Án văn

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

Án văn
(kỳ 5 – có bổ sung)

Nguyễn Thông

Qua 4 kỳ trước, tôi đã lược lại những vụ án văn nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với “Cửa mở”, Hoàng Cát với “Cây táo ông Lành”, Hữu Loan với “Màu tím hoa sim”, Quang Dũng với “Tây tiến”, Bùi Ngọc Tấn với “Chuyện kể năm 2000″… Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi vì họ là những con người cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác chính là nhà cầm quyền. Lúc nào miệng họ cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô chính trị lên đầu đám sáng tác, anh nào cố tình chạy trốn, thoát ra khỏi sự trói buộc sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị.

Viết đến đây, tôi lại nhớ chuyện hoặc giai thoại về những ông lãnh đạo đảng cộng sản xứ này chỉ đạo văn nghệ, do các thầy ở khoa Văn kể lại. Hồi những năm giữa thập niên 60, khi đám văn nghệ sĩ vẫn chưa hoàn hồn sau cuộc “cách mạng văn hóa long trời lở đất trừng trị đám phá hoại Nhân văn giai phẩm (được ví gây tác hại ghê gớm kinh khủng tai hại như cuộc Cải cách ruộng đất trong văn nghệ) thì ông Trường Chinh tìm cách trấn an. Anh Năm (tên thân mật của ông Trường Chinh) trong một buổi gặp các nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, khi nghe đây đó có ý kiến về quyền tự do sáng tác, ông liền cười mỉm, rằng “Ai nói đảng không cho các anh các chị quyền tự do sáng tác. Nói thế là hồ đồ. Đảng vẫn cho các anh các chị quyền tha hồ chửi đế quốc Mỹ đó sao”. Đám nghệ sĩ, nhà văn nhà thơ ngồi nghe chết lặng. Mà đúng thật, những gì “anh Năm” nói đều có thực tế, và sau chỉ đạo ấy của ông lại càng lộ mạnh hơn quyền tự do chửi Mỹ trong các sáng tác.

Khi ông Trường Chinh đã bật đèn xanh cho quyền tự do chửi thì dòng văn chửi còn hơn cả hàng tôm hàng cá. Tôi vẫn nhớ hồi bé người ta truyền tai nhau câu thơ, cứ bảo của “nhà thơ” Bút Tre nhưng chả biết có phải không: “Trên rừng con khỉ đánh đu/Thằng Ngô Đình Diệm mút cu bác Hồ”. Rồi sau ông Diệm bị mắng là “thằng” thì tới thằng Thiệu, thằng Kỳ. Năm 1966, nhà thơ trào phúng Nguyễn Đình có viết trên báo Nhân Dân chửi Thiệu-Kỳ (tôi đọc bài này bởi thày (bố) tôi sai ra trụ sở ủy ban mượn báo để đọc ké, vẫn còn nhớ câu mở đầu: “Hội nghị Gu-am được gọi đi/Thằng Thiệu thằng Kỳ tầm váo tầm vênh”. Mà chả riêng các ông Ngô Đình Diệm, Thiệu, Kỳ bị gọi là thằng, các đời tổng thống Mỹ đều được phong “thằng” tuốt: thằng Ai xen hao, thằng Ken nơ đi, thằng Giôn xơn, thằng Ních xơn, thậm chí người ta còn khuyến khích các gia đình nuôi chó đặt tên chó là con Giôn xơn, con Ních xơn để chửi cho sướng miệng. Được “tự do chửi” nên mới dẫn đến cảnh ông Nguyễn Công Hoan văng tục “đù mẹ” cụ Phan Khôi, ông Tố Hữu mạt sát các nhà văn nhà thơ Nhân văn giai phẩm là ma cô, lưu manh, đĩ điếm…

Nhân chuyện quan điểm tự do sáng tác của ông Trường Chinh, tôi lại nhớ hồi học ở Mễ Trì, thầy chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị tuy làm lãnh đạo khoa nhưng vẫn tham gia dạy phần văn học Xô viết và phần lý luận tính đảng trong văn học. Một lần thầy nhắc đến chi tiết trong đại hội các nhà văn Xô viết, nhà văn Pha đê ép (Fadeev) đã rất hùng hồn khẳng định “Chúng ta được viết theo tiếng gọi của trái tim mình. Nhưng trái tim chúng ta đã thuộc về đảng”. Thầy bảo, đại loại đó là quyền tự do sáng tác, là tính đảng trong văn học của nền văn học xã hội chủ nghĩa ưu việt. Sau khi phát biểu lời tâm huyết ấy không lâu, ông Chủ tịch Hội Nhà văn Liên Xô Fadeev đã rút súng bắn vào đầu tự sát.

Vị thứ 2 ở xứ này để lại dấu ấn với đời sống văn nghệ là ông Nguyễn Văn Linh. Sau khi được các đồng chí của ông quần cho lên bờ xuống ruộng, đến năm 1986 thì ông được bầu làm tổng bí thư. Ông từng một thời được ca ngợi là nhân vật đổi mới, với những mẩu ngắn trên báo Nhân Dân trong mục “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL, tên tắt của ông nhưng đám tuyên giáo khen nịnh thối thành “Nói và làm”, còn dân gian cứ gọi nôm na là ông “en nờ vê e lờ”. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi ngồi ghế nóng là lấy lòng văn nghệ sĩ. Ngày 6.10.1987, ông gặp họ, tuyên bố hùng hồn phải “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, còn ai trói, trói thế nào, vì sao trói, cởi đến đâu, v.v.. thì ông không nói, cứ lửng lơ con cá vàng. Cuối cùng ông bật đèn xanh, khuyên “Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Nhiều người khen câu này của ông, chứ riêng tôi thấy ông Linh rất vô trách nhiệm, đảng của ông trói người ta, ông lại đổ cho trời, đó là chưa nói ở ý nghĩa khác thì ông tự coi mình là trời. Đảng mà không cởi thì có 10 trời cũng bó tay.

Tuy nhiên, mắc lừa ông Linh, đám văn nghệ rất phấn khởi, lại được các bác Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc hô xung phong nên hào hứng lắm. Những tác phẩm vang dội như “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, “Lời khai của một bị can” viết về số phận ông vua lốp Nguyễn Văn Chẩn (nạn nhân chiến dịch Z30) phóng sự của Trần Huy Quang, “Người đàn bà quỳ” (Phùng Gia Lộc), những quan điểm táo bạo của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương… ra đời trong dịp này. Nhưng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) cuối cùng cũng chỉ là anh chết nhát, nửa vời, đảng của ông ấy không ủng hộ quan điểm cởi trói nên ổng co dần lại, sống chết mặc bay. Kết quả là báo Văn Nghệ bị bóp chết, các ông Trần Độ, Nguyên Ngọc bị đưa lên “đoạn đầu đài”, đời sống văn nghệ lại một lần nữa tan tành, chả khác gì văn nghệ Trung Quốc sau cú lừa “Trăm hoa đua nở”, tới nay (năm 2018) vẫn không gượng dậy được mặc dù đã mấy chục năm trôi qua.

Không ít người coi ông Linh là chiến sĩ tiên phong cải cách, kiến trúc sư của đổi mới, thực ra đã nhầm. Nói gì thì nói, bằng thái độ đổi mới nửa vời, chất thủ cựu ngấm sâu vào máu, sự quay ngoắt rất tệ hại, “vừa đéo vừa run”, coi quyền lợi và sự tồn tại của đảng lên trên hết, bỏ qua cơ hội quốc tế ngàn vàng, xét cả về các mặt chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, chính ông Linh là thủ phạm hàng đầu gây ra sự trì trệ kéo dài, nửa dơi nửa chuột, bị lệ thuộc của nước ta hiện nay. Khắc phục, giải quyết được “di sản tệ hại” ấy do ông Linh và các đồng chí của ông để lại là cả sự vất vả kéo dài không biết bao giờ mới chấm dứt.

Phải những ai từng nếm mùi phê phán, trừng trị từ bộ máy tuyên giáo tuyên truyền của đảng thì mới hiểu thế nào là “văn nghệ phục tùng, phục vụ chính trị”. Đảng có thể biến một tác phẩm hết sức bình thường, thậm chí tốt thành thứ cực kỳ nguy hiểm đối với người sáng tác, gán vào đó những cái gọi là âm mưu, ý đồ, biểu tượng hai mặt, cao hơn nữa thì quy rằng nó ẩn chứa hoặc công khai thái độ thù nghịch, chống phá, chống chính quyền nhân dân. Như tôi đã từng kể ở mấy bài trước, hàng loạt bài văn thơ của Nhân văn giai phẩm, rồi thơ Quang Dũng, thơ Hữu Loan, thơ Việt Phương, truyện ngắn Hoàng Cát, Hoàng Cầm, Lưu Quang Vũ… bị đánh tơi tả, người viết không ngóc đầu dậy nổi, phải ẩn dật, trốn chui trốn lủi, tìm đủ mọi cách mới sống qua ngày đoạn tháng. Thời ấy, những người dân bình thường đã phải chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ.
(còn tiếp)

Nguyễn Thông
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=293475008153232&id=100024722048900&__tn__=K-R

Bài này đã được đăng trong Tin Cộng Đồng, Tin Việt Nam. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.