HY VỌNG VÀ DẤN THÂN

HY VỌNG VÀ DẤN THÂN

Mức độ dấn thân: “thí mạng” như Chúa Giêsu

Tôi Tớ Chúa ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

(Mẹ Têrêxa thành Calcutta)

Để sống trọn vẹn niềm Hy Vọng, phải dấn thân một cách triệt để.

Mẹ Têrêxa thành Calcutta tình nguyện sống khó nghèo với người nghèo, cũng như cha Paul Maheu đã sống với người phong hủi tại trại phong Quy Hoà ở Qui Nhơn và chết với căn bệnh phong.

Nhằm mục đích phục vụ thanh thiếu niên hoảng loạn sau Đệ Nhị Thế Chiến, cha Gaston Courtois đã thành lập Phong Trào “Hùng Tâm Dũng Chí”.

Để truyền giáo cho người Trung Hoa một cách hữu hiệu, cha Vincent Lebbe đã sống hoàn toàn như người Trung Hoa. Cũng như để làm việc tông đồ cho giới thợ thuyền, trước đây một số linh mục Pháp đã trở nên những “linh mục thợ”.

Riêng cha Simon đã đi làm xiệc, lấy tiền giúp xây nhà ở cho giáo dân nghèo để họ có thể tham dự Thánh lễ mỗi Chúa nhật.

Ban Biên Tập


Dấn thân vì người nghèo

Ngày nay trên thế giới, mọi người đều hết lòng khâm phục mến yêu Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Từ thuở nhỏ, Mẹ đã quen sống trong nếp sống văn minh vật chất, đầy đủ tiện nghi; nhưng Chúa đã thầm kín kêu gọi đi đến một quyết định táo bạo: từ bỏ tất cả để dấn thân theo Chúa.

Mẹ Têrêxa rời bỏ quê hương, trẩy sang Ấn Độ, một quốc gia có từng triệu người chết đói hàng năm. Tại đây, Mẹ ra sức tìm hiểu tập tục, học hỏi ngôn ngữ xứ Ấn Độ, và sau một thời gian ngắn, Mẹ nhập tịch trở thành một người dân Ấn Độ thực sự.

Rồi sau những tháng năm sống trong bốn bức tường của Tu viện, Mẹ Têrêxa đã nhìn ra xã hội bên ngoài: Mẹ đã chứng kiến tận mắt hàng trăm người chết đói, hàng ngàn kẻ hấp hối nằm lăn lóc trên các ngã đường của đô thị. Mẹ đã xin phép bề trên rời bỏ tu viện để ra sống giữa khu xóm lao động nghèo nàn: ăn mặc và lao động vất vả như người nghèo, hoàn toàn giống như mọi người để làm chứng nhân đích thực cho đức ái trọn hảo.

Gương sáng của Mẹ Têrêxa đã thu hút nhiều thiếu nữ Ấn độ. Và sau một thời gian thử luyện, Mẹ đã thành lập một dòng cho các chị em muốn theo lý tưởng sống khó nghèo và phục vụ giai cấp nghèo. Ngày nay dòng của Mẹ Têrêxa mọc lên tại nhiều nơi trên thế giới.


Thí mạng cho người phong hủi Việt Nam

Người ta nghe nói nhiều đến nhà phung Quy Hoà, ở ngoại ô thị xã Quy Nhơn, nhưng mấy ai biết đến vị sáng lập nhà phung ấy! Đó là cha Paul Maheu, một linh mục người Pháp đã từ giã quê hương thân yêu với cuộc sống tiện nghi, để chôn đời mình giữa đám người xa lạ, mắc phải thứ bệnh khủng khiếp nhất trong loài người.

Thật thế, bệnh phung cùi là một thứ bệnh khủng khiếp nhất. Nhưng cha Paul Maheu thì lại khác: ngài đã dấn thân vào nếp sống của người cùi, chọn họ làm con cái quý yêu cật ruột, sống trong một ngôi nhà bé nhỏ ngay giữa làng phung để đêm ngày săn sóc họ, lo cho họ đầy đủ vật chất cũng như tinh thần.

Đối với cha Maheu, không gì quý bằng các người phong hủi. Ngài không thể rời họ một ngày, không thể không tìm cách khen lao họ khi có dịp. Mỗi khi khách từ xa tới thăm, ngài thường mời ở lại dùng bữa. Trong lúc ăn, miệng ngài liên tiếp giới thiệu:

Mời dùng trứng này, do gà của người phung nuôi đấy! Mời dùng cá này cũng của người phung mới câu hồi sáng; còn đây là xà-lách cũng do tay người phung trồng đấy! Tốt lắm!

Vừa mời, ngài vừa ăn một cách ngon lành trong lúc khách thì quá khiếp sợ, chẳng dám dùng một tí chứ đừng nói chuyện ăn với uống.

Không mấy năm sau, cha Maheu đã trở thành người phung thực sự. Càng đau đớn càng có dịp để chia sẻ cuộc đời của họ, họ càng yêu mến trọng kính ngài. Và rồi một hôm, người hùng dấn thân đã nằm xuống, xác ngài được chôn cất ngay giữa làng cùi bên cạnh những người con thân yêu nhất.

Ông tổ “Hùng tâm dũng chí”

Sau đại chiến thứ hai, thanh thiếu niên ở các nước Âu châu, nhất là nước Pháp, cảm thấy thể chất tâm lý tan nát rã rời. Rất nhiều em phải thất lạc gia đình, không biết đi về đâu; em khác lại mất cha, chết mẹ; có em lại phải bệnh hoạn tàn tật, lang thang khắp nơi, tụ tập lại thành từng bè, từng lũ, chia nhau đi cướp bóc, đập đánh, chơi bời phóng đảng…Các em cần tình thương, cần lý tưởng để xây dựng cuộc đời mới.

Linh mục Gaston Courtois, người Pháp đã dấn thân vào công việc ấy. Theo gương thánh Gioan Boscô, ngài săn sóc các em, yêu thương các em, hướng dẫn các em trong nhiều buổi sinh hoạt thoải mái, hùng mạnh. Thế rồi hàng vạn thanh thiếu niên đã tìm lại được tuổi xuân, niềm hy vọng lại bừng sáng, lý tưởng sống lại hiện rõ. Phong trào “Hùng Tâm Dũng Chí” ra đời và chẳng mấy chốc lan rộng khắp năm châu.

Cha Gaston Courtois được mời tham gia nhiều tổ chức quốc tế đặc trách thanh thiếu niên. Về sau, ngài được gọi sang phục vụ bên cạnh Toà Thánh. Dù đã lớn tuổi nhưng chủ nhật nào người ta cũng thấy ngài đi sinh hoạt với nhóm thanh thiếu niên ở Roma, vẫn tươi vui hăng hái như thuở nào.

Hoá nên người Trung Hoa để chinh phục người Trung Hoa

Tuy là người Bỉ, cha Vincent Lebbe (1877-1940) đã tình nguyện dấn thân sang truyền giáo ở Trung quốc. Suốt bao năm tháng, ngài luôn miệt mài thao thức: làm sao để dấn thân truyền giáo và phục vụ xã hội Trung Hoa cho đắc lực. Thế rồi, dưới ánh sáng soi dẫn của Chúa, câu trả lời đã đến với cha: muốn đến với người Trung Hoa phải trở nên người Trung Hoa thực sự.

Cha Viencent Lebbe đã triệt để dấn thân theo đường hướng ấy, từ lối cắt tóc, để râu, ăn mặc cho đến cách suy tư, cử hành phụng vụ, giảng dạy giáo lý (ngài xin nhập tịch Trung Hoa và lấy tên là Lôi Minh Viễn).

Và trong tinh thần ấy, ngài đã thành lập một Hội Dòng lấy tên “Anh em hèn mọn của Thánh Gioan Tẩy Giả” để vận dụng cách sáng tạo nếp sống khổ tu vào hoàn cảnh cụ thể của xã hội và tâm hồn người Trung hoa và áp dụng nguyên tắc truyền giáo của ngài.

Tại nước Bỉ, quê hương ngài, cũng có rất nhiều người sùng mộ tinh thần ấy. Họ đã lập nên một Tu hội Truyền giáo cho các linh mục viết tắt là S.S.H, tạm dịch là “Hội trợ tá của các xứ truyền giáo”. Họ cũng lập thêm một Tu hội cho nữ giới viết tắt là A.F.I (“Nữ trợ tá quốc tế”).

Tinh thần cốt yếu của cha Lebbe là không đi theo phương pháp bấy lâu: đến một quốc gia, nhận trách nhiệm coi sóc một giáo phận hoặc một giáo xứ, đứng đầu hàng giáo sĩ địa phương… mà là theo một phương pháp mới: đến một quốc gia, một giáo phận do hàng giáo phẩm bản xứ quản trị và làm những người trợ tá phục vụ dưới quyền họ, cho dù họ kém khả năng hơn mình.

Trước đây, tại các xứ truyền giáo, hầu như chẳng có một vị Giám Mục bản xứ nào, huống nữa là sự kiện các linh mục thừa sai đi làm trợ tá cho hàng giáo sĩ bản xứ. Quả là táo bạo!

Và còn táo bạo hơn nữa là trong một chuyến trở về công tác ở Âu Châu, cha Lebbe đã sang Roma xin được yết kiến Đức Thánh Cha Piô XI, vị Giáo Hoàng được mệnh danh là “Giáo Hoàng của Công Giáo Tiến Hành” “Giáo Hoàng của Truyền Giáo”.

Trong buổi triều yết, ngài đã trình bày với Đức Piô XI, xin đặt các Giám Mục bản xứ cho người Trung Quốc. Đức Thánh Cha hỏi ngài có biết rõ linh mục Trung Quốc nào xứng đáng được tấn phong làm Giám Mục không? Cha Lebbe liền lấy giấy bút ra, viết ngay liền một danh sách gồm tên 10 linh mục Trung Quốc và đệ trình lên Đức Thánh Cha. Đức Thánh Cha phán:

Tốt lắm! Cha sẽ xúc tiến ngay việc này.

Ngày lễ Chúa Kitô Vua, 28.10.1926, chính Đức Piô XI chủ sự phong chức cho 6 Giám Mục Trung Quốc đầu tiên tại đền thờ Thánh Phêrô, trong số đó hầu hết đều nằm trong danh sách của cha Lebbe đề nghị. Lúc ấy tại một góc đền thờ, người ta thấy ngài quỳ gối âm thầm cảm tạ Chúa, vì đã cho ngài chứng kiến tận mắt điều ngài mong ước bấy lâu nay.

Thế rồi, tiếp sau các Giám Mục Trung Quốc ngày 30.10.1928, Đức Piô XI cũng tự tay phong chức cho vị Giám Mục Nhật Bản tiên khởi địa phận Nagasaki, rồi các Giám Mục Ấn Độ, Indonêsia…

Ngày 11.6.1933, cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng cũng được chính tay Đức Piô XI tấn phong làm Giám Mục Việt Nam tiên khởi.

Sau những tháng năm dấn thân phục vụ cho công cuộc truyền giáo, cha Vincent Lebbe đã nằm xuống (1940). Dân tộc Trung Quốc coi ngài như một vị anh hùng quốc gia. Hội Thánh coi ngài như vị tiền phong của những công cuộc truyền giáo hiện đại. Thân xác ngài được chôn vùi ngay tại lòng đất Trung Hoa, để lại tấm gương sáng cho Kitô hữu thuộc đủ mọi thời.

Các hạng linh mục thợ

Chung quanh những năm 1950-1955, vấn đề linh mục thợrất sôi nổi ở Pháp.

Phải thành thực công nhận rằng những linh mục dấn thân làm thợ trong các công xưởng, hầm mõ, sẵn sàng hoà mình với giới lao động thợ thuyền để gần gũi họ, mang Chúa đến cho họ, là những người đầy thiện chí và rất có nhiệt huyết tông đồ.

Có nhiều người hết sức hăng say nhiệt tình bênh vực quyền lợi của giới cần lao nhưng lại bỏ quên các giờ đọc kinh, nguyện gẫm, bỏ cả làm lễ, cử hành các Bí Tích, dần dần trở nên nguội lạnh, thờ ơ và ra đi vĩnh viễn, mất ơn gọi…

Có một số khác thấy gương ra đi của các anh em thì sinh chán nản thất vọng, không còn dám dấn thân nữa. Họ lui về với cuộc sống thầm lặng, tìm nguồn an ủi, “sợ bỏ quên Chúa, tôi không dấn thân”.

Với hai hạng người trên đây, phong trào linh mục thợ đã phải trải qua một cơn khủng hoảng sâu đậm.

Nhưng một số trong họ đã can đảm vượt mọi trở ngại, tin tưởng và khiêm tốn đối thoại với hàng giáo phẩm, thành thật kiểm điểm chặng đường đã qua, rồi vạch ra một hướng đi mới có sự cân bằng giữa việc dấn thân đem Tin Mừng cứu rỗi cho mọi người mang lại sự giải phóng đích thực cho giới lao động, và đời sống nội tâm nền tảng của mọi việc tông đồ.

Hàng giáo phẩm hết sức nâng đỡ họ và cùng với sự chấp thuận khuyến khích của Toà Thánh, với sự cộng tác của họ, các Giám Mục đã lập nên “Hội truyền giáo cho nước Pháp” (La Mission de France) để truyền giáo lại cho các giai cấp thợ thuyền trong nước, vì tuy là một quốc gia được mệnh danh là “Trưởng Nữ của Hội Thánh”, nước Pháp vẫn còn có không biết bao nhiêu người hoá ra vô đạo, nguội lạnh. Hàng linh mục thợ cuối cùng này sau khi vượt qua nhiều thử thách, đã đạt tới thành công, suốt đời luôn sống trong hạnh phúc và dấn thân triệt để.

Linh mục làm trò xiếc

Cha Simon được thuyên chuyển đến một vùng dân chúng rất nghèo khó, khổ nhất trong nước Pháp! Mà chúng ta biết: một khi thân xác quá đói thì việc phượng thờ Chúa và lo lắng cho phần hồn cũng gặp nhiều khó khăn đáng kể (có thực mới vực được đạo!). Cha Simon dâng lễ tại nhà thờ rất sốt sắng, nhưng... chỉ có một mình ngài, nhà thờ hoàn toàn trống rỗng, đánh muốn vỡ cả chuông mà chẳng có ai tới, vì cái đói buộc họ suốt ngày sản xuất lao động.

Cha Simon quá buồn nản, nhưng ngài nhất định không chịu thua. Nhiều lần ngài đến tận mỗi gia đình để ân cần hỏi thăm và khuyên lơn tha thiết. Dần dần các trẻ em trong giáo xứ bắt đầu tới, một ít người đã phấn đấu đi lễ Chúa nhật. Thế nhưng, nhiều hàng ghế trong nhà thờ vẫn còn trống. Suy nghĩ mãi, nhưng cha Simon sẽ làm gì đây, vì ngài không một xu dính túi, không một người quen biết để vay mượn. “Thôi đành liều mạng vậy! Biết đâu ta sẽ thành công!”

Cha Simon hăng hái bắt tay vào việc, ngài chuẩn bị dụng cụ, chở trên một chuyến xe và đi đến thành phố đầu tiên. Công việc trước hết là vào toà soạn của một nhật báo để thuê họ đăng tin: “Ngày … cha Simon sẽ biểu diễn nhảy cao 36 mét xuống nước, mời đồng bào đến xem ở bờ sông… lúc… giờ!” Rồi ngài lê mê đem cọc sắt đến, vặn đinh ốc vào, dựng một giàn nhảy ở bờ sông cao 36 mét.

Đúng giờ hẹn, thiên hạ ùn ùn kéo nhau đến xem ông cha biểu diễn. Cha Simon mình mặc đồ tắm, từ từ leo lên tận đỉnh, khom mình chào khán giả, rồi nhanh như tia điện xẹt, ngài phóng mình xuống nước, bọt tung lên cao mấy mét. Lát sau, ngài ngoi lên và bơi vào bờ. Khán giả vỗ tay hoan hô nhiệt liệt: “Bis! Bis! Thêm lần nữa!” Cha Simon không ngần ngại theo ý họ nhảy liên tiếp 2, 3 lần nữa.

Biểu diễn xong, giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt, ngài lau mình mặc áo vào và ngỏ lời với khán giả:

Thưa anh chị em, tôi là một cha xứ, tên Simon. Giáo dân tôi nghèo quá, tôi không biết làm sao để cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của họ được thoải mái hơn, hết bệnh tật, hết đói rách, hết mù chữ… Tôi quyết tâm xây cho mỗi gia đình một ngôi nhà cỏn con, làm lớp học cho trẻ em, dạy thêm nghề phụ cho người lớn… Tôi không bán vé, mà cũng chẳng có tiền để làm vé, nhưng nếu anh chị em muốn giúp tôi, thương con cái tôi, thì kẻ ít người nhiều, xin anh chị em bỏ vào chiếc mũ tôi đây… Ai chưa có hoặc muốn cho riêng, xin gửi về địa chỉ của tôi… Tôi xin cám ơn thay cho con cái tôi.

Nghe ngài nói ai cũng cảm động. Họ hết lòng ủng hộ ngài; chẳng mấy chốc chiếc mũ đã đầy, tiếng đồn lan ra khắp xứ.

Rồi từ đó, hằng tuần, cứ chiều thứ bảy cha Simon lại về giáo xứ, đem theo một số tiền, dâng lễ Chúa nhật, rồi lại đi tiếp tục biểu diễn khắp nơi. Cứ mỗi lần cha Simon trở về lại giáo xứ thì khuôn mặt ngôi làng được biến đổi hơn một chút, nhà nhà cảm thấy vui tươi phấn khởi, nhiều mái ngói đỏ chói mọc lên, nhiều vách tường được xây dựng, nhất là nhà thờ có tiếng hát cầu kinh ngày càng lớn mạnh, sốt sắng.

Sau ba năm, mỗi gia đình đều có được một ngôi nhà ngói khang trang sạch sẽ. Năm thứ tư, trường học đã mọc lên, bệnh xá cũng được tu bổ, thuốc men dồi dào. Không ai còn nhìn ra dáng dấp của ngôi làng cũ nghèo nàn năm xưa. Tâm hồn các Kitô hữu trong giáo xứ đã biến đổi, họ tìm thấy tình yêu Chúa trong con người cha xứ của họ.

NGUỒN: NNLHTĐHV – Trích dẫn: Chương 26 – DẤN THÂN

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

This entry was posted in BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Về Cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Bookmark the permalink.

Comments are closed.