Chuyện ông Đạo Dừa

Image may contain: 2 people
Image may contain: 1 person, smiling

Bill Tran

Chuyện ông Đạo Dừa

Ông tên Nguyễn Thành Nam, sanh năm 1910, con một ông chánh tổng ở Bến Tre, nhà giàu có tiếng, năm 18 tuổi ông đi du học bảy năm bên Pháp có bằng kỹ sư Canh Nông, nhưng ông không làm việc cho Pháp, ông chống Pháp, ông lấy vợ sanh con rồi ông đi tu, tự chế ra đạo để tu, không nói chuyện và chỉ uống nước dừa. Pháp bắt ông, ông viết giấy nói Pháp vi phạm nhân quyền, lời lẽ khúc triết, nên nhà cầm quyền thực dân Pháp phải thả, họ sợ ông hay sợ mang tiếng đàn áp nhân quyền có trời mà biết.

Lúc đầu, ông làm cái sàn nhỏ trên đọt dừa, rồi ngồi trên đó bất động. Nhiều người tới coi và tin ông, nhà cầm quyền thực dân Pháp lại sợ ông làm loạn, cho lính tới kêu ông xuống không được, bèn đốn cây dừa cho ông rớt xuống. Ông không chết, lại leo lên cây khác mà ngồi. Ông bất bạo động, không giảng đạo gì hết, không chửi rủa câu nào hết. Riết rồi Pháp nó cũng sợ , cứ để mặc kệ ông ngồi trên ngọn dừa không phá rối ông nữa. Ông viết giấy để giảng đạo, không nói năng gì, nhưng đệ tử đông có số ngàn, họ che chở ông vòng trong vòng ngoài. Đoạn lịch sử này của ông, chính sử của nhà cầm quyền cộng sản hiện nay hòa toàn che đậy. Người viết viết theo lời kể của những vị cao niên gặp ở cồn Phụng và một vài nơi khác ở Bến Tre.

Năm 1945, vùng Bến Tre quân Việt cộng làm loạn quá, ông bỏ đi lên núi Cấm ở An Giang tu ba năm. Đến khi vua Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam với tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, ông trở về cồn Phụng lập ra chùa Nam Quốc Phật để tu hành công khai, nhận đệ tử và truyền đạo của ông, ông gọi là Hòa Đồng Tôn Giáo, nhưng dân gian quen miệng kêu Đạo Dừa. Đạo của ông hòa trộn Công giáo và Phật giáo Thiền tông, thờ cả Chúa lẫn Phật. Tín đồ khi làm lễ thì có làm dấu Thánh giá lẫn chắp tay quỳ lạy. Bản thân ông sống như một vị thiền sư, nếu ngày nào ông không làm được việc gì thì ngày đó ông nhịn đói không ăn không uống, theo kiểu “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” của thiền sư Bách Trượng Hoài Hải.

Ông có một quãng thời gian dài êm đềm phát triển từ 1948 đến 1975, số tín đồ lên đến hàng trăm ngàn người, riêng những tu sĩ sống tại cồn Phụng với ông đã hơn ba ngàn vị, có cả người phương Tây. Ông từng vận động để tranh cử tổng thống thời Đệ nhị Cộng Hòa nhưng không thành công. Ông không tắm, không để tín đồ phục dịch bất cứ chuyện gì. Kể cả chuyện ăn uống hàng ngày ông cũng tự lo lấy: một nhúm bắp luộc cho bữa trưa và nước dừa tươi uống trừ cơm. Từ một thanh niên cao to, thân hình ông co rút lại (theo nghĩa đen) nhỏ xíu như một đứa trẻ còi xương.

Sau 1975, ông bị nhà cầm quyền bắt về giam ở Cần Thơ. Họ không giết ông, nhưng nhốt ông trong cái conex bằng sắt, kín mít không có ánh sáng, gió cũng không lọt vào được. Mọi sự ăn uống vệ sinh đều trong đó. Đệ tử đem đồ ăn với dừa trái tới thăm nuôi, nhưng quản giáo Việt cộng không cho ông ăn dừa mà chỉ phát thức ăn như tù nhân khác.

Ông không ăn bất cứ thứ gì, chỉ đòi uống nước dừa. Ông phản kháng bằng cách dùng cái ca inox đựng nước gõ lanh canh vào cái cửa sắt của conex. Tiếng gõ lanh canh đều đặn, từ tối tới sáng, sáng tới tối, cán bộ Việt cộng chửi bới cỡ nào, ông cứ đáp lại bằng những lời bình dị: “Tui thương chú lắm chú cán bộ ơi!”. Biệt giam ông như vậy khá lâu mà chẳng khuất phục nổi tinh thần ông, cán bộ Việt cộng còn dùng nhiều cách để cho ông chịu thua, xịt nước vòi rồng cực mạnh cho ông té lăn tròn dưới đất, giam ông trong chuồng chó bện bằng kẽm gai cho phơi nắng phơi mưa, mặc xác ông khi ông tuyệt thực… Nhưng hễ té xuống ông lại lồm cồm bò dậy ngồi xếp bằng, chửi rủa ông ông lại dùng lời yêu thương mà đáp, dai dẳng bền bỉ, không sân hận, không oán than. Lâu ngày chày tháng, ông co rút lại chỉ như bộ xương. Cai ngục không muốn để ông chết trong tù cải tạo, mới đánh tiếng cho đệ tử dùng nhiều tiền bạc chuộc ông ra với danh nghĩa là được cách mạng khoan hồng. Theo lời những người chứng kiến khi đó, ông chỉ còn có 27 ký lô! Vậy mà, ông đã hồi phục một cách thần kỳ trong cái hình hài xương khô đó. Ông lại tiếp tục giảng đạo và tín đồ của ông quay trở lại trong thầm lén, có lúc cả trăm người âm thầm ở xung quanh nhà ông. Cho tới năm 1990, ông được 81 tuổi, những đệ tử của ông không còn sợ sệt gì nữa, quy tụ mỗi lúc một đông. Nhà cầm quyền tới cưỡng chế nhiều lần nhưng không dẹp yên được. Cho đến đỉnh điểm là dịp kỷ niệm 15 năm sau “giải phóng”, nhà cầm quyền cho lực lượng bố ráp ông và các tín đồ. Một mặt, cho truyền thông ra rả tuyên truyền những điều rất nhảm nhí về Đạo Dừa của ông. Những đệ tử thân cận nhất của ông đã nghĩ đến việc tự thiêu để phản đối. Đến ngày 12 tháng 5 năm đó, lực lượng hùng hậu tiến hành cưỡng chế chỗ của ông và trong lúc giằng co, ông đã bị xô từ trên lầu xuống đất chấn thương sọ não, qua đời vào ngày hôm sau, rất nhiều đệ tử của ông đã bị bắt nhốt hàng chục năm sau đó. Đạo Dừa mất đi người lãnh đạo tinh thần, giải tán trên bề mặt, nhưng hàng năm vào ngày giỗ âm lịch của ông, hàng ngàn người đủ mọi lứa tuổi đều trở về viếng, tổ chức tưởng niệm và ăn uống.

Ông có một câu nói mà những người ngày xưa chung trại cải tạo với ông ở Cần Thơ đều nhớ nằm lòng:

– Tui thương mấy chú lắm, mấy chú Việt cộng ơi! Mấy chú ngu dại lắm, mấy chú không biết bạo phát thì bạo tàn! Chỉ có nhơn nghĩa là trường tồn!

FB Hai Le

Xem ra thực dân Pháp còn tốt hơn VC. Cuối cùng thì người Việt giết người Việt dã man hơn cả Tây. Thật đáng buồn.

Bài này đã được đăng trong Tin Việt Nam. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.