơi con chiên cho đàn sõi vô thần hùng mạnh, dữ dằn chăng?

Chúa Thánh Thần sẽ sáng tạo cách thế nào để loan báo Tin Mừng tại Trung Quốc?

Chúa có nhiều cách rất phong phú và tài tình để cứu đàn chiên và làm cho Trung Hoa trong tương lại, rồi mai đây, lại trở thành một nước có nhiều người Tin Chúa nhất trên địa cầu, một tiêu biểu là câu chuyện của Anh Yun, người Hà Nam, Trung Quốc, trong vùng nông thôn nghèo đói, nhà tranh vách đất u tối và dột nát, nơi đó, cả làng đều bỏ Đạo, các em nhỏ không biết Chúa là ai. Trong tự chuyện, anh Yun kể lại như sau:

– Vào năm 1974, khi Cách Mạng văn hóa còn đang hoành hành, cha tôi bị bệnh ung thư phổi, ung thư lan xuống bao tử. Bệnh rất nặng, làm cho không thở được. Bác sĩ nói với mẹ của tôi, “không còn hy vọng chữa trị gì cho ông chồng bà, hãy đem về nhà lo chuẩn bị đám tang”. Gia đình làm nông rất nghèo, đem Cha về nhà, chúng tôi vẫn dồn hết sức lực cho việc chạy chữa, không còn tài sản nào có thể đem bán, năm anh em Yun phải đi ăn xin hàng xóm để sống sót qua ngày. Họ chạy tìm mọi nguồn lực, mời thày cúng, làm đủ cách mà bệnh tình của người Cha tiếp tục nặng, mẹ của Yun lo lắng, sợ hãi quá phát rồ dại, bà định tự tử. Một đêm nọ, vừa mơ mơ màng màng thiếp ngủ, chợt bà nghe rõ, có tiếng nói dịu dàng, thương cảm cất lên “Chúa Giê Su yêu con”. Nghe xong, bà liền vùng dậy, choàng tỉnh, nhận ra hoàn cảnh của mình với Chúa, bà quỳ gối xuống sàn đất và bắt đầu nhỏ nước mắt ăn năn khóc cho tội lỗi của mình, giống như cảm nhận của một người con hoang đàng muốn quay về nhà, bà cảm thấy muốn trở lại nhận Chúa làm Thượng Đế, đấng trên hết của mình. Rồi bà gọi hết mọi người trong nhà đến để cầu nguyện với Chúa, bà bảo họ “Chúa Giê Su là hy vọng duy nhất cho Bố các con”, khi được bà kể lại những gì đã xảy ra cho Mẹ, tất cả chúng tôi phó thác đời sống mình cho Chúa, rồi chúng tôi đặt tay lên mình Cha và cả đêm hôm đó, chúng tôi vừa khóc vừa nói lải nhải một câu cầu xin “Chúa Giê Su, chữa cho Cha. Chúa Giê Su, chữa cho Cha”. Tảng sáng hôm đó, Cha cảm thấy đỡ hơn nhiều, lần đầu tiên sau nhiều tháng, ông muốn ăn. Chỉ trong vòng một tuần lễ, ông được hoàn toàn bình phục, chẳng thấy còn một dấu vết nào của bệnh ung thư và sống khỏe mạnh. Cả nhà của tôi quay về làm con Chúa và bắt đầu muốn chia xẻ niềm vui về Chúa.

Thế là công cuộc làm chứng về Chúa và phục hồi Đạo bắt đầu trong ngôi làng bỏ Chúa của Yun, anh kể:

– Cha Mẹ tôi rất biết ơn Chúa về những gì mà Ngài đã làm cho Cha, đến độ họ muốn chia sẻ tin tốt lành này cho hết mọi người dân làng ngay lập tức, họ có kế hoạch cho con nít trong nhà lén đi mời thân thuộc và bạn hữu đến nhà của chúng tôi. Ai cũng đinh ninh được mời đến tẩm liệm cho Cha vừa qua đời, nào có ngờ, đến nhà, họ được Cha tôi ra tận cửa vui vẻ, khỏe mạnh đón chào, mời vào trong nhà. Sau khi mọi người tề tựu đông đủ, Cha Mẹ tôi đóng cửa, cài then, che rèm của sổ và kể cho mọi người hiện diện về phép lạ nhiệm mầu của Chúa đã làm cho gia đình. Rồi, tất cả thân hữu đều quỳ xuống xin tiếp nhận Chúa là chủ của đời mình. Mẹ tôi dù là một người thất học, không biết đọc, biết viết nhưng lại là người đầu tiên thuyết giảng về Chúa cho dân làng. Nhớ lõm bõm câu Kinh Thánh nào thì nói ra rồi kêu gọi chúng tôi luôn chú tâm, quy hướng mọi sự vào Chúa Giê Su.

Một hội thánh tư gia thuộc loại tiên khởi đã ra đời, các hội thánh tư gia khác thuộc Giáo Hội chui ở Trung Quốc có thể đã bắt đầu tương tự như trường hợp nêu trên, qua cách làm sáng tạo, diệu kỳ của Chúa Thánh Thần.

– Tôi hay hỏi Mẹ của tôi, “Chúa Giê Su là ai?” Bà trả lời, “Chúa Giê Su là con Thiên Chúa đấng đã chết trên thập giá đền thay mọi tội lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài ghi lại tất cả sự giảng dậy trong Kinh Thánh”. Kể từ ngày đó, tôi khao khát được đọc Kinh Thánh, nhưng mà cả làng không ai biết mặt mũi cuốn Kinh Thánh như thế nào. Điều khó khăn là làm sao có Kinh Thánh để biết về Chúa Giê Su trong khi trên phạm vi toàn quốc, tất cả Kinh Thánh đều bị đốt và bị cấm đọc, nếu có ai đọc Kinh Thánh mà bị bắt quả tang, họ sẽ bị đánh đập tàn tệ và sẽ bị tra khảo công khai ở giữa dân làng.

Không sợ hãi, cậu nông dân Yun, 16 tuổi, học lực mới đến trình độ lớp ba trường làng, ngày đêm ăn chay, cầu nguyện kêu nài xin Chúa ban cho một cuốn Kinh Thánh, anh khẩn khoản đến mức quên ăn, quên ngủ, sau mấy tháng cầu nguyện Chúa thúc giục một cụ già được thị kiến, dù cụ ở rất xa làng của Yun và chưa hề quen biết, cụ liền đào cuốn Kinh Thánh đã chôn dưới mặt đất, nằm trong một cái lon, dấu diếm đã nhiều năm, moi sách lên và lặn lội đến làng của Yun, gõ cửa đúng ngay căn nhà Yun đang ở và trao cho anh quyển sách. Kể từ sau sự huyền nhiệm xảy ra đó, Yun biết rằng Lời ghi trong Kinh Thánh chính là Lời Chúa nói với anh. Anh không rời xa quyển sách thánh, lúc ngủ anh đặt sách trên ngực, lúc đi cầy cấy anh buộc sách vào trong người. Hàng ngày từ sáng sớm tới chiều tối Yun say sưa ngấu nghiến đọc quyển Kinh Thánh. Anh cố gắng học thuộc lòng mỗi ngày một chương sách Tân Ước, sau 28 ngày, anh thuộc lòng sách thánh Mát Thêu, tiếp tục học thuộc sách Công Vụ Tông Đồ. Khi đọc đến đoạn Công Vụ Tông Đồ chương 1, câu 8:

“…nhưng các ngươi sẽ chịu lấy quyền lực Thánh thần đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ là chứng tá của ta ở Yêrusalem, trong toàn cõi Yuđê và Samari, và cho đến mút cùng cõi đất”.

Yun kể:

– Đây là khoảnh khắc quyết định của đời tôi, tôi ước ao hiểu được Lời Chúa có ý nghĩa gì và tôi cầu nguyện “Con cần quyền năng của Chúa Thánh Thần. Con muốn làm chứng cho Chúa”. Sau khi cầu xin thần khí Chúa, tôi được Chúa ban ơn, có một niềm vui chan hòa trong lòng, tình yêu Chúa bao phủ tràn ngập tâm hồn tôi, tôi bật lên lời ca ngợi Chúa dù trước đó tôi không biết hát hò gì. Sau này, tôi ghi lại lời những bát hát và cho đến hôm nay các bài này vẫn còn được lan truyền, được hát lên trong các nhà thờ.

Chúa ban cho anh Yun phép rửa trong Chúa Thánh Thần, rồi Ngài sắp xếp cho anh Yun, dù mới có mười sáu tuổi, đi từ làng này sang làng khác, kết hợp với một vài người địa phương, hàng đêm lén lút quy tụ bà con dân làng lại, rồi anh đọc thuộc lòng cho nghe về Sách Tin Mừng Mát Thêu, hát thánh ca trong đêm nhóm cầu nguyện đầu, qua đêm kế tiếp anh cũng làm như vậy với phần đọc thuộc lòng Sách Công Vụ Tông Đồ, có những lần buổi nhóm say sưa kéo dài thời gian đến gần như suốt đêm. Đã có sức mạnh của Lời Chúa và vinh quang Chúa trong buổi hát ca ngợi vì mỗi lần như vậy, Chúa dục lòng, hàng tá người quỳ xuống, họ thống hối ăn năn tội lỗi và xin được trọn đời sống theo ý Chúa. Có thật nhiều dân trong các làng tin yêu Chúa, tuy nhiên càng có nhiều người tin Chúa thì chính quyền càng gia tăng theo dõi, bắt bớ. Họ cần tìm cho ra ai là người truyền bá “mê tín dị đoan” vì trước đây không hề có lấy một người theo đạo Chúa. Anh Yun bị bắt lần đầu tiên vào năm mười bẩy tuổi, sau đó là những năm tháng tù đầy, vượt ngục, chạy trốn, bị Công An rượt đuổi xảy ra liên tiếp ở các nơi anh đến truyền đạo, anh cũng không dám quay về nhà vì luôn có công an rình rập ở nhà.

Chúa an ủi anh rất nhiều, càng bị khốn khó công việc truyền bá Tin Mừng Chúa càng phát triển, lúc ban đầu từ năm 1978 đến 1989 đa số người theo Chúa là nông dân, nhưng về sau kể từ năm 1989, có nhiều học sinh, sinh viên và công chức tin nhận Chúa. Bob Fu, thủ lãnh sinh viên phong trào dân chủ Thiên An Môn sau này lưu vong và sống ở Texas Hoa Kỳ cho biết, chỉ tính riêng tại đại học Bắc Kinh, (nơi quy tụ những sinh viên ưu tú, taì giỏi hạng nhất Trung Quốc) vào thời kỳ 1989 đã có 18 nhóm Kinh Thánh cầu nguyện của sinh viên, sinh hoạt hàng tuần.

Yavê là ánh sáng và sức tế độ cho tôi, nào tôi phải sợ ai?

Yavê làm đồn trú cho kiếp sinh tôi, nào tôi phải khiếp vì ai? (Thánh vịnh 27:1)

Anh Yun đi khắp nơi, anh tổ chức rất nhiều buổi nhóm sốt sắng ở nhiều tỉnh thành: An Huy,Hà Nam, thủ phủ Trịnh Châu, Chiết Giang, Thiểm Tây nơi có cố đô Thiên An, Cát Lâm … , theo ơn Chúa soi dẫn, anh bí mật huấn luyện cho các thanh niên trẻ về Kinh Thánh, trại huấn luyện là các hang động trên núi cao, trại viên học thuộc lòng một chương Kinh Thánh Tân Ước mỗi ngày.

Chúa rộng ban ơn đổi mới đời sống cho nhiều người biết tin nhận Ngài. Qua các buổi nhóm Ca Ngợi và Cầu Nguyện, Chúa chữa lành nhiều bệnh tật, người què được bước đi, người điếc được nghe rõ, người mù được sáng mắt, người bị quỉ ám được giải thoát, có cả những cán bộ cao tuổi Đảng, họ được Chúa ban ơn đổi mới, họ quyết định từ bỏ Đảng Cộng Sản để đi làm chứng về Chúa. Trong giai đoạn bùng cháy ơn Chúa Thánh Thần, đi đến đâu, anh Yun cũng gặp được đám đông có khi lên đến hai ngàn người (ở Tỉnh An Huy) khao khát tìm kiếm Chúa, họ ái mộ anh như một đại diện của Chúa và vây quanh, họ bao vây mong đụng chạm vào y phục của anh vì tin rằng Chúa sẽ ban ơn cho họ qua vị đại diện là Yun. Càng tiến sâu trong tình yêu Chúa, gia đình Yun càng bị bách hại nặng nề hơn. Yun vào tù, trốn tù nhiều lần, mỗi lần bị bắt lại, anh chịu đựng sự tra tấn nhiều cách khủng khiếp hơn trước, hình phạt bao gồm, cùm khóa chân tay và đánh nhừ tử, đau đớn như chết đi sống lại nhiều lần, dùng roi điện cường độ mạnh nhất chích vào lưỡi, bắt bò lặn chìm qua hầm phân lớn của cả trại tù nơi có hàng triệu giòi bọ lúc nhúc, đâm kim tiêm, loại có đường kính lớn nhất vào kẽ mười móng tay, kẽ mười móng chân làm ra các cơn đau chấn động, nghiền buốt tận óc tủy cho đến lúc ngất xỉu, ném ra ngoài trời lạnh, đá dập phổi, đánh bể xương cả hai chân, cho tù hình sự ném anh vào cầu tiêu, tiểu tiện lên người và đánh hội đồng… Ngay cả những lần bị bắt ở trong tù anh cũng cảm hóa được nhiều tù nhân hình sự rất hung dữ quay về với Chúa, trong số phải kể cả hai tù ăng ten, gián điệp có nhiệm vụ bí mật báo cáo thái độ của anh cho Công An Trung Quốc, anh làm chứng và giúp một số cán bộ cai tù được nhận biết tình yêu của Chúa, cũng giống như sự sai đi cho thánh hồng y Nguyễn văn Thuận vào trại tù ở Việt Nam, Chúa có ý định rất rõ ràng khi gởi các môn đệ xuất xắc nhất “đi làm mục vụ trong nhà tù Cộng Sản”, kết quả là có nhiều linh hồn lên đến con số trăm được ơn Chúa, nhóm người mà Chúa muốn cứu nhất đã được ơn quay về làm con cái Chúa, chương trình của Chúa thật tuyệt diệu!

Một vài hình ảnh có tính tham khảo về các trại tù ở Trung Quốc:

Một vài cách điều tra dùng nhục hình tiêu biểu trong nhà tù Trung Quốc:

Trong một trại tù nọ anh rất thích trò chuyện với linh mục Công Giáo tên là Yu bị án mười năm lao động khổ sai vì trung thành với Chúa và Đức Thánh Cha. Về sau khi ra tù, Cha Yu đã đến thăm gia đình anh Yun và trở thành một người bạn của cả gia đình anh.

Trong lần tù tội cuối cùng, năm 1997, ở độ tuổi 39, anh bị gởi tới nhà tù tăng cường an ninh tối đa, trại tù số một, thành phố Trịnh Châu. Trong lich sử nhà tù này, chưa hề tù nhân nào có thể vượt ngục, quả thực điều này đúng, vì việc đầu tiên là cán bộ công an tỉnh và cán bộ an ninh trung ương trong nhiều ngày thay nhau đánh dập xương cả hai chân từ đầu gối đến bàn chân để anh không thể trốn tù, đau đớn quá đỗi không còn sức chịu đựng, anh xin Chúa cứu mình qua cơn thử thách. Chúa giải thoát anh một cách hy hữu cũng như Thánh Phê rô xưa, trong khoảnh khác, Chúa giúp cho chân anh lành mạnh, không còn đau đớn, có thể đứng lên tự mặc quần áo, đi được, không cần người khiêng vác trên lưng nữa, trong lúc anh đang cầu nguyện, Chúa cho anh thị kiến với hình ảnh thoát được về nhà rồi có chị ở bên cạnh chăm sóc vết thương chân, anh mạnh dạn phó linh hồn cho Chúa vì biết rằng, anh có thể bị bắn chết ngay tại mỗi trạm canh cổng của trại giam, anh can đảm ra đi, bước qua 4 lần cửa được canh gác nghiêm nhặt bên trong, bên ngoài, từ lầu 3 xuống tầng trệt, cán bộ lính canh, đứng nhìn trừng trừng mà không thấy anh bước qua, vượt hành lang, vào sân trại vào lúc hơn 8 giờ sáng khi có đông lính canh, cán bộ, cai tù đi lại làm việc mà không ai nhìn thấy anh kể cả lính vũ trang trên tháp canh gần cổng chánh, giống như một người vô hình anh bước qua cổng chánh ra đường và đi taxi đến nhà một giáo dân an toàn, sau đó, Chúa làm một cơn mưa bão kéo mây đen đặc, tối mờ nhờ đó, anh có thể đạp xe đến một điểm trốn an toàn chờ vượt biên qua nước Đức. Chúa Thánh Thần phối hợp nhịp nhàng với thị kiến cho Chị Yun biết anh sẽ thoát ngục, thị kiến cho một giáo dân chủ nhà tiếp nhận anh và cho anh ẩn núp, thị kiến cho mưa bão tối đen xóa hết dấu vết để đoàn quân công an, bộ đội đi lùng sục khắp thành phố, họ dùng nhiều đàn chó thám thính mà không ngửi thấy dấu vết của người tù trốn trại. Chúa tiếp tục giúp anh qua phi trường Bắc Kinh, phi trường Frankfurt với hộ chiếu của người khác mà không bị bắt lại và trả về nhà tù. Cho tới hôm nay, tài liệu điều tra về cuộc vượt ngục của chính quyền Cộng Sản đã kết luận, “đương sự vượt ngục mà không có sự đồng lõa của người trong trại giam”.

Vượt thoát khỏi Trung Quốc năm 1997, đang cư ngụ ở nước Đức, cho đến ngày hôm nay, Anh Yun đang tiếp tục đi khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ để làm chứng cho Chúa, trên mạng Youtube có ghi lại các buổi làm chứng ở các nhà thờ.

Cuốn tự truyện “Người của Thiên Đàng – The Heavenly Man” của anh Yun và Paul Hattaway phát hành ở nước Anh vào năm 2002, tiếp tục được in lại nhiều lần, được các nhà xuất bản Âu, Á phiên dịch, phát hành với gần 50 ngôn ngữ trong đó có cả tiếng Mông Cổ, Mã lai, Thái và tiếng Việt. Sách đã được bán ra trên một triệu cuốn, được độc giả khắp thế giới tìm đọc, Bạn có thể tìm mua bản Anh ngữ ở mạng Amazon, để biết thêm về các điều kỳ diệu khác Chúa đã làm trên cuộc đời của anh Yun kể cả cuộc tuyệt thực nhịn ăn uống kéo dài 72 ngày trong tù mà không chết, thông thường thân thể con người chỉ cần nhịn uống nước uống ba, bốn ngày là sinh lực kiệt quệ, ngưng thở. https://www.amazon.com/Heavenly-Man-Remarkable-Chinese-Christian/dp/082546207X

Vâng, Người đã thử thách chúng tôi, lạy Chúa.

Người thí luyện chúng tôi như bạc luyện lò,

Người đã xô chúng tôi sa tròng sa lưới, để cho lận đận thúc luôn bên sườn.

Người để đứa phàm nhân cỡi ngựa đi trên đầu chúng tôi,

chúng tôi phải ngang qua lửa cùng nước.

Nhưng rồi Người lại cho qua khỏi, thở ra khoan khoái

Tôi sẽ tiến vào nhà Người với lễ toàn thiêu,

với Người, tôi sẽ trọn lời khấn dâng… (Thánh Vịnh 66: 10-13)

Kết: Cám ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội các nhà truyền giáo thời đại với đức tin mạnh mẽ, hy sinh không tiếc mạng sống, có phong cách độc đáo như ở Trung Quốc.

Xin Chúa thương đến các con cái Chúa ở các nước chìm đắm trong chủ nghĩa Cộng Sản

Bài này đã được đăng trong LỜI CHỨNG, TÔN GIÁO. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.